| |

CÁI MỚI TRONG CÁCH NH̀N CỦA VATICANÔ II VỀ GIÁO HỘI
Đă 38
năm kỷ niệm ngày bế mạc Công đồng, nói về cái mới của Công đồng không
biết có c̣n ǵ hấp dẫn không, v́ những hứng khởi ban đầu trước cái mới
đă qua rồi. Vả lại đó là một điều khó, v́ người ta đang ngụp lặn trong
cái mới rồi nên khó nhận ra những đổi mới của Công đồng. Gần 40 năm quen
thuộc với cái mới nên đôi khi một cách mặc nhiên chúng ta nghĩ rằng
những suy tư và sinh hoạt hiện tại của Giáo Hội là chuyện đương nhiên,
nhất là đối với những người hôm nay dưới 50 tuổi không hề biết cái cũ
trước Công đồng. Thực ra những chuyện tưởng chừng như đương nhiên lại là
kết quả từ bao nhiêu cố gắng của một sự thay đổi tâm tư năo trạng ngàn
đời trong Giáo Hội. Nếu đa số kitô hữu đang sống chan ḥa trong bầu khí
đổi mới của Công đồng rồi, th́ tại sao phải bàn đến sự chuyển ḿnh từ
cái cũ đến cái mới? Phải chăng tốt hơn nên tận hưởng bầu khí mới mẻ đầy
sức sống của Công đồng? Đúng là hít thở không khí quan trọng hơn là lư
luận về thành phần hóa học của không khí, và có lẽ ai cũng biết các yếu
tố cấu tạo và tầm quan trọng của không khí, nhưng dù vậy đôi khi cũng
nên nhắc lại những chuyện lư thuyết cũ kỹ ấy để ta tận dụng không khí mà
hít thở cho đầy hai buồng phổi và sẽ không làm ǵ để gây ô nhiễm bầu khí
quyển quanh ta. Cũng vậy, dù chẳng c̣n là chuyện mới lạ, nhưng nếu nhận
ra ư nghĩa và tầm mức quan trọng của việc đổi mới của Công đồng, các
kitô hữu sẽ sống mầu nhiệm Giáo Hội cách phong phú hơn và phát huy cái
gia sản ấy cách tích cực hơn.
Công tŕnh của Vaticanô II quá đồ sộ không thể tóm gọn trong một vài
trang. V́ thế ở đây chúng ta chỉ bàn về lănh vực giáo hội học. Việc giới
hạn như vậy phát xuất từ một lư do sâu xa, đó là Vaticanô II là Công
đồng đầu tiên bàn về mầu nhiệm Giáo Hội. Lần đầu tiên trong lịch sử,
Giáo Hội họp nhau tại Công đồng để giới thiệu khuôn mặt đích thực của
ḿnh cho con cái và cho thế giới. Trong số 16 văn kiện của Công đồng, có
tới hai Hiến chế trực tiếp nói về bản chất và sứ mạng của Giáo Hội, tám
Sắc lệnh về các thành phần và các hoạt động của Giáo Hội; các văn kiện
khác cũng đều liên quan tới đời sống và hoạt động của Giáo Hội (1).
Nhưng ngay cả khi đă giới hạn trong lănh vực giáo hội học, th́ nguyên
việc kê khai những khẳng định mới của Công đồng cũng đă là một công việc
đ̣i nhiều thời gian. Thực tế hơn và tốt hơn, có lẽ chúng ta chỉ nêu lên
hướng đi căn bản của Công đồng, tức là một cái nh́n nền tảng tiềm ẩn
dưới các văn kiện. Đó là một sự chọn lựa căn bản mới đă hướng dẫn công
việc soạn thảo các bản văn, đồng thời chi phối và định hướng mọi quyết
định của Công đồng. Vaticanô II không những đă có những khẳng định mới,
mà chủ yếu là có một
cách nh́n mới có khả năng đổi mới mọi sự.
Khi nói về cái mới trong giáo hội học của Vaticanô II, có lẽ cần tránh
thái độ đối lập Vaticanô I và Vaticanô II. Cái lược đồ thường được nêu
lên, đó là “trước – sau”, ngụ ư rằng cái trước Vaticanô II là dở, sau
Vaticanô II mới tốt. Đó là một cái nh́n giản lược có nguy cơ làm méo mó
sự thật. Quả là Vaticanô II đă thay đổi cách nh́n về Giáo Hội một cách
sâu xa, – đó là điều chúng ta sẽ tŕnh bày, – nhưng không phải v́ vậy mà
muốn cắt đứt với quá khứ, trái lại vẫn luôn muốn trung thành nối tiếp
các Công đồng và Truyền Thống trong quá khứ (2). Sở dĩ Vaticanô II mới,
chính là v́ đă biết trở về nguồn. Riêng đối với Vaticanô I, có nhiều vấn
đề quan trọng đă được đặt ra nhưng chưa được bàn căi và phải bỏ dở v́
chiến tranh, chẳng hạn vấn đề truyền giáo, nhiệm vụ của giám mục… Một
cách nào đó, Vaticanô II nối tiếp Vaticanô I: Đức Gioan XXIII cho rằng
Vaticanô II phải bổ túc và kiện toàn cho Hiến Chế về Giáo Hội của
Vaticanô I, nhất là về chức giám mục và về giáo dân (3). Đức Phaolô VI
cũng đă nhấn mạnh rằng Vaticanô II nối tiếp Vaticanô I (4). Thực ra, nối
tiếp hay gián đoạn đều phải được hiểu cách biện chứng. Nối tiếp không có
nghĩa là lặp lại, và gián đoạn không có nghĩa là cắt đứt. Không thể có
cái mới nếu không được chuẩn bị từ trong cái cũ, và không thể hiểu trọn
vẹn cái cũ nếu không được chiếu dọi dưới ánh sáng của cái mới. Giáo hội
học của Vaticanô II không cho phép trở lại với Vaticanô I nhưng đồng
thời cũng không chấp nhận cắt đứt với Vaticanô I (5).
Cuộc sống Giáo Hội như một ḍng chảy liên tục không có ranh giới rạch
ṛi giữa vùng nước đi trước và vùng nước đến sau như khi phân chia hai
lô đất. Thực tại quá phong phú và phức tạp nên không thể bị đóng khung
trong bất cứ phạm trù nào. Tuy nhiên, để dễ nhận ra cái mới của Vaticanô
II, có lẽ chúng ta vẫn cần đến những phạm trù. Phạm trù th́ rơ ràng minh
bạch nhưng không thể chuyển tải trọn vẹn tính cách đa dạng của thực tại.
Ư thức như vậy, ta có thể nói một cách tổng quát rằng nhăn quan về Giáo
hội trước Vaticanô II chủ yếu nặng tính cách pháp lư, c̣n giáo hội học
của Vaticanô II chủ yếu mang tính hiệp thông (6). Đặc tính pháp lư của
giai đoạn trước và đặc tính hiệp thông của giai đoạn sau không loại trừ
nhau nhưng bổ túc cho nhau; và cả hai đặc tính ấy cũng chưa đủ để diễn
đạt trọn vẹn thực tại Giáo Hội. Mầu nhiệm Giáo Hội quá phong phú nên
không thể tóm gọn và diễn đạt trong một khuôn mẫu mà thôi. Mỗi thời có
cách diễn đạt của ḿnh, có thể nhấn mạnh điểm này mà đặt nhẹ điểm kia,
nhưng không v́ thế mà loại trừ các khuôn mẫu khác (7).
1. CÁCH
NH̀N VỀ GIÁO HỘI TRƯỚC VATICANÔ II
Nói tới cái mới của Vaticanô II, tức là quy chiếu về một giai đoạn của
quá khứ. Điểm quy chiếu của chúng ta ở đây, đó là giáo hội học trong
khoảng từ đầu thế kỷ XIX cho đến Vaticanô II. Ư niệm ch́a khóa trong
thời kỳ này là societas
perfecta hierarchica.
Trước hết Giáo Hội là
societas, một xă hội. Từ sau Công đồng Trentô, thánh Roberto
Bellarmino, bấy giờ là một Hồng Y có ảnh hưởng lớn trong Giáo Hội, đă
định nghĩa: “Giáo Hội duy nhất đích thực là cộng đoàn những người được
qui tụ nhờ tuyên xưng cùng một đức tin và lănh nhận các bí tích giống
nhau, dưới quyền cai quản của các chủ chăn hợp pháp và nhất là của Vị
đại diện duy nhất của Đức Kitô là Đức Giáo hoàng Rôma (8). Bellarminô đă
nhấn mạnh đến các yếu tố hữu h́nh để đối lập lại quan niệm về một Giáo
Hội vô h́nh của anh em Tin lành, và định nghĩa của ngài ảnh hưởng lâu
dài trong Giáo Hội. Người ta coi Giáo Hội là một tập thể hữu h́nh gồm
các cá nhân liên kết với nhau bằng một định chế pháp lư. Công thức đức
tin được coi trọng hơn hành vi tin, nghi thức bí tích được nhấn mạnh hơn
ân sủng của bí tích. L. Billot cho rằng thân xác Giáo Hội hiện hữu độc
lập với ân sủng và các nhân đức nơi các phần tử. Ủy ban chuẩn bị của
Vaticanô I đă đặt tựa đề cho chương I của Hiến chế Giáo Hội là “Giáo Hội
là thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô”. Ngay lập tức 53 trên tổng số 130
Giám mục đă phê b́nh là “mơ hồ, quá trừu tượng và thần bí”, có lẽ là
không mang tính cách Bellarminô!(9) Nhưng rồi thông điệp
Mystici Corporis
của Đức Piô XII cũng đă làm được công việc là đưa khía cạnh ân sủng và
các đoàn sủng vào thực tại xă hội của Giáo Hội. Tuy nhiên người ta vẫn
chưa dứt bỏ được quá khứ. Theo P. Przywara, không phải là định nghĩa
Giáo Hội bằng những hạn từ của Thân Thể mầu nhiệm, mà trái lại, phải
định nghĩa Thân Thể mầu nhiệm bằng những hạn từ của Giáo Hội, nghĩa là
của xă hội (10).
Kế đến, Giáo Hội là
societas perfecta, một xă hội hoàn hảo. Ư niệm này phát xuất
từ Aristote, nhưng chỉ được minh nhiên áp dụng cho Giáo Hội từ thế kỷ 18
khi có những lư thuyết cho rằng Nhà Nước có quyền cả trên lănh vực tổ
chức đời sống Giáo Hội nhằm hạn chế và kiểm soát sự tự do hoạt động của
Giáo Hội; do đó, các Đức Giáo hoàng quả quyết rằng Giáo Hội là một xă
hội hoàn hảo. Tính từ “hoàn hảo” ở đây không có nghĩa luân lư, nhưng
được hiểu là hoàn hảo và đầy đủ trên b́nh diện xă hội, như tất cả các xă
hội khác, có đầy đủ mọi phương tiện và quyền hành để thực hiện sứ mạng
đă lănh nhận. Giáo Hội là một xă hội độc đáo, độc lập, do thần luật có
đầy đủ mọi quyền hành để thực hiện cứu cánh siêu nhiên: “Xét như là xă
hội đích thực và hoàn hảo, Giáo Hội đă được Đấng Sáng lập thần linh
thiết định là không bị đóng khung giới hạn trong bất cứ phần đất nào của
thế giới, không lệ thuộc vào bất cứ quyền hành thế tục nào, trái lại,
Giáo Hội tự do thi hành khả năng và quyền của ḿnh để cứu độ mọi người ở
mọi nơi trên trái đất” (11). Như vậy Giáo Hội là một xă hội hoàn hảo
theo nghĩa là có tất cả các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp của một
xă hội cao nhất và hoàn toàn độc lập. Một quan niệm như thế dễ đưa Giáo
Hội tới chỗ tự măn và rơi vào cạm bẫy quyền lực.
Sau cùng, Giáo Hội là xă hội bất b́nh đẳng và phẩm trật,
societas inaequalis et
hierarchica. Đây là một khẳng định then chốt trong giáo hội
học chính thức từ Vaticanô I đến Vaticanô II. Người ta có thể đọc thấy
trong chương X của lược đồ
Supremi Pastoris
của Vaticanô I: “Giáo Hội của Đức Kitô không phải là một xă hội gồm các
phần tử b́nh đẳng, làm như thể là tất cả các tín hữu đều có những quyền
như nhau; trái lại, đó là một xă hội bất b́nh đẳng (phẩm trật), và điều
đó không chỉ có nghĩa là trong số các tín hữu có những người là giáo sĩ,
có những người là giáo dân, mà nhất là v́ trong Giáo Hội, Chúa đă thiết
đặt một quyền mà một số người đă nhận được để thánh hóa, dạy dỗ và cai
quản, trong khi những người khác không có quyền ấy” (12). Đó là lập
trường chung của các Đức Giáo Hoàng Piô IX, Lêô XIII, Piô X, của Giáo
luật 1917 (canon 107), của các thủ bản thần học, nhất là lúc bấy giờ các
thủ bản này thường nặng tính hộ giáo. Cũng cần thêm rằng Phẩm trật tập
trung tất cả vào Đức Giáo hoàng, tựa như một loại quân chủ trong tôn
giáo. Như vậy Giáo Hội được quan niệm như một kim tự tháp: trên cùng là
Đức Giáo hoàng, tầng kế tiếp là các giám mục, rồi đến tầng các linh mục,
và dưới đáy là giáo dân, những tín hữu thường. Giáo dân là
servile pecus,
một đoàn lũ chẳng có một chút quyền hành và không được phép có sáng
kiến.
Societas perfecta et
hierarchica: Giáo Hội như là một định chế pháp lư. Quan niệm
này giúp Giáo Hội củng cố vững chắc sự hiện diện và tính độc lập của
ḿnh đối với các xă hội trần thế; nó cũng giúp Giáo Hội được luôn thống
nhất dưới quyền một thủ lănh tối cao. Nếu xét đến bối cảnh lịch sử, đó
là một lập trường dễ hiểu và cần thiết. Tuy nhiên thế giới đă thay đổi
sâu rộng trong mọi lănh vực: xă hội, chính trị, văn hóa, kinh tế, khoa
học và kỹ thuật. Thực ra cuộc thay đổi đă khởi sự từ thế kỷ XV với phong
trào phục hưng và các học thuyết nhân bản, rồi đến Thế kỷ Ánh sáng với
các trào lưu triết học mới như duy lư, duy khoa học, tiến hóa, mác-xít…
Đứng trước những đổi thay của thế giới, đời sống của Giáo Hội cũng đă
chuyển biến sâu rộng để có thể thích nghi với xă hội. Trên b́nh diện lư
thuyết và chính thức, Giáo Hội vẫn được quan niệm như một định chế nặng
tính pháp lư; nhưng trong thực tế của cuộc sống, đă có nhiều phong trào
quan trọng – từ dưới chứ không phải từ trên – biểu lộ một ư thức mới về
Giáo Hội. Từ thế kỷ XIX, đă xuất hiện những phong trào như canh tân
phụng vụ, tông đồ giáo dân, dấn thân truyền giáo, đối thoại đại kết.
Nhiều người ư thức cần phải trở về với nguồn mạch của đời sống Giáo Hội
là Thánh Kinh và Thánh Truyền, nhờ vậy người ta tái khám phá những chiều
kích thiết yếu của Giáo Hội lâu nay bị coi nhẹ, chẳng hạn chiều kích
cộng đồng, ân sủng bí tích, hiệp thông, lịch sử,… Chúng ta không thể
không nhắc đến các thần học gia tên tuổi của những thập niên từ 1930 đến
1960 đă tạo nên một khúc quanh trong giáo hội học như: Y. Congar, J.
Daniélou, L. Cerfaux, E. Mersch, Ch. Journet, O. Semmelroth, H. de
Lubac, H. U. von Balthasar, J. Hamer. Đặc biệt thông điệp
Mystici Corporis
của Đức Piô XII (1943) đă nhấn mạnh đến chiều kích thiêng liêng vô
h́nh của ân sủng để bổ túc cho quan niệm quá pháp lư về Giáo Hội (13).
Tất cả các yếu tố trên đă góp phần dọn đường cho Vaticanô II.
2. NHĂN
QUAN CỦA VATICANÔ II
Dù đă
được chuẩn bị từ xa trong thực tế sinh động của các kitô hữu và trong nỗ
lực t́m ṭi của các thần học gia, nhưng khám phá của Vaticanô II là kết
quả một hành tŕnh t́m kiếm tiệm tiến của chính Công đồng. Lược đồ I
De Ecclesia
được phát cho các Nghị phụ gồm 11 chương bàn về: bản chất và các thành
phần của Giáo Hội chiến đấu, Giáo Hội cần thiết cho ơn cứu độ, chức giám
mục là một bí tích, các giám mục sở tại, các bậc trọn lành, giáo dân,
quyền giáo huấn, quyền bính và ḷng vâng phục, quan hệ giữa Giáo Hội với
Nhà Nước, bổn phận truyền giáo, đại kết; và cuối cùng là một phụ lục về
Đức Maria (14). Lược đồ này vẫn c̣n quan niệm Giáo Hội chủ yếu như một
xă hội hữu h́nh, phẩm trật, pháp lư. Cuối khóa họp đầu tiên, lược đồ
được đem ra thảo luận, và ngay lập tức nhận được nhiều phê b́nh gay gắt,
chẳng hạn Đức Cha E. De Smedt cho rằng lược đồ c̣n mang năo trạng thích
vinh quang
(triomphalisme), giáo sĩ trị
(cléricalisme),
nặng pháp lư
(juridisme) (15). Nhiều Nghị phụ lấy làm tiếc v́ bản văn
không đáp lại ước nguyện của Đức Gioan XXIII là Vaticanô II phải mang
tính mục vụ.
Nội dung giáo lư trong kho tàng đức tin của Giáo Hội ngàn đời vẫn không
thay đổi, nhưng theo ngài, – và sau này Đức Phaolô VI cũng tiếp tục xác
định chọn lựa căn bản này – cần phải diễn tả thế nào để đáp ứng với hoàn
cảnh xă hội đă thay đổi và mở ra nhiều h́nh thức tông đồ mới. Giáo Hội
nh́n vào ḿnh (ad
intra) là một cộng đoàn các tín hữu tham dự vào sự sống của
Đức Kitô, để rồi nh́n ra bên ngoài thế giới
(ad extra) và
phục vụ các nhu cầu của anh chị em (16). Cũng chính v́ tính cách mục vụ
này mà lần đầu tiên trong lịch sử Giáo Hội, Vaticanô II không có những
mệnh đề kết án với những
anathema sit
như vẫn thường có trong các Công đồng.
Sau nhiều nỗ lực t́m kiếm, cuối cùng Vaticanô II đă có một cách nh́n
hoàn toàn mới mẻ về Giáo Hội. Thay v́ được nh́n chủ yếu dưới lăng kính
pháp lư, Giáo Hội được nh́n như là một cộng đoàn hiệp thông. “Giáo hội
học hiệp thông là ư tưởng trọng tâm và nền tảng trong các văn kiện của
Công đồng” (17). Sự hiệp thông chính là luồng sáng dọi chiếu vào tất cả
các mối quan hệ: giữa Giáo Hội với Thiên Chúa Ba Ngôi, giữa các thành
phần trong Giáo Hội công giáo với nhau: giáo hoàng – giám mục – linh mục
– tu sĩ – giáo dân, giữa các cộng đoàn Giáo Hội địa phương với nhau và
với Giáo Hội hoàn vũ, giữa Giáo Hội công giáo với các Giáo Hội không
công giáo và với các tôn giáo khác, giữa Giáo Hội và thế giới. Vaticanô
II không phủ nhận phạm trù “xă hội hoàn hảo không đồng đều” và vẫn dùng
lại những hạn từ như trước đây:
“ut societas constituta et
ordinata” (GH 8),
“societas hierarchica
ordinata” (GH 14 ; 20) (18); nhưng đó không c̣n là cửa ngơ
để đi vào thực tại Giáo Hội, và cũng không c̣n là một giá trị chủ chốt
nữa. Phạm trù ấy từ nay sẽ được nh́n lại dưới ánh sáng của lăng kính
hiệp thông.
Tinh thần mới của Công đồng biểu hiện ngay trong việc chọn lựa và sử
dụng các từ ngữ diễn tả phương diện tích cực của đời sống kitô hữu hơn
là những ư niệm pháp lư. Vaticanô II dùng những từ ngữ không hề có trong
Vaticanô I, chẳng hạn:
amor (113 lần),
dialogus (31
lần), evangelizare
(18 lần), fraternus–
fraterne – fraternitas (87 lần),
historia (63
lần), laicus
(200 lần), ministerium
(147 lần),
ministrare (31 lần),
missionalis (75
lần), pauper
(42 lần), servire
(17 lần), servitium
(80 lần), evangelium
(157 lần, trong khi Vaticanô I chỉ có một lần) (19).
2.1 Qui chiếu về phạm trù “societas”: xă hội trở thành mầu nhiệm
Trước hết
phải nh́n lên Ba Ngôi như là nguồn mạch mọi sự. Đành rằng Giáo Hội là
một xă hội, nhưng tiên vàn là một thực tại mầu nhiệm vượt quá giác quan.
Ngay từ đầu chương I của Hiến chế Tín lư về Giáo Hội, Công đồng nói về
“mầu nhiệm Giáo Hội”. Giáo Hội được nh́n như là công tŕnh biểu lộ t́nh
yêu của Chúa Ba Ngôi trong lịch sử loài người (GH 2-4; TG 2), và v́ thế
Hiến chế trích lời của thánh Cyprianô: “Giáo Hội phổ quát xuất hiện như
một dân tộc được hiệp nhất khởi nguồn từ sự hiệp nhất giữa Chúa Cha và
Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (GH 4):
“De unitate Patris et Filii
et Spiritus Sancti plebs adunata”. (20) Thực khó mà dịch
tiếng “de”
của latinh: nó vừa chỉ nguồn gốc, căn nguyên, vừa chỉ sự tham dự và mô
phỏng một thực tại mẫu (21). Sắc lệnh Hiệp Nhất khẳng định rơ hơn: “Đó
là mầu nhiệm thánh của sự hiệp nhất Giáo Hội trong Đức Kitô và nhờ Đức
Kitô, dưới tác động của Thánh Thần trong nhiều phận vụ khác nhau. Mẫu
mực tối cao và nguyên lư của mầu nhiệm này là sự hiệp nhất trong Ba Ngôi
của một Thiên Chúa duy nhất là Cha và Con trong Thánh Thần” (HN 2). Sự
hiệp thông của Ba Ngôi chính là nguyên nhân và nguồn mạch, là mẫu mực và
là quê hương của Giáo Hội, và như vậy, Giáo Hội tự bản chất là hiệp
thông theo kiểu mẫu của sự hiệp thông Ba Ngôi.
Do đó, một người thuộc về Giáo Hội chủ yếu là do mối liên hệ của họ với
Ba Ngôi. Từ nay một phần tử của Giáo Hội sẽ được định nghĩa như sau:
“Được kể là gia nhập hoàn toàn vào cộng đoàn Giáo Hội, những ai lănh
nhận Thánh Thần Đức Kitô, chấp nhận trọn vẹn tổ chức và các phương tiện
cứu độ được thiết lập trong Giáo Hội; và nhờ các mối liên lạc do việc
tuyên xưng đức tin, các bí tích, việc cai trị của Giáo Hội và sự hiệp
thông, họ liên kết với Đức Kitô trong tổ chức hữu h́nh mà Người điều
khiển nhờ Giáo hoàng và các giám mục” (GH 14). Như vậy yếu tố hữu h́nh
không c̣n mang tính cách quyết định như trong định nghĩa của Bellarminô,
v́ Giáo Hội là “một thực thể phức hợp do yếu tố nhân loại và yếu tố thần
linh kết thành”: Giáo Hội vừa là một xă hội phẩm trật vừa là nhiệm thể
Chúa Kitô, là đoàn thể xă hội nhưng cũng là cộng đoàn thiêng liêng, là
Giáo Hội trần gian nhưng đồng thời được tô điểm bằng những hồng ân thiên
quốc (x. GH 8). Mức độ thuộc về Giáo Hội tùy thuộc mức độ người ta hội
đủ các yếu tố vô h́nh và hữu h́nh nhiều hay ít. Theo kiểu nói của thánh
Augustinô, một tín hữu công giáo có thể thuộc về Giáo Hội ngoài “thể
xác”, nhưng “tâm hồn” th́ không c̣n ở trong Giáo Hội nữa.
Đó cũng là nguyên tắc của sự hiệp nhất đại kết. Các tín hữu đă lănh nhận
phép rửa ngoài Giáo Hội công giáo, v́ thực sự được kết hiệp với Đức Kitô
và lănh nhận Thánh Thần, nên cũng có quyền mang danh kitô hữu, và các
cộng đoàn của họ cũng được gọi là Giáo Hội anh chị em với Giáo Hội công
giáo, hoặc ít nữa là cộng đoàn giáo hội (communautés ecclésiales). Dù
không đầy đủ, nhưng các cộng đoàn ấy cũng có một số yếu tố nền tảng của
Giáo Hội công giáo, và v́ thế tất cả các Giáo Hội đang hiệp thông với
nhau rồi, dù là hiệp thông chưa trọn vẹn (x. GH 15 ; HN 3). Cách giải
quyết vấn đề của Vaticanô II khác trước đây ở chỗ: không phải là “có”
hoặc “không” một cách tuyệt đối, mà là có “nhiều” hay “ít”, là công giáo
trọn vẹn hay không trọn vẹn, có tính giáo hội hoàn toàn hay bất toàn.
Chính v́ vậy mà theo Vaticanô II, Giáo Hội của Đức Kitô không “là” (=
không đồng hóa với) Giáo Hội công giáo, nhưng “tồn tại trong
(subsistit in)
Giáo Hội công giáo” (GH 8), bởi lẽ các Giáo Hội khác ít nhiều cũng là
Giáo Hội của Đức Kitô. Phải mất bao nhiêu thế kỷ chúng ta mới khám phá
ra tiếng “subsistit in”
ấy, và chính sự khiêm tốn nh́n nhận Giáo Hội công giáo không phải là tất
cả Giáo Hội của Đức Kitô đă đem lại niềm hy vọng và rút ngắn con đường
đại kết.
Mầu nhiệm Giáo Hội vượt quá biên cương hữu h́nh của Giáo Hội, nên ngay
cả những người không thuộc về Giáo Hội một cách hữu h́nh trên b́nh diện
xă hội, vẫn “qui hướng về Dân Thiên Chúa”, và “nếu thành tâm t́m kiếm
Thiên Chúa, và dưới tác động của ân sủng, họ cố gắng chu toàn thánh ư
Thiên Chúa trong công việc ḿnh theo sự hướng dẫn của lương tâm, th́ họ
có thể được cứu độ” (GH 16). Trong bối cảnh của giáo hội học nặng về
pháp lư, dựa vào câu nói của thánh Cyprianô: “Ngoài Giáo Hội không có ơn
cứu độ”, người ta hiểu rằng những người ngoài tổ chức xă hội hữu h́nh
của Giáo Hội không thể được cứu độ. Quả thực là ngoài Giáo Hội không có
ơn cứu độ, nhưng Vaticanô II không hiểu theo nghĩa loại trừ, nghĩa là
ngoài tổ chức Giáo Hội, không hề có ân sủng và không thể được cứu độ;
trái lại Vaticanô II đă hiểu theo nghĩa tích cực là: kế hoạch cứu độ của
Thiên Chúa đă được thực hiện trong lịch sử một cách hữu h́nh nơi Giáo
Hội, và v́ thế Giáo Hội trở thành dấu chỉ và phương tiện mang tính xă
hội và hữu h́nh của ơn cứu độ. Bởi vậy những người ở ngoài Giáo Hội hữu
h́nh vẫn có thể được cứu độ, v́ ân sủng của Thiên Chúa hoàn toàn siêu
việt và không hề bị giới hạn bởi bất cứ yếu tố nhân loại nào. Tuy nhiên
Công đồng hiểu là mọi ân sủng đều là ân sủng của Đức Kitô, và Giáo Hội
đă được Đức Kitô thiết lập để trở thành dấu chỉ hữu h́nh của ân sủng của
Người trên trần gian, nên mọi ân sủng của Đức Kitô đều ít nhiều mang
chiều kích Giáo Hội; bởi vậy những người công chính đều “qui hướng” và
thuộc về mầu nhiệm Giáo Hội một cách nào đó, và như thế ơn cứu độ của họ
cũng mang chiều kích Giáo Hội. Đây chính là cơ sở để người ta nói đến
các kitô hữu vô danh (22).
2.2 Qui chiếu về phạm trù “societas perfecta”: xă hội hoàn hảo trở
thành bí tích.
Vaticanô II dứt khoát từ bỏ năo trạng quyền lực của thời thế giới kitô
giáo (chrétienté),
không c̣n tự coi ḿnh là một thế lực văn hóa xă hội có đầy đủ mọi tổ
chức và quyền hành cạnh tranh với các xă hội thế tục. Lẽ dĩ nhiên Giáo
Hội cũng cần có quyền bính để thực hiện mục đích của ḿnh, nhưng Công
đồng tỏ ra thận trọng và chỉ nói đến quyền bính trong bối cảnh thi hành
sứ mạng, trách nhiệm, bổn phận, và nhất là không c̣n nhấn mạnh đến quyền
ép buộc hoặc xử phạt (x. GH 27; GM 16). Ngoài ra, sự tự do mà Giáo Hội
đ̣i hỏi không đặt nền tảng trên sự thỏa thuận giữa hai quyền lực như
trong các thế kỷ trước, nhưng trên sự phục vụ những quyền lợi căn bản
của phẩm giá con người. Sứ mạng của Giáo Hội thuộc phạm vi thiêng liêng,
nên không hề cạnh tranh với các cộng đoàn chính trị, trái lại, Giáo Hội
sẵn sàng hợp tác với xă hội để phục vụ con người (23). Đức Phaolô VI đă
tuyên bố với Ngoại giao đoàn rằng Vaticanô II không c̣n quan niệm Giáo
Hội như một thế lực cạnh tranh hoặc chống lại các quyền lực của thế
giới, mà chỉ muốn cộng tác để xây dựng thế giới (24). Xin được nhắc lại
một đoạn trong diễn văn của Đức Phaolô VI tại Liên Hiệp Quốc ngày
4-10-1965, tức là vào thời điểm đang hoàn thành Hiến chế
Gaudium et Spes
để chuẩn bị công bố vào ngày 7-12-1965:
Người đang nói với quư
vị là một người trong quư vị, là anh em, thậm chí là một người nhỏ nhất
trong quư vị, v́ quư vị đại diện cho các cường quốc, c̣n người đang nói
chỉ có một chút uy quyền trần thế nhỏ bé tượng trưng; đó chỉ là một chút
cần thiết để tự do thi hành sứ mạng thiêng liêng và để bảo đảm với quư
vị rằng chúng tôi độc lập với mọi quyền bính của thế giới này. Chúng tôi
không có một chút quyền lực trần gian và không hề có tham vọng cạnh
tranh với quư vị. Thực vậy, chúng tôi không xin ǵ và cũng không đặt vấn
đề ǵ; cùng lắm chỉ là tŕnh bày một ước nguyện, đó là xin phép được
phục vụ quư vị trong khả năng chuyên môn của chúng tôi một cách vô vị
lợi, với khiêm tốn và yêu thương (25).
Theo Vaticanô II, thái độ căn bản của Giáo Hội là không tách rời khỏi
thế gian nhưng đồng hành và phục vụ thế gian. Trong diễn văn khai mạc
khóa ba của Công đồng, Đức Phaolô VI đă xác định hướng đi của Giáo Hội:
“Mục đích của Giáo Hội không phải là chính Giáo Hội, trái lại, Giáo Hội
ao ước được trọn vẹn thuộc về Đức Kitô, nhờ Đức Kitô, trong Đức Kitô,
được trọn vẹn thuộc về nhân loại, ở giữa nhân loại, sống cho nhân loại”
(26). Đó là sự chọn lựa căn bản. “Tất cả giáo lư phong phú của Công đồng
chỉ nhắm một mục đích là phục vụ con người. […] Có thể nói Giáo Hội là
đầy tớ (ancilla)
của nhân loại. […] Ư tưởng «phục vụ» chiếm vị trí trung tâm trong Công
đồng” (27).
Nhận thức ấy đă đưa các nghị phụ Công đồng trở về với các giáo phụ và
khám phá ra ư niệm bí
tích để áp dụng vào Giáo Hội: “Trong Đức Kitô, Giáo Hội tựa
như bí tích, - tức là như dấu chỉ và khí cụ - , của sự kết hiệp mật
thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại” (GH 1).
Khẳng định ấy bao hàm nhiều ư nghĩa quan trọng. Trước hết, trên b́nh
diện tín lư, Vaticanô II xác nhận Giáo Hội không có mục đích nơi chính
ḿnh, không phải là cứu cánh mà chỉ là dấu hiệu và phương tiện của ơn
cứu độ. Khác với quan niệm trước đây, theo Vaticanô II, Giáo Hội không
đồng hóa với Nước Trời nhưng là sự hiện diện mầu nhiệm
(in mysterio)
của Nước Đức Kitô (x. GH 3), là “mầm mống và khai nguyên của Nước Trời
trên trần gian” (GH 5). Từ ngữ
mysterio phải
được hiểu theo nghĩa
sacramentum, và v́ thế có thể nói Giáo Hội là bí tích của
Nước Trời. Nước Trời là thực tại cánh chung, dù là đă bắt đầu nơi Giáo
Hội, c̣n Giáo Hội dù là dấu chỉ của Nước Trời, nhưng vẫn c̣n đang lữ
hành trong lịch sử và “mang khuôn mặt chóng qua của đời này, qua các bí
tích và định chế là những điều thuộc đời này” (GH 48).
Kế đến trên b́nh diện mục vụ, v́ là bí tích của sự hiệp nhất của toàn
thể loài người với Thiên Chúa và với nhau, nên Giáo Hội không tách rời
khỏi cộng đồng nhân loại, trái lại đối thoại, đồng hành, và phục vụ nhân
loại. Giáo Hội của Vaticanô II không c̣n là một xă hội hoàn hảo cạnh
tranh hoặc chống lại các cơ cấu của xă hội trần gian, nhưng đă vượt lên
trên phạm trù xă hội để trở thành bí tích cứu độ, làm men và muối, trở
thành sức năng động nâng đỡ và thúc đẩy thế giới đi tới cứu cánh của
ḿnh là Thiên Chúa.
Chính ư thức về lịch sử và cánh chung đă làm cho Giáo Hội quan tâm nhiều
hơn đến thế giới. Suốt hai mươi thế kỷ, Giáo Hội dường như không có ư
thức mănh liệt về lịch sử và v́ thế dường như vắng mặt khỏi thế giới.
Khái luận thần học về cánh chung chỉ dừng lại ở những vấn đề “tứ chung”,
“de ultimis rebus”,
đó là: chết, luyện ngục, thiên đàng và hỏa ngục. Y. Congar cho thấy bộ
từ điển vĩ đại thuộc loại kinh điển
Dictionnaire de Théologie
catholique gồm có 41.338 cột, in thành 15 tập to lớn, xuất
bản từ năm 1903 đến 1950, thế mà không hề nhắc tới nghề nghiệp, việc
làm, gia đ́nh, phụ nữ, t́nh yêu hôn nhân, tính dục, thân xác, niềm vui,
đau khổ, bệnh tật, kinh tế, chính trị, kỹ thuật, nghệ thuật, lịch sử,
thế giới, nhân vị, giáo dân,… Và Congar nhận xét chí lư: một tôn giáo
không có thế giới sẽ đưa tới hậu quả tất nhiên như chúng ta đang chứng
kiến, đó là một thế giới không có tôn giáo (28). V́ thế chương VII của
Hiến Chế tín lư Lumen
Gentium khẳng định chiều kích lịch sử và cánh chung của Giáo
Hội: lữ hành trong lịch sử nhân loại và mang những đặc tính và dấu vết
của đời này, Giáo Hội đang trên đường tiến về cánh chung. Giáo Hội ở
trong thế giới và tiến bước trong lịch sử, nhưng thế giới đă được tháp
nhập vào kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa: kế hoạch đó khởi nguồn từ cuộc
Vượt qua của Đức Kitô và đang nhắm tới cùng đích là Nước Trời cánh
chung; c̣n vai tṛ của Giáo Hội hiện nay là trở thành người loan báo và
là bí tích của kế hoạch ấy: Giáo Hội hiện diện trong thế giới “như là bí
tích phổ quát của ơn cứu độ” (GH 48). Giáo Hội và thế giới vẫn phân biệt
nhau, nhưng v́ cả hai đều theo đuổi cùng một mục đích tối hậu, nên một
cách nào đó cả Giáo Hội và thế giới đều làm nên chung một lịch sử là
lịch sử cứu độ, v́ nguyên lư duy nhất vẫn là Đức Kitô: “Thiên Chúa vừa
là Đấng Cứu độ vừa là Đấng Tạo dựng, làm chủ lịch sử nhân loại cũng như
lịch sử cứu độ” (MV 41). Vấn đề này sẽ được triển khai sâu rộng trong
Hiến chế mục vụ Gaudium
et Spes.
2.3 Qui chiếu về phạm trù “societas inaequalis et hierarchica”: Giáo
Hội là Dân Thiên Chúa
Vaticanô II không phủ nhận tính chất cơ cấu phẩm trật của Giáo Hội và
không hề chối bỏ Vaticanô I, trái lại vẫn dành cả chương III để nói về
phẩm trật và vẫn nhắc lại giáo lư của Vaticanô I về quyền tối thượng của
Đức Giáo hoàng (x. GH 18). Tuy nhiên Vaticanô II không c̣n nh́n Giáo Hội
như một kim tự tháp và không đóng khung Giáo Hội trong cơ cấu phẩm trật.
Như chúng ta đă nói, Lược đồ thứ nhất
De Ecclesia vẫn
c̣n mang nặng tinh thần pháp lư. Từ đầu năm 1963, Ủy ban giáo thuyết của
Công đồng đă phải soạn thảo lại một bản văn khác. Có ít nhất mười lăm dự
thảo được đề nghị, nhưng cuối cùng một Lược đồ mới gồm bốn chương được
gửi tới các Nghị phụ và được thảo luận từ 30-9 đến 31-10 năm 1963: I-
Mầu nhiệm Giáo Hội; II- Cơ cấu phẩm trật của Giáo Hội, đặc biệt về chức
giám mục; III- Dân Chúa, đặc biệt là giáo dân; IV- Lời kêu gọi nên thánh
trong Giáo Hội (29). Cuộc thảo luận đă đi tới kết luận là sắp xếp lại
Lược đồ thành tám chương như chúng ta thấy hiện nay, trong đó chương II
bàn đến Dân Thiên Chúa, tức là tất cả những ǵ liên quan đến toàn thể
các tín hữu kitô; rồi sau đó mới nói đến các thành phần khác nhau trong
Dân Chúa: phẩm trật trong chương III, giáo dân trong chương IV, tu sĩ
trong chương VI. Sự thay đổi dàn bài đó rất có ư nghĩa: các Nghị phụ
thấy rằng Phẩm trật chỉ có ư nghĩa khi được đặt vào trong ḷng Dân Thiên
Chúa và để phục vụ Dân Thiên Chúa chứ không phải là tất cả Giáo Hội và
cũng không phải là cánh cửa hoặc là phẩm tính đầu tiên của Giáo Hội.
Ư niệm Dân Thiên Chúa trước hết gợi lại lịch sử cứu độ và những chặng
đường của dân Do thái lữ hành trong sa mạc, và v́ thế cũng cho thấy Giáo
Hội là dân Israel mới đang lữ hành giữa những thăng trầm để tiến bước về
thành thánh tương lai bất diệt. Dân Thiên Chúa cũng nói lên tính cách
cộng đoàn của các tín hữu: “Thiên Chúa không muốn thánh hóa và cứu độ
loài người cách riêng rẽ, thiếu liên kết, nhưng Ngài muốn quy tụ họ
thành một dân tộc…” (GH 9). Danh xưng Dân Thiên Chúa c̣n cho thấy Giáo
Hội không phải là một ư niệm trừu tượng hay chỉ là một định chế, một cơ
cấu pháp lư tựa như một pháp nhân, nhưng trước hết đó là những con người
cụ thể được tái sinh nhờ ḷng tin vào Đức Kitô. Giáo Hội là Giáo Hội của
những con người được kêu gọi giữa loài người để thi hành sứ mạng cho
loài người.
Từ xác tín này, trước hết Vaticanô II khơi dậy ư thức sống động về
Giáo Hội địa phương.
Từ lâu trước Công đồng, người ta đă từng tranh luận xem chức giám mục có
phải là bí tích không. Các Nghị phụ đă dựa vào Thánh Kinh và Thánh
Truyền để đưa ra kết luận dứt khoát và tuyên bố chức giám mục là bí
tích, đồng thời khám phá lại chiều kích tập đoàn
(collegium) và
hiệp thông của chức giám mục (x. GH 21-22). Cùng với việc nhận ra bí
tích tính của chức giám mục, Công đồng cũng thấy được tầm quan trọng của
Giáo Hội địa phương. Dân Thiên Chúa là cộng đoàn duy nhất nhưng lại hiện
diện nơi mọi dân mọi nước trần gian, hiện diện cách cụ thể trong từng
địa phương. GH 23 và GM 11 cho thấy mỗi giáo phận, mỗi cộng đoàn Giáo
Hội địa phương, thể hiện trọn vẹn và đầy đủ mầu nhiệm Giáo Hội, v́ ở đó
có thừa tác vụ giám mục, có Lời Chúa và Thánh Thể; và chính trong Giáo
Hội địa phương ấy mà Giáo Hội duy nhất của Đức Kitô hiện diện và hoạt
động thực sự. Người ta chỉ thấy Giáo Hội hiện diện cụ thể tại địa phương
này hay địa phương kia, chứ không thấy một Giáo Hội trừu tượng. Tuy
nhiên Giáo Hội hoàn vũ không phải chỉ là tổng số các Giáo Hội địa phương
hợp lại; có thể nói Giáo Hội ấy có một hiện hữu riêng và đă hiện hữu
trước khi được thể hiện tại từng Giáo Hội địa phương. Chỉ có Giáo Hội
hoàn vũ mới thực sự là Thân Thể mầu nhiệm của Đức Kitô cách trọn vẹn,
chỉ Giáo Hội ấy mới có thừa tác vụ Phêrô, và cũng chỉ Giáo Hội ấy mới
biểu lộ trọn vẹn các phẩm tính của mầu nhiệm Giáo Hội là duy nhất, thánh
thiện, công giáo và tông truyền.
Dân Thiên Chúa ở mỗi địa phương mang dấu ấn riêng của từng nơi chốn và
thời đại, của văn hóa và lịch sử tại địa phương ấy. Cộng đoàn Giáo Hội
luôn luôn được định vị trong thời gian và không gian, tức là được địa
phương hóa: đó không phải là yếu tố ngẫu nhiên hay tùy phụ, trái lại, đó
là đ̣i hỏi của định luật nhập thể. Ư thức tầm quan trọng của Giáo Hội
địa phương chính là ư thức về một sự nhập thể cần thiết phải có để biểu
lộ cụ thể mầu nhiệm Giáo Hội, và đồng thời cũng là ư thức về sự cần
thiết của vấn đề hội nhập văn hóa, và như thế mới có thể xây dựng một
Giáo Hội thực sự là công giáo (x. GH 13; 23).
Một cách đặc biệt, khi gọi Giáo Hội là Dân Thiên Chúa, Công đồng muốn
nhấn mạnh đến tính cách
b́nh đẳng căn bản
giữa tất cả các kitô hữu. Giáo Hội trước hết không phải chỉ là giáo phẩm
mà là cộng đoàn gồm tất cả những người tin vào Đức Kitô. Giá trị đầu
tiên đó là được lănh nhận bí tích rửa tội và Thánh Thể, nhờ đó tín hữu
được tham dự vào sự sống của Đức Kitô để trở thành kitô hữu và làm thành
Dân Thiên Chúa. Danh hiệu Dân Thiên Chúa liên quan và bao gồm mọi tín
hữu kitô, nghĩa là cả phẩm trật lẫn giáo dân, v́ “giữa tất cả mọi người
vẫn có sự b́nh đẳng thực sự, b́nh đẳng về phương diện phẩm giá và hoạt
động chung của mọi tín hữu để xây dựng Thân thể Đức Kitô” (GH 32). Sự
b́nh đẳng căn bản của tất cả các kitô hữu đặt nền tảng trên chức tư tế
chung do bí tích rửa tội đem lại. Đây chính là một tái khám phá của Công
đồng. Các giáo phụ cũng như các tiến sĩ Giáo Hội đă từng dựa vào 1Pr 2,
9 để khai triển đề tài chức tư tế chung của các tín hữu. Nhưng v́ những
người Cải cách đă dựa vào chức tư tế phổ quát để chối bỏ chức tư tế thừa
tác, nên Công đồng Trentô đă nhấn mạnh đến tính chất đặc thù cao cả của
chức linh mục thừa tác. Tuy nhiên người ta dễ đi từ thái cực này đến
thái cực kia: sự nhấn mạnh đôi khi quá đáng làm cho nhiều tín hữu trong
suốt bốn thế kỷ quên đi địa vị và sứ mạng của ḿnh để trở thành những
người thụ động ù lỳ trong Giáo Hội. Vaticanô II đă lập lại sự quân b́nh
khi cho thấy chức tư tế chung và chức tư tế thừa tác khác biệt nhau về
bản chất nhưng đồng thời cũng bổ túc cho nhau để cùng thể hiện sự phong
phú nơi chức tư tế duy nhất của Đức Kitô (x. GH 10-11).
Đôi khi người ta nhân danh Giáo Hội là Dân Thiên Chúa để đề cao giáo dân
và loại trừ phẩm trật. Thật là sự hiểu lầm đáng tiếc, Dân Thiên Chúa
không đồng nghĩa với giáo dân. Sự b́nh đẳng căn bản không loại trừ việc
khác biệt nhau trong thừa tác vụ, v́ các chi thể chỉ là một trong Đức
Kitô nhưng lại thi hành những nhiệm vụ khác nhau để làm cho thân thể
được lớn lên (x. GH 7; 32).
Như vậy người giáo dân từ nay không c̣n là người ở bên lề Giáo Hội hay
chỉ là thành phần thứ yếu, trái lại họ chu toàn một sứ mạng quan trọng
và đặc thù trong thế giới: ”Giáo dân được đặc biệt kêu mời làm cho Giáo
Hội hiện diện và hoạt động nơi và trong những hoàn cảnh mà nếu không có
họ, th́ Giáo Hội sẽ không trở thành muối của thế gian” (GH 33). Giáo Hội
không thể chu toàn trọn vẹn sứ mạng thánh hóa thế gian nếu không có
những người giáo dân thánh hóa thế giới “như men từ bên trong”, “qua các
công việc và bổn phận trần thế, giữa những cảnh sống thường ngày trong
gia đ́nh và ngoài xă hội” (GH 31). Sứ mạng của họ không do hàng giáo
phẩm chia phần cho, nhưng bắt nguồn từ tính chất đặc thù của ơn gọi giáo
dân, đó là tính chất trần thế.
V́ Giáo Hội là toàn Dân Thiên Chúa, việc nên thánh không c̣n là chuyện
của các nhà tu hành mà là bổn phận của tất cả mọi người môn đệ Đức Kitô.
Giáo Hội là thánh không phải chỉ trên b́nh diện cơ cấu hay hữu thể,
nhưng cả trên b́nh diện hiện sinh nữa. Giáo Hội phải là cộng đoàn những
con người thánh thiện, v́ thế Hiến chế
Lumen Gentium
dành cả chương V để kêu gọi tất cả mọi kitô hữu nên thánh, rồi sau đó
trong chương VI mới nói đến con đường nên thánh đặc thù của các tu sĩ.
Nếu các tu sĩ được kêu gọi “tuân giữ ba lời khuyên Phúc Âm để hiến thân
hoàn toàn cho Thiên Chúa chí ái, để phụng sự và làm vinh danh Ngài với
một danh hiệu mới mẻ và đặc biệt” (GH 44), th́ tất cả mọi kitô hữu v́ đă
được thánh hóa nhờ bí tích rửa tội, nên dù ở “bất cứ bậc sống hay địa vị
nào, cũng được kêu gọi để tiến đến sự viên măn của đời sống kitô hữu và
tiến đến sự trọn lành của đức ái” (GH 40). Từ các mục tử, giám mục hay
linh mục, những người đang thi hành thừa tác vụ thánh, hoặc các tu sĩ
sống trong cộng đoàn tu viện, đến các giáo dân sống đời hôn nhân giữa
bụi trần của cuộc đời ô trọc, hay những người góa bụa, khổ đau, tất cả
đều có thể và có bổn phận nên thánh để làm chứng cho Đức Kitô: sự thánh
thiện phải được thực hiện và biểu lộ “trong và nhờ những trạng huống,
chức nghiệp hay hoàn cảnh của cuộc sống” (GH 41). Do đó, cuộc sống giữa
đời của người giáo dân không phải là một cản trở cho sự thánh thiện, và
muốn nên thánh cũng không đ̣i phải trốn khỏi thế gian, trái lại, sống
giữa đời với những bổn phận trần thế chính là con đường nên thánh của
giáo dân và là nét đặc thù trong ơn gọi nên thánh của họ. Như vậy với
Vaticanô II, sự thánh thiện không c̣n là đặc ân của một thiểu số, cũng
không chỉ nằm trên b́nh diện tu đức hoặc chỉ là chuyện sở thích cá nhân;
trái lại nó mang chiều kích Giáo Hội, nghĩa là nó biểu lộ chính mầu
nhiệm Giáo Hội và là một đ̣i hỏi thiết yếu gắn liền với ơn gọi của từng
người trong cộng đoàn Dân Thiên Chúa.
Sau hết sẽ thật là thiếu sót nếu tŕnh bày về giáo hội học của Vaticanô
II mà không nói đến Đức Maria, bởi v́ Hiến chế Tín lư về Giáo Hội đă
dành cả một chương cuối để nói về Đức Trinh Nữ Maria. Chính tựa đề của
chương VIII đă cho thấy ư nhắm sâu xa của Công đồng: phải nh́n Đức Maria
trong lịch sử cứu độ, tức là trong ánh sáng của mầu nhiệm Đức Kitô và
mầu nhiệm Giáo Hội, và đó chính là một cái nh́n mới (30). Một mặt, Đức
Maria là Mẹ Thiên Chúa và được những đặc ân độc nhất vô nhị. Nhưng mặt
khác, mầu nhiệm Đức Maria chỉ có ư nghĩa khi được tháp nhập vào mầu
nhiệm Đức Kitô và mầu nhiệm Giáo Hội. “Đức Mẹ được chào kính như chi thể
tối cao và độc nhất vô nhị của Giáo Hội, đồng thời như mẫu mực và gương
sáng phi thường của Giáo Hội trên phương diện đức tin và đức ái” (GH
53). Đức Maria là Mẹ của Giáo Hội, là Đấng cộng tác cách đặc biệt vào
công tŕnh cứu chuộc của Đức Kitô, là Đấng Trung gian tùy thuộc vào vai
tṛ trung gian duy nhất của Đức Kitô, nhưng đồng thời Người cũng là môn
đệ đầu tiên biết lắng nghe và giữ lời Đức Kitô; trong cộng đoàn Dân
Thiên Chúa, Mẹ trổi vượt mọi tín hữu nhưng Mẹ không ở ngoài Giáo Hội,
trái lại Mẹ vẫn là chi thể, một chi thể độc nhất ở vị trí tối cao của
Giáo Hội.
Điều quan trọng đối với giáo hội học, đó là con người Đức Maria biểu lộ
chính mầu nhiệm Giáo Hội. Thật vậy, cũng như Đức Maria là Mẹ và là Trinh
Nữ, Giáo Hội cũng được gọi cách hợp pháp là Mẹ và Trinh Nữ; hơn nữa Giáo
Hội là Mẹ và là Trinh Nữ qua chính con người của Đức Maria là “người đi
tiên phong và là gương mẫu” của Giáo Hội (GH 63). Giáo Hội là thánh,
nhưng sự thánh thiện của Giáo Hội được biểu lộ qua chính Đức Maria, v́
“qua con người của Đức Trinh Nữ, Giáo Hội đă đạt tới một sự toàn thiện
làm cho ḿnh nên thanh sạch và vẹn tuyền”, trong khi chúng ta c̣n đang
phải chiến đấu với tội lỗi để tiến lên trên con đường thánh thiện (GH
64). Sau nữa, “Mẹ của Đức Giêsu hôm nay đă được vinh hiển hồn xác trên
trời chính là h́nh ảnh và khởi đầu của Giáo Hội phải được hoàn thành đời
sau” (GH 68). Tất cả những đặc ân Đức Mẹ nhận được là v́ Đức Kitô và v́
thân thể của Người là Giáo Hội; hơn nữa chính qua các đặc ân của Đức Mẹ
mà Giáo Hội nhận ra ơn gọi và định mệnh của ḿnh, chính qua việc nh́n
ngắm Đức Mẹ mà Giáo Hội thấy được chính ḿnh và nhận ra sứ mạng của ḿnh
trong thế giới. Đức Maria vừa là mẹ vừa là người môn đệ gương mẫu cho
Giáo Hội, vừa là người đi trước vừa là kẻ đồng hành với Giáo Hội nhưng
cũng là người về đến quê nhà trước Giáo Hội.
3. CÁI
MỚI VẪN CHƯA CŨ
Thời gian chỉ cho phép chúng ta làm công việc kê toa thuốc, nghĩa là nói
quá nhiều mà vẫn là quá ít. Nhưng rảo quanh một ṿng ít nữa cũng gợi lên
phần nào cái tinh thần mới trong giáo hội học của Vaticanô II. Hôm nay,
38 năm sau ngày bế mạc, Công đồng vẫn c̣n là mới mẻ và hợp thời, nhất là
đối với nhiều người công giáo Việt Nam. Thực ra ngay từ khi Vaticanô II
mới kết thúc, người ta đă nói rằng có lẽ cần một Vaticanô thứ III để bổ
túc cho Vaticanô II. Chẳng hạn nếu như Vaticanô II dung ḥa được sự chia
cách giữa Giáo hoàng với giám mục, th́ cũng cần một Công đồng khác để
bàn đến mối liên hệ giữa giáo sĩ, cách riêng là linh mục, với giáo dân.
Người ta cũng nhận xét rằng định nghĩa về giáo dân của Vaticanô II c̣n
mang tính cách giáo luật: giáo dân không phải là giáo sĩ hay tu sĩ, và
v́ thế cần phải có một định nghĩa khác tích cực hơn và có tính cách thần
học hơn. Ngoài ra, nhiều người ngày nay không muốn gọi Vaticanô II là
Công đồng chung
(concile oecuménique), v́ Vaticanô II mới mở rộng những cánh
cửa của hiệp nhất, c̣n thực tế các anh em của các Giáo Hội ngoài công
giáo vẫn chưa có tiếng nói tại hội nghị. Và c̣n nhiều chuyện khác nữa
(31).
Quả thực Công đồng đă không làm được hết mọi chuyện, và chính Công đồng
cũng ư thức rằng ḿnh chưa thực hiện được hết mọi dự tính. Nhưng có lẽ
chúng ta đều nhận rằng Công đồng đă làm một cuộc cách mạng về giáo hội
học, một cuộc khai phá để đem lại luồng khí mới cho Giáo Hội như Đức
Gioan XXIII từng mơ ước. Những giá trị mà Công đồng đă khám phá hoặc tái
khám phá vẫn c̣n đang tạo nên những chuyển biến tích cực trong Giáo Hội
và trong thế giới. Để kỷ niệm 20 năm ngày bế mạc Công đồng, Đức
Gioan-Phaolô II đă triệu tập một Thượng Hội Đồng Giám mục đặc biệt vào
năm 1985 để “họp mừng, chứng thực và cổ vơ thực hiện Công đồng Vaticanô
II”; các Nghị phụ đă tuyên bố rằng Công đồng quả là một hồng ân và là ân
sủng mà Thiên Chúa ban cho Giáo Hội và cho thế giới trong thế kỷ này, và
mời gọi mọi người học hỏi và đào sâu các văn kiện của Công đồng để đem
ra thực hành (32). Riêng đối với Đức Gioan-Phaolô II, Vaticanô II là tất
cả chương tŕnh hành động của ngài: “Tôi đă được hồng ân đặc biệt là
tham dự và cộng tác tích cực vào diễn tiến của Công đồng. Đối với tôi,
cách riêng trong những năm của triều đại giáo hoàng của tôi, Vaticanô II
đă và vẫn luôn luôn là điểm quy chiếu thường xuyên cho mọi hoạt động mục
vụ của tôi, qua việc cố gắng đem các hướng dẫn của Công đồng ra áp dụng
một cách cụ thể và trung thành, ở b́nh diện mỗi Giáo Hội cũng như ở mức
độ toàn Giáo Hội. Phải không ngừng trở về với nguồn mạch này” (33). Và
rồi để bước vào thiên niên kỷ mới, Đức Gioan-Phaolô II cũng đă nhiều lần
kêu gọi phải áp dụng Công đồng, v́ đó là một ân huệ lớn lao của Thiên
Chúa: “Năm tháng qua đi, nhưng các bản văn của Công đồng vẫn không hề
mất giá trị và vẻ sáng chói. […] Đó vẫn là địa bàn
(boussole) đáng
tin cậy hướng dẫn chúng ta trên nẻo đường của thế kỷ đang tới” (34).
Giáo hội học của Vaticanô II cho tới nay vẫn c̣n là một sứ điệp mang
tính thời sự và có tính chất ngôn sứ. Không biết chừng nào sẽ có
Vaticanô III, nhưng ít nữa Vaticanô II vẫn c̣n là một luồng sáng hướng
đạo cho Giáo Hội trong thời đại chúng ta, và vai tṛ của các Thượng Hội
Đồng Giám mục thế giới sẽ là đào sâu và áp dụng cách sáng tạo những định
hướng của Công đồng. Xin được nêu lên một vài gợi ư nhỏ.
Trước tiên hơn lúc nào hết, Giáo Hội hôm nay vẫn c̣n phải được xây dựng
theo mô h́nh hiệp thông. Lẽ dĩ nhiên như chúng ta đă nói, mẫu giáo hội
học hiệp thông không phải là mà cũng không thể là kiểu mẫu duy nhất để
xây dựng Giáo Hội. Tuy nhiên đó là một kiểu mẫu trọng tâm, nền tảng và
thiết yếu; và nếu như sau hết mọi sự sẽ chỉ có t́nh yêu là tồn tại măi
măi, th́ sự hiệp thông cũng sẽ măi măi là sự sống và là chứng từ của
Giáo Hội đối với thế giới. Nhân loại hôm nay bị xâu xé v́ chiến tranh và
hận thù, từ chiến tranh quốc gia, chiến tranh kinh tế đến chiến tranh
sắc tộc hay tôn giáo, và con người trở thành tế vật hy sinh của những
tham vọng thống trị. V́ thế con người thời nay chờ đợi nơi Giáo Hội một
chứng từ về sự ḥa giải và về khả năng hiệp nhất trong đa dạng; điều đó
chỉ có được khi Giáo Hội sống hiệp thông theo kiểu mẫu của mô h́nh hiệp
thông nơi Chúa Ba Ngôi. Công đồng nhắc lại một lời của Đức Gioan XXIII:
“Những ǵ liên kết các tín hữu c̣n mạnh hơn những ǵ chia rẽ: hiệp nhất
trong những ǵ chính yếu, tự do trong những ǵ nghi ngờ, bác ái trong
hết mọi sự” (MV 92).
Bên cạnh chiến tranh bom đạn là cuộc chiến của đồng tiền và kỹ thuật.
Chúng ta đang dần dần tiến lên một xă hội giàu mạnh và hiện đại hóa.
Nhưng cái thách đố lớn lao của xă hội hôm nay là người ta chạy theo công
việc và lo làm giàu nên không c̣n giờ để sống cho nhau nữa. Nhất là
trong bối cảnh toàn cầu hóa, càng ngày càng có nhiều người nghèo hơn,
nhiều người cô đơn và bị bỏ rơi hơn. Xă hội hiện đại hóa cũng là một xă
hội công nghiệp hóa: tất cả đều chuyển sang máy móc tự động, ngay cả con
người cũng trở thành một cỗ máy trong xưởng máy lớn lao của thế giới.
Hiện đại hóa c̣n là đô thị hóa, đời sống trở nên nhộn nhịp đông đúc,
nhưng trong đó mỗi người chỉ là một con số vô danh giữa một đám đông xô
bồ. Con người hôm nay cần đến một t́nh yêu có khả năng ôm ấp, cảm thông
và chia sẻ với những nỗi khổ đau và cô đơn của ḿnh, và như vậy một Giáo
Hội của sự hiệp thông sẽ trở thành niềm hy vọng cho những người đang đi
t́m một mái nhà ấm áp thân yêu.
Kế đến, phạm trù bí tích áp dụng vào Giáo Hội mang một ư nghĩa hiện sinh
và giải thích lư do sự hiện diện của Giáo Hội trong thế giới. Trung
thành với lệnh truyền của Đức Kitô, Giáo Hội đă lên đường với hoài băo
làm cho tất cả các dân tộc trở thành môn đệ của Chúa. Bao nhiêu lớp
người đă vất vả ra đi gieo hạt giống Tin mừng, bao nhiêu máu đào của các
vị tử đạo đă thấm vào mảnh đất của các dân tộc, rất nhiều chương tŕnh
truyền giáo, rất nhiều nỗ lực canh tân, nhưng hôm nay, sau hai mươi thế
kỷ, Giáo Hội vẫn c̣n là “đoàn chiên nhỏ bé” (Lc 12, 32) giữa cộng đoàn
nhân loại đông đảo. Dù công việc loan báo Tin Mừng đă đem lại nhiều kết
quả lớn lao cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, Giáo Hội càng ngày càng trở
thành thiểu số giữa ḷng thế giới, nhất là khi tinh thần tục hóa ngày
càng thấm nhập vào mọi cơ cấu và lănh vực của đời sống con người. Rất
nhiều khi một cách nào đó, các cộng đoàn kitô hữu giống như những kẻ bị
lưu đày giữa thế gian, như những ốc đảo giữa các đại dương mênh mông.
Giáo Hội sẽ chẳng bao giờ c̣n được phép mơ thấy một vương quốc kitô cạnh
tranh hoặc bao trùm các vương quốc trần gian. Nhưng không phải v́ thế mà
Giáo Hội thất vọng. Giáo Hội có con đường của riêng ḿnh. Công đồng đă
diễn tả thân phận và sứ mạng của Giáo Hội trong thế giới bằng những lời
mà có lẽ măi măi vẫn không bao giờ lỗi thời: “Dân tộc thiên sai, tuy
hiện nay chưa bao gồm toàn thể nhân loại và đôi khi tỏ ra như một đàn
chiên nhỏ, nhưng lại là một mầm mống vững chắc nhất của sự hiệp nhất,
của niềm hy vọng và của ơn cứu độ, cho toàn thể nhân loại. Dân tộc thiên
sai ấy được Đức Kitô thiết lập để thông dự vào sự sống, bác ái và chân
lư, được Người sử dụng như khí cụ cứu độ cho mọi người, và được sai đi
khắp thế giới như ánh sáng trần gian và muối đất” (GH 9).
Sau hết, Công đồng đă mở ra cho Giáo Hội một viễn ảnh mới để đi vào ḷng
thế giới hôm nay, đó là giáo hội học của phục vụ. Như chúng ta đă trích
lời của Đức Phaolô VI, một cách nào đó Giáo Hội từ nay mang một danh
hiệu mới, đó là đầy tớ của nhân loại (35). Tinh thần phục vụ thấm nhập
sâu xa vào trong các văn kiện của Vaticanô II và đă trở thành một trong
những điểm thiết yếu của Công đồng. Tinh thần phục vụ ấy ngày càng tỏ ra
cần thiết và hợp thời. Chỉ nói riêng tại châu Á, nỗ lực của Liên Hội
Đồng Giám mục châu Á (FABC) là đem tinh thần phục vụ của Công đồng vào
trong bối cảnh nghèo đói, đa văn hóa và đa tôn giáo của lục địa lớn lao
này, trong đó các kitô hữu chỉ là một thiểu số 2% (36). Càng ngày các
Giám mục của châu Á càng ư thức rằng chỉ có con đường phục vụ mới có khả
năng thâm nhập vào các cơ cấu và giá trị của xă hội để phúc âm hóa
chúng. Ba mươi ba năm sau Công đồng, Thượng Hội Đồng Giám mục về châu Á
đă làm sống lại tinh thần của Vaticanô II và đồng thanh tuyên bố: “Như
Đức Giêsu, ước ǵ Giáo Hội ngày càng trở thành một Giáo Hội đầy tớ và
tiếp tục sứ mạng yêu thương và phục vụ các dân tộc châu Á” (37). Theo
các Nghị phụ, cách thức hiện diện đặc thù của Giáo Hội tại châu Á, đó là
phục vụ. Trở thành đầy tớ là một trong các nhân tố góp phần biến đổi bộ
mặt tây phương của Giáo Hội thành bộ mặt mang tính châu Á (38). Đây là
một đ̣i hỏi ưu tiên, v́ trong bối cảnh châu Á, phục vụ như một tôi tớ là
con đường thích hợp nhất để thông truyền sứ điệp Tin mừng, là cách hiện
diện dễ đi vào ḷng người nhất, và là cách tốt nhất để sống chung ḥa
b́nh với các tôn giáo khác.
Như vậy cái mới của giáo hội học của Vaticanô II vẫn chưa phải là cũ đối
với chúng ta. Để kết thúc, xin được trích lại lời của Đức Cha Chủ tịch
Ủy ban Giám mục về Văn hóa trong hội thảo chuyên đề “Bốn mươi năm sau
Vaticanô II nh́n lại”: “Nh́n lại Vaticanô II là một điểm tái khởi hành.
[...] Nếu trong bốn thập niên qua, Công đồng đă khơi lên bao sức sống
được mệnh danh là luồng gió mới cho Giáo Hội hoàn vũ cũng như cho Giáo
Hội địa phương, th́ hôm nay thiết nghĩ, Vaticanô II cũng vẫn c̣n đó nền
tảng sức sống làm thành nguồn cảm hứng mới cho những cộng đoàn Giáo Hội
thiết tha với sứ mệnh lên đường.
Duc in altum.
Hăy chèo ra chỗ nước sâu” (39).
Lm. Giuse Nguyễn Năng
1 Nói một cách tổng quát, hai mươi Công đồng trước đây xoay quanh mầu
nhiệm Chúa Ba Ngôi, Nhập thể, Chúa Thánh Thần, ân sủng, các bí tích,
hoặc tái lập hiệp nhất và kỷ luật trong Giáo Hội. Người ta cũng đă bàn
về các thành phần trong Giáo Hội, chẳng hạn như chức linh mục hoặc quyền
tối thượng của Đức Giáo Chủ, nhưng chưa có một Công đồng nào dành được
một chương nguyên vẹn để nói về mầu nhiệm Giáo Hội.
– Kư hiệu viết tắt:
GH = Hiến chế tín lư về Giáo Hội
(Lumen Gentium);
MV = Hiến chế mục vụ về Giáo Hội trong thế giới hôm nay
(Gaudium et Spes);
GM = Sắc lệnh về nhiệm vụ của Giám mục
(Christus Dominus);
HN = Sắc lệnh về hiệp nhất
(Unitatis Redintegratio);
TG = Sắc lệnh về truyền giáo
(Ad Gentes); TD
= Tuyên ngôn về tự do tôn giáo
(Dignitatis humanae).
2 Chẳng hạn trong các văn kiện của Vaticanô II, có 93 lần trích dẫn các
Công đồng trước, trong đó 21 lần từ Trentô và 24 lần từ Vaticanô I; 201
lần trích dẫn hoặc qui chiếu về các văn kiện của Đức Piô XII. Xem E.
Innocenti, Le citazioni
pontificie nei documenti conciliari, trong
Concretezza
(16-7-1966) 6-10.
3 Xem Văn bản gửi cho Ủy Ban chuyên môn ngày 2-7-1960, trong S. Garofaro
(dir.), Dizionariodel
Concilio Ecumenico Vaticano Secondo, Roma 1969, cột 125.
Chính Đức Piô XI và XII cũng đă có ư tiếp tục Vaticanô I nhưng chưa thực
hiện được. Và khi chuẩn bị Công đồng, người ta đă nêu lên câu hỏi: đây
là một Công đồng mới hay là nối tiếp Vaticanô I.
4 Diễn văn ngày 8-12-1969, trong
Documentation catholique
1554 (1970) 10 tt.
5 Xem H. Pottmeyer,
Continuità e innovazione nell’ecclesiologia del Vaticano II.
L’influsso del Vaticano I sull’ecclesiologia del Vaticano II e la
ri-recezione del Vaticano I alla luce del Vaticano II,
trong G. Alberigo (ed.),
L’ecclesiologia del
Vaticano II: dinamismi e prospettive, Bologna 1981, 71-95.
6 Xem A. Acerbi, Due
ecclesiologie. Ecclesiologia giuridica ed ecclesiologia di comunione
nella “Lumen Gentium”, Bologna 1975.
7 Xem
A. Dulles, Models of
the Church, New York 1987. Tác giả tŕnh bày năm mẫu căn
bản: Giáo Hội như một đinh chế, như sự hiệp thông mầu nhiệm, như bí
tích, như người loan báo Tin mừng, như người tôi tớ phục vụ. Vị Hồng Y
này đề nghị một mẫu mới: Giáo Hội là cộng đoàn các môn đệ Đức Kitô.
8 R. Bellarminô, De
Ecclesia, III, 2, Colonia 1619, 108.
9
Xem J. Rigal, Le
mystère de l’Eglise. Fondements théologiques et perspectives pastorales,
Paris 1996, 69-70.
10
XemY.Congar,Le Concile
de Vatican II. Son Eglise. Peuple de Dieu et Corps du Christ,Paris
1984, 10.
11
Huấn dụ của Đức Piô IX với Cơ Mật Viện,
Multis gravibusque,
ngày 17-12-1860. Đức Piô IX nhấn mạnh nhiều lần với Cơ Mật Viện :
Singulari quadam
(9-12-1854), Maxima
quidem laetitia (9-6-1862); rồi trong thông điệp
Vix dum a Nobis
(7-3-1874). Mệnh đề sau đây đă bị ngài lên án: “Giáo Hội không phải là
một xă hội đích thực và hoàn hảo, hoàn toàn tự do, và không được hưởng
các quyền riêng và trường tồn đă được Đấng Sáng Lập thần linh ban cho;
chính quyền dân sự mới có quyền xác định các quyền của Giáo Hội và những
giới hạn để thực thi các quyền này” (Syllabus,
mệnh đề 19, 8-12-1864: DS 2919). Sau này, Đức Lêô XIII cũng nhiều lần đề
cập đến vấn đề này (Diuturnum
illud, 29-6-1881;
Immortale Dei,
1-11-1885: DS 3167;
Libertas praestantissimum, 20-6-1888), rồi Đức Piô X
(Compendio della dottrina
cristiana, 1905), Đức Bênêđitô XV (Providentissima
Mater Ecclesia, 1917), Đức Piô XI (Divini
illius magistri, 1929: DS 3685).
12
Mansi 51,
543.
13
Xem A. Anṭn, Lo
sviluppo della dottrina sulla Chiesa nella teologia dal Vaticano I al
Vaticano II,L’ecclesiologia dal Vaticano I al Vaticano II,
Brescia 1973, 64-69; O. Rousseau,
La Constitution “Lumen
Gentium” dans le cadre des mouvements rénovateurs de théologie et de
pastorale des dernières décades, Unam Sanctam 51 b, 35-56;
B. Kloppenburg,
Ecclesiology of Vatican II, Chicago 1974, 1-10; R. Aubert,
La théologie catholique
au milieu du XXe siècle, (Cahiers de l’actualité
religieuse), Tournai 1954.
14
Acta Synodalia,
I/IV, 12-121.
15 Acta Synodalia,
I/IV, 142 tt. Các nhận xét khác cũng tương tự: G. D’Avak,
sđd., 148-150;
A. Bea, sđd, 227-230, vv…
16 Đức Gioan XXIII:
Audience générale, 25-10-1961, trong
Acta et Documenta Concilio
Oecumenico Vaticano II Apparando, II/I, 117 ;
Diễn văn khai mạc Công đồng,
11-10-1962, trong Acta
Synodalia Sacrosancti Concilii Vaticani II, II/I, 172 ;
Nuntius radiophonicus,
11-9-1962, AAS 54 (1962) 680. Đức Phaolô VI:
Diễn văn khai mạc khóa IV,
14-9-1965, AAS 57 (1965) 79;
Diễn văn kết thúc khóa IV.
17
Thượng Hội Đồng Giám Mục 1985 (kỷ niệm 20 năm bế mạc Công đồng Vaticanô
II), Relatio finalis,
Enchiridion Vaticanum 9: 1980.
18 A.
Acerbi (sđd)
chứng tỏ rằng Công đồng vẫn giữ lại các yếu tố của một giáo hội học pháp
lư, và nhiều người lấy làm tiếc v́ Vaticanô II đă không đẩy vấn đề tới
cùng. Nhưng thực ra các kiểu mẫu hay phạm trù giáo hội học không thể
loại trừ nhau nhưng bổ túc cho nhau, v́ Giáo hội cũng mang cả chiều kích
xă hội nữa.
19
Theo Y. Congar, Le
Concile de Vatican II, sđd, 19.
20
Cyprianô, De Oratione
Domini 23, PL 4, 553.
21
G. Philips, L’Église et
son mystère au deuxième Concile du Vatican II, t. I, Paris
1967, 91.
22 Xem K. Rahner,
Rapporto tra natura e grazia, trong Id.,
Saggi di antropologia
soprannaturale, Roma 1969, 43-78; Id.,
Ateismo e cristianesimo
implicito, trong Id., Nuovi Saggi, III, Roma 1969, 217-248.
23
Xem MV 42 §5; 76; TD 13.
24
“Une chose est certaine: l’évolution s’est faite dans le sens d’une
prise de conscience croissante par la "cité temporelle" de son autonomie
vis-à-vis de la "cité spirituelle", et réciproquement du désengagement
de cette dernière par rapport à la cité temporelle. Mais alors que leur
diversité même a pu les faire apparaưtre parfois non seulement
distinctes, mais rivales et opposées, aujourd’hui, grâce à Dieu, et de
plus en plus – et Nous voudrions souhaiter qu’il en soit ainsi dans le
monde entier – elles ne se posent plus en adversaires. En ce qui
concerne l’Église, en tout cas, son désir de collaboration avec les
pouvoirs de ce monde est sans arrière-pensée: les actes du Concile l’ont
prouvé avec éclat”
(Discours au Corps diplomatique, 8 -1-1966, AAS 58 [1966]
144).
25
Diễn văn ngày 4-10-1965, AAS 57 (1965) 877.
26
Diễn văn ngày 14-9-1964, trong
Documentation catholique
(1964) 1222.
27
Bài giảng tại khóa IX của Công đồng, 7-12-1965, AAS 58 (1966) 58.
28 Y. Congar, sđd, 27.
29Cf. Acta Synodalia,
II/I, 215-274.
30 Thực
ra gần một nửa Nghị phụ muốn tách riêng lược đồ về Đức Maria. Ngày
29-10-1963, câu hỏi được đặt ra cho các Nghị phụ là: có muốn đổi lược đồ
về Đức Trinh Nữ Mẹ Giáo Hội thành chương cuối cùng của lược đồ về Giáo
Hội không? Trước hết, có chấp nhận xen lược đồ vào Hiến chế không: trong
số 2193 Nghị phụ có mặt, th́ 1114 vị bỏ phiếu thuận, 1074 phiếu chống.
Kế đến, nếu xen, th́ xen vào chỗ nào: Mẹ Thiên Chúa liên kết mật thiết
với mầu nhiệm Giáo Hội, nhưng giáo lư về Đức Maria lại vượt quá giáo lư
về Giáo Hội. Do đó chỉ có thể đặt vào phần cuối của Hiến chế.
31 Xem G. Alberigo (ed.),
L’ecclesiologia del
Vaticano II: dinamismi e prospettive, Bologna 1981; R.
Latourelle (ed.),
Vatican II. Bilan et perspectives. Vingt-cinq ans après(1962-1987),
3 tập, Montréal-Paris 1988; Congresso del ventennio dal Concilio
Vaticano II (Roma, 18-21/02/1985), 3 tập, Roma 1985.
32 Thượng Hội Đồng Giám mục 1985,
Relatio finalis,
Enchiridion Vaticanum 9: 1780;
Nuntius, ibid.,
1770-1773.
33 Diễn văn ngày 30-5-1986, số 5, trong AAS 78 (1986) 1273.
34 Tông thư Novo
Millennio ineunte, 6-1-2001, số 57. Xem tông thư
Tertio millennio
adveniente,
35 Bài giảng của Đức Phaolô VI tại khóa IX của Công đồng, 7-12-1965, tức
là áp ngày bế mạc Công đồng: AAS 58 (1966) 58.
36 Xem Sứ điệp của FABC trong cuộc gặp gỡ lần thứ I tại Manila,
29-11-1970, và các văn kiện khác tiếp the.
trong Facoltà Teologica Interregionale Milano, 7-12-1965, AAS 58 (1966)
57-58.
10-11-1994,
số 36.
|
|