CON NGƯỜI LƯƠNG THIỆN
Thế là,
Con
người đă được giáo huấn và đă trải qua ba giai đoạn
phát triển đầu của đời sống con người, trước khi
bước vào giai đoạn phát triển cuối cùng, giai đoạn
phát triển kết thúc, tức giai đoạn thành niên để Vào
Đời.
Giai
đoạn phát triển thứ nhất, một giai đoạn phát triển
về ngoại quan, con người ấu nhi có những khuynh
hướng tự nhiên như đ̣i hỏi, tham lam, nũng nịu, và ỷ
nại, nên cần phải được giáo dục làm sao cho chúng
biết sống dễ dậy và điều độ, để họ có thể Làm Người
Tự Lập. Giai đoạn phát triển thứ hai, một giai đoạn
phát triển về nội quan, con người thiếu nhi có những
khuynh hướng tự nhiên như hiếu thắng, ẩu tả, cẩu thả,
và vị kỷ, nên cần phải được giáo dục làm sao cho họ
biết sống thận trọng và đại đảm, để họ có thể Làm
Người Khắc Phục.
Giai
đoạn phát triển thứ ba, một giai đoạn phát triển về
tâm trí, con người thiếu niên có những khuynh hướng
tự nhiên như chủ quan, bồng bột, mơ mộng, và quanh
quéo, nên cần phải được giáo dục làm sao cho họ biết
sống chín chắn và chân thành, để họ có thể Làm Người
Khôn Ngoan.
Và,
Giai
đoạn phát triển thứ bốn, tức giai đoạn phát triển
cuối cùng, một giai đoạn phát triển về lương tri,
con người thành niên có những khuynh hướng tự nhiên
như tự tin, tự tôn, tự ái và tự măn, nên cũng cần
phải được giáo dục làm sao cho họ biết sống thông
cảm và công bằng, để họ có thể Làm Người Lương Thiện.
Thật
vậy,
Sau khi
đă trải qua và đă đạt được, phần nào hay tất cả,
những thành qủa của việc giáo dục để Làm Người Tự
Lập, Khắc Phục và Khôn Ngoan, bấy giờ, không nhiều
th́ ít, không minh nhiên th́ mặc nhiên, con người tự
nhiên sẽ có những khuynh hướng như tự tin, tự tôn,
tự ái và tự măn. Những khuynh hướng này thường
thường lộ mặt vào những trường hợp khi con người
thành niên thấy, gặp, hay sống với những con người
cùng lứa tuổi với ḿnh, hay lớn hơn ḿnh, mà lại
không biết sống như ḿnh. Và, đối với những con
người nhỏ tuổi hơn ḿnh, những con người c̣n thuộc
về các thời kỳ phát triển trước đó, dù đă trải qua
những khổ luyện khi c̣n ở trong những thời kỳ này,
con người thành niên cũng chưa chắc đă có thể hoàn
toàn thông cảm được những tâm tính không giống ai,
những sơ xuất, những bất toàn của thành phần non nớt
hơn ḿnh đấy. Để rồi, từ đó, con người thành niên
khó ḷng mà tránh được những thành kiến, những yên
trí, những tâm trạng khinh người, những thái độ bất
kính hay bất xứng đối với tha nhân, nhất là, khi
chính con người thành niên lại bị những con người có
vẻ kém cỏi về nhân cách hơn ḿnh ấy đụng chạm hoặc
xúc phạm đến con người biết tự trọng của chúng.
Thật ra,
khuynh hướng tự tin, tự tôn, tự ái và tự măn này
không phải chỉ hiện diện nơi và ra mặt qua những con
người thành niên đă được giáo dục kỹ lưỡng và đă gặt
được thành tích bởi đó mà ra để có thể hănh diện với
đời. Chúng c̣n có mặt nơi cả những con người thành
niên khác, dù họ không đạt được những tinh thần làm
người căn bản và cần thiết ở những thời kỳ trước đó,
thậm chí, kể cả trường hợp họ không được giáo dục ǵ,
đă trở thành một con người kể như hư hỏng. Bởi v́,
hễ ở vào lứa tuổi này, lứa tuổi được luật pháp công
nhận đă thành nhân, có quyền tự quyết (thường ở vào
tuổi 18) và quyền công dân (thường ở vào tuổi 21),
thêm vào đó, nếu lại được dịp học xong bậc trung học
(thường ở vào tuổi 19), trong khi
chúng
ra trường nhiều người nhỏ khác c̣n phải ở lại học
đường, con người hầu như đều có những tâm trạng này,
tâm trạng cảm thấy ḿnh đă lớn, đă khôn, không c̣n
phải lệ thuộc như trước, đă có thế đứng trong xă hội,
được cộng đồng công nhận và tôn trọng, đă có thể ra
đời lập gia đ́nh và lập nghiệp như mọi người, v.v.
Để rồi, từ đấy cho đến hết cuộc đời của họ, (chứ
không phải là cho đến khi qua hết thời kỳ thành niên
ở tuổi 24 này mà thôi), những khuynh hướng tự nhiên
có bản chất làm người tự lập ấy, sau khi được cưu
mang từ và qua các thời kỳ trước, đă trở thành như
những h́nh hài, tạo nên phẩm cách làm người của
chúng để sửa soạn cho chúng Vào Đời.
Về
khuynh hướng tự tin, thật ra, tự nó, không phải là
một khuynh hướng xấu. Trái lại, nó là một khuynh
hướng rất cần thiết và tốt lành, nếu con người không
thái qúa. Nó cần thiết đối với con người ở chỗ, nhờ
nó, con người mới tỏ ra thực sự biết ḿnh, mới hoàn
toàn là ḿnh, dù chủ quan đi nữa, từ đó, mới dạn dĩ
trong thái độ, và mới mạnh mẽ trong hành động. Nó
tốt lành ở chỗ, nhờ nó, con người mới dám thực hiện
những ǵ phải làm, cần làm và thích làm mà không lo
thất bại, không sợ thử thách, không ngại gian khổ.
Nó chỉ không tốt khi con người thái quá mà thôi, ở
chỗ, họ cứ tưởng ḿnh và cho ḿnh có thể làm được
mọi sự, tránh được mọi sự và thắng được mọi sự một
cách tự nhiên theo khả năng khôn ngoan, khắc phục và
tự chủ của ḿnh, không cần một sự trợ giúp nào khác,
dù tự nhiên cũng như siêu nhiên.
Về
khuynh hướng tự cao, theo bản chất, nó là kết qủa
của khuynh hướng tự tin, dù là tự tin một cách chính
đáng trong phạm vi của ḿnh. V́ thấy ḿnh có thể làm
được, tránh được và chịu được điều này điều kia,
nhất là những điều mà người khác không làm, không
tránh, không chịu được như họ, họ khó ḷng mà thoát
được tâm trạng tự hào với ḿnh và tự cao với tha
nhân. Tự hào với ḿnh, c̣n chấp nhận được; tự cao
với tha nhân, không thể chấp nhận tí nào. Bởi v́, từ
tự cao, con người sẽ đâm ra coi thường người khác,
thậm chí, khinh bỉ người ta. Do đó, không thể chấp
nhận khuynh hướng tự cao này nơi con người thành
niên, v́, tự cao như thế là họ đă xúc phạm đến người
khác ngay ở trong thâm tâm, điều mà họ không bao giờ
muốn người khác làm cho ḿnh như vậy. Mà, để thực sự
làm người, một con người phổ thông, một con người
chân chính, họ phải là một con người biết thông cảm
với mọi người.
Về
khuynh hướng tự ái, thật ra, nó đă có nơi con người
từ bẩm sinh, song dưới các h́nh thức khác nhau tùy
theo mỗi thời kỳ phát triển, như tự ái theo bản năng
ở thời kỳ ấu nhi, tự ái theo cảm giác ở thời kỳ
thiếu nhi, và tự ái theo cảm t́nh ở thời kỳ thiếu
niên. Bởi v́, tự ái chẳng qua là khuynh hướng t́m
ḿnh trong mọi sự, để, tự vệ về mặt tiêu cực và phát
triển về mặt tích cực toàn thể con người của ḿnh.
Do đó, tự ái là một khuynh hướng không thể thiếu nơi
con người và cho con người, bằng không, con người sẽ
là một kẻ, hoặc cù lần chẳng biết ǵ như người chậm
trí khôn hạng nặng, hay điên điên khùng khùng như
người mất trí, nếu không, họ phải là một thánh nhân
dị chúng nhân, đă siêu thoát khỏi những tự ái thường
t́nh mà mọi người bị chi phối khi hành động và phản
ứng. Tuy tự ái cần thiết cho con người, nhưng, nếu
không biết làm chủ nó, nó sẽ trỏ thành một nữ ác
thần, có thẩm quyền sai khiến con người làm mọi sự
thỏa măn nó một cách mù quáng và đê hèn nhất, kể cả
những việc làm bất công, thất nhân ác đức nhất.
Về
khuynh hướng tự măn, nó cũng là một trong số những
đứa con cháu của tự ái như tự tin và tự cao. Tuy
nhiên, nó có tính cách kín đáo và hiền dịu hơn, v́
nó chỉ quanh quẩn trong thâm tâm của con người mà
thôi. Nó được khuynh hướng tự tin sinh đôi ra cùng
với khuynh hướng tự cao. Nói cách khác, nó là mặt
ch́m và tự cao là mặt nổi của khuynh hướng tự tin
thái quá. V́ tự tin thái quá, con người đâm ra tự
măn, với những cảm tưởng hănh diện, những cảm t́nh
vui thú, măn nguyện khi thấy ḿnh tài giỏi, khôn
lanh, tháo vát, thành công, được mộ mến v.v. Thật ra,
những t́nh cảm hănh diện, vui thú và măn nguyện của
con người khi thành công nhờ tự tin đó, chẳng khác
ǵ như cảm giác ăn mà thấy ngon vậy, tự nó, không có
ǵ là xấu. Tuy nhiên, một khi v́ tự măn mà con người
cảm thấy đủ rồi, không cần phải cố gắng nữa, hay tỏ
ra hăng say chiến thắng đến khinh thường địch thủ để
bị quật lại một cách đớn đau, hoặc quay ra tự cao và
coi rẻ kẻ khác, th́ kể như nó đă trở thành một đối
tượng cần phải quan tâm trong việc giáo dục rồi đó.
Như thế, đối với các khuynh hướng tự nhiên của con
người trong thời kỳ thành niên này, là tự tin, tự
cao, tự ái và tự măn, ngoại trừ khuynh hướng tự cao
kể như không chấp nhận được, c̣n các khuynh hướng
kia, tốt hay xấu, lợi hay hại, đều do con người biết
lợi dụng và sử dụng chúng hay không. Do đó, nếu con
người thành niên, ngay từ những giai đoạn phát triển
trước, được giáo dục kỹ lưỡng và đă tập được hoàn
toàn, hầu hết hay phần nào những tinh thần khôn
ngoan của thời kỳ thiếu niên, khắc phục của thời kỳ
thiếu nhi, và tự chủ của thời kỳ ấu nhi, th́ có lợi
biết bao cho thời kỳ thành niên này, trong việc hoàn
hảo hoá những khuynh hướng tự nhiên rất ư là thiết
yếu để làm người, đối với một thành phần sắp sửa
bước vào đời như họ.Để bước vào đời với một con
người được coi là hoàn toàn thành nhân, xứng đáng
Làm Người, được người đời mến phục, con người thành
niên cần phải hoàn tất hai đức tính cuối cùng của
giai đoạn phát triển lương tri của ḿnh, đó là đức
tính công bằng và thông cảm với mọi người theo tinh
thần lương thiện tốt lành của một con người. Về công
bằng, phải giáo dục cho con người thành niên biết
tôn trọng người khác cũng như chính bản thân ḿnh,
không làm ǵ cho ai khi không muốn họ làm cho ḿnh
điều ấy, trái lại, để ư làm cho người ta những ǵ
ḿnh cũng mong muốn được người ta làm cho ḿnh. Về
thông cảm, phải giáo dục cho con người thành niên
biết luôn luôn đứng về phía tha nhân mà xét đoán, mà
đối xử cho hợp t́nh và hợp cảnh, nhất là,
khi
quyền lợi hay phạm vi của chúng bị người khác xâm
phạm, biết tự bỏ qua cho người ta một cách rộng
lượng mà không cần họ đến xin lỗi hay đền bù cho
ḿnh, dù họ biết hay không biết lỗi của họ đối với
ḿnh, y như ḿnh cũng muốn được
người
ta đối xử với ḿnh khi ḿnh vô t́nh hay chủ ư làm
phiền đến họ, mà v́ không biết hay tự ái không muốn
đến xin lỗi họ. Và, một khi con người thành niên
biết công bằng và thông cảm với tha nhân, những
khuynh hướng tự tin, tự cao, tự ái và tự măn của
chúng sẽ hóa thành những nhân viên đắc lực nhất cho
tinh thần phục vụ công ích của chúng, khi chúng bước
vào
đời và
sống với đời. Nhờ biết công bằng và thông cảm với
tha nhân bằng một t́nh yêu thương nhau như bản thân
ḿnh như thế, cuộc sống hôn nhân của chúng, nếu có,
sẽ được hoàn toàn bảo đảm và sung măn hạnh phúc, để
rồi, từ t́nh yêu và hạnh phúc này của họ, những đứa
con lương thiện cho xă hội loài người sẽ theo nhau
vào đời.
Ở những
giai đoạn phát triển trước, để giáo dục và luyện tập
những tinh thần thiết yếu cho cuộc sống làm người,
chỉ giáo nhân cũng như thụ giáo nhân cần phải dùng
đến những phương tiện bên ngoài, chẳng hạn, giữ điều
độ trong việc thực hành tinh thần tự chủ ở thời kỳ
ấu nhi, giữ kỷ luật trong việc thực hành tinh thần
khắc phục ở thời kỳ thiếu nhi, và sống thực tế trong
việc thực hành tinh thần khôn ngoan ở thời kỳ thiếu
niên. C̣n ở giai đoạn phát triển lương tri này, giai
đoạn mà vai tṛ của chỉ giáo nhân đóng vai cố vấn
hơn là bảo hộ thụ giáo nhân như trước kia, giai đoạn
ma thụ giáo nhân được các nhà bảo hộ tự nhường lại
quyền độc lập cho, hay, theo luật pháp, chúng đă
giành lại quyền độc lập từ tay người bảo hộ của ḿnh
để có thể tự trị đất nước và dân tộc của ḿnh, là
cuộc đời và con người của một kẻ thành niên, nếu
muốn thực hành tinh thần lương thiện xứng với tuổi
đời của ḿnh, chúng phải biết yêu thương tha nhân
như bản thân ḿnh. Tức là, trong việc thực hành
tinh
thần lương tri này, con người thụ giáo nhân không
cần phải dùng đến những nguồn viện trợ ngoại quốc
hay những đồ nhập cảng là những phương tiện bề ngoài,
cho bằng dùng đến chính nguồn tài nguyên nội hóa của
ḿnh là t́nh yêu thương
thật
dồi dào trong nội tâm. Thật vậy, chỉ có con người đă
có khả năng tự lập và chủ quyền độc lập như con
người thành niên mới có quyền khai thác nguồn tài
nguyên nội tâm vô cùng qúi hóa và hầu như bất tận
này của ḿnh mà thôi. Chính nguồn tài nguyên phong
phú là t́nh yêu này, nếu được tận dụng và sử dụng
thích đáng, chẳng mấy chốc, con người của thụ giáo
nhân thành niên sẽ như một dân giầu và cuộc đời của
chúng sẽ như một nước mạnh. Đúng thế, t́nh yêu
thương trong tất
cả mọi
người và nơi mỗi người chính là một bản tính tốt
lành và hướng ngoại được phú bẩm cho con người khi
được sinh vào đời. Nó ở trong con người như một hạt
giống cần phải được mọc lên hết cỡ vĩ đại theo bản
chất bẩm sinh viên măn và bất tận của nó. Tuy nhiên,
nó có thể nẩy mầm, đâm rễ và thành cây để sinh hoa
kết qủa phong phú hay không, là do, thân xác của con
người có phải là một mảnh đất tốt cho nó hay không,
và linh hồn của con người có phải là một bầu trời
đẹp, với đầy đủ ánh sáng lư trí và nhiệt độ ư chí,
cho nó hay không. Bằng không, một là, nó sẽ lép,
không bao giờ mọc lên, v́ t́nh trạng tâm trí bất
b́nh thường của con người; hai là, có mọc lên, cũng
sẽ bị những con sâu vị kỷ cắn chết rất sớm; ba là,
có thành cây um tùm hoa lá, nhưng không thể kết qủa,
v́ trong nhựa của nó thiếu mất chất quảng đại. Do đó,
công việc duy nhất của con người c̣n ở vào thời kỳ
thành niên, cũng như trong suốt cả cuộc đời của họ,
là, làm sao cho hạt giống t́nh yêu nơi ḿnh phát
triển và sinh hoa kết qủa phong phú mà thôi. Và, để
làm cho nó phát triển, con người chỉ cần tự tạo cho
ḿnh
trở
thành môi trường thích hợp và thuận lợi cho nó, thế
thôi.Trên thực tế, theo kinh nghiệm, muốn làm cho
những mầm mống bẩm sinh trong ḿnh phát triển, như
lư trí hay t́nh yêu của ḿnh, con người cần phải đem
nó ra thực hành. Chẳng hạn, nếu
không
chịu học hành, trí khôn của con người sẽ không bao
giờ thông thái được, dù tự nhiên nó có thông minh
đến thế nào đi nữa. Hoặc, nếu không chịu luyện tập
khả năng ngoại ngữ bằng cách chịu khó đọc sách, viết
lách và nhất là đàm thoại cũng như sống với người
ngoại quốc, th́, dù họ có học thuộc hết cả một cuốn
tự điển của ngôn ngữ mà họ đang học và thích học đi
nữa, cũng chẳng bao giờ họ sẽ thông thạo và ḥa đồng
được với người ngoại quốc, v́ họ không hiểu người và
người không hiểu họ. Cũng vậy, đối với t́nh yêu, nếu
không t́m dịp thực hành nó, nó sẽ chẳng bao giờ thể
hiện được tính chất tuyệt vời của nó, bao la hơn
không gian, cao cả hơn sự sống, mạnh mẽ hơn sự chết,
bất tận hơn thời gian, nơi con tim và
cuộc
đời của con người thành niên. Để thực thi t́nh yêu
tiềm ẩn trong ḷng của ḿnh, con người thụ giáo nhân
thành niên chỉ cần, về phía ḿnh, chú ư đến tha nhân;
tránh mọi sự, dù nhỏ mọn mấy đi nữa, vô t́nh hay cố
ư làm phiền người khác, hoặc chỉ có lợi cho ḿnh mà
lại tác hại cho người; tự nguyện hy sinh giúp đỡ
người ta mỗi khi có thể; nếu người ta có điều ǵ
không hợp với ḿnh hoặc làm phiền đến ḿnh, hăy tự
thông cảm và quảng đại bỏ qua cho họ v.v.
Phải,
chính t́nh yêu bỏ ḿnh và bung ḿnh, lên trên bản
thân, ra ngoài bản ngă, như thế, của con người thành
niên, sẽ là đường lối duy nhất, chính thức, lành
mạnh nhất, tốt lành nhất, để đưa họ, đă thực sự
thành nhân, Vào Đời.