BÀI GIẢNG NĂM 2008 CỦA ĐỨC THÁNH CHA BIỂN ĐỨC XVI
Bài Giảng Lễ Hiện Xuống Ở Quảng Trường Thánh Phêrô 11/5
Bài Giảng Lễ Giỗ 3 Năm ĐTC Gioan Phaolô II 2/4
Bài Giảng Chúa Nhật Lễ Lá 16/3
Cảm Nghiệm Hoán Cải của Thánh Phaolô với chủ đề “Không Ngừng Cầu Nguyện” 25/1
"Với Chúa Giêsu Kitô, phúc lành của Anbraham đã được vươn tới tất cả mọi dân nước" 6/1
"Hỡi Mẹ trinh nguyên, trước sự ngỡ ngàng của tất cả mọi tạo vật, Mẹ đã hạ sinh Đấng Hóa Công” 1/1
Đức Thượng Phụ và Các Vị Đại Biểu Huynh Đệ,
Chư Vị Hồng Y,
Chư Huynh Khả Kính trong Hàng Giám Mục và Linh Mục,
Anh Chị Em thân mến,
Chúng ta qui tụ lại trước mộ Thánh Phaolô, vị đã được sinh ra 2 ngàn năm trước ở Tarsus xứ Cilicia thuộc Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay. Phaolô này là ai? Trong đền thờ Gia Liêm, trước một đám đông hùng hổ muốn giết mình, ngài đã tự giới thiệu mình như thế này: ‘Tôi là một người Do Thái, sinh ở Tarsus xứ Cilicia, thế nhưng được giáo dục ở thành phố này, được hấp thụ giáo huấn của Gamaliel trong việc tuân giữ chính xác Lề Luật của cha ông chúng ta; tôi hết sức nhiệt tình với Thiên Chúa’. Ở vào cuối cuộc hành trình của mình, ngài đã nói về mình như sau: ‘Tôi đã được trở thành một người rao giảng tin mừng và tông đồ, là thày dạy Dân Ngoại về đức tin và về chân lý’.
Vì là Bậc Thày của Dân Ngoại, là vị tông đồ và là người rao giảng Chúa Giêsu Kitô, ngài đã tự phản tỉnh về cuộc đời của mình như thế. Tuy nhiên, ngài đã không chỉ nhìn lại quá khứ. Cụm từ ‘Vị Thày của Dân Ngoại’ là những lời lẽ hướng về tương lai mà chúng ta trân trọng nhắc lại nơi đây. Cả đối với chúng ta nữa, ngài là vị sư phụ, là vị tông đồ và là người rao giảng tin mừng của Chúa Giêsu Kitô.
Bởi thế, chúng ta qui tụ lại nơi đây không phải để nghĩ về quá khứ, một quá khứ trổi vượt bất khả đổi thay. Thánh Phaolô muốn nói với chúng ta ngày nay nữa. Đó là lý do tại sao tôi muốn triệu tập ‘Năm Thánh Phaolô’ đặc biệt này để lắng nghe ngài và uống từ ngài là vị thày của chúng ta về nièm tin và chân lý, về những gì được bắt nguồn sâu xa cho mối hiệp nhất giữa thành phần môn đệ Chúa Kitô. Theo chiều hướng ấy, tôi muốn thắp lên – cho hai ngàn năm sinh nhật của vị tông đồ này – một ‘Ngọn Lửa Phaolô’ đặc biệt, một ngọn lửa vẫn tỏa sáng cho cả năm nay, tại một hốc tường đặc biệt ở mái cổng đền thờ đây. Để long trọng cử hành biến cố này, tôi cũng đã mở cái gọi là Cửa Thánh Phaolô, qua đó, tôi đã tiến vào đền thờ này với sự đồng hành của đức thượng phụ Constantinople, vị hồng y tổng tư tế và các vị giáo quyền khác.
Đối với tôi thì niềm vui sâu xa là ở chỗ việc khai mạc năm Thánh Phaolô này mang một đặc tính đại kết đặc biệt, với sự hiện diện của nhiều vị đại biểu và đại diện của các Giáo Hội và các cộng đồng giáo hội khác, những vị tôi hết lòng hân hoan đón mừng. Trước hết tôi gửi lời chào Đức Thượng Phụ Bartholomew I cùng các phần tử thuộc phái đoàn đại biểu đi theo với ngài, cũng như một nhóm đông đảo giáo dân từ một số nơi trên thế giới về Rôma để tham dự vào giây phút nguyện cầu và suy nghĩ này với ngài và với tất cả chúng ta. Tôi gửi lời chào các vị đại biểu huynh đệ thuộc các Giáo Hội có những liên hệ đặc biệt với Tông Đồ Phaolô – Giêrusalem, Antiokia, Cyprus và Hy Lạp – những nơi làm nên môi trường về địa dư cho đời sống của vị tông đồ này trước khi ngài tới Rôma. Tôi thân ái gửi lời chào những người anh em thuộc các Giáo Hội khác nhau và các cooing đồng giáo hội khác ở cả Đông lẫn Tây, cùng với tất cả anh chị em tôi muốn tham dự vào việc long trọng khai mạc năm được giành cho Các Vị Tông Đồ Dân Ngoại.
Bởi thế, chúng ta qui tụ lại đây để tự hỏi mình về vị đại tông đồ Dân Ngoại này. Không phải chúng ta đặt vấn đề ‘Thánh Phaolô đã là ai nhỉ?’. Trước hết, chúng ta hỏi mình rằng ‘Thánh Phaolô đang là ai đây?’, ‘Ngài đang nói gì với tôi nhỉ?’ Vào giây phút mở màn cho năm Thánh Phaolô được chúng ta khai mạc đây, tôi muốn chọn ba đoạn chứng từ phong phú của Tân Ước là những gì cho chúng ta thấy được chân tướng nội tại đặc biệt về tính chất của ngài.
Trong Bức Thư gửi giáo đoàn Galata, ngài đã cống hiến cho chúng ta một bản tuyên xưng đức tin của bản thân ngài, trong đó ngài mở lòng mình ra cho độc giả ở mọi thời đại và cho thấy những gì là nguồn mạch sâu xa nhất của đời sống ngài: ‘Tôi sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa là Đấng đã yêu thương tôi và hiến mình cho tôi’. Tất cả những gì Thánh Phaolô làm đều được bắt đầu từ tâm điểm ấy. Đức tin của ngài là cảm nghiệm đưoơc Chúa Giêsu Kitô yêu thương một cách hoàn toàn riêng tư; nó là nhận thức về sự kiện Chúa Kitô đã chấp nhận chết đi không phải cho một cái gì đó vô danh mà là vì yêu thương ngài, yêu thương Thánh Phaolô, và sự kiện là, khi sông lại, Chúa Kitô vẫn yêu thương ngài, đã hiến mình cho ngài. Đức tin của ngài đã được tình yêu của Chúa Giêsu Kitô chiếm đoạt, một tình yêu chi phối bản thể sâu xa nhất của ngài và biến đổi ngài. Đức tin của ngài không phải là một thứ lý thuyết, một chọn lựa Thiên Chúa hay trần gian. Đức tin của ngài là âm vang của tình yêu Thiên Chúa nơi tâm can của ngài. Bởi vậy mà chính đức tin ấy là tình yêu thương Chúa Giêsu Kitô.
Đối với nhiều người thì Thánh Phaolô tỏ ra như là một con người hiếu chiến, biết cách sử dụng gươm giáo ngôn từ. Thật vậy, trên con đường làm tông đồ của ngài đã không thiếu những cuộc tranh cãi. Ngài đã không tìm kiếm một thứ hòa hợp hời hợt nông cạn. Trong bức thư thứ nhất của mình gửi cho giáo đoàn Thessalonica, chính ngài đã nói rằng: ‘Chúng tôi lấy can đảm trong Chúa để tuyên bố cùng anh chị em rằng Phúc Âm của Thiên Chúa đang gặp phải chống đối mạnh mẽ…. Vì chúng tôi chưa bao giờ dùng những lời lẽ xu nịnh, như anh chị em biết, hay che đậy lòng tham lam’. Đối với ngài sự thật này quá ư là cao cả để vì muốn được thành đạt bề ngoài mà sẵn sàng chấp nhận hy sinh nó đi. Sự thật này ngài đã cảm nghiệm được nơi việc ngài gặp gỡ với Đấng Phục Sinh xứng với những gì ngài phải đối chọi, bị bách hại và chịu khổ đau. Tuy nhiên, cái tác động ngài ở tận thâm cung con người của ngài đó là ngài được Chúa Giêsu Kitô yêu thương và ngài ước muốn truyền đạt tình yêu này cho người khác. Thánh Phaolô là một con người đã có thể yêu, và tất cả mọi hoạt động cùng khổ đau của ngài đều được sáng tỏ từ trung tâm điểm này.
Những quan điểm tiềm ẩn việc loan báo của ngài chỉ có thể hiểu khi căn cứ vào nền tảng đó. Chúng ta chỉ cần lấy một trong những lời chính yếu của ngài đó là tự do. Cái cảm nghiệm được Chúa Kitô yêu thương cho đến cùng đã làm cho mắt ngài mở ra về sự thật và con đường của việc con người hiện hữu; cái cảm nghiệm ấy đã bao hàm hết mọi sự. Thánh Phaolô sống tự do như là một con người được Thiên Chúa yêu thương, mà bởi Thiên Chúa, ngài đã có thể yêu thương cùng với Người. Tình yêu này giờ đây là ‘luật’ cho đời sống của ngài, và chính vì thế, đã là tự do cho đời sống của ngài. Ngài nói năng và tác hành, đều được tác động bởi trách nhiệm yêu thương; ngài được tự do, và vì ngài là con người yêu thương, ngài sống hoàn toàn theo trách nhiệm của tình yêu thương này và không lấy tự do để làm bình phong cho khoái lạc và cái tôi. Ai yêu mến Chúa Kitô như Thánh Phaolô đã mến yêu Người thì có thể thực sự làm được những gì họ muốn, vì tình yêu của họ được liên kết với ý muốn của Chúa Kitô, và vì thế, được liên kết với ý muốn của Thiên Chúa, vì ý muốn của họ được gắn chặt vào chân lý, và vì ý muốn của họ không chỉ là ý muốn của họ nữa, một thứ toàn quyền của cái tôi tự động của họ, mà được đồng nhất với tự do của Thiên Chúa, nhờ đó nó thấy được đường lối để theo.
Trong việc tìm kiếm chân tướng nội tại của Thánh Phaolô, sau nữa, tôi muốn nhắc lại lời Chúa Kitô Phục Sinh đã nói với ngài trên đường đi Damasco. Trước đó Chúa đã hỏi ngài rằng: ‘Saulê, Saulê, tại sao ngươi lại bắt bớ Ta?’ Ngài đã trả lời rằng: ‘Lạy Chúa, Chúa là ai?’ Và ngài đã nhận được câu trả lời rằng: ‘Ta là Giêsu, Đấng đang bị ngươi bắt bớ’. Thánh Phaolô bấy giờ đang bắt bới chính Chúa Giêsu khi bắt bớ Giáo Hội. ‘Ngươi đang bắt bới Ta’.
Chúa Giêsu đồng hóa mình với Giáo Hội như là một chủ thể duy nhất. Trong câu than này của Đấng phục sinh – một câu làm biến đổi cuộc đời của Saulê – chất chứa toàn thhể giáo huấn về Giáo Hội là Thân Thể Chúa Kitô. Chúa Kitô đã không về Trời, bỏ lại một nhóm môn đồ trong việc thi hành lý tưởng của Người. Giáo Hội không phải là một hiệp hội muốn cổ võ một lý tưởng nào đó. Vấn đề ở đây không phải là lý tưởng. Vấn đề về con người Chúa Giêsu Kitô, Đấng Phục Sinh mà vẫn còn ‘xác thịt’. ‘Người có xương có thịt’. Đấng Phục Sinh đã khẳng định như thế trong Phúc Âm Thánh Luca, trước mặt các môn đệ bấy giờ cứ nghĩ Người là ma. Người có một thân thể. Ngài đích thân hiện diện nơi Giáo Hội. Thánh Âu Quốc Tinh nói: ‘Đầu và Thân’ làm nên một chủ thể duy nhất. Thánh Phaolô đã viết cho giáo doàn Côrintô rằng: ‘Anh chị em không biết rằng thân thể của anh chị em là những phần thể của Chúa Kitô hay sao?’ rồi ngài thêm ‘rằng người nam và người nữ trở nên một xác thịt theo Sách Khởi Nguyên hay sao?’
Vậy Chúa Kitô trở nên một tinh thần với những gì là của Người, một chủ thể duy nhất trong một thế giới mới của sự phục sinh. Tất cả những điều này cho thấy tỏ hiện mầu nhiệm Thánh Thể là mầu nhiệm Chúa Kitô liên lỉ hiến Thân Mình của Người và làm cho chúng ta nên một Thân Thể: ‘Không phải tấm bánh chúng ta bẻ ra là mối hiệp thông với thân thể của Chúa Kitô hay sao? Vì, dù nhiều người, chúng ta cũng chỉ có một tấm bánh duy nhất và một thân thể duy nhất, khi tất cả chúng ta cùng thông phần một tấm bánh’.
Ngài ngỏ cùng chúng ta những lời này, ở vào lúc này đây, không phải là Thánh Phaolô nói mà là chính Chúa nói: ‘Làm sao các con lại có thể làm rách nát Thân Thể của Thày?’ Trước dung nhan Chúa Kitô, câu hỏi này đồng thời cũng trở thành một lời kêu gọi khẩn trương, đó là từ tất cả mọi thứ phân chia của chúng ta hãy cùng nhau qui tụ lại. Hãy làm cho điều này trở thành thực tại một lần nữa hôm nay đây: đó là thực tại chỉ có một tấm bánh duy nhất; bởi thế, chúng ta, dù nhiều, cũng chỉ là một thân thể.
Đối với Thánh Phaolô thì tiếng Giáo Hội là Thân Thể của Chúa Kitô không phải chỉ là một thứ suy loại. Nó vượt lên trên những gì là sánh ví nữa. ‘Tại sao người bắt bớ Ta?’
Chúa Kitô đang liên tục thu hút chúng ta đến với Thân Thể của Người, Người xây dựng Thân Thể của Người từ trung tâm điểm Thánh Thể, một trung tâm điểm mà đối với Thánh Phaolô là tâm điểm của việc Kitô giáo hiện hữu, nhờ đó, tất cả mọi người, cũng như từng người có thể cảm nghiệm được một cách hoàn toàn riêng tư rằng: ‘Người đã yêu thương tôi và hiến mình cho tôi’.
Tôi muốn kết thúc bằng một lời sau này của Thánh Phaolô, một lời huấn dụ cho Timôthêu từ trong ngục tù, trước khi chết. Vị tông đồ này đã nói với người môn đệ của mình rằng: ‘Con hãy cùng thày chịu đựng các khổ đau vì Phúc Âm’. Câu này, một câu nói ở cuối con đường được vị tông đồ này trải qua, như là một chứng từ, dẫn chúng ta trở về với thuở ban đầu của việc ngài truyền giáo. Trong lúc Thánh Phaolô bị mù lòa ở trong căn phòng của mình tại Damascô sau cuộc gặp gỡ Đấng Phục Sinh, thì Ananias được lệnh đi đến nơi đang ở của tay bách hại ghê sợ này mà đặt tay trên anh ta để anh ta được phục quang.
Trước lời chống đối của Ananias cho rằng tên Saulê là một tay bách hại Kitô hữu nguy hiểm thì ông đã được trả lời rằng: ‘Con người này cần phải mang danh của Ta đến cho các Dân Ngoại, cho các vua chúa và cho con cái Yến Duyên. Ta sẽ tỏ cho hắn biết tất cả những gì hắn sẽ phải chịu đựng vì danh Ta’.
Việc loan truyền và tiếng gọi khổ đau vì Chúa Kitô là những gì đi với nhau bất khả phân ly. Tiếng gọi là thày dạy Dân Ngoại đồng thời và tự bản chất cũng là tiếng gọi chịu khổ đau trong mối hiệp thông với Chúa Kitô, Đấng đã cưứ chuộc chúng ta bằng cuộc khổ nạn của Người. Trong một thế giới mà dối trá là một mãnh lực thì sự thật là giá cần phải trả bằng khổ đau. Ai muốn tránh né khổ đau, tránh cho xa đau khổ, sẽ đẩy lui chính sự sống và sự cao cả của nó; họ không thể trở thành một người tôi tớ của chân lý và bởi thế không phải là một người tôi tớ của đức tin. Không có tình yêu nào mà lại không có đau khổ, không có khổ đau của việc chối bỏ bản thân mình, của việc biến đổi và thanh tẩy cái ‘tôi’ để được sống tự do chân thực.
Ở đâu không có gì đáng phải chịu đựng khổ đau thì chính sự sống cũng mất đi cái giá trị của mình. Thánh Thể – trung tâm điểm của con người Kitô hữu chúng ta – được bắt nguồn từ hy tế của Chúa Giêsu vì chúng ta; Thánh Thể được xuất phát từ việc chịu đựng khổ đau của một tình yêu thương đạt đến tuyệt đỉnh của mình trên thập tự giá. Chúng ta sống bởi tình yêu tự hiến mình này. Tình yêu này cống hiến cho chúng ta lòng can đảm và sức mạnh để chịu đựng với Chúa Kitô và cho Người, nhờ đó thấy được rằng chính vì thế mà sự sống của chúng ta mới trở nên cao cả, chín mùi và chân thực.
Theo chiều hướng của tất cả những bức thư của Thánh Phaolô chúng ta thấy ngài đã hành trình ra sao với tư cách là một bậc thày dạy của Dân Ngoại, đã thấy lời tiên tri của Ananias được nên trọn vào thời điểm ngài được kêu gọi: ‘ Ta sẽ tỏ cho hắn biết tất cả những gì hắn sẽ phải chịu vì danh Ta’. Sự đau khổ của ngài làm cho ngài trở thành khả tín với tư cách là vị thày dạy chân lý, một vai trò không tìm kiếm lợi ích riêng, vinh quang riêng hay hay thỏa mãn cá nhân, mà là dấn thân cho Đấng đã yêu thương chúng ta và hiến mình vì tất cả chúng ta.
Ở vào lúc chúng ta cảm tạ Chúa vì Người đã kêu gọi Thánh Phaolô, làm cho ngài trở thành ánh sáng Dân Ngoại và là thày dạy của tất cả chúng ta đây, chúng ta hãy nguyện cầu xin ban cho cả chúng con hôm nay đây chứng từ Phục Sinh được tình yêu Chúa chạm tới, và hãy làm cho chúng con có thể chiếu tỏa ánh sáng Phúc Âm trong thời đại của chúng con. Hỡi Thánh Phaolô, xin cầu cho chúng tôi. Amen.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 30/6/2008
(những chỗ được in đậm lên là do tự ý của người dịch trong việc làm nổi bật những điểm chính yếu quan trọng)
Bài Giảng Lễ Hiện Xuống Ở Quảng Trường Thánh Phêrô 11/5/2008
"Nơi biến cố Hiện Xuống, Giáo Hội không được cấu tạo nên bởi ý muốn của con người, mà là bởi quyền lực của Thần Linh Thiên Chúa"
Anh Chị Em thân mến,
Trình thuật về biến cố Hiện Xuống chúng ta vừa nghe trong bài đọc thứ nhất được Thánh Luca đặt vào đầu Sách Tông Vụ. Chương thứ hai được dẫn nhập bằng những chữ này: ‘Đến ngày Lễ Ngũ Tuần, tất cả họ đều tề tụ lại ở một nơi’ (2:1). Những lời này liên quan tới chương trước được Thánh Luca diễn tả là có một nhóm nhỏ các môn đệ siêng năng họp nhau lại ở Gia Liêm sau khi Chúa Giêsu thăng thiên (x Acts 1:12-14). Nó là một diễn tả đầy những chi tiết: nơi mà ‘các vị sống’ – nhà tiệc ly – là môi trường của ‘căn thượng lầu’; 11 vị tông đồ được liệt kê danh sách đàng hoàng, mà đầu tiên là Phêrô, Gioan và Gicôbê, ‘các trụ cột’ của cộng đồng này, đã được tháp nhập vào gia đình mới ấy, không còn căn cứ vào mối liên hệ gia đình mà vào niềm tin tưởng nơi Chúa Kitô.
Tất cả số người, ‘khoảng 120’, gia tăng từ 12 tông đồ đoàn, rõ ràng là một dạo khúc cho một thứ ‘tân Yến Duyên’ này. Nhóm người này cấu tạo nên một thứ ‘qāhāl’ thực sự, một cộng đồng theo mẫu thức của giao ước ban đầu, một cộng đồng được triệu tập theo tiếng gọi của Chúa Kitô để bước đi theo đường lối của Người. Sách Tông Vụ nhấn mạnh rằng ‘tất cả họ đều sốt sắng đồng tâm nhất trí nguyện cầu’ (1:14). Bởi thế, cầu nguyện là hoạt động chính yếu của Giáo Hội sơ khai. Chính nhờ nguyện cầu mà Giáo Hội lãnh nhận được mối hiệp nhất của mình từ Chúa Kitô và để cho mình được ý muốn của Người hướng dẫn, như được thấy nơi quyết định chọn người thế chỗ cho Giuđa (x Acts 2:25).
Cộng đồng này qui tụ lại ở cùng một địa điểm là nhà tiệc ly, vào buổi sáng Lễ Ngũ Tuần của dân Do Thái, một lễ về giao ước để tưởng nhớ biến cố ở Núi Sinai là nơi qua Moisen Thiên Chúa muốn dân Yến Duyên là sở hữu của Ngài giữa chư dân, là dấu chỉ thánh thiện của Ngài (x Ex 19). Theo Sách Xuất Hành, giao ước cổ kính ấy được Chúa kèm theo bằng một dấu hiệu kinh hoàng, như người ta đọc thấy là ‘Núi Sinai được phủ khói, vì Chúa ngự xuống đó trong lửa cháy. Khói bốc lên từ đó như từ một lò lửa, và toàn thể ngọn núi rung chuyển mãnh liệt’ (Ex 19:18).
Chúng ta lại những yếu tố gió và lửa ở biến Hiện Xuống của Tân Ước nhưng không có tính cách sợ hãi. Đặc biệt là lửa có hình cái lưỡi ở trên đầu tất cả các vị môn đệ, ‘tất cả được tràn đầy Thánh Linh’, và b ởi cuộc tuôn đổ này, ‘bắt đầu nói các thứ ngôn ngữ khác’ (Acts 2:4). Chúng ta thấy ở đây ‘phép rửa’ bằng lửa thật sự của cộng đồng này, một loại tân tạo. Nơi biến cố Hiện Xuống, Giáo Hội không được cấu tạo nên bởi ý muốn của con người, mà là bởi quyền lực của Thần Linh Thiên Chúa. Và Giáo Hội lập tức hiện lên cho thấy vị Thần Linh này thông ban sự sống cho một cộng đồng cùng một lúc duy nhất lại công giáo, nhờ đó vượt qua được cái khốn nạn của Tháp Babel (x Jn 11:7-9). Thật vậy, chỉ có Vị Thần Linh này mới tạo nên mối hiệp nhất trong yêu thương và bằng việc chấp nhận tính chất đa dạng của nhau, mới có thể giải thoát nhân loại khỏi tình trạng liên lỉ căng thẳng của một thứ ý muốn trần gian tham vọng quyền bính muốn thống trị và làm cho hết mọi sự thành đồng nhất.
"Giáo Hội vốn là ‘công giáo’, hoàn vũ, nơi chính tác động được hạ sinh của mình."
Tôi xin suy niệm một khía cạnh đặc biệt về Chúa Thánh Thần, về mối thắt kết giữa tính cách đa dạng và hiệp nhất. Bài đọc thứ hai nói tới vấn đề này, bàn về việc hòa hợp giữa những đặc sủng khác nhau trong mối hiệp thông của cùng một Vị Thần Linh. Thế nhưng, ngay trong đoạn Sách Tông Vụ chúng ta đã nghe thì mối thắt kết này đã được thấy một cách tỏ tường với một chứng cớ đặc biệt. Trong biến cố Hiện Xuống rõ ràng là rất nhiều thứ ngôn ngữ và nền văn hóa khác nhau đều thuộc về Giáo Hội; những thứ ngôn ngữ và văn hóa này có thể hiểu và làm cho nhau sinh hoa kết trái. Thánh Luca minh nhiên muốn chuyên chở một ý nghĩ nồng cốt, tức là Giáo Hội vốn là ‘công giáo’, hoàn vũ, nơi chính tác động được hạ sinh của mình. Giáo Hội nói tất cả mọi thứ tiếng ngay từ ban đầu, vì Phúc Âm được ký thác cho Giáo Hội là để cho tất cả mọi dân tộc, theo ý muốn và lệnh truyền của Chúa Kitô phục sinh (x Mt 28:19). Giáo Hội được hạ sinh vào Ngày Lễ Hiện Xuống trước hết không phải là một cộng đồng riêng biệt nào – như Giáo Hội ở Giêrusalem chẳng hạn – mà là Giáo Hội hoàn vũ, một Giáo Hội nói được ngôn ngữ của tất cả mọi dân tộc. Từ Giáo Hội hoàn vũ này mà các cooing đồng khác ở hết mọi nơi trên thế giới được hạ sinh, các Giáo Hội riêng tất cả đều luôn luôn hiện thực hóa của Giáo Hội duy nhất này của Chúa Kitô. Bởi thế, Giáo Hội Công Giáo không phải là một liên hiệp chư giáo hội, mà là một thực thể duy nhất: Giáo Hội hoàn vũ nổi bật về bản thể học. Một cộng đồng không phải là công giáo theo ý nghĩa này thì thậm chí không phải là một Giáo Hội.
Về vấn đề này can phải thêm một khía cạnh nữa, đó là khía cạnh nhãn quan thần học của Sách Tông Vụ liên quan tới cuộc hành trình của Giáo Hội từ Gia Liêm tới Rôma. Thánh Luca ghi nhận là trong số thành phần dân chúng tiêu biểu ở Gia Liêm vào ngày Lễ Ngũ Tuần cũng có cả ‘những người ngoại quốc ở Rôma’ (Acts 2:10). Vào lúc bấy giờ thì Rôma vẫn là những gì xa cách, là ‘ngoại quốc’ đối với Giáo Hội sơ sinh: Nó là một tiêu biểu cho thế giới dân ngoại nói chung. Thế nhưng, quyền năng của Chúa Thánh Thần sẽ hướng dẫn bước chân của các vị chứng nhân ‘đến tận cùng trái đất’ (Acts 1:8), đến Roma. Sách Tông Vụ được kết thúc ngay khi Thánh Phaolô, theo quan phòng thần linh, đến thủ đô của đế quốc này và loan báo Phúc Âm ở đó (x Acts 28:30-31). Bởi thế, cuộc hành trình của Lời Chúa, được bắt đầu ở Gia Liêm, đang đạt tới đích điểm của mình, vì Rôma tiêu biểu cho toàn thế giới và như thế làm hiện thực ý nghĩ về công giáo tính của Thánh Luca. Giáo Hội hoàn vũ được hiện thực, Giáo Hội công giáo, một giáo hội là sự liên tục của thành phần dân được tuyển chọn và lấy lịch sử và sứ vụ của họ làm của mình.
Đến đây, để kết thúc, Phúc Âm Thánh Gioan đã cống hiến cho chúng ta một lời, một lời rất ăn khớp với mầu nhiệm của Giáo Hội được Thần Linh kiến tạo. Lời này được Chúa Giêsu phục sinh nói tới hai lần khi Người hiện ra giữa các môn đệ ở Nhà Tiệc Ly vào đêm Phục Sinh: ‘Shalom – Bình an cho các con’ (Jn 20:19,21). Lời bày tỏ ‘shalom’ không phải là lời chào thuần túy; nó còn hơn như thế nữa: Nó là một tặng ân an bình được hứa hẹn (x Jn 14:27) và được Chúa Giêsu chiếm hữu bằng giá máu của Người, nó là hoa trái của cuộc chiến thắng này và của cuộc Người đối chọi với thần dữ. Bởi thế mà nó là thứ bình an ‘không như thế gian ban’ mà chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể ban cho thôi.
Trong ngày lễ của Thần Linh này của Giáo Hội chúng tax in cám ơn Chúa đã ban cho dân của Ngài, một dân được tuyển chọn và làm nên bởi tất cả mọi dân nước, tặng ân an bình vô giá này, tặng ân bình an của Người! Chúng ta cũng đồng thời canh tân ý thức về trách nhiệm liên hệ tới tặng ân này, đó là trách nhiệm của Giáo Hội liên tục là một dấu chỉ và là dụng cụ bình an của Thiên Chúa đối với tất cả mọi dân tộc. Tôi đã cố gắng làm người chuyển đạt sứ điệp này khi tôi mới tới tổng hành dinh của Liên Hiệp Quốc để nói với các v ị đại diện chư quốc. Thế nhưng, người ta không chỉ nghĩ đến ‘những thượng đỉnh’ này. Giáo Hội hiện thực dịch vụ cho hòa bình của Chúa Kitô trước hết nơi sự hiện diện và hoạt động bình thường của mình giữa con người, bằng việc giảng dạy Phúc Âm cũng như bằng các dấu hiệu yêu thương và tình thương kèm theo đó (x Mt 16:20).
"Bình an của Chúa Kitô chỉ lan tỏa tới các tâm hồn canh tân của thành phần nam nữ được hòa giải "
Trong số những dấu hiệu ấy, bí tích hòa giải tất nhiên cần phải được đề cao nhấn mạnh, một bí tích được Chúa Kitô phục sinh thiết lập cùng một lúc khi Người ban cho các vị tông đồ tặng ân bình an của Người và Thần Linh của Người. Như chúng ta đã nghe trong đoạn Phúc Âm này thì Chúa Giêsu đã thở hơi trên các môn đệ của Người mà phán: ‘Các con hãy lãnh nhận Thánh Linh; các con tha tội cho ai thì tội người ấy được thứ tha và các con cầm tội ai thì tội người ấy bị cầm lại’ (Jn 20:21-23). Quan trọng biết bao, mà tiếc thay, thiếu hiểu biết chừng nào tặng ân hòa giải mang lại an bình cho tâm hốn này! Bình an của Chúa Kitô chỉ lan tỏa tới các tâm hồn canh tân của thành phần nam nữ được hòa giải và biến mình thành những người tôi tớ của công lý, sẵn sàng truyền bá bình an trên thế giới bằng duy quyền lực của chân lý, không thỏa hiệp với tâm thức của thế gian, vì thế gian không thể ban thứ bình an này của Chúa Kitô: Đó là cách thức Giáo Hội có thể là một thứ men của mối hòa giải xuất phát từ Thiên Chúa. Giáo Hội có thể làm điều này nếu Giáo Hội tiếp tục tỏ ra đơn sơ dễ dạy với Thần Linh và làm chứng cho Phúc Âm, chỉ khi nào Giáo Hội vác thập giá như Chúa Giêsu và với Chúa Giêsu. Đó chính là những gì các thánh nhân qua mọi thời đại minh chứng vậy!
Anh chị em thân mến, theo chiều hướng của lời sự sống này, chớ gì lời nguyện cầu hôm nay chúng ta dâng lên Thiên Chúa trong mối hiệp nhất thiêng liêng với Trinh Nữ Maria trở nên sốt sắng và thiết tha hơn bao giờ hết. Chớ gì Vị Trinh Nữ là vị lắng nghe, Mẹ của Giáo Hội, xin cho cộng đồng của chúng ta cũng như tất cả mọi Kitô hữu một cuộc tuôn đổ mới Thánh Linh Đấng An Ủi. ‘Emitte Spiritum tuum et creabuntur, et renovabis faciem terrae – Xin sai Thần Linh Chúa đến thì mọi sự sẽ được tái tạo và Ngài sẽ canh tân bộ mặt trái đất’. Amen.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 11/5/2008
(những chỗ được in đậm lên là do tự ý của người dịch trong việc làm nổi bật những điểm chính yếu quan trọng)
Bài Giảng Lễ Giỗ 3 Năm ĐTC Gioan Phaolô II
Anh chị em thân mến
Ngày 2/4 đã trở nên sâu đậm trong ký ức của Giáo Hội như là ngày của Người
Tôi Tớ Chúa Gioan Phaolô II chào biệt thế giới này. Chúng ta hãy sống
lại cảm xúc của những giờ phút buổi chiều Thứ Bảy hôm ấy, khi mà tin tức của
việc ngài qua đời được nghe thấy bởi một đám rất đông dân chúng đang nguyện cầu
đầy ở Quảng Trường Thánh Phêrô. Trong vòng có ít ngày mà Đền Thờ Vatican
và Quảng Trường này đã thực sự trở nên tâm điểm của thế giới. Một giòng
người hành hương liên tục tuôn đến kính viếng thi hài của vị Giáo Hoàng đáng
kính và lễ an táng của ngài là một chứng từ cuối cùng cho thấy lòng quí
mến và cảm mến ngai đã chiếm được nơi tâm linh của rất nhiều tín hữu và dân
chúng ở khắp cùng trái đất.
Giống như 3 năm trước đây, cả đến ngày hôm nay nữa, mới chỉ sau một thời gian ngắn sau Phục Sinh. Trung tâm điểm của Giáo Hội đây lại cảm thấy mình chìm đắm trong mầu nhiệm phục sinh của Chúa Kitô. Thật vậy, chúng ta có thể giải thích cả cuộc đời của vị tiền nhiện thân yêu của tôi, đặc biệt là thức tác vụ thừa kế Thánh Phêrô của ngài, theo dấu hiệu của Chúa Kitô đã được phục sinh. Ngài đã cảm thấy một đức tin phi thường nơi Người, và cùng với Người, ngài đã giữ được một cuộc trao đổi thân tình, đặc biệt và liên lỉ. Trong số nhiều những tính chất nhân loại và siêu nhiên của mình, ngài có một cảm quan đặc biệt về tu đức và thần bí.
Chỉ cần thấy ngài cầu nguyện là đủ: Bề ngoài ngài chìm đắm trong Chúa và dường như mọi sự khác trong lúc ấy đều ở ngoài cuộc. Trong khi cử hành phụng vụ, ngài đã chú tâm tới mầu nhiệm đang diễn tiến, bằng một khả năng nhận định một cách nhậy bén cái tính chất sống động của lời Chúa tiến triển qua giòng lịch sử, khi tiến sâu vào dự án của Thiên Chúa. Như ngài thường hay nói, đối với ngài Thánh Lễ là tâm điểm của ngày sống và cả cuộc đời của ngài – thực tại “sống động và thánh hảo” Thánh Thể này đã hiến cho ngài nghị lực thiêng liêng trong việc hướng dẫn dân Chúa tiến bước trên con đường lịch sử.
Đức Gioan Phaolô II đã qua đời vào thời điểm vọng Chúa Nhật Thứ Hai Phục Sinh, “ngày Chúa làm nên”. Những quằn quại của cái chết đã xẩy ra vào “ngày” này, theo cái thời-không mới thì đó là “ngày thứ tám”, ngày được Ba Ngôi muốn qua công cuộc của Lời nhập thế, tử nạn và phục sinh. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II vào những trường hợp khác nhau đã cho thấy rằng, một cách nào đó, ngài đã chìm sâu vào chiều kích linh thiêng này trước đó, trong đời sống của ngài, nhất là trong việc làm trọn sứ vụ là Vị Giáo Chủ Tối Cao.
Giáo triều của ngài, nếu được tổng hợp lại và qua nhiều thời khắc đặc biệt, cho chúng ta thấy như là một dấu hiệu và chứng từ của việc Chúa Kitô phục sinh. Chiều kích vượt qua ấy, một chiều kích làm cho cuộc sống của Đức Gioan Phaolô trở thành một đáp ứng hoàn toàn cho tiếng gọi của Chúa, không thể được tỏ hiện mà không tham phần vào những khổ đau và cái chết của Vị Sư Phụ thần linh và là Đấng Cứu Chuộc. Tông Đồ Phaolô đã nói: “Đây là điều đáng tin tưởng, đó là nếu chúng ta đã chết với Người thì chúng ta sẽ sống với Người; nếu chúng ta kiên trì chúng ta cũng sẽ hiển trị với Người” (2Tim 2:11-12).
(Nhận định trên đây của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI về “chiều kích Vượt Qua”, cũng như dưới đây về tính cách sống với Chúa Kitô như Mẹ Maria và nhờ Mẹ Maria, của Đức Gioan Phaolô II, người dịch này chẳng những cảm thấy rất chí lý mà cũng cảm thấy rất hân hạnh vì đã có cùng một cảm nhận như ngài khi xuất bản tác phẩm “Đức Gioan Phaolô II: Sống Là Chúa Kitô – Chết là Vinh Thắng” – Phil 1:21 vào cuối tháng 4/2005, cùng một lúc với tác phẩm bày tỏ cảm nhận của mình về vị tân giáo hoàng đương kim: “Giáo Hoàng Biển Đức XVI – Vị Giáo Hoàng của Hiệp Nhất Kitô Giáo và Cho Một Tân Âu Châu”. Trong bài huấn từ trước Kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng hôm 30/3/2008, Chúa Nhật 2 Phục Sinh, Lễ Kính Lòng Thương Xót Chúa, ĐTC Biển Đức còn nhận định về Đức Gioan Phaolô II tiền nhiệm của ngài rằng: “Như Thánh Faustina, Đức Gioan Phaolô II cũng đã trở thành một vị tông đồ của lòng thương xót thần linh. Vào đêm Thứ Bảy 2/4/2005 không thể quên được ấy, khi ngài vĩnh viễn lìa đời thì chính là thời điểm lễ vọng Chúa Nhật Thứ Hai Phục Sinh đã được cử hành, và nhiều người nhận định thấy sự trùng hợp đặc thù này, một sự trùng hợp giữa chiều kích Thánh Mẫu là ngày Thứ Bảy Đầu Tháng và chiều kích lòng thương xót thần linh”. Trong cuốn “Đức Gioan Phaolô II: Sống Là Chúa Kitô – Chết là Vinh Thắng”, ở những giòng cuối cùng kết thúc cuốn sách, trang 267, tôi đã chia sẻ cảm nhận như sau: “Tóm lại, … Đức Gioan Phaolô II … đã luôn kêu gọi con người đừng sợ mà hãy mở cửa cho Chúa Kitô, nghĩa là hãy tin vào Lòng Thương Xót Chúa… Thế nhưng, để được như vậy, để nhân loại có thể ‘chấp nhận Lòng Thương Xót Chúa’, Giáo Hội nói chung và vị tân giáo hoàng nói riêng, phải trở thành Tông Đồ của Lòng Thương Xót Chúa, nhờ ‘việc chiêm ngưỡng mầu nhiệm vĩ đại của tình yêu nhân hậu xuất phát từ thánh tâm Chúa Giêsu này bằng ánh mắt của Mẹ Maria’”. Rõ ràng nhất là trong tác phẩm “Sống Thánh Chứng Nhân – Fatima Đạo Binh Dàn Trận”, do Phong Trào Thế Giới Tông Đồ Fatima Việt Nam xuất bản năm 2006, ở trang 253, tôi đã cảm nhận như sau: “Phải nói rằng, nơi con người đặc biệt này kết tụ cả thời điểm Thánh Mẫu và Thánh Tâm này, một con người vì thế đã qua đời vào Ngày Thứ Bảy Đầu Tháng [vốn là ngày Thánh Mẫu hằng tháng kính Mẹ], áp Lễ Chúa Tình Thương, nghĩa là được nghỉ ngơi đời đời trong Chúa nơi lòng Mẹ, rất thích hợp với khẩu hiệu “Totus Tus” của ngài, một khẩu hiệu nói lên linh đạo ‘Nhờ Mẹ đến với Chúa’ của ngài”).
Từ thuở nhỏ, Đức Karol Wojtyla đã cảm nghiệm được chân lý của những lời ấy, khi thấy được thập tự giá trên con đường của mình, trong gia đình của mình, với dân tộc của mình. Ngài đã sớm quyết định vác thập giá bên Chúa Giêsu, theo bước chân của Người. Ngài muốn là người tôi tớ trung thành của Người cho đến độ tiếp nhận ơn gọi làm linh mục như là một tặng ấn và là một cuộc dấn thân suốt cuộc đời của ngài. Với Người, ngài đã sống, và cùng với Người ngài đã muốn được chết đi. Ngài đã làm tất cả những điều này nhờ trung gian đặc thù của Mẹ Maria rất thánh là Mẹ của Giáo Hội, Mẹ của Đấng Cứu Chuộc, người Mẹ đã sâu xa và thực sự liên kết với mầu nhiệm cứu độ nơi việc tử nạn và phục sinh của Người.
Trong việc suy tư cảm kích này, những bài đọc Thánh Kinh vừa được công bố là những gì hướng dẫn chúng ta: “Đừng sợ” (Mt 28:5). Những lời của vị thiên thần của biến cố Phục Sinh này đã ngỏ cùng những người phụ nữ trước ngôi mộ trống mà chúng ta vừa nghe đã trở nên một mẫu tâm niệm trên môi miệng của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, từ những giây phút long trọng khởi đầu thừa tác vụ thừa kế Thánh Phêrô của ngài. Ngài đã lập lại những lời ấy vào các trường hợp khác nhau với Giáo Hội cũng như với thế giới trong cuộc hành trình tiến tới năm 2000, và sau khi đã trải qua thời điểm lịch sử đó, cũng như sau này, vào lúc mở màn cho một tân thiên kỷ. Ngài đã luôn luôn nói đến những lời này một cách vững mạnh, đầu tiên bằng việc giơ chiếc cậy được đính thập giá của ngài lên, và sau đó, khi sức lực của ngài bị yếu kém đi, ngài đã gắn liền với cậy gậy thập giá này, cho đến Ngày Thứ Sáu cuối cùng, một ngày mà ngài đã tham dự Đường Thánh Giá ở nguyện đường riêng của ngài, bằng hai cánh tay ôm lấy cây thập tự giá.
Chúng ta không thể nào quên được chứng từ yêu mến Chúa Giêsu của ngài cuối cùng thầm lặng ấy. Cảnh tượng hùng hồn của khổ đau nhân loại với niềm tin tưởng này, trong Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh ấy, cũng cho tín hữu cùng thế giới thấy cái bí quyết sống của hết mọi cuộc đời Kitô hữu. Cái “đừng sợ” ấy không phải là những gì dựa vào sức lực của loài người, cũng như vào những thành đạt chiếm đưoơc, trái lại, chỉ vào lời Chúa, vào thập giá và vào việc phục sinh của Chúa Kitô. Nơi mức độ mà ngài bấy giờ bị tước lột hết mọi sự, cuối cùng, cho đến chính cả những lời nói của ngài nữa, thì việc hoàn toàn phó mình cho Chúa Kitô của ngài lại càng được sáng tỏ.
Như đã xẩy ra cho Chúa Giêsu, cũng xẩy ra nơi trường hợp của Đức Gioan Phaolô
II, những lời thốt ra vào lúc tận tuyệt của hy tế tối hậu, của việc trao tặng
bản thân mình. Và cái chết là ấn tín của một cuộc sống hoàn toàn hiến dâng cho
Chúa Kitô, nên giống ngài thậm chí về cả thể lý với những đặc tính khổ đau và
hoàn toàn phó mình vào tay Cha trên trời. ‘Nào tôi đi về nhà Cha’, những
lời này – được những ai ở bên cạnh ngài bấy giờ cho biết – là những lời cuối
cùng của ngài, lời hoàn thành của một cuộc sống hoàn toàn hướng về việc nhận
biết và chiêm ngưỡng dung nhan Chúa.
Quí huynh khả kính và thân mến: tôi xin cám ơn tất cả quí huynh đã liên kết với tôi trong Thánh Lễ cầu cho linh hồn của Đức Gioan Phaolô II thân yêu. Tôi đặc biệt hướng lòng về những tham dự viên vào hội nghị tiên khởi về Lòng Thương Xót Chúa, một hội nghị thực sự được bắt đầu hôm nay, và là hội nghị nhắm tới việc đào sâu hơn giáo huấn phong phú của ngài về chủ đề này. Tình thương của Thiên Chúa, như chính ngài nói, là then chốt đặc biệt cho việc hiểu được giáo triều của ngài. Ngài muốn sứ điệp về tình yêu nhân hậu của Thiên Chúa được phổ biến tới tất cả mọi người nam nữ, và ngài kêu gọi tín hữu hãy trở thành chứng nhân cho sứ điệp này (Cf. Homily at the dedication of the Shrine of Divine Mercy, Aug. 17, 2002.).
Đó là lý do ngài đã muốn nâng lên bàn thờ Nữ Tu Faustina Kowalska, một tu sĩ khiêm hạ đã được ý nhiệm thần linh biến đổi thành vị sứ giả tiên tri của lòng thương xót thần linh. Người Tôi Tớ Chúa Gioan Phaolô II đã biết được và bản thân đã trải qua những thảm họa của thế kỷ 20, và ngài đã tự hỏi mình trong một thời gian dài cái gì có thể ngăn chặn được bước tiến của sự dữ. Câu trả lời chỉ có thể tìm thấy nơi tình yêu của Thiên Chúa. Thật vậy, chỉ có tình thương thần linh mới có thể hạn chế sự dữ; chỉ có tình yêu toàn năng của Thiên Chúa mới có thể lật đổ việc thống trị của những kẻ dữ và quyền lực hủy hoại của cái tôi và hận thù. Vì lý do ấy, trong chuyến viếng thăm Balan lần cuối cùng của mình, khi trở về quê hương xứ sở của mình, ngài đã nói rằng: “nhân loại không còn hy vọng nào khác ngoài tình thương của Thiên Chúa”.
Chúng ta hãy cảm tạ Thiên Chúa vì Người đã ban cho Giáo Hội người tôi trung can trường này. Chúng ta hãy ca ngợi và chúc tụng Trinh Nữ Maria về việc luôn canh chừng bản thân ngài và thừa tác vụ của ngài cho lợi ích của dân Kitô giáo cũng như cho toàn thể nhân loại. Và trong lúc chúng ta hiến dâng linh hồn ưu tuyển của ngài cùng với Hy Tế cứu chuộc, chúng ta hãy xin ngài tiếp tục chuyển cầu từ trời cao cho mỗi một người chúng ta, đặc biệt là cho tôi, người đưoc Đấng Quan Phòng kêu gọi để tiếp tục gia sản thiêng liêng vô giá của ngài. Chớ gì Giáo Hôi, theo giáo huấn và gương lành của ngài, trung thành tiếp tục sứ vụ truyền bá phúc âm hóa của mình một cách bất dung hòa, không ngừng truyền bá tình yêu nhân hậu của Chúa Kitô là nguồn mạch hòa bình chân thực cho toàn thế giới.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 2/4/2008
(những chỗ được in đậm lên là do tự ý của người dịch trong việc làm nổi bật những điểm chính yếu quan trọng)
Cảm Nghiệm Hoán Cải của Thánh Phaolô với chủ đề “Không Ngừng Cầu Nguyện”
Bài Giảng trong Giờ Kinh Tối Lễ Thánh Phaolô Trở Lại 25/1/2008 ở Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoài Thành
Anh Chị Em thân mến,
Cảm Nghiệm Hoán Cải của Thánh Phaolô với chủ đề “Không Ngừng Cầu Nguyện”
Lễ Trọng Thánh Phaolô Trở Lại một lần nữa kéo chúng ta đến trước mặt của vị đại Tông Đồ được Thiên Chúa chọn làm “chứng nhân cho Ngài trước tất cả mọi người” (Acts 22:15). Đối với Saulê thành Tarsê thì giây phút gặp gỡ Chúa Kitô Phục Sinh trên đường đi Damasco đã đánh dấu một khúc quanh quyết liệt trong đời sống của ngài. Việc ngài được hoàn toàn biến đổi, một cuộc thực sự và thích đáng hoán cải thiêng liêng, đã xẩy ra vào ngay lúc bấy giờ. Bởi việc can thiệp thần linh, tay hung hăng bách hại Giáo Hội Chúa này đột nhiên trở nên mù lòa và mò mẫm bước đi trong tăm tối, thế nhưng từ đó, nhờ ánh sáng rạng ngời trong lòng của ngài, mà sau đó ít lâu ngài đã trở thành một vị Tông Đồ của Phúc Âm. Cái nhận thức là chỉ có một mình ân sủng thần linh mới có thể thực hiện một cuộc hoán cải như thế đã luôn theo đuổi Thánh Phaolô. Khi ngài đã hết sức cố gắng để trở nên xứng đáng với ơn gọi của mình, bằng việc dấn thân liên lỉ rao giảng Phúc Âm, ngài đã viết bằng một lòng nhiệt tình mới mẻ như sau: “Tôi đã hoạt động cực nhọc hơn bất cứ vị nào, nhưng không phải là tôi song là ơn Chúa trong tôi” (1Cor 15:10). Hoạt động truyền giáo liên lỉ cho dù như thể hoàn toàn lệ thuộc vào những nỗ lực của ngài, nhưng Thánh Phaolô vẫn luôn được tác động bởi niềm xác tín sâu xa rằng tất cả mọi năng lực của ngài đều xuất phát từ ân sủng của Thiên Chúa hoạt động nơi ngài.
Những lời của vị Tông Đồ này về mối liên hệ giữa nỗ lực của con người với ân sủng thần linh vang vọng vào buổi tối hôm nay đây có một ý nghĩa rất đặc biệt. Vào lúc kết thúc Tuần Lễ Nguyện Cầu cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo, chúng ta thậm chí càng ý thức được rằng công việc phục hồi mối hiệp nhất, một công cuộc đòi hỏi mọi năng lực và nỗ lực của chúng ta, hoàn toàn là những gì vượt trên những gì chúng ta có thể làm. Mối hiệp nhất với Thiên Chúa và anh chị em của chúng ta là một tặng ân bởi trời, một mối hiệp nhất xuất phát từ cuộc hiệp thông yêu thương giữa Cha, Con và Thánh Thần, một mối hiệp nhất được gia tăng và hoàn hảo nơi cuộc hiệp thông Ba Ngôi. Không phải chúng ta có khả năng quyết định là mối hiệp nhất này sẽ được hoàn toàn chiếm đạt vào lúc nào hay bằng cách nào. Chỉ có một mình Thiên Chúa mới có thể làm điều ấy mà thôi! Như Thánh Phaolô, chúng ta cũng hãy đặt niềm hy vọng và lòng tin tưởng của chúng ta “nơi ân sủng của Thiên Chúa ở với chúng ta”. Anh chị em thân mến, đó là những gì lời nguyện cầu mà chúng ta đang cùng nhau dâng lên Chúa mong muốn van xin: đó là xin Người là Đấng soi động và nâng đỡ chúng ta trong việc chúng ta tiếp tục tìm cầu hiệp nhất.
Chính ở đây mà lời huấn dụ của Thánh Phaolô với Kitô hữu giáo đoàn Thessalonica đạt được tất cả ý nghĩa của nó: “Hãy không ngừng nguyện cầu” (1Thes 5:17), một lời huấn dụ được chọn làm đề tài cho Tuần Lễ Nguyện Cầu năm nay. Vị Tông Đồ này đã quá quen thuộc với cộng đồng này, một cộng đồng đã được xuất phát từ hoạt động truyền giáo của ngài, và được ngài đặt nhiều kỳ vọng. Ngài biết cả những thành đạt của nó và nhược điểm của nó. Thật vậy, không thiếu gì hành vi, thái độ và tranh cãi trong các phần tử của nó đã tạo nên tình trạng căng thẳng và xung khắc, và Thánh Phaolô ra tay can thiệp để giúp cho cộng đồng này tiến bước trong hiệp nhất và an bình. Ở cuối bức thư của mình, vẫn với lòng nhân từ phụ thân, ngài đã kèm thêm một chuỗi huấn dụ rất thực tế, kêu gọi các Kitô hữu hãy phấn khích tất cả mọi người tham gia, nâng đỡ thành phần yếu kém, nhẫn nại với sự dữ chứ đừng lấy oán báo ác với mọi người nhưng bao giờ cũng tìm kiếm sự thiện, hân hoan và tạ ơn trong mọi hoàn cảnh (x 1Thes 5:12-22). Thánh Phaolô đặt lời khuyên “hãy không ngừng cầu nguyện” ở giữa những lời huấn dụ ấy. Thật vậy, những lời khuyến dụ khác sẽ mất đi công lực và sự liên kết của chúng nếu chúng không được hỗ trợ bằng việc nguyện cầu. Mối hiệp nhất với Thiên Chúa và với nhau được xây dựng trước hết nhờ đời sống nguyện cầu, liên lỉ tìm kiếm “ý muốn của Thiên Chúa đối với chúng ta trong Chúa Giêsu Kitô” (x 1Thes 5:18).
Lời kêu gọi của Thánh Phaolô ngỏ cùng Kitô hữu giáo đoàn Thessalonica vẫn còn hợp thời. Trước những thiếu sót và tội lỗi là những gì vẫn còn đang ngăn trở cho mối hiệp thông trọn vẹn của Kitô hữu, thì mỗi một lời trong những huấn dụ này vẫn có một ý nghĩa thích đáng, thế nhưng đặc biệt là xác đáng về phương diện “không ngừng cầu nguyện”. Phong trào đại kết sẽ đi về đâu nếu không có lời nguyện cầu chung riêng “xin cho họ tất cả được nên một”, như Cha ở trong Con và như Con ở trong Cha” (Jn 17:21)? Chúng ta sẽ tìm thấy ở nơi đâu “cái lực đẩy hơn nữa” của đức tin, đức cậy và đức mến là những nhân đức ngày nay đặc biệt cần cho việc chúng ta tìm kiếm hiệp nhất? Ước muốn hiệp nhất của chúng ta không được giới hạn vào những trường hợp riêng biệt; nó cần phải trở thành một phần toàn diện cho đời sống cầu nguyện toàn thể của chúng ta. Những con người nam nữ sống Lời Chúa và nguyện cầu đã từng là những thủ công viên của việc hòa giải và hiệp nhất ở mọi giai đoạn lịch sử. Chính con đường nguyện cầu đã mở đường cho phong trào đại kết như ngày nay chúng ta biết được. Thật vậy, từ giữa thế kỷ 18, các phong trào canh tân thiêng liêng khác nhau đã xuất hiện, nhiệt thành góp phần bằng nguyện cầu vào việc cổ võ cho mối hiệp nhất Kitô giáo. Những nhóm Công Giáo, được phát động bởi những nhân vật đạo đức nổi nang, đã đóng một vai trò chủ động trong những khởi động như thế ngay từ ban đầu. Việc cầu nguyện cho mối hiệp nhất cũng được ủng hộ bởi các những vị Tiền Nhiệm Đáng Kính của tôi, như Đức Giáo Hoàng Lêô XIII, vị mà vào năm 1895 đã khuyên thực hiện Tuần Chín Ngày Cầu Nguyện cho mối hiệp nhất Kitô Giáo. Những nỗ lực này, được thực hiện theo những khả năng của Giáo Hội vào lúc bấy giờ, có ý mang ra thự chành lời nguyện cầu của chính Chúa Giêsu trên Căn Thượng Lầu là “xin cho họ tất cả được nên một” (Jn 17:21). Bởi vậy không có vấn đề đại kết thực sự mà nguồn gốc của nó đã không được gieo trồng bằng việc nguyện cầu.
Tiến Trình của Tuần Lễ Cầu Nguyện cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo
Năm nay, chúng ta đang mừng kỷ niệm 100 năm “Tuần Bát Nhật Hiệp Nhất Giáo Hội” là biến cố sau đó trở thành “Tuần Lễ Cầu Nguyện Cho Mối Hiệp Nhất Kitô Giáo”. 100 năm trước đây, trong khi còn là một mục sư giáo phái Episcopalian, Cha Paul Watson đã có ý nghĩ về tuần bát nhật nguyện cầu cho mối hiệp nhất, một tuần lễ lần đầu tiên đã được cử hành ở Graymoor, Nữ Ước, từ ngày 18 đến 25 tháng Giêng năm 1908. Buổi tối hôm nay, cảm thấy hết sức hân hoan, tôi gửi lời chào đến vị Tổng Vụ và phái đoàn đại biểu quốc tế của Anh Chị Em Phanxicô Phạt Tạ, một Hội Dòng được thành lập bởi Cha Paul Watson và là vận động viên cho di sản thiêng liêng của ngài. Vào thập niên 1930, Tuần Bát Nhật Cầu Nguyện đã trải qua những thích ứng quan trọng theo sau cái tác lực được cống hiến cho nó, đặc biệt là bởi Cha Paul Couturier ở Lyons, một đại đấu thủ khác của vấn đề đại kết thiêng liêng. Lời ngài kêu gọi “hãy nguyện cầu cho mối hiệp nhất của Giáo Hội như Chúa Kitô mong muốn và theo cách thức Người muốn” giúp cho Kitô hữu thuộc tất cả mọi truyền thống liên kết thành một lời nguyện cầu duy nhất cho hiệp nhất. Chúng ta hãy tạ ơn Thiên Chúa về phong trào cầu nguyện lớn lao mà trong 100 năm đã đồng hành và nâng đỡ tín hữu tìm cầu mối hiệp nhất trong Chúa Kitô. Con tầu đại kết sẽ chẳng bao giờ ra khơi nếu nó không được đẩyđưa bởi luồng gió mạnh của nguyện cầu và phất phới bởi hơi thở của Chúa Thánh Thần.
Trùng hợp với Tuần Lễ Nguyện Cầu này, có nhiều cộng đồng tu sĩ và đan sĩ đã mời gọi và giúp các phần tử của mình “không ngừng cầu nguyện” cho mối hiệp nhất Kitô Giáo. Vào cơ hội chúng ta đã qui tụ lại đây, chúng ta hãy đặc biệt nhớ đến đời sống và chứng từ của Dì Maria Gabriella Hiệp Nhất (1914-1936), một Nữ Tu Dòng Trappist thuộc nữ đan viện Grottaferrata (ngày nay là Vitorchiano), Ý quốc. Khi bề trên của dì, được phấn khích bởi Cha Paul Couturier, xin các Nữ Tu hãy cầu nguyện và hy sinh bản thân cho mối hiệp nhất Kitô Giáo, thì Dì Maria Gabriella lập tức tham gia và không ngần ngại dâng hiến cuộc đời trẻ trung của mình cho lý tưởng này. Chính ngày hôm nay là ngày kỷ niệm đúng 25 năm chị được vị Tiền Nhiệm của tôi là Gioan Phaolô II phong Chân Phước. Biến cố ấy được cử hành tại chính Đền Thờ này vào đúng ngày 25/1/1983, trong khi cử hành việc bế mạc Tuần Lễ Nguyện Cầu cho Hiệp Nhất. Trong Bài Giảng của mình, Người Tôi Tớ Chúa này đã nhấn mạnh đến 3 yếu tố nền tảng cho việc tìm kiếm hiệp nhất, đó là hoán cải, Thập Giá và nguyện cầu. Đời sống và chứng từ của Dì Maria Gabriella cũng có ba yếu tố này. Ngày nay, cũng như trong quá khứ, vấn đề đại kết rất cần đến thứ “đan viện vô hình” rộng lớn được Cha Paul Couturier nói tới này, cần đến một cộng đồng lớn rộng Kitô hữu thuộc tất cả mọi truyền thống đang âm thầm cầu nguyện và hiến đời mình trong việc đạt được mối hiệp nhất.
Ngoài ra, đúng 40 năm qua, cộng đồng Kitô hữu trên thế giới đã có đưoơc những bài suy niệm và những lời cầu nguyện cho Tuần Lễ này được liên kết soạn thảo bởi Ủy Ban “Đức Tin và Cấp Trật” của Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội và Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo. Việc hợp tác may lành này đã có thể làm lan rộng phạm vi cầu nguyện và việc soạn dọn nội dung của nó được tốt đẹp hơn. Tối hôm nay, tôi thân ái chào Tiến Sĩ Khả Kính Samuel Kobia, Tổng Thư Ký của Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội, vị đến Rôma để tham gia với chúng ta nhân dịp bách niên của Tuần Lễ Cầu Nguyện này. Tôi vui mừng thấy các phần tử của “Nhóm Làm Việc Chung” hiện diện nơi đây và tôi ưu ái chào họ. Nhóm làm việc chung này là phương tiện hợp tác giữa Giáo Hội Công Giáo và Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội trong việc chúng ta cùng nhau tìm kiếm hiệp nhất. Như tôi đã thực hiện hằng năm, tôi cũng ngỏ lời chào huynh đệ tới các vị Giám Mục, linh mục và mục sư thuộc các Giáo Hội và Cộng Đồng Giáo Hội khác nhau có những vị đại diện ở Rôma đây. Việc anh chị em tham dự vào buổi nguyện cầu này là một thể hiện tỏ tường những mối liên kết hiệp nhất chúng ta lại với nhau trong Chúa Giêsu Kitô: “Vì ở đâu có hau hay ba người tụ họp lại vì danh Thày thì Thày ở giữa họ” (Mt 18:20).
Năm được giành cho chứng từ và giáo huấn của Tông Đồ Phaolô sẽ được khai mạc ở Đền Thờ lịch sử này vào ngày 28/6 năm nay. Chớ gì lòng nhiệt thành không biết mỏi mệt của ngài trong việc xây dựng Thân Mình Chúa Kitô trong hiệp nhất giúp chúng ta không ngừng cầu nguyện cho mối hiệp nhất trọn vẹn của tất cả mọi Kitô hữu. Amen!
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2008/documents/hf_ben-xvi_hom_20080125_week-prayer_en.html
(những chỗ được in đậm lên và các tiểu đề là do tự ý của người dịch trong việc làm nổi bật những điểm chính yếu quan trọng)
ĐTC Biển Đức XVI: Bài Giảng Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa Chúa Nhật 13/1/2008 tại Nguyện Đường Sistine
Anh Chị Em thân mến,
Việc cử hành hôm nay bao giờ cũng là một nguồn vui đặc biệt đối với tôi. Thật vậy, việc ban Bí Tích Rửa Tội vào ngày Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa là một trong những giây phút biểu lộ tất cả đức tin của chúng ta, một giây phút chúng ta hầu như có thể thấy được mầu nhiệm của sự sống qua những dấu hiệu của phụng vụ. Trước hết là sự sống của con người. Nó được tiêu biểu ở đây đặc biệt qua 13 em nhỏ này, hoa trái của tình yêu của anh chị em, hỡi những phụ huynh yêu dấu, tôi muốn ngỏ lời chào thân ái tới anh chị em cũng như các cha mẹ đỡ đầu cùng với họ hàng thân thuộc và bạn hữu ở nơi đây. Rồi tới mầu nhiệm của sự sống thần linh được Thiên Chúa ban cho những con người nhỏ bé này qua việc tái sinh bởi nước và Thánh Thần. Thiên Chúa là sự sống, như một số hình ảnh trang điểm cho Nguyện Đường Sistine này tuyệt vời gợi lên cho thấy.
Tuy nhiên, cũng không phải là lạc đề nếu chúng ta lập tức đặt ngay bên cảm nghiệm về sự sống bằng một cảm nghiệm đối nghịch, đó là thực tại về sự chết. Không sớm thì muộn hết mọi sự được bắt đầu trên trái đất này sẽ đi đến chỗ cùng tận của mình, như cỏ đồng nội sáng nở tối tàn. Tuy nhiên, nơi Phép Rửa, con người bé bủn này lãnh nhận được một sự sống mới, sự sống ân sủng, sự sống giúp họ có thể dự phần vào mối liên hệ riêng tư với Đấng Hóa Công muôn đời cho đến vô cùng bất tận. Tiếc thay, nhân loại có khả năng để dập tắt đi sự sống mới này bằng tội lỗi của mình, khiến họ ở trong một tình trạng được Thánh Kinh diễn tả là “cái chết lần thứ hai”. Trong khi các tạo vật là những vật khác không được kêu gọi sống trường sinh bất tử, thì chết chỉ là tình trạng chấm dứt việc hiện hữu trên mặt đất này, thì nơi chúng ta, tội lỗi tạo thành một vực thẳm chúng ta liều mình bị muôn đời chìm đắm, trừ phi Cha là Đấng ở Trên Trời giang cánh tay của Ngài ra cho chúng ta. Anh chị em thân mến, đó là mầu nhiệm của Phép Rửa, ở chỗ Thiên Chúa muốn cứu độ chúng ta bằng việc đích thân đi xuống tận đáy của vực thẳm này, nhờ đó hết mọi người, ngay cả những người đã bị sa ngã quá sâu đến độ không còn nhận ra Trời Cao, cũng có thể thấy được bàn tay của Thiên Chúa để bám víu và vươn lên khỏi tối tăm để thấy lại thứ ánh sáng mà họ được dựng nên cho. Tất cả chúng ta đều cảm thấy, tất cả chúng ta đều nhận thức trong lòng rằng việc hiện hữu của chúng ta là một ước vọng có được sự sống mang lại tầm vóc trọn vẹn và cứu độ. Cái tầm vóc viên trọn này đã được ban cho chúng ta nơi Phép Rửa.
Chúng ta vừa nghe trình thuật về việc Chúa Giêsu chịu Phép Rửa ở sông Dược Đăng. Nó là một Phép Rửa khác với phép rửa mà các bé thơ nhi này sắp sửa nhận lãnh nhưng lại liên hệ sâu xa với phép rửa đây. Vấn đề chính yếu ở đây là toàn thể mầu nhiệm của Chúa Kitô trên thế gian này có thể được tóm lại ở chữ: “tẩy rửa”, tiếng Hy Lạp nghĩa là “trầm mình”. Người Con Thiên Chúa đây, Đấng từ đời đời đã cùng với Cha và Thánh Thần có sự sống trọn vẹn này, đã “trầm mình” vào thực tại của chúng ta như thành phần tội nhân để làm cho chúng ta được tham dự vào sự sống của Người: Người nhập thể, Người được hạ sinh như chúng ta, Người đã lớn lên như chúng ta, và khi vươn tới tuổi thành nhân, Người đã tỏ cho thấy sứ vụ của Người thực sự được bắt đầu bằng “phép rửa thống hối” bởi Thánh Gioan Tẩy Giả. Tác động công khai tiên khởi này của Chúa Giêsu, như chúng ta vừa nghe, đó là việc Người đi xuống sông Dược Đăng, lẫn lộn trong số thành phần tội nhân thống hối để lãnh nhận phép rửa này. Thánh Gioan theo tự nhiên đã tỏ ra ngần ngại để làm phép rửa cho Người, nhưng vì đó là ý muốn của Chúa Cha như được Chúa Giêsu nhấn mạnh (cf. Mt 3:13-15).
Vậy thì tại sao Chúa Cha lại muốn điều ấy xẩy ra? Phải chăng vì Ngài đã sai Người Con Duy Nhất của mình vào trần gian như là một Con Chiên gánh tội trần gian (cf. Jn 1:29)? Vị Thánh Ký trình thuật rằng khi Chúa Giêsu lên khỏi mặt nước thì Thánh Linh xuống trên Người dưới hình chim câu, trong khi đó tiếng Chúa Cha vang ra từ Trời công nhận Người là “Con yêu dấu của Ta, Người Ta rất hài lòng” (Mt 3:17). Bởi thế, từ ngay lúc ấy, Chúa Giêsu xuất hiện như Đấng đến để rửa nhân loại trong Thánh Thần: ở chỗ, Người đến để ban cho con người nam nữ sự sống viên mãn dồi dào (cf Jn 10:10), sự sống trường sinh, sự sống tái sinh con người và hoàn toàn chữa lành họ, cả nơi thân xác lẫn trong tinh thần, phục hồi họ về với dự án nguyên thủy như họ đã được tạo dựng nên. Mục đích hiện hữu của Chúa Kitô chính là để ban cho loài người sự sống của Thiên Chúa và Thần Linh yêu thương của Người, nhờ đó hết mọi người có thể kín múc từ nguồn mạch cứu độ vô tận này. Đó là lý do tại sao Thánh Phaolô đã viết cho những người Rôma rằng chúng ta được lãnh nhận phép rửa của Chúa Kitô để có cùng một sự sống như Đấng Phục Sinh (cf. Rm 6:3-4). Vì lý do này mà cha mẹ Kitô giáo, như anh chị em hôm nay đây, mang con cái của mình đến bể rửa tội sớm bao nhiêu có thể, vì biết rằng sự sống mà họ truyền thông cần được viên trọn, cần ơn cứu độ chí có một mình Thiên Chúa mới có thể ban tặng. Bởi thế cha mẹ trở thành cộng tác viên của Thiên Chúa, trong việc thông truyền cho con cái mình chẳng những sự sống về thể lý mà còn về thiêng liêng nữa.
Anh chị em phụ huynh thân mến, tôi tạ ơn Chúa với anh chị em về tặng ân các em bé này và tôi xin Chúa hỗ trợ để Người có thể giúp anh cị em trong việc nuôi dưỡng chúng và tháp nhập chúng vào Thân Mình thiêng liêng Giáo Hội. Như anh chị em cống hiến cho chúng những gì chúng cần để tăng trưởng và được cứu độ, chớ gì anh chị em luôn biết dấn thân, nhờ cha mẹ đỡ đầu của chúng hỗ trợ, phát triển nơi chúng đức tin, đức cậy và đức mến, các thần đức xứng với sự sống mới chúng lãnh nhận nơi Bí Tích Rửa Tội. Anh chị em bảo đảm sự sống này bằng việc hiện diện và lòng ưu ái của anh chị em; anh chị em bảo toàn nó trước hết và trên hết bằng lời cầu nguyện, hằng ngày hiến dâng chúng cho Chúa và ký thác chúng cho Ngài qua mọi đoạn đời của chúng. Để chúng lớn lên khỏe mạnh, những bé ấu nhi này dĩ nhiên cần đến cả việc chăm sóc về vật chất cùng với nhiếu thứ chú trọng khác nữa; tuy nhiên, cái cần thiết nhất cho chúng, thật sự là cái bất khả thiếu, sẽ là việc chúng nhận biết, mến yêu và phục sự Chúa cách trung thành để được sự sống đời đời. Anh chị em phụ huynh thân mến, chớ gì, đối với chúng, anh chị em là những chứng nhân tiên khởi của một niềm tin đích thực nơi Thiên Chúa!
Nơi Lễ Nghi Rửa Tội, có một dấu hiệu hùng hồn cho thấy thực sự việc truyền đạt đức tin. Đó là việc trao cho một một người lãnh nhận phép rửa một cây nến được thắp sáng từ ngọn lửa của cây nến Phục Sinh: nó là ánh sáng của Chúa Kitô Phục Sinh, một ánh sáng anh chị em cố gắng đề trao truyền cho con cái của anh chị em. Như thế, từ đời nọ tới đời kia, Kitô hữu chúng ta truyền đạt ánh sáng của Chúa Kitô cho nhau ở chỗ khi Người trở lại Người thấy được nơi chúng ta ngọn lửa này đang cháy sáng trong tay của chúng ta. Nơi Nghi Thức này, tôi sẽ nói cùng anh chị em rằng: “Hỡi những người làm cha mẹ ruột thịt và cha mẹ đỡ đầu, ánh sáng này được trao cho anh chị em để giữ cho luôn được cháy sáng”. Anh chị em thân mến, hãy luôn luôn chăm sóc cho ngọn lửa đức tin này bằng việc lắng nghe và suy niệm Lời Chúa và chuyên chăm hiệp thông với Chúa Giêsu trong Thánh Thể. Chớ gì anh chị em được trợ giúp trong việc thực hiện vai trò tuyệt diệu song không dễ dàng gì đây bởi những Vị Bảo Hộ thánh thiện mà 13 em bé này sẽ được nhận tên thánh. Chớ gì những Vị Thánh này đặc biệt giúp cho những ai được lãnh nhận phép rửa biết đền đáp việc chăm sóc yêu thương của anh chị em là những người phụ huynh Kitô giáo. Chớ gì Trinh Nữ Maria đặc biệt đồng hành với cả chúng lẫn anh chị em, anh cị em phụ huynh thân mến, giờ đây và cho tới muôn đời. Amen!
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2008/documents/hf_ben-xvi_hom_20080113_battesimo_en.html
(những chỗ được in đậm lên là do tự ý của người dịch trong việc làm nổi bật những điểm chính yếu quan trọng)
"Với Chúa Giêsu Kitô, phúc lành của Anbraham đã được vươn tới tất cả mọi dân nước"
ĐTC Biển Đức XVI: Bài Giảng Lễ Hiển Linh 6/1/2008 tại Đền Thờ Vatican
Anh Chị Em thân mến,
Hôm nay, chúng ta đang mừng lễ Chúa Kitô là Ánh Sáng thế gian và việc Người tỏ mình ra cho chư dân. Vào Ngày Lễ Giáng Sinh, sứ điệp của phụng vụ vang lên những lời này: "Hodie descendit lux magna super terram – Hôm nay, một ánh sáng cả thể tỏa chiếu trên mặt đất” (Sách Lễ Rôma). Ở Bêlem, “ánh sáng vĩ đại” này đã xuất hiện cho một nhóm nhỏ dân chúng, cho thành phần nhỏ nhoi “còn lại của Yến Duyên”, đó là Trinh Nữ Maria, phu quân Giuse của trinh nữ cùng một ít mục đồng. Đó là một ánh sáng leo loét vì là kiểu cách của Vị Thiên Chúa chân thực; một ánh lửa được thắp lên trong đêm tối, đó là một hài nhi mới sinh yếu ớt kêu khóc trong cảnh thinh lặng của thế giới này… thế nhưng, cuộc hạ sinh kín ẩn không nổi nang này lại được kèm theo bởi những bài thánh ca chúc tụng của các cơ binh trên trời hát lên để tôn vinh và chúc an bình (x Lk 2:13-14).
Bởi thế, cho dù việc xuất hiện của ánh sáng này trên mặt đất có vẻ tầm thường, nhưng nó lại được phóng lên các tầng trời, ở chỗ, việc hạ sinh của Vị Vua dân Do Thái đã được loan báo bằng sự xuất hiện của một ngôi sao. Điều này được chứng thực bởi một số “con người khôn ngoan” từ Đông phương đến Giêrusalem sau khi Chúa Giêsu giáng sinh ít lâu, trong thời của Vua Hêrôđê (x Mt 2:1-2). Một lần nữa, trời và đất, vũ trụ và lịch sử, kêu gọi nhau đáp ứng. Những lời tiên tri được xác nhận nơi ngôn từ của các vì sao. “Một ngôi sao sẽ xuất hiện từ Giacóp, và cây vương trượng xuất phát từ Yến Duyên” (Dân Số 24:17), Balaam là vị thụ khải dân ngoại đã loan báo, khi ông được triệu tới để nguyền rủa Dân Yến Duyên, thành phần lại được ông chúc chục, vì, như Thiên Chúa đã mạc khải cho ông, “họ là kẻ được chúc phúc” (Dân Số 22:12). Trong việc dẫn giải về Phúc Âm Thánh Mathêu, Cromatius ở Aquileia đã liên kết Ballam với các Vị Đạo Sĩ Chiêm Gia như thế này: “Ông đã nói tiên tri rằng Đức Kitô sẽ đến; họ đã thấy Người bằng con mắt tin tưởng”. Rồi ông thêm một nhận định quan trọng nữa: “Ngôi sao này được mọi người nhìn thấy nhưng không phải là hết mọi người đều hiểu được ý nghĩa của nó. Cũng thế, Chúa của chúng ta và là Đấng Cứu Thế của chúng ta đã được hạ sinh cho hết mọi người, thế nhưng không phải hết mọi người đã đón nhận Người” (4:12). Đến đây sáng tỏ ý nghĩa của biểu hiệu ánh sáng được áp dụng vào việc hạ sinh của Chúa Kitô: nó thể hiện việc Thiên Chúa đặc biệt chúc lành cho giòng dõi Abraham là phúc lành được ấn định bao gồm tất cả mọi dân tộc trên trái đất này nữa.
Biến cố Phúc Âm chúng ta đang tưởng niệm về Việc Hiển Linh – việc các Vị Đạo Sĩ Chiêm Gia viếng thăm Con Trẻ Giêsu ở Bêlem – như thế đưa chúng ta trở về với cội nguồn lịch sử của Dân Chúa, tức là về với ơn gọi của Abraham. Chúng ta đang ở Chương 12 của Sách Khởi Nguyên. Mười một chương đầu như là những bức đại bích họa trả lời cho một số vấn đề nống cốt của nhân loại chẳng hạn như đâu là nguồn gốc của vũ trụ cũng như của loài người? Sự dữ bởi đâu mà có? Tại sao lại có những thứ ngôn ngữ và nền văn minh khác nhau? Trong số những trình thuật được Thánh Kinh mở đầu, có “giao ước” đầu tiên Thiên Chúa thực hiện với Noe sau hồng thủy. Nó là một giao ước phổ quát liên quan tới toàn thể nhân loại: một giao ước mới với gia đình Noe đồng thời cũng là giao ước với “tất cả những gì là xác thịt”. Bởi thế, trước khi Abraham được kêu gọi, đã có một bức đại bích họa khác rất quan trọng để có thể hiểu được ý nghĩa của Lễ Hiển Linh, đó là bức đại bích họa Tháp Babel. Sách thánh nói rằng ngay từ ban đầu, “toàn thể trái đất chỉ có một ngôn ngữ và ít lời nói” (Gen 11:1). Thế rồi con người đã nói: “Nào, chúng ta hãy xây cho mình một thành phố, và một cái tháp vươn lên tới các tầng trời để chúng ta được lưu danh muôn thuở, kẻo chúng ta bị phân tán di khắp mặt đất này” (Gen 11:4). Hậu quả của thứ tội ngạo mãn kiêu hãnh này, tương tự như tội của Adong và Evà, đó là tình trạng lẫn lộn về ngôn ngữ và tình trạng phân tán của nhân loại trên khắp trái đất này (x Gen 11:7-8). Đó là ý nghĩa của “Babel” và là một thứ bị nguyền rủa, giống như việc bị tống khứ ra khỏi địa đường trần thế vậy.
Tới đây, qua ơn gọi của Abraham, câu truyện phúc lành được bắt đầu: đó là khởi đầu cho dự án lớn lao của Thiên Chúa trong việc làm cho nhân loại thành một gia đình duy nhất nhờ giao ước với một dân tộc mới, được Ngài tuyển chọn để trở thành phúc lành giữa tất cả mọi dân nước (x Gen 12:1-3). Dự án thần linh này vẫn còn đang được áp dụng: Nó đạt đến tuyệt đỉnh nơi mầu nhiệm Chúa Kitô. Bởi vậy mà “thời sau hết” đã bắt đầu, ở chỗ, dự án này đã hoàn toàn được tỏ hiện và được nên trọn nơi Đức Kitô, thế nhưng cần phải được lịch sử loài người chấp nhận, một lịch sử bao giờ cũng là lịch sử của lòng trung thành về phần Thiên Chúa, song tiếc thay cũng là lịch sử của việc bất trung về phía loài người chúng ta. Chính Giáo Hội, kho tàng chất chứa phúc lành này, là thánh mà lại được kết hợp bởi các tội nhân, có đặc tính căng thẳng giữa “cái đã rồi’ và “cái chưa xong”. Vào thời điểm viên trọn, Chúa Giêsu Kitô đã đến để làm cho giao ước ấy nên trọn: chính Người, Thiên Chúa thật và là người thật, là Bí Tích cho lòng trung thành của Thiên Chúa đối với dự án cứu độ của Ngài giành cho toàn thể nhân loại, cho tất cả chúng ta.
Việc các Đại Sĩ Chiêm Gia từ Phương Đông đến Bêlem để tôn thờ Đấng Thiên Sai mới sinh là một dấu hiệu tỏ mình của Vị Vua hoàn vũ này trước chư dân cũng như trước tất cả những ai tìm kiếm chân lý. Nó là khởi đầu của một hướng động ngược lại với hướng động của tháp Babel, tức từ tình trạng lẫn lộn đến tình trạng thấu hiểu, từ tình trạng phân tán đến tình trạng hòa giải. Như thế, chúng ta nhận thức được cái liên hệ giữa Hiển Linh và Hiện Xuống, ở chỗ, nếu Việc Giáng Sinh của Chúa Kitô, Đấng là Đầu, cũng là việc Hạ Sinh của Giáo Hội, Thân Mình của Người, chúng ta có thể thấy ba Nhà Đạo Sĩ Chiêm Gia như là thành phần được liên kết với thành phần còn sót lại của Yến Duyên, tiên báo một dấu hiệu cả thể của một “Giáo Hội đa ngôn ngữ” do Thánh Linh thực hiện 50 ngày sau Phục Sinh. Tình yêu thủy chung và kiên trì của Thiên Chúa không bao giờ bị hụt hẫng nơi giao ước của Ngài từ đời nọ đến đời kia là một “mầu nhiệm” được Thánh Phaolô nói tới trong các Bức Thư của ngài cũng như trong đoạn của Bức Thư gửi Giáo Đoàn Êphêsô vừa được công bố, ở chỗ, vị Tông Đồ này nói rằng mầu nhiệm ấy “được tỏ cho tôi biết qua mạc khải” (Eph 3:3).
“Mầu nhiệm” về lòng trung thành này của Thiên Chúa là những gì tạo nên niềm hy vọng cho lịch sử. Dĩ nhiên là nó ngược lại với những chiều hướng chia rẽ và chuyên chế bạo tàn làm tổn thương nhân loại bởi tội lỗi cũng như bởi những thứ xung đột của lòng vị kỷ. Giáo Hội trong giòng lịch sử đang phục vụ cho “mầu nhiệm” phúc lành cho toàn thể nhân loại này. Giáo Hội hoàn toàn thực hiện sứ vụ của mình nơi mầu nhiệm trung thành này của Thiên Chúa chỉ khi nào Giáo Hội phản ảnh ánh sáng của Đức Kitô là Chúa trong bản thân mình, nhờ đó giúp cho chư dân trên thế giới tiến tới hòa bình và tiến bộ đích thực. Thật vậy, Lời của Thiên Chúa được mạc khải qua Tiên Tri Isaia vẫn còn tiếp tục được áp dụng, đó là: “tối tăm sẽ bao trùm trái đất, và tăm tối dầy đặc bao phủ chư dân ; thế nhưng Chúa sẽ xuất hiện trên các người, và vinh quang của Ngài sẽ tỏ hiện trên các người” (Is 60:2). Những gì vị tiên tri này loan báo ở Giêrusalem đã được nên trọn nơi Giáo Hội của Chúa Kitô: “các quốc gia sẽ đến với ánh sáng của ngươi và các vua chúa sẽ đến với ánh quang rạng ngời của việc ngươi xuất hiện” (Is 60:3).
Với Chúa Giêsu Kitô, phúc lành của Anbraham đã được vươn tới tất cả mọi dân nước, tới Giáo Hội hoàn vũ như là một tân Yến Duyên đón nhận nơi mình toàn thể nhân loại. Tuy nhiên, những gì vị tiên tri này nói cũng đúng với cả ngày nay nữa ở nhiều ý nghĩa: “Tối tăm day đặc đang bao trùm chư dân” và lịch sử của chúng ta. Thật vậy, không thể nói rằng “việc toàn cầu hóa” là những gì đồng nghĩa với “trật tự của thế giới” – mà là hoàn toàn ngược lại. Những thứ xung khắc trong việc nắm ưu thế về kinh tế và tích trữ những nguồn năng lượng, nước nôi và các thứ nguyên liệu là những gì cản trở công cuộc của tất cả những ai đang nỗ lực ở mọi lãnh vực để thiết dựng một thế giới công chính và vững vàng. Cần phải hy vọng hơn nữa, một niềm hy vọng sẽ trở thành khả dĩ khi coi công ích của tất cả mọi người hơn tất cả những thứ xa xỉ của một số ít người và chú ý tới tình trạng nghèo khổ của một số nhiều người. “Niềm hy vọng cao cả này chỉ có thể là Thiên Chúa… chứ không phải bất cứ một thần linh nào khác, thế nhưng lại là vị Thiên Chúa có một dung nhan con người” (Thông Điệp Spe Salvi, 31): Vị Thiên Chúa tỏ mình ra nơi Con Trẻ ở Bêlem và nơi Đấng Tử Giá và Phục Sinh. Niềm hy vọng lớn lao nếu có thì cần phải kiên trì trong tình trạng điều độ. Nếu thiếu đi niềm hy vọng thực sự thì hạnh phúc chỉ tìm thấy nơi việc say sưa chè chén, nơi tình trạng thừa thãi, nơi những gì là thái quá, và chúng ta đi đến chỗ hủy hoại đi bản thân mình và thế giới. Bởi thế, điều độ chẳng những là một kỷ cương về khổ chế mà còn là một đường lối cứu độ cho nhân loại nữa. Như vậy hiển nhiên là chỉ bằng việc chấp nhận lối sống điều độ, được kèm theo bằng một nỗ lực nghiêm chỉnh đối với vấn đề phân phối đồng đều tình trạng giầu thịnh, mới có thể thiết lập một trật tự phát tiển chân chính và khả trợ. Đó là lý do chúng ta cần người ta nuôi dưỡng niềm hy vọng cao cả, nhờ đó có lòng can đảm lớn lao: một lòng can đảm của ba Đạo Sĩ Chiêm Gia, những người đã thực hiện một cuộc hành trình dài theo đuổi ngôi sao để có thể bái quì trước một Con Trẻ mà dâng lên Người những quà tặng quí báu. Tất cả chúng ta cần đến lòng can đảm này, một lòng can đảm gắn liền với niềm hy vọng mãnh liệt. Chớ gì Mẹ Maria xin cho chúng ta ơn ấy, khi đồng hành với chúng ta trong cuộc hành trình trần thế bằng việc bảo bọc chở che từ mẫu của Mẹ. Amen!
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh
(những chỗ được in đậm lên là do tự ý của người dịch trong việc làm nổi bật những điểm chính yếu quan trọng)
"Hỡi Mẹ trinh nguyên, trước sự ngỡ ngàng của tất cả mọi tạo vật, Mẹ đã hạ sinh Đấng Hóa Công”
ĐTC Biển Đức XVI: Bài Giảng Lễ Mẹ Thiên Chúa và Ngày Hòa Bình Thế Giới lần thứ 41 ngày 1/1/2008 tại Đền Thờ Vatican
Anh Chị Em thân mến,
Hôm nay, chúng ta bắt đầu một tân niên và hướng về niềm hy vọng Kitô Giáo; chúng ta hãy bắt đầu bằng việc kêu cầu Phúc Lành thần linh xuống trên nó và, nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa, nài xin tặng ân hòa bình: cho gia đình của chúng ta, cho thành thị của chúng ta, cho toàn thể thế giới. Với niềm hy vọng này, tôi gửi lời chào đến tất cả anh chị em đang hiện diện nơi đây, trước hết là các Tôn Vị Lãnh Sự thuộc Phái Đoàn Ngoại Giao làm việc với Tòa Thánh đã qui tụ lại với cuộc cử hành dịp Ngày Giới Trẻ Thế Giới này. Tôi gửi lời chào ĐHY Tarcisio Bertone, vị Quốc Vụ Khanh của tôi và ĐHY Renato Raffaele Martino cùng toàn thể phần tử thuộc Hội Đồng Tòa Thánh về Công Lý và Hòa Bình. Tôi đặc biệt biết ơn họ về việc họ nỗ lực phổ biến Sứ Điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới với chủ đề cho năm nay là “Gia Đình Nhân Loại, một Cộng Đồng của Hòa Bình”.
Hòa Bình. Trong Bài Đọc Thứ Nhất trích từ Sách Dân Số, chúng ta đã nghe tiếng kêu cầu: “Chúa… ban hòa bình cho các người” (6:26); chớ gì Chúa ban hòa bình cho mỗi một người trong anh chị em, cho gia đình của anh chị em và cho toàn thế giới. Tất cả chúng ta đều khao khát sống trong hòa bình thế nhưng hòa bình thực sự, thứ hòa bình được loan báo bởi các Thiên Thần vào đêm Giáng Sinh, không phải chỉ là một thứ chiến thắng của nhân loại hay là hoa trái của những thỏa thuận về chính trị; trước hết và trên hết, nó là một tặng ân thần linh cần phải được liên lỉ nài xin, đồng thời cũng là một việc dấn thân cách nhẫn nại, luôn dễ dạy với các mệnh lệnh của Chúa. Năm nay, trong Sứ Điệp của tôi cho Ngày Hòa Bình Thế Giới hôm nay, tôi đã muốn nhấn mạnh đến mối liên hệ chặt chẽ giữa gia đình và việc xây dựng hòa bình trên thế giới. Gia đình tự nhiên, được xây dựng trên hôn nhân giữa một người nam và một người nữ, là “cái nôi của sự sống và yêu thương”, và là “vị thày hòa bình tiên khởi bất khả thiếu”. Đó chính là lý do gia đình là “‘tác nhân’ căn bản của hòa bình”, và “việc chối bỏ hay thậm chí hạn chế các quyền lợi của gia đình, bằng cách làm lu mờ đi sự thật về con người, đều là những gì đe dọa tới chính những nền tảng của hòa bình” (cf. 1-5). Vì nhân loại là một “đại gia đình”, nếu muốn sống trong hòa bình thì nó không thể nào lại không được tác động bởi các thứ giá trị làm nền tảng cho cộng đồng gia đình. Một trùng hợp quan phòng của các biến cố khác nhau xẩy ra thúc đẩy chúng ta trong năm nay nỗ lực hơn nữa trong việc chiếm đạt hòa bình trên thế giới. Sáu mươi năm trước đây, vào năm 1948, Tổng Hội Đồng Liên Hiệp Quốc đã ban hành “Bản Tuyên Ngôn Chung về Nhân Quyền”; 40 năm trước đây, vị Tiền Nhiệm Phaolô khả kính của tôi cử hành Ngày Hòa Bình Thế Giới đầu tiên; ngoài ra, năm nay, chúng ta sẽ kỷ niệm 25 năm việc Tòa Thánh chuẩn phê “Bản Hiến Chương về Quyền Lợi Gia Đình”. Tôi muốn lập lại nơi đây những gì tôi đã đích xác viết ở xuối sứ điệp này: “Theo chiều hướng của những biến cố ý nghĩa này, tôi mời hết mọi người nam nữ hãy có một cảm quan thuộc về một gia đình nhân loại duy nhất cách sống động hơn nữa, và nỗ lực làm cho việc chúng sống của nhân loại càng ngày càng phản ảnh niềm xác tín ấy, một niềm xác tín thiết yếu cho việc thiết lập hòa bình chân thực và lâu bền” (khoản 15).
Giờ đây chúng ta tự nhiên nghĩ tới Đức Mẹ là Vị chúng ta hôm nay kêu cầu như Mẹ của Thiên Chúa. Chính Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã chuyển sang ngày 1 tháng 1 Lễ Mẹ Thiên Chúa này, một lễ trước kia được cử hành vào ngày 11/10. Thật vậy, trước cuộc canh tân phụng vụ xẩy ra sau Công Đồng Chung Vaticanô II, thì lễ nhớ Chúa Giêsu chịu phép cắt bì xẩy ra vào ngày thứ 8 sau ngày sinh của Người – như một dấu hiệu phục tùng lề luật, việc Người chính thức gia nhập Dân Chúa – thường được dùng để cử hành ngày đầu năm và Lễ Thánh Danh Giêsu được cử hành vào Chúa Nhật sau đó. Chúng ta nhận thấy được một ít dấu vết cho những việc cử hành này tron g đoạn Phúc Âm vừa được công bố, trong đó, Thánh Luca nói rằng 8 ngày sau khi sinh, Hài N hi lãnh nhận phép cắt bì và được đặt tên là “Giêsu”, “tên Thiên Chúa đã nói tới trước khi Người được thụ thai trong cung dạ (Mẹ của Người)” (Lk 2:21). Bởi thế, ngày lễ hôm nay, một lễ có ý nghĩa đặc biệt về Thánh Mẫu, cũng vẫn có một nội dung sâu đậm về Kitô học, vì, chúng ta có thể nói, nó liên quan tới Người Con là Chúa Giêsu, Thiên Chúa thật và là Người thật, trước cả Người Mẹ nữa.
Tông Đồ Phaolô đã nói tới mầu nhiệm về vai trò làm mẹ thần linh của Mẹ Maria trong Thư ngài gửi tín hữu Galata. Ngài viết, “đến lúc thời điểm nên trọn, Thiên Chúa đã sai Con của Ngài, được hạ sinh bởi một người phụ nữ, được sinh ra theo lề luật “ (4:4). Chúng ta thấy mầu nhiệm Nhập Thể của Lời Thần Linh và vai trò Mẹ Thần Linh của Mẹ Maria được tóm gọn trong mấy chữ, đó là đặc ân trọng đại của Vị Trinh Nữ này chính là được làm Mẹ của Người Con là Thiên Chúa. Bởi thế, vị trí hợp lý nhất và thích đáng nhất của lễ Thánh Mẫu này là tám ngày sau Giáng Sinh. Thật vậy, vào đêm Bêlem, khi “Mẹ hạ sinh con trái đầu lòng” (Lk 2:7), thì các lời tiên tri liên quan đến Đấng Thiên Sai đã được nên trọn. “Vị trinh nữ sẽ thụ thai và hạ sinh một con trai”, tiên tri Isaia đã tiên báo (7:14): “Này đây, trinh nữ sẽ thụ thai và hạ sinh một con trai”, Thiên Thần Gabiên đã nói với Mẹ Maria như thế (Lk 1:31); chưa hết, một Thiên Thần Chúa, được Thánh Ký Mathêu thuật lại, đã xuất hiện với Thánh Giuse trong một giấc chiêm bao mà bảo đảm với ngài rằng: “Đừng sợ nhận Maria làm vợ mình, vì Đấng được thụ thai trong lòng người là bởi Thánh Thần; người sẽ hạ sinh một con trai” (Mt 1:20-21).
Tước hiệu “Mẹ Thiên Chúa”, cùng với tước hiệu “Trinh Nữ Diễm Phúc”, là tước hiệu cổ nhất đưa đến tất cả mọi tước hiệu khác tôn kính Đức Mẹ, và là tước hiệu được tiếp tục kêu cầu từ đời nọ đến đời kia ở Đông phương cũng như Tây phương. Đầy giẫy những bài thánh ca và có cả một kho tàng kinh nguyện nơi truyền thống Kitô Giáo liên quan tới mầu nhiệm làm mẹ thần linh của Mẹ, chẳng hạn như câu tiền xướng Thánh Mẫu cho mùa Giáng Sinh được chúng ta nguyện cầu bằng những lời lẽ như sau: “Alma Redemptoris mater, Tu quae genuisti, natura mirante, tuum sanctum Genitorem, Virgo prius ac posterius – Hỡi Mẹ trinh nguyên, trước sự ngỡ ngàng của tất cả mọi tạo vật, Mẹ đã hạ sinh Đấng Hóa Công”. Anh chị em thân mến, hôm nay chúng ta hãy chiêm ngắm Mẹ Maria, Người Mẹ trinh nguyên của Người Con Cha Duy Nhất; chúng ta hãy học nơi Mẹ việc đón nhận Con Trẻ được sinh ra cho chúng ta ở Bêlem. Nếu chúng ta nhận ra nơi Con Trẻ được hạ sinh bởi Mẹ này Con Hằng Hữu của Thiên Chúa và chấp nhận Người là Đấng Cứu Thế duy nhất của chúng ta, chúng ta mới có thể được gọi và chúng ta mới thực sự là con cái của Thiên Chúa: là những người con nơi Người Con. Thánh Tông Đồ viết: “Thiên Chúa đã sai Con Ngài, được hạ sinh bởi người nữ, được sinh ra theo lề luật, để cứu chuộc những ai sống dưới lề luật, nhờ đó, chúng ta được thừa nhận là con cái” (Gal 4:4).
Thánh Ký Luca lập lại mấy lần rằng Đức Mẹ đã âm thầm suy niệm những biến cố phi thường này, những biến cố Thiên Chúa muốn Mẹ tham dự vào. Chúng ta cũng nghe thấy điều này trong đoạn Phúc Âm ngắn được Phụng Vụ chọn đọc cho chúng ta hôm nay: “Maria giữ tất cả những điều ấy mà ngẫm nghĩ trong lòng” (Lk 2:19).
Động từ Hy Lạp sumbállousa, được sử dụng ở đây, theo nghĩa đen, nghĩa là “chấp nối lại với nhau” và làm cho chúng ta nghĩ về một mầu nhiệm cao cả được khám phá ra từ từ. Mặc dù Con Trẻ này nằm trong máng cỏ giống như tất cả mọi con trẻ khác trên thế giới, đồng thời Người lại hoàn toàn khác hẳn, ở chỗ Người là Con Thiên Chúa, Người là Thiên Chúa, là Thiên Chúa thật và là người thật. Mầu nhiệm này – mầu nhiệm Nhập Thể của Lời và mầu nhiệm Làm Mẹ thần linh của Đức Maria – là những gì cao cả và thật sự vượt xa tầm hiểu biết của nguyên trí khôn của con người.
Tuy nhiên, bằng việc học từ nơi Mẹ, chúng ta có thể hiểu bằng con tim của mình những gì con mắt của chúng ta và trí khôn của chúng ta không thể tự mình thấy được hay hiểu được. Thật vậy, đây là một tặng ân cao cả mà chỉ có đức tin chúng ta nhận lãnh mới chấp nhận nó, trong khi chúng ta không hoàn toàn hiểu được nó. Và chính vì cuộc hành trình đức tin này mà Mẹ Maria đã đến gặp gỡ chúng ta như là hỗ trợ viên và hướng dẫn viên. Mẹ là Mẹ vì Mẹ đã sinh ra Chúa Giêsu trong xác thịt; Mẹ là Mẹ vì Mẹ hoàn toàn gắn bó với ý muốn của Chúa Cha. Thánh Âu Quốc Tinh đã viết: “Vai trò làm mẹ thần linh sẽ chẳng có giá trị đối với Mẹ nếu Chúa Kitô không cưu mang Mẹ trong lòng của Người, một số phận còn hạnh phúc hơn là giây phút Mẹ cưu mang Người nơi xác thịt” (De Sancta Virginitate, 3, 3). Và trong lòng của mình, Mẹ Maria tiếp tục trân quí, “chắp nối với nhau” những biến cố sau đó Mẹ được chứng kiến và đóng vai chính, ngay cả cái chết trên Thập Giá và cuộc Phục Sinh của Chúa Giêsu Con Mẹ.
Anh chị em thân mến, chỉ bằng việc ngẫm nghĩ trong lòng, tức là bằng việc chắp nối lại với nhau và tìm cách liên kết tất cả những gì chúng ta cảm nghiệm thấy, mà, khi noi theo Mẹ Maria, chúng ta mới có thể đi sâu vào mầu nhiệm của một Vị Thiên Chúa làm người vì yêu thương và là Đấng kêu gọi chúng ta theo Người trên con đường yêu thương: một tình thương yêu được thể hiện hằng ngày bằng việc quảng đại phục vụ anh chị em của mình. Chớ gì tân niên này mà chúng ta đang tin tưởng bắt đầu hôm nay đây trở thành một thời gian gia tăng kiến thức của cõi lòng là đức khôn ngoan của các vị thánh nhân. Chún g ta hãy nguyện cầu, khi chúng ta nghe thấy trong Bài Đọc Thứ Nhất rằng Chúa “tỏ rạng dung nhan cũa Ngài” trên chúng ta, “và tỏ lòng ưu ái” chúng ta (x Num 6:24-7), cùng chúc lành cho chúng ta. Chúng ta có thể tin tưởng như thế, nếu chúng ta không bao giờ thôi tìm kiếm dung nhan của Ngài, nếu chúng ta không bao giờ lùi bước trước thất đảm và ngờ vực , nếu trong nhiều khốn khó gặp phải chúng ta luôn gắn bó với Ngài, chúng ta sẽ cảm nghiệm thấy quyền năng tình yêu của Ngài và tình thương của Ngài. Chớ gì Con Trẻ mềm yếu hôm nay được Đức Trinh Nữ tỏ cho thế giới thấy làm cho chún g ta thành những con người xây dựng hòa bình, thành những nhân chứng của Người, Vị Hoàng Tử Hòa Bình. Amen!
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh
(những chỗ được in đậm lên là do tự ý của người dịch trong việc làm nổi bật những điểm chính yếu quan trọng)