Thiên Chúa không hề chết, Ngài
cũng chẳng mỏi mệt
Nguồn:
www.catholicculture.org/culture/library/view.cfm?recnum=9325
Đây là bản lược dịch bài
diễn văn Tiến Sĩ Charles E. Rice đọc nhân lễ ra
trường của Đại Học Notre Dame trung tuần tháng
5, 2010 vừa qua. Bài diễn văn được coi là nói
thẳng và nói thật. Trong thời đại mà nền văn
minh tục hóa, trào lưu duy tương đối và chủ
nghĩa cá nhân tự do phóng túng đang ở trên chóp
đỉnh phát triển tràn lan, bài diễn văn đậm chất
Công giáo như thế này phải được coi là hiếm qúy,
v́ đă nói lên sự thật, cho dù một sự thật đớn
đau. Dẫu sao chăng nữa, điều cần nói th́ cứ phải
nói, và cứ phải lập lại, bởi v́ chỉ sự thật mới
giải thoát chúng ta, và ân sủng đi kèm với sự
thật mới đem lại ơn cứu độ.
Tiến Sĩ Rice là giáo sư
danh dự của Trường Luật Notre Dame, chuyên về
ngành luật hiến pháp. Ông hiện đang giảng dậy
môn “Luật và Luân lư.” Ông viết khá nhiều sách,
trong số đó phải kể đến: 50 Questions on the
Natural Law; Freedom of Association; The Supreme
Court and Public Prayer; The Vanishing Right to
Live; Authority and Rebellion; Beyond Abortion:
The Theory and Practice of the Secular State; No
Exception: A Pro-life Imperative; The Winning
Side: Questions on Living the Culture of Life.
Tác phẩm mới nhất của ông “Where Did I Come
From? Where Am I Going? How Do I Get There?”
được viết chung với Tiến Sĩ Theresa Farnan.
***
Anh chị em
sinh viên tân khoa thân mến:
Đây là thời gian khủng hoảng.
Kinh tế là một đống nhăo nhét, văn hóa cũng là
một đống nhầy nhụa, chính phủ th́ mất kiểm soát.
Chỉ trong ṿng ba năm vừa qua, Notre Dame đă để
thua 21 trận bóng cả thẩy. Nhưng hôm nay, việc
chúng ta hiện diện nơi đây lại là một điều hay,
nhất là đối với quư anh chị em tốt nghiệp tại
trường Đại Học Công Giáo thời danh này. Được như
vậy là bởi v́ phương thuốc chữa trị cho những đổ
vỡ hôm nay chỉ t́m được nơi Chúa Kitô và nơi
giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo. Vậy ta hăy
nh́n thẳng vào hiện trạng hôm nay để xem ḿnh có
thể làm được ǵ chăng.
Chúng ta đang trải qua một sự
thay da đổi thịt của chính quyền liên bang. Lănh
tụ của một chính thể độc đảng đă được bầu phiếu
với 54 phần trăm cử tri Công Giáo ủng hộ, điều
này khiến cho nền kinh tế tự do và chính quyền
hữu hạn được thay thế bằng một hệ thống lănh đạo
tập trung đầy quyền lực và quyền tài phán vô
hạn. Cho dù đi ngược lại ư dân, cuộc cải tổ y tế
không chỉ tài trợ cho việc phá thai, mà c̣n làm
phương hại đền giới cao niên và các quyền của
lương tâm. Cuộc cải tổ này được khởi động bất
chấp tiến tŕnh của luật pháp và mang đậm toan
tính hối lộ, cưỡng chế và lọc lừa một cách công
nhiên như chưa bao giờ như thế.
Để có một tỉ dụ về vấn đề tập
quyền nơi một chế độ được thiết lập hợp pháp, ta
phải trở về thời gian của năm 1933. Adolf Hitler
được đề cử làm Quốc Trưởng ngày 30 tháng Giêng.
Chỉ trong ṿng vài tuần lễ, ông đă củng cố quyền
lực của ḿnh. Biến cố quyết định là việc Đảng
Quốc Xă chấp thuận Đạo Luật Khai Thông cho phép
Hitler nắm toàn quyền bất khả thâu hồi. Đó là
thời điểm không c̣n trở ngược được nữa. Đạo Luật
Khai Thông nhận được hai phần ba số phiếu cần
thiết chỉ bởi v́ nó được đảng Công Giáo, tức là
Đảng Trung Tâm, ủng hộ. Đạo luật “Cải tổ Y tế”
nhờ được sự ủng hộ nhiệt liệt của các thành viên
Công Giáo trong lưỡng viện, cũng có thể được coi
như một thứ Đạo Luật Khai Thông hiện đại theo ư
nghĩa là nó nhượng cho chính quyền cái tối
thượng quyền trên đời sống của nhân dân. Nó bao
gồm cả việc chính phủ liên bang đảm nhiệm luôn
cả việc tài trợ sinh viên học sinh. Những món nợ
của sinh viên th́ liên quan ǵ đến cải tổ y tế?
Mẫu số chung chính là quyền kiểm soát. Không
sinh viên nào có thể mượn được nợ đi học do
chính phủ liên bang bảo đảm nếu không được sự
chấp thuận theo hệ thống bàn giấy của liên bang.
Điều này mở đường cho việc đem sự trung thành
chính trị ra làm bài toán trắc nghiệm cho việc
thăng tiến giáo dục, như đă xẩy ra tại Đức thời
Quốc Xă và tại Liên Bang Sô Viết. Điều này củng
cố sự khôn ngoan của Viện Đại Học Công Giáo
chúng ta khi quyết định đi trước mọi tài trợ
liên bang.
Không giống như Đức Quốc vào
năm 1933, chúng ta có các phương tiện hợp pháp
để điều chỉnh lại. Tôi hănh diện để nói rằng tôi
là một người trong giới Đảng Trà (Tea Party).
Vào tháng 11 tới đây, phản ứng có thể bẻ quặt
cánh tay lưỡng viện của giới cầm quyền. Tuy
nhiên, phản ứng này chỉ có tính cách tạm bợ trừ
khi chúng ta đi đến tận ngọn nguồn tội ác. Vấn
đế căn rễ không phải là chính trị hay kinh tế,
mà là tôn giáo. Và đó chính là vùng trời anh chị
em đang bước vào. Linh Mục (LM) Thomas Euteneuer
nói: “Khủng hoảng xă hội xẩy đến khi chúng ta
bầu chọn những kẻ vô luân để cầm quyền trên
chúng ta…Những kẻ không có một căn bản đạo đức
lại bầu chọn những chính khách vô luân để lên
cầm quyền…Đúng là lối sống vô luân đă sản sinh
ra các cấp lănh đạo vô luân.” Nói khác đi, thay
v́ chọn người đạo đức, chúng ta lại chọn kẻ vô
luân, chính bởi v́ chúng ta đă mất đi khả năng,
hoặc ước vọng, nói lên sự khác biệt. Theo cha
Euteneuer th́ câu trả lời chính là “quay về với
Chúa …Hoán cải tâm hồn chính là điều chúng ta
cần làm.”
Chúng ta đă đúng khi cổ vơ
ḷng trung thành với Hiến Pháp. Thế nhưng, không
một hiến chương nào có thể tồn tại nếu luân lư
tính vốn sản sinh ra nó bị tan biến mất. Năm
2001, 13 ngày sau biến cố 9/11, tại Kazakhstan,
Đức Giáo Hoàng (ĐGH) Gioan Phaolô II đă khuyến
cáo các nhà lănh đạo của cộng ḥa Hồi Giáo về
một “cuộc tuẩn giáo mù quáng” đối với nền văn
hóa Tây phương vốn đang bị kẹt cứng bên trong
một “thứ nghèo mạt ngày càng sâu đậm hơn về mặt
nhân bản, tinh thần và luân lư” gây ra bởi cái
“sai lầm nghiêm trọng là muốn bảo đảm sự thiện
hảo của nhân loại bằng cách loại bỏ Thiên Chúa
là nguồn Thiện Hảo Tối Cao.”
Là các sinh viên tốt nghiệp,
các bạn sẽ đi vào một nền văn hóa trong đó việc
sát hại trẻ thơ vô tội có chủ đích lại được toàn
thể mọi người xem như một thứ kỹ thuật tự chọn
để giải quyết vấn đề. Vụ bắn giết tại trường
Columbine đă đưa ra một tiền lệ. Nếu bạn thấy
khó chịu với bạn học, với chủ nhân hay với nhân
viên thuế vụ, th́ câu trả lời là cho tụi nó “đi
tầu suốt.” Việc phá thai được hợp pháp hóa chính
là thí dụ đầu tiên dùng việc sát nhân như là một
cách giải quyết vấn đề. C̣n việc xử tử một người
như Terri Schiavo xẩy ra hàng ngày như cơm bữa,
chẳng ai hay biết, khi gia đ́nh và chăm sóc viên
đồng ư cắt đứt phần ăn thức uống, bởi v́ đă đến
giờ để cho bệnh nhân được “an tử đầy nhân phẩm.”
Việc tách biệt luân lư ra khỏi việc sát nhân
tương ứng sít sao với việc tách biệt luân lư ra
khỏi kinh tế, cũng như phái tính và các quyết
định cá nhân nói chung.
Chẳng có ǵ là khó hiểu trong
vấn đề này. Chúng ta đang trải qua thời kỳ mà LM
Francis Canavan, ḍng Tên, gọi là “khúc đầu thừa
đuôi thẹo của thời đại Ánh Sáng,” khi mọi nỗ lực
của các triết gia và chính trị gia, trong hơn ba
thế kỷ vừa qua, đă hoàn toàn thất bại v́ muốn
xây dựng một xă hội như thể Thiên Chúa không hề
hiện hữu. Thứ văn hóa thời Ánh Sáng đó được xây
dựng trên ba kiểu láo khoét này là: chủ nghĩa
tục hóa, duy tương đối và duy cá nhân. Đó là
những thành tố tạo nên cái mà ĐGH Bênêđíctô XVI
gọi là “sự độc tài của chủ nghĩa tương đối…vốn
không nh́n nhận một điều ǵ là tuyệt đối, để chỉ
coi cái “tôi” và những chứng kỳ quái của nó là
thước đo tối hậu. Ba kiểu láo khoét này được sử
dụng triệt để như là vơ khí trong tay kẻ thù
chúng ta là Satan, tổ sư láo khoét. Công việc mà
anh chị em sinh viên đă được huấn luyện kỹ lưỡng
để thực hành chính là dùng sự thật đối đầu với
lời nói láo. Khi nói sự thật, anh chị em sẽ gây
được ảnh hưởng vượt quá tầm hiểu biết của anh
chị em. Đây là lời đàm đạo
với ĐGH Gioan Phaolô được ĐHY Edouard Gagnon ghi
lại như sau: “ĐGH nói với tôi rằng sở dĩ sai lạc
có đường thao túng là bởi v́ sự thật không được
giảng dậy. Chúng ta phải giảng dậy sự thật,,,
chứ không chỉ tấn công những kẻ giảng dậy điều
sai lạc bởi v́ như thế sẽ chẳng đi đến đâu
cả--bởi những kẻ ấy nhiều vô số kể. Chúng ta chỉ
c̣n có cách là giảng dậy sự thật. Sự thật kéo
theo ân sủng với nó. Khi ta nói sự thật th́ một
nguồn ân sủng của Chúa sẽ đi kèm với sự thật ấy.
Có thể sự thật sẽ không đi ngay vào trong tâm
trí của người đối diện, nhưng ân sủng của Chúa
th́ luôn có đó, và khi nào họ cần đến, th́ Thiên
Chúa sẽ mở ḷng trí họ để rồi họ sẽ chấp nhận sự
thật. Sai lạc th́ không bao giờ có ân sủng đi
kèm theo cả.”
Cần ghi nhớ rằng Sự Thật
(viết hoa) chính là một nhân vật, Chúa Giêsu
Kitô. Ngài không phải là một luật sư, Giám Đốc
Điều Hành (CEO) hay nhà tổ chức cộng đồng. Ngài
là Thiên Chúa. Đức Hồng Y (ĐHY) Avery Dulles đă
mô tả ba nguyên lư nền tảng như sau: “Có Thiên
Chúa, Ngài đă mạc khải chính ḿnh một cách trọn
vẹn và tối hậu trong Đức Giêsu Kitô, và Giáo Hội
Công Giáo được ủy nhiệm làm người canh giữ và
dậy dỗ nguồn chân lư mạc khải này.” Đức tin Công
giáo không hề là một mớ học thuyết, mà là sự gặp
gỡ sống động với Chúa Kitô, Đấng đang sống trong
Giáo Hội và giảng dậy qua Giáo Hội.
Huấn quyền của Giáo Hội chính
là một món quà vô giá, không chỉ riêng cho người
Công Giáo, mà c̣n cho tất cả những người thành
tâm thiện chí sống theo lương tâm “trên căn bản
lư trí và luật tự nhiên.” Quyền lực sự ác lúc
nào cũng nhắm thẳng vào vị Đại Diện Chúa Kitô là
đấng có thẩm quyền giải thích luật luân lư. Ta
phải đáp trả bằng việc trung thành bảo vệ Ngài
và bênh vực Giáo Hội. Nói theo Cha Euteneuer th́
chúng ta không phải là Giáo Hội Bất Lực, mà là
thành phần của Giáo Hội Chiến Đấu. Chúng ta có
nhiệm vụ chiến đấu cho sự thật. Đừng để những kẻ
láo khoét lừa gạt chúng ta.
1) Kiểu
láo khoét thứ nhất là chủ nghĩa tục hóa:
Không có Thiên Chúa, hoặc Thiên Chúa là Đấng
không thể biết đến được. Họ bảo đó là ư nghĩa
của Tu Chính Án Thứ Nhất. Nhưng đó cũng là một
lời láo khoét. Ngày 24-25 tháng 9 năm 1789, Quốc
Hội Đệ Nhất đă chấp thuận Tu Chính Án Thứ Nhất,
đồng thời yêu cầu Tổng Thống (TT) công bố một
ngày để “tạ ơn và cầu nguyện hầu nh́n nhận muôn
vàn hồng ân mà Chúa Toàn Năng ban xuống.” TT
Washington đă công bố ngày cầu nguyện đó. Tu
Chính Án Thứ Nhất đ̣i buộc chính quyền liên bang
phải có thái độ trung lập về các vấn đề tôn giáo
trong khi nh́n nhận việc chính quyền tiểu bang
lẫn liên bang có quyền xác nhận sự hiện hữu của
Thiên Chúa. Tối Cao Pháp Viện nay đă áp đặt trên
tất cả mọi chính quyền một nghĩa vụ là duy tŕ
tính trung lập bất khả hữu giữa chủ nghĩa duy
thần và phi thần. Những từ ngữ “under God” (dưới
ánh mắt của Chúa)—mà theo Thẩm Phán William
Brennan vẫn c̣n là một mô tả chính xác về lề lối
làm việc của ṭa án—có thể tồn tại trong bản
“Pledge of Allegiance” (Tuyên Thệ Trung Thành)
chỉ bởi v́ chúng “không c̣n mang một mục tiêu
hoặc ư nghĩa tôn giáo nào nữa.” Trái lại, cùng
lắm, những từ ngữ đó chỉ “thừa nhận cái sự kiện
lịch sử là Tổ Quốc chúng ta đă được xây dựng
‘dưới ánh mắt của Chúa.’”
Ở mọi cấp bậc trong chính
quyền, việc đ́nh chỉ phán đoán về việc Thiên
Chúa hiện hữu đă biến thành công tŕnh xây dựng
chủ nghĩa tục hóa. Ngày nay, việc xác nhận có
Thiên Chúa được coi là ngoại lư, và thường bị
loại trừ ra khỏi lănh vực công cộng vốn được uốn
nắn bằng quyền lực và tư lợi hơn là bằng điều
đúng hay sai.
Việc Thiên Chúa hiện hữu
chẳng phải là một điều hiển nhiên. Thế nhưng,
thật là phi lư, thậm chí ngu đần, nếu không tin
vào Thiên Chúa, một hữu thể vĩnh cửu, vô thủy vô
chung, và luôn luôn hiện hữu. Cứ tưởng tượng
xem, đă có một lúc tuyệt nhiên không hề có một
cái ǵ cả. Nhưng nói thế th́ thật vô nghĩa.
Thánh Tôma dậy: “Nếu có một lúc nào đó không hề
có một cái ǵ cả, th́ không thể nào một vật ǵ
có thể bắt đầu hiện hữu được; và như thế, cho
đến nay không thể có một cái ǵ hiện hữu cả
-điều này thật phi lư.” Trong phim “The Sound of
Music,” Julie Andrews đă hát thế này: “Nothing
comes from nothing. Nothing ever could.” (Không
ǵ đến được từ hư vô. Không ǵ bao giờ có thể có
được).
Nền tảng duy nhất của các
quyền lợi siêu việt đối lại với Nhà Nước chính
là cuộc tạo dựng nhân vị bất tử theo h́nh ảnh và
giống như Thiên Chúa. Bất kỳ một nhà nước nào đă
hiện diện và sẽ c̣n hiện diện, đều đă hoặc sẽ bị
dẹp tiệm. Mọi hữu thể con người đă được đầu thai
th́ sẽ sống đời đời. Đó là lư do các bạn sinh
viên có được các quyền lợi siêu việt đối lại với
Nhà Nước. Nhân vị không hiện hữu cho Nhà Nước.
Nhà Nước hiện hữu là v́ con người. Và v́ cả gia
đ́nh nữa.
2) Kiểu
láo khoét thứ hai của Satan chính là chủ nghĩa
tương đối. Thật là phi lư khi bảo rằng
tất cả mọi sự đều tương đối, bởi lẽ chính lời
tuyên bố này cũng chỉ tương đối. Chủ nghĩa tương
đối thực ra chỉ là một h́nh thức của chủ nghĩa
duy nghiệm pháp lư vốn chủ trương rằng không có
một quy luật cao hơn nào có thể giới hạn được
quy luật con người có thể làm được. Muốn hợp lệ,
một quy luật phải tuân thủ theo phương thức quy
định và phải hữu hiệu. Hans Kelsen, nhà duy
nghiệm lừng danh của thế kỷ 20, đă tuyên bố rằng
Auschwitz và những trại khổ sai Gulags của Liên
Sô chính là quy luật hợp lệ. Ông không thể phê
phán chúng là bất công, bởi v́, theo ông, công
bằng là “một lư tưởng ngoại lư.” Kelsen cho rằng
chủ nghĩa tương đối chính là triết lư của nền
dân chủ. ĐGH Gioan Phaolô II lại cho rằng chủ
nghĩa tương đối sẽ dẫn đến chuyên chế cực quyền.
“Ai không thừa nhận sự thật siêu việt th́ cực
quyền sẽ trấn áp, và rồi mỗi người sẽ áp đặt tư
lợi của ḿnh bất chấp quyền lợi của người khác.”
Trong đời sống cá nhân và
nghề nghiệp, các bạn hẳn sẽ bị áp lực trở thành
một người đi theo chủ nghĩa tương đối, để nói
láo, lừa dối, hoặc biển thủ. Như ĐGH Gioan
Phaolô II đă từng nói, “những cấm đoán tiêu cực
của Mười Điều Răn, vốn là một thể hiện của luật
tự nhiên, không hề cho phép một khoản luật trừ
nào.” Nhưng các bạn sẽ phải trả một cái giá cho
sự trung thành của ḿnh.
Đây là một câu chuyện có
thật: Hải Quân Đại Úy James Mulligan đă trải qua
ṛng ră bẩy năm rưỡi trời biệt giam trong nhà tù
Hanoi Hilton sau khi phi cơ phản lực của ông bị
bắn rơi vào năm 1966. Trong một thời gian, ông
là bạn cùng pḥng với Jeremiah Denton, sau này
trở thành Thượng Nghị Sĩ. Cũng như đồng đội của
ḿnh, ông từng bị tra tấn nhiều lần và thường
xuyên, mục đích là phản lại đồng đội và tổ quốc
ḿnh. Đại Úy Mulligan đă hoàn toàn trông cậy vào
lời cầu nguyện, nhất là chuỗi Mân Côi. Trong cơn
cực h́nh, ông đă tự đặt ra lời kinh mà thiết
tưởng mỗi người cần đọc cho chính ḿnh: “Lậy
Chúa, xin cho con sức mạnh và ḷng kiên quyết
nh́n thấu suốt sự việc này cho đến cùng, cách
này hay cách khác. Chẳng có ai hay biết ngoài
một ḿnh con với Chúa, nhưng chỉ cần như vậy mà
thôi. Chúa đă chịu khổ h́nh v́ niềm tin của
Chúa, c̣n con đây cũng đang chịu khổ nhục v́
niềm tin của con. Đúng vẫn là đúng cho dù không
ai đúng cả; c̣n sai vẫn là sai cho dù mọi người
đều sai hết.” Đó là câu trả lời cho chủ nghĩa
duy tương đối.
3) Kiểu
láo khoét thứ ba chính là chủ nghĩa cá nhân.
Các lư thuyết về khế ước xă hội đă phủ nhận bản
chất xă hội của con người. Theo đó, mỗi người
chỉ là một cá nhân tự lập, đơn lẻ, chẳng có
tương quan ǵ đến người khác, ngoại trừ khi nó
đồng thuận. Đó là nguồn gốc của lập trường
pḥ-chọn lựa như ta thấy ngày nay. Phong trào Kế
hoạch hoá gia đ́nh không hề xét lại lư thuyết
đó. Người mẹ chẳng có liên hệ ǵ với đứa con
chưa được sinh ra ngoại trừ khi bà chấp nhận
điều đó. Vợ chồng cũng chẳng có mối liên hệ ǵ
liên tục ngoại trừ khi cả hai tiếp tục đồng
thuận. Và vân vân. Cá nhân tự lập trở thành
thiên chúa của chính ḿnh. Lương tâm không phải
là một phán đoán về sự đúng hay sai một cách
khách quan của một hành vi. Nó là quyết định
không bị kiềm chế của cá nhân về điều ḿnh muốn
làm. Điều nó chọn cho ḿnh tất nhiên phải là
điều đúng. Như thế mới là tự do. Thế nhưng sự
“tự do chân chính” không thể tách biệt với sự
thật được.”
Bạn có hoàn toàn tự do để bỏ
cát vào thùng xăng của xe bạn. Nhưng sau đó bạn
sẽ không c̣n tự do để lái chiếc xe này nữa bởi
v́ bạn đă vi phạm sự thật về bản chất chiếc xe
ấy. Bạn có “tự do” để làm điều dối trá, bậy bạ,
vân vân, nhưng bạn sẽ tự hạ giảm con người ḿnh
bởi v́ bạn đă vi phạm sự thật về chính bản chất
ḿnh. Bạn đă chọn một sự việc mang tính luân lư
tương đương với việc bỏ cát vào thùng xăng xe.
Và có một điều mà cá nhân tự lập của huyền thoại
phóng túng không bao giờ làm được. Đó là không
thể đưa ḿnh ra khỏi hiện hữu. Nó sẽ sống măi,
và sẽ hưởng sự vĩnh cửu ở một nơi nào đó. Nơi đó
ở đâu, th́ c̣n tùy ở nó.
Đă đến lúc ta phải lột trần
mặc cảm tự ti của ta. Coi chừng bị lừa gạt khi
ta nghĩ rằng những kẻ thông minh là những người
có học nhưng quan niệm rằng từ hư vô vẫn có thể
rút ra được một cái ǵ đó; những kẻ đó đoan chắc
rằng ḿnh không thể quyết đoán về bất cứ điều
ǵ; họ c̣n nghĩ rằng tự do là phải không giới
hạn, phải có toàn quyền, toàn lực, để làm bất kỳ
điều ǵ ḿnh muốn. Một nền văn hóa như thế không
chỉ đánh mất đi niềm tin mà c̣n đánh mất cả tâm
trí nữa. Họ phải biết lắng nghe sự thật, nhất là
về quyền sống.
Nhưng ngay ở điểm này chúng
ta lại gặp vấn đề. Những nỗ lực pḥ-sinh của
chúng ta đă bị hóa giải bởi sự hèn nhát của
chính chúng ta trong việc ngừa thai. Hội Nghị
Anh Giáo Lambeth năm 1930 là lần đầu tiên một
giáo phái Kitô nói lên lập trường là ngừa thai
không bao giờ đúng một cách khách quan cả. Huấn
Quyền th́ giảng dậy sự thật này là: ngừa thai là
hoàn toàn sai. (1) Trước hết là v́ nó chủ tâm
tách ĺa hai khía cạnh bất khả ly của phái tính:
hợp nhất và sinh sản; (2) thứ đến, khi biến đổi
bản chất của hành vi vợ chồng như thế, người nam
và người nữ đă tiếm quyền của Thiên Chúa, tự đặt
ḿnh làm người quyết định việc cho hay không cho
một mầm sống được khởi sự, và nếu cho th́ khi
nào; (3) sau cùng, ngừa thai phá hủy hoàn toàn
sự tự hiến hỗ tương và toàn vẹn vốn là nét đặc
trưng của hành vi vợ chồng. Khi con người tự đặt
ḿnh làm kẻ quyết định việc cho hay không cho
một mầm sống được khởi sự hoặc khi nào th́ cho
khởi sự, th́ nó cũng sẽ tự đặt ḿnh làm kẻ quyết
định khi nào th́ sự sống phải chấm dứt, tỉ như
trong phá thai và trợ tử. ĐGH Gioan Phaolô II đă
mô tả ngừa thai và phá thai như “hoa quả của
cùng một cây.” Nếu con người là kẻ quyết định
xem phái tính có dính dáng ǵ đến sinh sản hay
không, th́ hà cớ ǵ Freddy và Harry lại không có
quyền có hôn thú? Năm 2004, Donald Sensing, Mục
sư của Giáo Phái Ba Ngôi Thống Nhất tại
Franklin, TN, viết rằng các quư vị nào chống hôn
nhân đồng tính, th́ rất tiếc, “đă đi chậm một
nước cờ. Bức tường hôn nhân truyền thống đă gẫy
sập vào khoảng 40 năm trước đây” khi ai nấy đều
công nhận viên thuốc ngừa thai.
Thiên Chúa muốn dùng con
người để cộng tác với Ngài trong việc tạo dựng
các công dân mới của nước trời. Vợ chồng nào
ngừa thai là đă làm biến đổi hành vi vợ chồng
nhằm ngăn ngừa công cuộc tạo dựng. Họ như đang
nói thế này với Chúa: “Lậy Chúa, chúng con biết
rằng có thể ư Chúa là muốn cho một nhân vị mới
được nẩy sinh từ hành vi ấy của chúng con, để
rồi sẽ tiếp tục sống muôn đời. Chúng con biết đó
là ư Chúa. Nhưng chúng con sẽ không để cho Chúa
làm như thế.” Thật là quá sức tưởng tượng! ĐGH
Gioan Phaolô II nói: “Ngừa thai là một điều phạm
luật sâu xa tới độ sẽ không bao giờ và không thể
v́ bất kỳ lư do nào có thể biện minh được. Nghĩ
khác đi, và nói khác đi th́ cũng y như bảo rằng:
trong đời sống con người, sẽ có những t́nh huống
nẩy sinh khiến cho ta nghĩ rằng việc không chấp
nhận Chúa là Chúa th́ vẫn hợp luật như thường.”
Người Công Giáo thực hiện
việc ngừa thai cũng đều đều y như bất kỳ ai. Có
một lư do: là họ đă không được thông báo và giải
thích đầy đủ. Nhiều nhà thờ và trường Công Giáo
đă đóng cửa hay bị sát nhập do thiếu giáo dân và
học sinh. Câu trả lời công bằng có thể là: “Kính
thưa Đức Cha (hoặc Cha), sẽ không xẩy ra như thế
đâu nếu Đức Cha/Cha cũng như các vị tiền nhiệm
biết làm đúng chức năng của ḿnh, suốt từ 40 năm
qua cho đến hôm nay, trong việc giáo dục bổn đạo
về sự ác của ngừa thai và về toàn thể giáo huấn
tích cực của Giáo Hội liên quan đến hôn nhân và
quà tặng của sự sống.” Anh chị em sinh viên Công
giáo tốt nghiệp hẳn biết rơ điều này. Anh chị em
đừng sợ việc sống đạo. Nhưng hăy giảng dậy việc
sống đạo, bằng lời nói cũng như bằng gương
sáng.
Quả thật là có mối tương quan
rơ ràng giữa các tiền đề của thời đại Ánh Sáng
với việc ngừa thai và những điều tác hại như
sách báo tranh ảnh khiêu dâm, việc chồng chung
vợ chạ, ly dị, thụ thai trong ống nghiệm, tạo
sinh vô tính, vân vân. Tháng qua, các khoa học
gia tại Viện Đại Học Newcastle, Anh Quốc, đă
loan báo rằng họ đă tạo ra được một “phôi thai
tạo mẫu” với DNA của một người nam và hai người
nữ, cho ra đời một đứa trẻ có hai bà mẹ. Các
khoa học gia Hoa Kỳ sẽ không đứng xa đằng sau.
ĐHY Joseph Ratzinger—nay là
ĐGH Bênêđictô XVI—đă nói đến điểm này vào năm
2002. Ngài b́nh luận về chương 3 sách Sáng Thế
Kư mô tả việc các thiên thần mang gươm lửa canh
giữ vùng phía Đông vườn Điạ Đàng hầu không cho
con người, sau cuộc sa ngă, được ăn trái từ Cây
Sự Sống. Sau khi sa ngă, con người bị cấm ăn
trái cây bất tử, “bởi v́ trong điều kiện sa ngă
thế này mà trở thành bất tử th́ chính là bị…trầm
luân đời đời.” Ratzinger nói: “Hiện nay người ta
đang hái trái từ cây sự sống và tự tạo cho ḿnh
trở thành chủ nhân của sự sống, người ta đang
tái lập sự sống…Điều con người lẽ ra phải thận
trọng đừng bao giờ làm th́ nay lại đang xẩy ra;
con người đang nhấp chân bước qua phần biên giới
cuối cùng…Con người đang biến người khác trở
thành sản phẩm của chính ḿnh. Con người không
c̣n được khai sáng trong mầu nhiệm của t́nh yêu
nữa, qua thụ thai và hạ sinh…mà qua con đường
thành phẩm của kỹ nghệ, giống y như các sản phẩm
khác…Chúng ta có thể đoan chắc điều này: Thiên
Chúa sẽ phải hành động để ngăn chận tội ác tối
hậu, một hành vi tự hủy tối hậu của con người.
Ngài sẽ phải hành động chống lại nỗ lực giảm hạ
con người qua việc chế tạo ra những hữu thể-nô
lệ. Hẳn nhiên là phải có lằn mức mà con người
không thể vượt qua…”
Vấn đề thật nghiêm trọng.
Thành phố Ninivê đă ăn năn, đă cầu nguyện và đă
được tha thứ. Trong khi đó Sođôma và Gômôra th́
không ăn năn, cũng chẳng cầu nguyện, và chuyện
ǵ phải xẩy đến đă đến. Nếu muốn, số phận ấy
cũng sẽ dành cho chúng ta.
Nh́n những sự kiện này với
cặp mắt nhân loại, ta sẽ chỉ thấy vô vọng. Nhưng
chúng ta không hề cậy dựa vào sức ḿnh. Chúng ta
cũng chẳng biết tất cả mọi sự. Đừng thất vọng
khi những điều không hay xẩy đến. Thánh
Maximilian Kolbe nói: “Thiên Chúa cho phép mọi
việc xẩy ra để nhắm đến một phúc lành lớn hơn.”
Hăy tin tưởng nơi Chúa. Cha Walter Ciszek, ḍng
Tên, người đă trải qua 25 năm trường trong các
trại tù Liên Sô, đă nói rằng điều Chúa muốn,
nhất là trong những lúc oan trái hoặc hiểm nguy,
chính là “một hành vi tín thác trọn vẹn,” vốn
đ̣i hỏi nơi ta một “niềm tin tuyệt đối: tin vào
sự hiện hữu của Chúa, tin vào sự quan pḥng của
Ngài, tin vào sự ân cần săn sóc của Ngài cho đến
tận những chi tiết nhỏ nhặt nhất trong đời ta,
tin vào quyền năng của Ngài luôn nâng đỡ ta, và
tin vào t́nh yêu của Ngài luôn che chở ta.”
Hăy tín thác vào Chúa! Hăy
cầu xin, nhất là với Đức Mẹ, là Mẹ Thiên Chúa và
Mẹ chúng ta. Năm 1571, tại Lepanto, số phận các
chiến đoàn Kitô giáo hẩm hiu đến độ, nếu như bây
giờ th́ Las Vegas sẽ đánh cá ngay lập tức. Thế
nhưng những lời cầu nguyện dâng lên Mẹ Maria Mân
Côi đă đem lại chiến thắng. Mẹ cũng có thể lo
cho các vấn đề hôm nay của ta. Hôm nay có mặt
nơi đây thật là một dịp trọng đại. Ta biết rằng
ḿnh đang ở bên phe chiến thắng. THIÊN CHÚA
KHÔNG HỀ CHẾT. NGÀI CŨNG CHẲNG MỎI MỆT.
Xin cảm ơn v́ đă cho tôi đặc
ân được ở đây với anh chị em. Xin Chúa chúc lành
cho anh chị em, cho gia đ́nh anh chị em và cho
Viện Đại Học Công Giáo thân thương của chúng ta.
Xin Chúa chúc lành cho đất nước Hoa Kỳ của chúng
ta.
06/11/10
Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu
Nguyễn Kim
Ngân