Phải
Theo
tâm lư tự nhiên, thời kỳ thiếu niên là giai đoạn
phát triển tâm trí của con người, do đó, con người
bắt đầu đi vào giai
đoạn
bên trong th́ lư luận, bên ngoài th́ lư sự, mà toàn
là những lư lẽ chủ quan theo t́nh cảm của ḿnh mà
thôi. Cái ǵ ḿnh nghĩ ra cũng là đúng, v́ chưa có
kinh nghiệm bản thân để trắc nghiệm tính cách đúng
sai, tốt xấu, lợi hại những ư nghĩ của ḿnh, và v́
chưa được học hiểu kỹ lưỡng những nguyên tắc và
đường lối nghị luận vững chắc theo khoa học ở học
đường.
Để rồi,
từ cái tật chủ quan này, con người thiếu niên tự
nhiên làm sao tránh được cái tật thứ hai phải có, đó
là tật mơ mộng theo những ǵ chúng nghĩ là đúng, là
hay, là lợi, về ḿnh và về cuộc đời. Ngoài tật mơ
mộng ra, tính cách chủ quan nơi con người thiếu niên
c̣n làm cho chúng mắc phải hai tật khác nữa, đó là
bồng bột và quanh quéo. Bồng bột bởi v́ chúng hành
động theo những lư luận nông cạn, mà lại cho rằng
hay và phải thực hiện ngay. Và, quanh quéo bởi v́
chúng sợ bị ngăn cản và chống đối từ chỉ giáo nhân
vốn là những người có những phản ứng bất lợi đối với
những ư nghĩ nông cạn và ước muốn
không
thực tế của chúng theo kinh nghiệm người lớn của họ.
Với những khuynh hướng tự nhiên chủ quan, mơ mộng,
bồng bột và quanh quéo như thế của con người ở trong
thiếu niên này, hơn ai hết và hơn bao giờ hết, chúng
cần phải được giáo dục để làm sao biết sống một cách
khôn ngoan, một tinh thần làm nên và thể hiện phẩm
cách con người của chúng cũng như của mọi người,
bằng những đức tính chín chắn và chân thành.
Trước
hết, về đức tính chín chắn, so với đức tính thận
trọng là đức tính đặc biệt cần thiết cho con người
khi c̣n ở trong thời kỳ thiếu nhi, cả hai có tính
cách tương dị, tương đồng và tương trợ nhau. Hai đức
tính này tương dị nhau ở đối tượng, trong khi thận
trọng chỉ có tác dụng trên những hành động ngoại tại
của con người, th́ chín chắn lại có tác dụng trên
những tác động nội tâm của con người. Chúng tương
đồng với nhau ở mục đích, bởi v́ cả hai đều nhắm đến
việc pḥng ngừa những thái qúa và bất chính của con
người, như tật háo thắng, ẩu tả và cẩu thả của con
người trong thời kỳ thiếu nhi, hay tật chủ quan, mơ
mộng và bồng bột của con người trong thời kỳ thiếu
niên. Và, chúng tương trợ cho nhau ở mối liên hệ
trước sau, nhờ thận trọng giữ con người ở trong một
thế quân b́nh mà chín chắn có đủ điều kiện thuận lợi
để làm cho con người càng làm chủ ḿnh hơn, để rồi,
nhờ càng làm chủ ḿnh bởi chín chắn, con người càng
thận trọng hơn trong hành động và trong cách đối xử
với nhau.Thế rồi, nhờ đức tính chín chắn này, con
người thiếu niên chẳng những biết khôn ngoan trong
những cách suy tư, lại c̣n biết khôn ngoan trong cả
những điều suy tư cũng như chọn lựa những điều suy
tư ấy cho hợp với lẽ phải, với đạo làm người. Và,
càng nghĩ được và chọn được một cách đúng đắn như
thế, khuynh hướng mơ mộng và quanh quéo tự nhiên của
con người trong thời kỳ thiếu niên sẽ dần dần được
chế ngự bởi đức tính chân thành. Với đức tính chân
thành này, con người thiếu niên sẽ sống rất chân
thực với ḿnh và thành thực với đời. Chân thực với
ḿnh để không c̣n mơ mộng hăo huyền, vớ vẩn theo như
những ǵ không đúng với thực tế do chúng nghĩ ra mà
chúng lại tưởng là chân lư không thể sai lầm, thiện
ích không thể nào bỏ qua, đến nỗi nếu không chiếm
được thật là uổng phí. Nhờ thành thực với ḿnh như
vậy, con người thiếu niên sẽ không c̣n sợ người ta,
nhất là sợ chỉ giáo nhân của chúng, những người có
thẩm quyền chống đối, cản ngăn và phá hủy những ước
mộng hoàn toàn chân thực và thiện hảo tuyệt vời do
chúng nghĩ ra nữa. Đó là sự chân thực của con người
thiếu nhi từ chính bản thân ḿnh đến sự thành thực
với cuộc đời của chúng là như thế. Hơn nữa, cũng nhờ
đức tính chân thành (chân thực và thành thực) với
ḿnh và với người này, khi bước vào thời kỳ thành
niên, con người sẽ dễ dàng thực hiện tinh thần lương
thiện, qua việc ăn ở và đối xử một cách công bằng
với đời.
Như
thế,
Hai đức
tính thiết yếu, tức chín chắn và chân thành, cho
thời kỳ thiếu niên là giai đoạn chủ quan, mơ mộng,
bồng bột và quanh quéo của con người, đă không phản
ảnh một tầm mức khôn ngoan hơn nơi con người thiếu
niên là ǵ? Thật vậy, chỉ nhờ có tinh thần khôn
ngoan đặc biệt hướng dẫn, con người mới có thể hiểu
biết ngoại vật và chính ḿnh một cách sâu xa, phán
đoán tính chất và giá trị của tất cả mọi sự bao gồm
cả chính bản thân một cách chính xác, và, nhờ đó,
chọn lựa những ǵ cần có cũng như phải làm theo
lương tâm và trách nhiệm để hoàn tất chức phận của
ḿnh một cách chính đáng. Tuy nhiên, khôn ngoan
không phải là một tài năng bẩm sinh nơi con người,
như trí khôn và ḷng muốn, là những ǵ tự chúng
sẽ hiện
thực theo đà phát triển thể lư của con người, khi
gặp hoàn cảnh thích hợp với chúng. Trái lại, tinh
thần khôn ngoan tự nhiên chỉ đến với con người bằng
đường lối học hành mà thôi, học hành nhờ được chỉ
dậy và học hành nhờ kinh nghiệm bản thân.Về đường
lối thứ nhất để con người thiếu niên có thể nên khôn
ngoan hơn, đó là chịu khó học hành theo những lời
chỉ dậy của những người đi trước, nhất là của chỉ
giáo nhân là những người có trách nhiệm yêu thương
và giáo dục chúng. Tất cả những ǵ chỉ giáo nhân chỉ
dậy cho thụ giáo nhân thiếu niên của họ, không khách
quan th́ chủ quan, đều tốt lành, không
nhiều
th́ ít, đều ích lợi và thích hợp với thụ giáo nhân.
Bởi v́, trước hết, lư do chỉ giáo nhân chỉ dậy cho
thụ giáo nhân là v́ yêu thương thụ giáo nhân, nên
không thể nào muốn dậy cho thụ giáo nhân những điều
xấu xa và bất lợi cho chúng bao giờ. Sau nữa, đối
với chính những điều chỉ giáo nhân muốn đem ra chỉ
dậy cho thụ giáo nhân, đều là những của cải tinh
thần quí báu mà chỉ giáo nhân đă sắm được bằng cả
kinh nghiệm mồ hôi máu của đời ḿnh, quí báu và giá
trị đến nỗi, chỉ giáo nhân chỉ truyền lại cho những
người yêu quí nhất của ḿnh là con cháu máu mủ ruột
thịt mà thôi. Nhờ những chỉ dậy khôn ngoan theo kinh
nghiệm của chỉ giáo nhân như thế, phần thụ giáo
nhân, nếu có được hay tập được đức tính dễ dậy ngay
từ thời kỳ ấu nhi, chúng sẽ đốt giai đoạn trong việc
trở thành những con người khôn ngoan như người lớn,
qua việc làm theo những điều chỉ dậy của người lớn,
thế thôi. Với những kinh nghiệm của người lớn mà
chúng đă coi như và nhận như của ḿnh đó, ít nhất,
chúng sẽ dễ dàng tránh khỏi những cạm bẫy nguy hại
trên đường đời, mà, chưa có dịp trải qua chúng sẽ
không thể nào biết được. Nhờ thế, phần nào hay tất
cả, khi thực sự chạm trán với những thực tại như
trường hợp từng trải của chỉ giáo nhân đă truyền lại
cho ḿnh, chúng có thể tự ḿnh vượt thoát được những
hoạn nạn bất hạnh hay vấp phạm phũ phàng đă được
chính chỉ giáo nhân đă bảo trước ấy.Thế nhưng,Bởi v́
tâm trạng khác nhau giữa hai thế hệ, nhất là v́ tâm
tính từ hai thời kỳ ấu nhi và thiếu nhi chưa được
thuần thục, dù ở một mức độ tối thiểu nhất, con
người thiếu niên không mấy khi am hợp với người lớn
nói chung, chỉ giáo nhân của chúng nói riêng, kể cả
những người mà chúng cảm nhận được t́nh thương của
họ đối với chúng. Thậm chí, nhiều khi chúng c̣n tin
vào chúng bạn, vào bản thân là những ǵ thích hợp
với chúng nhất, hơn vào cha mẹ, thầy giáo hay anh
chị của chúng, đến nỗi, chúng có thể cho những
ǵ chỉ giáo nhân dậy bảo chúng là không thực tế, khó
tin, thần thoại, hoang đường, lạc hậu, lỗi thời v.v.
Thế
nên,
H́nh
như, đă ở vào giai đoạn phát triển tâm trí, con
người thiếu niên, dù nam hay nữ, không nhiều th́ ít,
chỉ có thể trở nên khôn ngoan hơn bằng chính kinh
nghiệm bản thân của ḿnh, hơn là bằng giáo huấn đầy
kinh nghiệm của những người có trách nhiệm v́ yêu
thương chỉ bảo cho chúng. Mà thật, theo kinh nghiệm
chung chung cũng như của mỗi cá nhân đă hơn một lần
trải qua thời kỳ thiếu niên này, chỉ sau khi con
người đang trong tuổi dậy th́ thực sự trực tiếp đụng
chạm với đời, chúng
mới
hiểu thế nào là thực tế, một thực tế không phải là
và không như là những ǵ chúng mơ mộng, tưởng thật
và tưởng bở. Thế rồi, tất nhiên, sau đó và nhờ đó,
không cần phải dài ḍng văn tự, phải khuyên lơn năn
nỉ, chúng cũng tự động nhận ra
sự
thật, mặc dù, nhiều khi chúng đă phải trả bằng một
gía qúa mắc cho những kinh nghiệm vô giá để đời của
chúng. Những kinh nghiệm vô gía để đời của con người
trải qua thời kỳ thiếu niên phải trả giá cho cái
tính bồng bột nông nổi đầy chủquan, mơ mộng lại
quanh quéo đến ngông cuồng và ngang tàng của con
người thiếu niên, đó là, về mặt tiêu cực, chúng dần
dần thoát khỏi những ảo tưởng về bản thân, ảo ảnh về
sự vật, và ảo vọng về sự việc của ḿnh hay có liên
quan đến ḿnh; về mặt tích cực, chúng sẽ có một nhận
định chính đáng và xác thực hơn về con người cũng
như về cuộc đời, nhất là, có một tâm t́nh thông cảm
hơn đối với người khác trong việc chia sẻ kinh
nghiệm của ḿnh cho họ và lắng nghe kinh nghiệm của
họ
cho
ḿnh.
Đạt tới
mức độ khôn ngoan để có thể thông cảm được với đời
như thế, con người bắt đầu có khả năng và tư cách
sống tinh thần lương thiện của thời kỳ thành niên.
Nghĩa là, nếu biết lợi dụng hoàn cảnh thuận lợi của
ḿnh, con người thiếu niên sẽ đạt được tinh thần
khôn ngoan cần có, thường vào khúc kết của giai đoạn
phát triển tâm trí.Về phía chỉ giáo nhân, đối với
con em thiếu niên đang sống trong tâm trạng chủ quan,
bồng bột, mơ mộng và quanh quéo lại đầy cố chấp này,
họ không nên và không thể giáo dục chúng bằng một
tinh thần nghiêm thẳng như khi chúng c̣n ở trong
thời kỳ ấu nhi hay thiếu nhi nữa, mà bằng một tinh
thần cởi mở hơn khi chúng bắt đầu bước vào hai thời
kỳ phát triển tâm trí của một thiếu niên và phát
triển lương tri của một con người thành niên. Chỉ
giáo nhân có cởi mở hơn trong thời kỳ phát triển tâm
trí với con em thiếu niên của ḿnh, chúng mới dễ
dàng bộc lộ tâm sự của chúng cho ḿnh bằng lời nói,
hay chúng mới giữ được tính cách tự nhiên trước mặt
ḿnh bằng những hành vi, cử chỉ hoặc thái độ dạn dĩ
mà, nếu không, chúng thường có khuynh hướng muốn
giấu giếm đi v́ sợ bị chống đối và lén lút thực hiện
một cách quanh quéo v́ sợ bị ngăn cản.Chỉ giáo nhân
có thể thực thi tinh thần cởi mở này bằng cách, tự
động đến với con em của ḿnh trước chứ không bắt
chúng nó phải đến với ḿnh. Khi xích lại gần chúng
nó như thế, chỉ giáo nhân tỏ ra săn đón, hỏi thăm và
tỏ ra thông cảm cũng như nâng đỡ chúng bao nhiêu có
thể và trong những ǵ có thể. Để rồi, nhờ tính cách
cởi mở, không xa cách của ḿnh như thế, chỉ giáo
nhân biết rơ những biến
chuyển
của con em thiếu niên của ḿnh hơn, nhất là, biết
được những chủ quan và mơ mộng của chúng về cuộc đời,
để có thể giúp chúng biết nhận định một cách khách
quan và thực tế hơn. Một khi chúng đă biết nhận định
một cách khách quan và thực tế hơn, chúng cũng sẽ tự
động bớt đi dần dần cái tính nông nổi, bồng bột của
chúng bằng những hành động và phản
ứng
chín chắn như người lớn hơn.
Tuy
nhiên,
Để
chúng không cảm thấy chúng bị mắc lừa, bị vào bẫy,
bị ṭ ṃ theo dơi, đến nỗi, chúng cảm thấy lo âu,
hồi hộp, ngờ vực và cuối cùng bỏ chạy mất luôn, và
rồi sẽ không bao giờ trở về với ánh mắt và ṿng tay
yêu thương của chỉ giáo nhân nữa, chỉ giáo nhân phải
hết sức khéo léo, tế nhị và cẩn trọng khi được chúng
cởi mở con người của chúng ra cho, để họ có thể tự
nhiên và đàng hoàng tiến sâu vào vùng tâm tư cấm địa
của chúng, nơi mà chỉ có bạn bè tâm giao của chúng
mới được thường xuyên lui tới. Khi đă lọt được vào
trong lâu đài tâm tư của chúng, chỉ giáo nhân nên
ngắm ngía chung quanh bằng thái độ nhẫn nại lắng
nghe chúng, hơn là, động một tí, vừa thấy trái tai
gai mắt của ḿnh, nhiều khi chỉ theo chủ quan của
ḿnh mà thôi, đă phê b́nh, chỉ trích, quát mắng
chúng. Và, cũng chỉ sau khi nghe từng tâm tư của
chúng một cách trọn vẹn, chỉ giáo nhân mới có thể
hiểu chúng một cách chính xác, trước khi ra tay giúp
chúng, nếu thấy cần sửa sai hay bổ khuyết, bằng một
cách
nào cho hợp lư, hợp t́nh và hợp cảnh.Nên nhớ, khi
bắt đầu ra tay giúp chúng, chỉ giáo nhân nên đứng về
phía chúng mà nghĩ tưởng và lấy chúng là đích điểm
để mà nhắm tới, chứ đừng giải quyết hay thông cảm
một cách chủ quan theo ư ḿnh và cho chính ḿnh.
Muốn thế, hăy đặt ra những câu hỏi, như tại sao?, để
làm ǵ?, phải làm sao? v.v., tùy theo từng
tâm
trạng của chúng, bởi v́, khi tŕnh bày và tâm sự với
chỉ giáo nhân, thụ giáo nhân thường có khuynh hướng
đề cập đến
chính
diện của vấn đề hơn là đào sâu vào vấn đề, (bởi thế,
chúng mới nông nỗi). Nhờ những câu hỏi được chỉ giáo
nhân đặt ra đó, thụ giáo nhân sẽ có dịp nh́n kỹ và
phản tỉnh về con người tâm linh của chúng hơn. Và,
với những lư lẽ rất thực
tế, (xin
nhớ, không phải là lư lẽ của riêng chỉ giáo nhân),
rất xác đáng mà chúng không thể nào chối căi, được
chứng minh bằng những trường hợp điển h́nh có thật
trong lịch sử hoặc trong đời sống chúng có dịp học
qua hay biết được, để so sánh và áp dụng vào tâm tư
của chúng, tự chúng, chúng sẽ nhận định được đâu là
phải, đâu là trái, đâu là tốt, đâu là xấu, đâu là
lợi, đâu là hại, đối với những ǵ chúng đang nghĩ và
ôm ấp trong ḷng, trong trí của chúng.Khi phân tách
những tâm tư của con em thiếu niên của ḿnh, chỉ
giáo nhân nên nêu lên những ưu điểm của những tâm tư
đó đă, trước khi đề cập đến những khuyết điểm của
chúng và những vấn nạn cùng khó khăn trong việc thực
hiện hay thực hành.
Khi
thấy con em thiếu niên của ḿnh có những tâm tư,
những ước vọng thật sự tốt đẹp, hay ho, hăy hết sức
khuyến khích và nâng đỡ những tâm tư, những ước vọng
ấy cho đến cùng. Nếu những tâm tư, những ước vọng
của chúng ở mức độ trung dung, vô thưởng vô phạt,
không tốt hẳn mà cũng không xấu hẳn, không có lợi mà
cũng chẳng có hại, không đúng mà cũng chẳng sai lạc
ǵ, hăy chỉ đường mách nước cho thụ giáo nhân hướng
đến những ǵ tích cực hơn; nếu thấy chúng có vẻ
khăng khăng muốn tiến tới với những ǵ chúng đă nghĩ,
đă muốn, đừng trực tiếp ra mặt cản trở chúng, hăy ầm
thầm theo dơi để đề pḥng những bất trắc có thể xẩy
ra cho chúng, hay cũng có thể xin chúng, trong khi
thực hiện tâm tư của chúng, hăy giữ một số điều nào
đó để tự pḥng thân v.v.
C̣n đối
với những tâm tư thật sự và hoàn toàn có tính cách
tiêu cực hay huyền ảo, không bao giờ có thể xẩy ra
hay không thích hợp đối với chúng, thậm chí, chắc
chắn sẽ bất lợi cho chúng, nếu chúng nhất định không
nghe lời khuyên can hết sức chân thành và thích đáng
của ḿnh, chỉ giáo nhân cũng đừng đe dọa chúng, hơn
là cố gắng làm một cuộc trao đổi hay mặc cả với
chúng, căn cứ vào những ǵ thích nhất, hợp nhất, cần
nhất mà chỉ giáo nhân biết được nơi chúng. Nhiều khi,
v́ thấy được ḷng của chỉ giáo nhân qúa tốt đối với
ḿnh, chẳng những không ngăn cản như chúng vốn lo sợ,
trái lại, c̣n được các ngài chăm sóc và chú ư cho
như thế, nhất là, v́ thấy được lợi lộc trước mắt,
chúng sẽ thay đổi ư định của chúng, không hoàn toàn
th́ cũng một phần nào, ít nhất cũng giảm bớt cơn sốt
chủ quan của chúng. Để rồi, nếu có lầm đường lỡ bước,
cũng là
một cái lợi cho chúng, ở tại, chúng sẽ nhận ra lỗi
lầm đă được chỉ giáo nhân bảo trước mà tin cẩn vào
chỉ giáo nhân hơn, và, nhất là, chúng sẽ không e
ngại t́m về với người mà chúng biết chắc rằng không
bao giờ bỏ rơi hay từ khước chúng.
Sau khi
con người thiếu niên đă được chỉ giáo nhân khéo léo
dậy khôn và có dịp được học khôn nhờ tinh thần cởi
mở của chỉ giáo nhân như thế, không sớm th́ muộn,
không nhiều th́ ít, chúng sẽ trở thành một con người
khôn ngoan, để có thể tiến vào giai đoạn phát triển
cuối cùng của cuộc đời làm người là thời kỳ thành
niên, sống một cách lương thiện.