SỐNG THÁNH

PHƯƠNG THẾ THÁNH HÓA BẢN THÂN

    L. M. Minh Vận, CMC

              

     

TẬP HAI

THÁNH HÓA KHOA

 

Thực Hành

 

THÁNH HÓA KHOA THỰC HÀNH

 

 

PHẦN  HAI

BẬC TIẾN SINH

 

Chương 2

NHÂN ĐỨC LUÂN LƯ

 

 

I. KHÁI NIỆM NHÂN ĐỨC

 

A. ĐỊNH NGHĨA: Theo Thánh Toma, nhân đức là một tập quán tốt, chúng ta có thể tập luyện được, nó hoàn hảo hóa con người để thực thi các việc thiện. Theo người La Mă, nhân đức là một sức mạnh tinh thần, con người phải kiên chí mới tập luyện được.

 

Xét theo phương diện tự nhiên, nhân đức là thói quen do tập luyện, khiến chúng ta làm việc thiện cách dễ dàng, mau chóng và thích thú. Xét theo phương diện siêu nhiên, nhân đức là một tập quán tốt, do thiện chí đáp ứng tiếng Chúa thúc giục trong tâm hồn và ngoan ngoăn thực thi điều Chúa muốn.

 

Theo giáo huấn của Giáo Hội: "Nhân đức là tính t́nh trở thành tập quán vững vàng để làm điều thiện. Nó cho phép con người không những thực hiện những hành vi tốt, mà c̣n cống hiến cái ǵ là tốt nhất của bản thân ḿnh. Người nhân đức hướng tới sự thiện với tất cả sức cảm giác và tinh thần của ḿnh: Người đó theo đuổi và chọn sự thiện trong các hành vi cụ thể của ḿnh: Mục đích của một cuộc đời đạo đức là trở nên giống Thiên Chúa" (Catechismus  # 1803).

 

Giáo huấn của Thánh Phaolô mà Giáo Hội đă trích lại trong sách Giáo Lư: "Tất cả những ǵ là chân thật, tất cả những ǵ là xứng đáng, tất cả những ǵ là công chính, tất cả những ǵ là trong sạch, tất cả những ǵ là dễ thương, tất cả những ǵ là danh thơm tiếng tốt, và nếu có ǵ là nhân đức và nếu có ǵ là đáng khen: Đó là tất cả những ǵ anh chị em phải chú trọng" (Catechismus # 1803).

 

B. PHÂN LOẠI: Nhân đức có hai loại:

 

1. Nhân Đức Tự Nhiên: Là tập quán do công luyện tập, khiến chúng ta dễ làm việc thiện phù hợp lẽ phải. Ví dụ: Ḷng thương người nơi lương dân.

 

2. Nhân Đức Siêu Nhiên: Là tài năng Chúa phú vào linh hồn cùng với Ơn Thánh, khiến chúng ta có khả năng thực thi các việc siêu nhiên, đáng ân thưởng vinh phúc đời sau. Ví dụ: Ḷng yêu thương tha nhân v́ Chúa.

 

C. PHÂN BIỆT: Nhân đức tự nhiên và nhân đức siêu nhiên khác nhau:

 

* Nhân đức siêu nhiên là do Chúa phú vào linh hồn, nên cũng được gọi là nhân đức thiên phú; c̣n nhân đức tự nhiên là do công luyện tập được.

 

* Nhân đức siêu nhiên do Chúa ban nhưng không như một tài năng làm việc thiện, nhưng cũng do thiện chí cộng tác với ơn Chúa để luyện thành tập quán; do đó, chúng ta mới dễ dàng thực thi các việc thiện.

 

* Nhân đức siêu nhiên qui hướng về Chúa là Đấng ban Ơn Thánh, như Đức Tin Kính mạc khải; c̣n nhân đức tự nhiên qui hướng về Chúa là Đấng Tạo Hóa.

 

* Các nhân đức tự nhiên đều trở thành siêu nhiên nơi người Tín Hữu, v́ chúng được Chúa phú vào linh hồn, được thực thi bởi lư do siêu nhiên, dưới động lực của Ơn Hiện Trợ.

 

Ví dụ: Lương dân thương giúp người nghèo khó v́ t́nh đồng loại, ḷng nhân đạo, tức là thương yêu v́ lẽ tự nhiên của nhân bản thuyết: "Yêu nhau t́nh loài người". C̣n người Tín Hữu Chúa Kitô, lại yêu thương tha nhân không những v́ lư do tự nhiên, mà c̣n v́ lư do siêu nhiên, tức là v́ Đức Bác Ái Chúa Kitô dạy, v́ yêu mến Chúa và do Ơn Thánh thúc giục. Chính do động lực siêu nhiên đó, mà chúng ta mới có thể yêu thương cả những người lăng nhục, thù ghét, bắt bớ chúng ta và c̣n có thể hy sinh cả tính mạng v́ các linh hồn nữa.

 

 

II. NHÂN ĐỨC LUÂN LƯ SIÊU NHIÊN

 

A. CẦN PHÂN BIỆT:  Xét theo đối tượng, các nhân đức được chia làm hai loại: Nhân Đức Đối Thần và Nhân Đức Luân Lư.

 

1. Nhân Đức Đối Thần trực tiếp qui hướng về Thiên Chúa như cùng đích.

 

2. Nhân Đức Luân Lư trực tiếp giúp chúng ta cải thiện đời sống, dẹp bỏ các chướng ngại, cung cấp các phương thế giúp chúng ta qui hướng về Chúa; gián tiếp đưa chúng ta tới kết hợp với Người.

 

Để hướng dẫn đời sống tinh thần, Đức Tin Kính và trí khôn đặt ra cho chúng ta các qui luật sống và được mệnh danh là các nhân đức luân lư.

 

B. BỐN LUÂN ĐỨC CHÍNH: Nhân đức luân lư có nhiều, nhưng được bao gồm trong bốn nhân đức luân lư chính sau đây:

 

1. Đức Khôn Ngoan: Giúp trí khôn biết phân biệt sự thiện đích thực và những phương tiện chính đáng để thực hiện sự thiện đó, trong bất cứ hoàn cảnh nào; hơn nữa, nó c̣n giúp chúng ta các phương thế tối hảo, để đạt tới cứu cánh siêu nhiên là Thiên Chúa.

 

2. Đức Công Bằng: Ở tại ư chí vững vàng và kiên định phải dâng lại cho Thiên Chúa những điều thuộc về Ngài và phải hoàn lại cho tha nhân những ǵ chúng ta mắc nợ họ. Giúp chúng ta biết tôn trọng quyền lợi tha nhân, để duy tŕ t́nh Bác Ái Huynh Đệ giữa đồng loại. Nhất là để chu toàn nghĩa vụ đối với Chúa, các Bề Trên và bạn hữu. Do đó, Đức Công Bằng bao gồm cả Đức Tôn Thờ và Đức Tuân Phục.

 

3. Đức Đại Đảm: Bảo đảm cho chúng ta sự kiên định và vững vàng để theo đuổi sự thiện trong những lúc khó khăn. Giúp chúng ta biết cách bảo vệ sinh mạng và quyền lợi của ḿnh, chịu đựng các thử thách, thực thi các công việc khó khăn để đạt tới Hạnh Phúc Vĩnh Cửu. Do đó, Đức Đại Đảm bao gồm Đức Khoát Đạt, Đức Đại Độ, Đức Nhẫn Nhục và Đức Kiên Nhẫn.

 

4. Đức Tiết Độ: Chế giảm sự thu hút của các thú vui giác quan và mang lại thế quân b́nh trong việc sử dụng các phương tiện và lợi ích đời này. Giúp chúng ta khuất phục được các dục vọng, để dễ dàng sống theo các giới luật và tinh thần Chúa. Do đó, Đức Tiết Độ bao gồm Đức Trinh Khiết, Đức Khiêm Nhu, Đức Hiền Ḥa và Đức Thanh Bần.

 

Tóm lại, Đức Công Bằng thánh hóa nghĩa vụ chúng ta đối với Chúa và tha nhân; Đức Đại Đảm và Tiết Độ thánh hóa nghĩa vụ chúng ta đối với bản thân; c̣n Đức Khôn Ngoan hướng dẫn các nhân đức khác, giúp chúng ta đạt Ơn Cứu Rỗi và tới Đích Thánh Thiện.