ĐTC Biển Đức XVI: CÁC DIỄN TỪ TRONG NĂM 2006

 

Với chung Giáo Triều Rôma 22/12/2006

Chuyến Tông Du 5: Thăm Thổ Nhĩ Kỳ 28/11-1/12/2006

Với Các Vị Giám Mục Thụy Sĩ Thứ Năm 9/11/2006 

với Đại Hội thường nên của Giáo Hoàng Hàn Lâm Viện Các Khoa Học ngày 6/11/2006 

Huấn từ cho Giáo Hoàng Đại Học Đường Gregorian ngày 3/11/2006

huấn dụ ở Đại Học Đường Ṭa Thánh Laterano dịp bắt đầu Năm Học mới 21/10/2006

Huấn Từ cho Công Nghị Toàn Ư Quốc Về  Giáo Hội Lần 4 ở Trung Tâm Triển Lăm Verona 19/10/2006

Với Hội Nghị của Giáo Hoàng Học Viện Về Sự Sống ngày 16/9/2006 về Chủ Đề “Các Thứ Thân Bào: Tương Lai Ra Sao Đối Với Việc Trị Liệu?”

Chuyến Tông Du 4: 9-14/9/2006 Thăm quê quán Bavaria Đức Quốc

Chia Sẻ với Các Vị Giám Mục Ontario Canada dịp Các Ngài Viếng Thăm Ṭa Thánh Ngũ Niên 8/9/2006

Sứ Điệp ngày 4/9/2006 gởi Cuộc Hội Ngộ Liên Tôn để Cầu Nguyện cho Ḥa B́nh lần thứ 20

Huấn Từ Ở Đền Thờ Nhan Thánh, Manoppello, Ư, Thứ Sáu 1/9/2006

Huấn Từ cho Ngày Nguyện Cầu và Chay Tịnh cho Ḥa B́nh Trung Đông tại Nhà Thờ Thánh George ở Aosta Valley Chúa Nhật 23/7/2006

Chuyến Tông Du 3: 8-9/7/2006 Ngày Họp Thế Giới Các Gia Đ́nh V

“Niềm vui xuất phát từ đức tin và mối liên hệ của đức tin với việc giáo dục các thế hệ mới 5/6

“Đừng bao giờ chán chường trong việc thiết dựng những cây cầu thông cảm và truyền thông giữa cảm nghiệm của giáo hội với ư nghĩ của quần chúng” 3/6

Sứ Điệp gửi Hội Nghị Thế Giới Lần Hai Các Phong Trào và Tân Cộng Đồng được tổ chức ở Rôma vào thời khoảng 31/5 đến 2/6/2006

Ngày đầu Tháng Hoa 2006 về Năm Mùa Vui và Mẹ Maria là Người Nữ Mến Yêu

Chuyến Tông Du 2:  25-28/5/2006 Balan, quê hương của vị tiền nhiệm GPII

Huấn Dụ Học Viện Gioan Phaolô II Đặc Trách Nghiên Cứu Về Hôn Nhân Và Gia Đ́nh

Với Tham Dự Viên Khóa Hội Luận ở Sảnh Đường Phaolô ngày 10/4/2006 về Giáo Dục Cao Học Ở Âu Châu

T Gửi Tham Dự Viên Đại Hội Thường Niên Học Viện Ṭa Thánh Về Các Khoa Xă Hội Học

Huấn Từ kết thúc Đường Thánh Giá ở Hí Trường Colosseum Rôma Thứ Sáu 14/4/2006

Đêm Canh Thức 2/4/2006 Cầu Kinh Mân Côi Kỷ Niệm Đầy Năm Đức Gioan Phaolô II Qua Đời

Chia Sẻ sau khi xem cuốn phim về về Đức Gioan Phaolô II ngày 30/3/2006 ở Sảnh Đường Phaolô VI

Với Qúi Vị Thành Viên Quốc Hội Âu Châu ở Hall of Blessing nhân dịp Những Ngày Học Hỏi Về Âu Châu 30/3

Với Văn Pḥng Quốc Vụ Khanh Ṭa Thánh và Thành Phần Đại Diện Ṭa Thánh Ở Các Tổ Chức Quốc Tế  19/3

Huấn Từ cho Đại Hội Thường Niên của Hội Đồng Ṭa Thánh Về Truyền Thông Xă Hội 17/3

Ngỏ Lời cùng vị giảng pḥng Mùa Chay 2006 cho Giáo Triều Rôma Thứ Bảy 11/3/2006 ở Nguyện Đường Redemptoris Mater

Với  Hội Nghị Quốc Tế tại Hall of Blessings ngày 11/3/2006 Nhân Dịp 40 Năm Sắc Lệnh Về Truyền Giáo ‘Ad Gentes – Cho Muôn Dân’

Về Đài Phát Thanh Vatican ngày 3/3/2006 Kỷ Niệm 75 Năm

Trao Đổi với Hàng Giáo Sĩ ở Rôma Hôm 2/3/2006

Với Nhóm Linh Mục và Chủng Sinh Chính Thống Hy Lạp 27/2

Cùng Tổng Nghị Lần 12 của Học Viện Ṭa Thánh Về Sự Sống và Hội Nghị “Nhân Bào Phôi Thai Ở Giai Đoạn Tiền Cấy” 27/2

Với Các Bệnh Nhân cuối Thánh Lễ 11/2/2006 về Ngày Thế Giới Bệnh Nhân  

Với Hội Nghị Thường Niên của Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin 10/2/2006 ở Sảnh Đường Clementine

Cùng Thành Phần Phục Vụ Pháp Đ́nh Rota Roma dịp khai mở pháp niên 28/1/2006 tại Sảnh Đường Clementine

Với Chư Hiệp Hội Lao Động Kitô Hữu Ư Quốc ngày 27/1/2006

Ngỏ lời cùng Tôn Sư Trưởng Riccardo Di Segni và phái đoàn đại biểu Hội Đường Do Thái Rôma ngày Thứ Hai 16/1/2006

Diễn Từ Mừng tân Niên với Phái Đoàn Ngoại Giao Chư Quốc ngày Thứ Hai 9/1/2006: việc dấn thân cho sự thật là linh hồn của công lư

Với Các Vị Lănh Đạo Thế Giới Liên Minh Chư Giáo Hội Cải Cách Thứ Bảy 7/1/2006

 

 

“Hăy chăm lo tới mối liên hệ riêng tư của con người với Thiên Chúa, một mối liên hệ nhờ đó Thiên Chúa tỏ ḿnh cho chúng ta nơi Chúa Kitô”

 

Với Các Vị Giám Mục Thụy Sĩ Thứ Năm 9/11/2006  (tiếp theo bài giảng hôm Thứ Ba 7/11/2006).

 

Trước hết tôi xin cám ơn tất cả chư huynh về buổi sáng hôm nay, một buổi sáng đối với tôi dường như rất ư là quan trọng trong việc thể hiện niềm cảm mến đối với tính cách đoàn tính, một thể hiện cho trách nhiệm chung của chúng ta đối với Giáo Hội cũng như đối với Phúc Âm trong thế giới vào lúc này đây. Xin cám ơn chư huynh về tất cả mọi sự!

 

Tôi xin lỗi v́ những công việc khác, nhất là những cuộc viếng thăm  Ṭa Thánh ngũ niên ‘ad limina’ – trong những ngày này đến phiên các vị Giám Mục Đức Quốc – tôi đă không thể ở cùng quí huynh.

 

Tôi đă thực sự muốn nghe tiếng nói của các vị Giám Mục Thụy Sĩ – thế nhưng có lẽ sẽ có những dịp khác – và dĩ nhiên có thể nghe được cuộc đối thoại trao đổi giữa Giáo Triều Rôma và các vị Giám Mục Thụy Sĩ: cả ở Giáo Triều Rôma đây nữa, Đức Thánh Cha bao giờ cũng nói với trách nhiệm đối với ṭan thể Giáo Hội.

 

Bởi thế, cám ơn chư huynh về cuộc gặp gỡ này, một cuộc gặp gỡ đối với tôi là những ǵ hữu ích với tất cả chúng ta v́ nó là một kinh nghiệm về mối hiệp nhất của Giáo Hội cũng như về niềm hy vọng hỗ trợ chúng ta trong tất cả mọi thứ khó khăn đang vây lấy chúng ta.

 

Ngoài ra, tôi xin chư huynh bỏ qua cho tôi về việc không dọn sẵn bài nói vào chính ngày đều tiên này; dĩ nhiên là tôi đă có một số tư tưởng, song không có giờ viết ra. Bởi thế, giờ đây, một lần nữa, tôi đến đây với cảnh thiếu thốn này, song cũng đúng nữa đối với một Giáo Hoàng cần phải nghèo theo tất cả mọi ư nghĩa của nó vào thời điểm này của lịch sử Giáo Hội.

 

Dù sao giờ đây tôi cũng không thể cống hiến cho chư huynh một Bài Diễn Từ cả thể như thường xẩy ra thích hợp theo sau một cuộc gặp gỡ với những thành quả này.

 

Thật vậy, tôi phải nói rằng tôi đă đọc bản tóm lược các cuộc bàn luận của chư huynh, và ngay vào lúc này đây tôi đă hết sức chú trọng lắng nghe bản phúc tŕnh ấy: nó dường như là một bản văn thấu suốt và phong phú. Nó thực sự đáp ứng cho những vấn đề thiết yếu liên quan tới chúng ta, cả về mối hiệp nhất của toàn thể Giáo Hội cũng như về những vần đề riêng biệt của Giáo Hội ở Thụy Sĩ. Đối với tôi, nó thực sự phác họa một con đường cho những năm tới đây và chứng tỏ cho thấy ước vọng chung của chúng ta trong việc phụng sự Chúa. Nó là một văn kiện rất phong phú.

 

Khi đọc văn kiện này, tôi nghĩ rằng thật là ngớ ngẩn nếu giờ đây tôi bắt đầu bàn lại những đề tài đă được bàn đến  một cách thấu đáo và kỹ lưỡng trong 3 ngày vừa qua. Ở đây tôi thấy được thành quả cô đọng và dồi dào của công việc được thực hiện; Tôi nghĩ rằng rất khó ḷng để thêm bất cứ điều ǵ nữa vào từng điểm này, một phần v́ tôi đă thấy được thành quả của công việc làm ấy, chứ không phải thực sự là tiếng nói của những ai nói lên trong các cuộc bàn luận ấy.

 

Bởi thế, tôi nghĩ có lẽ thích hợp cho buổi tối hôm nay, vào lúc kết thúc này đây, một lần nữa trở lại với những đề tài quan trọng đang làm bận tâm chúng ta và v́ thế đang là nguồn gốc của tất cả mọi chi tiết – cho dù dĩ nhiên là từng chi tiết đều quan trọng cả.

 

Nơi Giáo Hội, cơ cấu tổ chức không phải chỉ là những ǵ thuần túy bề ngoài c̣n Phúc Âm là những ǵ thuần túy về thiêng liêng. Thật vậy, Phúc Âm và Cơ Cấu Tổ Chức là những ǵ bất khả tách biệt, v́ Phúc Âm có một thân ḿnh, Chúa có một thân thể vào lúc này đây của chúng ta. Bởi thế mà các vấn đề thoạt nh́n tưởng thuần túy liên quan tới cơ cấu tổ chức thực sự lại là những vấn đề về thần học và trọng yếu, v́ nó là vấn đề của việc hiện thực hóa và cụ thể hóa Phúc Âm trong thời đại của chúng ta.

 

Do đó, điều hay nhất cần làm bây giờ đó là việc nhấn mạnh một lần nữa tới những quan điểm chính yếu chi phối toàn thể việc chia sẻ của chúng ta đây. Nhờ sự thông cảm và quảng đại của các phần tử thuộc Giáo Triều Rôma, xin cho tôi tiếp tục sử dụng tiếng Đức, v́ chúng ta có những thông dịch viên thông giỏi ở đây kẻo họ ngồi không chẳng có việc ǵ làm.

 

Tôi đă nghĩ đến hai đề tài đặc biệt đă được tôi nói tới mà giờ đây tôi muốn khảo sát kỹ lưỡng hơn nữa.

 

Vậy chúng ta hăy trở lại với chủ đề về ‘Thiên Chúa’. Óc tôi nẩy lên những lời của Thánh I Nhă: ‘Kitô hữu không phải là thành quả của một cuộc thuyết phục mà là của quyền lực’ ("Epistula ad Romanos" 3, 3). Chúng ta không được để cho đức tin của chúng ta bị cạn ráo bởi quá nhiều những thứ bàn luận về đủ mọi chuyện, bởi những chi tiết nho nhoi, trái lại, bao giờ cũng phải chú trọng trước tiên đến cái cao cả của Kitô Giáo.

 

Tôi nhờ rằng khi tôi thường về Đức quốc vào thập niên 1980 và 1990, tôi đă được yêu cầu thực hiện các cuộc phỏng vấn và tôi bao giờ cũng biết trước các câu hỏi sẽ được đặt ra. Những câu hỏi ấy liên quan về việc truyền chức cho nữ giới, về vấn đề ngừa thai, vấn đề phá thai và các vấn đề khác cứ liên tục diễn tiến như thế.

 

Nếu chúng ta để ḿnh bị cuốn lôi vào những thứ bàn căi này, th́ Giáo Hội bị đồng hóa với một số giới luật hay với những thứ cấm kị; chúng ta làm cho người ta có cảm tưởng chúng ta là những luân lư gia có một vài niềm xác tín cổ lỗ làm sao ấy, và thậm chí cũng không thấy đâu là cái bóng dáng về tính chất cao cả thực sự của niềm tin nữa. Bởi thế tôi bao giờ cũng thấy cần phải nhấn mạnh tới tính chất cao cả nơi niềm tin tưởng của chúng ta – một quyết tâm cần chúng ta gắn bó không để cho những trường hợp như thế chi phối.

 

Theo chiều hướng ấy, giờ đây tôi muốn tiếp tục để hoàn tất những chia sẻ hôm Thứ Ba vừa rồi cũng như để nhấn mạnh một lần nữa rằng: cái vấn đề trên hết đó là hăy chăm lo tới mối liên hệ riêng tư của con người với Thiên Chúa, một mối liên hệ nhờ đó Thiên Chúa tỏ ḿnh cho chúng ta nơi Chúa Kitô.

 

Thánh Âu Quốc Tinh đă nhấn mạnh nhiều lần hai phương diện nơi quan niệm của Kitô Giáo về Thiên Chúa: Thiên Chúa là Lời và Thiên Chúa là T́nh Yêu – cho đến độ Ngài đă hoàn toàn  hạ ḿnh, mặc lấy thân xác loài người, hiến ḿnh trong tay chúng ta như một miếng bánh. Chúng ta lúc nào cũng phải nhớ rằng và giúp cho những người khác nhớ tới hai khía cạnh này nơi quan niệm của Kitô Giáo về Thiên Chúa.

 

Thiên Chúa là ‘Thần Linh Sáng Tạo’, Ngài là Lời, Ngài là lư trí. Và đó là lư do tại sao đức tin của chúng ta là một điều có liên quan tới lư trí, có thể được truyền đạt nhờ lư trí và không có lư do ǵ lại dấu giếm lư trí, thậm chí cả với thứ lư trí của thời đại chúng ta đây. Thế nhưng, chính v́ thứ lư trí hằng hữu khôn lường này không phải thuần túy là một thứ toán học về vũ trụ, và lại càng không phải là một nguyên lư đệ nhất nào đó đă rút lui sau khi tạo nên cuộc Đại Bùng Nổ (Big Bang).

 

Ngược lại, lư trí này có một con tim đến nỗi có thể từ bỏ tính cách lớn lao vĩ đại của ḿnh mà mặc lấy xác thịt. Tôi nghĩ rằng chỉ nguyên điều này thôi cũng cho thấy cái cao cả tối hậu và thực sự nơi quan niệm của chún g ta về Thiên Chúa rồi. Chúng ta biết rằng Thiên Chúa không phải là một thứ giả thiết về triết lư, Ngài không phải là một cái ǵ đó có lẽ hiện hữu, thế nhưng chúng ta biết Ngài và Ngài biết chúng ta. Và chúng ta có thể biết Ngài mỗi ngày một hơn nếu chúng ta tiếp tục thực hiện cuộc đối thoại trao đổi với Ngài.

 

Đó là lư do tại sao công việc trọng yếu nơi vấn đề chăm sóc mục vụ là dạy cho dân biết cách nguyện cầu và biết cách làm điều ấy một cách riêng tư mỗi ngày một hơn. Ngày nay, xuất hiện các học đường cầu nguyện và các nhóm nguyện cầu; rơ ràng là dân chúng đều cần đến những điều ấy. Nhiều người t́m kiếm việc suy niệm ở một chỗ khác, v́ họ nghĩ rằng họ không thể t́m thấy chiều kích linh thiêng nơi Kitô Giáo.

 

Chúng ta cần phải tỏ cho họ thấy một lần nữa chẳng những Kitô Giáo có chiều kích thiêng liêng mà nó c̣n là nguồn mạch của tất cả mọi sự nữa. Để đạt được mục đích này, chúng ta cần phải gia tăng con số học đường cầu nguyện ấy, v́ việc cùng nhau cầu nguyện, khi nào có thể, là để học biết cầu nguyện  riêng ở tất cả mọi chiều kích của nó: như một thứ âm thầm lắng nghe Thiên Chúa, như một thứ lắng nghe thấm nhập Lời của Ngài, thấm nhập việc im hơi lặng tiếng của Ngài, thấu hiểu được hành động của Ngài trong lịch sử cũng như nơi con người của ḿnh; và hiểu được ngôn từ của Ngài trong đời sống của ḿnh, nhờ đó biết đáp ứng bằng việc nguyện cầu theo những lời kinh nguyện cao cả từ những Thánh Vịnh ở Cựu Ước và những kinh nguyện Tân Ước.

 

Tự ḿnh, chúng ta chẳng biết nói ǵ với Thiên Chúa hết, mà là những lời được gợi lên cho chúng ta: chính Thánh Linh là Đấng đă làm lên những lời lẽ nguyện cầu cho chúng ta; chúng ta có thể cảm thấy chúng, chúng ta có thể dùng chúng nguyện cầu và nhờ đó biết tự ḿnh nguyện cầu khá hơn; chúng ta có thể ‘biết được’ Thiên Chúa và nhờ đó cảm thấy vững tâm về Ngài cho dù Ngài âm thầm câm nín – chúng ta có thể trở nên hân hoan trong Thiên Chúa. 


Việc thân t́nh ở với Thiên Chúa, nhờ đó, cảm nghiệm được sự hiện diện của Ngài, có thể nói là những ǵ làm cho chúng ta cảm nghiệm thấy một cách mới mẻ hơn bao giờ hết tính cách cao cả của Kitô Giáo, bởi thế cũng giúp cho chúng ta t́m được cách thức vượt qua tất cả mọi thứ tầm thường là những ǵ, tất nhiên, cũng cần phải sống và mang ra thực hành, từ ngày này đến ngày khác, trong đau thương cũng như trong yêu thương, trong vui mừng cũng như trong sầu khổ.

 

Thế rồi từ quan điểm này, theo tôi nghĩ, người ta nhận thấy được tầm quan trọng của Phụng Vụ thực sự như là một học đường nguyện cầu, nơi chính Chúa dạy chúng ta cầu nguyện và là nơi chúng ta cùng nguyêä cầu với Giáo Hội, cả ở những cuộc cử hành âm thầm giản dị có vài tín hữu tham dự cũng như nơi cuộc mừng lễ theo niềm tin.

 

Qua những cuộc đàm thoại khác nhau, giờ đây tôi đă nhận thấy, một lần nữa vào chính lúc này đây, một đàng là tính cách quan trọng biết bao đối với tín hữu về việc giữ thinh lặng trong cuộc giao tiếp với Thiên Chúa, đàng khác là cuộc mừng lễ theo niềm tin, quan trọng biết bao để làm sao có thể sống động cuộc cử hành mừng lễ này.

 

Thế giới cũng có những ngày mừng lễ của nó. Nietzsche thực sự đă nói rằng: Chúng ta chỉ có thể c73 hành nếu Thiên Chúa không hiện hữu. Thế nhưng, đây là một điều ngớ ngẩn, ở chỗ, chỉ khi nào Thiên Chúa hiện hữu và chạm tới chúng ta th́ cuộc mừng lễ mới thực sự diễn ra mà thôi. Và chúng ta biết rằng những cuộc mừng lễ theo niềm tin này là những ǵ mở rộng ḷng con người ra, tạo nên  những ấn tượng hữu ích cho tương lai. Trong các chuyến Tông Du Mục Vụ ở Đức quốc, Ba Lan và Tây Ban Nha, một lần nữa tôi lại thấy được rằng đức tin ở những nơi đó được sống như là một cuộc mừng lễ và nó hỗ trợ dân chúng cùng hướng dẫn dân chúng.

 

Trong bối cảnh ấy, tôi xin  đề cập tới một điều khác tác động tôi và tạo nên một ảnh hưởng lâu dài.

 

Nơi tác phẩm cuối cùng của Thánh Tôma Aquinas vẫn c̣n dang dở chưa xong, Cuốn Tổng Luận Thần Học mà ngài có ư cấu trúc một cách giản dị theo 3 thần đức tin, cậy, mến, vị đại Tiến Sĩ này đă bắt đầu và đă khai triển một phần chương sách của ḿnh về đức cậy. Nơi chương này, có thể nói ngài đă đồng hóa đức cậy với việc cầu nguyện: chương về đức cậy đồng thời cũng là chương về việc cầu nguyện.

 

Cầu nguyện là đức cậy sinh động. Thật thế, lư do đích thực được chứa chất nơi việc cầu nguyện, lư do tại sao có thể hy vọng cậy trông, đó là việc chúng ta tiến đến chỗ giao tiếp với Vị Chúa của thế giới này, Người đang lắng nghe chúng ta, và chúng ta có thể nghe thấy Người. Đó là những ǵ Thánh I Nhă ám chỉ tới và là những ǵ tôi muốn nhắc nhở chư huynh hôm nay một lần nữa"ou peismones to ergon, alla megethous estin ho Christianismos" ("Ad Rom." 3, 3) – điều thực sự cao cả nơi Kitô Giáo, điều không châm chước cho con người khỏi những thứ nhỏ nhoi, thường nhật song cũng không bị chúng che khuất, đó là khả năng tiến đến chỗ giao tiếp với Thiên Chúa này.


Điều thứ hai được tôi lưu ư tới ngay trong những ngày này là những ǵ liên quan tới những vấn đề luân lư.

 

Tôi thường nghe nói rằng dân chúng ngày nay cảm thấy khát vọng Thiên Chúa, khát vọng linh đạo, khát vọng tôn giáo, và lại bắt đầu thấy Giáo Hội như là một đồng bạn khả đàm nhờ đó họ có thể nhận được một điều ǵ đó. (Đă có giai đoạn điều này chỉ thấy nơi các tôn giáo khác thôi).

 

Có một nhận thức đang phát triển đó là Giáo Hội đặc biệt chuyển đạt cảm nghiệm thiêng liêng; Giáo Hội như một cây choc him trời làm tổ cho dù chúng có muốn bay đi sau đó – nhưng Giáo Hội cũng thực sự là một nơi giúp con người có thể được ổn định một thời gian nào đó.

 

Trái lại, những ǵ dân chúng cảm thấy khó khăn hơn đó là thứ luân lư được Giáo Hội truyền dạy. Tôi đă suy nghĩ về điều này – tôi vẫn đang suy nghĩ về nó đă lâu – và tôi thấy càng rơ ràng hơn nữa là trong thời đại của chún g ta đây vấn đề luân lư thực sự bị chia ra làm đôi.

 

Xă hội tân tiến không phải chỉ thiếu những ǵ là luân lư mà c̣n ‘khám phá’ ra và cần đến chiều kích khác của luân  lư, những ǵ mà trong việc Giáo Hội loan báo trong các thập niên gần đây, thậm chí trước cả đó nữa, có lẽ đă chưa được tŕnh bày đầy đủ. Chiều kích này bao gồm những đề tài to lớn về ḥa b́nh, về việc bất bạo động, về công lư cho tất cả mọi người, về mối quan tâm đến người nghèo và về việc tôn trọng thiên nhiên. Chúng đă trở thành một tổng thể đạo lư mà, giống hệt như một quyền lực chính trị, có một quyền lực lớn mà đối với nhiều người có thể trở thành những ǵ thay thế hay thừa kế cho tôn giáo.

 

Những đề tài quan trọng về luân lư đóng một vai tṛ thiết yếu trong việc ban phẩm giá cho con  người và hẹn ước với họ, thay cho tôn giáo là những ǵ được thấy như thuộc về siêu h́nh học và như là một cái ǵ đó từ trên cao – có lẽ cũng như là một cái ǵ đó tư riêng nữa.

 

Đó là chỉ là một khía cạnh, ở chỗ cái luân lư này xẩy ra đồng thời cũng lôi cuốn cả giới trẻ nữa, thành phần hoạt động cho ḥa b́nh, cho t́nh trạng bất bạo động, cho công lư, cho người nghèo, cho thiên nhiên. Ngoài ra thật sự là c̣n có những đề tài luân lư quan trọng cũng thuộc về truyền thống của Giáo Hội nữa. Tuy nhiên, phương tiện được cống hiến cho việc giải quyết đối với những đề tài ấy thường rất ư là đơn phương một chiều và không bao giờ có uy tín hết, song giờ đây chúng ta không thể bàn đến vấn đề này. Những đề tài quan trọng hiện đang xẩy ra.

 

Một lănh vực khác của luân lư, thường gây ra tranh căi bởi các đảng phái chính trị, liên quan tới sự sống. Một khía cạnh trong lănh vực này đó là cổ vơ sự sống từ khi được thụ thai cho tới khi tự nhiên qua đời, tức là việc bênh vực sự sống chống lại vấn đề phá thai, chống lại vấn đề triệt sinh an tử, chống lại vấn đề con người mạo dụng và tự động cho ḿnh có quyền sử dụng sự sống.

 

Dân chúng thường t́m cách biện minh cho những thứ nhúng tay can thiệp này bằng mục đích có vẻ cao cả, thậm chí c̣n có tính cách luân lư để nắm trong tay sự sống và mạo dụng nó.

 

Tuy nhiên , đàng khác, sự sống cũng được nh́n nhận là một tặng ân cần phải tôn trọng và yêu chuộng từ ngay giây phút ban đầu cho tới tận giây phút cuối cùng đối với thành phần khổ đau, tật nguyền và yếu kém.

 

Vấn đề luân lư về hôn nhân và gia đ́nh cũng thích hợp trong bối cảnh này. Hôn nhân có thể nói trở thành những ǵ bị loại trừ hơn bao giờ hết.

 

Chúng ta thấy được thí dụ điển h́nh nơi một số quốc gia tu chính luật lệ để hôn nhân không c̣n được định nghĩa là mối liên kết giữa một người nam và một người nữ mà là mối liên kết giữa những con người; bởi đó, rơ ràng là ư nghĩa căn bản về hôn nhân đă bị hủy diệt và nguồn gốc sâu xa của xă hội trở thành một cái ǵ đó hoàn toàn khác hẳn.

 

Việc nhận thức rằng t́nh dục, t́nh ái và hôn nhân như một cuộc hiệp nhất giữa một người nam và một người nữ  là những ǵ đi với nhau – ‘và họ trở nên một xác thịt’ (Gen 2:24) – đang càng ngày càng trở nên suy yếu, hết mọi mẫu liên kết dường như là những ǵ hoàn toàn b́nh thường – chúng tiêu biểu cho một thứ luân lư tổng quan bất biệt phân và là một h́nh thức tự do hợp với con người.

 

Tất nhiên, theo đó, tính cách bất khả phân ly của hôn nhân đă trở thành hầu như là một ư nghĩ không tưởng, bị nhiều nhân vật trong quần chúng thực sự dường như phủ nhận. Bởi thế mà cả gia đ́nh thậm chí cũng dần dần bị tan ră.

 

Dĩ nhiên là có nhiều thứ giải thích cho vấn đề giảm sút ghê gớm nơi mức sinh sản, thế nhưng chắc chắn đóng một vai tṛ quyết liệt trong vấn đề này là sự kiện con người muốn hoan hưởng cuộc đời, là sự kiện họ ít tin tưởng vào tương lai và họ cảm thấy gia đ́nh không c̣n tồn tại như là một cộng đồng lâu dài cho các thế hệ tương lai có thể phát triển. 

 

Thế nên, trong những bối cảnh ấy, việc loan báo của chúng ta đụng độ với một ư thức thực sự phản nghịch lại xă hội và với một thứ phản luân lư theo quan niệm tự do được coi như là chức năng được quyền tự động chọn lựa chẳng cần ǵ đến những hướng dẫn được ấn định trước cả, bất chấp, từ đó đi tới chỗ khả chấp đối với tất cả những ǵ là khả dĩ.

 

Bởi vậy, nó tự động cho ḿnh là đúng về đạo lư, nhưng thứ nhận thức khác vẫn không bị biến mất. Nó vẫn c̣n đó, và tôi tin rằng chúng ta cần  phải dấn thân để tái liên kết hai lănh vực này của luân lư và làm sáng tỏ vấn đề là chúng cần phải được liên  kết với nhau bất khả phân ly.

 

Chỉ khi nào sự sống con người từ khi được thụ thai đến lúc tự nhiên qua đi được tôn trọng th́ đạo lư về ḥa b́nh mới khả dĩ và khả tín; chỉ cho tới lúc ấy vấn đề phi bạo lực mới được thể hiện ở mọi chiều kích, chỉ cho tới bấy giờ chúng ta mới có thể thực sự chấp nhận tạo vật và chỉ tới bấy giờ chúng ta mới đạt được công lư đích thực.

 

Tôi nghĩ rằng đó là một công cuộc cao cả trước mắt chún g ta: một đàng vừa không làm cho Kitô Giáo dường như trở thành thuần luân lư, mà là một tặng ân nhờ đó chún g ta có được một t́nh yêu nâng đỡ chún g ta và cống hiến cho chúng ta sức mạnh cần thiết để có thể ‘mất sự sống ḿnh’. Mặt khác, trong bối cảnh của một t́nh yêu tự nguyện trao ban, chúng ta cần tiến tới với những đường lối đem ra thực hành, luôn đặt trên nền tảng Bản Thập Giới là những ǵ ngày nay chúng ta cần phải dẫn giải với Chúa Kitô và với Giáo Hội một cách tiến bộ và mới mẻ.

 

Bởi vậy, những đề tài tôi nghĩ tôi cần phải và có thể diễn giải là như thế. Tôi xin cám ơn ḷng quảng đại và sự nhẫn nại của chư huynh. Chúng ta hy vọng Chúa sẽ giúp tất cả chúng ta tron g cuộc hành tŕnh của chúng ta!


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh Vatican

 

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2006/november/documents/hf_ben-xvi_spe_20061109_concl-swiss-bishops_en.html

 

 

TOP

 

 

“Khoa học không thể nào thay thế được triết học và mạc khải, trong việc cung cấp một giải đáp trọn vẹn cho những vấn nạn sâu xa nhất của con người”

 

ĐTC Biển Đức XVI với Đại Hội thường nên của Giáo Hoàng Hàn Lâm Viện Các Khoa Học ngày 6/11/2006 

 

Thưa Quí Vị Giám Mục,

Thưa Quí Tôn Vị Nữ Nam,

 

Tôi hân hoan gửi lời chào đến các phần tử của Giáo Hoàng Hàn Lâm Viện Các Khoa Học nhân dịp Đại Hội thường niên, và tôi xin cám ơn Giáo Sư Nicola Babibbo về những lời lẽ tốt đẹp ngỏ lời chào tôi thay cho quí vị. Đề tài cho cuộc họp của quí vị – ‘Khả Năng Dự Đoán nơi Khoa Học: Vấn Đề Chính Xác và Những Giới Hạn” – là những ǵ bàn tới một phẩm chất chuyên biệt của khoa học tân tiến. Thật vậy, khả năng dự đoán là một trong những lư do chính đối với thế giá của khoa học trong xă hội hiện đại. Việc thiết lập phương pháp khoa học đă cống hiến cho các khoa học khả năng dự đoán các hiện tượng xẩy ra, nghiên cứu diễn tiễn của các hiện tượng đó, nhờ đó kiểm soát được môi trường con người sống động.

 

‘Vấn đề tiến bộ’ đang gia tăng này của khoa học, đặc biệt là khả năng của nó trong việc làm chủ thiên nhiên tạo vật bằng kỹ thuật, có những lúc đă dính dáng tới một ‘cuộc thoái lui’ tương ứng của triết học, của tôn giáo, và thậm chí của cả đức tin Kitô Giáo. Thật vậy, có một số người đă thấy nơi việc tiến bộ này của khoa học và kỹ thuật tân tiến một trong những lư do chính cho t́nh trạng tục hóa và duy vật chủ nghĩa: tại sao lại cần đến vấn đề khẩn cầu cùng Thiên Chúa để làm chủ những hiện tượng ấy trong lúc khoa học cho thấy nó có thể làm được điều ấy chứ? Thật sự là Giáo Hội nh́n nhận rằng ‘nhờ khoa học và kỹ thuật hỗ trợ…, con người đă nới rộng việc làm chủ của ḿnh trên hầu như toàn thể thiên nhiên tạo vật’, bởi đó mà giờ đây con người, bằng hoạt động của ḿnh, đang làm phát sinh ra những lợi ích từng được họ t́m kiếm từ các quyền lực trên cao’ (Gaudium et Spes, 33). Kitô Giáo cũng đồng thời không chấp nhận là có một cuộc xung khắc bất khả tránh giữa đức tin siêu nhiên và tiến bộ khoa học. Ngay chính ở khởi điểm của mạc khải Thánh Kinh đó là việc khẳng định rằng Thiên Chúa đă tạo dựng nên con người, phú bẩm cho họ trí khôn, và đặt họ trên tất cả mọi tạo vật trên trần gian này. Nhờ đó, con người đă trở thành một quản viên của thiên nhiên tạo vật và là ‘một phụ giúp viên’ của Thiên Chúa. Nếu chúng ta nghĩ, chẳng hạn, về cách thức làm thế nào khoa học tân tiến, nhờ biết dự đoàn các hiện tượng thiên nhiên, đă góp phần vào việc bảo vệ môi trường, vào vấn đề tiến bộ của những quốc gia phát triển, vào việc chiến đấu chống lại các thứ dịch bệnh, và vào việc gia tăng tuổi thọ cho sự sống con người, th́ mới thấy rơ là không có ǵ là xung khắc giữa việc Thiên Chúa quan pḥng với công việc thực hiện của nhân loại cả. Đúng vậy, chúng ta có thể nói rằng công việc dự đoán, kiểm soát và quản trị thiên nhiên vạn vật, những ǵ khoa học ngày nay thực hiện một cách cụ thể hơn trong quá khứ, tự nó thuộc về dự án của Đấng Hóa Công.

 

Tuy nhiên, khoa học, trong khi cống hiến dồi dào như thế, cũng chỉ cống hiến được những ǵ theo mục đích của nó thôi. Con người không thể nào tin tưởng một cách sâu xa và tuyệt đối vào khoa học và kỹ thuật đến nỗi tin tưởng rằng việc tiến bộ của khoa học và kỹ thuật có thể giải thích được hết mọi sự và có thể làm hoàn toàn măn nguyện tất cả mọi nhu cầu hiện hữu và tâm linh. Khoa học không thể nào thay thế được triết học và mạc khải, trong việc cung cấp một giải đáp trọn vẹn cho những vấn nạn sâu xa nhất của con người: những vấn nạn về ư nghĩa của sự sống và sự chết, về những giá trị tối hậu, và về bản chất của chính vấn đề tiến bộ. Đó là lư do Công Đồng Chung Vaticanô II, sau khi nh́n nhận các thứ lợi ích đạt được từ những tiến b ộ của khoa học, đă vạch ra rằng ‘có thể lầm lẫn coi các phương pháp t́m cầu nghiên cứu của khoa học như là qui chuẩn tối hậu trong việc đạt tới sự thật’, rồi thêm: ‘thật là nguy hiểm khi con người, tin tưởng thái quá vào những khám phá ngày nay, nghĩ rằng họ đầy đủ rồi, không cần t́m kiếm những giá trị cao hơn nữa’ (cùng nguồn, đoạn 57).

 

"Khả năng của khoa học trong việc dự đoán và kiểm soát không bao giờ được sử dụng để chống lại sự sống của con người và phầm giá của sự sống này"

 

Khả năng dự đoán của khoa học cũng khơi lên vấn đề về những trách nhiệm đạo lư của thành phần khoa học gia nữa. Những khẳng định của họ cần phải được chi phối bởi việc tôn trọng chân lư cũng như bởi việc chân thành nh́n nhận cả sự chính xác lẫn những giới hạn bất khả tránh của phương pháp khoa học. Quả thực th́ điều này có nghĩa là tránh đi những tiên đoán báo động không cần, khi những tiên đoán ấy không được căn cứ vào các dữ kiện đầy đủ hoặc vượt quá khả năng thực sự của khoa học trong việc tiên đoán. Thế nhưng, nó cũng có nghĩa là tránh đi những ǵ nghịch lại, tức là vấn đề giữ im lặng, bởi hăi sợ, trước những vấn đề đích thực. Tầm mức ảnh hưởng của các khoa học gia trong việc h́nh thành dư luận quần chúng căn cứ vào kiến thức của họ là những ǵ hết sức quan trọng không được coi thường v́ sự vội vàng không đúng lúc hay v́ muốn trở thành nổi nang trong quần chúng. Vị tiền nhiệm của tôi là Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II có lần đă nhận định: ‘Các khoa học gia, chính v́ họ biết hơn mà họ được kêu gọi phục vụ hơn. V́ quyền tự do được nghiên cứu đă giúp họ có được một kiến thức chuyên biệt hóa mà họ cần phải có trách nhiệm trong việc sử dụng kiến thức ấy một cách khôn ngoan cho thiện ích của toàn thể gia đ́nh nhân loại’ (Address to the Pontifical Academy of Sciences, 11 November 2002).

 

Quí Hàn Lâm Viên thân mến, thế giới của chúng ta tiếp tục nh́n vào quí vị và đồng nghiệp của quí vị để hiểu rơ hơn những thành quả khả dĩ nơi nhiều hiện tượng thiên nhiên quan trọng. Chẳng hạn, tôi nghĩ đến những thứ đe dọa liên tục xẩy đến cho môi trường đang ảnh hưởng tới toàn thể các dân tộc, và nhu cầu khẩn trương trong việc khám phá ra những nguồn năng lượng thay thế an toàn thuận lợi cho tất cả mọi người. Các khoa học gia sẽ t́m được sự ủng hộ của Giáo Hội nơi nỗ lực của họ trong việc đương đầu với những vấn đề ấy, v́ Giáo Hội đă lănh nhận từ vị sáng lập thần linh của ḿnh công việc hướng dẫn lương tâm con người tới sự thiện hảo, kết đoàn và b́nh an. Chính v́ lư do đó Giáo Hội cảm thấy có nhiệm vụ buộc phải nhấn mạnh rằng khả năng của khoa học trong việc dự đoán và kiểm soát không bao giờ được sử dụng để chống lại sự sống của con người và phầm giá của sự sống này, song bao giờ cũng phải phục vụ sự sống ấy, phục vụ thế hệ hiện nay cũng như những thế hệ mai sau.

 

C̣n một ư nghĩ cuối cùng được chủ đề của Hội Nghị quí vị gợi lên cho chúng ta hôm nay. Như một số báo chí xuất hiện trong mấy ngày vừa rồi đă nhấn mạnh, đó là chính phương pháp khoa học, trong việc thu thập các dữ kiện cũng như trong việc coi xét cùng sử dụng những dữ kiện ấy cho những dự phóng, là những ǵ vốn có những giới hạn, khiến cho khả năng tiên đoán của khoa học thực sự bị hẹp lại đối với những phạm vi và đường lối riêng biệt. Bởi thế, khoa học không thể cho rằng ḿnh có thể thực hiện được một cuộc tŕnh bày hoàn toàn dứt khoát về tương lai của chúng ta cũng như về t́nh trạng diễn tiến của mọi hiện tượng được nó nghiên cứu. Triết học và thần học có thể góp phần quan trọng cho vấn đề bản thể học trọng yếu này, chẳng hạn, khi giúp cho những khoa học thực nghiệm thấy được sự khác biệt giữa cái bất lực của toán học trong việc tiên đoán một số biến cố với cái hiệu lực của nguyên tắc nhân quả, hay giữa cái bất định hoặc ngẫu nhiên theo khoa học với cái nhân quả ở lănh vực triết lư, hoặc sâu xa hơn nữa, giữa cái tiến hóa được coi như là nguồn gốc của một chuỗi nối tiếp trong không gian và thời gian, với việc tạo dựng là nguồn gốc tối hậu của thứ hữu thể dự phần nơi Hữu Thể tất yếu.

 

Đồng thời cũng có một tầm mức cao hơn thực sự trổi vượt trên tất cả mọi dự đoán của khoa học, tức là thế giới tự do của con người và lịch sử. Trong khi các thứ vũ trụ về thể lư có những diễn tiến về thời không th́ chỉ có nhân loại, theo nghĩa hẹp, là có lịch sử, một thứ lịch sử về quyền tự do của nhân loại. Tự do, như lư trí, là một yếu tố quí báu của h́nh ảnh Thiên Chúa nơi chúng ta, và nó không bao giờ có thể bị phân tích một cách dứt khoát nổi. Cần phải nh́n nhận và tôn trọng chiều kích siêu việt của nó đối với thế giới vật chất, v́ nó là dấu hiệu cho thấy nhân phẩm của chúng ta. Nhân danh khả năng cho là tuyệt đối của phương pháp khoa học trong việc dự đoán, cũng như nhân danh t́nh trạng thế giới của con người để mà chối bỏ chiều kích siêu việt ấy sẽ đưa đến việc làm mất đi những ǵ là nhân bản nơi con người, và v́ không nh́n nhận cái đặc thù cũng như siêu việt của ḿnh, sẽ có nguy cơ mở đường cho việc con người khai thác ḿnh.

 

Các bạn thân mến, để kết thúc những chia sẻ này, một lần nữa tôi hứa cùng các bạn là tôi hết sức chú trọng tới những hoạt động của Học Viện Ṭa Thánh n ày, và hứa nguyện cầu cho các bạn cùng gia đ́nh các bạn. Tôi xin phúc lành khôn ngoan, hoan lạc và an b́nh của Thiên Chúa Toàn Năng ban xuống cho tất cả các bạn.


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 6/11/2006

 

 

TOP

 

 

Huấn từ cho Giáo Hoàng Đại Học Đường Gregorian ngày 3/11/2006

 

(Sau 12 đoạn ngắn chào hỏi mọi người tham dự, cả những vị có chức sắc lẫn sinh viên, đặc biệt các cha Ḍng Tên quản trị đại học này của các vị, thành phần ân nhân bảo trợ cho đại học, và cả ĐHY Tổng Trưởng Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo là Đại Chưởng Ấn của đại học này, ngài bắt đầu chính thức tiến vào phần huấn dụ của ḿnh như sau:)

 

Tôi hân hoan được ở trong khu sân nội cung của đại học này, một khu vực tôi đă băng ngang qua lại một số lần. Tôi đặc biệt nhớ đến cuộc biện hộ luận án của linh mục Lohfink diễn ra vào thời Công Đồng Chung Vaticanô II trước sự hiện diện của nhiều vị Hồng Y cùng với những chuyên gia thấp hèn như tôi.

 

Tôi đặc biệt luyến nhớ đến thời gian vào năm 1972, với tư cách là Giáo Sư về Tín Lư và Lịch Sử Tín Lư ở Đại Học Regensburg, tôi đă được vị Viện Trưởng bấy giờ là linh mục Hervé Carrier, SJ, phái tới để dạy một khóa cho các sinh viên thuộc ṿng hai chuyên về Tín Lư Thần Học. Tôi đă dạy một khóa về Thánh Thể Cực Thánh.

 

Quen thuộc với những thời điểm ấy, tôi có thể nói với anh chị em, quí Giáo Sư và Sinh Viên thân mến, rằng để nỗ lực học hỏi và giảng dạy có một ư nghĩa liên hệ với vương quốc của Thiên  Chúa, cần phải được nâng đỡ bởi các thần đức. Thật vậy, đối tượng trực tiếp của các ngành khác nhau về kiến thức thần học là chính Thiên Chúa, vị Thiên Chúa đă tỏ ḿnh ra nơi Chúa Giêsu Kitô, vị Thiên Chúa mang bộ mặt con người.

 

Cho dù, như trong Giáo luật và Giáo sử, đối tượng trực tiếp là Dân Chúa theo chiều kích hữu h́nh lịch sử của ḿnh thế nào, th́ việc phân  tích sâu xa của đề tài này cũng thúc đẩy chúng ta tái chiêm ngưỡng bằng đức tin mầu nhiệm Chúa Kitô Phục Sinh. Chính Người, Đấng hiện  diện trong Giáo Hội, dẫn dắt Giáo Hội băng qua giữa các biến cố của thời đại hướng tới t́nh trạng hoàn trọn cánh chung, một đích điểm chúng ta đă bắt đầu tiến về trong niềm hy vọng.

 

Tuy nhiên, biết Thiên Chúa chưa đủ. Để thực sự gặp gỡ Ngài, con người cũng cần phải mến  yêu Ngài nữa. Hiểu biết trở thành yêu thương.

 

Việc học hỏi Thần học, Giáo luật và Giáo sử chẳng những là việc hiểu biết về những xác quyết về đức  tin được công thức hóa theo lịch sử và việc áp dụng thực hành của nó, mà bao giờ cũng c̣n là một thứ kiến thức liên quan tới những niềm xác quyết ấy theo đức tin, đức cậy và đức mến nữa.

 

Chỉ có duy Thần Linh mới ḍ được thâm cung của Thiên Chúa (x. 1Cor 2:10); bởi vậy mà chỉ khi nào biết lắng nghe Thần Linh, con người mới có thể thấu triệt được chiều sâu của các kho tàng, khôn ngoan và kiến thức về Thiên Chúa (x Rm 11:33).

 

Chúng ta lắng nghe Thần Linh bằng việc  nguyện cầu, khi ḷng chúng ta hướng v ề việc chiêm ngắm mầu nhiệm của Thiên Chúa được mạc khải cho chúng ta nơi Người Con Giêsu Kitô, h́nh ảnh của Thiên Chúa vô h́nh (x Col 1:15), được đặt làm Thủ Lănh Giáo Hội và là Chúa của tất cả mọi sự (x Eph 1:10; Col 1:18).

 

Từ nguyên thủy của ḿnh là Viện Đại Học Rôma - Collegium Romanum, Đại Học Đường Gregorian đă nổi bật về việc nghiên cứu học hỏi triết lư và thần học. Một danh sách dài tên tuổi các triết gia và thần học gia nổi tiếng đă theo nhau giữ các chức Khoa Trưởng ở Trung Tâm hàn lâm này; chúng ta c ũng cần phải thêm vào bản danh sách này các giáo luật gia và giáo sử gia danh tiếng, thành phần đă cống hiến năng lực của ḿnh trong các bức tường thế giá này.

 

Tất cả những vị ấy đă góp phần quan trọng vào việc phát triển ngành về kiến thức họ đă học hỏi, bởi đó, họ cũng đă góp phần vào việc phục vụ quí báu cho Ṭa Thánh trong việc thi hàn h vai tṛ của Ṭa Thánh v ề lănh vực tín lư, kỷ luật và mục vụ. Qua việc tiến triển của các thời điểm, cần phải thay đổi cái nh́n. 

 

Ngày nay, cần phải chú ư tới cái thách đố của một nền văn hóa trần tục, một nền văn hóa ở nhiều phần đất trên thế giới có khuynh hướng càng ngày càng chối bỏ chẳng những hết mọi dấu hiệu của việc Thiên Chúa hiện diện trong sinh hoạt của xă hội và của con người, mà c̣n, qua một vài phương tiện, những phương tiện đánh lạc hướng và làm lu mờ đi lương tâm chính trực của con người, đang nỗ lực làm tiêu hao đi khả năng con người lắng nghe Thiên Chúa nữa.


Không thể nào không lưu ư tới mối liên hệ với các tôn giáo khác, mối liên hệ chẳng những có tính cách xây dựng nếu nó tránh đi được tất cả những ǵ là mập mờ làm suy yếu đi nội dung thiết yếu của niềm tin tưởng của Kitô Giáo vào Chúa Kitô, Đấng cứu độ duy nhất của toàn thể nhân loại, cũng như niềm tin tưởng vào Giáo Hội, bí tích cứu độ cần thiết để cứu độ toàn thể nhân loại. 

 

Ở đây chúng ta không thể quên được các khoa học nhân bản khác đang được phát triển tại Đại Học Đường nổi tiếng này theo truyền thống vẻ vang về hàn lâm của viện Đại Học Rôma đây. Tất cả đều quá biết về cái thế giá lớn lao của Viện Đại Học Rôma này có được nơi các ngành Toán học, vật lư và thiên văn.

 

Chỉ cần nhắc lại rằng lịch “Gregorian”, một thứ lịch được gọi như thế v́ nó được vị tiền nhiệm của tôi là Đức Grêgôriô XIII muốn thực hiện, và đang được sử dụng khắp thế giới, là bộ lịch được cha Christopher Clavius biên soạn vào năm 1582, một vị Giảng viên của Đại Học Đường này.

 

Chỉ cần đề cập tới cha Mattêô Ricci, vị đă mang đến tận Trung Hoa thứ kiến thức ngài có được như môn sinh của Clvius, chưa kể tới chứng từ đức tin của ngài.

 

Ngày nay, những người môn đệ trên không c̣n dạy ở Đại Học Grêgôriô này nữa, mà đă được thay thế bởi các khoa học nhân bản như tâm lư học, xă hội học và thông thông xă hội.

 

Bởi vậy, con người cần phải được hiểu biết sâu xa hơn, cả về chiều kích bản vị của họ lẫn chiều kíc h ngoại tại của họ như là một nhà kiến thiết xă hội trong công lư và ḥa b́nh, và như một truyền đạt viên chân lư.

 

Không thể nào hoàn toàn hiểu được con người, cả trong nội tại cũng như ngoại diện, nếu họ không hướng về siêu việt thể. Không biết qui chiếu vào Thiên Chúa, con người không thể giải đáp những vấn nạn nồng cốt đang làm day dứt và măi làm khắc khoải tâm can của họ liên quan tới cùng đích của cuộc đời họ và ví thế liên quan tới ư nghĩa cuộc sống của họ. 

 

Không căn cứ vào Thiên Chúa, con người không thể đáp ứng những vấn nạn trọng yếu đang làm bối rối và sẽ măi làm bối rối tâm can của họ liên quan tới cùng đích đời sống của họ cũng là đến ư nghĩa của đời sống họ. Bởi thế, thậm chí họ không thể kết hiệp trong xă hội những thứ giá trị về đạo lư là những ǵ duy nhất có thể góp phần vào việc chung sống hợp với con người.

 

Không dựa vào Thiên Chúa th́ định mệnh của con người chỉ là những ǵ lẻ loi sầu khổ khiến họ thất vọng mà thôi.


Chỉ khi nào biết căn cứ vào Vị Thiên Chúa Yêu Thương, Đấng đă tỏ ḿnh ra nơi Chúa Giêsu Kitô, con người mới t́m thấy ư nghĩa của cuộc đời ḿnh và mới sống trong niềm hy vọng, bất chấp có trải qua những sự dữ làm tổn thương đến đời sống của họ và xă hội họ sống.

 

Hy vọng là những ǵ giúp cho con người không khóa ḿnh lại trong một thứ chủ nghĩa tuyệt mệnh tê liệt và cằn cỗi, mà là hướng về một cuộc hăng say dấn thân trong xă hội họ sống để có thể canh tân xă hội. Đó là c ông việc Thiên Chúa ủy thác cho con người khi Ngài tạo dựng nên họ theo h́nh ảnh Ngài và tương tự như Ngài, một công việc làm cho hết mọi người được đầy tràn phẩm vị cao cả nhất có thể, nhưng cũng kèm theo cả một trác h nhiệm lớn lao nữa.

 

Chính v́ chiều hướng ấy mà quí vị, Giáo sư và Giảng viên của Đại Học  Đường Gregorian được kêu gọi để huấn luyện sinh viên do Giáo Hội kư thác cho quí vị. Việc huấn luyện trọn vẹn cho giới trẻ đă từng là một trong những việc tông đồ của Ḍng Tên từ đầu; đó là lư do tại sao Đại Học Đường Rôma đă đảm n hận sứ vụ này ngay từ đầu.

 

Việc ủy thác cho Ḍng Tên ở Rôma, bên cạnh Ṭa Thánh, Giáo Hoàng Đại Học Cao Đẳng Đức quốc, Chủng Viện Rôma, Đại Học Đại Học Cao Đẳng Đức-Hung, Đại Học Đại Học Cao Đẳng Anh quốc, Đại Học Đại Học Cao Đẳng Hy Lạp, Đại Học Đại Học Cao Đẳng Tô Cách Lan, và Đại Học Đại Học Cao Đẳng Ái Nhĩ Lan, có mục đích để bảo đẻm việc huấn luyện hàng giáo sĩ thuộc các quốc gia ấy là nơi mối hiệp nhất của đức tin và mối hiệp thông với Ṭa Thánh đă bị đỗ vỡ.

 

Những Đại Học Cao Đẳng này vẫn c̣n gửi hầu hết tất cả mọi sinh viên của ḿnh hay phần lớn trong họ đến Đại Học Đường Gregorian, để tiếp tục sứ vụ nguyên thủy ấy.

 

Qua gịng lịch sử, nhiều Đại Học Cao Đẳng khác đă liên kết với các Đạo Học Cao Đẳng được kể trên, làm cho công việc đang đè nặng trên vai của quí vị, hỡi quí vị Giáo sư và Giảng viên thân mến, lại càng trở thành khẩn thiết hơn bao giờ hết!

 

Thế nên, thật là thích hợp là sau khi đă suy nghĩ chín chắn, quí vị đă soạn thảo ra một ‘Bản Tuyên Ngôn Chủ Hướng” là những ǵ thiết yếu cho một tổ chức như của quí vị đây, v́ nó tóm gọn bản chất và sứ vụ của nó.

 

Theo chiều hướng ấy, quí vị gần đi đến chỗ kết thúc việc quí vị điều chỉnh những Điều Lệ của Đại Học Đường này và của các Luật Chung, cùng với các Điều Lệ và Qui Luật của những Phân Khoa khác nhau, các Cơ Cấu và Trung Tâm  khác nhau.

 

Điều này sẽ giúp xác định căn tính của Đại Học Đường Gregorian hơn nữa và giúp cho việc soạn thảo những chương tŕnh học vấn xứng hợp hơn với việc hoàn thành sứ vụ của quí vị, một sứ vụ vừa dễ lại vừa khó.

 

Dễ v́ căn tính và sứ vụ của Đại Học Đường Gregorian là những ǵ đă được tỏ tường ngày từ những ngày đầu tiên, theo những qui định được  các vị Giáo Hoàng Rôma tái xác nhận, trong số những vị Giáo Hoàng này có 16 vị xuất thân từ đại học đây.

 

Nó đồng thời cũng là một sứ vụ khó khăn, v́ nó bao hàm v iệc liên  lỉ trung thành với lịch sử và truyền thống của ḿnh để chẳng những không mất đi gốc gác lịch sử của nó mà c̣n cởi mở với thực tại hiện đại  để khôn ngoan đáp ứng, sau khi cẩn thận cứu xét, với các nhu cầu của Giáo Hội và thế giới ngày nay.

 

Là một Giáo Hoàng Đại Học Đường của Giáo Hội, Trung Tâm hàn lâm này dấn thân ‘sentire in Ecclesia et cum Ecclesia – cảm nhận trong Giáo Hội và với Giáo Hội’. Nó là một cuộc dấn thân xuất phát từ t́nh yêu mến Giáo Hội, Mẹ của chúng ta và là Hiền Thê của Chúa Kitô. Chúng ta cần phải yêu mến Giáo Hội như chính Chúa Kitô  mến yêu Giáo Hội, chấp nhận khổ đau trên thế gian này để hoàn tất những ǵ c̣n thiếu trong cuộc khổ nạn của Chúa Kitô trong xác thịt của chúng ta (x Col 1:24).

 

Nhờ đó, nó mới có thể h́nh thành các thế hệ linh mục mới, Tu Sĩ và giáo dân dấn thân mới. Thật thế, chúng ta chỉ cần tự hỏi ḿnh là chúng ta muốn thứ huấn luyện như thế nào trong việc truyền đạt cho thành phần  sinh viên c ủa chúng ta, cho dù là linh mục, Tu Sĩ hay giáo dân đây.

 

Quí vị Giáo sư và Giảng sư thân mến, dĩ nhiên là quí vị có ư muốn đào luyện các linh mục thông thái song đồng thời cũng dọn ḿnh sống đời phục vụ tất cả mọi người Chúa ủy thác cho thừa tác vụ của họ, bằng một tấm ḷng tha thiết, trong sự khiêm nhượng và bằng một đời sống khổ chế.

 

Như thế, quí vị có ư cống hiến một cuộc đào luyện vững chắc về tri thức cho thành phần tu sĩ nam nữ, nhờ đó họ mới có thể hân hoan sống đời tận hiến Chúa ban cho họ và cho thấy họ như là một dấu hiệu cánh chung cho cuộc sống tương lai là nơi tất cả chúng ta được kêu gọi tới.

 

Cũng vậy, quí vị muốn sửa soạn cho những con người nam nữ giáo dân có khả năng để thi hành những việc phục vụ và những vai tṛ trong Giáo Hội, trước hết và trên hết, là men của Vương Quốc Thiên Chúa trong lănh vực trần thế.

 

Theo quan điểm ấy mà chính năm nay đây, viện Đại Học này đă bắt đầu một chương tŕnh liên ngành để huấn luyện thành phần giáo dân sống ơn gọi giáo hội chuyên biệt cho việc dấn thân về đạo lư nơi đấu trường xă hội.

 

Tuy nhiên, anh chị em sinh viên thân mến, việc huấn luyện cũng là trách nhiệm của anh chị em nữa.

 

Hẳn nhiên là việc học hành đ̣i phải liên lỉ khổ chế và bỏ ḿnh, thế nhưng chính v́ theo đường lối ấy mà con người được huấn luyện bỏ ḿnh và cảm thức trách vụ.

 

Thật vậy, những ǵ anh chị em học hỏi hôm nay đây là những ǵ anh chị em sẽ mang ra truyền đạt mai ngày, khi Giáo Hội ủy thác cho anh chị em thừa tác vụ thánh hay các việc phục vụ và vai tṛ khác cho lợi ích của cộng đồng. Trong tất cả mọi trường hợp, cái sẽ mang lại niềm vui cho ḷng của anh chị em sẽ là kiến thức được anh chị em luôn ấp ủ bằng những ư hướng chính trực, nhờ đó người ta mới chắc chắn là ḿnh t́m kiếm và thực hiện ư muốn của một ḿnh Thiên Chúa mà thôi. Dĩ nhiên là tất cả những điều ấy đ̣i hỏi một cuộc thanh tẩy tâm hồn và nhận thức.

 

Hỡi những người con của Thánh I Nhă, một lần nữa, Giáo Hoàng ủy thác cho anh em viện Đại Học này, một đại học quan trọng đối với Giáo Hội hoàn vũ cũng như đối với nhiều Giáo Hội riêng. Nó bao giờ cũng là một ưu tiên trên hết của các hoạt động tông đồ của Ḍng Tên. Chính trong môi trường đại học ở Balê mà Thánh I Nhă thành Loyola và những đồng bạn đầu tiên của ngài đă nẩy ra ước vọng thiết tha muốn giúp cho các linh hồn biết mến yêu và phụng sự Thiên Chúa trong tất cả mọi sự cho vinh quang Ngài hơn.

 

Được thúc đẩy bởi những tác động Thần Linh trong nội tâm, Thánh I Nhă đă đến Rôma, trung tâm điểm của Kitô Giáo, Ṭa Thánh của Vị Thừa Kế Thánh Phêrô, để thành lập Đại Học Rôma ở đây, Việc Đại Học đầu tiên  của Ḍng Tên. 

 

Ngày nay, Viện Đại Học Gregorian là một môi trường đại học mà, cho dù sau 456 năm, ước vọng của Thánh I Nhă cũng như của các đồng bạn Thánh nhân trong việc giúp cho các linh hồn mến yêu và phụng sự Thiên Chúa trong tất cả mọi sự để Ngài được hiển vinh hơn đang được nên trọn.

 

Tôi muốn nói rằng, ở nơi đây, trong những bức tường này, đă đạt được những ǵ Đức Giáo Hoàng Julius III đă nói vào ngày 20/7/1550 trong ‘formula Istituti’, khi ấn định rằng hết mọi phần tử của Ḍng Tên buộc phải ‘sub crucis vexillo Deo militare, et soli Domino ac Ecclesiae Ipsius sponsae, sub Romano Pontifice, Christi in terris Vicario, servire", committing himself "potissimum... ad fidei defensionem et propagationem, et profectum animarum in vita et doctrina christiana, per publicas praedicationes, lectiones et aliud quodcumque verbi Dei ministerium ...’ (Apostolic Letter "Exposcit Debitum," n. 1).

 

Cái chuyên tính đặc sủng này của Ḍng Tên, được thể hiện theo qui chế nơi lời khấn thứ 4 liên quan tới việc hoàn toàn tuân phục Giáo Hoàng Rôma trong hết mọi sự mà ngài thấy cần phải truyền khiến "ad profectum animarum et fidei propagationem" (ibid., n. 3), cũng được hiển nhiên nơi sự kiện là vị Bề Trên Tổng Quyền của Ḍng Chúa Giêsu c̣n có thể triệu tập từ khắp nơi trên thế giới các tu sĩ ḍng xứng hợp nhất để thi hành công việc giảng dạy tại viện Đại Học này.

 

Biết rằng điều này có thể bao gồm cả việc hy sinh những hoạt động và việc phục vụ khác trong việc đạt tới những mục tiêu rộng lớn hơn được Ḍng Tên đề ra, Giáo Hội hết sức biết ơn ḍng này và mong muốn Đại Học Gregorian đây bảo tŕ được tinh thần Thánh I Nhă là những ǵ làm nó phát triển, được thể hiện nơi phương pháp và học tŕnh sư phạm của nó.

 

Các bạn thân mến, bằng ḷng cảm mến thân phụ, tôi xin ủy thác tất cả anh chị em, thành phần là những viên đá sống của Viện Đại Học Gregorian – các vị Giáo sư và Giảng sư, các sinh viên, nhân viên không giảng dạy, những vị ân nhân và thân hữu – cho việc chuyển cầu của Thánh I Nhă thành Loyola, Thánh Robert Bellarmine và Đức Trinh Nữ Maria, Nữ Vương Ḍng Tên, vị được ám chỉ tới nơi huy hiệu cầu vai của Đại Học này tước hiệu ‘Sedes Sapientiae’.

 

Với những cảm thức ấy, tôi ban Phép Lành Ṭa Thánh như một bảo chứng của dồi dào ơn trời.

 

Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch từ mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2006/november/documents/hf_ben-xvi_spe_20061103_gregoriana_en.html

 

TOP

 

 

"Thiên Chúa là sự thật tối hậu mà tất cả mọi tâm trí tự nhiên hướng tới, một sự thật lôi kéo ước vọng muốn hoàn toàn thực hiện trọn vẹn cuộc hành tŕnh hướng về nó"

 

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI viếng thăm và huấn dụ ở Đại Học Đường Ṭa Thánh Laterano dịp bắt đầu Năm Học mới 21/10/2006  

(Lời chào ứng khẩu mở đầu:)

 

Tôi lấy làm sung sướng được ở Viện Đại Học “của tôi” đây, v́ đây là Viện Đại Học của Vị Giám Mục Rôma. Tôi biết rằng sự thật được t́m kiếm ở chỗ này, mà v́ thế cuối cùng là Chúa Kitô được t́m kiếm, v́ bản thân Người là Sự Thật. Cuộc hành tŕnh hướng về sự thật này – việc cố gắng hiểu biết sự thật hơn nơi tất cả mọi h́nh thức diễn đạt của nó – thực sự là công việc phục vụ quan trọng của Giáo Hội.

 

Một đại thần học gia người Bỉ đă viết một cuốn sách mang tựa đề “Ḷng Yêu Nghệ Thuật và Ước Vọng Thiên Chúa”, đă cho thấy rằng theo truyền thống đan viện có hai điều đi với nhau, v́ Thiên Chúa là Lời, nói với chúng ta qua Thánh Kinh. Bởi thế, vấn đề ở đây là chúng ta bắt đầu đọc, bắt đầu học và đào sâu kiến thức về Nghệ Thuật nhờ đó mà chúng ta đào sâu kiến thức của chúng ta về Lời.

 

Theo chiều hướng đó, việc khai trương một Thư Viện vừa là một biến cố hàn lâm đại học vừa là một biến cố tu đức thần học, chính v́ nhờ đọc trong cuộc hành tŕnh hướng về sự thật, nhờ học những lời lẽ trong việc t́m Lời, mà chúng ta thực hiện việc phục vụ Chúa, một việc phục vụ Phúc Âm cho thế giới, v́ thế giới cần đến sự thật. Không có vấn đề tự do thiếu sự thật được; bằng không chúng ta không hoàn toàn sống ḥa hợp với dự án nguyên thủy của Đấng Hóa Công.

 

Cám ơn hoạt động của anh chị em! Xin Thiên Chúa chúc lành cho anh chị em trong Năm Học này.

 

(Huấn từ chính thức sau đó:)

 

Quí Đức Hồng Y,

Chư Huynh khả kính trong hàng Giáo Phẩm và Linh Mục,

Quí Tôn Vị Nữ Nam,

Quí Sinh Viên rất thân mến,

 

Tôi đặc biệt lấy làm hân hoan được chia sẻ với anh chị em vào lúc mở màn cho Năm Học này, một thời điểm trùng hợp với việc long trọng khánh thành một Thư Viện mới và Giảng Đường mới này.

 

Tôi xin cám ơn Vị Đại Chưởng Ấn là Đức Hồng Y Camillo Ruini về những lời lẽ đón mừng được ngài đại diện anh chị em ân cần ngỏ cùng tôi.

 

Tôi xin chào vị Viện Trưởng Đại Học này là Đức Giám Mục Rino Fisichella, và xin cám ơn ngài về bài ngài nói để mở màn cho biến cố trọng thể về hàn lâm này.

 

Tôi xin chào các vị Hồng Y, Tổng Giám Mục và Giám Mục, các vị Thẩm Quyền về Hàn Lâm cũng như toàn thể các vị Giáo Sư, cùng tất cả những ai hoạt động trong viện Đại Học này. Và tôi quí mến chào tất cả mọi sinh viên, v́ Đại Học đường này được kiến tạo nên cho họ.

 

Tôi nhớ lại cuộc tôi măn nguyện Viếng Thăm Đại Học Latêranô lần trước của ḿnh, và nếu không quá giờ, tôi muốn tiếp tục đề tài bấy giờ đang được bàn luận, hầu như chúng ta đă bị gián đoạn chỉ v́ mấy giây đồng hồ.

 

Một môi trường như môi trường hàn lâm này là những ǵ đặc biệt mời gọi chúng ta hăy tái tiến vào đề tài về cuộc khủng hoảng văn hóa và căn tính, một cuộc khủng hoảng mà trong những thập niên này đă hiện lên một cách thê thảm ngay trước mắt chúng ta.

 

Đại Học Đường này là một trong những nơi chốn tốt nhất để cố gắng t́m kiếm những đường lối thích thuận để thoát khỏi t́nh trạng này. Thật thế, nơi Đại Học đây, cái phong phú về truyền thống vẫn c̣n tồn tại qua các thế kỷ là những ǵ đang được bảo tồn – và đặc biệt Thư Viện là một phương tiện thiết yếu để bảo toàn cái phong phú ấy của truyền thống – nơi đại học này, và có thể nói rơ hơn, nơi tính cách phong phú của sự thật, khi sự thật được đón nhận ở những ǵ xác thực của nó bằng một tâm hồn chân thành và cởi mở. 

 

Ở Viện Đại Học này, các thế hệ trẻ được h́nh thành, thành phần mong chờ một chương tŕnh nghiêm cẩn gắt gao có khả năng đáp ứng trong những môi trường mới cái vấn nạn lưu tồn về ư nghĩa của cuộc sống chúng ta. Không được làm thất vọng niềm mong đợi này.

 

Môi trường hiện đại dường như đặt ưu tiên cho một thứ lư trí nhân tạo càng ngày càng bị chi phối bởi những thứ kỹ thuật thực nghiệm, bởi đó quên đi rằng tất cả mọi khoa học bao giờ cũng cần phải là những ǵ bảo toàn con người và cổ vơ ước vọng của họ đối với sự thiện chân thực.

 

Việc đặt nặng “cái làm”, bằng cách gây lu mờ đi “cái là”, không giúp ǵ vào việc tái tạo mức quân b́nh trọng yếu cần thiết cho mọi người để cống hiến cuộc sống của họ một nền tảng chắc chắn và một mục đích vững vàng.

 

Thật vậy, hết mọi người được kêu gọi để hiến cho những hoạt động của ḿnh cái ư nghĩa, nhất là khi cái ư nghĩa ấy liên quan tới quan điểm của một thứ khám phá khoa học làm suy yếu đi chính yếu tính của cuộc sống cá nhân.

 

Việc để cho ḿnh bị lôi kéo bởi cái hoan hưởng khám phá mà không biết bảo toàn những qui chuẩn xuất phát từ một nhăn quan sâu xa hơn sẽ dễ dàng trở thành một thảm kịch được một huyền thoại xưa nói tới, đó là Young Icarus, hồ hởi trước cuộc bay đến cơi tuyệt đối tự do, không thèm nghe lời cảnh báo của người cha già của ḿnh là Deadalus, đă bay gần đến mặt trời hơn bao giờ hết, quên đi rằng những cánh anh ta dùng để bay trên bầu trời được làm bằng sáp. Việc anh ta rơi xuống chết đi một cách dữ dội là cái giá phải trả cho cái ảo tưởng của anh ta vậy.

 

Câu truyện ngụ ngôn cổ tích này chất chứa một bài học măi măi đáng giá. Trong cuộc sống có những thứ ảo tưởng khác người ta không thể nào tin tưởng mà lại không liều ḿnh gặp phải những hậu quả thảm khốc cho chính cuộc sống của bản thân cũng như của người khác.

 

Vị giáo sư đại học có nhiệm vụ chẳng những truy tầm sự thật và làm gợi lên cái kỳ diệu vĩnh tại của nó, mà c̣n nuôi dưỡng kiến thức về nó ở mọi phương diện, cùng bênh vực nó khỏi bị những giải thích giảm thiểu và méo mó.

 

Để làm cho đề tài về sự thật trở thành chính yếu th́ không phải chỉ là một tác động suy đoán, bị hạn hẹp vào lănh vực nhỏ bé của các tư tưởng gia; trái lại, nó là một vấn đề sống c̣n để cống hiến một cái căn tính sâu xa hơn nữa cho cuộc sống cá nhân và đề cao trách nhiệm nơi các mối liên hệ về xă hội (x Eph 4:25).

 

Thật vậy, nếu con người bỏ qua vấn đề về sự thật và cơ hội cụ thể để có thể đạt được sự thật th́ đời sống của họ cuối cùng bị trở thành một thứ thừa thăi theo đủ loại giả định, không c̣n ǵ là bảo đảm vững chắc và căn cứ nữa.  

 

Nhà nhân bản danh tiếng Erasmus có lần đă nói: “Các ư nghĩ vu vơ nông cạn là nguồn mạch của một thứ hạnh phúc rẻ mạt! Để hiểu được yếu tính thực sự của các sự vật th́ cần phải thực hiện nhiều nỗ lực, cho dù có coi các sự vật chẳng quan trọng mấy đi chăng nữa” (cf. "The Praise of Folly," XL, VII).

 

Chính v́ nỗ lực này mà Viện Đại Học đây cần phải dấn thân hoàn thành; nó cần phải theo đuổi bằng việc học hỏi và nghiên cứu trong một tinh thần kiên tŕ nhẫn nại. Tuy nhiên, nỗ lực này lại là những ǵ giúp cho con người có thể từ từ tiến vào tâm điểm của những vấn đề và hướng tới việc đam mê sự thật cũng như tới niềm vui t́m thấy được sự thật.

 

Những lời lẽ của vị thánh Giám Mục Anselmô ở Aosta vẫn là những ǵ hoàn toàn hiện đại, đó là: “Ta có thể t́m kiếm ngươi khi mong muốn ngươi, ta có thể mong muốn ngươi khi t́m kiếm ngươi, ta có thể t́m thấy ngươi khi mộ mến ngươi, và khi mộ mến ngươi ta lại t́m thấy ngươi” (cf. "Proslogion," 1).

 

Chớ ǵ khoảng trống của việc thinh lặng và chiêm ngắm, những ǵ là bối cảnh bất khả thiếu để tập trung những vấn đề do tâm trí khơi lên, t́m thấy trong những bức tường đại học này những con người ân cần biết trân quí tầm quan trọng, tính cách hiệu năng cùng với các thành quả đối với cuộc sống cá nhân cũng như xă hội.

 

Thiên Chúa là sự thật tối hậu mà tất cả mọi tâm trí tự nhiên hướng tới, một sự thật lôi kéo ước vọng muốn hoàn toàn thực hiện trọn vẹn cuộc hành tŕnh hướng về nó. Thiên Chúa không phải là một lời trống rỗng hay một giả định trừu tượng, trái lại, Ngài là nền tảng cần thiết cho việc xây dựng cuộc sống của con người.

 

Việc sống trong một thế giới ‘veluti si Deus daretur’ là những ǵ cần đến việc đảm nhận một thứ trách nhiệm biết quan tâm tới vấn đề truy t́m hết mọi đường lối khả dĩ hầu có thể tiến gần đến với Ngài bao nhiêu có thể, Đấng là đích điểm mà tất cả mọi sự hướng về (x 1Cor 15:24).

 

Thành phần tín hữu biết rằng vị Thiên Chúa này có một Dung Nhan, và Ngài đă một lần vĩnh viễn đến gần với mỗi một người qua Chúa Giêsu Kitô.

 

Công Đồng Chung Vaticanô II đă sâu xa nhắc nhở điều này như sau: ‘V́, nhờ việc nhập thể, Đấng là Người Con Thiên Chúa, một cách nào đó, đă liên kết bản thân ḿnh với từng người. Người đă làm việc với bàn tay của con người, Người đă suy nghĩ bằng trí khôn của con người. Người đă hành động với ư muốn của con người, và Người đă yêu thương bằng con tim của con người. Được hạ sinh bởi Trinh Nữ Maria, Người đă thực sự trở thành một người trong chúng ta, giống như chúng ta trong tất cả mọi sự ngoại trừ tội lỗi’ ("Gaudium et Spes," n. 22). Việc nhận biết Người là việc nhận biết tất cả sự thật, một sự thật nhờ đó con người mới có thể t́m thấy tự do: ‘Các người sẽ nhận biết chân lư, và chân lư sẽ giải thoát các người’ (Jn 8:32).

 

Trước khi kết thúc, tôi muốn bày tỏ ḷng sâu xa cảm nhận của tôi đối với việc kiến thiết khu ṭa nhà mới này để hoàn thành tốt đẹp cấu trúc viện đại học đây, làm cho nó xứng hợp hơn cho vấn đề học hỏi, nghiên cứu và tính cách sinh động nơi đời sống của toàn cộng đồng đại học này.

 

Anh chị em muốn dâng hiến Giảng Đường này cho con người tầm thường của tôi. Tôi cám ơn về ư nghĩ của anh chị em; tôi hy vọng rằng nó có thể trở thành một trung tâm lợi ích cho hoạt động khoa học, nhờ đó Viện Đại Học Latêranô có thể phục vụ như là một dụng cụ cho vấn đề trao đổi tốt đẹp giữa những thực tại khác nhau về tôn giáo và văn hóa, trong việc cùng t́m kiếm những đường lối hướng về sự thiện và tôn trọng tất cả mọi sự.

 

Với những niềm cảm mến ấy, khi xin Chúa ban tràn đầy ánh sáng của Ngài cho chốn này, tôi xin phó thác cuộc hành tŕnh của Năm Học đây cho việc bảo hộ của Rất Thánh Trinh Nữ, và tôi thân ái ban Phép Lành Ṭa Thánh cho tất cả mọi người.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 6/11/2006

TOP

“Thành Phần Chứng Nhân của Chúa Kitô Phục Sinh là Niềm Hy Vọng cho Thế Giới”

ĐTC Biển Đức XVI: Huấn Từ cho Công Nghị Toàn Ư Quốc Về  Giáo Hội Lần 4 ở Trung Tâm Triển Lăm Verona 19/10/2006

 

Anh chị em thân mến,

 

Hôm nay tôi rất vui được hiện diện với quư vị tại thành phố Verona xinh đẹp và đầy tính lịch sử, để tích cực tham dự vào Hội nghị toàn quốc về Giáo hội tại Ư đại lợi lần thứ tư. Tôi xin gởi đến tất cả quư vị lời chào thân thiết trong Chúa.

 

Tôi xin cám ơn Đức hồng y Camillo Ruini, Chủ tịch Hội đồng Giám mục, và bác sỹ Giovanna Girlanda, đại diện Giáo phận Verona, đă thay mặt toàn thể quư vị có những lời chào đón nồng nhiệt đến tôi cũng như đă có bài tóm lược về diễn tiến của Hội nghị.

 

Tôi xin cám ơn Đức hồng y Dionigi Tettamanzi, Chủ tịch Ban chuẩn bị, và tất cả những ai đă làm việc để thực hiện chương tŕnh. Tôi xin chân thành cám ơn từng người ở đây, qua sự hài ḥa êm đềm, đại diện cho các thành phần của Giáo hội Ư đại lợi: Đức giám mục giáo phận Verona Flavio Roberto Carraro, là người tiếp đón chúng ta; các Đức giám mục, linh mục và phó tế, các tu sĩ nam nữ, và quư vị giáo dân là những người nói lên thực trạng của giáo dân Công giáo tại Ư.

 

Cuộc hội nghị lần thứ 4 là một bước tiến mới trên con đường thực hiện những chỉ đạo của Công đồng Vatican II, mà Giáo hội Ư đă thi hành từ những năm ngay sau khi Công đồng diễn ra.

 

Trước tiên, đây là một con đường hiệp thông với Chúa Cha và với Con Một Ngài là Chúa Giêsu Kitô, trong Chúa Thánh Thần, và v́ thế hiệp thông giữa chúng ta trong sự kết hợp với Thân thể Đức Kitô (x. 1 Jn 1,3; I Cor 12,12-13). Đây là con đường hướng đến sự truyền bá để làm cho đức tin sống động và mạnh mẽ trong Dân tộc Ư. V́ thế đây là một lời chứng trung kiên về t́nh yêu đối với nước Ư và sự thanh b́nh năng động để mang lại hữu ích cho những người con của quốc gia này.

 

Cuộc hành tŕnh của Giáo hội Ư đă diễn tiến trong sự kết hợp liên tục và chặt chẻ với vị Thừa tự thánh Phêrô: Tôi hân hạnh được nhắc lại với quư vị về Người Tôi tớ Chúa là ĐTC Phaolô VI, người đă khởi xướng cuộc hội nghị đầu tiên vào năm 1976, và ĐTC Gioan Phaolô II đă tŕnh bày các Điều chia sẻ căn bản của ngài tại Cuộc hội nghị ở Loreto và Palermo; những điều này đă tăng cường ḷng tự tin của Giáo hội Ư để phấn đấu hầu đức tin vào Chúa Giêsu Kitô tiếp tục mang lại cho những người thời nay sự giác ngộ và sự định hướng về sự hiện hữu [của con người]; v́ thế ngài đă đóng “vai tṛ dẫn đầu và năng lực thu hút hiệu quả” trong cuộc hành tŕnh của Nước này đi đến tương lai (x. Bài diễn văn tại cuộc hội ngộ với Giáo hội Ư tại Loreto, ngày 11 tháng 4 năm 1985; L’Osservatore Romano, bản tiếng Anh, ngày 6 tháng 5, tr. 5).

 

Chúa Kitô Phục Sinh: Tâm điểm của đời sống

 

Cũng trong tinh thần này tôi đến Verona hôm nay để cùng với quư vị cầu nguyện và chia sẻ, tuy hơi ngắn ngủi, công việc của những ngày này, và tŕnh bày với quư vị lời suy niệm của tôi về điều xem như là ưu tiên đối với sự hiện diện của Kitô giáo tại nước Ư.

 

Quư vị đă có một sự lựa chọn thích đáng khi đặt Chúa Kitô Phục Sinh vào tâm điểm của Hội nghị, cũng như vào tất cả đời sống và sự nhân chứng của Giáo hội tại Ư. Sự phục sinh của Đức Kitô là một sự kiện lịch sử, được các Tông đồ chứng kiến chứ không phải chế tạo ra. Đồng thời, đây không đơn thuần là một sự trở lại với đời sống trên trái đất, nhưng là một sự “đột biến” vĩ đại nhất đă xảy ra, một “cú nhảy vọt” quyết liệt hướng tới một chiều kích vô cùng mới mẻ của cuộc sống, đi vào một trật tự hoàn toàn khác biệt mà chú trọng trên hết là Đức Giêsu thành Nazarét, và với Ngài là chúng ta, gia đ́nh nhân loại, lịch sử, và hết thảy vũ trụ.

 

Đó là lư do tại sao sự Phục Sinh của Đức Kitô là tâm đểm của sự rao giảng và làm chứng của người Kitô giáo từ khởi đầu cho đến tận thế. Đây thực sự là một mầu nhiệm vĩ đại, mầu nhiệm cứu chuộc được kiện toàn trong sự Phục Sinh của Ngôi Lời Nhập Thể, một cuộc phục sinh báo hiệu và bảo đảm niềm hy vọng của chúng ta. Nhưng dấu ấn của mầu nhiệm này là t́nh yêu, và chỉ trong lư lẽ của t́nh yêu mới có thể chạm tới và thấu hiểu được điều này: Chúa Giêsu Kitô sống lại từ cơi chết, bởi v́ tất cả bản thân Ngài được kết hợp một cách mật thiết và trọn vẹn với Thiên Chúa là t́nh yêu, một t́nh yêu mănh liệt hơn sự chết. 

 

Ngài mang một Sự Sống không thể bị hủy diệt và v́ thế, Ngài có thể dâng hiến sự sống ḿnh, để ḿnh bị giết đi, nhưng Ngài không thể hoàn toàn thua sự chết: trong bữa tiệc ly Ngài đă v́ t́nh yêu cụ thể ngưỡng và đón nhận cái chết của Ngài trên thập giá, do đó biến đổi việc hiến ban sự sống của Ngài thành một món quà tặng bản thân ḿnh, để mang lại sự sống, giải thoát, và sự cứu rỗi cho chúng ta.

 

V́ thế, sự Phục Sinh của Ngài trở nên như một sự bùng nổ rạng ngời, một sự bùng nổ yêu thương làm cho xiềng xích tội lỗi và chết chóc bị chặt đứt. Sự kiện này tạo nên một chiều kích sự sống và thực trạng mới, từ đó xuất hiện một thế giới mới và liên tục thấm nhập thế giới chúng ta, biến đổi nó và thu hút chúng ta vào chính Ngài.

 

Tất cả những điều này xảy ra một cách cụ thể nơi đời sống và việc làm chứng của Giáo hội; đúng hơn, chính Giáo hội là hoa quả đầu tiên của sự biến đổi này, là công việc của Thiên Chúa chứ không phải của chúng ta. Sự biến đổi ấy đến với chúng ta qua đức tin và Bí tích Thanh tẩy, một biến đổi thực sự là sự chết và sự phục sinh, sự tái sinh, sự biến đổi thành một đời sống mới. Đây là điều mà thánh Phaolô đă bày tỏ trong thư gởi đến cộng đoàn Galata: “Không phải là tôi sống mà là Chúa sống trong tôi” (2,20). V́ thế, căn tính chính yếu của đời sống tôi được thay đổi bởi Bí tích Thanh tẩy, và tôi chỉ tiếp tục hiện hữu trong trạng thái đă thay đổi này.

 

Con người riêng của tôi đă được lột bỏ và tôi được trở thành tràn đầy với một chủ thể mới và cao cả hơn, trong đó cái ‘Tôi’ của tôi vẫn c̣n đó những đă được biến đổi, thanh tẩy, và ‘hướng tới’ một cuộc hội nhập với ‘Cái Tôi Khác’, Đấng chiếm một chỗ đứng mới trong đời sống của tôi. V́ thế, chúng ta trở nên “một với Đức Kitô” (Gal 3,28), một chủ thể mới duy nhất, và cái “Tôi” của chúng ta được giải thoát khỏi t́nh trạng đơn độc của nó.

 

‘Tôi, nhưng không c̣n là Tôi’: đây là công thức của đời sống Kitô giáo được cấu tạo nơi bí tích Thanh tẩy, một công thức cho sự phục sinh trong thời gian, công thức cho ‘việc canh tân” Kitô Giáo cần thiết để biển đổi thế giới.

 

Nỗi vui mừng Phục Sinh của chúng ta là ở chỗ ấy. Ơn gọi và trách nhiệm Kitô giáo của chúng ta là ở chỗ hợp tác để cả hai được kiện toàn một cách hiệu quả trong thực trạng hằng ngày của đời sống chúng ta những ǵ Chúa Thánh Thần đă hoàn thành trong chúng ta qua bí tích Thanh tẩy. Thực vậy, chúng ta được mời gọi trở nên những con người nam nữ mới, có thể thành những chứng tá đích thực của Đấng Phục Sinh, nhờ đó thành người đem sự vui mừng và niềm hy vọng đến cho thế giới, cụ thể là ở trong cộng đồng của những con người nam nữ chúng ta đang sống. 

  

Việc phục vụ của Giáo hội Ư

 

Vậy, khởi đi từ ư nghĩa căn bản về sự Phục Sinh hiện diện trong chúng ta và trong công việc hằng ngày của chúng ta, tôi bước sang chủ đề sự phục vụ của Giáo hội tại Ư cho đất nước, cho Âu châu, và cho toàn thế giới.

 

Nước Ư ngày nay biểu lộ cho chúng ta thấy một đất nước rất thiếu thốn và đồng thời lại là một nơi thuận lợi cho chúng ta làm nhân chứng.

 

Quốc gia này vô cùng thiếu thốn v́ nó tham gia vào một thứ văn hóa đang thống trị Tây phương và t́m cách tỏ ra như ḿnh là phổ quát và độc lập, những ǵ làm nẩy sinh ra một lối sống mới. Từ đó xuất phát một làn sóng minh tri chủ nghĩa và thế tục chủ nghĩa, những chủ nghĩa cho rằng chỉ có những ǵ kinh nghiệm thấy và tính toán được mới có giá trị hợp lư, trong khi đó, về phương diện thực hành th́ tự do cá nhân được xem là một thứ giá trị căn bản chi phối tất cả mọi thứ giá trị khác. 

 

Bởi thế, Thiên Chúa là Đấng vẫn bị loại trừ ra khỏi văn hóa và sinh hoạt quần chúng, và niềm tin vào Ngài trở nên khó khăn hơn, cũng chỉ v́ chúng ta sống trong một thế giới mà dường như lúc nào cũng được coi là do chúng ta tạo nên, mà có thể nói rằng Thiên Chúa không c̣n thực sự hiện diện nữa, mà dường như đă trở thành thừa thăi, thậm chí không c̣n chỗ đứng nữa.

 

Liên quan chặt chẽ với tất cả những điều này, đă diễn ra t́nh trạng sâu xa biến giảm con người, thành phần chỉ được xem là một sản phẩm của thiên nhiên và bởi thế họ không thực sự có tự do, và tự ḿnh có thể bị đối xử như một loài thú mà thôi. Bởi thế, mới xẩy ra t́nh trạng thực sự đảo lộn cái khởi điểm của nền văn hóa này, một khởi điểm đă được bắt đầu bằng việc chủ trương lấy con người và tự do của họ là những ǵ chính yếu.

 

Cũng theo chiều hướng này, đạo lư được giam giữ trong giới hạn của chủ nghĩa tương đối và duy thực dụng, loại bỏ mọi quy tắc luân lư hợp lư và tự bản chất có tính cách trói buộc.

 

Chúng ta cũng dễ thấy được lư do tại sao loại văn hóa này tiêu biểu cho một thứ sâu xa thực sự tách rời chẳng những khỏi Kitô giáo, mà nói chung khỏi cả các truyền thống tôn giáo và luân lư của nhân loại nữa. V́ thế nó không thể thực hiện việc đối thoại đích thực với các nền văn hóa khác có chiều kích tôn mạnh mẽ, chưa kể tới việc không thể trả lời nổi các nan đề căn bản về ư nghĩa và đường hướng của cuộc đời chúng ta.

 

Bởi vậy, thứ văn hóa này được đánh dấu bằng một t́nh trạng bị hụt hẫng sâu nặng, nhưng cũng bằng một nhu cầu hy vọng lớn lao được che đậy một cách vụng về.

 

Tuy nhiên, như tôi đă đề cập, nước Ư đồng thời là một Mảnh Đất thuận lợi cho việc làm chứng Kitô giáo. Thực ra, ở đây Giáo hội là một thực tại sinh động – và chúng ta có thể thấy được điều này – một thực tại duy tŕ được một sự hiện diện liên hệ giữa người dân ở các lứa tuổi và giai cấp.

 

Các truyền thống Kitô giáo thường xuyên tiếp tục đâm rể và sinh hoa kết quả, đồng thời một nỗ lực truyền bá và giáo lư lớn mạnh cũng đang diễn tiến, đặc biệt nhắm vào các thế hệ mới, nhất là các gia đ́nh. Ngoài ra, cùng với t́nh trạng càng ngày càng hiện lên rơ nét cái què cụt của thứ lư lẽ co quắp và một thứ đạo lư đặc nét cá nhân quá mức, th́ trên thực tế, cũng xẩy ra cả mối nguy cơ trầm trọng ở việc nó muốn tách rời ra khỏi những căn gốc Kitô giáo trong xă hội của chúng ta.

 

Cái cảm quan này, thấm nhập vào Nhân Dân Ư quốc, được rơ ràng và mạnh mẽ nhận định bởi nhiều nhân vật quan trọng trong xă hội, cũng như bởi những ai không chia sẻ với, hay ít là không thực hành, niềm tin của chúng ta.

 

V́ thế, Giáo hội và người Công giáo tại Ư được kêu mời hân hoan đón nhận cơ hội lớn lao này, và trên hết là hăy ư thức về nó. Bởi vậy, thái độ của chúng ta không bao giờ được loại trừ hay chỉ biết có ḿnh má thôi. Thay vào đó, chúng ta phải làm sinh động, và nếu được, làm gia tăng cái năng lực của chúng ta, tin tưởng hướng tới những mối liên hệ mới, mà không phung phí sức lực có thể góp phần vào sự thăng tiến về văn hóa và đạo đức ở Ư quốc.

 

Thực vậy, điều này là tùy ở chúng ta có biết tích cực và thu hút đáp ứng những mong mỏi và vấn đề dân chúng của chúng ta hay chăng, không phải bằng những phương tiện nghèo nàn của chúng ta mà là bằng sức mạnh của Chúa Thánh Thần.

 

Nếu chúng ta có thể làm điều này, Giáo hội tại Ư sẽ không chỉ mang lại ích lợi cho đất nước này, nhưng đồng thời cho cả Âu châu và thế giới nữa, bởi v́ cạm bẫy của chủ nghĩa thế tục đang hiện diện khắp nơi và nhu cầu có một đức tin sống động trong mối tương quan với các thách đố của thời đại cũng là những ǵ phổ thông nữa.

  

Biểu lộ một đức tin ‘tuân phục’

 

Anh chị em thân mến, bây giờ chúng ta phải tự hỏi chính ḿnh: cách nào, và dựa vào cơ sở nào, chúng ta có thể hoàn thành được một công việc như vậy? Ở Hội nghị này, quư vị đă có lư chủ trương là không thể châm chước được việc cống hiện một nội dung cụ thể khả thi cho chứng từ Kitô giáo, cứu xét về cách thức có thể thực hiện và phát triển công việc ấy trong mỗi một lĩnh vực lớn lao thuộc cảm nghiệm của con người.

 

V́ thế, sẽ thuận lợi nếu trong hoạt động mục vụ chúng ta không lăng quên sự liên kết giữa đức tin và đời sống thường nhật, giữa huấn thị của Tin Mừng với những mối lo toan và nguyện vọng mà đa số con người ta đang ôm ấp. 

 

Bởi vậy, trong những ngày này, quí vị đă chia sẻ về đời sống cảm xúc và gia đ́nh, về công việc và ngày nghỉ, về giáo dục và văn hóa, về hoàn cảnh nghèo đói và bệnh tật, về trách nhiệm và bổn phận trong đời sống xă hội và chính trị.

 

Trước hết, về phần ḿnh, tôi muốn nhấn mạnh rằng, làm thế nào, qua việc làm chứng đa dạng này, tiếng ‘xin vâng’ cao cả đă xuất hiện, một tiếng xin vâng Thiên Chúa, qua Chúa Giêsu Kitô, đă nói với con người cũng như với cuộc sống của họ, với t́nh yêu của con người, với niềm tự do của chúng ta và với trí óc của chúng ta; và bởi vậy, làm thế nào niềm tin vào Thiên Chúa có dung diện con người có thể mang niềm vui đến cho thế gian.

 

Quả thực, Kitô giáo là những ǵ cởi mở đối với tất cả mọi người ở các nền văn hóa cũng như ở một xă hội công bằng, chân thực và tinh tuyền, đối với tất cả những ǵ làm hân hoan, an ủi và kiên cường cuộc sống của chúng ta. Thánh Phaolô trong thư gởi tín hữu Philliphê đă nói: “Những ǵ là chân thật, những ǵ là cao quư, những ǵ là chính trực, những ǵ là tinh tuyền, những ǵ là đáng yêu, những ǵ là nhân ái, nếu có những ǵ là hảo hạng, những ǵ đáng ca ngợi, th́ anh em hăy nghĩ tới những điều ấy” (4,8).

 

Bởi thế, các môn đệ của Đức Kitô nhận ra và hân hoan đón nhận các thứ giá trị đích thực nơi văn hóa của thời đại chúng ta, ví dụ kiến thức khoa học và sự phát triển kỹ thuật, nhân quyền, tự do tôn giáo, và dân chủ. Tuy nhiên, họ không bỏ qua hay coi thường tính cách mềm yếu nguy hiểm nơi bản tính của con người vốn là một mối đe dọa cho sự tiến bộ của nhân loại trong hết mọi môi trường lịch sử; đặc biệt là họ không lơ là với những căng thẳng và mâu thuẫn nội tâm của thời đại chúng ta.

 

V́ thế, việc truyền bá phúc âm hóa không bao giờ chỉ là một thứ thuần túy thích nghi với văn hóa, nhưng bao giờ cũng là một cuộc thanh tẩy, một cuộc can đảm tách biệt giúp trưởng thành và chữa lành, một sự cởi mở làm nẩy sinh một “tạo vật mới” (II Cor 5,17; Gal 6,15) là hoa quả của Chúa Thánh Thần.

 

Như tôi đă viết trong Thông điệp “Thiên Chúa Là T́nh Yêu”, ở cốt lơi của việc làm người Kitô hữu – và do đó ở cốt lơi của việc chúng ta làm chứng với tư cách là thành phần tín hữu – không có vấn đề về việc quyết định theo đạo lư hay vấn đề có những ư tưởng hay ho, mà là vấn đề của cuộc gặp gỡ Con Người Giêsu Kitô, “Đấng cống hiến cho cuộc sống một chân trời mới và một đường hướng nhất định” (số 1).

 

Kết quả của sự gặp gỡ này cũng được biểu lộ một cách kỳ lạ và mới mẻ nơi môi trường nhân bản và văn hóa thực tiễn, nhất là trong mối tương quan với lư trí là cái mang lại sức sống cho khoa học hiện đại và các thứ kỹ thuật liên hệ. Thực vậy, một đặc điểm chính yếu của kỹ thuật đó là việc sử dụng một cách có phương pháp các thứ dụng cụ theo toán học để có thể hoạt động với thiên nhiên trong việc khai thác các năng lực lớn lao cho việc phục vụ của chúng ta.

 

Như thế, toán học là những ǵ do trí óc của chúng ta tạo nên: sự tương ứng giữa cấu trúc của nó với các cấu trúc thực sự trong vũ trụ – một tương ứng là những ǵ giả định của tất cả mọi phát triển của khoa học và kỹ thuật hiện đại, đă được Galileo Galilei công thức hóa một cách rơ ràng bằng một câu khẳng định nổi tiếng là cuốn sách thiên nhiên được biết bằng ngôn ngữ toán học – khiến chúng ta phải khâm phục  và suy nghĩ nhiều.

 

Thực vậy, nó hàm ư rằng chính vũ trụ được kết cấu một cách khôn ngoan sáng suốt, v́ thế mới có một sự tương ứng sâu xa giữa lư trí chủ quan của chúng ta và lư tính khách quan của thiên nhiên.

Bởi vậy chúng ta không thể không tự hỏi ḿnh rằng phải chăng không có một lư trí nguyên thủy duy nhất là nguồn mạch chung cho cả hai thứ lư trí trên đây hay sao.

 

V́ thế, chính việc suy tư về vấn đề phát triển khoa học đưa chúng ta đến với Lời Hóa Công. Khuynh hướng lấy làm chính yếu tính cách vô tri, ngẫu nhiên t́nh cờ, và sự tất yếu là những ǵ đang bị lật đổ, cũng là những ǵ dẫn lư trí của chúng ta và quyền tự do của chúng ta về với vấn đề phát triển khoa học đưa chúng ta đến với Lời Hóa Công. Dựa vào những cơ sở ấy, lănh vực về tính cách hữu lư của chúng ta lại có thể được nới rộng, có thể tái mở ra cho nó những vấn nạn bao rộng hơn về sự thật và sự thiện, có thể nối kết thần học, triết học và khoa học với nhau, trong sự hoàn toàn tôn trọng các phương pháp hợp với chúng, cũng như hợp với tính cách độc lập hỗ tương của chúng, nhưng đồng thời cũng nhận thức được mối hiệp nhất nội tại liên kết chúng lại với nhau.

 

Đó là công việc trước mắt chúng ta, một cuộc phiêu lưu cuốn hút đáng công sức chúng ta bỏ ra, để cống hiến cho văn hóa của thời đại chúng ta tác lực mới, và phục hồi vai tṛ trọn vẹn của niềm tin Kitô giáo.

 

Khi nhắm đến mục tiêu này, “dự phóng về văn hóa” của Giáo Hội Ư quốc chắc chắn là một trực giác tốt đẹp và có thể trở thành một đóng góp rất quan trọng.

  

Con người: Trí khôn, óc thông minh, và t́nh yêu

 

Mặt khác, con người không những có trí khôn và óc thông minh mà thôi, mặc dầu chúng là các yếu tố chủ yếu. Họ mang trong ḿnh, những ǵ được ghi khắc sâu thẳm nhất trong con người của họ, đó là nhu cầu  yêu thương, được yêu và đáp yêu. V́ thế, con người thường tự hỏi và cảm thấy khó hiểu trước những ǵ là thô bạo của cuộc sống, trước sự dữ xẩy ra trên thế giới, một sự dữ xuất hiện quá ác liệt nhưng đồng thời lại hoàn toàn phi lư.

 

Đặc biệt trong thời đại chúng ta, bất kể tất cả mọi tiến bộ đạt được, sự xấu xa vẫn chưa bị chế ngự. Quả thực, quyền lực nó dường như được củng cố và tất cả các nỗ lực che dấu nó đi mau chóng bị vạch trần, như kinh nghiệm thường ngày lẫn các biến cố lịch sử lớn đă chứng tỏ cho thấy.

 

V́ thế các vấn nạn cứ lẩn quẩn trở lại với chúng ta: có chăng một chốn an toàn cho t́nh yêu đích thực, và nói cho cùng, phải chăng thế giới này thực sự là công việc khôn ngoan của Thiên Chúa? Ở đây, hơn bất cứ lư lẽ nào của con người, cái mới mẻ nghịch thường của sự mạc khải Thánh Kinh đă là những ǵ giúp đỡ chúng ta: Đấng Sáng Tạo trời đất, Vị Thiên Chúa duy nhất là nguồn gốc của hữu thể, Lời Hóa Công duy nhất, lư trí sáng tạo này biết làm sao để yêu thương con người một cách riêng tư, hay nói đúng hơn, biết tha thiết yêu thương con người và muốn được con người yêu thương đáp trả. Lư trí sáng tạo này, Đấng đồng thời cũng yêu thương nữa, bởi vậy ban sức sống cho một lịch sử yêu thương đối với dân tộc Do Thái, dân tộc của Người; và nơi công việc ấy, trước việc phản bội của dân tộc này, t́nh yêu của Ngài đă cho thấy ḿnh là một t́nh yêu vô cùng trung tín và xót thương. Đây là một t́nh yêu tha thứ vô hạn.

 

Trong Chúa Giêsu Kitô một thái độ như vậy đạt tới một mức độ thảm thiết quá sức chưa từng thấy: thực vậy, trong Ngài, Thiên Chúa hóa thân trở nên một trong chúng ta, thành người anh em của chúng ta theo nhân tính, c̣n hơn thế nữa, hy sinh cả mạng sống v́ chúng ta.

 

Nơi cái chết trên Thập giá, một thập giá hiển nhiên là sự dữ đệ nhất trong lịch sử, là việc “Thiên Chúa quay ra đối nghịch lại với chính Ngài, nhờ đó, Ngài ban chính ḿnh để nâng con người dậy và cứu rỗi con người. Đây là t́nh yêu ở dạng thức sâu thẳm nhất” (“Deus Caritas Est”, số 12), qua đó mới thấy được đâu là ư nghĩa của “Thiên Chúa là t́nh yêu” (I Gioan 4,8), đồng thời chúng ta cũng hiểu được t́nh yêu đích thực nghĩa là ǵ (x. ibid. số 9-10, 12).

 

Chính v́ Ngài thực sự yêu thương chúng ta, mà Thiên Chúa tôn trọng và cứu độ niềm tự do của chúng ta. Ngài không đối phó với mănh lực sự dữ và tội lỗi bằng một thứ quyền lực mănh liệt hơn, nhưng – như ĐTC Gioan Phaolô II yêu quư của chúng ta đă tŕnh bày trong thông điệp “Dives in Misericordia”, và sau đó trong cuốn sách ‘Hồi Niệm và Căn Tính’, chứng từ về tâm linh thực sự của ngài – Ngài thích hạn chế ḷng kiên nhẫn của Ngài và ḷng thương xót của Ngài, một hạn chế thực sự là nỗi khổ đau của Con Một Ngài. Nhờ đó, nỗi đau khổ của chúng ta được biến đổi tự bản chất, mặc dạng thức yêu thương và chất chuưa một hứa hẹn cứu độ.

 

Anh chị em thân mến, ĐTC Gioan Phaolô II đă không chỉ suy nghĩ và tin tưởng với một đức tin trừu tượng: ngài đă thấu hiểu và sống bằng một đức tin được chín mùi trong khổ đau. Như Giáo hội, chúng ta được kêu gọi đi theo Ngài đi theo con đường này, tùy theo cách thế và mức độ Thiên Chúa định liệu cho mỗi người chúng ta.

 

Đúng vậy, Thập giá làm cho chúng ta sợ hăi, như nó đă khơi lên nỗi sợ hăi và khổ năo ở nơi Chúa Giêsu Kitô (x. Mk 14,33-36); thế nhưng, nó không phải là việc phủ nhận sự sống, ở chỗ muốn được hạnh phúc cần phải tước lột bản thân ḿnh.

 

Trái lại, nó là một “chấp nhận” thái quá của Thiên Chúa đối với con người, một biểu hiện cao cả nhất của t́nh Ngài yêu thương và là nguồn mạch của một sự sống dồi dào và hoàn thiện. V́ thế nó chất chứa một lời mời gọi có sức thu hút nhất trong việc bước theo Đức Kitô trên con đường trao tặng chính ḿnh.

 

Ở đây, tôi đặc biệt mến thương ngỏ lời cùng những chi thể đau thương trong Thân Thể của Chúa Kitô. Tại Ư, cũng như ở khắp nơi trên thế giới, họ hoàn thành những ǵ đang thiếu nơi cuộc khổ nạn của Đức Kitô trong chính thể xác của họ (x. Col 1,24), và như thế họ đóng góp một cách hiệu quả nhất vào sự cứu rổi của mọi người. Họ là những chứng nhân sống động nhất về niềm vui xuất phát từ Thiên Chúa và là niềm vui ban sức mạnh để chấp nhận thánh giá trong yêu thương và kiên tŕ.

 

Chúng ta biết rơ lựa chọn này đối với niềm tin và việc theo Đức Kitô không bao giờ là những ǵ dễ dàng cả. Ngược lại, nó luôn bị phản đối và gây tranh cải. V́ thế, Giáo hội vẫn là một “dấu chỉ nghịch thường” trong việc tiến bước theo Chúa (x. Lk 2,34), ngay cả trong thời đại chúng ta.

 

Nhưng chúng ta không nản ḷng v́ điều này. Ngược lại, chúng ta phải luôn sẵn sàng đối đáp với bất cứ ai muốn biết lư do về niềm hy vọng của ḿnh, như thư thứ nhất của thánh Phêrô (3,15) mời gọi chúng ta, lời đă được quí vị đích đáng chọn để hướng dẫn công việc của những ngày Hội nghị này. Chúng ta phải đáp trả với ‘sự ḥa nhă và cung kính’, với một ‘lương tâm trong sáng’ (3,15-16), với một quyền lực êm ái xuất phát từ mối kết hợp với Đức Kitô.

 

Chúng ta cần phải thực hiện điều này trong mọi lúc, về phương diện tư tưởng lẫn hành động, nơi hành vi cử chỉ riêng tư cũng như nơi việc công khai làm chứng. Sự liên kết chặt chẽ được thấy trong Giáo hội trong những thế kỷ đầu giữa đức tin làm bạn với lư trí và thói sống mang đặc tính yêu thương nhau và  quan tâm đến người nghèo khổ, đă trở thành khả dĩ cho việc truyền giáo của Kitô giáo được phát triển rất nhiều ở thế giới Hy La. Việc phát triển truyền giáo này cũng đă diễn ra như thế sau đó, ở những môi trường văn hóa và hoàn cảnh lịch sử khác nhau.

 

Điều này tiếp tục là một xa lộ cho việc truyền bá phúc âm hóa. Xin Thiên Chúa hướng dẫn chúng ta sống mối hiệp nhất giữa chân lư và t́nh yêu này trong những hoàn cảnh thích hợp với thời đại chúng ta, để thi hành việc truyền bá phúc âm hóa tại Ư cũng như trên toàn thế giới ngày nay. Và như thế tôi tiến sang một điểm quan trọng và căn bản đó là vấn đề giáo dục.

  

Vấn Đề Giáo dục

 

Vấn đề chính yếu ở đây là, để cho kinh nghiệm về đức tin và t́nh yêu Kitô giáo được đón nhận, thực hành và truyền đạt từ thế hệ này sang thế hệ khác, th́ việc giáo dục con người là những ǵ hệ trọng và quyết liệt. Cần phải quan tâm tới việc đào tạo trí óc của họ, mà vẫn không xao lăng về niềm tự do và khả năng yêu thương của họ. Đây là lư do tại sao cần phải trông cậy vào Ân sủng.

 

Chỉ bằng cách này mới có thể đối phó một cách hiệu quả nổi với cái nguy cơ nơi số mệnh của gia đ́nh nhân loại, một thứ nguy cơ được thể hiện nơi t́nh trạng mất quân b́nh giữa việc phát triển về khả năng kỹ thuật rất nhanh chóng với sự tăng trưởng gay go hơn về những phương tiện luân lư của chúng ta.

 

Việc giáo dục đích thực cần phải trở thành những ǵ làm bừng lên ḷng dũng cảm để có thể thực hiện những quyết định dứt khoát, những quyết định mà ngày nay được xem như là một thứ ràng buộc khổ sở đối với quyền tự do của chúng ta. Trên thực tế th́ đó là điều không thể thiếu được cho vấn đề thăng tiến và để đạt được một cái ǵ đó cao cả trong đời sống, đặc biệt, để làm cho t́nh yêu trưởng thành với tất cả vẻ đẹp của nó: nhờ đó, làm cho chính tự do được nhất quán và có ư nghĩa.

 

Từ mối quan tâm này về con người cùng việc phát triển của họ tiến tới vấn đề chúng ta ‘bác bỏ’ những h́nh thức yêu thương yếu kém và lệch lạc, cũng như cái giả tạo của quyền tự do được thấy nơi việc biến lư trí thành những ǵ đo đếm được hay mạo dụng được. Thực vậy, những thứ ‘bác bỏ’ này đúng hơn là những ‘chấp nhận’ đối với t́nh yêu đích thực, đối với thực tại của con người như họ đă được Thiên Chúa đă tạo dựng nên.

 

Tôi muốn bày tỏ ở đây việc tôi hết ḷng cảm nhận về công việc đào tạo và giáo dục tuyệt vời được các Giáo hội địa phương không ngừng thực hiện ở Ư, qua sự quan tâm mục vụ của ḿnh đối với các tân thế hệ và các gia đ́nh; tôi xin cám ơn về sự chú trọng này!

 

Trong các h́nh thức dấn thân đa diện ấy, tôi không thể không nghĩ đặc biệt đến các trường học Công giáo, bởi v́ đối với các trường học này, ở một mức độ nào đó, vẫn c̣n những thành kiến lạc hậu gây nên những tŕ trệ tai hại, và là những thành kiến không c̣n khả dĩ biện minh, trong việc nh́n nhận chức năng của chúng cũng như trong việc cho chúng có thể cụ thể hoạt động.

  

Chứng tá của ḷng bác ái

 

Chúa Giêsu dạy chúng ta rằng bất cứ sự ǵ chúng ta làm cho người anh em bé mọn nhất là chúng ta làm cho chính Ngài (x. Matt. 25,40). V́ thế, tính chất xác thật của việc chúng ta gắn bó với Chúa Kitô được xác nhận một cách đặc biệt ở t́nh yêu và sự quan tâm cụ thể đến thành phần yếu đuối và nghèo nàn nhất, những người bị đe dọa nhiều nhất và sống hết sức khốn khổ.

 

Giáo Hội Ư quốc có một truyền thống tuyệt vời về việc gần gũi, giúp đỡ, và gắn bó với người nghèo, người bệnh tật, và người bị xua đuổi, một truyền thống được biểu lộ ở mức cao nhất nơi hàng loạt tuyệt vời ‘các vị Thánh bác ái’. Truyền thống này vẫn tiếp tục cho đến ngày hôm nay, và là một truyền thống đang phải đương đầu với nhiều h́nh thức nghèo khổ về vật chất và luân lư, qua các tổ chức Caritas, các tổ chức thiện nguyện, qua các công tác thường âm thần của nhiều giáo xứ, các cộng đồng ḍng tu, các đoàn thể và nhóm, qua từng cá nhân được thúc đẩy bởi t́nh yêu mến Đức Kitô và tha nhân.

 

Hơn nữa, Giáo hội tại Ư biểu lộ sự đoàn kết đặc biệt đối với vô số người nghèo trên thế giới. V́ thế, rất cần phải luôn giữ được tính chất cao thượng và trong sáng cho tất cả mọi chứng tá bác ái này, nuôi dưỡng nó bằng sự khiêm nhường và ḷng tin cậy vào Thiên Chúa, xa tránh các thứ khuynh hướng có tính cách ư hệ cùng những cảm t́nh có tính cách bè phái, nhất là hướng cái nh́n của nó theo cái nh́n của Chúa Kitô. Bởi thế, công việc thực tiễn ấy đă là một công việc hệ trọng, nhưng việc chia sẻ riêng tư với người nghèo và với nỗi khổ của tha nhân ḿnh là những ǵ c̣n cần thiết hơn thế nữa.

 

V́ thế, anh chị em thân mến, ḷng bác ái của Giáo hội là những ǵ làm hiện lộ t́nh yêu của Thiên Chúa trên thế giới này, và do đó làm cho đức tin của chúng ta vào vị Thiên Chúa Nhập Thể, Tử Giá và Phục Sinh có sức thu hút.

  

Trách nhiệm công dân và chính trị của người Công giáo

 

Hội nghị của quư vị đă có lư lưu tâm tới chủ đề vai tṛ người công dân, tức là vấn đề trách nhiệm công dân và chính trị của người Công giáo. Chúa Kitô đă đến để cứu chuộc con người thực sự, con người cụ thể, thành phần sống trong lịch sử và trong cộng đồng, v́ thế Kitô giáo và Giáo hội có một chiều kích và giá trị về công chúng ngay từ ban đầu.

 

Như tôi đă tŕnh bày trong thông điệp “Deus Caritas Est” (x. số 28-29) về mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị, Chúa Giêsu Kitô đă mang lại một điều mới mẻ thiết yếu, mở đường cho một thế giới tự do hơn và nhân bản hơn, bằng sự tách biệt và độc lập của nhau giữa Chính quyền và Giáo hội, có nghĩa là, giữa cái của Caesar th́ trả cho Caesar, với cái của Thiên Chúa th́ trả cho Thiên Chúa (x. Mt 22,21).

 

Ngay chính quyền tự do tôn giáo mà chúng ta cho là có một giá trị phổ quát, đặc biệt cần thiết trong thế giới ngày nay, đă có gốc gác về lịch sử ở chỗ này. Bởi thế mà Giáo hội không phải là và không có ư định trở thành một tác nhân chính trị. Nhưng đồng thời Giáo hội lại hết sức quan tâm đến thiện ích của cộng đồng chính trị, mà linh hồn của nó là công lư, và cống hiến cho cộng đồng này những đóng góp đặc biệt ở cấp độ lưỡng diện.

 

Quả thực, niềm tin Kitô giáo là những ǵ thanh tẩy lư trí và giúp cho nó được nên tốt hơn: v́ thế, với giáo thuyết xă hội của ḿnh, bao gồm những lư lẽ được bắt nguồn từ những ǵ phù hợp với bản tính của hết mọi người, việc đóng góp của Giáo hội là ở chỗ tạo điều kiện cho những ǵ công chính được nh́n nhận một cách hiệu nghiệm , rồi cũng được hoàn thành nữa. Để đạt được điều này, không thể thiếu được năng lực về luân lư và tinh thần, v́ chúng là những ǵ bảo đảm rằng những đ̣i hỏi của công lư ưu tiên hơn những thứ tư lợi, ưu tiên hơn một thứ loại xă hội nào, hay thậm chí ưu tiên hơn cả một Quốc Gia nữa. Cả ở đây nữa, Giáo hội đóng một vai tṛ quan trọng trong việc làm cho những năng lực ấy ăn sâu vào lương tâm, nuôi dưỡng chúng và kiên cường chúng.

 

Công việc của Giáo Hội không phải là bổn phận trực tiếp hành động trong lănh vực chính trị để xây dựng một trật tự công bằng trong xă hội, mà là của người tín hữu giáo dân, thành phần hành động với tư cách là những người công dân theo trách nhiệm riêng của họ. Đây là bổn phận rất quan trọng mà người tín hữu Kitô giáo tại Ư được mời gọi dấn thân một cách hăng say và dũng cảm, một bổn phận được soi sáng bởi đức tin cũng như bởi Huấn Quyền của Giáo hội và được sinh động bởi đức bác ái của Đức Kitô.

 

Ngày nay cần phải đặc biệt chú tâm và hết ḿnh dấn thân trước những thách đố lớn lao đang gây nguy hại tới một phần lớn của gia đ́nh nhân loại: đó là chiến tranh và khủng bố, nạn đói khát và một số chứng bệnh dịch kinh khủng. Nhưng cũng cần phải đối diện, với sự cương quyết tương tự cùng với những chính sách rơ ràng, cả với những nguy cơ nơi những quyết định về chính trị và luật pháp nghịch lại với các gia trị căn bản, với nguyên tắc nhân loại học cũng như với đạo đức học là những ǵ ăn sâu nơi bản tính con người, đặc biệt là những quyết định liên quan đến việc bảo vệ sự sống con người ở tất cả mọi giai đoạn của nó, từ khi thụ thai cho đến lúc chết một cách tự nhiên, cũng như liên quan tới việc cổ vơ gia đ́nh được đặt nền tảng trên hôn nhân, tránh giới thiệu trong quần chúng những h́nh thức liên kết khác làm cho gia đ́nh bị lung lay, làm lu mờ tính chất đặc biệt và vai tṛ bất khả thay thế của gia đ́nh trong xă hội.

 

Việc công khai và dũng cảm làm chứng mà Giáo hội và người Công giáo tại Ư đă và đang thể hiện trong các vấn đề này là cách phục vụ rất quư giá đối với nước Ư, đồng thời bổ ích và phấn khích các quốc gia khác. Sự dấn thân và làm chứng này chắc chắn là một phần của việc ‘chấp nhận’ cao cả mà chúng ta là những người tin vào Đức Kitô nói lên với tha nhân là thành phần được Thiên Chúa yêu thương.

  

Kết hợp với Đức Kitô

 

Các anh chị em thân mến, các bổn phận và trách nhiệm mà Hội nghị Giáo hội này đang nêu bật th́ nhiều và đa dạng. Chúng ta được khuyến khích phải nhớ rằng không phải một ḿnh chúng ta ôm lấy gánh nặng đâu. Thực vậy, chúng ta hỗ trợ lẫn nhau, và trên hết chính Thiên Chúa hướng dẫn và giữ vững con thuyền mỏng manh của Giáo hội.

 

Như thế, chúng ta trở lại với điểm xuất phát: sự kết hợp của chúng ta với Ngài là những ǵ quyết liệt, và v́ thế chúng ta có thể nhân danh Ngài mà lên đường (x. Mk 3,13-15).

 

Vậy, sức mạnh đích thực của chúng ta là việc chúng ta được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa và Ḿnh Ngài, là liên kết chúng ta với món quà Ngài giành cho chúng ta, khi chúng ta thực hiện điều ấy việc cử hành  Thánh Thể chiều nay, khi chúng ta tôn thờ Ngài trong Thánh Thể: thật vậy, việc tôn thờ cần phải là những ǵ đi trước hết mọi sinh hoạt và chương tŕnh của chúng ta, để nó có thể làm cho chúng ta thực sự tự do và chúng ta có được những tiêu chuẩn để hành động.

 

Xin Đức Nữ Đồng Trinh Maria, luôn được yêu mến và tôn kính ở khắp nước Ư, đi trước và hướng dẫn chúng ta trong việc chúng ta hiệp nhất với Đức Kitô. Nơi Mẹ, chúng ta nhận ra bản chất trong sạch, hoàn hảo, và đích thức của Giáo hội; và cũng ở nơi Mẹ, chúng ta học biết và yêu mến mầu nhiệm Giáo hội sống động trong lịch sử, chúng ta sâu xa cảm thấy ḿnh thuộc về Giáo hội, để rồi, nhờ đó chúng ta trở thành ‘hồn sống của giáo hội’, chúng ta biết chống lại ‘cái tục hóa nội tại’ đang đe dọa Giáo hội trong thời đại của chúng ta đây, một hậu quả của tiến tŕnh tục hóa đă sâu đậm đánh dấu nền văn minh Âu châu.

 

Các anh chị em thân mến, chúng ta hăy cùng nhau dâng lên Chúa lời cầu nguyện khiêm tốn nhưng tin tưởng, xin cho cộng đồng Công giáo tại Ư, một cộng đồng sâu xa hiệp thông một cách sống động với Giáo hội ở mọi nơi, mọi lúc, và chặt chẽ liên kết với các vị Giám mục của ḿnh, biết mang lại một động lực mới cho Đất Nước dấu yêu này, cũng như mang lại cho mọi nơi trên thế giới, thành phần chứng nhân hân hoan của Chúa Giêsu Phục Sinh, thành phần là niềm hy vọng của nước Ư và của thế giới. 

 

Rev Lê Ngọc Đức Phúc, SVD, chuyển dịch theo

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2006/october/documents/hf_ben-xvi_spe_20061019_convegno-verona_en.html

 

 

TOP

 

 

Với Hội Nghị của Giáo Hoàng Học Viện Về Sự Sống ngày 16/9/2006 về Chủ Đề “Các Thứ Thân Bào: Tương Lai Ra Sao Đối Với Việc Trị Liệu?”

 

Quí Huynh khả kính trong hàng Giáo Phẩm và Linh Mục,

Quí Tôn Bà Tôn Ông,

 

Tôi xin gửi lời chào thân ái đến cùng tất cả quí vị. Cuộc gặp gỡ với quí vị, thành phần khoa học gia và học giả dấn thân cho việc nghiên cứu về vấn đề trị liệu những chứng bệnh đang trầm trọng cho phối nhân loại, là một điều làm tôi cảm thấy đặc biệt an ủi.

 

Tôi xin cám ơn những vị tổ chức đă phát động Hội Nghị này về một đề tài càng ngày càng trở nên hệ trọng trong những năm gần đây. Đề tài đặc biệt của cuộc Hội Luận được cấu trúc một cách thích hợp bằng một vấn nạn hướng về tương lai, đó là: “Các thứ thân bào: tương lai của việc trị liệu ra sao?”

 

Tôi xin cám ơn Đức Giám Mục Elio Sgreccia, Chủ Tịch của Giáo Hoàng Học Viện Về Sự Sống, về những lời lẽ tốt đẹp của ngài, cũng thay mặt cho cả Liên Hiệp Thế Giới Chư Hiệp Hội Y Khoa Công Giáo (FIAMC: International Federation of Catholic Medical Associations), một hiệp hội đă cộng tác vào việc tổ chức Hội Nghị này và có vị đại diện ở đây là Giáo Sư Gianluigi Gigli, Vị Chủ Tịch sắp măn nhiệm, và Giáo Sư Simon de Castellvi, Vị Chủ Tịch vừa được tuyển bầu.

 

Khi khoa học được áp dụng cho việc làm giảm bớt sự đớn đau và khi nó khám phá rằng theo cách thức riêng của nó những phương phát mới, th́ nó tỏ ra hai bộ mặt phong phú về nhân loại: ở tính cách khéo léo khả thủ được đầu tư vào việc nghiên cứu, và ở cái lợi ích được loan báo đến cho tất cả những ai bị bệnh nạn hành hạ.

 

Những ai cung cấp phương tiện tài chính và khuyến khích những cơ cấu cần thiết cho việc nghiên cứu học hỏi là thành phần cũng có công trong việc tiến bộ trên con đường văn minh ấy.

 

Nhân dịp này, tôi muốn lập lại những ǵ tôi đă nói ở Buổi Triều Kiến Chung gần đây: “Việc tiến bộ trở thành tiến bộ thực sự chỉ khi nào nó phục vụ con người, và chỉ khi nào con người phát triển, chẳng những về quyền lực kỹ thuật của họ, mà c̣n về ư thức luân lư của họ nữa” (16/8/2006).

 

Theo chiều hướng ấy th́ việc nghiên cứu thân bào cũng đáng được chấp nhận và khuyến khích khi nó khéo léo ḥa hợp lại với nhau kiến thức khoa học, kỹ thuật tân tiến nhất nơi ngành sinh học và lănh vực đạo lư liên quan tới việc tôn trọng con người ở mọi giai đoạn cuộc đời họ sống.

 

Những viễn tượng được mở ra bởi khúc quanh mới này là những ǵ tự chúng lđang lôi cuốn, v́ chúng cống hiến một thoáng nh́n thấy việc khả trị những chứng bệnh mô sợi bị suy thoái đi đến chỗ gây nguy hiểm tật nguyền và chết chóc cho những ai bị nhiễm mắc.

 

Làm sao lại không cảm thấy có nhiệm vụ trong việc ca ngợi tất cả những ai dấn thân cho việc nghiên cứu này cũng như tất cả những ai nâng đỡ tổ chức ấy cùng gánh chịu các thứ tốn kém của nó?

 

Tôi đặc biệt thiết tha xin các cơ cấu khoa học đă lôi kéo hứng khởi của họ cũng như tổ chức của Giáo Hội Công Giáo hăy gia tăng thứ nghiên cứu này, và hăy thiết lập việc liên hệ chặt chẽ khả dĩ nhất với nhau cũng như với những ai t́m cách làm giảm bớt đi sự đớn đau của con người bằng những đường lối thích đáng.

 

Trước những cáo buộc phi cảm ứng thường xuyên xẩy ra một cách bất công nhắm đến Giáo Hội, xin cho tôi cũng được nói lên ở đây việc Giáo Hội liên lỉ ủng hộ việc nghiên cứu nhắm đến chỗ chữa lành các thứ bệnh tật để đem lại thiệc ích cho nhân loại qua 2000 năm lịch sử của Giáo Hội.

 

Nếu đă từng xẩy ra việc chống cự nào – và nếu vẫn đang c̣n xẩy ra việc chống cự ấy – th́ đó đă là và đang là những thứ chống đối những h́nh thức nghiên cứu nhắm đến việc cố t́nh làm triệt tiêu con người đang hiện hữu, cho dù họ chưa được sinh ra. Trong các trường hợp như thế th́ việc nghiên cứu, bất kể có những thành quả trị liệu hiệu năng, thực sự không phải là những ǵ phục vụ nhân loại.

 

Thật thế, việc nghiên cứu này đạt được tiến bộ bằng việc triệt tiêu sự sống con người, một sự sống có giá trị tương đương với các sự sống của những cá nhân khác cũng như sự sống của chính thành phần nghiên cứu.

 

Chính lịch sử đă lên án một thứ khoa học như thế trong quá khứ và sẽ lean án nó trong tương lai, chẳng những v́ nó thiếu ánh sáng của Thiên Chúa mà c̣n v́ nó thiếu cả nhân tính nữa.

 

Tôi xin lập lại ở đây những ǵ tôi đă viết cách đây ít lâu: Vấn đề ở đây là chúng ta không thể nào cứ chạy loanh quanh; không ai được quyền triệt hạ sự sống con người. Cần phải thiết lập một giới hạn bất khả vượt qua đối với khả năng thực hiện và thí nghiệm của chúng ta. Nhân loại không phải là một đối tượng khả triệt, trái lại, hết mọi cá thể đều cho thấy sự hiện diện của Thiên Chúa trên thế giới này (cf. J. Ratzinger, God and the World, Ignatius Press, 2002).

 

Không thể nào có vấn đề dung ḥa hay lảng tránh trước việc thực sự triệt hạ con người. Người ta không thể nghĩ rằng một xă hội có thể chiến đấu với tội ác một cách hiệu nghiệm khi chính xă hội lại hợp pháp hóa tội ác trong lănh vực của sự sống được thụ thai.

 

Vào dịp của các Cuộc Hội Nghị gần đây của Giáo Hoàng Học Viện Về Sự Sống, tôi đă có cơ hội để tái thẩm định giáo huấn của Giáo Hội, một giáo huấn được ngỏ cùng tất cả mọi con người thành tâm thiện chí, về giá trị nhân bản của một con trẻ vừa mới được thụ thai, cũng như vào thời điểm được coi là tiền cấy vào tử cung.

 

Sự kiện quí vị ở Hội Nghị này đă bày tỏ việc quí vị quyết tâm và hy vọng chiếm đạt được những thánh quả trị liệu mới từ việc sử dụng các thứ tế bào nơi thân thể người lớn mà không cần đến đường lối triệt tiêu những con người mới được thụ thai, và sự kiện hoạt động của quí vị đang được tưởng thưởng bằng những thành quả, là những ǵ khẳng định tính cách hiệu năng của lời Giáo Hội liên lỉ mời gọi hết sức tôn trọng con người từ khi được thụ thai.  Thiện ích của con người chẳng những cần phải t́m kiếm theo những mục đích hiệu năng phổ quát mà c̣n bằng những phương pháp được sử dụng để đạt tới những mục đích ấy nữa.

 

Một thành quả tốt đẹp không bao giờ có thể biện minh cho những phương tiện tự bản chất bất hợp pháp. Vấn đề không phải chỉ là vấn đề của một thứ qui chuẩn về sức khỏe liên quan tới việc sử dụng những nguồn tài chính giới hạn, mà c̣n, trên hết, là vấn đề tôn trọng các thứ nhân quyền căn bản của con người nơi chính việc nghiên cứu khoa học nữa.

 

Tôi hy vọng rằng Thiên Chúa sẽ làm cho các nỗ lực của quí vị – những nỗ lực chắc chắn được nâng đỡ bởi Thiên Chúa là Đấng tác hành nơi hết mọi con người thành tâm thiện chí và cho thiện ích của tất cả mọi người – niềm vui trong việc khám phá chân lư, khôn ngoan trong việc quan tâm và tôn trọng hết mọi con người, và thành đạt trong việc nghiên cứu những phương dược hiệu nghiệm cho nỗi đớn đau của con người.

 

Để niêm ấn niềm hy vọng này, cùng với lời hứa nguyện cầu của ḿnh, tôi thân ái ban Phép Lành cảm mến cho tất cả quí vị, cho những người hợp tác với quí vị và cho thân quyến của quí vị, cũng như cho các bệnh nhân là thành phần sẽ được lợi ích bởi sự khéo léo và tài xoay sở của quí vị cùng với các thành quả nơi hoạt động của quí vị,

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo

 

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2006/september/documents/hf_ben-xvi_spe_20060916_pav_en.html

 

  

TOP

 

 

Chia Sẻ với Các Vị Giám Mục Ontario Canada dịp Các Ngài Viếng Thăm Ṭa Thánh Ngũ Niên 8/9/2006

 

Huynh Hồng Y,

Quí Huynh Giám Mục thân mến,

 

1.         ‘Thiên Chúa là t́nh yêu, nên ai sống trong t́nh yêu là sống trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa sống trong họ’ (1Jn 4:16).

 

Với ḷng quí mến huynh đệ, tôi thân ái đón chào quí huynh, những vị giám mục ở Ontario, và tôi xin cám ơn Đức Giám Mục Smith thay mặt chư huynh đă bày tỏ những cảm t́nh tốt đẹp. Tôi xin ân cần đáp lại những cảm t́nh ấy và hứa nguyện cầu cho cùng quan tâm tới chư huynh cũng như những ai được chư huynh chăm sóc mục vụ.

 

Việc chư huynh viếng thăm ngũ niên ṭa thánh ‘ad limina apostolorum’ và vị Thừa Kế Thánh Phêrô là một cơ hội xác nhận việc chư huynh quyết tâm làm cho Chúa Kitô càng ngày càng trở thành hữu h́nh trong Giáo Hội và xă hội, bằng việc hân hoan làm chứng cho Phúc Âm là chính Chúa Giêsu Kitô.

 

Nhiều đoạn huấn dụ của Thánh Kư Gioan về việc ở lại trong t́nh yêu và sự thật của Chúa Kitô gợi lên h́nh ảnh về một nơi cư trú vững chắc và an toàn. Thiên Chúa đă yêu thương chúng ta trước (1Jn 4:10), và chúng ta, được thu hút bởi tặng ân yêu thương ấy, t́m thấy một nơi nghỉ ngơi, nơi chúng ta có thể ‘liên lỉ uống một cách tươi mát từ tận nguồn là Chúa Giêsu Kitô, từ con tim của Người tuôn trào t́nh yêu của Thiên Chúa’ (Thông Điệp ‘Thiên Chúa là T́nh Yêu’, 7).

 

Thánh Gioan cũng được thúc đẩy trong việc thiết tha xin các cộng đồng của ngài hăy ở lại trong t́nh yêu ấy. Một số cộng đồng đă trở nên suy yếu bởi những thứ tranh căi và phân tâm dần dần đi đến chỗ chia rẽ.

 

2.         Quí huynh thân mến, các cộng đồng giáo phận của chư huynh đươc thách đố trong việc làm vang dội lời tuyên ngôn đức tin sống động, đó là: ‘Chúng tôi nhận biết và tin tưởng t́nh Thiên Chúa yêu thương giành cho chúng tôi’ (1Jn 4:16).

 

Những lời này, những lời hùng hồn cho thấy đức tin như là việc gắn bó riêng tư với Thiên Chúa và đồng thời chấp nhận tất cả sự thật được Thiên Chúa mạc khải (x Tuyên Nôn ‘Dominus Iesus’, 7), có thể được loan báo một cách có uy tín sau khi hội ngộ với Chúa Kitô. Được thu hút bởi t́nh yêu của Người, người tín hữu trao phó tất cả bản thân cho Thiên Chúa và nên một với Chúa (x 1Cor 6:17).

 

Trong Thánh Thể, mối hiệp nhất này được củng cố và đổi mới bằng việc tham dự vào chính năng lực ban ḿnh của Chúa Kitô nhờ đó được thông phần sự sống thần linh: ‘Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi th́ ở trong Tôi và Tôi ở trong người ấy’ (Jn 6:56; x Thông Điệp Thiên Chúa là T́nh Yêu, 13).

 

(Phần c̣n lại của bài huấn từ, ĐTC đă nói bằng tiếng Pháp, chứ không bằng Anh ngữ như đoạn trên đây)

 

Tuy nhiên, lời cảnh giác của Thánh Gioan bao giờ cũng là những ǵ hợp thời. Trong xă hội càng ngày càng bị tục hóa của chúng ta, như chính chư huynh nghiệm thấy, th́ t́nh yêu phát sinh từ con tim của Thiên Chúa đối với nhân loại có thể không được nhận biết hay thậm chí c̣n bị ruồng bỏ. Khi nghĩ rằng dứt ḿnh khỏi mối liên hệ này là cách giải quyết việc giải phóng ḿnh th́ thực ra con người trở thành một kẻ xa lạ với chính ḿnh, v́ ‘thực vậy, sự thật đó là mầu nhiệm con người chỉ sáng tỏ chỉ ở nơi mầu nhiệm Lời nhập thể mà thôi’ (Hiến Chế Gaudium et Spes, 22).

 

V́ thiếu quan tâm tới một t́nh yêu cho thấy tất cả sự thật về con người như thế mà nhiều con người nam nữ tiếp tục xa lánh nơi cư trú của Thiên Chúa để sống trong sa mạc của mối lẻ loi cô quạnh cá nhân, của t́nh trạng đổ vỡ xă hội và việc mất đi căn tính về văn hóa.

 

3.         Theo quan điểm này, người ta thấy rằng công việc nống cốt của việc truyền bá phúc âm hóa văn hóa là một thách đố trong việc làm cho Thiên Chúa trở thành hiện lộ trên dung nhan của Chúa Giêsu. Trong việc giúp cho các cá nhân nhận ra và cảm nghiệm t́nh yêu của Chúa Kitô, chư huynh sẽ làm bùng lên nơi họ ước muốn được cư ngụ trong nhà Chúa, khi thiết tha với đời sống của Giáo Hội.

 

Đó là sứ vụ của chúng ta. Nó thể hiện bản chất của giáo hội và bảo đảm là hết mọi hoạt động về việc truyền bá phúc âm hóa đồng thời cũng là những ǵ củng cố căn tính Kitô Giáo. Về vấn đề này, chúng ta cần phải công nhận rằng bất cứ những ǵ muốn biến đổi sứ điệp chính yếu về Chúa Giêsu, tức là về ‘vương quốc của Thiên Chúa’, thành một thứ chuyện mập mờ về ‘các thứ giá trị vương quốc’, đều làm suy yếu đi căn tính của Kitô Giáo và làm yếu kém đi việc Giáo Hội gop1 phần làm tái sinh xă hội.

 

Khi việc tin tưởng được thay thế bằng việc ‘hành động’ và việc làm chứng bằng việc bàn đến ‘các vấn đề’, th́ rất cần phải phục hồi niềm vui sâu xa và niềm kính sợ của thành phần môn đệ tiên khơi, những vị cảm thấy ḷng ḿnh trước sự hiện diện của Chúa Kitô ‘bừng nóng lên’, thúc đẩy họ ‘kể lại đầu đuôi câu truyện của ḿnh’ (x Lk 24:32,35).

 

Ngày nay, những ngăng trở trong việc truyền bá vương quốc của Chúa Kitô xẩy ra một cách thê thảm nhất nơi t́nh trạng phân rẽ giữa Phúc Âm và văn hóa, bằng việc loại trừ Thiên Chúa ra khỏi lănh vực quần chúng. Canada đă được tiếng là quảng đại và cụ thể dấn thân cho công lư và ḥa b́nh, và có một cảm quan sinh động và cơ hội thu hút nơi các thành phố đa văn hóa của chư huynh.

 

Tuy nhiên, đồng thời một số giá trị, bị tách khỏi những gốc rễ luân lư của chúng cũng như khỏi cái ư nghĩa trọn vẹn nơi Chúa Kitô, là những ǵ đă biến hóa theo những đường lối đáng lo ngại nhất. Nhân danh ‘tính cách khoan nhượng’, xứ sở của chư huynh từng phải chịu đựng cái mù quáng của việc tái định nghĩa vấn đề vợ chồng, và nhân danh ‘quyền tự do chọn lựa’, nó phải đương đầu với việc hủy hoại hằng ngày trẻ em chưa sinh vào đời. Khi dự án thần linh của hóa công bị khinh thường th́ sự thật về bản tính của con người cũng bị mất đi.

 

Những thứ phân đôi sai lầm không phải là những ǵ chưa từng biết tới trong chính cộng đồng Kitô Giáo. Chúng đặc biệt gây tác hại khi các vị lănh đạo dân sự Kitô hữu hy sinh mối hiệp nhất đức tin và chấp nhận sự phân hóa giữa lư trí và các nguyên tắc đạo lư tự nhiên, bằng việc chiều theo các xu hướng xă hội phù phiếm cùng với những đ̣i hỏi không xác thực của các cuộc thăm ḍ ư kiến.

 

Dân chủ chỉ thành đạt ở chỗ nó được căn cứ vào chân lư và việc hiểu biết đúng đắn về con người. Việc người Công Giáo dấn thân vào sinh hoạt chính trị không thể nào tác hại tới nguyên tắc này; bằng không, chứng từ Kitô Giáo cho chân lư rạng ngời trong lănh vực xă hội sẽ bị tắc nghẹn và mở màn cho tính cách tự động về luân lư (cf. "Doctrinal Note on Some Questions Regarding the Participation of Catholics in Political Life," 2-3; 6).

 

Trong việc chư huynh bàn luận với các chính trị gia và thành phần lănh đạo dân sự, tôi xin chư huynh hăy chứng tỏ rằng đức tin Kitô Giáo của chúng ta chẳng những không phải là những ǵ cản trở việc đối thoại mà c̣n là chiếc cầu nối chíng v́ nó mang lư trí và văn hóa lại với nhau.

 

4.         Trong bối cảnh truyền bá phúc âm hóa văn hóa ấy, tôi muốn đề cập tới một tổ chức học đường Công Giáo tốt đẹp được coi trọng nơi đời sống giáo hội ở giáo tỉnh của chư huynh.

 

Việc dạy giáo lư và giáo dục về đạo là một việc tông đồ đ̣i hỏi cố gắng. Tôi xin cám ơn và khuyến khích nhiều giáo dân nam nữ cùng với thành phần tu sĩ đang nỗ lực để bảo đảm rằng giới trẻ của quí huynh hằng ngày biết cảm nhận hơn nữa tặng ân đức tin họ đă lănh nhận.

 

Hơn bao giờ hết, điều này đ̣i hỏi việc làm chứng, một việc làm chứng được nuôi dưỡng bằng nguyện cầu, trở thành tất cả môi trường chung của hết mọi trường học Công Giáo. Thày cô, là thành phần nhân chứng, phải chứng tỏ niềm hy vọng dưỡng nuôi đời sống của họ (x 1Pt 3:15), bằng việc sống sự thật họ dạy cho học sinh của ḿnh, luôn căn cứ vào sự thật họ đă từng gặp gỡ và vào sự thiện thuộc sự thật ấy, một sự thiện được họ hân hoan nêu gương (cf. Address to Rome's Ecclesial Diocesan Convention, Living the Truth that God Loves his People, June 6, 2005).

 

Bởi thế, cùng với Thánh Âu Quốc Tinh, họ nói rằng: ‘Chúng tôi là người nói và anh chị em là người nghe nhận biết chúng tôi như là thành phần đồng môn của cùng một sự phụ duy nhất’ (Semons, 23.2).

 

Một trở ngại đặc biệt xảo quyệt cho việc giáo dục ngày nay, một trở ngại được bản phúc tŕnh của c hư huynh chứng thực, đó là sự hiện diện nổi bật trong xă hội một thứ chủ nghĩa tương đối, một chủ nghĩa không công nhận ǵ là vĩnh tuyệt, chỉ biết có bản thân ḿnh cùng với những ước muốn của nó như là qui chuẩn tối hậu. Nơi chân trời tương đối như thế diễn ra t́nh trạng mờ mịt những mục đích cao cả của đời sống, qua việc hạ thấp những tiêu chuẩn của những ǵ là tuyệt hảo, qua việc rụt rè ái ngại trước đẳng cấp của sự thiện, và qua việc không ngừng theo đuổi một cách vô nghĩa cái mới mẻ phô diễn như là việc hiện thực của tự do.

 

Những chiều hướng tác hại như thế cho thấy tính cách khẩn trương đặc biệt của việc tông đồ ‘bác ái trí thức’ là những ǵ chấp nhận mối hiệp nhất của kiến thức, hướng dẫn giới trẻ tới tâm trạng măn nguyện một cách cao quí việc hành sử tự do của họ liên quan tới sự thật, và cho thấy mối liên hệ giữa đức tin với tất cả mọi khía cạnh của gia đ́nh và đời sống dân sự.

 

Được dẫn tới một t́nh yêu mến sự thật n hư thế, tôi tin tưởng rằng giới trẻ Canada sẽ thích thú với việc khám phá thấy nhà của Chúa là Đấng ‘soi sáng mọi người đến trong thế gian’ (Jn 1:9) và là Đấng làm thỏa măn hết mọi ước muốn của con người.

 

5.         Chư huynh thân mến, với ḷng cảm mến và tri ân huynh đệ, tôi cống hiến những suy tư này với chư huynh và khuyến khích chư huynh thực hiện việc loan báo Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô của chư huynh.

 

Hăy cảm nghiệm t́nh yêu của Người, nhờ đó, chiếu dọi ánh sáng của Thiên Chúa vào thế giới! (x Thông Điệp Thiên Chúa là T́nh Yêu, 39).

 

Bằng việc kêu xin Mẹ Maria là ṭa đức khôn ngoan chuyển cầu cho chư huynh, tôi thân ái ban phép lành ṭa thánh của tôi cho chư huynh cùng những linh mục, tu sĩ và giáo dân thuộc các giáo phận của chư huynh.


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 8/9/2006

 

 

TOP

 

 

Sứ Điệp ngày 4/9/2006 gởi Cuộc Hội Ngộ Liên Tôn để Cầu Nguyện cho Ḥa B́nh lần thứ 20

 

Trân trọng gởi người anh em đáng kính

Đức Giám Mục Domenico Sorrentino, Giám Mục giáo phận Assisi-Nocera Umbra-Gualdo Tadino

 

Đây là năm thứ 20 của Cuộc họp Liên tôn để cầu nguyện cho ḥa b́nh, một cuộc họp đươc thực hiện theo ước nguyện của vị tiền nhiệm khả kính của tôi là ĐTC Gioan Phaolô II vào ngày 27 tháng 10 năm 1986 tại Assisi.

 

Điều đă được mọi người biết là ngài đă không chỉ mời đại diện của các phái Kitô giáo nhưng c̣n đại diện của cả các tôn giáo khác nữa. Việc khởi xướng này đă tác động mạnh mẽ đến dư luận. Biến cố đă tạo nên một thông điệp đầy khí lực đẩy mạnh ḥa b́nh và đă để lại dấu ấn trên lịch sự thời đại.

 

V́ thế, kư ức về các biến cố này vẫn tiếp tục gây cảm hứng cho các nỗ lực suy tư và dấn thân. Một số nỗ lực sẽ được diễn ra ngay tại Assisi trong dịp kỷ niệm thứ 20 của cuộc khởi xướng ấy. Tôi đang liên tưởng đến sự kiện được Cộng Đoàn Sant’Egidio tổ chức với sự đồng thuận của Giáo phận này, cũng như các cuộc họp thường niên khác của Cộng Đoàn ấy.

 

Ngoài ra, chính trong những ngày diễn ra cuộc họp kỷ niệm, cũng sẽ diễn ra một Hội nghị được Viện Thần học Assisi tổ chức, và các Giáo hội trong vùng sẽ tụ họp trong Thánh lễ được các Đức Giám Mục Giáo Phận Umbria cử hành trong nhà thờ thánh Phanxicô.

 

Hội đồng Đối thoại Liên tôn của Ṭa Thánh sẽ tổ chức một cuộc họp đối thoại, cầu nguyện, và huấn luyện về ḥa b́nh cho giới trẻ Công giáo và các bạn trẻ thuộc các tôn giáo khác.

 

Các nỗ lực này, mỗi việc mang một phong thái khác nhau, nêu bật giá trị nơi sự sáng suốt của ĐTC Gioan Phaolô II và thể hiện tính cách hợp thời theo chiều hướng những ǵ đă xảy ra trong 20 năm qua cũng như t́nh trạng nhân loại ngày nay.

 

Chắc chắn biến cố quan trọng nhất trong giai đoạn này là sự sụp đổ của các chế độ Cộng sản tại Đông Âu. Điều này đă làm chấm dứt Cuộc Chiến Tranh Lạnh là cuộc chiến đă từng gây chia rẻ thế giới thành hai phe đối nghịch, đưa đến t́nh trạng dự trữ các kho chứa vũ khí và quân lực ghê gớm để chuẩn bị cho một cuộc chiến toàn lực.

 

Đây là khoảnh khắc mà niềm hy vọng ḥa b́nh lan tràn đă thúc đẩy nhiều người mơ ước có một thế giới khác biệt, nơi các mối quan hệ có thể phát triển giữa con người, không c̣n bị ác mộng chiến tranh đe dọa, và nơi tiến tŕnh “toàn cầu hóa” là  những ǵ sẽ diễn ra theo chiều hướng các dân tộc và văn hóa gặp gỡ nhau một cách thuận ḥa, dựa vào một nền luật pháp quốc tế chung, luôn biết tôn trọng nhu cầu chân lư, công b́nh, và đoàn kết.

 

Tiếc thay, ước mơ ḥa b́nh này chưa trở nên hiện thực. Ngược lại, thiên niên kỷ thứ 3 đă khai mạc bằng những cảnh khủng bố và bạo lực mà không thấy dấu chỉ thuyên giảm. Rồi, sự kiện về các cuộc xung đột đang diễn ra bởi sự căng thẳng về địa dư và chính trị ở nhiều vùng là những ǵ có thể gây ấn tượng rằng: không phải chỉ có vấn đề đa văn hóa nhưng c̣n cả vấn đề khác biệt về tôn giáo nữa là nguyên do gây ra t́nh trạng bất ổn hay các mối đe dọa đối với niềm hy vọng ḥa b́nh.

 

Trước bối cảnh ấy mà sự khởi xướng của ĐTC Gioan Phaolô II cách đây 20 năm đă đạt được những tính chất tiên tri thực sự. Lời ngài mời gọi các vị lănh đạo tôn giáo trên thế giới hăy đồng nhất làm chứng cho ḥa b́nh là những ǵ cho thấy một cách không thể lầm lẫn rằng: tôn giáo phải là sứ giả của ḥa b́nh.

 

Như Công đồng Vaticanô II đă chỉ dẫn trong Tuyên Ngôn “Nostra Aetate” về Mối Quan hệ giữa Giáo hội và các Tôn giáo không thuộc Kitô giáo rằng: “Chúng ta không thể thực sự cầu nguyện với Thiên Chúa là Cha của mọi người nếu chúng ta không đối xử theo tinh thần huynh đệ với bất cứ người nào khác, bởi v́ mọi người được tạo dựng nên theo h́nh ảnh của Thiên Chúa” (số 5).

 

Mặc dầu có những khác biệt giữa các niềm tin tôn giáo, sự nhận biết về Thiên Chúa, điều mà con người chỉ có được qua cảm nghiệm về thiên nhiên tạo vật (x. Rom 1,20), phải khiến các tín hửu nh́n vào những người khác như là anh em. Bởi thế, bất kể ai lấy sự khác biệt tôn giáo làm giả định hay lư do để có thái độ hung hăng với những người khác là không hợp lư.

 

Người ta tranh có thể phản đối rằng: lịch sử đă trải qua hiện tượng đáng tiếc là các cuộc chiến tôn giáo. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng, các biểu hiện bạo lực này không thể được quy cho tôn giáo nhưng là các hạn chế về văn hóa được sống và phát triển vào lúc ấy.

 

Tuy nhiên, khi ư thức tôn giáo được trưởng thành sẽ tạo nên một quan niệm trong người tín hữu rằng: niềm tin vào Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa vũ trụ và Người Cha của mọi người phải là những ǵ khuyến khích mối tương quan về t́nh huynh đệ giữa toàn thể mọi người.

 

Trên thực tế, chứng từ về sự liên kết mật thiết giữa mối tương quan với Thiên Chúa và luân lư yêu thương là những ǵ đă được ghi nhận trong tất cả các tôn giáo lớn. Chúng ta là những Kitô hữu cảm thấy được củng cố bởi điều này và tiếp tục được Lời Chúa soi sáng. Sách Cựu Ước đă cho thấy t́nh yêu của Thiên Chúa đối với mọi dân tộc, một mối t́nh Ngài đă thiết lập với ông Noah, khi Ngài đă ôm ấp qui tụ họ lại, được tượng trưng qua “chiếc cầu vồng” (ST 9,13,14,16); và theo lời của các Tiên tri, ngài dự tính sẽ tụ họp tất cả vào một gia đ́nh thống nhất (x. Is 2,2tt; 42;6, 66,18-21, Jer. 4,2; TV 47[46]).

 

Trong sách Tân Ước, chương tŕnh yêu thương này được mạc khải trong Mầu nhiệm Phục Sinh; Con Một của Ngài, qua hành động vô cùng đoàn kết, đă hiến ḿnh trên Thập giá để cứu chuộc nhân loại. Bởi thế, Thiên Chúa đă chứng tỏ rằng bản tính của Ngài là t́nh yêu. Đây là điều tôi muốn nhận mạnh trong thông điệp đầu tiên của tôi với các chữ mở đầu là “Deus caritas est” (1Gn 4,7).

 

Sự khẳng định trong Thánh Kinh không chỉ làm tỏa sáng mầu nhiệm của Chúa mà con làm rơ mối tương quan giữa con người được mời gọi để tuân theo điều răn yêu thương.

 

Cuộc gặp gỡ được Người Tôi Tớ của Chúa là ĐTC Gioan Phaolô II tổ chức tại Assisi nhấn mạnh một cách xứng đáng đến giá trị của lời cầu nguyện trong việc xây dựng ḥa b́nh. Quả thật, chúng ta ư thức được rằng tiến tŕnh này có thể rất khó khăn và đôi khi rất tuyệt vọng. Ḥa b́nh là giá trị mà nhiều yếu tố phải hội tụ. Để xây dựng ḥa b́nh, các đường lối về văn hóa, chính trị, và hệ thống kinh tế, dù quan trọng đến đâu chăng nữa, ḥa b́nh trước tiên vẫn cần phải được xây dựng trong tâm hồn. Chính nơi đây mới phát triển những cảm nghỉ có thể nuôi dưỡng ḥa b́nh, hay ngược lại, có thể đe dọa, làm suy yếu, và bóp chết nó.

 

Ngoài ra, trong quả tim của con người mới là nơi Thiên Chúa can thiệp. Về điều này, ngoài chiều kích “ngang” trong mối quan hệ với người khác, chiều kích “dọc” trong mối quan hệ với Thiên Chúa là nền tảng của mọi điều, mang tính cách quan trọng thực sự. Đây chính là điều ĐTC Gioan Paolô II muốn nhắc nhở thế giới trong biến cố 1986.

 

Ngài đă kêu gọi thực hiện việc cầu nguyện chân thật bằng cả đời sống của ḿnh. V́ thế, ngài muốn sự ăn chay đi kèm lời cầu nguyện và được biểu lộ qua cuộc hành hương, là những ǵ biểu hiệu cho cuộc hành tŕnh gặp gỡ Thiên Chúa. Ngài đă giải thích rằng: “Lời cầu nguyện đ̣i hỏi sự biến đổi trong quả tim chúng ta” (Lễ khai mạc Ngày thế giới cầu nguyện cho ḥa b́nh, Assisi, 28-10-1986, số 4; L’Osservatore Romano bản tiếng Anh, 3-11, tr.1).

 

Trong các khía cạnh của Cuộc họp năm 1986, chúng ta nên nhấn mạnh rằng giá trị cầu nguyện trong việc xây dựng ḥa b́nh đă được thành phần đại diện của các tôn giáo khác nhau chứng nhận; điều này không xảy ra ở những khoảng cách xa nhau mà chính trong bối cảnh của cuộc họp. Bởi thế, các thành viên thuộc các tôn giáo khác nhau cầu nguyện có thể diễn tả qua ngôn ngữ minh chứng rằng: lời cầu nguyện không chia rẻ nhưng đoàn kết và là một yếu tố có tính cách quyết định việc thực hiện ḥa b́nh, dựa vào t́nh thân hữu, vào sự đón nhận lẫn nhau, và vào việc đối thoại giữa những người xuất phát từ các truyền thống và tôn giáo khác nhau.

 

Hơn bao giờ hết chúng ta cần có sự đối thoại, đặc biệt nếu chúng ta nh́n vào các thế hệ mới. Những cảm tưởng oán thù đă được gieo vào nhiều người trẻ ở các nơi trên thế giới đang sống trong các cuộc xung đột, trong các bối cảnh về ư hệ là nơi đang vun trồng các hạt giống của những mối oán giận lâu đời, và tinh thần họ đang được chuẩn bị để tham gia vào bạo lực trong tương lai. Các rào cản phải được kéo xuống và sự gặp gỡ phải được khuyến khích.

 

V́ thế, tôi vui mừng v́ nỗ lực được dự định tại Assisi năm nay đi theo đường hướng này, cụ thể, Hội đồng Đối thoại Liên tôn của Ṭa Thánh đă có ư tưởng áp dụng nó một cách đặc biệt cho giới trẻ.

 

Để bảo đảm cái ư nghĩa của điều mà ĐTC Gioan Phaolô II muốn đạt được năm 1986 và điều, trong chính ngôn từ của ngài, ngài có thói quen gọi là “tinh thần Assisi”, chúng ta không thể thiếu thận trọng trong dịp này trong việc bảo đảm rằng: “Buổi cầu nguyện liên tôn” không có tính cách ḥa đồng theo quan niệm tương đối.

 

Chính v́ lư do này mà ĐTC Gioan Phaolô II đă tuyên bố ngay từ lúc đầu: “Việc chúng ta đến đây không hàm chứa bất cứ ư định nào muốn t́m đến một sự ḥa đồng về tôn giáo hay để thương lượng về tín ngưỡng của chúng ta. Nó cũng không có nghĩa tôn giáo có thể được giải ḥa ở mức độ dấn thân chung trong một dự án trần thế sẽ bao trùm lên tất cả. Nó cũng không phải là sự nhượng bộ trong đức tin tôn giáo theo thuyết tương đối” (ibid, số 2).

 

Tôi muốn tái khẳng định nguyên tắc này là cơ sở cho việc đối thoại liên tôn mà Công Đồng Vaticanô II đă mong muốn, như đă được bày tỏ trong bản Tuyên Ngôn về Mối quan hệ giữa Giáo hội và các tôn giáo ngoài Kitô giáo (x. “Nostra Aetate,” số 2).

 

Tôi vui mừng lấy cơ hội này để gởi lời chào đến các đại biểu của các tôn giáo khác đang tham dự trong các việc kỷ niệm tại Assisi. Như những người Kitô hữu chúng ta, họ biết rằng lời cầu nguyện giúp chúng ta có thể cảm nghiệm thấy Thiên Chúa và từ đó có thể lấy được niềm phấn khởi thực sự cho cuộc dấn thân thực hiện sự nghiệp ḥa b́nh.

 

Tuy nhiên, ở đây chúng ta cũng phải tránh sự lầm lẫn không thích đáng. V́ thế, ngay cả khi chúng ta tụ họp để cầu nguyện cho ḥa b́nh, lời cầu nguyện phải nằm trong khuôn khổ khác nhau của các tôn giáo. Đây là quyết định từ năm 1986 và ngày nay vẫn c̣n hợp lư.

 

Sự gặp gỡ giữa nhiều sự khác biệt không tạo nên ấn tượng rằng có sự đầu hàng trước tương đối thuyết là thuyết từ chối chính ư nghĩa về chân lư và khả năng t́m ra chân lư.

 

Để thực hiện sáng kiến táo bạo và tiên tri của ḿnh, ĐTC Gioan Phaolô II đă muốn chọn một nơi gợi lên nhiều cảm xúc, đó là thị trấn Assisi, mà toàn thế giới đều biết đến v́ thánh Phanxicô.

 

Thực ra, vị “Poverello” đă thể hiện một cách mẫu mực các Mối Phúc Thật mà Chúa Giêsu đă công bố trong Tin Mừng: “Phúc cho người ḥa giải, v́ họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (Matt. 5,9). Chứng từ của thánh Phanxicô trong thời đại của ngài đă tạo ra một cứ điểm tất yếu ngày nay cho những ai đang nung nấu lư tưởng ḥa b́nh, tôn trọng thiên nhiên, và đối thoại giữa các dân tộc, tôn giáo và văn hóa. Tuy nhiên, nếu không muốn đi ngược với thông điệp của ngài, chúng ta phải nhớ rằng, chính lời tuyên bố quyết liệt của Đức Kitô ấy đă cung cấp cho ngài ch́a khóa để thấu hiểu t́nh huynh đệ mà tất cả đều được mời gọi tham dự; và trong đó, ngay cả các tạo vật vô tri vô giác – từ “anh mặt trời” đến “chị mặt trang” – đều tham dự ở một mức độ nào đó.

 

V́ thế, tôi muốn nêu lên rằng biến cố kỷ niệm 800 năm cuộc đổi đời của thánh Phanxicô trùng hợp với dịp kỷ niệm 20 năm Buổi họp cầu nguyện cho ḥa b́nh này của ĐTC Gioan Phaolô II. Cả hai lễ kỷ niệm làm sáng tỏ lẫn nhau. Theo lời Chúa Giêsu nói với ngài từ cây thánh giá thánh Damian: “Phanxicô, hăy đi sửa chữa ngôi nhà của Cha”; một cuộc phiêu lưu, bằng việc chọn lối sống khốn khó, nơi nụ hôn trao cho người mắc bệnh phong cùi bày tỏ khả năng nh́n thấy và yêu mến Đức Kitô trong người anh em khốn cùng, đă được bắt đầu, mang tính con người và Kitô giáo, mà cho đến ngày nay vẫn tiếp tục quyến rũ vô số người hành hương đến thị trấn này.

 

Tôi xin ủy thác cho ngài, hỡi huynh đáng kính, Vị Mục Tử của Nhà Thờ Thánh Assisi-Nocera-Umbra-Gualdo Tadino, trách nhiệm truyền đạt những cảm nghỉ này đến các tham dự viên trong các buổi lễ được tổ chức vào dịp kỷ niệm năm 20 biến cố lịch sử Buổi họp Liên tôn ngày 27 tháng 10 năm 1986. Đồng thời xin huynh vui ḷng truyền lại đến mọi người lời chào hỏi thân thương cũng như lời chúc lành, tôi muốn gởi kèm theo lời chào và lời cầu nguyện của vị “Poverello” thành Assisi: “Xin Thiên Chúa ban cho quí vị sự b́nh an!”.

 

Rev Antôn Lê Ngọc Đức Phúc, SVD, chuyển dịch theo

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/letters/2006/documents/hf_ben-xvi_let_20060902_xx-incontro-assisi_en.html

 

 

TOP

 

Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Huấn Từ Ở Đền Thờ Nhan Thánh, Manoppello, Ư, Thứ Sáu 1/9/2006

(Trước khi vào Đền Thánh này, ĐTC đă nói với những người tụ tập ở bên ngoài mấy lời, trong đó có câu:)

 

“… Như các Thánh Vịnh nói, tất cả chúng ta đang ‘t́m kiếm Dung Nhan Chúa’. Và đó cũng là ư nghĩa của việc tôi viếng thăm đây. Chúng ta hăy cùng nhau t́m cách nhận biết Dung Nhan Chúa mỗi ngày một hơn, và nơi Dung Nhan của Chúa, chúng ta hăy t́m cái động lực yêu thương và ḥa b́nh là những ǵ cũng tỏ cho chúng ta thấy con đường của đời sống chúng ta… ”.

 

(ĐTC đă chính thức mở đầu bài huấn từ của ḿnh ĐTC bằng những lời cám ơn và chào hỏi những người liên hệ với Đền Thánh này, như vị Tổng Giám Mục và các cha Ḍng Capuchin, cũng như thành phần tu sĩ và chủng sinh hiện diện)

 

Trong cuộc dừng chân nguyện cầu vừa rồi, tôi đă nghĩ đến hai vị tông đồ tiên khởi, những vị được thúc đẩy bởi Thánh Gioan Tẩy Giả, đă theo Chúa Giêsu đến bờ Sông Dược Đăng, như chúng ta đọc thấy trong đoạn mở đầu của Phúc Âm Thánh Gioan (x 1:35-37).

 

Vị thánh kư này thuật lại rằng Chúa Giêsu quay lại mà hỏi họ: ‘Các anh đang t́m kiếm ǵ đó?’ Và các vị đă trả lời Người rằng: ‘Thưa Thày… Thày hiện đang ở đâu?’ Rồi Người nói với các vị: ‘Hăy đến mà xem’ (x Jn 1:38-39).

 

Vào chính ngày hôm đó, hai vị đă theo Người có được một cảm nghiệm không thể nào quên nổi, một cảm nghiệm khiến các vị phải nói rằng: ‘Chúng tôi đă gặp Đấng Thiên Sai’ (Jn 1:41).

 

Đấng mà trước đó ít tiếng đồ hồ, họ đă nghĩ chỉ là một ‘vị tôn sư’ vậy thôi bấy giờ chiếm được một căn tính rất chính xác, đó là căn tính của một Đức Kitô hằng trông đợi qua bao thế kỷ. Thế nhưng, sự thật th́ trước mắt những vị môn đệ này là cả một cuộc hành tŕnh dài biết bao!

 

Các vị thậm chí không thể nào nghỉ được mầu nhiệm về Giêsu Nazarét sâu xa biết là chừng nào và khôn ḍ, khôn thấu đến đâu, nghĩ được về ‘Dung Nhan’ của Người ra sao, để rồi, thậm chí sau 3 năm sống với Chúa Giêsu, một người trong các vị là Philiphê đă phải nghe Người nói trong Bữa Tiệc Ly rằng: ‘Thày đă chẳng ở với con đă bao nhiêu lâu mà con chưa biết Thày hay sao Philiphê?’ Thế rồi những lời gồm tóm cái mới mẻ nơi mạc khải của Chúa Giêsu đó là: ‘Ai thấy Thày là thấy Cha’ (Jn 14:9).

 

Chỉ sau cuộc khổ nạn của Người, lúc các vị gặp gỡ Người phục sinh, lúc mà Thần Linh soi động tâm trí của các vị, các tông đồ mới hiểu được ư nghĩa của những lời Chúa Giêsu đă nói với các vị mà nhận biết Người là Con Thiên Chúa, là Đấng Thiên Sai được hứa hẹn đến để cứu chuộc nhân loại. Bấy giờ các vị mới trở thành những sứ giả bất khuất của Người, những chứng nhân can trường của Người cho đến nỗi chịu tử đạo.

 

‘Ai thấy Thày là thấy Cha’. Phải, anh chị em thân mến, để ‘thấy Thiên Chúa’, cần phải biết Chúa Kitô và ḿnh được Thần Linh là Đấng dẫn tín hữu ‘vào tất cả sự thật’ (x Jn 16:13) khuôn đúc. Những ai gặp gỡ Chúa Giêsu, thành phần được Người thu phục và sẵn sàng theo Người cho đến độ hiến mạng sống v́ Người, mới cảm nghiệm được Người một cách thân t́nh, như Người đă thực hiện trên cây thập tự giá, v́ chỉ có ‘hạt lúa miến’ rơi xuống đất chết đi mới trổ sinh ‘nhiều hoa trái’ (Jn 12:24).

 

Đó là đường lối của Chúa Giêsu, đường lối của một t́nh yêu trọn vẹn thắng vượt sự chết: Ai đi theo đường lối này mà ‘ghét sự sống ḿnh trên thế gian này th́ sẽ giữ được nó cho sự sống trường sinh’ (Jn 12:25). Nói cách khác, họ sống trong Thiên Chúa ngay trên trái đất này, một cuộc sống được thu hút và biến đổi bởi ánh quang rạng ngời từ Dung Nhan của Người.

 

Đó là cảm nghiệm của những người bạn chân t́nh của Thiên Chúa, của các thánh nhân, thành phần mà, nơi những người anh em, nhất là nơi những kẻ bần cùng và khẩn thiết nhất, đă nhận ra và yêu thương Dung Nhan của vị Thiên Chúa được họ thiết tha chiêm ngắm hằng giờ khi nguyện cầu. Đối với chúng ta, các vị là những mẫu gương sáng phấn khởi để bắt chước; các vị bảo đảm với chúng ta rằng nếu chúng ta theo đường lối ấy, đường lối yêu thương, một cách trung thành, th́ cả chúng ta nữa, như thánh vịnh gia cất tiếng, sẽ được no thỏa bởi sự hiện diện của Thiên Cgúa (x Ps 17[16]:15).

 

‘'Jesu ... quam bonus te quaerentibus!' – Ôi Chúa Giêsu, Chúa nhân ái là dường nào đối với những ai t́m kiếm Chúa!’ Đó là những ǵ chúng ta vừa hát lên trong bài thánh ca cổ điển: ‘Jesu, dulcis menoria’ (Giêsu, chính là tâm tưởng của anh chị em), lời ca được một số người cho là của Thánh Bênađô.

 

Đó là bài thánh ca có được một tính cách sống động hiếm có nơi đền thánh được cung hiến cho Thánh Nhan này, bài thánh ca gợi nhớ tới bài Thánh Vịnh 23[24]: ‘Đó là thế hệ của những ai t́m kiếm Ngài, thành phần t́m kiếm dung nhan Vị Thiên Chúa của Giacóp’ (câu 6).

 

Thế nhưng, đâu là ‘thế hệ’ của những kẻ t́m kiếm Dung Nhan Thiên Chúa, thế hệ nào đáng ‘tiến lên núi Chúa’ và ‘đứng trong nơi thánh của Ngài’ đây?

 

Thánh Vịnh gia giải thích rằng: Nó bao gồm những ai có ‘bàn tay thanh sạch và tấm ḷng trinh khiết’, thành phần không ăn nói điêu ngoa, thành phần không ‘thề nguyền gian trá’ với cận nhân của ḿnh (x các câu 3-4). Bởi thế, để được dự phần vào mối hiệp thông với Chúa Kitô và chiêm ngưỡng Nhan Ngài, để nhận ra Dung Nhan của Chúa nơi các khuôn mặt của người an hem ḿnh cũng như trong các biến cố hằng ngày, chúng ta cần phải có ‘bàn tay thanh sạch và con tim tinh tuyền’.

 

Bàn tay thanh sạch, tức là một đời sống được soi động bởi sự thật yêu thương thắng vượt những ǵ là lạnh lùng dửng dưng, là ngờ vực, là sai lầm và vị kỷ; và con tim tinh tuyền cũng là những ǵ thiết yếu nữa, những con tim ngất ngây trước vẻ đẹp thần linh, như Chị Thánh Têrêsa Nhỏ thành Lisieux đă nói trong kinh nguyện cầu cùng Thánh Nhan, những con tim được niêm ấn bằng dấu tích của Thánh Nhan Chúa Kitô.

 

Quí linh mục thân mến, nếu sự thánh thiện của Dung Nhan Chúa Kitô vẫn là những ǵ sâu đậm nơi anh em, những vị mục tử của đàn chiên Chúa Kitô, th́ đừng sợ: Thánh phần tín hữu được ủy thác cho an hem chăm sóc cũng sẽ được lây nhiễm và biển đổi bởi sự thánh thiện của Dung Nhan này nữa.

 

Cả anh em chủng sinh, những người đang được huấn luyện để trở thành những hướng đạo viên hữu trách của dân Kitô Giáo, đừng để ḿnh bị thu hút bởi bất cứ một sự ǵ khác ngoài Chúa Giêsu và ước vọng phục vụ Giáo Hội của Người.

 

Tôi cũng muốn nói như thế với cả anh chị em tu sĩ, để các hoạt động của anh chị em được phản ảnh hiển nhiên sự thiện hảo và t́nh thương thần linh.

 

‘Ôi Chúa, con t́m kiếm Dung Nhan Chúa’: Việc t́m kiếm Dung Nhan Chúa Giêsu cần phải là niềm ước mong của tất cả mọi Kitô hữu chúng ta; thật thế, chúng ta là ‘thế hệ’ t́m kiếm Dung Nhan Ngài trong thời đại của chúng ta đây, Dung Nhan của ‘Vị Thiên Chúa Giacóp’. Nếu chúng ta kiên tŕ trong việc t́m cầu Dung Nhan Chúa, th́ vào cuối cuộc hành tŕnh trần thế của ḿnh, Người, Chúa Giêsu, sẽ là niềm vui vĩnh hằng của chúng ta, là phần thưởng và vinh quang muôn đời của chúng ta: "Sis Jesu nostrum gaudium, qui es futurus praemium: sit nostra in te gloria, per cuncta semper saecula."

 

Đó là niềm tin tưởng đă tác động các thánh ở miền đất của anh chị em đây, trong số đó, tôi xin đặc biệt nhắc đến Thánh Gabriel Đức Mẹ Sầu Bi và Thánh Camillus de Lellis; việc chúng ta kính nhớ và nguyện cầu được ngỏ cùng các vị.

 

Thế nhưng, giờ đây chúng ta hăy hiến một tư tưởng biệt kính ‘Nữ Vương toàn thể chư thánh’, đó là Trinh Nữ Maria, Vị chúng ta tôn kính ở các đền thánh và nguyện đường khác nhau khắp các thủng lũng và núi đồi của miền đất Abruoăi. Chớ ǵ Đức Mẹ, nơi dung nhan của Mẹ – hơn bất cứ nơi một tạo vật nào khác – chúng ta có thể nhận ra những đường nét của Lời Nhập Thể, trông coi các gia đ́nh cũng như các giáo xứ và các thành phố cùng các quốc gia trên toàn thế giới.

 

Chớ ǵ Người Mẹ của Đấng Hóa Công cũng giúp chúng ta biết tôn trọng thiên nhiên tạo vật, một tặng ân cao cả của Thiên Chúa mà chúng ta có thể ca ngợi ở nơi đây, khi nh́n thấy những ngọn núi tuyệt vời chung quanh chúng ta. Tuy nhiên, tặng ân này càng ngày càng bị nguy cơ trầm trọng suy thoái môi trường, bởi thế cần phải được bênh vực và bảo vệ. Đây là những ǵ hết sức khẩn trương, như ĐTGM Force đă nhận định và được nhấn mạnh một cách thích đáng bởi Ngày Suy Nghĩ và Nguyện Cầu cho Việc Bảo Tŕ Tạo Sinh, một ngày đang được Giáo Hội ở Ư cử hành vào chính hôm nay đây.

 

Anh chị em thân mến, trong khi cám ơn anh chị em một lần nữa về sự hiện diện của anh chị em và các quà tặng của anh chị em, tôi xin Phúc Lành của Thiên Chúa xuống trên anh chị em cũng như trên tất cả mọi người thân yêu của anh chị em, với công thức thánh kinh xưa kia: ‘Xin Thiên Chúa chúc lành cho anh chị em và ǵn giữ anh chị em: Xin Chúa làm cho dung nhan của Ngài chiếu tỏa trên anh chị em và tỏ ra ưu ái với anh chị em: chớ ǵ Chúa ngước mặt của Ngài về phíc anh chị em và ban cho anh chị em được b́nh an’ (x Num 6:24-26). Amen!


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 7/9/2006

 

TOP

 

Nguyên văn bài Huấn Từ cho Ngày Nguyện Cầu và Chay Tịnh cho Ḥa B́nh Trung Đông tại Nhà Thờ Thánh George ở Aosta Valley Chúa Nhật 23/7/2006

 

Tôi chỉ muốn cống hiến mấy lời ngắn ngủi để suy niệm về bài đọc chúng ta đă nghe. Trước bối cảnh của t́nh trạng thảm thương ở Trung Đông, chúng ta thấy cảm kích trước nhăn quan cái đẹp được Thánh Phaolô tŕnh bày (x Eph 2:13-18): Chúa Kitô là ḥa b́nh của chúng ta. Người đă ḥa giải người Do Thái với dân ngoại, liên kết họ vào Thân Thể của Người. Người đă chế ngự được sự thù hằn bằng Thân Thể của Người trên cây thập tự giá. Với cái chết của ḿnh, Người đă chế ngự được sự thù hằn và đă liên kết tất cả chúng ta trong b́nh an của Người.

 

Tuy nhiên, c̣n hơn vẻ đẹp của cái nhăn quan này nữa, chúng ta cảm thấy ngỡ ngàng trước cái tương phản về thực tại chúng ta đang trải qua và chứng kiến. Thoạt tiên, chúng ta chỉ có thể cầu xin Chúa rằng: ‘Thế nhưng, lạy Chúa, vị tông đồ của Chúa đang nói ǵ với chúng con vậy: Họ đạ được ḥa giải rồi ư?’ Thực tế chúng ta lại thấy họ chẳng giải hoà ǵ cả…. Vẫn c̣n xẩy ra chiến tranh giữa những người Kitô hữu, tín đồ Hồi giáo, và Do Thái; và vẫn c̣n có những người khác xúi bẩy chiến tranh làm cho tất cả tiếp tục đầy những hận thù, bạo lực. Vậy th́ đâu là hiệu năng của việc Chúa hy hiến? Đâu là thứ b́nh an được vị tông đồ của Chúa nói với chúng con trong lịch sử?

 

Con người chúng ta không thể nào giải mă được mầu nhiệm của lịch sử, mầu nhiệm về cái quyền tự do của con người ‘không chấp nhận’ ḥa b́nh của Thiên Chúa. Chúng ta không thể giải mă được tất cả mầu nhiệm về mối liên hệ giữa Thiên Chúa và con người, mầu nhiệm về tác động của Ngài và việc đáp ứng của chúng ta. Chúng ta cần phải chấp nhận mầu nhiệm ấy. Tuy nhiên, có những yếu tố của việc đáp ứng được Chúa cống hiến cho chúng ta.

 

Yếu tố thứ nhất đó là sự ḥa giải này của Chúa, hy tế này của Người, không phải là những ǵ vô hiệu năng. Thực tại cao cả về mối hiệp thông của Giáo Hội hoàn vũ, của tất cả mọi dân tộc, đó là cơ cấu Hiệp Thông Thánh Thể, một hiệp thông vượt lên trên các biên giới văn hóa, văn minh, dân tộc và thời điểm.

 

Cuộc hiệp thông này hiện hữu; những ‘hải đảo b́nh an’ này hiện hữu nơi Thân Thể của Chúa Kitô. Những hải đảo đó hiện hữu. Và những quyền lực ḥa b́nh hiện hữu trên thế giới này. Nếu chúng ta nh́n vào lịch sử, chúng ta có thể thấy các vị đại thánh về bác ái, những vị đă từng tạo nên ‘những ốc đảo’ an b́nh này của Thiên Chúa trên thế giới, những vị tái thắp sáng lên ngọn đèn của ḿnh, và có thể ḥa giải cùng tái tạo ḥa b́nh. Các vị tử đạo hiện hữu là thành phần chịu khổ với Chúa Kitô; các vị đă cống hiến chứng từ ḥa b́nh ấy, chứng từ của t́nh yêu thương ngăn chặn bạo lực.

 

Và, khi thấy rằng thực tại ḥa b́nh này hiện hữu, mặc dù thực tại khác vẫn cứ dai dẳng, chúng ta có thể suy niệm sâu xa hơn nữa về sứ điệp của bức thư Thánh Phaolô gửi cho Kitô hữu Êphêsô. Chúa đă chiến thắng trên cây thập tự giá. Người đă không thắng bằng một đế quốc mới, bằng một quyền lực mạnh hơn những quyền lực khác, có khả năng tiêu diệt chúng; Người đă không chiến thắng theo kiểu cách con người, như chúng ta tưởng, bằng một đế quốc này mạnh hơn đế quốc kia. Người đă chiến thắng bằng một t́nh yêu thương có thể tử vong.

 

Đó là cách chiến thắng mới của Thiên Chúa, ở chỗ, Ngài không chống lại bạo động bằng thứ bạo động dữ dội hơn. Ngài chống lại bạo động hoàn toàn ngược lại, ỡ chỗ, bằng t́nh yêu thương cho đến cùng, đến thập giá của Ngài. Đó là đường lối chiến thắng khiêm hạ của Thiên Chúa: ở chỗ, bằng t́nh yêu của ḿnh – và chỉ nhờ đó mới có thể – Ngài giới hạn bạo lực. Đó là đường lối chiến thắng có vẻ quá chậm đối với chúng ta, thế nhưng đó là đường lối chân thật để chiến thắng sự dữ, chế ngự bạo lực, và chúng ta cần phải tin tưởng đường lối khống chế này của Thiên Chúa. 

 

Tin tưởng nghĩa là chủ động tham dự vào t́nh yêu thần linh ấy, tham dự vào nỗ lực b́nh an hóa này, theo chiều hướng với những ǵ được Chúa Kitô nói rằng: ‘Phúc cho những ai xây dựng ḥa b́nh, v́ họ con cái của Thiên Chúa’. Chúng ta cần phải, trong tầm tay của ḿnh, mang t́nh yêu của chúng ta đến với tất cả những ai đang khổ đau, biết rằng Vị Thẩm Phán của Cuộc Chung Thẩm đồng hóa ḿnh với những ai chịu khổ đau.

 

Bởi thế, những ǵ chúng ta làm cho những ai khổ đau là chúng ta làm cho Vị Thẩm Phán Cuối Cùng của cuộc đời chúng ta. Đó là điều hệ trọng, ở chỗ, vào lúc này đây chúng ta có thể mang cuộc chiến thắng của Người vào thế giới, chủ động tham dự vào việc bác ái của Người. Ngày nay, trong một thế giới đa văn hóa và đa tôn giáo, nhiều người đă cố gắng nói rằng: ‘Về vấn đề ḥa b́nh trên thế giới giữa các tôn giáo và văn hóa th́ tốt hơn đừng nói quá nhiều về đặc tính đặc biệt của Kitô Giáo, tức là về Chúa Giêsu, về Giáo Hội, và về các bí tích. Hăy hài ḷng với những ǵ chung chung vậy thôi…’

 

Thế nhưng, nó lại là những ǵ không đúng. Chính vào lúc này đây, , lúc mà danh Chúa bị lạm dụng hết sức, chúng ta cần đến một Vị Thiên Chúa là Đấng chiến thắng trên thập tự giá, Đấng không chiến thắng bằng bạo lực, mà bằng yêu thương. Chính vào lúc này đây, chúng ta cần đến dung nhan của  Chúa Kitô để biết được chân dung của Thiên Chúa, nhờ đó mới có thể mang mối ḥa giải và áng sáng cho thế giới. Đó là lư do, cùng với t́nh yêu, với sứ điệp của t́nh yêu, chúng ta cũng cần đến chứng từ của Vị Thiên Chúa này, đến cuộc Thiên Chúa chiến thắng của Thiên Chúa, chỉ bằng sự bất bạo động của thập giá Người.

 

Như thế, chúng ta trở về với khởi điểm. Những ǵ chúng ta có thể làm đó là chứng từ yêu thương, chứng từ đức tin, và nhất là kêu lên cùng Thiên Chúa rằng: Chúng ta chỉ c̣n biết nguyện cầu! Chúng ta tin tưởng rằng Cha của chúng ta nghe thấy tiếng kêu của con cái Ngài. Trong Thánh Lễ này, khi chúng ta dọn ḷng rước lễ, để lănh nhận Ḿnh Thánh Chúa Kitô là những ǵ liên kết chúng ta, chúng ta hăy cùng với Giáo Hội mà nguyện cầu rằng: ‘Lạy Chúa, xin giải thoát chúng con khỏi mọi sự dữ và ban ḥa b́nh cho chúng con vào những ngày tháng của chúng con đây’. Chớ ǵ đây là lời cầu của chúng ta trong lúc này đây: “Xin giải thoát chúng con khỏi tất cả mọi sự dữ và ban cho chúng con ḥa b́nh’, không phải là ngày mai hay ngày mốt: Lạy Chúa, xin ban ḥa b́nh cho chúng con hôm nay đây. Amen.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 25/7/2006 

  

 

TOP

 

 

“Niềm vui xuất phát từ đức tin và mối liên hệ của đức tin với việc giáo dục các thế hệ mới 

Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Huấn Từ Ngỏ Cùng Hội Nghị Giáo Phận Rôma 5/6/2006

 

Anh Chị Em thân mến,

 

Tôi hân hoan ở cùng anh chị em một lần nữa để chia sẻ những suy tư của tôi với hội nghị giáo phận của chúng ta, một hội nghị nhắm đến một đề tài thật đẹp và có một tấm vóc hết sức quan trọng về mục vụ, đó là đề tài: Niềm vui xuất phát từ đức tin và mối liên hệ của đức tin với việc giáo dục các thế hệ mới.

 

Bởi vậy, theo chiều hướng trực tiếp liên quan tới giới trẻ, chúng ta đang trở lại với và khai triển thêm về chủ đề được chúng ta đă bắt đầu bàn tới vào năm ngoái nhân dịp hội nghị giáo phận trước đây.

 

Bấy giờ chúng ta đă chú trọng tới vai tṛ của gia đ́nh cũng như của cộng đồng Kitô hữu trong việc h́nh thành con người và việc truyền đạt đức tin.

 

Tôi thân ái chào từng người trong anh chị em, các vị giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ nam nữ và giáo dân dấn thân trong việc làm chứng cho đức tin của chúng ta. Tôi đặc biệt chào giới trẻ là thành phần đang có ư định muốn gồm tóm tiến tŕnh đào luyện bản thân của ḿnh với việc lănh nhận trách nhiệm của giáo hội và truyền giáo đối với thành phần giới trẻ khác cùng thành phần trẻ em.

 

Tôi ân cần cám ơn vị hồng y tổng đại diện về các lời lẽ của ngài đại diện tất cả anh chị em ngỏ cùng tôi.

 

Với cuộc hội nghị này cũng như với năm mục vụ là năm sẽ được tác động bởi nội dung của nó, Giáo Phận Rôma đang thực hiện cuộc hành tŕnh qua một giai đoạn dài đă được bắt đầu 10 năm trước mà hiện nay mang Sứ Vụ Thành Đô như ḷng mong ước của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, vị tiền nhiệm yêu dấu của tôi.

 

Thật ra mục đích của nó vẫn không có ǵ đổi thay, đó là việc lănh nhận đức tin trong cộng đồng của chúng ta và t́m cách tái thức tỉnh hay tác động nó nơi tất cả mọi cá nhân và gia đ́nh ở đại đô thị này, nơi đức tin đă được rao giảng và Giáo Hội đă được thiết lập bởi thế hệ Kitô hữu đầu tiên, nhất là Tông Đồ Phêrô và Phaolô.

 

Trong 3 năm vừa qua, anh chị em đă chú trọng đặc biệt tới gia đ́nh để củng cố thực tại nồng cốt của con người này bằng sự thật của Phúc Âm – một sự thật mà tiếc thay ngày nay đă bị trầm trọng suy yếu và đe dọa – cũng như để giúp gia đ́nh thi hành sứ vụ bất khả châm chước của ḿnh trong Giáo Hội và xă hội.

 

Cái ưu tiên hiện nay chúng ta giành cho việc giáo dục các thế hệ mới sống theo đức tin không có nghĩa là chúng ta đang loại trừ việc chúng ta dấn thân cho gia đ́nh là cơ cấu chính yếu có trách nhiệm trong việc giáo dục.

 

Trái lại, chúng ta đang đáp ứng với mối quan tâm rộng răi của nhiều gia đ́nh tin tưởng, thành phần, trong môi trường xă hội và văn hóa ngày nay, sợ rằng họ không thành công trong việc truyền đạt cho con cái ḿnh gia sản đức tin quí báu.

 

Thật vậy, việc khám phá ra vẻ đẹp và niềm vui của đức tin là một đường lối mà hết mọi thế hệ mới cần phải thực hiện, v́ tất cả những ǵ chúng ta có thuộc về chúng ta nhất và thân thiết với chúng ta nhất đều liên quan tới đức tin: trái tim của chúng ta, trí khôn của chúng ta, tự do của chúng ta, đều liên quan riêng tư một cách sâu xa với vị Chúa hoạt động trong chúng ta.

 

Tuy nhiên, sâu xa th́ đức tin là một tác động và thái độ cộng đồng; nó là việc ‘chúng tôi tin’ của Giáo Hội. 

 

Bởi thế mà niềm vui của đức tin là một niềm vui chung, như Tông Đồ Gioan viết: ‘Những ǵ chúng tôi đă thấy và đă nghe (là lời sự sống) th́ chúng tôi loan báo cho anh chị em, để anh chị em cũng được hiệp thông với chúng tôi… Và chúng tôi viết điều này là để niềm vui của chúng tôi được trọn vẹn’ (1Jn 1:3-4).

 

Do đó, việc giáo dục các thế hệ mói sống đức tin là một công việc quan trọng và nồng cốt bao gồm toàn thể cộng đồng Kitô hữu.

 

Anh chị em thân mến, hôm nay tôi đă cảm nghiệm thấy hết sức khó khăn biết bao các khía cạnh khác nhau của việc giáo dục này, thế nhưng chính v́ lư do đó mà nó lại càng trở thành quan trọng hơn và đặc biệt khẩn trương hơn.

 

Thật vậy, có thể nhận thấy hai chiều hướng căn bản của xă hội bị tục hóa hiện nay là những ǵ rơ ràng liên thuộc nhau. Chúng khiến con người thôi thực hiện việc loan báo Kitô hữu và không thể nào có được một tác hiệu trên những ai có những khuynh hướng và chọn lựa sống đang phát triển.

 

Một trong hai chiều hướng này là chủ nghĩa bất khả thần tri, một chủ nghĩa xuất phát từ việc biến trí thông minh của con người thành một thứ dụng cụ thuần túy thực tiễn hướng đến chỗ dập tắt đi cảm quan tôn giáo được ghi khắc sâu xa nơi bản tính của chúng ta.

 

Một chiều hướng khác đó là tiến tŕnh tương đối hóa và làm bật gốc, một tiến tŕnh làm suy yếu những liên hệ linh thánh nhất và những cảm thức xứng đáng nhất của con người, với một hậu quả là con người bị yếu kém đi và những mối liên hệ hỗ tương của chúng ta trở thành nhất thời và bất ổn.

 

Chính trong trường hợp này mà tất cả chúng ta, nhất là con cái của chúng ta, thành phần thanh thiếu niên và giới trẻ, cần phải sống đức tin như niềm vui và phải tỏa ra một thứ an b́nh sâu xa xuất phát từ cuộc gặp gỡ Chúa.

 

Trong thông điệp ‘Thiên Chúa là T́nh Yêu’, tôi đă viết: ‘Chúng ta tiến đến chỗ tin tưởng vào t́nh yêu của Thiên Chúa: Nơi những lời này, Kitô hữu có thể bày tỏ quyết định sâu xa về đời sống của ḿnh. Việc làm Kitô hữu không phải là thành quả của một thứ chọn lựa đạo đức hay của một ư nghĩ cao qúi, mà là cuộc gặp gỡ một biến cố, một con người, những ǵ làm sống động một chân trời mới và một hướng đi quyết liệt’ (khoản 1).

 

Nguồn mạch của niềm vui Kitô hữu là niềm tin được Thiên Chúa yêu thương, được yêu thương một cách riêng tư bởi Đấng Tạo Hóa của chúng ta, bởi Đấng nắm giữ toàn thể vũ trụ trong tay của ḿnh và yêu thương mỗi một người trong chúng ta cũng như toàn thể đại gia đ́nh nhân loại bằng một t́nh yêu say mê và thủy chung, một t́nh yêu lớn hơn những bất trung và tội lỗi của chúng ta, một t́nh yêu tha thứ.

 

T́nh yêu này ‘cao cả đến nỗi làm cho Thiên Chúa chống lại bản thân ḿnh’, như hiển nhiên cho thấy nơi mầu nhiệm thập giá: ‘T́nh yêu Thiên Chúa đối với con người cao cả đến nỗi khi làm người Người đă theo họ cho đến chết, nhờ đó ḥa giải công lư và yêu thương’ (Thông Điệp Thiên Chúa Là T́nh yêu, khoản 10).

 

Anh Chị Em thân mến, niềm tin tưởng và niềm vui được Thiên Chúa yêu thương ấy cần phải được chuyển đạt một cách rơ ràng và thực tiễn cho mỗi một người trong chúng ta, nhất là cho các thế hệ trẻ là thành phần đang tiến vào thế giới đức tin. Nói cách khác, Chúa Giêsu đă nói rằng Người là ‘đường’ dẫn đến cùng Cha, cũng như là ‘sự thật’ và là ‘sự sống’ (Jn 14:5-7).

 

Vậy vấn đề được đặt ra ở đây là: Làm thế nào để con cái và giới trẻ của chúng ta t́m thấy nơi Người con đường cứu độ và niềm vui ấy một cách cụ thể và hiện sinh? Đó chính là sứ vụ cao cả khiến Giáo Hội hiện hữu – như là gia đ́nh của Thiên Chúa và là cộng đồng các bạn hữu mà chúng ta đă được tháp nhập qua phép rửa khi c̣n là một con trẻ bé bỏng – trong đó đức tin của chúng ta cùng với niềm vui của chúng ta và niềm tin được Chúa yêu thương cần phải triển nở.

 

Bởi thế, nó là một việc bất khả châm chước – và đây là công việc được ủy thác cho các gia đ́nh Kitô hữu, các vị linh mục, các giáo lư viên và các nhà giáo dục, cho chính giới trẻ sống giữa bạn bè cũng như cho giáo xứ của chúng ta, các hội đoàn và phong trào, và sau cùng cho toàn thể cộng đồng giáo phận của chúng ta – đó là việc các thế hệ mới cảm nghiệm Giáo Hội như là một cộng đồng bạn hữu thực sự khả lụy và gần gũi ở mọi nơi và mọi lúc trong cuộc đời, cho dù vui mừng và măn nguyện hay cực nhọc và tối tăm; như một cộng đồng không bao giờ bỏ rơi chúng ta, ngay cả trong giờ lâm tử, v́ nó mang trong ḿnh lời hứa trường sinh. 

 

Trẻ em và giới trẻ Rôma thân mến, phần các con tôi xin các con hăy phó ḿnh cho Giáo Hội và hăy yêu mến cùng tin tưởng Giáo Hội, v́ Chúa hiện diện nơi Giáo Hội và v́ Giáo Hội chẳng t́m kiếm ǵ ngoài sự thiện thực sự của các con.

 

Ai biết rằng họ được yêu thương th́ bị đánh động để yêu thương. Chính Chúa là Đấng đă yêu thương chúng ta trước, Đấng xin chúng ta hăy đặt ḷng yêu mến Người và thành phần được Người yêu thương vào tâm điểm của cuộc đời của ḿnh.

 

Đặc biệt là thành phần thanh thiếu niên và giới trẻ, thành phần cảm thấy nơi bản thân ḿnh tiếng gọi khẩn thiết yêu thương, thành phần cần phải được giải tỏa khỏi thành kiến lan tràn cho rằng Kitô Giáo, với những giới luật và cấm đoán của ḿnh, đặt ra quá nhiều ngăn trở trên con đường hoan lạc yêu thương, nhất là ngăn ngừa con người trọn vẹn hoan hưởng niềm hạnh phúc mà con người nam nữ t́m thấy được nơi t́nh họ yêu thương nhau.

 

Trái lại, đức tin và đạo lư Kitô Giáo không có ư dập tắt yêu thương mà làm cho nó lành mạnh, mạnh mẽ và thật sự thanh thoát: Đó là ư nghĩa thực sự của Thập Giới, một thập giới không phải là một chuỗi ‘chối từ’ mà là một ‘ưng thuận’ cao cả đối với yêu thương và sự sống.

 

Thật vậy, t́nh yêu thương của con người cần phải được thanh tẩy, chín mùi và trổi vượt nếu nó muốn trở thành hoàn toàn nhân bản, muốn mở màn cho một niềm vui chân thật và bền bỉ, tức là muốn đáp ứng với vấn đề trường sinh nó chất chứa trong ḿnh và không thể chối bỏ mà không phản lại chính ḿnh.

 

Đó là lư do chính tại sao t́nh yêu giữa một người nam và một người nữ chỉ hoàn toàn trọn vẹn trong hôn nhân mà thôi.

 

Nơi tất cả mọi công cuộc giáo dục, trong việc đào luyện con người và Kitô hữu, chúng ta không được quan trọng hóa vấn đề yêu thương bằng nỗi sợ hăi hay ngượng ngùng: Nếu chúng ta làm thế, chúng ta sẽ cho thấy một thứ Kitô Giáo quái gở thật sự không thể nào lôi cuốn giới trẻ là thành phần vốn hướng về sự sống.

 

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải đưa giới trẻ ấy đến chiều kích nguyên vẹn của t́nh yêu Kitô Giáo, một t́nh yêu đối với Thiên Chúa và một t́nh yêu đối với tha nhân liên kết với nhau bất khả phân ly, và t́nh yêu tha nhân đặc biệt là một việc dấn thân thiết thực. Kitô hữu không thể cảm thấy măn nguyện với những lời nói hay những ư hệ lọc lừa mà cần phải đáp ứng các thứ nhu cầu của anh chị em ḿnh, thực sự cống hiến bản thân ḿnh mà không hài ḷng với một vài công việc thiện rải rác nào đó.

 

Bởi thế, việc dạy cho trẻ em một thứ kinh nghiệm phục vụ cụ thể đối với thành phần tha nhân cần thiết hơn họ là một yếu tố giáo dục đích thức và trọn vẹn trong đức tin.

 

Cùng với nhu cầu yêu thương, ước muốn biết sự thật là những ǵ bẩm sinh nơi chính bản tính của con người.

 

Bởi thế, trong việc giáo dục cho các thế hệ trẻ, vấn đề sự thật chắc chắn là những ǵ không thể nào tránh được: Trái lại, nó cần phải chiếm một vị thế chính yếu.

 

Khi đặt vấn đề về sự thật là chúng ta thật sự đang nới rộng chân trời lư trí của chúng ta, chúng ta đang bắt đầu giải thoát lư trí khỏi những biên giới quá hẹp ḥi g̣ bó nó khi chúng ta chỉ coi những ǵ có thể là đối tượng của nghiệm thực hay tính toán mới hợp t́nh hợp lư.

 

Ở đây xẩy ra việc gặp gỡ giữa lư trí và đức tin. Đúng vậy, nhờ đức tin chúng ta chấp nhận tặng ân Thiên Chúa tỏ ḿnh ra cho chúng ta, thành phần là tạo vật được dựng nên theo h́nh ảnh của Ngài. Chúng ta đón nhận và chấp nhận sự thật mà trí khôn chúng ta không thế nào hoàn toàn thấu triệt hay chiếm hữu, mà là sự thật chính v́ thế lại nới rộng chân trời kiến thức của chúng ta và khiến chúng ta có thể tiến tới một mầu nhiệm nhận ch́m chúng ta, và thấy được nơi Thiên Chúa ư nghĩa tối hậu cho cuộc đời của chúng ta.

 

Các bạn thân mến, chúng ta rơ biết là không dễ ǵ thắng vượt được những giới hạn của lư trí chúng ta như thế.

 

Do đó, là một tác động rất riêng tư, đức tin vẫn là một sự chọn lựa của quyền chúng ta tự do có thể phủ nhận.

 

Tuy nhiên, ở đây mới cần đến chiều kích thứ hai của đức tin, đó là việc phó ḿnh cho một con người, không phải là bất cứ ai, mà là Chúa Giêsu Kitô, cũng như cho Cha là Đấng đă sai Người.

 

Tin tưởng nghĩa là tạo nên một mối liên hệ rất riêng tư với Đấng Hóa Công và Cựu Chuộc của chúng ta, nhờ Chúa Thánh Thần là Đấng tác động trong tâm can của chúng ta, và làm cho mối liên hệ này trở thành nền tảng cho cả cuộc sống của chúng ta.

 

Thật vậy, Chúa Giêsu Kitô ‘là sự thật hiện thân, Đấng lôi kéo thế gian đến cùng Người…. Hết mọi sự thật khác là hương vị của sự thật Người và qui về Người’ ("Address to the Congregation for the Doctrine of the Faith," Feb. 10, 2006; L'Osservatore Romano, English edition, Feb. 22, 2006, p. 3).

 

Bởi thế, Người làm cho tâm can chúng ta tràn đầy, nới rộng và chiếm đoạt nó bằng niềm vui, mở rộng trí khôn của chúng ta tới những chân trời chưa từng thấy, cống hiến cho tự do của chúng ta điểm tựa quan thiết, nâng nó lên khỏi tính chất hẹp ḥi vị kỷ và làm cho nó có khả năng yêu thương chân chính.

 

Trong việc giáo dục cho các thế hệ mới, do đó, chúng ta không được sợ phải đương đầu với sự thật của đức tin thực sự làm chủ được kiến thức của nhân loại.

 

Khoa học đang tiến bộ rất nhanh hiện nay và điều này khiến cho tất cả mọi mọi sự rất thường được thấy như mẫu thuẫn với những niềm xác tín của đức tin, gây ra t́nh trạng lầm lẫn và gây khó dễ hơn cho việc chấp nhận sự thật Kitô Giáo.

 

Thế nhưng, Chúa Giêsu Kitô là và vẫn là Chúa của tất cả tạo vật và toàn thể lịch sử: “Tất cả mọi sự đều được dựng nên nhờ Người và cho Người… trong Người tất cả mọi sự liên kết với nhau’ (Col 1:16-17).

 

Cho nên, nếu cuộc đối thoại giữa đức tin và lư trí được thành tâm và xác đáng thực hiện th́ nó cống hiến cơ hội để có thể nhận định một cách hiệu quả hơn và thuyết phục hơn cái lư do tại sao tin tưởng vào Thiên Chúa – không phải là vào bất cứ một vị Chúa nào mà là Thiên Chúa tỏ ḿnh ra nơi Chúa Giêsu Kitô – cũng như cơ hội để tỏ ra cho thấy rằng hết mọi ước nguyện chính đáng của con người đều được nên trọn nơi chính Chúa Giêsu Kitô.

 

Giới trẻ Rôma thân mến, do đó, các bạn hăy tin tưởng và can đảm dấn bước trên con đường t́m kiếm sự thật. Và các vị linh mục và giáo dục gia thân mến, xin đừng ngần ngại cổ vơ một thứ ‘chăm sóc mục vụ cho trí khôn’ thực sự và thích đáng – nói một cách rộng hơn, một thứ chăm sóc mục vụ cho con người – thứ chăm sóc mục vụ trân trọng chú ư tới các vấn nạn của giới trẻ, cả những vấn nạn về cuộc sống lẫn những vấn nạn xuất phát từ việc họ đem so sánh với các h́nh thức lư lẽ lập luận lan tràn ngày nay, để giúp cho họ có thể t́m thấy những giải đáp chắc chắn và thích đáng của Kitô Giáo, và sau cùng, làm cho họ biết coi Chúa Giêsu là những ǵ đáp ứng trên hết của họ.

 

Chúng ta đă nói về đức tin như một cuộc gặp gỡ với Đấng là sự thật và là t́nh yêu. Chúng ta cũng đă thấy rằng đó là một cuộc gặp gỡ vừa hiệp thông vừa riêng tư, và là một cuộc gặp gỡ cần phải diễn ra nơi tất cả mọi chiều kích của đời sống chúng ta qua việc hành sử trí thông minh của chúng ta, những chọn lựa tự do của chúng ta, việc phục vụ yêu thương của chúng ta.

 

Tuy nhiên, có một nơi đặc biệt để việc hội ngộ này có thể diễn ra một cách trực tiếp hơn. Ở đó, nó được củng cố và vững vàng, nhờ đó có thể thực sự thấm đậm và đánh dấu cả cuộc sống của chúng ta, đó là việc cầu nguyện.

 

Giới trẻ thân mến, tôi tin rằng nhiều người trong các bạn đă tham dự Ngày Giới Trẻ Thế Giới ở Cologne. Ở đó, cùng nhau chúng ta đă nguyện cầu cùng Chúa, chúng ta đă tôn thờ Người hiện diện trong Thánh Thể, chúng ta đă hiến dâng Hy Tế Thánh của Người.

 

Chúng ta đă suy niệm về tác động dứt khoát yêu thương Chúa Giêsu tỏ ra ở Bữa Tiệc Ly hướng đến cuộc tử nạn của Người, chấp nhận cuộc tử nạn này nơi tận thâm tâm của Người và đă biến đổi nó thành một tác động yêu thương, thành một cuộc cách mạnh đặc thù có thể thực sự canh tân thế giới và giải thoát nhân loại, chế ngự quyền lực tội lỗi và sự chết.

 

Tôi xin quí bạn giới trẻ cùng tất cả anh chị em đang hiện diện nơi đây, anh chị em thân mến, tôi xin toàn thể Giáo Hội Rôma yêu dấu, nhất là các tâm hồn tận hiến đặc biệt trong các đan viện kín cổng cao tường, hăy thiết tha nguyện cầu, liên kết một cách thiêng liêng với Mẹ Maria của chúng ta, để tôn thờ Chúa Kitô sống động trong Thánh Thể, để say yêu Người hơn bao giờ hết.

 

Người là người anh em của chúng ta và là người bạn thật sự của chúng ta, là vị phu quân của Giáo Hội, là Vị Thiên Chúa trung thành và xót thương đă yêu chúng ta trước.

 

Nhờ đó giới trẻ quí bạn mới sẵn sàng và t́nh nguyện đáp lại tiếng gọi của Người nếu Người muốn quí bạn hoàn toàn hiến thân cho Người sống thiên chức linh mục hay đời tận hiến.

 

Nếu chúng ta nuôi dưỡng ḿnh bởi Chúa Kitô và mến yêu Người th́ chúng ta sẽ cảm thấy nơi ḿnh cái động lực thôi thúc chúng ta mang những người khác đến cùng Người: Thật vậy, chúng ta không thể giữ niềm vui đức tin nơi ḿnh; chúng ta cần phải truyền đạt niềm vui ấy.

 

Nhu cầu này cần phải trở nên mănh liệt hơn nữa và thôi thúc hơn nữa trong lúc đang lan tràn t́nh trạng lạ lùng lăng quên Thiên Chúa ở những miền rộng lớn trên thế giới ngày nay cũng như tại Rôma này đây ở một mức độ nào đó. T́nh trạng lăng quên này làm phát sinh ra nhiều chuyện phù phiếm, nhiều lập luận vô bổ phi lư, bao gồm cả cảm giác hết sức bất măn và trống rỗng.

 

Thế nên, anh chị em thân mến, trong việc khiêm tốn làm chứng và thừa sai cho Vị Thiên Chúa hằng sống ấy, chúng ta cần phải trở thành những sứ giả ở khắp nơi cho niềm hy vọng xuất phát từ niềm xác tín của đức tin: Nhờ đó chúng ta mới có thể giúp cho anh chị em chúng ta và đồng bào chúng ta tái khám phá ra ư nghĩa và niềm vui nơi cuộc sống của họ.

 

Tôi biết rằng anh chị em đang dấn thân cho các môi trường yêu dấu của việc chăm sóc mục vụ: tôi lấy làm vui và tôi xin cám ơn anh chị em.

 

Trong năm đầu của giáo triều ḿnh, tôi đặc biệt có thể cảm nghiệm và cảm thức được cái sống động nơi  việc Kitô hữu hiện diện nơi giới trẻ và các sinh viên đại học ở Rôma, cũng như nơi thành phần trẻ em được rước lễ lần đầu.

 

Tôi xin anh chị em hăy tin tưởng tiếp tục như thế, vào sâu hơn nữa mối liên hệ giữa anh chị em với Chúa Kitô, nhờ đó công cuộc tông đồ của anh chị em càng ngày càng hiệu nghiệm hơn.

 

Trong việc dấn thân này, đứng coi thường bất cứ một chiều kích nào của cuộc sống, v́ Chúa Kitô đă đến cứu độ trọn vẹn con người, nơi cái thâm sâu của lương tâm cũng như nơi những diễn đạt của văn hóa và các mối liên hệ về xă hội.

 

Anh chị em thân mến, tôi xin trao phó cho anh chị em những suy tư chia sẻ này với một con tim thân t́nh, như là một góp phần cho công việc của anh chị em trong những buổi tối hội nghị này cũng như trong năm mục vụ tới đây.

 

Chớ ǵ ḷng cảm mến và phép lành của tôi luôn hỗ trợ anh chị em, hôm nay và mai này.

 

Xin cám ơn anh chị em đă chú tâm lắng nghe tôi!

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 23/6/2006

 

TOP

 

“Đừng bao giờ chán chường trong việc thiết dựng những cây cầu thông cảm và truyền thông giữa cảm nghiệm của giáo hội với ư nghĩ của quần chúng”

 

(Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Huấn Từ cho thành phần nhân viên Truyền Thông Công Giáo của Hội Đồng Giám Mục Ư Quốc ngày 2/6/2006)

 

Chư Hồng Y, Quí Huynh trong Hàng Giáo Phẩm,

Anh Chị Em thân mến trong Chúa Kitô,

 

Hôm nay tôi hân hoan gặp gỡ tại Vatican này thành phần nhân viên của tờ nhật báo Công Giáo Avvenire, của đài truyền h́nh Sat2000, của đài phát thanh InBlu, và của cơ quan báo chí SIR.

 

Đây là một nhóm rất quan trọng về ngành truyền thông đại chúng có liên hệ với hội đồng giám mục Ư Quốc được đại diện nơi đây có vị chủ tịch của nó là Đức Hồng Y Camillo Ruini, vị tôi trước hết gửi lời chào kính của tôi.

 

Rồi tôi ưu ái gửi lời chào đến mỗi một người trong anh chị em, và tôi cám ơn vị giám đốc nhật báo Avvenire và của đài truyền h́nh Sat2000 về những lời lẽ tốt đẹp ngỏ cùng tôi thay cho hết mọi người hiện diện nơi đây.

 

Quí bạn thân mến, quí bạn đang thực hiện một vai tṛ thật sự là quan trọng, đó là việc quí bạn thực sự góp phần vào việc liên tục dấn thân của người Công Giáo Ư Quốc trong việc mang Phúc Âm của Chúa Kitô vào đời sống của quốc gia này.

 

Thật thế, tôi hoan hỉ nhớ lại rằng trong những năm ngay sau Công Đồng Chung Vaticanô II, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đă hết sức mong ước thành lập tờ Avvenire như là một tờ nhật báo Công Giáo toàn quốc. Đó là một quyết định phấn khởi trong việc bấy giờ nới rộng việc dấn thân của anh chị em tới lănh vực truyền thanh và truyền h́nh, sử dụng các kỹ thuật tân tiến nhất như sắc lệnh ‘Inter Mirifica’ mong muốn (x các khoản 13-14).

 

Anh chị em bởi thế đă trở nên một trong những phương tiện để gieo rắc sứ điệp Công Giáo ở Ư quốc.

 

Đức tin và văn hóa

 

Để nắm được tầm mức quan trọng tổng quát công việc được anh chị em hằng ngày dấn thân thực hiện, cần phải suy nghĩ vắn gọn về những liên hệ giữa đức tin và văn hóa như chúng đă phát triển trong mấy thập niên gần đây.

 

Như anh chị em quá rơ, Kitô Giáo đă giúp vào việc h́nh thành văn hóa Âu Châu qua các thế kỷ.

 

Trước sự xuất hiện của trào lưu minh tri, văn hóa Âu Châu bắt đầu càng ngày càng bị trôi giạt một cách mau chóng khỏi những nền tảng Kitô Giáo của nó. Nhất là trong giai đoạn gần đây nhất, t́nh trạng đổ vỡ về gia đ́nh và hôn nhân, những cuộc tấn công sứ sống con người và phẩm giá của nó, t́nh trạng biến đức tin thành một cảm nghiệm chủ quan và việc tục hóa từ đó mà ra nơi ư thức của quần chúng, đều được coi như là những hậu quả nghiệt ngă và thê thảm của t́nh trạng tách ĺa ấy.

 

Tuy nhiên, tại những phần đất khác nhau ở Âu Châu, có những cảm nghiệm và h́nh thức văn hóa Kitô Giáo đang phát triển mạnh mẽ hơn hay đang tái phục hồi tính chất sống động hơn. Đặc biệt là đức tin Công Giáo vẫn c̣n hiện hữu một cách thực sự nơi đời sống của dân chúng Ư quốc, và những dấu hiệu về tính chất sống động mới mẻ của nó được hiện lộ tở tường trước mắt tất cả mọi người.

 

Bởi thế mà, trong công việc làm của anh chị em như là những nhà truyền thông được tác động bởi Phúc Âm, vấn đề liên lỉ ư thức là những ǵ thiết yếu.

 

Như anh chị em quá rơ, các vị mục tử của Giáo Hội ở Ư quốc đang lo lắng bảo tŕ những h́nh thức Kitô Giáo xuất phát từ truyền thống cao cả của nhân dân Ư quốc và là những ǵ khuôn đúc đời sống cộng đồng, làm cho chúng được cập nhật hóa, thanh tẩy chúng ở những chỗ cần thiết, thế nhưng trên hết là củng cố và phấn chấn chúng.

 

Công việc của anh chị em c̣n là việc bảo tŕ và cổ vơ các cảm nghiệm Kitô Giáo mới mẻ đang được phát sinh, và giúp chúng phát triển một ư thức rơ ràng hơn bao giờ hết về các căn gốc giáo hội của ḿnh cùng với vai tṛ chúng có thể thực hiện trong xă hội và văn hóa Ư quốc.

 

Quí bạn thân mến, tất cả những điều ấy đều thuộc về công khó hằng ngày của quí bạn, thuộc về một công việc không phải được thực hiện một cách thuần lư trí, mà là chú trọng tới hằng ngàn khía cạnh nơi đời sống thực tiễn của một dân tộc, tới những trục trặc của nó, tới những nhu cầu của nó và tới những niềm hy vọng của nó.

 

Chớ ǵ niềm tin tưởng rằng đức tin Kitô Giáo là những ǵ cởi mở trước ‘những ǵ là chân thực, thiện hảo, công chính, tinh tuyền, yêu thương, độ lượng’ nơi văn hóa của các dân tộc, như Thánh Phaolô dạy Kitô hữu giáo đoàn Philiphê (x 4:8), bảo tŕ quí bạn và hiến cho quí bạn ḷng can đảm để thực hiện những công khó của quí bạn.

 

Bởi vậy, quí bạn hăy tiếp tục nơi công việc của ḿnh bằng tinh thần này và thái độ này, thực hiện một chứng từ ngời sáng của một đời sống Kitô Giáo sâu xa và nhờ đó liên kết chặt chẽ với Chúa Kitô, để quí bạn có thể nh́n vào thế giới bằng con mắt của Người.

 

Quí bạn hăy sung sướng được thuộc về Giáo Hội và góp tiếng nói của ḿnh và trí khôn của ḿnh cho trào lưu truyền thông to lớn. Đừng bao giờ chán chường trong việc thiết dựng những cây cầu thông cảm và truyền thông giữa cảm nghiệm của giáo hội với ư nghĩ của quần chúng. Có thế quí bạn mới trở thành những vai chính của một h́nh thức truyền thông không lẩn tránh mà là thiết tha với việc phục vụ thành phần đồng thời của chúng ta.

 

Tôi tha thiết hy vọng rằng những người Công Giáo và tất cả mọi người Ư đều mong muốn những giá trị chân thực sẽ lưu tâm và nâng đỡ việc truyền thông này.

 

Về phần ḿnh, tôi xin hứa với anh chị em về việc gắn bó của tôi, và để công việc của anh chị em càng sinh dồi dào hoa trái hơn, tôi thân ái ban phép lành ṭa thánh cho anh chị em và gia đ́nh của anh chị em, một phép lành ban hồng ân ánh sáng và sức mạnh chỉ có Thiên Chúa mới có thể làm thấm nhập vào tâm can của con cái ḿnh mà thôi.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 27/6/2006

 

 

TOP

 

Sứ Điệp gửi Hội Nghị Thế Giới Lần Hai Các Phong Trào và Tân Cộng Đồng được tổ chức ở Rôma vào thời khoảng 31/5 đến 2/6/2006

 

Anh Chị Em thân mến,

 

Trong lúc chúng ta hướng tới cuộc gặp gỡ giữa các phần tử của hơn 100 phong trào và tân cộng đồng, được tổ chức vào Thứ Bảy, 3/6 ở Quảng Trường Thánh Phêrô, tôi hân hoan gửi đến anh chị em, thành phần đại diện cho tất cả mọi hiệp hội của giáo hội ấy qui tụ lại tại Rocca di Papa cho Cuộc Hội Nghị Thế Giới của anh chị em, lời chào thân ái theo những lời của Thánh Tông Đồ: ‘Xin Thiên Chúa của niềm hy vọng làm cho anh chị em tràn đầy mọi niềm vui và an b́nh trong sự tin tưởng, nhờ đó,, bởi quyền năng của Thánh Linh, anh chị em được dồi dào hy vọng’ (Rm 15:13).

 

H́nh ảnh về Hội Nghị Thế Giới trước đây của Các Phong Trào trong Giáo Hội được tổ chức ở Rôma vào thời khoảng 26-29/5/1988 vẫn c̣n sống động trong tâm trí của tôi. Trong khả năng của ḿnh bấy giờ là tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin, tôi đă được yêu cầu nói với hội nghị này, bằng một bài diễn từ về cốt lơi thần học của các phong trào trong giáo hội.

 

Tột đỉnh của hội nghị ấy là buổi gặp gỡ đáng nhớ với Vị Giáo Hoàng Gioan Phaolô II yêu dấu của chúng ta hôm 30/5 tại Quảng Trường Thánh Phêrô, một buổi gặp gỡ được vị tiền nhiệm của tôi bày tỏ việc hài ḷng của ngài với các phong trào và các tân cộng đồng trong giáo hội, những tổ chức ngài diễn tả là ‘các dấu hiệu hy vọng’ cho thiện ích của Giáo Hội và nhân loại.

 

Hôm nay, ư thức được cái nền tảng được thiết lập từ đó, trên con đường cho thấy mối quan tâm mục vụ, ḷng cảm mến và giáo huấn của Gioan Phaolô II, tôi muốn chúc mừng Hội Đồng Ṭa Thánh Về Giáo Dân qua các vị Tổng Giám Mục Stanislaw Rylko, chủ tịch, Giám Mục Josef Clemens, thư kư, và các cộng tác viên của các vị, về việc khơi động quan trọng và quí hóa cho Hội Nghị Thế Giới này.

 

Đề tài của hội nghị này, ‘Vẻ đẹp của việc làm Kitô hữu và niềm vui của việc truyền đạt vẻ đẹp này’, được tác động bởi điều tôi đă nói trong bài giảng đăng quang Thừa Tác Vụ Phêrô của tôi. Đề tài này là một lời mời gọi suy nghĩ về những ǵ là những đặc tính chính yếu của biến cố Kitô giáo: thật thế, chúng ta gặp gỡ nơi biến cố Kitô giáo này Đấng, bằng máu thịt, đă làm cho vinh quang của Thiên Chúa rạng ngời trên trái đất một cách hữu h́nh và trong lịch sử.

 

Những lời của Bài Thánh Vịnh 45 [44]:2 là những áp hợp với Người: ‘Người là người con tuyệt mỹ nhất trong con cái loài người’. Và ngược đời thay, những lời sau đây của vị tiên tri cũng ám chỉ về Người nữa: ‘Người không c̣n h́nh thù hay duyên dáng mà chúng ta đáng lẽ thấy Người, và không c̣n vẻ đẹp như chúng ta mong thấy nơi Người’ (Is 53:2).

 

Nơi Chúa Kitô, vẻ đẹp của sự thật và vẻ đẹp của yêu thương hội tụ lại; thế nhưng, yêu thương, như con người biết, cũng kêu gọi việc sẵn sàng chịu khổ, một thứ sẵn sàng đối với thành phần yêu nhau thậm chí có thể dẫn đến việc hy sinh mạng sống ḿnh (x Jn 15:13)!

 

Chúa Kitô, Đấng là ‘sự mỹ trên hết mọi sự mỹ’, như Thánh Bonaventura thường nói (Sermones Dominicales, 1:7), được trở thành hiện thực nơi tâm can của con người nam nữ và thu hút họ đến với ơn gọi yêu thương của họ. Chính nhờ lực thu hút phi thường này mà lư trí được lôi kéo ra khỏi t́nh trạng lờ đờ của nó và mở ra trước Huyền Nhiệm. Bởi thế mà vẻ đẹp tuyệt vời của t́nh yêu nhân hậu Thiên Chúa được tỏ hiện, đồng thời, vẻ đẹp của con người được dựng nên theo h́nh ảnh Thiên Chúa, được tái sinh bởi ân sủng và hướng đến vinh quang vĩnh hằng.

 

Qua các thế hệ, Kitô Giáo đă được truyền đạt và phổ biến nhờ tính chất mới mẻ từ đời sống của những con người và những cộng đồng có khả năng làm chứng từ sâu sắc yêu thương, hiệp nhất và niềm vui.

 

Chính cái mănh lực này đă đẩy một số lớn con người tới ‘việc sinh động’, từ thế hệ này tới thế hệ kia. Không phải hay sao vẻ đẹp của đức tin nơi dung nhan các thánh đă thúc động nhiều con người nam nữ theo vết chân của các vị hay sao?

 

Mănh lực này thực sự cũng bao gồm cả anh chị em nữa, ở chỗ, qua các vị thành lập và những vị khởi xướng nên những phong trào và cộng đồng mà anh chị em đă thoáng nh́n dung nhan của Chúa Kitô chiếu giăi ánh quang đặc biệt và mở đường cho cuộc hành tŕnh của anh chị em.

 

Hôm nay chúng ta vẫn tiếp tục làm vang động trong tâm can của rất nhiều lời mời gọi ‘hăy đến theo Thày’ là lời mời gọi có thể quyết định số mệnh của họ. Điều này xẩy ra một cách b́nh thường qua chứng từ của những người đă có cảm nghiệm riêng tư về sự hiện diện của Chúa Kitô. Trên dung nhan và nơi ngôn từ của những ‘tạo vật mới’ ấy, ánh sáng của Người trở nên hữu h́nh và lời mời gọi của Người trở nên khả thính.

 

Bởi thế tôi muốn nói cùng anh chị em, hỡi quí bạn thuộc các phong trào: hăy tác hành để bảo đảm rằng các vị bao giờ cũng là những học đường của mối hiệp thông, cũng là những nhóm tiếp tục cuộc hành tŕnh giúp con người biết sống trong sự thật và yêu thương được Chúa Kitô bày tỏ và truyền đạt cho chúng ta qua chứng từ của các vị tông đồ, giữa ḷng của đại gia đ́nh các môn đệ.

 

Chớ ǵ lời huấn dụ của Chúa Giêsu không ngừng vang vọng trong ḷng anh chị em: ‘Ánh sáng của các con phải chiếu tỏa trước mắt con người, để họ thấy việc lành của các con mà tôn vinh Cha các con ở trên trời’ (Mt 5:16). Hăy mang ánh sáng của Chúa Kitô đến với tất cả mọi môi trường xă hội và văn hóa các bạn sống. Ḷng nhiệt thành truyền giáo là chứng cớ của một cảm nghiệm sâu xa cho ḷng trung thành mới mẻ hơn bao giờ hết đối với thứ linh sủng của con người vượt trên bất cứ một loại thoái lui mệt mỏi hay vị kỷ nào.

 

Hăy dẹp tan bóng tối của một thế giới tràn ngập những sứ điệp mâu thuẫn của các thứ ư hệ! Không có vẻ đẹp giá trị nào nếu thiếu một sự thật cần được nh́n nhận và theo đuổi, nếu yêu thương nhường bước cho cảm t́nh hời hợt mau qua, nếu hạnh phúc trở thành một thứ ảo vọng khó nắm bắt, hay nếu tự do thoái hóa thành bản năng.

 

Xấu xa biết bao cái đam mê về quyền lực, sở hữu và khoái lạc là những ǵ có thể nẩy sinh ra nơi đời sống của dân chúng và các quốc gia! Hăy làm chứng cho cái tự do Chúa Kitô làm cho chúng ta thanh thoát (x Gal 5:1) đối với thế giới bị rắc rối này.

 

Cái liên hiệp đặc biệt giữa t́nh yêu Thiên Chúa và t́nh yêu tha nhân làm cho đời sống tuyệt vời và khiến cho sa mạc chúng ta thường sống nở hoa tươi mới. Nơi nào yêu thương được thể hiện như một đam mê tha thiết với đời sống và định mệnh của người khác, nơi nào yêu thương chiếu tỏa cả ở cảm thức lẫn việc làm và trở thành một lực xây dựng một trật tự xă hội công chính hơn, th́ ở đó một nền văn minh được dựng xây có thể đương đầu với cuộc tấn công của t́nh trạng dă man.

 

Hăy trở thành những người xây dựng một thế giới mới hợp với ordo amoris là nơi thể hiện vẻ đẹp của đời sống con người.

 

Ngày nay, các phong trào của giáo hội và các tân cộng đồng là một dấu hiệu rạng ngời cho vẻ đẹp của Chúa Kitô cũng như cho Giáo Hội là hiền thê của Người. Các bạn thuộc về cấu trúc sống động của Giáo Hội. Giáo Hội cám ơn các bạn về cuộc dấn thân truyền giáo của các bạn, về hoạt động chính thức v́ các gia đ́nh Kitô hữu mà các bạn đang càng ngày càng tiến triển, và về việc phát động những ơn gọi linh mục thừa tác và đời sống tận hiến được các bạn nuôi dưỡng nơi các phần tử của ḿnh.

 

Giáo Hội cũng biết ơn các bạn về việc các bạn sẵn ḷng chẳng những chấp nhận những hướng dẫn chủ động của Vị Thừa Kế Thánh Phêrô, thế nhưng cũng của các vị giám mục thuộc những Giáo Hội địa phương khác nhau, những vị, cùng với Giáo Hoàng, là thành phần quản thủ chân lư và bác ái trong sự hiệp nhất. Tôi tin tưởng vào đức vâng lời mau mắn của các bạn.

 

Bên trên và vượt trên việc xác nhận về quyền lợi đối với chính sự sống, th́ việc xây dựng Thân Thể của Chúa Kitô giữa những ǵ khác bao giờ cũng phải là những ǵ trổi vượt như là một ưu tiên bất khả phủ nhận.

 

Các phong trào cần phải tiến đến mỗi một vấn đề bằng những cảm thức sâu xa hiệp thông, bằng một tinh thần trung thành với những vị mục tử hợp pháp.

Chớ ǵ các bạn được nâng đỡ nhờ tham dự vào việc nguyện cầu của Giáo Hội, mà phụng vụ là việc diễn đạt cao đẹp nhất cái vẻ đẹp của vinh quang Thiên Chúa, và một cách nào đó là một cái thoáng nh́n của trời cao trên trái đất vậy.

 

Tôi kư thác các bạn cho việc chuyển cầu của vị chúng ta kêu cầu như Tota pulchra, ‘Toàn Mỹ’, một vẻ đẹp lư tưởng được thành phần họa sĩ luôn t́m kiếm để mô phỏng nơi các tác phẩm của họ, ‘người nữ mặc mặt trời’ (Rev 12:1), nơi người nữ này vẻ đẹp của con người gặp gỡ vẻ đẹp của Thiên Chúa.

 

Với những cảm thức ấy, tôi ban phép lành ṭa thánh đặc biệt chop tất cả các bạn như một hứa quyết ḷng quí mến liên lỉ của tôi.

 

Tại Vatican ngày 22/5/2006

 

Giáo Hoàng Biển Đức XVI

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 16/7/2006

  

 

TOP

 

 

Ngày đầu Tháng Hoa 2006 về Năm Mùa Vui và Mẹ Maria là Người Nữ Mến Yêu

 

Trong Tháng Hoa 2006, vào chính ngày đầu tháng 1/5, Đức Thánh Cha đă viếng thăm Đền Thánh Đức Mẹ T́nh Yêu Thần Linh ở ngoại ô thành Rôma. Kết thúc buổi cầu Kinh Mân Côi, Đức Thánh Cha đă ban huấn từ (như được chuyển dịch dưới đây). Thế rồi, vào buổi tối ngày cuối tháng, tức vào Lễ Mẹ Thăm Viếng 31/5, vào lúc 8 giờ tối, ngài đă đến Hang Đức Mẹ Lộ Đức vào lúc 9 giờ để ngỏ đôi lời và ban phép lành cho thành phần tham dự.

 

Anh Chị Em thân mến,

 

Thật là an ủi được ở với anh chị em hôm nay để lần hạt Mân Côi ở Đền Thánh Đức Mẹ của Ḷng Thương Xót Chúa đây, nơi tín hữu bày tỏ ḷng sùng mộ đối với Trinh Nữ Maria là những ǵ được đâm rễ trong tâm hồn và lịch sử của dân Rôma.

 

Tôi cảm thấy đặc biệt vui mừng khi nghĩ tới vị tiền nhiệm yêu dấu của tôi là Đức Gioan Phaolô II, vị vào ngày đầu tiên của Tháng Hoa năm 1979, đúng 27 năm trước đây, đă đến thăm đền thánh này lần đầu tiên với tư cách là Giáo Hoàng.

 

Tôi thân ái chào vị giám đốc đền thánh là Đức Ông Pasquale Silla, và cám ơn ngài về những lời lẽ ưu ái ngài ngỏ cùng tôi. Ngoài ra tôi xin chào quí vị linh mục khác, Oblate Sons of Our Lady of Divine Love, và các chị ḍng, Daughters of Our Lady of Divine Love, quí tu sĩ nam nữ đang hân hoan và quảng đại dấn thân phục vụ ở đền thánh này cùng với hàng loạt tất cả những công việc tốt lành khác nhau của đền thánh đây. Tôi chào vị đại diện giáo phận Rôma là Đức Hồng Y Camillo Ruini, và vị giám mục phụ tá Vùng Nam Rôma là Đức Cha Paolo Schiavon, cùng toàn thể anh chị em thân mến, thành phần đă đông đảo đến đây.

 

Chúng ta đă lần hạt Mân Côi với năm mầu nhiệm mùa vui, những mầu nhiệm diễn lại trước con mắt tâm hồn những giây phút khởi đầu cho việc cứu độ của chúng ta, từ khi Chúa Giêsu được thụ thai trong ḷng Trinh Nữ Maria bởi Thánh Thần, đến việc Người được t́m thấy trong đền thờ Giêrusalem ở vào tuổi 12, lắng nghe những vị tôn sư và đặt ra những vấn đề cùng các vị.

 

Chúng ta đă lập lại những lời lẽ của ḿnh theo lời lẽ của Thiên Thần rằng: ‘Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà!’ cùng với lời lẽ Thánh Isave đón chào Vị Trinh Nữ đă vội vă đến giúp đỡ phục vụ ḿnh rằng: ‘Bà có phúc hơn mọi người nữ, và Giêsu Con ḷng Bà gồm phúc lạ!’

 

Chúng ta đă chiêm ngắm đức tin đơn thành của Mẹ Maria, người đă hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa và trọn vẹn trao phó bản thân cho Ngài. Như các mục đồng, cả chúng ta nữa cũng cảm thấy được gần gũi với Con Trẻ Giêsu nằm trong máng cỏ và nh́n nhận cùng tôn thờ Người như là Người Con hằng hữu của Thiên Chúa, một Người Con v́ yêu thương đă trở thành anh em của chúng ta, bởi thế, cũng trở thành Đấng Cứu Độ duy nhất của chúng ta.

 

Chúng ta cũng tiến lên đền thờ cùng với Mẹ Maria và Thánh Giuse, để dâng hiến Con Trẻ này cho Thiên Chúa, cũng như để thi hành nghi thức thanh tẩy: Và ở nơi đây, trong việc cứu độ, chúng ta cảm thấy ḿnh, qua những lời của vị lăo thành Simêon, đang ngưỡng vọng về cái dấu tương khắc của thập giá, cũng như về thanh gươm đâm thâu qua linh hồn của Mẹ Maria dưới chân cây thập tự giá, nhờ đó làm cho Mẹ chẳng những là Mẹ của Thiên Chúa mà c̣n làm Mẹ của tất cả chúng ta nữa.

 

Anh chị em thân mến, nơi đền thánh này chúng ta tôn kính Mẹ Maria Rất Thánh với tước hiệu ‘Đức Mẹ của Ḷng Thương Xót Chúa’.

 

Như thế, thật là sáng tỏ về mối liên kết giữa Mẹ Maria và Thánh Linh ngay từ ban đầu cuộc sống của Mẹ, lúc Mẹ được thụ thai th́ Thần Linh là T́nh Yêu hằng hữu của Chúa Cha và Chúa Con, lập cư nơi Mẹ và bảo toàn Mẹ khỏi mọi bóng tối tội lỗi; thế rồi, một lần nữa, khi cùng Vị Thần Linh này hiện hữu hóa Người Con Thiên Chúa trong ḷng Mẹ; chưa hết, nhờ tặng ân của Thần Linh, những lời của Mẹ Maria đă được hoàn tất trong suốt cuộc đời của Mẹ: ‘Này tôi là tôi tớ Chúa’; và cuối cùng, bởi quyền năng của Thánh Thần, về thể lư, Mẹ Maria đă được đưa về bên Người Con trong vinh quang của Thiên Chúa Cha.

 

Tôi đă viết trong thống điệp ‘Thiên Chúa là T́nh Yêu’: ‘Mẹ Maria là một người nữ yêu mến…. Là một tín hữu tin tưởng, nghĩ theo ư nghĩ của Thiên Chúa và muốn như ư Thiên Chúa muốn, Mẹ luôn là một người nữ mến yêu’ (đoạn 41). Phải, anh chị em thân mến, Mẹ Maria là hoa trái và là dấu hiệu của t́nh Thiên Chúa yêu thương chúng ta, của niềm thiết tha và t́nh thương của Ngài giành cho chúng ta. Bởi thế, cùng với anh chị em của chúng ta trong đức tin ở mọi thời đại và mọi nơi chốn, chúng ta hăy hướng về Mẹ trong những nỗi thiếu thốn và niềm hy vọng của chúng ta, trong những biến cố hân hoan và sầu thương của chúng ta. Vào lúc này đây tâm tưởng của tôi hết sức thương cảm gia đ́nh ở Đảo Ischia bị thiên tai hôm qua.

 

Trong tháng của Mẹ Maria đây, có nhiều người đến đây hành hương từ các giáo xứ Rôma cũng như từ nhiều khu vực khác, để nguyện cầu và hoan hưởng vẻ đẹp cùng bầu khí tĩnh lặng thanh thản của nơi chốn này. Từ đây, từ Đền Thánh Ḷng Thương Xót Chúa này, nhờ đó chúng ta trông mong có được một sự trợ giúp quyền năng và hỗ trợ thiêng liêng cho Giáo Phận Rôma, cho bản thân tôi là Giám Mục của Giáo Phận này, cũng như cho các vị giám mục khác hợp với với tôi, cho các vị linh mục, cho các gia đ́nh, cho ơn kêu gọi, cho những người nghèo, người khổ đau và người bệnh nạn, cho trẻ em và cho người già, cho toàn thể quốc gia Ư quốc thân yêu.

 

Chúng ta đang đặc biệt mong có được sinh lực nội tâm để hoàn thành lời thề hứa của nhân dân Rôma ngày 4/6/1944, lúc mà họ long trọng xin Đức Mẹ của Ḷng Thương Xót Chúa cho thành phố này được ǵn giữ cho khỏi xẩy ra chiến tranh, và họ đă được nhận lời: lời thề và lời hứa này là ở chỗ đúng dắn hóa và cải tiến hóa tác hành luân lư của từng người để làm cho tác hành của ḿnh hợp với tác hành của Chúa Giêsu.

 

Cả hôm nay nữa vẫn cần phải hoán cải trở về cùng Thiên Chúa, về cùng Thiên Chúa Đấng là T́nh Yêu, nhờ đó thế giới này được thoát khỏi chiến tranh và nạn khủng bố. Chúng ta, tiếc thay, đă được nhắn nhở về điều này nơi thành phần nạn nhân, chẳng hạn như những phục vụ nhân đă ngă xuống hôm Thứ Năm vừa rồi tại Nasiriyah ở Iraq, những người chúng ta kư thác cho việc chuyển cầu của Mẹ Maria, Nữ Vương Ḥa B́nh.

 

Anh chị em thân mến, bởi thế, từ Đền Thánh Đức Mẹ của Ḷng Thương Xót Chúa này, tôi lập lại lời kêu gọi tôi đă nêu lên trong thông điệp Thiên Chúa là T́nh Yêu, đó là: ‘Hăy thi hành ḷng mến yêu để nhờ đó chiếu giăi ánh sáng của Thiên Chúa vào thế giới’ (đoạn 39). Amen!

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 15/5/2006

 

Ngày kết Tháng Hoa 2006 về Chuyến Tông Du Balan và Lễ Mẹ Thăm Viếng

 

Vào lúc 8 giờ tối, để kết thúc tháng Năm, đă diễn ra một cuộc rước kiệu theo truyền thống, từ Nhà Thờ Thánh Stêphanô ở Abyssinians, gần hậu cung của Đền Thờ Vatican, đến Hang Lộ Đức ở Vườn Vatican. Cuộc rước kiệu này được chủ sự bởi ĐTGM Angelo Comastri, tổng đại diện của Đức Thánh Cha về Quốc Đô Vatican, với cả mấy trăm người tham dự.

 

Đức Thánh Cha đă đến vào lúc 9 giờ, và trước khi ban phép lành ngài đă ngỏ mấy lời cùng đoàn người tham dự, với những ư tưởng chính yếu tiêu biểu như sau.