Nhiều người cho rằng tư tưởng của Pascal hàm chứa điều mà
tư tưởng đó nhắm tới : Một triết lư của Đức Tin. Nói khác
đi, một triết học thực sự, nhưng ḥan ṭan được xây dựng để
chứng minh sự không thể triết lư hay sự bất lực của triết lư
( l’impossibilité de la philosophie ) nếu người ta hiểu nó
là một hệ thống tự nó là đủ ( 1 ).
Theo Pascal, Ḷng Tin là vấn đề của con tim ( fragment 278
), là món quà của Thượng Đế ban cho con người ( fragment 248
), nhưng Ḷng Tin cũng là động cơ của cuộc chiến đấu của
con người .
Fragment 425 viết : “ Con người không có Niềm Tin không thể
biết sự thiện hảo, cũng chẳng biết sự công chính. “
“Mọi người đều t́m cách để được sung sướng. Điều này không
có luật trừ, bất kể phương tiện khác nhau nào được dùng tới,
họ đều nghiêng về mục đích đó. Điều khiến cho kẻ này đi đến
chiến tranh mà kẻ khác th́ không cũng chính là ḷng muốn đó
được theo đuổi bằng hai lối nh́n khác nhau. Ư chí luôn t́m
mọi cách tiến đến đối tượng đó. Đó là động cơ của mọi hành
động của mọi người. “
“Và tuy nhiên đă từ nhiều năm qua không bao giờ một người
không Đức Tin có thể đi tới mục đích đó dù luôn nhắm tới.
Mọi người đều kêu ca , ông ḥang, bầy tôi, kẻ quí phái, già,
trẻ, mạnh, yếu, khôn ngoan, dốt nát, thánh thiện, bệnh nhân
, của mọi nước, của mọi thời, mọi tuổi, mọi ḥan cảnh . “
“ Một cuộc thử thách quá dài, quá liên tục và đồng nhất như
vậy, phải chiến thắng sự bất lực của chúng ta để đi tới sự
thiện bởi cố gắng của chúng ta , nhưng gương sáng dạy ta rất
ít. Chưa bao giờ ḥan ṭan giống đến nỗi không có một vài
khác biệt nhỏ nhoi và do đó chúng ta mong rằng sự chờ đợi sẻ
không bị tuyệt vọng trong dịp này cũng như trong dịp khác ,
và như vậy hiện tại không bao giờ làm ta thỏa măn , kinh
nghiệm lừa gạt ta, và từ khốn cực này sang khốn cực khác
dẫn ta đến sự chết như một cực điểm ( comble ) vĩnh viễn. “
“Vậy sự kêu ca về cái trống rỗng và sự bất lực đó là ǵ nếu
không phải ngày xưa nơi con người đă có một hạnh phúc thực
sự mà ngày nay chỉ c̣n lại nơi họ dấu chỉ và vết tích ḥan
ṭan trống rỗng mà họ cố gắng lấp đầy bằng những ǵ vây
quanh họ một cách vô ích, t́m kiếm nơi những sự vật vắng mặt
sự cứu chữa mà họ không nhận được nơi những sự vật hiện diện
, nhưng điều đó ḥan ṭan không thể được v́ vực thẳm (
gouffre ) vô tận đó chỉ có thể lấp đầy bằng một đối tượng vô
tận và bất biến , có nghĩa là bằng chính Thượng Đế. “
Lư trí ném chúng ta vào vô tận, và để duy tŕ sự b́nh an
trước những chống đối xưa nay, cần phải chấp nhận cuộc chiến
đấu. Ḷng Tin là một chiến đấu và một t́m kiếm.
Nhưng vô tận đó không phải là không thể biết được, nó thức
tỉnh, liên kết mọi tài năng của chúng ta, nó khêu gợi tất cả
đi đến một công việc không bao giờ ḥan thành, v́ trong
huyền bí của vô biên luôn luôn có sự t́m kiếm, tiến tới, và
theo tư tưởng của Saint Léon , phải nắm lấy những ngừng lại
( les arrest ) là những thất bại và sự giải quyết những thất
bại . ( 2 )
Nếu một đôi khi những kẻ trở lại ( les convertis ) , trong
sự nhiệt tâm đầu tiên , cố gắng vứt bỏ những dàn xây (
échafaudage ), những chuần bị của Đức Tin, th́ sau đó, khi
lấy lại lịch sử đời sống , trở lại đời b́nh thường, như
Saint Augustin trong “ Les Confession”, họ tự buộc ḿnh vạch
lại chuyển động vô cảm ( mouvement insensible ) liên tục, tự
do nhưng bất khả kháng đối với kẻ đă đẩy nó qua bao nhiêu
ṿng .
Vậy ai là kẻ đă ngừng lại ? Ai là kẻ đă thay đổi khi mắt họ
đă mở ra ? Sự t́m kiếm lúc đó c̣n được theo đuổi, nhưng bằng
một cách khác. Như cái chết ( la mort ) chỉ phanh phui cho
chúng ta từ sự chết ( la mortalité ) . Cũng vậy, sự khám phá
không làm ṃn sự t́m kiếm, nhưng chỉ giảm bớt những cay đắng
và liều ḿnh. Niềm vui t́m thấy không phải chỉ là sự nghỉ
ngơi tiếp theo cơn mệt nhọc ( nếu không sẽ chỉ c̣n là một
khóai lạc ), nhưng trước hết, nó phải là t́nh cảm mà những
kẻ t́m kiếm tương lai sẽ hướng tới .(3)
Tác động của Ḷng Tin là tối tăm, bởi v́ nơi nó , một cá
nhân ( personne ) nhắc nhở đến một cá nhân khác, và cá nhân
này vẫn c̣n luôn luôn là tối tăm với suy luận củ tư tưởng.
Tính cách của suy luận là hiểu rơ trong khi thiết lập những
tương quan và xây dựng đối tượng của ḿnh. Suy luận làm việc
trong ánh sáng, có thể nó không ḥan ṭan trong sáng, v́ dựa
trên những hiển nhiên mà nó không thể phân tích và những
nguyên tắc mà nó không thể xây dựng . (4)
Một cá nhân không thể đạt đến được bằng danh từ của một
chuỗi tương quan trừu tượng.Chức vụ suy luận của trí khôn có
thể sửa sọan, nhưng không thể ḥan thành sự nắm giữ một hiện
hữu cụ thể. Nó không thể thực hiện sự giải thích ṭan khối
mà một cá nhân giống như tôi đă được khám phá, và nó càng
không thể xâm nhập vào bí ẩn của cá nhân tinh thần, độc nhất
.
Hiện hữu và giá trị của cá nhân thóat khỏi trí khôn, là tối
tăm đối với trí khôn. Cần nhớ rằng nhận thức ( perception )
đó không phải là sự thâm nhập ánh sáng vào bên trong. Đúng
hơn, đó là một nắm giữ ṭan thể một hiện hữu tinh thần, một
lọai giao cảm ( contact) và trùng hợp ( coincidence ) với
hữu thể được khám phá.
Chính đó là tác động Đức Tin, và sau đó tác độn Tin tự đặt
trên một b́nh diện tối tăm đối với lư trí thuần túy : ṭan
thể vũ trụ của cá nhân là một thế giới mà người ta chỉ gia
nhập thực sự bằng t́nh yêu .
Nhưng chúng ta không đụng chạm tới chỗ tối tăm của ḷng tin.
Nó là tối tăm v́ nó là sự mạc khải linh thiêng của một nhân
vị linh thiêng qua một chứng cứ nhân lọai. Nhưng “ḷng tin
khác với chứng cớ, cái này ( chứng cớ ) thuộc về con người
mà cái kia ( ḷng tin ) là món quà của Thượng Đế “ .
Chừng nào chứng cớ c̣n tồn tại , không thể thấy được Thượng
Đế : những yếu tố nhân lọai của chứng cớ sẽ luôn luôn làm
thành một tấm màn ngăn cách giữa chúng ta và Thượng Đế.
Saint Bonaventura viết : “ Đức Tin coi như bóng tối của
chiêm niệm ( con tem plation ) đối diện với vĩnh cửu, tuy
nhiên, một bóng tối mang nhiều ánh sáng hơn là sự tối tăm .
“ ( 5 )
Ḷng tin của chúng ta là sự t́m kiếm một Thượng Đế vắng mặt.
Saint Augustin không chỉ nói đến con mắt Đức Tin thấy được
trong ánh sáng, nhưng c̣n nói đến “ bàn tay của Đức Tin “
nắm giữ “ Người Nào Đó “ trong đêm tối. (6)
Điều thiết yếu nhất trong Đức Tin, đó không phải là những
chân lư rời rạc, nhưng là một cá nhân mà người ta hướng tới,
mà qua những chân lư, sự chắc chắn sẽ được đặt trên chúng.
Trên bước đường dẫn tới niềm tin và duy tŕ niềm tin, điều
thiết yếu là sự t́m kiếm cá nhân riêng tư, sự qui hướng cá
nhân đến một sự thiện, sự thiện đó không là ǵ khác hơn một
nhân vị khác, ḷng muốn một chân lư vĩnh cửu không là ǵ
khác hơn một Nhân Vị mà nơi Ngài rực chiếu ánh sáng và t́nh
yêu . Nếu linh hồn giải thích được dần dần những dấu hiệu,
hiểu dần dần những lời nói, quen dần dần với chân lư, chính
là v́ qua những dấu hiệu, những lời nói, những chân lư, linh
hồn t́m kiếm và khám phá thấy một Nhân Vị kêu gọi nó và nó
trả lời lại .
T́m kiếm một nhận vị ( hay cá nhân ) , đó là điều giải thích
sự nắm giữ ḷng tin ; gặp gỡ một nhân vị, đó là điều giải
thích sự chắc chắn của ḷng tin. ( 7 )
Đức Tin là một yếu tố căn bản trên đó thần linh tác động,
nếu ḷng tin thực hiện sự gặp gỡ của hai nhân vị, vai tṛ
của thần linh sẽ là đào sâu sự gặp gỡ đó và đào sâu sự kết
hiệp đó trong khi làm cho ḷng tin ngày càng làm chủ linh
hồn, ngày càng sở hữu Thượng Đế, trong khi làm cho ḷng tin
thành một sức mạnh không ngừng trở nên một cái nh́n, một
đụng chạm, một ước vọng đến Thượng Đế, theo ba con đường dẫn
đến : trí thông minh, ư chí , và ân phúc. ( 8 )
Chót đỉnh của niềm tin là tri thức thần bí ( connaissance
mystique ), tri thức thần bí không là một tri thức mất hút
trong sự bất định và tản mát dần hữu thể linh thiêng (
l’être spirituel ) , nhưng trái lại là một tri thức ngày
càng ch́m trong thần bí vô tận của Nhân Vị Linh Thiêng và
hợp nhất từ căn bản với nhân vị nhân lọai ( la personne
humaine ).
Chính Thượng Đế vào linh hồn bằng sự kết hiệp và sự biến đổi
( transformation ) t́nh yêu, là Đấng tràn ngập linh hồn và
thanh tẩy linh hồn bởi sức nóng và lửa thiêng của Ngài . (9)
Linh hồn càng tiến xa trong tri thức thần bí càng đi đến một
độ sâu xa của “ biến thể và tập trung thân mật nơi Thượng Đế
“ ( 10 ), có nghĩa là nhân vị tự hợp nhất và ḥan thành nơi
Thượng Đế. Ờ đây chắc chắn là ḷng tin, phương tiện riêng
của sự kết hiệp ( l’union ) trở nên “ cá nhân “ ( personelle
) ở mức độ nội tại ( eminent )
Từ đó linh hồn thức dậy trong đêm tối, linh hồn và Thượng Đế
gặp nhau. “ La monté du Carmel “ ( 11 )mô tả sự gia nhập yên
lặng và ẩn khuất trong sự chiêm niệm, linh hồn ở đó “ như
một người mở trừng mắt với ḷng “ ham muốn yêu đương” ( 12 )
, với sự t́m kiếm Đấng mà nó yêu. Để làm cho linh hồn hiệp
nhất với ḿnh, Thượng Đế sẽ làm cho nó vượt qua không chỉ
giai đọan của ḷng tin nhưng cả giai đọan mà ư niệm của ḷng
tin xuất hiện nơi chính tín hữu, để đo lường thực tại và
nghị lực của ḷng tin .( 13 )
Đến một lúc mà chuyển động của linh hồn ngừng lại, đà tiến
tinh thần tự vật chất hóa ( se materialize ), nó giữ lại
trong ḷng những ư tưởng mà Đức Tin dùng để nhập thể, và nó
liều ḿnh quên những thiếu sót căn bản của những yếu tố
sáng tạo, và sự bất quân b́nh ( improportion ) với thực tại
của Thượng Đế. Đó là một tiến bộ lớn lao, đă vượt qua vùng
tư tưởng “ xác thịt “ và được ở trong tư tưởng “ thiêng
liêng “, nhưng không phải tất cả đă xong xuôi và Đức Tin đă
là đầy đủ. Ư tưởng nhân lọai chỉ là phương tiện trí thức đặt
dưới nhiều giới hạn không vượt qua được, là chướng ngại cho
tiếng gọi Thương Đế giục tiến lên nữa.
Dấu hiệu chắc chắn nhất của chiêm niệm là “ tri thức và chờ
đợi yêu thương “ nơi Thượng Đế : “ linh hồn vui mừng thấy
ḿnh riêng với Thượng Đế, nh́n ngắm Ngài, với t́nh yêu,
không quan tâm đến bất cứ điều ǵ khác nữa” (14 ).
Dần dần, một cách tối tăm, một tri thức “ tổng quát “ đi vào
linh hồn, là trí thức và sự hiện diện của Thượng Đế ( 15 ).
Đó là sức mạnh tinh thần, sức mạnh của trực giác và cảm
thông. Suy luận trở nên trống rỗng, không hiểu được, trước
một đối tượng tối tăm hơn bao giờ. Nhưng tinh thần cảm
thông với Thượng Đế, tinh thần chỉ c̣n là một đà tiến bao la
của sự chú ư yêu đương và thu nhận, v́ chính trong say sưa
mà Thượng Đế thông cảm, như kẻ có đôi mắt mở lớn nh́n ánh
sáng một cách say sưa ( 16 )
Sự cảm thông đó làm đơn giản và thanh tẩy linh hồn, làm cho
linh hồn giống với Thượng Đế hơn. Sự giống nhau đó cho phép
thực hiện sự kết hợp giữa linh hồn và Thượng Đế ( 17 ).
Tri thức thần bí là cái ǵ thuộc về cá nhân , và ḷng tin
ḥan hảo sáng chói lôi cuốn sự ḥan hảo của nhân vị. Cứu
cánh của cuộc phiêu lưu đáng sợ và say mê đó đó thực ra đó
chính là sự kết hiệp với Thượng Đế. Linh hồn chỉ có thể đi
đến ḥan thành chính ḿnh khi nó thực hiện đầy đủ ư tượng
đó, tiếng gọi đó, h́nh ảnh đó của Thượng Đế , là yếu tính
của linh hồn. Chính ḷng tin thực hiện sự ḥan thành đó
trong khi thực hiện sự kết hiệp, sự kết hiệp có thể thực
hiện ở đời này.
Khi linh hồn biến đổi thành một lọai tương giao sống động
thuần túy với Thượng Đế, nó đạt đến sự ḥan hảo, nó thực sự
trở nên nhân vị, v́ nó đă trở thành h́nh ảnh ḥan ṭan của
những tương giao tồn tại ( subsistantes ) là nhân vị linh
thiêng. Nhân vị nhân lọai ( la personne humaine ) trở nên
ḥan ṭan bởi sự cảm thông với nhân vị linh thiêng ( la
personne divine ) bằng phương tiện ḷng tin.
( Trích chương V, Tương quan giữa Con Người và Thượng Đế
trong tư tưởng Pascal.
Saigon 1969. Đinh Đồng Phương. )
Chú thích :
(1)