Bài thánh ca đó, c̣n nhớ không em?”
“Noẽl năm nào, chúng ḿnh có nhau.
Long lanh sao trời, thêm đẹp môi mắt
Áo trắng em bay, như cánh thiên thần
Giọt môi hôn, dưới tháp chuông ngân.”
(Nguyễn Vũ – Bài
Thánh Ca Buồn”
(1Ph 2: 16-17)
Sau gần 3 năm với
chuỗi ngày dài những phiếm và phiếm, bần đạo phát giác ra được một
điều để hỏi: suy và niệm, có phải để niệm suy? Chuyện Phiếm Đạo-Đời,
có phải để suy niệm? Câu hỏi nay, một lần nữa, “trật đường rầy”? Và,
Phiếm Đạo hôm rày, tưởng vẫn là truyện kể, để rồi phiếm. Phiếm và
suy với niệm, có thơ văn, có nhạc nền rền một góc. Suy cho cùng, th́
viết và lách, suy và niệm cũng chỉ để “phiếm”. Phiếm rất Đạo. Lạo
xạo mấy chuyện đời có lời thơ để đời, như:
“Cùng nhau quỳ dưới, tượng Chúa cao sang,
Xin cho đôi ḿnh suốt đời, có nhau.
Vang trong đêm lạnh, bài ca Thiên Chúa,
Khẽ hát theo câu, “Đêm Thánh Vô Cùng”,
Ôi!
giọng hát em mênh mông, buồn.”
(Nguyễn Vũ – bđd)
Quả là, đời em dù đă
sầu buồn cũng chẳng sầu đến độ lộ ra ngoài. Ở giọng hát. Đêm có
thanh. Rất lạnh. Cũng đâu là “bài ca Thiên Chúa”, xưa em vẫn
hát! Sầu buồn một nỗi, há có phải v́ t́nh người lạnh tanh, trong
hành xử, cả vào đêm Chúa giáng hạ. Thế mới chết! Chết ở chỗ: Tạo Hoá
ban cho con người, những hai tai để nghe biết. Nhưng, chỉ một miệng,
đế nói năng. Thế mà người người đâu biết áp dụng, cùng tỷ lệ! Để ăn
và để nói!
Đời người, nay nhiều
vị vẫn cứ nói và cứ giảng. Giảng cho người. Giảng cho ḿnh, cả những
điều đâu nào ai yêu cầu? Có yêu và cầu chăng, cũng chỉ cầu mỗi chữ “Yêu”!
Cầu, là để có những “bài ca Thiên Chúa”, “trong đêm lạnh”.
Yêu và cầu, chỉ mỗi thế, là để:
“Lời
nguyện ḿnh, Chúa có nghe không?
Sao
bây giờ, ḿnh hoài xa vắng,
Bao
nhiêu đêm, Chúa xuống dương gian.
Bấy
nhiêu lần, anh nhớ người yêu.”
(Nguyễn Vũ – bđd)
Thế mới biết, bà
con/anh em lâu nay hát câu “mênh mông buồn”, là bởi: ḿnh
những yêu và vẫn cầu người người hăy cứ “suốt đời có nhau”.
Yêu và cầu, để rồi “bao nhiêu đêm, Chúa xuống dương gian”,
cũng chỉ để “bấy nhiêu lần” anh “nhớ người yêu”.
Nhớ
người yêu, em lại cứ
thêm tĩnh từ “buồn”? Thành thử, “mỗi đêm Chúa xuống dương gian”,
người vẫn buồn! Buồn rồi, mới hỏi. Buồn rồi, mới có lời đáp trả
từ đâu đó, có thể từ Nguyễn Vũ “buồn” như sau:
“Dạo ấy, tôi chỉ
là thiếu niên 14 tuổi hằng ngày đi lễ nhà thờ Con Gà (Đà Lạt). Sở dĩ
tôi “siêng” đi nhà thờ đến vậy là v́ tôi phát giác có một cô gái rất
đẹp và...rất ngoan đạo. Hằng ngày cô vẫn đi lễ ngang qua ngơ nhà tôi.
Trái tim non nớt
của đứa con trai mới lớn như tôi, thổn thức đến tội nghiệp! Đi theo
cô suốt ba tháng, với 3 kilômét đi-về mỗi ngày, “ṃn nhẫn” con đường
nối liền nhà tôi và nhà cô ấy, gập ghềnh lũng đồi, như ḷng tôi thấp
thỏm ôm mối t́nh câm. Trầy trật măi, tôi mới biết tên cô ấy là Th.,
hơn tôi 2 tuổi...
Cho đến một buổi
chiều gần lễ Giáng Sinh, vừa tan lễ th́ trời đổ mưa, cô nép vào một
mái hiên trú mưa, tôi trú ké bên cạnh. Văng vẳng từ đâu đó, vọng ra
bản thánh ca quen thuộc “Đêm Thánh Vô Cùng”, “Giây Phút Tưng Bừng”,
“Đất Với Trời”, “Se Chữ Đồng...”
Th. đứng trú mưa
và hát theo nho nhỏ. Thu hết can đảm, tôi đưa tay vuốt hờ lên những
hạt bụi bám trên chiếc áo ấm của Th. Cô ấy nhoẻn miệng cười, nói:
“Cảm ơn nghen!” và
ánh mắt của cô cứ ám ảnh tôi măi...
T́nh yêu đơn phương,
đến bây giờ người nhạc sĩ vẫn c̣n ôm ấp bằng hoài niệm. Bằng, kư ức
đẹp để thành bài ca
(x.www.nhacso.net/Music/Artist/2005/11/05F5F602).
“Thánh
Ca Buồn”, à th́ ra là
thế.
Thánh Ca Buồn,
có là “t́nh buồn” mà bạn và tôi, ta
cứ
tưởng
có mỗi thế? Thánh Ca
Buồn, t́nh đời của người thanh niên muốn làm thánh lúc ban đầu.
Nhưng lại ngần ngại, để rồi thành tác giả lạnh tanh, nhưng nổi
tiếng!!
“Thánh Ca Buồn”,
có là t́nh buồn để bầu
bạn bần đạo nhớ về một truyện kể ngày Chúa giáng trần, của hôm nay.
Truyện, là truyện để kể. Cũng dông dài. Lễ mễ như sau:
“Từ lâu, ở Đan
Mạch, cứ vào độ tháng Chạp, người xem đài bất kể là có Đạo hay
không, vẫn muốn biết về chuyện Đạo. Nên có thói quen theo dơi phim
truyện nhiều tập ở truyền h́nh. Phim truyện dạo ấy, lại kể về
Chúa-Giáng-Hạ-Làm-Người, kéo dài tận Giáng Sinh, linh đ́nh lễ hội
những 24 xuất chiếu.
Linh đ́nh, là
t́nh đă tỏ ở truyền h́nh Đan Mạch vào mọi năm. Những năm, có phim
dài nhiều tập, cứ hoà trộn với văn hoá có t́nh tiết rất mới, nhưng
cốt truyện lại y nguyên. T́nh Giáng Sinh năm nay, như có chuyện ǵ
đó xảy đến rất bất chợt, khiến người xem chẳng tài nào đoán trước sự
việc sắp xảy đến. Phải chờ đến năm nay 2010, người dự khán mới thấy
xuất hiện kịch bản khá ư nghĩa về một nhân vật thủ vai Giêsu Trẻ,
thấy cũng lạ. Lạ hơn cả, là tựa đề “Giêsu và Diệu Sa, hai bé em”.
Giêsu và Diệu Sa,
là trẻ đồng trang lứa. Cùng một ngày sinh, linh đ́nh lễ tháng Chạp.
Rất đẹp. Diệu Sa, là tên của bé em vốn ghét cay ghét đắng lễ hội
Chúa-Giáng-trần. Đơn giản, chỉ v́ Giêsu-Trẻ đă lấy đi mất sinh nhật
vui nhộn của bé. Nên, dù c̣n nhỏ, bé cũng đă biết ưa và biết ghét.
Ghét cả Giêsu bạn ḿnh, chẳng muốn chơi chung. Đến khi gặp bạn lớn
hơn, tên gọi là Diên Tử, cũng thù ghét Giáng Sinh, đến thê thảm.
Diên Tử, tuy là bạn mới quen nhưng đă lang bạt kỳ hồ từ nhỏ, biết
sáng chế máy du hành không gian, khá đặc biệt.
Diệu Sa gặp máy
du–hành h́nh Máng Cỏ, được thiết dựng theo h́nh thái có ma lực ảo
thuật, rất ít thấy. Ma lực của thiết bị có khả năng đưa người sờ
chạm lăng du về chốn không gian vượt thời gian, không hạn chế. Hễ ai
sờ vào thiết bị, đều có khả năng đi - về, từ Đan Mạch đến Galilê,
đất miền đầu thế kỷ. Diệu-Sa rất thích thiết bị, v́ nó có khả năng
đưa bé đi đây đó măi xứ miền của Giêsu-Trẻ Bé, hằng ngày. Bé Diệu Sa
có thể ra vào đất miền văn minh tiến bộ, hoặc quê mùa thời tiên
khởi, chẳng khó khăn ǵ.
Một hôm, Giêsu
Trẻ bất chợt sờ vào thiết bị h́nh Máng Cỏ, bỗng được máy du hành ghé
thăm nhà thờ lớn/nhỏ ở Đan Mạch, mà Giêsu chưa một lần mục kích. Sau
đó, lại c̣n đặt chân đến Galilê, đích thân gặp mặt một Giêsu Khác to
lớn, chững chạc đang nằm chết trên thập tự. Giêsu-Trẻ muốn t́m hiểu
Giêsu kia là ai, nên Trẻ Bé bèn hỏi han những người hiện diện quanh
đó, đến độ thiên hạ cứ tưởng Giêsu Trẻ là bé bất thường. Bèn, đưa
vào bệnh viện tâm thần, để chữa trị. May thay, Diệu Sa kịp thời đến
cứu và Giêsu Trẻ vội dùng máy du hành về lại quê nhà.
Diệu Sa tự hỏi:
giả như Giêsu Bạn Ḿnh cứ sống đời b́nh thường như mọi người, đâu
cần Đạo giáo với thập giá làm ǵ cho thêm mệt! Để, mọi người phải
sống đời khkổ hạnh. Đạo đức, rất nhiêu khê?
Diệu Sa nghe Diên
Tử thuyết phục bằng lư lẽ trần tục, đă bắt đầu nghi ngờ nhà thờ,
cùng Chúa Mẹ. Nghi ngờ cả sự hiện hữu thánh thiêng, của mọi Đấng.
Bắt chước Diên Tử bạn hiền, bé bắt đầu chẳng tin ǵ chuyện tốt/xấu,
với thần thánh. Vẫn sống kiểu vật chất như mọi người ở Đan Mạch. Bé,
c̣n tưởng tượng thời vô tính, con người chẳng cần tên tuổi mà chỉ
dùng con số, để phân biệt thôi. Và, mọi người vẫn cứ làm việc và làm
việc như cỗ máy theo lệnh của chủ-nhân-ông luôn giấu mặt. Từ đó, lại
cho rằng Đan Mạch là đất miền trần gian/trang trại của các thần rất
điên và dễ chết như tên của bạn hiền, Diên tử. Và Diệu Sa, nay nghĩ:
mẹ ḿnh thật có lư khi bà cứ coi Đan Mạch là chốn ngục thất trần
gian, rất bất hạnh. Chính v́ thế, năm nay thiên hạ sẽ không tổ chức
hội Giáng Sinh, linh đ́nh. Hấp dẫn. Như năm trước.
Diệu Sa trở về kể
cho Giêsu-Trẻ nghe biết về con người đích thật. Về, cách thức người
xứ Đan Mạch cư xử với nhau không khác nào địa ngục, ở dưới thế.
Giêsu-Trẻ nghe kể mà chẳng hiểu Diệu Sa muốn nói ǵ. Về nhà, lại nhớ
về người đàn ông nằm chết trên thập giá, cũng cùng tên. Giêsu-Trẻ
ch́m vào giấc điệp lạ, qua đó bé thấy ḿnh cũng trùng tên trùng
tuổi. Cũng sinh ra ở Bét-Lem, như Đấng Bậc trùng tên kia. Trong giấc
điệp, Giêsu –Trẻ thấy ḿnh cũng lớn lên trong âm thầm. Cũng chết
trên thập tự, mà mọi người đều nghe biết. Trong phút chốc, Giêsu-Trẻ
quyết chối bỏ, không chấp nhận những điều lạ lùng như thế. Bé chỉ
muốn trở thành tay “giác đấu” to lớn, khoẻ mạnh ở hư trường
Côlôxêum, thời La Mă. Giêsu-Trẻ chối bỏ căn cước người Tử tội cùng
tên vốn đă chết trên thập tự, thời buổi trước.
Lại một giấc điệp
khác trờ đến với Giêsu-Trẻ. Với giấc điệp này, Giêsu-Trẻ lại gặp
chính ḿnh, qua h́nh hài Người Đàn Ông lực lưỡng, rất chững chạc.
Người Đàn Ông ấy nói với Giêsu-Trẻ: Ta chính là ngươi đó. Nhưng, Ta
sẽ không có mặt ở cơi trần, v́ ngươi chẳng muốn trở thành như Ta, mà
chỉ muốn làm tay giác đấu người La Mă, mà thôi. Nghe vậy, Giêsu-Trẻ
bèn thổ lộ: Tôi đây nào muốn chết đứng trên thập tự, từ bao giờ?
Người Đàn-Ông to lớn là Giêsu trong mộng nghe vậy bèn nói: Đúng!
Nhưng, nếu ngươi không là Ta, th́ ḱa những người không mặt, không
tên lại nghèo hèn, họ đang bị các chủ-nhân-ông, ở Đan Mạch, chèn ép
chẳng thể nào có được hy vọng cho tương lai, mai ngày hết. Hăy đứng
dậy mà sống và làm điều ǵ đó, cho họ. Rất có thế, đám ăn trên ngồi
chốc ở trên kia đang t́m cách bắt ngươi, đem đi giết. Họ cũng treo
ngươi trên khổ giá, là thập tự. Chính đó là việc ngươi cần làm. Hăy
hy sinh, để họ được hạnh phúc.
Giêsu-Trẻ suy
nghĩ rất nhiều về điều ấy. Đến một hôm, Giêsu-Trẻ bèn chạy đến với
máy du hành vượt thời gian trở lại Đan Mạch. Lần này Giêsu-Trẻ yêu
cầu Diệu Sa cho ḿnh gặp những người nghèo, vô vọng. Cả những người
lê la đầu đường xó chợ đang lê lết ở các nẻo đuờng của xứ Đan. Và
Giêsu-Trẻ đă gặp họ. Nên đă hiểu. Và đă thương yêu. Giêsu-Trẻ đặt
tay lên máy du hành vượt thời gian do Diên Tử sáng chế, khởi đầu
hành tŕnh đi Galilê. Ở nơi đó, Giêsu-Trẻ trưởng thành dần. Vội vụt
đứng, mà đi đến với người nghèo hèn, cặn bă của xă hội Đan Mạch. Và
cũng từ đó, Giêsu-Trẻ bị người đời bắt đem đi giết chết trên khổ giá
v́ dám chống lại cung cách họ đ̣i sống. Giêsu-Trẻ kể cho Diệu Sa
nghe hết hành tŕnh tuyệt vời ấy. Diệu Sa hỏi: thế bạn có chấp nhận
được như thế không? Giêsu Trẻ nói: Dĩ nhiên là có. Bởi, nay Tôi đă
hiểu nên đă thương yêu hết mọi người. Nên Tôi mới làm như thế, để họ
sống. Kể từ đó, Giêsu-Trẻ trở về với Người Cha yêu quí. Rất măn
nguyện” (tóm tắt
kịch bản của phim tập, ở Đan Mạch)
Truyện kể về một Giáng Hạ, kể
cũng lạ. Lạ hơn nữa, vẫn là vấn nạn của người nghe kể thường vẫn
hỏi: truyện ngày lễ như thế, xem ra không khá hơn ǵ mấy những tín
điều trong Đạo. Phải chăng những truyện trong Đạo cũng mang dáng dấp
nặng nề. Lê thê. Của bản kịch tập phim dài, chuyên che đậy trạng
thái “Thánh Ca Buồn”? Nói rơ hơn, th́: “chuyện ngàn năm mây bay” ở
chốn này, có là kịch phẩm người xưa viết, không c̣n hấp dẫn nữa
không? Hoặc, cuộc đời đi Đạo của người thời đại, nay có thấy ǵ vui
đâu?
Kể cũng
lạ. Giáng sinh là lễ vui mà sao cứ gọi “Thánh
Ca Buồn”, khiến người người cứ là hát:
“Rồi những đêm thánh đường đón Noel,
Lang thang qua miền giáo đường dấu yêu.
Tiếng thánh ca ngày xưa vang đêm tối,
nhớ quá đi thôi giọng hát ai buồn,
“Đêm Thánh Vô Cùng” lạnh giá hồn tôi…”
(Nguyễn Vũ – bđd)
À th́ ra,
“lạnh giá hồn tôi”, là như thế. Ừ đúng rồi, tín điều
buồn/chán rất có thể. Có thể, là có thể rằng: sở dĩ nhà Đạo ḿnh cứ
nghĩ rằng: tín điều/lời khuyên từ Hội thánh gồm nhiều chữ “Phải!” Có
thể, là có thể rằng: tín hữu Chúa, vẫn cứ quên những lời khuyên từ
bậc thánh hiền, hiểu rất rơ:
“Anh
em hăy hành động như những người tự do,
không phải như những người lấy sự tự do
làm
màn che sự gian ác,
nhưng như những tôi tớ của Thiên Chúa.
Hăy
tôn trọng mọi người,
hăy
yêu thương anh em,
hăy
kính sợ Thiên Chúa,
hăy
tôn trọng Vua.”
(1Ph 2: 16-17)
Hăy
“yêu thương anh em”, và đừng coi đó như chữ “Phải”. Bởi, đó mới
là thiên đường. Là, chốn phúc hạnh của lễ hội cũng rất vui. Là, niềm
khát khao của người trần. Bởi, thiên đường đích thị là trạng huống
cao cả nhất, của hạnh phúc. Hạnh phúc có đó, là cho con người. Hạnh
phúc, chỉ có nghĩa khi con người biết “yêu thương anh em”. Yêu trong
tự do. Thứ tự do không bị che khuất bởi những tối tăm của “gian ác”.
Dù, người đời gọi đó là niềm vui chất ngất, ngày đại lễ. Và, niềm
vui tự do chỉ xuất hiện khi con người biết “kính sợ” Thiên Chúa.
Biết “tôn trọng” Vua.
Niềm vui
thiên đường, luôn vượt quá khả năng của ngôn ngữ. Của những bài ca,
ngày hội lễ mà người viết nhạc gọi là “Thánh Ca Buồn”. Thế nên,
thiên đường ngày đại lễ đâu thể nào để ta coi đó như nỗi niềm chán
ngán, rất tín điều. Thiên đường ngày đại lễ, chẳng bao giờ là ngày
tháng dài, một nối tiếp cả. Thiên đường là bể t́nh yêu thương. Là,
hạnh phúc miên trường, như Đức Giáo Chủ Bênêđíchtô 16 từng định
nghĩa:
“Cuốc
sống vĩnh cửu -chốn thiên đường- là
trạng huống ta đắm ch́m trong biển t́nh
yêu thương vô bờ. Là, khoảnh khắc lúc đó –cả lúc trước lẫn về
sau- không c̣n thấy xảy ra nữa. ta chỉ có thể bắt chụp một ư tưởng
để thấy rằng khoảnh khắc như thế trong cuộc sống tràn đầy ư nghĩa
của những ngụp lặn cứ lặp lại măi đến thiên thu trong tính chất mênh
mông, của hiện hữu. Khoảnh khắc, trong đó ta chỉ bị thoáng ngợp v́
vui sướng.” (x. Hiến chế
Niềm Hy Vọng Cứu Rỗi, # 12)
Với một định nghĩa rất như thế,
quả là: không c̣n chỗ cho các sự kiện được định danh bằng tĩnh từ
“chán/ngán”. Chán sao được,
khi người người thấy ḿnh lúc nào cũng
vui cũng tươi, đầy hy vọng. Chán sao được, khi hy vọng
nay chan hoà khắp chốn. Khi vui tươi, càn quét rất kiên quyết. Nếu
c̣n chán, ta lại vội hát lời ca hôm trước của nhạc sĩ buồn họ
Nguyễn, rất như sau:
“Rồi mùa giá buốt cũng qua mau,
Lời hẹn đầu ai nhớ dài lâu.
Rồi một chiều áo trắng phai mầu,
Em qua cầu xác pháo bay sau…”
(Nguyễn Vũ – bđd)
“Xác
pháo bay sau”, ở đây, có thể là pháo nổ vào ngày cưới. Nhưng ai
bảo, không thể là xác pháo vui mừng ngày Chúa Giáng Trần chứ? Thôi
th́, ngày nào th́ cũng được, miễn cứ là ngày kéo dài nhiều vui tươi,
chan hoà hạnh phúc. Hạnh và phúc, của đất trời trong/ngoài nhà Đạo,
những là lạo xạo một truyện kể để thư giăn. Buông lỏng. Ngồi rung
đùi mà thưởng thức, cũng gọn nhẹ:
“Truyện rằng:
Giáng sinh năm
ấy, một ngày rất chán trong đời người bạn trẻ không biết làm ǵ cho
qua đêm, bèn lang thang chốn phố phường ḿền tịch liêu, bèn chứng
kiến một sự kiện.
Sự kiện là: hôm
ấy, bạn trẻ thấy cô gái nọ lẳng lặng đứng trên cầu, vào giờ “G” buổi
tối đêm 25, chừng như đang chuẩn bị để nhảy xuống sông Tiền, định
tuẫn tiết (?)
Người bạn trẻ đi
qua thấy thế, liền hỏi:
-Bộ, cô dự tính
trầm ḿnh dưới gịng sông, mà tự vẫn hay sao thế?
-Đúng vậy, em
đang có ư định đó! Có gái trả lời rồi quay lại nh́n người vừa gạn
hỏi.
Thấy cô gái khá
xinh đẹp mà lại có ư định trầm ḿnh tự vẫn thế, chàng trai liền yêu
cầu cô trao tặng một nụ hôn để đời, trước khi cô tự vẫn. Không ngần
ngại, cô gái liền đồng ư. Thế là, đôi bên liền có nụ hôn ngọt ngào,
hiếm quư. Lợi dụng t́nh thế, chàng trai cố kéo dài thời gian hy vọng
sẽ thuyết phục để cô gái đổi ư. Và, câu hỏi vỏn vẹn, chỉ một câu:
-Cô xinh đẹp và
đáng yêu như thế kia, sao lại muốn tự vẫn?
-Dạ bố em cứ mắng
rầy: tại sao em chỉ thích ăn mặc …như con gái?!? “
Cũng rất may, truyện kể có thể:
chỉ là chuyện hư cấu. Tức, kể để mà kể cho qua đi cơn buồn chán, dù
rơi vào ngày lễ hội. Ở đây, hôm nay, phải chăng ta lại đă “phát giác
kinh khủng” thêm một sự rất thật, rằng: sở dĩ có buồn chán, đâu v́
ta cứ suy và nghĩ những chuyện mang tính giáo điều, hoặc tín lư.
Chán và buồn, có lẽ chỉ v́ ta cứ quên đi những câu chuyện cười “huề
vốn”, chẳng chết ai, như đời thường vẫn cứ gặp.
Vậy th́,
hỡi bạn và hỡi tôi, ta cứ thế mà thề nguyền: nhất quyết không buồn
và không chán nữa. V́, đă nhận ra được chân lư ở lời khuyên, rất như
trên. Từ đấng thánh, rất Phêrô, rằng: “Hăy hành động như những
tôi tớ của Thiên Chúa…” Biết “tôn trọng mọi người”. Và
“Yêu thương anh em.” V́ t́nh thương chắc chắn sẽ giải thoát con
người, khỏi nỗi chán. Của cuộc đời. Con người.
Trần
Ngọc Mười Hai
Nay đă
nhận ra
lời
khuyên rất mặn mà,
của
đấng thánh, sẽ không chán.
Dù,
chán đó có là chán đời.
Chán
Chúa. Hay, chán Hội thánh.
Con
người.
(xem thêm các bài
khác, xin mời vào
www.giadinhanphong.com
)
Suy Niệm Lễ Giáng
Sinh Năm A 25/12/2010
“À ơi! Hai tiếng làm người,
“Héo xuân chói
hạ, nảy chồi thu đông.”
(dẫn từ thơ Lưu
Trọng Lư)
Lc 2: 1-14
Làm người,
đâu nào khó đến thế! Làm người, như Chúa đă làm, bằng sự kiện Giáng
Hạ, từ nơi cao sang vẫn là chuyện đáng nói. Và đáng làm, như một
truyện kể rất hôm nay. Thời đại này. Bằng ngôn ngữ đời thường. Của
người thường, như sau:
Thánh Luca viết
tŕnh thuật về ngày Chúa Giáng Hạ là viết cho người đọc sống cùng
thời. Có người hỏi: nếu thánh sử sống vào thời đại rất hôm nay, hẳn
thánh nhân sẽ dùng văn phong cung cách khác hẳn thời buổi trước?
Đúng vậy nên, người đọc và nghe tŕnh thuật hăy cứ tưởng tượng một
cảnh trí qua đó, thánh nhân tay cầm máy vi âm, miệng lưỡi hùng hồn
kể những điều rất như sau:
Thập niên đầu thuộc
thiên niên kỷ thứ ba, vị tổng thống đại cường quốc số 1 thế giới, đă
nhân danh tư cách lănh đạo toàn thế giới, quyết định lập tổng kiểm
tra dân số để, nhân đó, điều tra về vũ khí giết người hàng loạt, do
Taliban sắm tậu từ một nước Hồi giáo ở Trung Đông. Đây là lệnh tổng
kiểm tra lớn nhất từ trước đến nay, trong thời gian gần đây, khi
toàn thể thế giới vẫn lo ngại về một thế chiến sẽ bùng nổ rất sớm,
nếu không kịp ngăn chặn.
V́ là kiểm tra kê
đặc biệt, nên người dân mọi nước đều phải chuẩn bị về quê thôn làng
của ḿnh. Kẻ, th́ ṭng chinh nhập ngũ. Người, mua tậu vũ khí rất tối
tân hy vọng có thể cầm cự qua cơn bĩ cực mong ngày thái lai. Ai nấy
đều lo toan quay về chốn miền sinh sống cũ theo đoàn/nhóm ngôn ngữ,
sắc tộc, và tín ngưỡng. Bởi, chiến tranh có thể bộc phát bất cứ lúc
nào. Và, ng̣i nổ chiến tranh có thể xuất phát cả từ thôn làng hẻo
lánh, ở khắp nơi. Dù, thế giới thứ ba. Châu Âu hay là châu Á.
Tŕnh thuật tiếp tục
kể về nhân vật thuộc sắc tộc ngoại bang, đang lang thang rày đây mai
đó, ở đâu đấy. Ông có gốc nguồn là dân tộc Do Thái. Thuộc gia đ́nh
lao động loại cần cù. Mọi người đều gọi ông bằng tên tục rất thân
quen, bố già Giuse. Bố xuất thân tận đất miền làm việc chẳng từ nan,
cũng theo lệnh trở về nơi chôn rau cắt rốn, để làm thống kê.
Cùng đi với ông có
người vợ trẻ đang mang thai gần ngày sinh. Hai vị t́m măi không thấy
nơi nào thích hợp để ở cữ. Nói ǵ đến việc t́m nơi ở vừa tiện lại
vừa túi tiền được. Theo lệnh của lănh đạo ở cấp cao, nên bà con lũ
lượt trở về, thi hành lệnh. Do đó, nhà trọ và khách sạn đều hết chỗ.
Hiền mẫu trẻ, đành hạ sinh em bé rất hiền hoà, ở góc bụi. Nơi công
viên ít người héo lánh. Bà t́m vội ba tấm vải thô làm tă lót quấn
thân mềm của em bé. Cũng chỉ qua quít để Hài Nhi thấy bớt lạnh, ngày
Đông giá.
Ở cạnh đó, thấy có
đôi phần tử “tứ cố vô thân” thay nhau để mắt canh chừng kẻ làm hỗn.
Hầu tránh khỏi mọi trục trặc xảy đến lúc tối trời. Chính vào lúc ấy,
họ phát hiện ra bé em đang nằm gọn trên đôi tay bà mẹ trẻ. Mẹ vỗ về
em bé với lời ru ời ợi, cạnh “Bố già” có dáng vẻ khá thấm mệt, dính
bụi đường xa. Trước cảnh tượng ít thấy xảy ra, đám “bụi” lân la cùng
mấy chú khuyển trông ngó bé em bằng cặp mắt rất thân thiện.
Với đám người “sống
vô gia cư chết vô địa táng” chuyên “lang bạt kỳ hồ”, th́ lệnh
tổng kiểm tra có ghê gớm đến thế nào đi chăng nữa, cũng chẳng làm họ
bận tâm. Điều, khiến họ bận đến tâm can hơn cả là: ngó chừng cho bé
em qua được đêm dài nhiều trắc trở. Với họ, thân phận của bé em chắc
rồi cũng sẽ đổi dời cả một thế hệ. Bởi, chỉ sự hiện diện của bé em
thôi, đă đem lại cho họ cả một an b́nh họ t́m măi, vẫn không thấy.
Kể từ đây, kẻ không
nhà không cửa như họ, nay mới biết thế nào là niềm vui đích thực khi
gần cận với bé em. Niềm vui ấy, nay thấm nhập thẳng tận tâm can
khiến họ cứ đi đây đó mà kể lại cho bạn bè đồng trang lứa. Kể, để
mọi người biết chuyện mà t́m đến. T́m, để được b́nh an trong tâm
hồn. Đến, để phổ biến tin vui an b́nh, Ngài vẫn hứa. Đồng giọng với
họ, có đủ mọi giọng ca vang từ đâu đến hát khen những nốt nhạc, thật
sự vui.
Càng vui hơn, khi
mọi người nh́n được tận mắt ánh thân thương mẹ hiền nhè nhẹ trân
trọng mừng đón cảnh t́nh của bé em. Điều đó, đủ chứng tỏ cho họ thấy
Bé đích thực là Đấng mà mọi người đợi trông.
Càng vui nhiều, khi
người người nhận ra sứ vụ của thiếu niên Giêsu nay khôn lớn, đă trở
về thôn làng quê mẹ sống đời thầm lặng những lao động và lao động,
nối nghiệp người bố đời từng là công nhân, tạm kiếm sống. Đến ngày
“N” vinh hiển, Ông lại đă cùng đồ đệ và người thân đặt chân ghé
viếng khắp nơi, từng xóm làng nghèo nàn hẻo lánh. Mỗi nơi, khắp chốn
Ông cùng đoàn người thăm viếng từng nhà. Hỏi han từng người. Khuyến
khích họ thực thi ư định của Cha, là tái lập cuộc sống có vui mừng
thực sự. Biết yêu thương, giùm giúp hết mọi người.
Bạn bè người thân
trong cùng nhóm với Người, từ khi ấy, cũng đă đi khắp đó đây phổ
biến sứ điệp Chúa gửi gắm: Nước trời đă gần kề. Hăy trở về mà sám
hối. Hăy sống cùng nhau dựng xây Vương Quốc của Chúa, ở trần gian. Ở
nơi đó, người người sống theo cung cách lao động tuỳ khả năng, hưởng
thụ tuỳ theo nhu cầu, rất Nước Trời. Cũng từ đó, sứ điệp B́nh An của
Nước Chúa, đă nhanh chóng lan toả khắp nơi nơi. Khiến mọi người đến
với nhau, trong tinh thần hoà hoăn. Yêu thương. Đùm bọc.
Chính đó, là khúc
gai nhọn thách thức giới cầm quyền, khiến họ cho người theo dơi.
Cuối cùng, đám cầm quyền bèn sai ba quân đến, lấy cớ để điều tra,
nhưng đíc thực ra lệnh tống giam Người vào ngục tối. Sau một hời, đă
cho người đến thủ tiêu, phi tang mọi bằng cớ. Để mọi người không c̣n
biết Ngài là ai. Sao Ngài lại thế.
Nhà cầm quyền muốn
triệt hạ Ngài bằng mọi phương cách gian giảo nhất. Nhưng ba quân cầm
quyền chẳng làm sao ngăn chặn được làn sóng người từ khắp nơi nay
nghe biết, đă bắt đầu thực hiện những điều Ngài dạy răn, cứ thế mà
lan truyền học thuyết nhân từ Ngài chủ trương: lấy t́nh thương xoá
bỏ hận thù. Học thuyết ấy, nay trở thành sự thật rành rành gắn chặt
tâm can của con người.
Kể từ đó, mọi năm cứ
vào ngày này, hậu duệ của Ngài ở khắp nơi cứ thế họp nhau mà mừng
kính sự kiện “có một không hai” trên cơi đời. Gặp ai cũng thế, người
người kể cho nhau nghe chuyện Giáng Hạ của Bé em mang tên Giêsu. Để
rồi, mỗi lần làm thế, họ đều hiểu tường tận ư nghĩa của sự kiện Ngôi
Lời Nhập Thể, nhập cả ơn lành b́nh đến với những người được Chúa
đoái thương.
Đi đâu cũng vậy, con
cháu Ngài vẫn lập đi lập lại lời ca vang hôm trước, mà hát:
“Anh em đừng sợ.
Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho
toàn dân: Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đă sinh ra cho anh em trong thành
vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa. Anh em cứ dấu này mà nhận
ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tă, nằm trong máng
cỏ." Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen
Thiên Chúa rằng:
"Vinh danh Thiên
Chúa trên trời,
b́nh an dưới thế
cho loài người Chúa thương."
(Lc 2: 10-14)
“Đừng sợ!
Chính Ngài là Đức Chúa. Là, Đấng Cứu Chuộc muôn người!” Đó, là ư
nghĩa của lễ hội Giáng Sinh. Lễ hội, mừng Chúa xuống thế làm người
sống với ta. Thương yêu ta như anh em cùng nhà. Nhà Thiên Chúa. Nhà
mọi người.
Lm
Nguyễn Đức Vinh Sanh
Mai tá lược dịch.
Suy niệm Lễ Thánh
Gia năm A26/12/2010
“Những đời phiêu bạt, thân đơn chiếc”,
“lần lượt theo
nhau, suốt thángngày.”
(dẫn từ thơNguyễn
Bính)
Mt 2: 13-15,15-23
V́ vẫn phiêu bạt,
nên đơn chiếc. Vẫnlà thân phận nhà thơ, ở đời người. Bởi đă quây
quần, nên hoà hợp. Và, cũng mộttính chất rất “người”, của Thánh Gia.
Với thế giới đương
đại, người ngườivẫn nghe biết vị thế gia đ́nh hài hoà của Đức Chúa.
Vị thế, đối chọi với lốisống cá nhân/vị kỷ của người đời. Cá nhân/vị
kỷ, đến mức độ trở thành lập trườngsống của những người chỉ tập
trung hưởng thụ theo cung cách riêng lẻ. Trong khiđó, cuộc sống của
Chúa, lại khác. Khác ở chỗ: Ngài chủ trương hướng với thanhân. Chiều
hướng dễ thấy nơi gia đ́nh. Chí ít, là Thánh Gia của Chúa khiến tamở
rộng tầm mắt để theo gương.
Thời buổi hôm nay,
người người nghebiết nhiều về giá trị gia đ́nh. Với nhóm/hội nhà
thờ, ta được dạy dỗ để có tinhthần cộng đoàn như Chúa đặt làm điều
kiện tiên quyết cho cuộc sống. Thế nên,Thánh gia là cộng đoàn lư
tưởng. Là đường hướng rất sống động cho mọi người. Ởđời.
Gia đ́nh và cộng
đoàn, là nhóm hộiđoàn thể của những người biết sống hoà hoăn, v́
chung cùng một lịch sử. Cùng vănhoá. Hoặc, niềm tin. Thành viên gia
đ́nh sống yên vui hài hoà, v́ xuất xứ cùngmột nguồn gốc. Cùng máu
mủ. Và, thành viên cộng đoàn sống yêu thương giùm giúp,là quyết định
của mỗi người cùng nhau lập nhóm/hội để sống tương quan mật
thiết,làm con Chúa.
Thông thường,mỗi
nhóm/hội gia đ́nh gồm 5 vị: trong đó phải kể đến ông bố, bà mẹ, cô
con gáic̣n độc thân và anh con trai đă có vợ. Tất cả sống chung một
mái nhà, với sự dẫndắt của ông bố/bà mẹ rất có uy. Có gia đ́nh,
nhiều ông bố/bà mẹ lại có cả quyềnsinh, quyền sát khiến thành viên
trong nhà cứ một ḷng tiến tới. Về cấu trúc giađ́nh, mỗi người một
phần hành. Ông bố chuyên lao động và giáo dục, bà mẹ chăm lonội trợ,
và dưỡng nuôi. Nhất nhất mỗi người phụ trách phần vụ ḿnh nhận lănh.
Tuy nhiên, bởiquyền
sinh quyền sát của ông bố/bà mẹ đôi lúc đi quá trớn, nên có trường
hợp mộttrong hai vị đi đến lạm dụng quyền bính khiến quyền hạn của
thành viên bên dưới,bị lấn ép. Thời của Chúa, là thời theo chế độ
phụ hệ, nên chuyện ông bố lạm dụngquyền bính trong gia đ́nh, vẫn xảy
ra rất thường. Kết quả là, cơ chế bị đổ vỡ.Thành viên vẫn đau khổ.
Vẫn rẽ chia.
Diễn tả t́nhtrạng
này, có lần Chúa nói:“Anh em tưởngrằng Thầy đến để ban hoà b́nh
cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: khôngphải thế, mà là rẽ
chia. Bởi từ nay, năm người trong nhà sẽ chia rẽ nhau, bachống lại
hai, hai chống lại ba. Họ sẽ chia rẽ nhau: cha chống lại con trai.
Contrai chống lại cha. Mẹ chống lại con gái. Con gái chống lại mẹ.
Mẹ chồng chốnglại nàng dâu. Nàng dâu chống lại mẹ chồng."(Lc
12:51-53)
Rơ ràng nhiềulúc,
Chúa đả phá tinh thần của gia đ́nh hoặc cộng đoàn nào có cung cách
hành xửrất tồi tệ. Ngài chỉ trích, là để đề cao/thăng tiến “Nước
Trời”. Ngài không muốnchỉ đạo mọi việc theo kiểu ông thần/bà chúa
chuyên ra tay tổ chức các buổi “hộidiễn”, đ́nh đám để được khen.
Chúa chẳng muốn điều hành bất cứ một hội diễn/lễhội, nào hết. Dù,
buổi đó có là buổi rước kiệu linh đ́nh, nổi sóng nói lên mộthội
chứng mang tính cộng đoàn, tập thể.
Chúa cũngkhông là
ông bố/bà mẹ đầy quyền sinh quyền sát khiến con cái run sợ, như
vẫnthấy ở đời thường. Ngài luôn đối xử với mọi thành viên gia đ́nh
như Người ChaNhân Hiền muốn đàn con của Ngài luôn ới gọi ḿnh bằng
danh xưng “Lạy Cha”, mỗikhi cần.
Cộng đoàn NướcTrời
có Chúa kề cận, nên lúc nào cũng thân thiện/cởi mở theo cung cách
một giađ́nh, rất mật thiết. Cộng đoàn Chúa, luôn đón tiếp chào mừng
hết mọi người. Đóntiếp, để người người đến với Vương Quốc của Ngài.
Vương Quốc ấy, luôn mở rộngcửa để mọi người gia nhập. Và, khi đă gia
nhập Vương Quốc Ngài rồi, người ngườisẽ nên dân con cùng nhà. V́
cùng nhà, nên người người vẫn cho đi và thừa hưởngquà tặng ân sủng,
Chúa phú ban trong tinh thần cởi mở. Của gia đ́nh. Ḷng rộngmở của
Ngài, mọi người gọi đó là Sự Công Chính. Là T́nh Chúa rất đích thực.
Là,“Ư định của Cha”. Và là, biển-chỉ-đường dẫn đưa dân con về với
Ngài. Vào ṿngtay ôm chào đón mỗi khi ta chạy đến.
Về bậc cha mẹvà anh
em trong nhà, có lần chính Chúa đă minh định:“Ai là mẹ tôi? Ai là
anh em tôi? " Rồi, Ngàigiơ tay chỉ các môn đệ và nói: "Đây là mẹ tôi.
Là anh em tôi. Phàm ai thi hành ưmuốn của Cha tôi, Đấng ngự trên
trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi."(Mt 12: 46-47)
Thế nên, nhữngai
sống thực cảnh t́nh của Nước Trời ở trần gian, sẽ thấy cơ cấu gia
đ́nh/cộngđoàn không thể là chuyện tuyệt đối. Rất đương nhiên. Bởi lẽ,
tất cả mọi hữu thểđược hiện hữu đều nhờ con người biết chung sức bồi
đắp, nên mới đạt. Bởi thế,cuộc sống theo cung cách gia đ́nh/cộng
đoàn luôn thăng tiến cả nữ giới lẫn namnhân, vốn có sự tự do của dân
con nhà Đức Chúa. Sống tập thể như thế, sẽ khôngáp dụng định luật
tuyệt đối như cung cách của nô lệ đối với chủ nhân ông. Nhưcon trẻ
đối với lời dạy của bậc thày. Cũng không theo kiểu “vợ tuỳ thuộc
vàochồng ḿnh’ như các thánh khi xưa, thường khuyến khích. Đó là
động thái đặc biệtcủa dân thường miền Địa Trung Hải vốn được đưa vào
Kinh Sách, ngay từ thế kỷđầu.
Trong khi đó,Đức
Giêsu lại cương quyết phá bỏ mọi tương quan mang tính thày/tớ, chủ/nô.
Ngàinhất mực khuyên dân con mọi người hăy vui mà phục vụ. Phục vụ
lẫn nhau. Phục vụvà sống như trẻ nhỏ. Tức, sống trải nghiệm cảnh
huống Nước Trời ở trần gian.Thực tế cho thấy, đồ đệ phụ nữ của Chúa
vẫn trung thành nhiều hơn namnhân.
Và, kinhnghiệm sống
cho thấy: phần đông người theo Chúa, lại hay xuất phát từ gia
đ́nhneo đơn hoặc gặp cảnh “cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt”. Nên,
sống theo giá trịChúa gọi mời, là thử thách đối với giá trị của gia
đ́nh/cộng đoàn. Đồng thời, tacũng không thể gọi gia đ́nh của ai đó
là gia đ́nh thực nếu họ không có truyềnthống coi trọng lối sống cởi
mở mà Chúa dạy.
Thành thử, vàoTiệc
Thánh mừng Thánh Gia hôm nay, ta nhất định sẽ quây quần sống hài hoà
nhưgia đ́nh. Tức là, vẫn cứ hiên ngang mà sống, dù cho các hệ lụy âu
sầu, vẫn theosau.
Cuối cùng, cóthể nói:
nếu khi xưa Chúa không sống cảnh t́nh giáp mặt thực sự với đời
thường,hẳn là Ngài đă không sống hài hoà với người người. Hẳn, Ngài
lại đă không chấpnhận cái chết ô nhục để cứu độ dân con thành viên
gia đ́nh lành thánh. Hẳn, Ngàiđă không quanh quẩn ở đâu đó, sống rất
hiền. Lúc, th́ ở Galilê, chốn địa đầu.Khi, th́ về chốn quê miền,
trên đồi vắng. Những nơi, những chỗ rất nghèo, chẳngcó ǵ để tựa đầu.
Chẳng có ǵ là hấp dẫn. Rất vui chơi.
Quả là, Ngàiđă và
đang giáp mặt với mọi t́nh huống cuộc đời như gia đ́nh/cộng đoàn
lànhthánh, ở trần gian. Quả là, từ gia đ́nh lành và thánh ấy, Ngài
đă trỗi dậy. Trỗivà dậy, khỏi cái chết rất tức tưởi. Khổ nhục. Quả
là, Ngài đă chết cho chínhḾnh. Chết, v́ người đời vẫn cứ theo kiểu
cách sống cá nhân. Vị kỷ. Nhưng thậtsự, Ngài đă trỗi dậy. Cứ, trỗi
và dậy măi, để nhờ đó thành viên dân con của Ngàicũng sẽ vùng dậy mà
sống tinh thần của Gia đ́nh lành thánh. Rất ThánhGia.
Lm Nguyễn Đức
VinhSanh
Mai Tá lượcdịch