BÀI GIẢNG NĂM 2008 CỦA ĐỨC THÁNH CHA BIỂN ĐỨC XVI
Bài Giảng Lễ Hiện Xuống Ở Quảng Trường Thánh Phêrô 11/5
Bài Giảng Lễ Giỗ 3 Năm ĐTC Gioan Phaolô II 2/4
Bài Giảng Chúa Nhật Lễ Lá 16/3
Cảm Nghiệm Hoán Cải của Thánh Phaolô với chủ đề “Không Ngừng Cầu Nguyện” 25/1
"Với Chúa Giêsu Kitô, phúc lành của Anbraham đă được vươn tới tất cả mọi dân nước" 6/1
"Hỡi Mẹ trinh nguyên, trước sự ngỡ ngàng của tất cả mọi tạo vật, Mẹ đă hạ sinh Đấng Hóa Công” 1/1
Đức Thượng Phụ và Các Vị Đại Biểu Huynh Đệ,
Chư Vị Hồng Y,
Chư Huynh Khả Kính trong Hàng Giám Mục và Linh Mục,
Anh Chị Em thân mến,
Chúng ta qui tụ lại trước mộ Thánh Phaolô, vị đă được sinh ra 2 ngàn năm trước ở Tarsus xứ Cilicia thuộc Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay. Phaolô này là ai? Trong đền thờ Gia Liêm, trước một đám đông hùng hổ muốn giết ḿnh, ngài đă tự giới thiệu ḿnh như thế này: ‘Tôi là một người Do Thái, sinh ở Tarsus xứ Cilicia, thế nhưng được giáo dục ở thành phố này, được hấp thụ giáo huấn của Gamaliel trong việc tuân giữ chính xác Lề Luật của cha ông chúng ta; tôi hết sức nhiệt t́nh với Thiên Chúa’. Ở vào cuối cuộc hành tŕnh của ḿnh, ngài đă nói về ḿnh như sau: ‘Tôi đă được trở thành một người rao giảng tin mừng và tông đồ, là thày dạy Dân Ngoại về đức tin và về chân lư’.
V́ là Bậc Thày của Dân Ngoại, là vị tông đồ và là người rao giảng Chúa Giêsu Kitô, ngài đă tự phản tỉnh về cuộc đời của ḿnh như thế. Tuy nhiên, ngài đă không chỉ nh́n lại quá khứ. Cụm từ ‘Vị Thày của Dân Ngoại’ là những lời lẽ hướng về tương lai mà chúng ta trân trọng nhắc lại nơi đây. Cả đối với chúng ta nữa, ngài là vị sư phụ, là vị tông đồ và là người rao giảng tin mừng của Chúa Giêsu Kitô.
Bởi thế, chúng ta qui tụ lại nơi đây không phải để nghĩ về quá khứ, một quá khứ trổi vượt bất khả đổi thay. Thánh Phaolô muốn nói với chúng ta ngày nay nữa. Đó là lư do tại sao tôi muốn triệu tập ‘Năm Thánh Phaolô’ đặc biệt này để lắng nghe ngài và uống từ ngài là vị thày của chúng ta về nièm tin và chân lư, về những ǵ được bắt nguồn sâu xa cho mối hiệp nhất giữa thành phần môn đệ Chúa Kitô. Theo chiều hướng ấy, tôi muốn thắp lên – cho hai ngàn năm sinh nhật của vị tông đồ này – một ‘Ngọn Lửa Phaolô’ đặc biệt, một ngọn lửa vẫn tỏa sáng cho cả năm nay, tại một hốc tường đặc biệt ở mái cổng đền thờ đây. Để long trọng cử hành biến cố này, tôi cũng đă mở cái gọi là Cửa Thánh Phaolô, qua đó, tôi đă tiến vào đền thờ này với sự đồng hành của đức thượng phụ Constantinople, vị hồng y tổng tư tế và các vị giáo quyền khác.
Đối với tôi th́ niềm vui sâu xa là ở chỗ việc khai mạc năm Thánh Phaolô này mang một đặc tính đại kết đặc biệt, với sự hiện diện của nhiều vị đại biểu và đại diện của các Giáo Hội và các cộng đồng giáo hội khác, những vị tôi hết ḷng hân hoan đón mừng. Trước hết tôi gửi lời chào Đức Thượng Phụ Bartholomew I cùng các phần tử thuộc phái đoàn đại biểu đi theo với ngài, cũng như một nhóm đông đảo giáo dân từ một số nơi trên thế giới về Rôma để tham dự vào giây phút nguyện cầu và suy nghĩ này với ngài và với tất cả chúng ta. Tôi gửi lời chào các vị đại biểu huynh đệ thuộc các Giáo Hội có những liên hệ đặc biệt với Tông Đồ Phaolô – Giêrusalem, Antiokia, Cyprus và Hy Lạp – những nơi làm nên môi trường về địa dư cho đời sống của vị tông đồ này trước khi ngài tới Rôma. Tôi thân ái gửi lời chào những người anh em thuộc các Giáo Hội khác nhau và các cooing đồng giáo hội khác ở cả Đông lẫn Tây, cùng với tất cả anh chị em tôi muốn tham dự vào việc long trọng khai mạc năm được giành cho Các Vị Tông Đồ Dân Ngoại.
Bởi thế, chúng ta qui tụ lại đây để tự hỏi ḿnh về vị đại tông đồ Dân Ngoại này. Không phải chúng ta đặt vấn đề ‘Thánh Phaolô đă là ai nhỉ?’. Trước hết, chúng ta hỏi ḿnh rằng ‘Thánh Phaolô đang là ai đây?’, ‘Ngài đang nói ǵ với tôi nhỉ?’ Vào giây phút mở màn cho năm Thánh Phaolô được chúng ta khai mạc đây, tôi muốn chọn ba đoạn chứng từ phong phú của Tân Ước là những ǵ cho chúng ta thấy được chân tướng nội tại đặc biệt về tính chất của ngài.
Trong Bức Thư gửi giáo đoàn Galata, ngài đă cống hiến cho chúng ta một bản tuyên xưng đức tin của bản thân ngài, trong đó ngài mở ḷng ḿnh ra cho độc giả ở mọi thời đại và cho thấy những ǵ là nguồn mạch sâu xa nhất của đời sống ngài: ‘Tôi sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa là Đấng đă yêu thương tôi và hiến ḿnh cho tôi’. Tất cả những ǵ Thánh Phaolô làm đều được bắt đầu từ tâm điểm ấy. Đức tin của ngài là cảm nghiệm đưoơc Chúa Giêsu Kitô yêu thương một cách hoàn toàn riêng tư; nó là nhận thức về sự kiện Chúa Kitô đă chấp nhận chết đi không phải cho một cái ǵ đó vô danh mà là v́ yêu thương ngài, yêu thương Thánh Phaolô, và sự kiện là, khi sông lại, Chúa Kitô vẫn yêu thương ngài, đă hiến ḿnh cho ngài. Đức tin của ngài đă được t́nh yêu của Chúa Giêsu Kitô chiếm đoạt, một t́nh yêu chi phối bản thể sâu xa nhất của ngài và biến đổi ngài. Đức tin của ngài không phải là một thứ lư thuyết, một chọn lựa Thiên Chúa hay trần gian. Đức tin của ngài là âm vang của t́nh yêu Thiên Chúa nơi tâm can của ngài. Bởi vậy mà chính đức tin ấy là t́nh yêu thương Chúa Giêsu Kitô.
Đối với nhiều người th́ Thánh Phaolô tỏ ra như là một con người hiếu chiến, biết cách sử dụng gươm giáo ngôn từ. Thật vậy, trên con đường làm tông đồ của ngài đă không thiếu những cuộc tranh căi. Ngài đă không t́m kiếm một thứ ḥa hợp hời hợt nông cạn. Trong bức thư thứ nhất của ḿnh gửi cho giáo đoàn Thessalonica, chính ngài đă nói rằng: ‘Chúng tôi lấy can đảm trong Chúa để tuyên bố cùng anh chị em rằng Phúc Âm của Thiên Chúa đang gặp phải chống đối mạnh mẽ…. V́ chúng tôi chưa bao giờ dùng những lời lẽ xu nịnh, như anh chị em biết, hay che đậy ḷng tham lam’. Đối với ngài sự thật này quá ư là cao cả để v́ muốn được thành đạt bề ngoài mà sẵn sàng chấp nhận hy sinh nó đi. Sự thật này ngài đă cảm nghiệm được nơi việc ngài gặp gỡ với Đấng Phục Sinh xứng với những ǵ ngài phải đối chọi, bị bách hại và chịu khổ đau. Tuy nhiên, cái tác động ngài ở tận thâm cung con người của ngài đó là ngài được Chúa Giêsu Kitô yêu thương và ngài ước muốn truyền đạt t́nh yêu này cho người khác. Thánh Phaolô là một con người đă có thể yêu, và tất cả mọi hoạt động cùng khổ đau của ngài đều được sáng tỏ từ trung tâm điểm này.
Những quan điểm tiềm ẩn việc loan báo của ngài chỉ có thể hiểu khi căn cứ vào nền tảng đó. Chúng ta chỉ cần lấy một trong những lời chính yếu của ngài đó là tự do. Cái cảm nghiệm được Chúa Kitô yêu thương cho đến cùng đă làm cho mắt ngài mở ra về sự thật và con đường của việc con người hiện hữu; cái cảm nghiệm ấy đă bao hàm hết mọi sự. Thánh Phaolô sống tự do như là một con người được Thiên Chúa yêu thương, mà bởi Thiên Chúa, ngài đă có thể yêu thương cùng với Người. T́nh yêu này giờ đây là ‘luật’ cho đời sống của ngài, và chính v́ thế, đă là tự do cho đời sống của ngài. Ngài nói năng và tác hành, đều được tác động bởi trách nhiệm yêu thương; ngài được tự do, và v́ ngài là con người yêu thương, ngài sống hoàn toàn theo trách nhiệm của t́nh yêu thương này và không lấy tự do để làm b́nh phong cho khoái lạc và cái tôi. Ai yêu mến Chúa Kitô như Thánh Phaolô đă mến yêu Người th́ có thể thực sự làm được những ǵ họ muốn, v́ t́nh yêu của họ được liên kết với ư muốn của Chúa Kitô, và v́ thế, được liên kết với ư muốn của Thiên Chúa, v́ ư muốn của họ được gắn chặt vào chân lư, và v́ ư muốn của họ không chỉ là ư muốn của họ nữa, một thứ toàn quyền của cái tôi tự động của họ, mà được đồng nhất với tự do của Thiên Chúa, nhờ đó nó thấy được đường lối để theo.
Trong việc t́m kiếm chân tướng nội tại của Thánh Phaolô, sau nữa, tôi muốn nhắc lại lời Chúa Kitô Phục Sinh đă nói với ngài trên đường đi Damasco. Trước đó Chúa đă hỏi ngài rằng: ‘Saulê, Saulê, tại sao ngươi lại bắt bớ Ta?’ Ngài đă trả lời rằng: ‘Lạy Chúa, Chúa là ai?’ Và ngài đă nhận được câu trả lời rằng: ‘Ta là Giêsu, Đấng đang bị ngươi bắt bớ’. Thánh Phaolô bấy giờ đang bắt bới chính Chúa Giêsu khi bắt bớ Giáo Hội. ‘Ngươi đang bắt bới Ta’.
Chúa Giêsu đồng hóa ḿnh với Giáo Hội như là một chủ thể duy nhất. Trong câu than này của Đấng phục sinh – một câu làm biến đổi cuộc đời của Saulê – chất chứa toàn thhể giáo huấn về Giáo Hội là Thân Thể Chúa Kitô. Chúa Kitô đă không về Trời, bỏ lại một nhóm môn đồ trong việc thi hành lư tưởng của Người. Giáo Hội không phải là một hiệp hội muốn cổ vơ một lư tưởng nào đó. Vấn đề ở đây không phải là lư tưởng. Vấn đề về con người Chúa Giêsu Kitô, Đấng Phục Sinh mà vẫn c̣n ‘xác thịt’. ‘Người có xương có thịt’. Đấng Phục Sinh đă khẳng định như thế trong Phúc Âm Thánh Luca, trước mặt các môn đệ bấy giờ cứ nghĩ Người là ma. Người có một thân thể. Ngài đích thân hiện diện nơi Giáo Hội. Thánh Âu Quốc Tinh nói: ‘Đầu và Thân’ làm nên một chủ thể duy nhất. Thánh Phaolô đă viết cho giáo doàn Côrintô rằng: ‘Anh chị em không biết rằng thân thể của anh chị em là những phần thể của Chúa Kitô hay sao?’ rồi ngài thêm ‘rằng người nam và người nữ trở nên một xác thịt theo Sách Khởi Nguyên hay sao?’
Vậy Chúa Kitô trở nên một tinh thần với những ǵ là của Người, một chủ thể duy nhất trong một thế giới mới của sự phục sinh. Tất cả những điều này cho thấy tỏ hiện mầu nhiệm Thánh Thể là mầu nhiệm Chúa Kitô liên lỉ hiến Thân Ḿnh của Người và làm cho chúng ta nên một Thân Thể: ‘Không phải tấm bánh chúng ta bẻ ra là mối hiệp thông với thân thể của Chúa Kitô hay sao? V́, dù nhiều người, chúng ta cũng chỉ có một tấm bánh duy nhất và một thân thể duy nhất, khi tất cả chúng ta cùng thông phần một tấm bánh’.
Ngài ngỏ cùng chúng ta những lời này, ở vào lúc này đây, không phải là Thánh Phaolô nói mà là chính Chúa nói: ‘Làm sao các con lại có thể làm rách nát Thân Thể của Thày?’ Trước dung nhan Chúa Kitô, câu hỏi này đồng thời cũng trở thành một lời kêu gọi khẩn trương, đó là từ tất cả mọi thứ phân chia của chúng ta hăy cùng nhau qui tụ lại. Hăy làm cho điều này trở thành thực tại một lần nữa hôm nay đây: đó là thực tại chỉ có một tấm bánh duy nhất; bởi thế, chúng ta, dù nhiều, cũng chỉ là một thân thể.
Đối với Thánh Phaolô th́ tiếng Giáo Hội là Thân Thể của Chúa Kitô không phải chỉ là một thứ suy loại. Nó vượt lên trên những ǵ là sánh ví nữa. ‘Tại sao người bắt bớ Ta?’
Chúa Kitô đang liên tục thu hút chúng ta đến với Thân Thể của Người, Người xây dựng Thân Thể của Người từ trung tâm điểm Thánh Thể, một trung tâm điểm mà đối với Thánh Phaolô là tâm điểm của việc Kitô giáo hiện hữu, nhờ đó, tất cả mọi người, cũng như từng người có thể cảm nghiệm được một cách hoàn toàn riêng tư rằng: ‘Người đă yêu thương tôi và hiến ḿnh cho tôi’.
Tôi muốn kết thúc bằng một lời sau này của Thánh Phaolô, một lời huấn dụ cho Timôthêu từ trong ngục tù, trước khi chết. Vị tông đồ này đă nói với người môn đệ của ḿnh rằng: ‘Con hăy cùng thày chịu đựng các khổ đau v́ Phúc Âm’. Câu này, một câu nói ở cuối con đường được vị tông đồ này trải qua, như là một chứng từ, dẫn chúng ta trở về với thuở ban đầu của việc ngài truyền giáo. Trong lúc Thánh Phaolô bị mù ḷa ở trong căn pḥng của ḿnh tại Damascô sau cuộc gặp gỡ Đấng Phục Sinh, th́ Ananias được lệnh đi đến nơi đang ở của tay bách hại ghê sợ này mà đặt tay trên anh ta để anh ta được phục quang.
Trước lời chống đối của Ananias cho rằng tên Saulê là một tay bách hại Kitô hữu nguy hiểm th́ ông đă được trả lời rằng: ‘Con người này cần phải mang danh của Ta đến cho các Dân Ngoại, cho các vua chúa và cho con cái Yến Duyên. Ta sẽ tỏ cho hắn biết tất cả những ǵ hắn sẽ phải chịu đựng v́ danh Ta’.
Việc loan truyền và tiếng gọi khổ đau v́ Chúa Kitô là những ǵ đi với nhau bất khả phân ly. Tiếng gọi là thày dạy Dân Ngoại đồng thời và tự bản chất cũng là tiếng gọi chịu khổ đau trong mối hiệp thông với Chúa Kitô, Đấng đă cưứ chuộc chúng ta bằng cuộc khổ nạn của Người. Trong một thế giới mà dối trá là một mănh lực th́ sự thật là giá cần phải trả bằng khổ đau. Ai muốn tránh né khổ đau, tránh cho xa đau khổ, sẽ đẩy lui chính sự sống và sự cao cả của nó; họ không thể trở thành một người tôi tớ của chân lư và bởi thế không phải là một người tôi tớ của đức tin. Không có t́nh yêu nào mà lại không có đau khổ, không có khổ đau của việc chối bỏ bản thân ḿnh, của việc biến đổi và thanh tẩy cái ‘tôi’ để được sống tự do chân thực.
Ở đâu không có ǵ đáng phải chịu đựng khổ đau th́ chính sự sống cũng mất đi cái giá trị của ḿnh. Thánh Thể – trung tâm điểm của con người Kitô hữu chúng ta – được bắt nguồn từ hy tế của Chúa Giêsu v́ chúng ta; Thánh Thể được xuất phát từ việc chịu đựng khổ đau của một t́nh yêu thương đạt đến tuyệt đỉnh của ḿnh trên thập tự giá. Chúng ta sống bởi t́nh yêu tự hiến ḿnh này. T́nh yêu này cống hiến cho chúng ta ḷng can đảm và sức mạnh để chịu đựng với Chúa Kitô và cho Người, nhờ đó thấy được rằng chính v́ thế mà sự sống của chúng ta mới trở nên cao cả, chín mùi và chân thực.
Theo chiều hướng của tất cả những bức thư của Thánh Phaolô chúng ta thấy ngài đă hành tŕnh ra sao với tư cách là một bậc thày dạy của Dân Ngoại, đă thấy lời tiên tri của Ananias được nên trọn vào thời điểm ngài được kêu gọi: ‘ Ta sẽ tỏ cho hắn biết tất cả những ǵ hắn sẽ phải chịu v́ danh Ta’. Sự đau khổ của ngài làm cho ngài trở thành khả tín với tư cách là vị thày dạy chân lư, một vai tṛ không t́m kiếm lợi ích riêng, vinh quang riêng hay hay thỏa măn cá nhân, mà là dấn thân cho Đấng đă yêu thương chúng ta và hiến ḿnh v́ tất cả chúng ta.
Ở vào lúc chúng ta cảm tạ Chúa v́ Người đă kêu gọi Thánh Phaolô, làm cho ngài trở thành ánh sáng Dân Ngoại và là thày dạy của tất cả chúng ta đây, chúng ta hăy nguyện cầu xin ban cho cả chúng con hôm nay đây chứng từ Phục Sinh được t́nh yêu Chúa chạm tới, và hăy làm cho chúng con có thể chiếu tỏa ánh sáng Phúc Âm trong thời đại của chúng con. Hỡi Thánh Phaolô, xin cầu cho chúng tôi. Amen.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 30/6/2008
(những chỗ được in đậm lên là do tự ư của người dịch trong việc làm nổi bật những điểm chính yếu quan trọng)
Bài Giảng Lễ Hiện Xuống Ở Quảng Trường Thánh Phêrô 11/5/2008
"Nơi biến cố Hiện Xuống, Giáo Hội không được cấu tạo nên bởi ư muốn của con người, mà là bởi quyền lực của Thần Linh Thiên Chúa"
Anh Chị Em thân mến,
Tŕnh thuật về biến cố Hiện Xuống chúng ta vừa nghe trong bài đọc thứ nhất được Thánh Luca đặt vào đầu Sách Tông Vụ. Chương thứ hai được dẫn nhập bằng những chữ này: ‘Đến ngày Lễ Ngũ Tuần, tất cả họ đều tề tụ lại ở một nơi’ (2:1). Những lời này liên quan tới chương trước được Thánh Luca diễn tả là có một nhóm nhỏ các môn đệ siêng năng họp nhau lại ở Gia Liêm sau khi Chúa Giêsu thăng thiên (x Acts 1:12-14). Nó là một diễn tả đầy những chi tiết: nơi mà ‘các vị sống’ – nhà tiệc ly – là môi trường của ‘căn thượng lầu’; 11 vị tông đồ được liệt kê danh sách đàng hoàng, mà đầu tiên là Phêrô, Gioan và Gicôbê, ‘các trụ cột’ của cộng đồng này, đă được tháp nhập vào gia đ́nh mới ấy, không c̣n căn cứ vào mối liên hệ gia đ́nh mà vào niềm tin tưởng nơi Chúa Kitô.
Tất cả số người, ‘khoảng 120’, gia tăng từ 12 tông đồ đoàn, rơ ràng là một dạo khúc cho một thứ ‘tân Yến Duyên’ này. Nhóm người này cấu tạo nên một thứ ‘qāhāl’ thực sự, một cộng đồng theo mẫu thức của giao ước ban đầu, một cộng đồng được triệu tập theo tiếng gọi của Chúa Kitô để bước đi theo đường lối của Người. Sách Tông Vụ nhấn mạnh rằng ‘tất cả họ đều sốt sắng đồng tâm nhất trí nguyện cầu’ (1:14). Bởi thế, cầu nguyện là hoạt động chính yếu của Giáo Hội sơ khai. Chính nhờ nguyện cầu mà Giáo Hội lănh nhận được mối hiệp nhất của ḿnh từ Chúa Kitô và để cho ḿnh được ư muốn của Người hướng dẫn, như được thấy nơi quyết định chọn người thế chỗ cho Giuđa (x Acts 2:25).
Cộng đồng này qui tụ lại ở cùng một địa điểm là nhà tiệc ly, vào buổi sáng Lễ Ngũ Tuần của dân Do Thái, một lễ về giao ước để tưởng nhớ biến cố ở Núi Sinai là nơi qua Moisen Thiên Chúa muốn dân Yến Duyên là sở hữu của Ngài giữa chư dân, là dấu chỉ thánh thiện của Ngài (x Ex 19). Theo Sách Xuất Hành, giao ước cổ kính ấy được Chúa kèm theo bằng một dấu hiệu kinh hoàng, như người ta đọc thấy là ‘Núi Sinai được phủ khói, v́ Chúa ngự xuống đó trong lửa cháy. Khói bốc lên từ đó như từ một ḷ lửa, và toàn thể ngọn núi rung chuyển mănh liệt’ (Ex 19:18).
Chúng ta lại những yếu tố gió và lửa ở biến Hiện Xuống của Tân Ước nhưng không có tính cách sợ hăi. Đặc biệt là lửa có h́nh cái lưỡi ở trên đầu tất cả các vị môn đệ, ‘tất cả được tràn đầy Thánh Linh’, và b ởi cuộc tuôn đổ này, ‘bắt đầu nói các thứ ngôn ngữ khác’ (Acts 2:4). Chúng ta thấy ở đây ‘phép rửa’ bằng lửa thật sự của cộng đồng này, một loại tân tạo. Nơi biến cố Hiện Xuống, Giáo Hội không được cấu tạo nên bởi ư muốn của con người, mà là bởi quyền lực của Thần Linh Thiên Chúa. Và Giáo Hội lập tức hiện lên cho thấy vị Thần Linh này thông ban sự sống cho một cộng đồng cùng một lúc duy nhất lại công giáo, nhờ đó vượt qua được cái khốn nạn của Tháp Babel (x Jn 11:7-9). Thật vậy, chỉ có Vị Thần Linh này mới tạo nên mối hiệp nhất trong yêu thương và bằng việc chấp nhận tính chất đa dạng của nhau, mới có thể giải thoát nhân loại khỏi t́nh trạng liên lỉ căng thẳng của một thứ ư muốn trần gian tham vọng quyền bính muốn thống trị và làm cho hết mọi sự thành đồng nhất.
"Giáo Hội vốn là ‘công giáo’, hoàn vũ, nơi chính tác động được hạ sinh của ḿnh."
Tôi xin suy niệm một khía cạnh đặc biệt về Chúa Thánh Thần, về mối thắt kết giữa tính cách đa dạng và hiệp nhất. Bài đọc thứ hai nói tới vấn đề này, bàn về việc ḥa hợp giữa những đặc sủng khác nhau trong mối hiệp thông của cùng một Vị Thần Linh. Thế nhưng, ngay trong đoạn Sách Tông Vụ chúng ta đă nghe th́ mối thắt kết này đă được thấy một cách tỏ tường với một chứng cớ đặc biệt. Trong biến cố Hiện Xuống rơ ràng là rất nhiều thứ ngôn ngữ và nền văn hóa khác nhau đều thuộc về Giáo Hội; những thứ ngôn ngữ và văn hóa này có thể hiểu và làm cho nhau sinh hoa kết trái. Thánh Luca minh nhiên muốn chuyên chở một ư nghĩ nồng cốt, tức là Giáo Hội vốn là ‘công giáo’, hoàn vũ, nơi chính tác động được hạ sinh của ḿnh. Giáo Hội nói tất cả mọi thứ tiếng ngay từ ban đầu, v́ Phúc Âm được kư thác cho Giáo Hội là để cho tất cả mọi dân tộc, theo ư muốn và lệnh truyền của Chúa Kitô phục sinh (x Mt 28:19). Giáo Hội được hạ sinh vào Ngày Lễ Hiện Xuống trước hết không phải là một cộng đồng riêng biệt nào – như Giáo Hội ở Giêrusalem chẳng hạn – mà là Giáo Hội hoàn vũ, một Giáo Hội nói được ngôn ngữ của tất cả mọi dân tộc. Từ Giáo Hội hoàn vũ này mà các cooing đồng khác ở hết mọi nơi trên thế giới được hạ sinh, các Giáo Hội riêng tất cả đều luôn luôn hiện thực hóa của Giáo Hội duy nhất này của Chúa Kitô. Bởi thế, Giáo Hội Công Giáo không phải là một liên hiệp chư giáo hội, mà là một thực thể duy nhất: Giáo Hội hoàn vũ nổi bật về bản thể học. Một cộng đồng không phải là công giáo theo ư nghĩa này th́ thậm chí không phải là một Giáo Hội.
Về vấn đề này can phải thêm một khía cạnh nữa, đó là khía cạnh nhăn quan thần học của Sách Tông Vụ liên quan tới cuộc hành tŕnh của Giáo Hội từ Gia Liêm tới Rôma. Thánh Luca ghi nhận là trong số thành phần dân chúng tiêu biểu ở Gia Liêm vào ngày Lễ Ngũ Tuần cũng có cả ‘những người ngoại quốc ở Rôma’ (Acts 2:10). Vào lúc bấy giờ th́ Rôma vẫn là những ǵ xa cách, là ‘ngoại quốc’ đối với Giáo Hội sơ sinh: Nó là một tiêu biểu cho thế giới dân ngoại nói chung. Thế nhưng, quyền năng của Chúa Thánh Thần sẽ hướng dẫn bước chân của các vị chứng nhân ‘đến tận cùng trái đất’ (Acts 1:8), đến Roma. Sách Tông Vụ được kết thúc ngay khi Thánh Phaolô, theo quan pḥng thần linh, đến thủ đô của đế quốc này và loan báo Phúc Âm ở đó (x Acts 28:30-31). Bởi thế, cuộc hành tŕnh của Lời Chúa, được bắt đầu ở Gia Liêm, đang đạt tới đích điểm của ḿnh, v́ Rôma tiêu biểu cho toàn thế giới và như thế làm hiện thực ư nghĩ về công giáo tính của Thánh Luca. Giáo Hội hoàn vũ được hiện thực, Giáo Hội công giáo, một giáo hội là sự liên tục của thành phần dân được tuyển chọn và lấy lịch sử và sứ vụ của họ làm của ḿnh.
Đến đây, để kết thúc, Phúc Âm Thánh Gioan đă cống hiến cho chúng ta một lời, một lời rất ăn khớp với mầu nhiệm của Giáo Hội được Thần Linh kiến tạo. Lời này được Chúa Giêsu phục sinh nói tới hai lần khi Người hiện ra giữa các môn đệ ở Nhà Tiệc Ly vào đêm Phục Sinh: ‘Shalom – B́nh an cho các con’ (Jn 20:19,21). Lời bày tỏ ‘shalom’ không phải là lời chào thuần túy; nó c̣n hơn như thế nữa: Nó là một tặng ân an b́nh được hứa hẹn (x Jn 14:27) và được Chúa Giêsu chiếm hữu bằng giá máu của Người, nó là hoa trái của cuộc chiến thắng này và của cuộc Người đối chọi với thần dữ. Bởi thế mà nó là thứ b́nh an ‘không như thế gian ban’ mà chỉ một ḿnh Thiên Chúa mới có thể ban cho thôi.
Trong ngày lễ của Thần Linh này của Giáo Hội chúng tax in cám ơn Chúa đă ban cho dân của Ngài, một dân được tuyển chọn và làm nên bởi tất cả mọi dân nước, tặng ân an b́nh vô giá này, tặng ân b́nh an của Người! Chúng ta cũng đồng thời canh tân ư thức về trách nhiệm liên hệ tới tặng ân này, đó là trách nhiệm của Giáo Hội liên tục là một dấu chỉ và là dụng cụ b́nh an của Thiên Chúa đối với tất cả mọi dân tộc. Tôi đă cố gắng làm người chuyển đạt sứ điệp này khi tôi mới tới tổng hành dinh của Liên Hiệp Quốc để nói với các v ị đại diện chư quốc. Thế nhưng, người ta không chỉ nghĩ đến ‘những thượng đỉnh’ này. Giáo Hội hiện thực dịch vụ cho ḥa b́nh của Chúa Kitô trước hết nơi sự hiện diện và hoạt động b́nh thường của ḿnh giữa con người, bằng việc giảng dạy Phúc Âm cũng như bằng các dấu hiệu yêu thương và t́nh thương kèm theo đó (x Mt 16:20).
"B́nh an của Chúa Kitô chỉ lan tỏa tới các tâm hồn canh tân của thành phần nam nữ được ḥa giải "
Trong số những dấu hiệu ấy, bí tích ḥa giải tất nhiên cần phải được đề cao nhấn mạnh, một bí tích được Chúa Kitô phục sinh thiết lập cùng một lúc khi Người ban cho các vị tông đồ tặng ân b́nh an của Người và Thần Linh của Người. Như chúng ta đă nghe trong đoạn Phúc Âm này th́ Chúa Giêsu đă thở hơi trên các môn đệ của Người mà phán: ‘Các con hăy lănh nhận Thánh Linh; các con tha tội cho ai th́ tội người ấy được thứ tha và các con cầm tội ai th́ tội người ấy bị cầm lại’ (Jn 20:21-23). Quan trọng biết bao, mà tiếc thay, thiếu hiểu biết chừng nào tặng ân ḥa giải mang lại an b́nh cho tâm hốn này! B́nh an của Chúa Kitô chỉ lan tỏa tới các tâm hồn canh tân của thành phần nam nữ được ḥa giải và biến ḿnh thành những người tôi tớ của công lư, sẵn sàng truyền bá b́nh an trên thế giới bằng duy quyền lực của chân lư, không thỏa hiệp với tâm thức của thế gian, v́ thế gian không thể ban thứ b́nh an này của Chúa Kitô: Đó là cách thức Giáo Hội có thể là một thứ men của mối ḥa giải xuất phát từ Thiên Chúa. Giáo Hội có thể làm điều này nếu Giáo Hội tiếp tục tỏ ra đơn sơ dễ dạy với Thần Linh và làm chứng cho Phúc Âm, chỉ khi nào Giáo Hội vác thập giá như Chúa Giêsu và với Chúa Giêsu. Đó chính là những ǵ các thánh nhân qua mọi thời đại minh chứng vậy!
Anh chị em thân mến, theo chiều hướng của lời sự sống này, chớ ǵ lời nguyện cầu hôm nay chúng ta dâng lên Thiên Chúa trong mối hiệp nhất thiêng liêng với Trinh Nữ Maria trở nên sốt sắng và thiết tha hơn bao giờ hết. Chớ ǵ Vị Trinh Nữ là vị lắng nghe, Mẹ của Giáo Hội, xin cho cộng đồng của chúng ta cũng như tất cả mọi Kitô hữu một cuộc tuôn đổ mới Thánh Linh Đấng An Ủi. ‘Emitte Spiritum tuum et creabuntur, et renovabis faciem terrae – Xin sai Thần Linh Chúa đến th́ mọi sự sẽ được tái tạo và Ngài sẽ canh tân bộ mặt trái đất’. Amen.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 11/5/2008
(những chỗ được in đậm lên là do tự ư của người dịch trong việc làm nổi bật những điểm chính yếu quan trọng)
Bài Giảng Lễ Giỗ 3 Năm ĐTC Gioan Phaolô II
Anh chị em thân mến
Ngày 2/4 đă trở nên sâu đậm trong kư ức của Giáo Hội như là ngày của Người
Tôi Tớ Chúa Gioan Phaolô II chào biệt thế giới này. Chúng ta hăy sống
lại cảm xúc của những giờ phút buổi chiều Thứ Bảy hôm ấy, khi mà tin tức của
việc ngài qua đời được nghe thấy bởi một đám rất đông dân chúng đang nguyện cầu
đầy ở Quảng Trường Thánh Phêrô. Trong ṿng có ít ngày mà Đền Thờ Vatican
và Quảng Trường này đă thực sự trở nên tâm điểm của thế giới. Một gịng
người hành hương liên tục tuôn đến kính viếng thi hài của vị Giáo Hoàng đáng
kính và lễ an táng của ngài là một chứng từ cuối cùng cho thấy ḷng quí
mến và cảm mến ngai đă chiếm được nơi tâm linh của rất nhiều tín hữu và dân
chúng ở khắp cùng trái đất.
Giống như 3 năm trước đây, cả đến ngày hôm nay nữa, mới chỉ sau một thời gian ngắn sau Phục Sinh. Trung tâm điểm của Giáo Hội đây lại cảm thấy ḿnh ch́m đắm trong mầu nhiệm phục sinh của Chúa Kitô. Thật vậy, chúng ta có thể giải thích cả cuộc đời của vị tiền nhiện thân yêu của tôi, đặc biệt là thức tác vụ thừa kế Thánh Phêrô của ngài, theo dấu hiệu của Chúa Kitô đă được phục sinh. Ngài đă cảm thấy một đức tin phi thường nơi Người, và cùng với Người, ngài đă giữ được một cuộc trao đổi thân t́nh, đặc biệt và liên lỉ. Trong số nhiều những tính chất nhân loại và siêu nhiên của ḿnh, ngài có một cảm quan đặc biệt về tu đức và thần bí.
Chỉ cần thấy ngài cầu nguyện là đủ: Bề ngoài ngài ch́m đắm trong Chúa và dường như mọi sự khác trong lúc ấy đều ở ngoài cuộc. Trong khi cử hành phụng vụ, ngài đă chú tâm tới mầu nhiệm đang diễn tiến, bằng một khả năng nhận định một cách nhậy bén cái tính chất sống động của lời Chúa tiến triển qua gịng lịch sử, khi tiến sâu vào dự án của Thiên Chúa. Như ngài thường hay nói, đối với ngài Thánh Lễ là tâm điểm của ngày sống và cả cuộc đời của ngài – thực tại “sống động và thánh hảo” Thánh Thể này đă hiến cho ngài nghị lực thiêng liêng trong việc hướng dẫn dân Chúa tiến bước trên con đường lịch sử.
Đức Gioan Phaolô II đă qua đời vào thời điểm vọng Chúa Nhật Thứ Hai Phục Sinh, “ngày Chúa làm nên”. Những quằn quại của cái chết đă xẩy ra vào “ngày” này, theo cái thời-không mới th́ đó là “ngày thứ tám”, ngày được Ba Ngôi muốn qua công cuộc của Lời nhập thế, tử nạn và phục sinh. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II vào những trường hợp khác nhau đă cho thấy rằng, một cách nào đó, ngài đă ch́m sâu vào chiều kích linh thiêng này trước đó, trong đời sống của ngài, nhất là trong việc làm trọn sứ vụ là Vị Giáo Chủ Tối Cao.
Giáo triều của ngài, nếu được tổng hợp lại và qua nhiều thời khắc đặc biệt, cho chúng ta thấy như là một dấu hiệu và chứng từ của việc Chúa Kitô phục sinh. Chiều kích vượt qua ấy, một chiều kích làm cho cuộc sống của Đức Gioan Phaolô trở thành một đáp ứng hoàn toàn cho tiếng gọi của Chúa, không thể được tỏ hiện mà không tham phần vào những khổ đau và cái chết của Vị Sư Phụ thần linh và là Đấng Cứu Chuộc. Tông Đồ Phaolô đă nói: “Đây là điều đáng tin tưởng, đó là nếu chúng ta đă chết với Người th́ chúng ta sẽ sống với Người; nếu chúng ta kiên tŕ chúng ta cũng sẽ hiển trị với Người” (2Tim 2:11-12).
(Nhận định trên đây của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI về “chiều kích Vượt Qua”, cũng như dưới đây về tính cách sống với Chúa Kitô như Mẹ Maria và nhờ Mẹ Maria, của Đức Gioan Phaolô II, người dịch này chẳng những cảm thấy rất chí lư mà cũng cảm thấy rất hân hạnh v́ đă có cùng một cảm nhận như ngài khi xuất bản tác phẩm “Đức Gioan Phaolô II: Sống Là Chúa Kitô – Chết là Vinh Thắng” – Phil 1:21 vào cuối tháng 4/2005, cùng một lúc với tác phẩm bày tỏ cảm nhận của ḿnh về vị tân giáo hoàng đương kim: “Giáo Hoàng Biển Đức XVI – Vị Giáo Hoàng của Hiệp Nhất Kitô Giáo và Cho Một Tân Âu Châu”. Trong bài huấn từ trước Kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng hôm 30/3/2008, Chúa Nhật 2 Phục Sinh, Lễ Kính Ḷng Thương Xót Chúa, ĐTC Biển Đức c̣n nhận định về Đức Gioan Phaolô II tiền nhiệm của ngài rằng: “Như Thánh Faustina, Đức Gioan Phaolô II cũng đă trở thành một vị tông đồ của ḷng thương xót thần linh. Vào đêm Thứ Bảy 2/4/2005 không thể quên được ấy, khi ngài vĩnh viễn ĺa đời th́ chính là thời điểm lễ vọng Chúa Nhật Thứ Hai Phục Sinh đă được cử hành, và nhiều người nhận định thấy sự trùng hợp đặc thù này, một sự trùng hợp giữa chiều kích Thánh Mẫu là ngày Thứ Bảy Đầu Tháng và chiều kích ḷng thương xót thần linh”. Trong cuốn “Đức Gioan Phaolô II: Sống Là Chúa Kitô – Chết là Vinh Thắng”, ở những gịng cuối cùng kết thúc cuốn sách, trang 267, tôi đă chia sẻ cảm nhận như sau: “Tóm lại, … Đức Gioan Phaolô II … đă luôn kêu gọi con người đừng sợ mà hăy mở cửa cho Chúa Kitô, nghĩa là hăy tin vào Ḷng Thương Xót Chúa… Thế nhưng, để được như vậy, để nhân loại có thể ‘chấp nhận Ḷng Thương Xót Chúa’, Giáo Hội nói chung và vị tân giáo hoàng nói riêng, phải trở thành Tông Đồ của Ḷng Thương Xót Chúa, nhờ ‘việc chiêm ngưỡng mầu nhiệm vĩ đại của t́nh yêu nhân hậu xuất phát từ thánh tâm Chúa Giêsu này bằng ánh mắt của Mẹ Maria’”. Rơ ràng nhất là trong tác phẩm “Sống Thánh Chứng Nhân – Fatima Đạo Binh Dàn Trận”, do Phong Trào Thế Giới Tông Đồ Fatima Việt Nam xuất bản năm 2006, ở trang 253, tôi đă cảm nhận như sau: “Phải nói rằng, nơi con người đặc biệt này kết tụ cả thời điểm Thánh Mẫu và Thánh Tâm này, một con người v́ thế đă qua đời vào Ngày Thứ Bảy Đầu Tháng [vốn là ngày Thánh Mẫu hằng tháng kính Mẹ], áp Lễ Chúa T́nh Thương, nghĩa là được nghỉ ngơi đời đời trong Chúa nơi ḷng Mẹ, rất thích hợp với khẩu hiệu “Totus Tus” của ngài, một khẩu hiệu nói lên linh đạo ‘Nhờ Mẹ đến với Chúa’ của ngài”).
Từ thuở nhỏ, Đức Karol Wojtyla đă cảm nghiệm được chân lư của những lời ấy, khi thấy được thập tự giá trên con đường của ḿnh, trong gia đ́nh của ḿnh, với dân tộc của ḿnh. Ngài đă sớm quyết định vác thập giá bên Chúa Giêsu, theo bước chân của Người. Ngài muốn là người tôi tớ trung thành của Người cho đến độ tiếp nhận ơn gọi làm linh mục như là một tặng ấn và là một cuộc dấn thân suốt cuộc đời của ngài. Với Người, ngài đă sống, và cùng với Người ngài đă muốn được chết đi. Ngài đă làm tất cả những điều này nhờ trung gian đặc thù của Mẹ Maria rất thánh là Mẹ của Giáo Hội, Mẹ của Đấng Cứu Chuộc, người Mẹ đă sâu xa và thực sự liên kết với mầu nhiệm cứu độ nơi việc tử nạn và phục sinh của Người.
Trong việc suy tư cảm kích này, những bài đọc Thánh Kinh vừa được công bố là những ǵ hướng dẫn chúng ta: “Đừng sợ” (Mt 28:5). Những lời của vị thiên thần của biến cố Phục Sinh này đă ngỏ cùng những người phụ nữ trước ngôi mộ trống mà chúng ta vừa nghe đă trở nên một mẫu tâm niệm trên môi miệng của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, từ những giây phút long trọng khởi đầu thừa tác vụ thừa kế Thánh Phêrô của ngài. Ngài đă lập lại những lời ấy vào các trường hợp khác nhau với Giáo Hội cũng như với thế giới trong cuộc hành tŕnh tiến tới năm 2000, và sau khi đă trải qua thời điểm lịch sử đó, cũng như sau này, vào lúc mở màn cho một tân thiên kỷ. Ngài đă luôn luôn nói đến những lời này một cách vững mạnh, đầu tiên bằng việc giơ chiếc cậy được đính thập giá của ngài lên, và sau đó, khi sức lực của ngài bị yếu kém đi, ngài đă gắn liền với cậy gậy thập giá này, cho đến Ngày Thứ Sáu cuối cùng, một ngày mà ngài đă tham dự Đường Thánh Giá ở nguyện đường riêng của ngài, bằng hai cánh tay ôm lấy cây thập tự giá.
Chúng ta không thể nào quên được chứng từ yêu mến Chúa Giêsu của ngài cuối cùng thầm lặng ấy. Cảnh tượng hùng hồn của khổ đau nhân loại với niềm tin tưởng này, trong Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh ấy, cũng cho tín hữu cùng thế giới thấy cái bí quyết sống của hết mọi cuộc đời Kitô hữu. Cái “đừng sợ” ấy không phải là những ǵ dựa vào sức lực của loài người, cũng như vào những thành đạt chiếm đưoơc, trái lại, chỉ vào lời Chúa, vào thập giá và vào việc phục sinh của Chúa Kitô. Nơi mức độ mà ngài bấy giờ bị tước lột hết mọi sự, cuối cùng, cho đến chính cả những lời nói của ngài nữa, th́ việc hoàn toàn phó ḿnh cho Chúa Kitô của ngài lại càng được sáng tỏ.
Như đă xẩy ra cho Chúa Giêsu, cũng xẩy ra nơi trường hợp của Đức Gioan Phaolô
II, những lời thốt ra vào lúc tận tuyệt của hy tế tối hậu, của việc trao tặng
bản thân ḿnh. Và cái chết là ấn tín của một cuộc sống hoàn toàn hiến dâng cho
Chúa Kitô, nên giống ngài thậm chí về cả thể lư với những đặc tính khổ đau và
hoàn toàn phó ḿnh vào tay Cha trên trời. ‘Nào tôi đi về nhà Cha’, những
lời này – được những ai ở bên cạnh ngài bấy giờ cho biết – là những lời cuối
cùng của ngài, lời hoàn thành của một cuộc sống hoàn toàn hướng về việc nhận
biết và chiêm ngưỡng dung nhan Chúa.
Quí huynh khả kính và thân mến: tôi xin cám ơn tất cả quí huynh đă liên kết với tôi trong Thánh Lễ cầu cho linh hồn của Đức Gioan Phaolô II thân yêu. Tôi đặc biệt hướng ḷng về những tham dự viên vào hội nghị tiên khởi về Ḷng Thương Xót Chúa, một hội nghị thực sự được bắt đầu hôm nay, và là hội nghị nhắm tới việc đào sâu hơn giáo huấn phong phú của ngài về chủ đề này. T́nh thương của Thiên Chúa, như chính ngài nói, là then chốt đặc biệt cho việc hiểu được giáo triều của ngài. Ngài muốn sứ điệp về t́nh yêu nhân hậu của Thiên Chúa được phổ biến tới tất cả mọi người nam nữ, và ngài kêu gọi tín hữu hăy trở thành chứng nhân cho sứ điệp này (Cf. Homily at the dedication of the Shrine of Divine Mercy, Aug. 17, 2002.).
Đó là lư do ngài đă muốn nâng lên bàn thờ Nữ Tu Faustina Kowalska, một tu sĩ khiêm hạ đă được ư nhiệm thần linh biến đổi thành vị sứ giả tiên tri của ḷng thương xót thần linh. Người Tôi Tớ Chúa Gioan Phaolô II đă biết được và bản thân đă trải qua những thảm họa của thế kỷ 20, và ngài đă tự hỏi ḿnh trong một thời gian dài cái ǵ có thể ngăn chặn được bước tiến của sự dữ. Câu trả lời chỉ có thể t́m thấy nơi t́nh yêu của Thiên Chúa. Thật vậy, chỉ có t́nh thương thần linh mới có thể hạn chế sự dữ; chỉ có t́nh yêu toàn năng của Thiên Chúa mới có thể lật đổ việc thống trị của những kẻ dữ và quyền lực hủy hoại của cái tôi và hận thù. V́ lư do ấy, trong chuyến viếng thăm Balan lần cuối cùng của ḿnh, khi trở về quê hương xứ sở của ḿnh, ngài đă nói rằng: “nhân loại không c̣n hy vọng nào khác ngoài t́nh thương của Thiên Chúa”.
Chúng ta hăy cảm tạ Thiên Chúa v́ Người đă ban cho Giáo Hội người tôi trung can trường này. Chúng ta hăy ca ngợi và chúc tụng Trinh Nữ Maria về việc luôn canh chừng bản thân ngài và thừa tác vụ của ngài cho lợi ích của dân Kitô giáo cũng như cho toàn thể nhân loại. Và trong lúc chúng ta hiến dâng linh hồn ưu tuyển của ngài cùng với Hy Tế cứu chuộc, chúng ta hăy xin ngài tiếp tục chuyển cầu từ trời cao cho mỗi một người chúng ta, đặc biệt là cho tôi, người đưoc Đấng Quan Pḥng kêu gọi để tiếp tục gia sản thiêng liêng vô giá của ngài. Chớ ǵ Giáo Hôi, theo giáo huấn và gương lành của ngài, trung thành tiếp tục sứ vụ truyền bá phúc âm hóa của ḿnh một cách bất dung ḥa, không ngừng truyền bá t́nh yêu nhân hậu của Chúa Kitô là nguồn mạch ḥa b́nh chân thực cho toàn thế giới.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 2/4/2008
(những chỗ được in đậm lên là do tự ư của người dịch trong việc làm nổi bật những điểm chính yếu quan trọng)
Cảm Nghiệm Hoán Cải của Thánh Phaolô với chủ đề “Không Ngừng Cầu Nguyện”
Bài Giảng trong Giờ Kinh Tối Lễ Thánh Phaolô Trở Lại 25/1/2008 ở Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoài Thành
Anh Chị Em thân mến,
Cảm Nghiệm Hoán Cải của Thánh Phaolô với chủ đề “Không Ngừng Cầu Nguyện”
Lễ Trọng Thánh Phaolô Trở Lại một lần nữa kéo chúng ta đến trước mặt của vị đại Tông Đồ được Thiên Chúa chọn làm “chứng nhân cho Ngài trước tất cả mọi người” (Acts 22:15). Đối với Saulê thành Tarsê th́ giây phút gặp gỡ Chúa Kitô Phục Sinh trên đường đi Damasco đă đánh dấu một khúc quanh quyết liệt trong đời sống của ngài. Việc ngài được hoàn toàn biến đổi, một cuộc thực sự và thích đáng hoán cải thiêng liêng, đă xẩy ra vào ngay lúc bấy giờ. Bởi việc can thiệp thần linh, tay hung hăng bách hại Giáo Hội Chúa này đột nhiên trở nên mù ḷa và ṃ mẫm bước đi trong tăm tối, thế nhưng từ đó, nhờ ánh sáng rạng ngời trong ḷng của ngài, mà sau đó ít lâu ngài đă trở thành một vị Tông Đồ của Phúc Âm. Cái nhận thức là chỉ có một ḿnh ân sủng thần linh mới có thể thực hiện một cuộc hoán cải như thế đă luôn theo đuổi Thánh Phaolô. Khi ngài đă hết sức cố gắng để trở nên xứng đáng với ơn gọi của ḿnh, bằng việc dấn thân liên lỉ rao giảng Phúc Âm, ngài đă viết bằng một ḷng nhiệt t́nh mới mẻ như sau: “Tôi đă hoạt động cực nhọc hơn bất cứ vị nào, nhưng không phải là tôi song là ơn Chúa trong tôi” (1Cor 15:10). Hoạt động truyền giáo liên lỉ cho dù như thể hoàn toàn lệ thuộc vào những nỗ lực của ngài, nhưng Thánh Phaolô vẫn luôn được tác động bởi niềm xác tín sâu xa rằng tất cả mọi năng lực của ngài đều xuất phát từ ân sủng của Thiên Chúa hoạt động nơi ngài.
Những lời của vị Tông Đồ này về mối liên hệ giữa nỗ lực của con người với ân sủng thần linh vang vọng vào buổi tối hôm nay đây có một ư nghĩa rất đặc biệt. Vào lúc kết thúc Tuần Lễ Nguyện Cầu cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo, chúng ta thậm chí càng ư thức được rằng công việc phục hồi mối hiệp nhất, một công cuộc đ̣i hỏi mọi năng lực và nỗ lực của chúng ta, hoàn toàn là những ǵ vượt trên những ǵ chúng ta có thể làm. Mối hiệp nhất với Thiên Chúa và anh chị em của chúng ta là một tặng ân bởi trời, một mối hiệp nhất xuất phát từ cuộc hiệp thông yêu thương giữa Cha, Con và Thánh Thần, một mối hiệp nhất được gia tăng và hoàn hảo nơi cuộc hiệp thông Ba Ngôi. Không phải chúng ta có khả năng quyết định là mối hiệp nhất này sẽ được hoàn toàn chiếm đạt vào lúc nào hay bằng cách nào. Chỉ có một ḿnh Thiên Chúa mới có thể làm điều ấy mà thôi! Như Thánh Phaolô, chúng ta cũng hăy đặt niềm hy vọng và ḷng tin tưởng của chúng ta “nơi ân sủng của Thiên Chúa ở với chúng ta”. Anh chị em thân mến, đó là những ǵ lời nguyện cầu mà chúng ta đang cùng nhau dâng lên Chúa mong muốn van xin: đó là xin Người là Đấng soi động và nâng đỡ chúng ta trong việc chúng ta tiếp tục t́m cầu hiệp nhất.
Chính ở đây mà lời huấn dụ của Thánh Phaolô với Kitô hữu giáo đoàn Thessalonica đạt được tất cả ư nghĩa của nó: “Hăy không ngừng nguyện cầu” (1Thes 5:17), một lời huấn dụ được chọn làm đề tài cho Tuần Lễ Nguyện Cầu năm nay. Vị Tông Đồ này đă quá quen thuộc với cộng đồng này, một cộng đồng đă được xuất phát từ hoạt động truyền giáo của ngài, và được ngài đặt nhiều kỳ vọng. Ngài biết cả những thành đạt của nó và nhược điểm của nó. Thật vậy, không thiếu ǵ hành vi, thái độ và tranh căi trong các phần tử của nó đă tạo nên t́nh trạng căng thẳng và xung khắc, và Thánh Phaolô ra tay can thiệp để giúp cho cộng đồng này tiến bước trong hiệp nhất và an b́nh. Ở cuối bức thư của ḿnh, vẫn với ḷng nhân từ phụ thân, ngài đă kèm thêm một chuỗi huấn dụ rất thực tế, kêu gọi các Kitô hữu hăy phấn khích tất cả mọi người tham gia, nâng đỡ thành phần yếu kém, nhẫn nại với sự dữ chứ đừng lấy oán báo ác với mọi người nhưng bao giờ cũng t́m kiếm sự thiện, hân hoan và tạ ơn trong mọi hoàn cảnh (x 1Thes 5:12-22). Thánh Phaolô đặt lời khuyên “hăy không ngừng cầu nguyện” ở giữa những lời huấn dụ ấy. Thật vậy, những lời khuyến dụ khác sẽ mất đi công lực và sự liên kết của chúng nếu chúng không được hỗ trợ bằng việc nguyện cầu. Mối hiệp nhất với Thiên Chúa và với nhau được xây dựng trước hết nhờ đời sống nguyện cầu, liên lỉ t́m kiếm “ư muốn của Thiên Chúa đối với chúng ta trong Chúa Giêsu Kitô” (x 1Thes 5:18).
Lời kêu gọi của Thánh Phaolô ngỏ cùng Kitô hữu giáo đoàn Thessalonica vẫn c̣n hợp thời. Trước những thiếu sót và tội lỗi là những ǵ vẫn c̣n đang ngăn trở cho mối hiệp thông trọn vẹn của Kitô hữu, th́ mỗi một lời trong những huấn dụ này vẫn có một ư nghĩa thích đáng, thế nhưng đặc biệt là xác đáng về phương diện “không ngừng cầu nguyện”. Phong trào đại kết sẽ đi về đâu nếu không có lời nguyện cầu chung riêng “xin cho họ tất cả được nên một”, như Cha ở trong Con và như Con ở trong Cha” (Jn 17:21)? Chúng ta sẽ t́m thấy ở nơi đâu “cái lực đẩy hơn nữa” của đức tin, đức cậy và đức mến là những nhân đức ngày nay đặc biệt cần cho việc chúng ta t́m kiếm hiệp nhất? Ước muốn hiệp nhất của chúng ta không được giới hạn vào những trường hợp riêng biệt; nó cần phải trở thành một phần toàn diện cho đời sống cầu nguyện toàn thể của chúng ta. Những con người nam nữ sống Lời Chúa và nguyện cầu đă từng là những thủ công viên của việc ḥa giải và hiệp nhất ở mọi giai đoạn lịch sử. Chính con đường nguyện cầu đă mở đường cho phong trào đại kết như ngày nay chúng ta biết được. Thật vậy, từ giữa thế kỷ 18, các phong trào canh tân thiêng liêng khác nhau đă xuất hiện, nhiệt thành góp phần bằng nguyện cầu vào việc cổ vơ cho mối hiệp nhất Kitô giáo. Những nhóm Công Giáo, được phát động bởi những nhân vật đạo đức nổi nang, đă đóng một vai tṛ chủ động trong những khởi động như thế ngay từ ban đầu. Việc cầu nguyện cho mối hiệp nhất cũng được ủng hộ bởi các những vị Tiền Nhiệm Đáng Kính của tôi, như Đức Giáo Hoàng Lêô XIII, vị mà vào năm 1895 đă khuyên thực hiện Tuần Chín Ngày Cầu Nguyện cho mối hiệp nhất Kitô Giáo. Những nỗ lực này, được thực hiện theo những khả năng của Giáo Hội vào lúc bấy giờ, có ư mang ra thự chành lời nguyện cầu của chính Chúa Giêsu trên Căn Thượng Lầu là “xin cho họ tất cả được nên một” (Jn 17:21). Bởi vậy không có vấn đề đại kết thực sự mà nguồn gốc của nó đă không được gieo trồng bằng việc nguyện cầu.
Tiến Tŕnh của Tuần Lễ Cầu Nguyện cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo
Năm nay, chúng ta đang mừng kỷ niệm 100 năm “Tuần Bát Nhật Hiệp Nhất Giáo Hội” là biến cố sau đó trở thành “Tuần Lễ Cầu Nguyện Cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo”. 100 năm trước đây, trong khi c̣n là một mục sư giáo phái Episcopalian, Cha Paul Watson đă có ư nghĩ về tuần bát nhật nguyện cầu cho mối hiệp nhất, một tuần lễ lần đầu tiên đă được cử hành ở Graymoor, Nữ Ước, từ ngày 18 đến 25 tháng Giêng năm 1908. Buổi tối hôm nay, cảm thấy hết sức hân hoan, tôi gửi lời chào đến vị Tổng Vụ và phái đoàn đại biểu quốc tế của Anh Chị Em Phanxicô Phạt Tạ, một Hội Ḍng được thành lập bởi Cha Paul Watson và là vận động viên cho di sản thiêng liêng của ngài. Vào thập niên 1930, Tuần Bát Nhật Cầu Nguyện đă trải qua những thích ứng quan trọng theo sau cái tác lực được cống hiến cho nó, đặc biệt là bởi Cha Paul Couturier ở Lyons, một đại đấu thủ khác của vấn đề đại kết thiêng liêng. Lời ngài kêu gọi “hăy nguyện cầu cho mối hiệp nhất của Giáo Hội như Chúa Kitô mong muốn và theo cách thức Người muốn” giúp cho Kitô hữu thuộc tất cả mọi truyền thống liên kết thành một lời nguyện cầu duy nhất cho hiệp nhất. Chúng ta hăy tạ ơn Thiên Chúa về phong trào cầu nguyện lớn lao mà trong 100 năm đă đồng hành và nâng đỡ tín hữu t́m cầu mối hiệp nhất trong Chúa Kitô. Con tầu đại kết sẽ chẳng bao giờ ra khơi nếu nó không được đẩyđưa bởi luồng gió mạnh của nguyện cầu và phất phới bởi hơi thở của Chúa Thánh Thần.
Trùng hợp với Tuần Lễ Nguyện Cầu này, có nhiều cộng đồng tu sĩ và đan sĩ đă mời gọi và giúp các phần tử của ḿnh “không ngừng cầu nguyện” cho mối hiệp nhất Kitô Giáo. Vào cơ hội chúng ta đă qui tụ lại đây, chúng ta hăy đặc biệt nhớ đến đời sống và chứng từ của D́ Maria Gabriella Hiệp Nhất (1914-1936), một Nữ Tu Ḍng Trappist thuộc nữ đan viện Grottaferrata (ngày nay là Vitorchiano), Ư quốc. Khi bề trên của d́, được phấn khích bởi Cha Paul Couturier, xin các Nữ Tu hăy cầu nguyện và hy sinh bản thân cho mối hiệp nhất Kitô Giáo, th́ D́ Maria Gabriella lập tức tham gia và không ngần ngại dâng hiến cuộc đời trẻ trung của ḿnh cho lư tưởng này. Chính ngày hôm nay là ngày kỷ niệm đúng 25 năm chị được vị Tiền Nhiệm của tôi là Gioan Phaolô II phong Chân Phước. Biến cố ấy được cử hành tại chính Đền Thờ này vào đúng ngày 25/1/1983, trong khi cử hành việc bế mạc Tuần Lễ Nguyện Cầu cho Hiệp Nhất. Trong Bài Giảng của ḿnh, Người Tôi Tớ Chúa này đă nhấn mạnh đến 3 yếu tố nền tảng cho việc t́m kiếm hiệp nhất, đó là hoán cải, Thập Giá và nguyện cầu. Đời sống và chứng từ của D́ Maria Gabriella cũng có ba yếu tố này. Ngày nay, cũng như trong quá khứ, vấn đề đại kết rất cần đến thứ “đan viện vô h́nh” rộng lớn được Cha Paul Couturier nói tới này, cần đến một cộng đồng lớn rộng Kitô hữu thuộc tất cả mọi truyền thống đang âm thầm cầu nguyện và hiến đời ḿnh trong việc đạt được mối hiệp nhất.
Ngoài ra, đúng 40 năm qua, cộng đồng Kitô hữu trên thế giới đă có đưoơc những bài suy niệm và những lời cầu nguyện cho Tuần Lễ này được liên kết soạn thảo bởi Ủy Ban “Đức Tin và Cấp Trật” của Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội và Hội Đồng Ṭa Thánh Đặc Trách Cổ Vơ Hiệp Nhất Kitô Giáo. Việc hợp tác may lành này đă có thể làm lan rộng phạm vi cầu nguyện và việc soạn dọn nội dung của nó được tốt đẹp hơn. Tối hôm nay, tôi thân ái chào Tiến Sĩ Khả Kính Samuel Kobia, Tổng Thư Kư của Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội, vị đến Rôma để tham gia với chúng ta nhân dịp bách niên của Tuần Lễ Cầu Nguyện này. Tôi vui mừng thấy các phần tử của “Nhóm Làm Việc Chung” hiện diện nơi đây và tôi ưu ái chào họ. Nhóm làm việc chung này là phương tiện hợp tác giữa Giáo Hội Công Giáo và Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội trong việc chúng ta cùng nhau t́m kiếm hiệp nhất. Như tôi đă thực hiện hằng năm, tôi cũng ngỏ lời chào huynh đệ tới các vị Giám Mục, linh mục và mục sư thuộc các Giáo Hội và Cộng Đồng Giáo Hội khác nhau có những vị đại diện ở Rôma đây. Việc anh chị em tham dự vào buổi nguyện cầu này là một thể hiện tỏ tường những mối liên kết hiệp nhất chúng ta lại với nhau trong Chúa Giêsu Kitô: “V́ ở đâu có hau hay ba người tụ họp lại v́ danh Thày th́ Thày ở giữa họ” (Mt 18:20).
Năm được giành cho chứng từ và giáo huấn của Tông Đồ Phaolô sẽ được khai mạc ở Đền Thờ lịch sử này vào ngày 28/6 năm nay. Chớ ǵ ḷng nhiệt thành không biết mỏi mệt của ngài trong việc xây dựng Thân Ḿnh Chúa Kitô trong hiệp nhất giúp chúng ta không ngừng cầu nguyện cho mối hiệp nhất trọn vẹn của tất cả mọi Kitô hữu. Amen!
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2008/documents/hf_ben-xvi_hom_20080125_week-prayer_en.html
(những chỗ được in đậm lên và các tiểu đề là do tự ư của người dịch trong việc làm nổi bật những điểm chính yếu quan trọng)
ĐTC Biển Đức XVI: Bài Giảng Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa Chúa Nhật 13/1/2008 tại Nguyện Đường Sistine
Anh Chị Em thân mến,
Việc cử hành hôm nay bao giờ cũng là một nguồn vui đặc biệt đối với tôi. Thật vậy, việc ban Bí Tích Rửa Tội vào ngày Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa là một trong những giây phút biểu lộ tất cả đức tin của chúng ta, một giây phút chúng ta hầu như có thể thấy được mầu nhiệm của sự sống qua những dấu hiệu của phụng vụ. Trước hết là sự sống của con người. Nó được tiêu biểu ở đây đặc biệt qua 13 em nhỏ này, hoa trái của t́nh yêu của anh chị em, hỡi những phụ huynh yêu dấu, tôi muốn ngỏ lời chào thân ái tới anh chị em cũng như các cha mẹ đỡ đầu cùng với họ hàng thân thuộc và bạn hữu ở nơi đây. Rồi tới mầu nhiệm của sự sống thần linh được Thiên Chúa ban cho những con người nhỏ bé này qua việc tái sinh bởi nước và Thánh Thần. Thiên Chúa là sự sống, như một số h́nh ảnh trang điểm cho Nguyện Đường Sistine này tuyệt vời gợi lên cho thấy.
Tuy nhiên, cũng không phải là lạc đề nếu chúng ta lập tức đặt ngay bên cảm nghiệm về sự sống bằng một cảm nghiệm đối nghịch, đó là thực tại về sự chết. Không sớm th́ muộn hết mọi sự được bắt đầu trên trái đất này sẽ đi đến chỗ cùng tận của ḿnh, như cỏ đồng nội sáng nở tối tàn. Tuy nhiên, nơi Phép Rửa, con người bé bủn này lănh nhận được một sự sống mới, sự sống ân sủng, sự sống giúp họ có thể dự phần vào mối liên hệ riêng tư với Đấng Hóa Công muôn đời cho đến vô cùng bất tận. Tiếc thay, nhân loại có khả năng để dập tắt đi sự sống mới này bằng tội lỗi của ḿnh, khiến họ ở trong một t́nh trạng được Thánh Kinh diễn tả là “cái chết lần thứ hai”. Trong khi các tạo vật là những vật khác không được kêu gọi sống trường sinh bất tử, th́ chết chỉ là t́nh trạng chấm dứt việc hiện hữu trên mặt đất này, th́ nơi chúng ta, tội lỗi tạo thành một vực thẳm chúng ta liều ḿnh bị muôn đời ch́m đắm, trừ phi Cha là Đấng ở Trên Trời giang cánh tay của Ngài ra cho chúng ta. Anh chị em thân mến, đó là mầu nhiệm của Phép Rửa, ở chỗ Thiên Chúa muốn cứu độ chúng ta bằng việc đích thân đi xuống tận đáy của vực thẳm này, nhờ đó hết mọi người, ngay cả những người đă bị sa ngă quá sâu đến độ không c̣n nhận ra Trời Cao, cũng có thể thấy được bàn tay của Thiên Chúa để bám víu và vươn lên khỏi tối tăm để thấy lại thứ ánh sáng mà họ được dựng nên cho. Tất cả chúng ta đều cảm thấy, tất cả chúng ta đều nhận thức trong ḷng rằng việc hiện hữu của chúng ta là một ước vọng có được sự sống mang lại tầm vóc trọn vẹn và cứu độ. Cái tầm vóc viên trọn này đă được ban cho chúng ta nơi Phép Rửa.
Chúng ta vừa nghe tŕnh thuật về việc Chúa Giêsu chịu Phép Rửa ở sông Dược Đăng. Nó là một Phép Rửa khác với phép rửa mà các bé thơ nhi này sắp sửa nhận lănh nhưng lại liên hệ sâu xa với phép rửa đây. Vấn đề chính yếu ở đây là toàn thể mầu nhiệm của Chúa Kitô trên thế gian này có thể được tóm lại ở chữ: “tẩy rửa”, tiếng Hy Lạp nghĩa là “trầm ḿnh”. Người Con Thiên Chúa đây, Đấng từ đời đời đă cùng với Cha và Thánh Thần có sự sống trọn vẹn này, đă “trầm ḿnh” vào thực tại của chúng ta như thành phần tội nhân để làm cho chúng ta được tham dự vào sự sống của Người: Người nhập thể, Người được hạ sinh như chúng ta, Người đă lớn lên như chúng ta, và khi vươn tới tuổi thành nhân, Người đă tỏ cho thấy sứ vụ của Người thực sự được bắt đầu bằng “phép rửa thống hối” bởi Thánh Gioan Tẩy Giả. Tác động công khai tiên khởi này của Chúa Giêsu, như chúng ta vừa nghe, đó là việc Người đi xuống sông Dược Đăng, lẫn lộn trong số thành phần tội nhân thống hối để lănh nhận phép rửa này. Thánh Gioan theo tự nhiên đă tỏ ra ngần ngại để làm phép rửa cho Người, nhưng v́ đó là ư muốn của Chúa Cha như được Chúa Giêsu nhấn mạnh (cf. Mt 3:13-15).
Vậy th́ tại sao Chúa Cha lại muốn điều ấy xẩy ra? Phải chăng v́ Ngài đă sai Người Con Duy Nhất của ḿnh vào trần gian như là một Con Chiên gánh tội trần gian (cf. Jn 1:29)? Vị Thánh Kư tŕnh thuật rằng khi Chúa Giêsu lên khỏi mặt nước th́ Thánh Linh xuống trên Người dưới h́nh chim câu, trong khi đó tiếng Chúa Cha vang ra từ Trời công nhận Người là “Con yêu dấu của Ta, Người Ta rất hài ḷng” (Mt 3:17). Bởi thế, từ ngay lúc ấy, Chúa Giêsu xuất hiện như Đấng đến để rửa nhân loại trong Thánh Thần: ở chỗ, Người đến để ban cho con người nam nữ sự sống viên măn dồi dào (cf Jn 10:10), sự sống trường sinh, sự sống tái sinh con người và hoàn toàn chữa lành họ, cả nơi thân xác lẫn trong tinh thần, phục hồi họ về với dự án nguyên thủy như họ đă được tạo dựng nên. Mục đích hiện hữu của Chúa Kitô chính là để ban cho loài người sự sống của Thiên Chúa và Thần Linh yêu thương của Người, nhờ đó hết mọi người có thể kín múc từ nguồn mạch cứu độ vô tận này. Đó là lư do tại sao Thánh Phaolô đă viết cho những người Rôma rằng chúng ta được lănh nhận phép rửa của Chúa Kitô để có cùng một sự sống như Đấng Phục Sinh (cf. Rm 6:3-4). V́ lư do này mà cha mẹ Kitô giáo, như anh chị em hôm nay đây, mang con cái của ḿnh đến bể rửa tội sớm bao nhiêu có thể, v́ biết rằng sự sống mà họ truyền thông cần được viên trọn, cần ơn cứu độ chí có một ḿnh Thiên Chúa mới có thể ban tặng. Bởi thế cha mẹ trở thành cộng tác viên của Thiên Chúa, trong việc thông truyền cho con cái ḿnh chẳng những sự sống về thể lư mà c̣n về thiêng liêng nữa.
Anh chị em phụ huynh thân mến, tôi tạ ơn Chúa với anh chị em về tặng ân các em bé này và tôi xin Chúa hỗ trợ để Người có thể giúp anh cị em trong việc nuôi dưỡng chúng và tháp nhập chúng vào Thân Ḿnh thiêng liêng Giáo Hội. Như anh chị em cống hiến cho chúng những ǵ chúng cần để tăng trưởng và được cứu độ, chớ ǵ anh chị em luôn biết dấn thân, nhờ cha mẹ đỡ đầu của chúng hỗ trợ, phát triển nơi chúng đức tin, đức cậy và đức mến, các thần đức xứng với sự sống mới chúng lănh nhận nơi Bí Tích Rửa Tội. Anh chị em bảo đảm sự sống này bằng việc hiện diện và ḷng ưu ái của anh chị em; anh chị em bảo toàn nó trước hết và trên hết bằng lời cầu nguyện, hằng ngày hiến dâng chúng cho Chúa và kư thác chúng cho Ngài qua mọi đoạn đời của chúng. Để chúng lớn lên khỏe mạnh, những bé ấu nhi này dĩ nhiên cần đến cả việc chăm sóc về vật chất cùng với nhiếu thứ chú trọng khác nữa; tuy nhiên, cái cần thiết nhất cho chúng, thật sự là cái bất khả thiếu, sẽ là việc chúng nhận biết, mến yêu và phục sự Chúa cách trung thành để được sự sống đời đời. Anh chị em phụ huynh thân mến, chớ ǵ, đối với chúng, anh chị em là những chứng nhân tiên khởi của một niềm tin đích thực nơi Thiên Chúa!
Nơi Lễ Nghi Rửa Tội, có một dấu hiệu hùng hồn cho thấy thực sự việc truyền đạt đức tin. Đó là việc trao cho một một người lănh nhận phép rửa một cây nến được thắp sáng từ ngọn lửa của cây nến Phục Sinh: nó là ánh sáng của Chúa Kitô Phục Sinh, một ánh sáng anh chị em cố gắng đề trao truyền cho con cái của anh chị em. Như thế, từ đời nọ tới đời kia, Kitô hữu chúng ta truyền đạt ánh sáng của Chúa Kitô cho nhau ở chỗ khi Người trở lại Người thấy được nơi chúng ta ngọn lửa này đang cháy sáng trong tay của chúng ta. Nơi Nghi Thức này, tôi sẽ nói cùng anh chị em rằng: “Hỡi những người làm cha mẹ ruột thịt và cha mẹ đỡ đầu, ánh sáng này được trao cho anh chị em để giữ cho luôn được cháy sáng”. Anh chị em thân mến, hăy luôn luôn chăm sóc cho ngọn lửa đức tin này bằng việc lắng nghe và suy niệm Lời Chúa và chuyên chăm hiệp thông với Chúa Giêsu trong Thánh Thể. Chớ ǵ anh chị em được trợ giúp trong việc thực hiện vai tṛ tuyệt diệu song không dễ dàng ǵ đây bởi những Vị Bảo Hộ thánh thiện mà 13 em bé này sẽ được nhận tên thánh. Chớ ǵ những Vị Thánh này đặc biệt giúp cho những ai được lănh nhận phép rửa biết đền đáp việc chăm sóc yêu thương của anh chị em là những người phụ huynh Kitô giáo. Chớ ǵ Trinh Nữ Maria đặc biệt đồng hành với cả chúng lẫn anh chị em, anh cị em phụ huynh thân mến, giờ đây và cho tới muôn đời. Amen!
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2008/documents/hf_ben-xvi_hom_20080113_battesimo_en.html
(những chỗ được in đậm lên là do tự ư của người dịch trong việc làm nổi bật những điểm chính yếu quan trọng)
"Với Chúa Giêsu Kitô, phúc lành của Anbraham đă được vươn tới tất cả mọi dân nước"
ĐTC Biển Đức XVI: Bài Giảng Lễ Hiển Linh 6/1/2008 tại Đền Thờ Vatican
Anh Chị Em thân mến,
Hôm nay, chúng ta đang mừng lễ Chúa Kitô là Ánh Sáng thế gian và việc Người tỏ ḿnh ra cho chư dân. Vào Ngày Lễ Giáng Sinh, sứ điệp của phụng vụ vang lên những lời này: "Hodie descendit lux magna super terram – Hôm nay, một ánh sáng cả thể tỏa chiếu trên mặt đất” (Sách Lễ Rôma). Ở Bêlem, “ánh sáng vĩ đại” này đă xuất hiện cho một nhóm nhỏ dân chúng, cho thành phần nhỏ nhoi “c̣n lại của Yến Duyên”, đó là Trinh Nữ Maria, phu quân Giuse của trinh nữ cùng một ít mục đồng. Đó là một ánh sáng leo loét v́ là kiểu cách của Vị Thiên Chúa chân thực; một ánh lửa được thắp lên trong đêm tối, đó là một hài nhi mới sinh yếu ớt kêu khóc trong cảnh thinh lặng của thế giới này… thế nhưng, cuộc hạ sinh kín ẩn không nổi nang này lại được kèm theo bởi những bài thánh ca chúc tụng của các cơ binh trên trời hát lên để tôn vinh và chúc an b́nh (x Lk 2:13-14).
Bởi thế, cho dù việc xuất hiện của ánh sáng này trên mặt đất có vẻ tầm thường, nhưng nó lại được phóng lên các tầng trời, ở chỗ, việc hạ sinh của Vị Vua dân Do Thái đă được loan báo bằng sự xuất hiện của một ngôi sao. Điều này được chứng thực bởi một số “con người khôn ngoan” từ Đông phương đến Giêrusalem sau khi Chúa Giêsu giáng sinh ít lâu, trong thời của Vua Hêrôđê (x Mt 2:1-2). Một lần nữa, trời và đất, vũ trụ và lịch sử, kêu gọi nhau đáp ứng. Những lời tiên tri được xác nhận nơi ngôn từ của các v́ sao. “Một ngôi sao sẽ xuất hiện từ Giacóp, và cây vương trượng xuất phát từ Yến Duyên” (Dân Số 24:17), Balaam là vị thụ khải dân ngoại đă loan báo, khi ông được triệu tới để nguyền rủa Dân Yến Duyên, thành phần lại được ông chúc chục, v́, như Thiên Chúa đă mạc khải cho ông, “họ là kẻ được chúc phúc” (Dân Số 22:12). Trong việc dẫn giải về Phúc Âm Thánh Mathêu, Cromatius ở Aquileia đă liên kết Ballam với các Vị Đạo Sĩ Chiêm Gia như thế này: “Ông đă nói tiên tri rằng Đức Kitô sẽ đến; họ đă thấy Người bằng con mắt tin tưởng”. Rồi ông thêm một nhận định quan trọng nữa: “Ngôi sao này được mọi người nh́n thấy nhưng không phải là hết mọi người đều hiểu được ư nghĩa của nó. Cũng thế, Chúa của chúng ta và là Đấng Cứu Thế của chúng ta đă được hạ sinh cho hết mọi người, thế nhưng không phải hết mọi người đă đón nhận Người” (4:12). Đến đây sáng tỏ ư nghĩa của biểu hiệu ánh sáng được áp dụng vào việc hạ sinh của Chúa Kitô: nó thể hiện việc Thiên Chúa đặc biệt chúc lành cho gịng dơi Abraham là phúc lành được ấn định bao gồm tất cả mọi dân tộc trên trái đất này nữa.
Biến cố Phúc Âm chúng ta đang tưởng niệm về Việc Hiển Linh – việc các Vị Đạo Sĩ Chiêm Gia viếng thăm Con Trẻ Giêsu ở Bêlem – như thế đưa chúng ta trở về với cội nguồn lịch sử của Dân Chúa, tức là về với ơn gọi của Abraham. Chúng ta đang ở Chương 12 của Sách Khởi Nguyên. Mười một chương đầu như là những bức đại bích họa trả lời cho một số vấn đề nống cốt của nhân loại chẳng hạn như đâu là nguồn gốc của vũ trụ cũng như của loài người? Sự dữ bởi đâu mà có? Tại sao lại có những thứ ngôn ngữ và nền văn minh khác nhau? Trong số những tŕnh thuật được Thánh Kinh mở đầu, có “giao ước” đầu tiên Thiên Chúa thực hiện với Noe sau hồng thủy. Nó là một giao ước phổ quát liên quan tới toàn thể nhân loại: một giao ước mới với gia đ́nh Noe đồng thời cũng là giao ước với “tất cả những ǵ là xác thịt”. Bởi thế, trước khi Abraham được kêu gọi, đă có một bức đại bích họa khác rất quan trọng để có thể hiểu được ư nghĩa của Lễ Hiển Linh, đó là bức đại bích họa Tháp Babel. Sách thánh nói rằng ngay từ ban đầu, “toàn thể trái đất chỉ có một ngôn ngữ và ít lời nói” (Gen 11:1). Thế rồi con người đă nói: “Nào, chúng ta hăy xây cho ḿnh một thành phố, và một cái tháp vươn lên tới các tầng trời để chúng ta được lưu danh muôn thuở, kẻo chúng ta bị phân tán di khắp mặt đất này” (Gen 11:4). Hậu quả của thứ tội ngạo măn kiêu hănh này, tương tự như tội của Adong và Evà, đó là t́nh trạng lẫn lộn về ngôn ngữ và t́nh trạng phân tán của nhân loại trên khắp trái đất này (x Gen 11:7-8). Đó là ư nghĩa của “Babel” và là một thứ bị nguyền rủa, giống như việc bị tống khứ ra khỏi địa đường trần thế vậy.
Tới đây, qua ơn gọi của Abraham, câu truyện phúc lành được bắt đầu: đó là khởi đầu cho dự án lớn lao của Thiên Chúa trong việc làm cho nhân loại thành một gia đ́nh duy nhất nhờ giao ước với một dân tộc mới, được Ngài tuyển chọn để trở thành phúc lành giữa tất cả mọi dân nước (x Gen 12:1-3). Dự án thần linh này vẫn c̣n đang được áp dụng: Nó đạt đến tuyệt đỉnh nơi mầu nhiệm Chúa Kitô. Bởi vậy mà “thời sau hết” đă bắt đầu, ở chỗ, dự án này đă hoàn toàn được tỏ hiện và được nên trọn nơi Đức Kitô, thế nhưng cần phải được lịch sử loài người chấp nhận, một lịch sử bao giờ cũng là lịch sử của ḷng trung thành về phần Thiên Chúa, song tiếc thay cũng là lịch sử của việc bất trung về phía loài người chúng ta. Chính Giáo Hội, kho tàng chất chứa phúc lành này, là thánh mà lại được kết hợp bởi các tội nhân, có đặc tính căng thẳng giữa “cái đă rồi’ và “cái chưa xong”. Vào thời điểm viên trọn, Chúa Giêsu Kitô đă đến để làm cho giao ước ấy nên trọn: chính Người, Thiên Chúa thật và là người thật, là Bí Tích cho ḷng trung thành của Thiên Chúa đối với dự án cứu độ của Ngài giành cho toàn thể nhân loại, cho tất cả chúng ta.
Việc các Đại Sĩ Chiêm Gia từ Phương Đông đến Bêlem để tôn thờ Đấng Thiên Sai mới sinh là một dấu hiệu tỏ ḿnh của Vị Vua hoàn vũ này trước chư dân cũng như trước tất cả những ai t́m kiếm chân lư. Nó là khởi đầu của một hướng động ngược lại với hướng động của tháp Babel, tức từ t́nh trạng lẫn lộn đến t́nh trạng thấu hiểu, từ t́nh trạng phân tán đến t́nh trạng ḥa giải. Như thế, chúng ta nhận thức được cái liên hệ giữa Hiển Linh và Hiện Xuống, ở chỗ, nếu Việc Giáng Sinh của Chúa Kitô, Đấng là Đầu, cũng là việc Hạ Sinh của Giáo Hội, Thân Ḿnh của Người, chúng ta có thể thấy ba Nhà Đạo Sĩ Chiêm Gia như là thành phần được liên kết với thành phần c̣n sót lại của Yến Duyên, tiên báo một dấu hiệu cả thể của một “Giáo Hội đa ngôn ngữ” do Thánh Linh thực hiện 50 ngày sau Phục Sinh. T́nh yêu thủy chung và kiên tŕ của Thiên Chúa không bao giờ bị hụt hẫng nơi giao ước của Ngài từ đời nọ đến đời kia là một “mầu nhiệm” được Thánh Phaolô nói tới trong các Bức Thư của ngài cũng như trong đoạn của Bức Thư gửi Giáo Đoàn Êphêsô vừa được công bố, ở chỗ, vị Tông Đồ này nói rằng mầu nhiệm ấy “được tỏ cho tôi biết qua mạc khải” (Eph 3:3).
“Mầu nhiệm” về ḷng trung thành này của Thiên Chúa là những ǵ tạo nên niềm hy vọng cho lịch sử. Dĩ nhiên là nó ngược lại với những chiều hướng chia rẽ và chuyên chế bạo tàn làm tổn thương nhân loại bởi tội lỗi cũng như bởi những thứ xung đột của ḷng vị kỷ. Giáo Hội trong gịng lịch sử đang phục vụ cho “mầu nhiệm” phúc lành cho toàn thể nhân loại này. Giáo Hội hoàn toàn thực hiện sứ vụ của ḿnh nơi mầu nhiệm trung thành này của Thiên Chúa chỉ khi nào Giáo Hội phản ảnh ánh sáng của Đức Kitô là Chúa trong bản thân ḿnh, nhờ đó giúp cho chư dân trên thế giới tiến tới ḥa b́nh và tiến bộ đích thực. Thật vậy, Lời của Thiên Chúa được mạc khải qua Tiên Tri Isaia vẫn c̣n tiếp tục được áp dụng, đó là: “tối tăm sẽ bao trùm trái đất, và tăm tối dầy đặc bao phủ chư dân ; thế nhưng Chúa sẽ xuất hiện trên các người, và vinh quang của Ngài sẽ tỏ hiện trên các người” (Is 60:2). Những ǵ vị tiên tri này loan báo ở Giêrusalem đă được nên trọn nơi Giáo Hội của Chúa Kitô: “các quốc gia sẽ đến với ánh sáng của ngươi và các vua chúa sẽ đến với ánh quang rạng ngời của việc ngươi xuất hiện” (Is 60:3).
Với Chúa Giêsu Kitô, phúc lành của Anbraham đă được vươn tới tất cả mọi dân nước, tới Giáo Hội hoàn vũ như là một tân Yến Duyên đón nhận nơi ḿnh toàn thể nhân loại. Tuy nhiên, những ǵ vị tiên tri này nói cũng đúng với cả ngày nay nữa ở nhiều ư nghĩa: “Tối tăm day đặc đang bao trùm chư dân” và lịch sử của chúng ta. Thật vậy, không thể nói rằng “việc toàn cầu hóa” là những ǵ đồng nghĩa với “trật tự của thế giới” – mà là hoàn toàn ngược lại. Những thứ xung khắc trong việc nắm ưu thế về kinh tế và tích trữ những nguồn năng lượng, nước nôi và các thứ nguyên liệu là những ǵ cản trở công cuộc của tất cả những ai đang nỗ lực ở mọi lănh vực để thiết dựng một thế giới công chính và vững vàng. Cần phải hy vọng hơn nữa, một niềm hy vọng sẽ trở thành khả dĩ khi coi công ích của tất cả mọi người hơn tất cả những thứ xa xỉ của một số ít người và chú ư tới t́nh trạng nghèo khổ của một số nhiều người. “Niềm hy vọng cao cả này chỉ có thể là Thiên Chúa… chứ không phải bất cứ một thần linh nào khác, thế nhưng lại là vị Thiên Chúa có một dung nhan con người” (Thông Điệp Spe Salvi, 31): Vị Thiên Chúa tỏ ḿnh ra nơi Con Trẻ ở Bêlem và nơi Đấng Tử Giá và Phục Sinh. Niềm hy vọng lớn lao nếu có th́ cần phải kiên tŕ trong t́nh trạng điều độ. Nếu thiếu đi niềm hy vọng thực sự th́ hạnh phúc chỉ t́m thấy nơi việc say sưa chè chén, nơi t́nh trạng thừa thăi, nơi những ǵ là thái quá, và chúng ta đi đến chỗ hủy hoại đi bản thân ḿnh và thế giới. Bởi thế, điều độ chẳng những là một kỷ cương về khổ chế mà c̣n là một đường lối cứu độ cho nhân loại nữa. Như vậy hiển nhiên là chỉ bằng việc chấp nhận lối sống điều độ, được kèm theo bằng một nỗ lực nghiêm chỉnh đối với vấn đề phân phối đồng đều t́nh trạng giầu thịnh, mới có thể thiết lập một trật tự phát tiển chân chính và khả trợ. Đó là lư do chúng ta cần người ta nuôi dưỡng niềm hy vọng cao cả, nhờ đó có ḷng can đảm lớn lao: một ḷng can đảm của ba Đạo Sĩ Chiêm Gia, những người đă thực hiện một cuộc hành tŕnh dài theo đuổi ngôi sao để có thể bái qú trước một Con Trẻ mà dâng lên Người những quà tặng quí báu. Tất cả chúng ta cần đến ḷng can đảm này, một ḷng can đảm gắn liền với niềm hy vọng mănh liệt. Chớ ǵ Mẹ Maria xin cho chúng ta ơn ấy, khi đồng hành với chúng ta trong cuộc hành tŕnh trần thế bằng việc bảo bọc chở che từ mẫu của Mẹ. Amen!
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh
(những chỗ được in đậm lên là do tự ư của người dịch trong việc làm nổi bật những điểm chính yếu quan trọng)
"Hỡi Mẹ trinh nguyên, trước sự ngỡ ngàng của tất cả mọi tạo vật, Mẹ đă hạ sinh Đấng Hóa Công”
ĐTC Biển Đức XVI: Bài Giảng Lễ Mẹ Thiên Chúa và Ngày Ḥa B́nh Thế Giới lần thứ 41 ngày 1/1/2008 tại Đền Thờ Vatican
Anh Chị Em thân mến,
Hôm nay, chúng ta bắt đầu một tân niên và hướng về niềm hy vọng Kitô Giáo; chúng ta hăy bắt đầu bằng việc kêu cầu Phúc Lành thần linh xuống trên nó và, nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa, nài xin tặng ân ḥa b́nh: cho gia đ́nh của chúng ta, cho thành thị của chúng ta, cho toàn thể thế giới. Với niềm hy vọng này, tôi gửi lời chào đến tất cả anh chị em đang hiện diện nơi đây, trước hết là các Tôn Vị Lănh Sự thuộc Phái Đoàn Ngoại Giao làm việc với Ṭa Thánh đă qui tụ lại với cuộc cử hành dịp Ngày Giới Trẻ Thế Giới này. Tôi gửi lời chào ĐHY Tarcisio Bertone, vị Quốc Vụ Khanh của tôi và ĐHY Renato Raffaele Martino cùng toàn thể phần tử thuộc Hội Đồng Ṭa Thánh về Công Lư và Ḥa B́nh. Tôi đặc biệt biết ơn họ về việc họ nỗ lực phổ biến Sứ Điệp Ngày Ḥa B́nh Thế Giới với chủ đề cho năm nay là “Gia Đ́nh Nhân Loại, một Cộng Đồng của Ḥa B́nh”.
Ḥa B́nh. Trong Bài Đọc Thứ Nhất trích từ Sách Dân Số, chúng ta đă nghe tiếng kêu cầu: “Chúa… ban ḥa b́nh cho các người” (6:26); chớ ǵ Chúa ban ḥa b́nh cho mỗi một người trong anh chị em, cho gia đ́nh của anh chị em và cho toàn thế giới. Tất cả chúng ta đều khao khát sống trong ḥa b́nh thế nhưng ḥa b́nh thực sự, thứ ḥa b́nh được loan báo bởi các Thiên Thần vào đêm Giáng Sinh, không phải chỉ là một thứ chiến thắng của nhân loại hay là hoa trái của những thỏa thuận về chính trị; trước hết và trên hết, nó là một tặng ân thần linh cần phải được liên lỉ nài xin, đồng thời cũng là một việc dấn thân cách nhẫn nại, luôn dễ dạy với các mệnh lệnh của Chúa. Năm nay, trong Sứ Điệp của tôi cho Ngày Ḥa B́nh Thế Giới hôm nay, tôi đă muốn nhấn mạnh đến mối liên hệ chặt chẽ giữa gia đ́nh và việc xây dựng ḥa b́nh trên thế giới. Gia đ́nh tự nhiên, được xây dựng trên hôn nhân giữa một người nam và một người nữ, là “cái nôi của sự sống và yêu thương”, và là “vị thày ḥa b́nh tiên khởi bất khả thiếu”. Đó chính là lư do gia đ́nh là “‘tác nhân’ căn bản của ḥa b́nh”, và “việc chối bỏ hay thậm chí hạn chế các quyền lợi của gia đ́nh, bằng cách làm lu mờ đi sự thật về con người, đều là những ǵ đe dọa tới chính những nền tảng của ḥa b́nh” (cf. 1-5). V́ nhân loại là một “đại gia đ́nh”, nếu muốn sống trong ḥa b́nh th́ nó không thể nào lại không được tác động bởi các thứ giá trị làm nền tảng cho cộng đồng gia đ́nh. Một trùng hợp quan pḥng của các biến cố khác nhau xẩy ra thúc đẩy chúng ta trong năm nay nỗ lực hơn nữa trong việc chiếm đạt ḥa b́nh trên thế giới. Sáu mươi năm trước đây, vào năm 1948, Tổng Hội Đồng Liên Hiệp Quốc đă ban hành “Bản Tuyên Ngôn Chung về Nhân Quyền”; 40 năm trước đây, vị Tiền Nhiệm Phaolô khả kính của tôi cử hành Ngày Ḥa B́nh Thế Giới đầu tiên; ngoài ra, năm nay, chúng ta sẽ kỷ niệm 25 năm việc Ṭa Thánh chuẩn phê “Bản Hiến Chương về Quyền Lợi Gia Đ́nh”. Tôi muốn lập lại nơi đây những ǵ tôi đă đích xác viết ở xuối sứ điệp này: “Theo chiều hướng của những biến cố ư nghĩa này, tôi mời hết mọi người nam nữ hăy có một cảm quan thuộc về một gia đ́nh nhân loại duy nhất cách sống động hơn nữa, và nỗ lực làm cho việc chúng sống của nhân loại càng ngày càng phản ảnh niềm xác tín ấy, một niềm xác tín thiết yếu cho việc thiết lập ḥa b́nh chân thực và lâu bền” (khoản 15).
Giờ đây chúng ta tự nhiên nghĩ tới Đức Mẹ là Vị chúng ta hôm nay kêu cầu như Mẹ của Thiên Chúa. Chính Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đă chuyển sang ngày 1 tháng 1 Lễ Mẹ Thiên Chúa này, một lễ trước kia được cử hành vào ngày 11/10. Thật vậy, trước cuộc canh tân phụng vụ xẩy ra sau Công Đồng Chung Vaticanô II, th́ lễ nhớ Chúa Giêsu chịu phép cắt b́ xẩy ra vào ngày thứ 8 sau ngày sinh của Người – như một dấu hiệu phục tùng lề luật, việc Người chính thức gia nhập Dân Chúa – thường được dùng để cử hành ngày đầu năm và Lễ Thánh Danh Giêsu được cử hành vào Chúa Nhật sau đó. Chúng ta nhận thấy được một ít dấu vết cho những việc cử hành này tron g đoạn Phúc Âm vừa được công bố, trong đó, Thánh Luca nói rằng 8 ngày sau khi sinh, Hài N hi lănh nhận phép cắt b́ và được đặt tên là “Giêsu”, “tên Thiên Chúa đă nói tới trước khi Người được thụ thai trong cung dạ (Mẹ của Người)” (Lk 2:21). Bởi thế, ngày lễ hôm nay, một lễ có ư nghĩa đặc biệt về Thánh Mẫu, cũng vẫn có một nội dung sâu đậm về Kitô học, v́, chúng ta có thể nói, nó liên quan tới Người Con là Chúa Giêsu, Thiên Chúa thật và là Người thật, trước cả Người Mẹ nữa.
Tông Đồ Phaolô đă nói tới mầu nhiệm về vai tṛ làm mẹ thần linh của Mẹ Maria trong Thư ngài gửi tín hữu Galata. Ngài viết, “đến lúc thời điểm nên trọn, Thiên Chúa đă sai Con của Ngài, được hạ sinh bởi một người phụ nữ, được sinh ra theo lề luật “ (4:4). Chúng ta thấy mầu nhiệm Nhập Thể của Lời Thần Linh và vai tṛ Mẹ Thần Linh của Mẹ Maria được tóm gọn trong mấy chữ, đó là đặc ân trọng đại của Vị Trinh Nữ này chính là được làm Mẹ của Người Con là Thiên Chúa. Bởi thế, vị trí hợp lư nhất và thích đáng nhất của lễ Thánh Mẫu này là tám ngày sau Giáng Sinh. Thật vậy, vào đêm Bêlem, khi “Mẹ hạ sinh con trái đầu ḷng” (Lk 2:7), th́ các lời tiên tri liên quan đến Đấng Thiên Sai đă được nên trọn. “Vị trinh nữ sẽ thụ thai và hạ sinh một con trai”, tiên tri Isaia đă tiên báo (7:14): “Này đây, trinh nữ sẽ thụ thai và hạ sinh một con trai”, Thiên Thần Gabiên đă nói với Mẹ Maria như thế (Lk 1:31); chưa hết, một Thiên Thần Chúa, được Thánh Kư Mathêu thuật lại, đă xuất hiện với Thánh Giuse trong một giấc chiêm bao mà bảo đảm với ngài rằng: “Đừng sợ nhận Maria làm vợ ḿnh, v́ Đấng được thụ thai trong ḷng người là bởi Thánh Thần; người sẽ hạ sinh một con trai” (Mt 1:20-21).
Tước hiệu “Mẹ Thiên Chúa”, cùng với tước hiệu “Trinh Nữ Diễm Phúc”, là tước hiệu cổ nhất đưa đến tất cả mọi tước hiệu khác tôn kính Đức Mẹ, và là tước hiệu được tiếp tục kêu cầu từ đời nọ đến đời kia ở Đông phương cũng như Tây phương. Đầy giẫy những bài thánh ca và có cả một kho tàng kinh nguyện nơi truyền thống Kitô Giáo liên quan tới mầu nhiệm làm mẹ thần linh của Mẹ, chẳng hạn như câu tiền xướng Thánh Mẫu cho mùa Giáng Sinh được chúng ta nguyện cầu bằng những lời lẽ như sau: “Alma Redemptoris mater, Tu quae genuisti, natura mirante, tuum sanctum Genitorem, Virgo prius ac posterius – Hỡi Mẹ trinh nguyên, trước sự ngỡ ngàng của tất cả mọi tạo vật, Mẹ đă hạ sinh Đấng Hóa Công”. Anh chị em thân mến, hôm nay chúng ta hăy chiêm ngắm Mẹ Maria, Người Mẹ trinh nguyên của Người Con Cha Duy Nhất; chúng ta hăy học nơi Mẹ việc đón nhận Con Trẻ được sinh ra cho chúng ta ở Bêlem. Nếu chúng ta nhận ra nơi Con Trẻ được hạ sinh bởi Mẹ này Con Hằng Hữu của Thiên Chúa và chấp nhận Người là Đấng Cứu Thế duy nhất của chúng ta, chúng ta mới có thể được gọi và chúng ta mới thực sự là con cái của Thiên Chúa: là những người con nơi Người Con. Thánh Tông Đồ viết: “Thiên Chúa đă sai Con Ngài, được hạ sinh bởi người nữ, được sinh ra theo lề luật, để cứu chuộc những ai sống dưới lề luật, nhờ đó, chúng ta được thừa nhận là con cái” (Gal 4:4).
Thánh Kư Luca lập lại mấy lần rằng Đức Mẹ đă âm thầm suy niệm những biến cố phi thường này, những biến cố Thiên Chúa muốn Mẹ tham dự vào. Chúng ta cũng nghe thấy điều này trong đoạn Phúc Âm ngắn được Phụng Vụ chọn đọc cho chúng ta hôm nay: “Maria giữ tất cả những điều ấy mà ngẫm nghĩ trong ḷng” (Lk 2:19).
Động từ Hy Lạp sumbállousa, được sử dụng ở đây, theo nghĩa đen, nghĩa là “chấp nối lại với nhau” và làm cho chúng ta nghĩ về một mầu nhiệm cao cả được khám phá ra từ từ. Mặc dù Con Trẻ này nằm trong máng cỏ giống như tất cả mọi con trẻ khác trên thế giới, đồng thời Người lại hoàn toàn khác hẳn, ở chỗ Người là Con Thiên Chúa, Người là Thiên Chúa, là Thiên Chúa thật và là người thật. Mầu nhiệm này – mầu nhiệm Nhập Thể của Lời và mầu nhiệm Làm Mẹ thần linh của Đức Maria – là những ǵ cao cả và thật sự vượt xa tầm hiểu biết của nguyên trí khôn của con người.
Tuy nhiên, bằng việc học từ nơi Mẹ, chúng ta có thể hiểu bằng con tim của ḿnh những ǵ con mắt của chúng ta và trí khôn của chúng ta không thể tự ḿnh thấy được hay hiểu được. Thật vậy, đây là một tặng ân cao cả mà chỉ có đức tin chúng ta nhận lănh mới chấp nhận nó, trong khi chúng ta không hoàn toàn hiểu được nó. Và chính v́ cuộc hành tŕnh đức tin này mà Mẹ Maria đă đến gặp gỡ chúng ta như là hỗ trợ viên và hướng dẫn viên. Mẹ là Mẹ v́ Mẹ đă sinh ra Chúa Giêsu trong xác thịt; Mẹ là Mẹ v́ Mẹ hoàn toàn gắn bó với ư muốn của Chúa Cha. Thánh Âu Quốc Tinh đă viết: “Vai tṛ làm mẹ thần linh sẽ chẳng có giá trị đối với Mẹ nếu Chúa Kitô không cưu mang Mẹ trong ḷng của Người, một số phận c̣n hạnh phúc hơn là giây phút Mẹ cưu mang Người nơi xác thịt” (De Sancta Virginitate, 3, 3). Và trong ḷng của ḿnh, Mẹ Maria tiếp tục trân quí, “chắp nối với nhau” những biến cố sau đó Mẹ được chứng kiến và đóng vai chính, ngay cả cái chết trên Thập Giá và cuộc Phục Sinh của Chúa Giêsu Con Mẹ.
Anh chị em thân mến, chỉ bằng việc ngẫm nghĩ trong ḷng, tức là bằng việc chắp nối lại với nhau và t́m cách liên kết tất cả những ǵ chúng ta cảm nghiệm thấy, mà, khi noi theo Mẹ Maria, chúng ta mới có thể đi sâu vào mầu nhiệm của một Vị Thiên Chúa làm người v́ yêu thương và là Đấng kêu gọi chúng ta theo Người trên con đường yêu thương: một t́nh thương yêu được thể hiện hằng ngày bằng việc quảng đại phục vụ anh chị em của ḿnh. Chớ ǵ tân niên này mà chúng ta đang tin tưởng bắt đầu hôm nay đây trở thành một thời gian gia tăng kiến thức của cơi ḷng là đức khôn ngoan của các vị thánh nhân. Chún g ta hăy nguyện cầu, khi chúng ta nghe thấy trong Bài Đọc Thứ Nhất rằng Chúa “tỏ rạng dung nhan cũa Ngài” trên chúng ta, “và tỏ ḷng ưu ái” chúng ta (x Num 6:24-7), cùng chúc lành cho chúng ta. Chúng ta có thể tin tưởng như thế, nếu chúng ta không bao giờ thôi t́m kiếm dung nhan của Ngài, nếu chúng ta không bao giờ lùi bước trước thất đảm và ngờ vực , nếu trong nhiều khốn khó gặp phải chúng ta luôn gắn bó với Ngài, chúng ta sẽ cảm nghiệm thấy quyền năng t́nh yêu của Ngài và t́nh thương của Ngài. Chớ ǵ Con Trẻ mềm yếu hôm nay được Đức Trinh Nữ tỏ cho thế giới thấy làm cho chún g ta thành những con người xây dựng ḥa b́nh, thành những nhân chứng của Người, Vị Hoàng Tử Ḥa B́nh. Amen!
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh
(những chỗ được in đậm lên là do tự ư của người dịch trong việc làm nổi bật những điểm chính yếu quan trọng)