ĐTC Biển Đức XVI: CÁC DIỄN TỪ TRONG NĂM 2006
Với chung Giáo Triều Rôma 22/12/2006
Chuyến Tông Du 5: Thăm Thổ Nhĩ Kỳ 28/11-1/12/2006
Với Các Vị Giám Mục Thụy Sĩ Thứ Năm 9/11/2006
với Đại Hội thường nên của Giáo Hoàng Hàn Lâm Viện Các Khoa Học ngày 6/11/2006
Huấn từ cho Giáo Hoàng Đại Học Đường Gregorian ngày 3/11/2006
huấn dụ ở Đại Học Đường Tòa Thánh Laterano dịp bắt đầu Năm Học mới 21/10/2006
Huấn Từ cho Công Nghị Toàn Ý Quốc Về Giáo Hội Lần 4 ở Trung Tâm Triển Lãm Verona 19/10/2006
Chuyến Tông Du 4: 9-14/9/2006 Thăm quê quán Bavaria Đức Quốc
Chia Sẻ với Các Vị Giám Mục Ontario Canada dịp Các Ngài Viếng Thăm Tòa Thánh Ngũ Niên 8/9/2006
Sứ Điệp ngày 4/9/2006 gởi Cuộc Hội Ngộ Liên Tôn để Cầu Nguyện cho Hòa Bình lần thứ 20
Huấn Từ Ở Đền Thờ Nhan Thánh, Manoppello, Ý, Thứ Sáu 1/9/2006
Chuyến Tông Du 3: 8-9/7/2006 Ngày Họp Thế Giới Các Gia Đình V
“Niềm vui xuất phát từ đức tin và mối liên hệ của đức tin với việc giáo dục các thế hệ mới” 5/6
Ngày đầu Tháng Hoa 2006 về Năm Mùa Vui và Mẹ Maria là Người Nữ Mến Yêu
Chuyến Tông Du 2: 25-28/5/2006 Balan, quê hương của vị tiền nhiệm GPII
Huấn Dụ Học Viện Gioan Phaolô II Đặc Trách Nghiên Cứu Về Hôn Nhân Và Gia Đình
Với Tham Dự Viên Khóa Hội Luận ở Sảnh Đường Phaolô ngày 10/4/2006 về Giáo Dục Cao Học Ở Âu Châu
T
hư Gửi Tham Dự Viên Đại Hội Thường Niên Học Viện Tòa Thánh Về Các Khoa Xã Hội HọcHuấn Từ kết thúc Đường Thánh Giá ở Hí Trường Colosseum Rôma Thứ Sáu 14/4/2006
Đêm Canh Thức 2/4/2006 Cầu Kinh Mân Côi Kỷ Niệm Đầy Năm Đức Gioan Phaolô II Qua Đời
Chia Sẻ sau khi xem cuốn phim về về Đức Gioan Phaolô II ngày 30/3/2006 ở Sảnh Đường Phaolô VI
Với Văn Phòng Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh và Thành Phần Đại Diện Tòa Thánh Ở Các Tổ Chức Quốc Tế 19/3
Huấn Từ cho Đại Hội Thường Niên của Hội Đồng Tòa Thánh Về Truyền Thông Xã Hội 17/3
Về Đài Phát Thanh Vatican ngày 3/3/2006 Kỷ Niệm 75 Năm
Trao Đổi với Hàng Giáo Sĩ ở Rôma Hôm 2/3/2006
Với Nhóm Linh Mục và Chủng Sinh Chính Thống Hy Lạp 27/2
Với Các Bệnh Nhân cuối Thánh Lễ 11/2/2006 về Ngày Thế Giới Bệnh Nhân
Với Hội Nghị Thường Niên của Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin 10/2/2006 ở Sảnh Đường Clementine
Cùng Thành Phần Phục Vụ Pháp Đình Rota Roma dịp khai mở pháp niên 28/1/2006 tại Sảnh Đường Clementine
Với Chư Hiệp Hội Lao Động Kitô Hữu Ý Quốc ngày 27/1/2006
Với Các Vị Lãnh Đạo Thế Giới Liên Minh Chư Giáo Hội Cải Cách Thứ Bảy 7/1/2006
“Hãy chăm lo tới mối liên hệ riêng tư của con người với Thiên Chúa, một mối liên hệ nhờ đó Thiên Chúa tỏ mình cho chúng ta nơi Chúa Kitô”
Với Các Vị Giám Mục Thụy Sĩ Thứ Năm 9/11/2006 (tiếp theo bài giảng hôm Thứ Ba 7/11/2006).
Trước hết tôi xin cám ơn tất cả chư huynh về buổi sáng hôm nay, một buổi sáng đối với tôi dường như rất ư là quan trọng trong việc thể hiện niềm cảm mến đối với tính cách đoàn tính, một thể hiện cho trách nhiệm chung của chúng ta đối với Giáo Hội cũng như đối với Phúc Âm trong thế giới vào lúc này đây. Xin cám ơn chư huynh về tất cả mọi sự!
Tôi xin lỗi vì những công việc khác, nhất là những cuộc viếng thăm Tòa Thánh ngũ niên ‘ad limina’ – trong những ngày này đến phiên các vị Giám Mục Đức Quốc – tôi đã không thể ở cùng quí huynh.
Tôi đã thực sự muốn nghe tiếng nói của các vị Giám Mục Thụy Sĩ – thế nhưng có lẽ sẽ có những dịp khác – và dĩ nhiên có thể nghe được cuộc đối thoại trao đổi giữa Giáo Triều Rôma và các vị Giám Mục Thụy Sĩ: cả ở Giáo Triều Rôma đây nữa, Đức Thánh Cha bao giờ cũng nói với trách nhiệm đối với tòan thể Giáo Hội.
Bởi thế, cám ơn chư huynh về cuộc gặp gỡ này, một cuộc gặp gỡ đối với tôi là những gì hữu ích với tất cả chúng ta vì nó là một kinh nghiệm về mối hiệp nhất của Giáo Hội cũng như về niềm hy vọng hỗ trợ chúng ta trong tất cả mọi thứ khó khăn đang vây lấy chúng ta.
Ngoài ra, tôi xin chư huynh bỏ qua cho tôi về việc không dọn sẵn bài nói vào chính ngày đều tiên này; dĩ nhiên là tôi đã có một số tư tưởng, song không có giờ viết ra. Bởi thế, giờ đây, một lần nữa, tôi đến đây với cảnh thiếu thốn này, song cũng đúng nữa đối với một Giáo Hoàng cần phải nghèo theo tất cả mọi ý nghĩa của nó vào thời điểm này của lịch sử Giáo Hội.
Dù sao giờ đây tôi cũng không thể cống hiến cho chư huynh một Bài Diễn Từ cả thể như thường xẩy ra thích hợp theo sau một cuộc gặp gỡ với những thành quả này.
Thật vậy, tôi phải nói rằng tôi đã đọc bản tóm lược các cuộc bàn luận của chư huynh, và ngay vào lúc này đây tôi đã hết sức chú trọng lắng nghe bản phúc trình ấy: nó dường như là một bản văn thấu suốt và phong phú. Nó thực sự đáp ứng cho những vấn đề thiết yếu liên quan tới chúng ta, cả về mối hiệp nhất của toàn thể Giáo Hội cũng như về những vần đề riêng biệt của Giáo Hội ở Thụy Sĩ. Đối với tôi, nó thực sự phác họa một con đường cho những năm tới đây và chứng tỏ cho thấy ước vọng chung của chúng ta trong việc phụng sự Chúa. Nó là một văn kiện rất phong phú.
Khi đọc văn kiện này, tôi nghĩ rằng thật là ngớ ngẩn nếu giờ đây tôi bắt đầu bàn lại những đề tài đã được bàn đến một cách thấu đáo và kỹ lưỡng trong 3 ngày vừa qua. Ở đây tôi thấy được thành quả cô đọng và dồi dào của công việc được thực hiện; Tôi nghĩ rằng rất khó lòng để thêm bất cứ điều gì nữa vào từng điểm này, một phần vì tôi đã thấy được thành quả của công việc làm ấy, chứ không phải thực sự là tiếng nói của những ai nói lên trong các cuộc bàn luận ấy.
Bởi thế, tôi nghĩ có lẽ thích hợp cho buổi tối hôm nay, vào lúc kết thúc này đây, một lần nữa trở lại với những đề tài quan trọng đang làm bận tâm chúng ta và vì thế đang là nguồn gốc của tất cả mọi chi tiết – cho dù dĩ nhiên là từng chi tiết đều quan trọng cả.
Nơi Giáo Hội, cơ cấu tổ chức không phải chỉ là những gì thuần túy bề ngoài còn Phúc Âm là những gì thuần túy về thiêng liêng. Thật vậy, Phúc Âm và Cơ Cấu Tổ Chức là những gì bất khả tách biệt, vì Phúc Âm có một thân mình, Chúa có một thân thể vào lúc này đây của chúng ta. Bởi thế mà các vấn đề thoạt nhìn tưởng thuần túy liên quan tới cơ cấu tổ chức thực sự lại là những vấn đề về thần học và trọng yếu, vì nó là vấn đề của việc hiện thực hóa và cụ thể hóa Phúc Âm trong thời đại của chúng ta.
Do đó, điều hay nhất cần làm bây giờ đó là việc nhấn mạnh một lần nữa tới những quan điểm chính yếu chi phối toàn thể việc chia sẻ của chúng ta đây. Nhờ sự thông cảm và quảng đại của các phần tử thuộc Giáo Triều Rôma, xin cho tôi tiếp tục sử dụng tiếng Đức, vì chúng ta có những thông dịch viên thông giỏi ở đây kẻo họ ngồi không chẳng có việc gì làm.
Tôi đã nghĩ đến hai đề tài đặc biệt đã được tôi nói tới mà giờ đây tôi muốn khảo sát kỹ lưỡng hơn nữa.
Vậy chúng ta hãy trở lại với chủ đề về ‘Thiên Chúa’. Óc tôi nẩy lên những lời của Thánh I Nhã: ‘Kitô hữu không phải là thành quả của một cuộc thuyết phục mà là của quyền lực’ ("Epistula ad Romanos" 3, 3). Chúng ta không được để cho đức tin của chúng ta bị cạn ráo bởi quá nhiều những thứ bàn luận về đủ mọi chuyện, bởi những chi tiết nho nhoi, trái lại, bao giờ cũng phải chú trọng trước tiên đến cái cao cả của Kitô Giáo.
Tôi nhờ rằng khi tôi thường về Đức quốc vào thập niên 1980 và 1990, tôi đã được yêu cầu thực hiện các cuộc phỏng vấn và tôi bao giờ cũng biết trước các câu hỏi sẽ được đặt ra. Những câu hỏi ấy liên quan về việc truyền chức cho nữ giới, về vấn đề ngừa thai, vấn đề phá thai và các vấn đề khác cứ liên tục diễn tiến như thế.
Nếu chúng ta để mình bị cuốn lôi vào những thứ bàn cãi này, thì Giáo Hội bị đồng hóa với một số giới luật hay với những thứ cấm kị; chúng ta làm cho người ta có cảm tưởng chúng ta là những luân lý gia có một vài niềm xác tín cổ lỗ làm sao ấy, và thậm chí cũng không thấy đâu là cái bóng dáng về tính chất cao cả thực sự của niềm tin nữa. Bởi thế tôi bao giờ cũng thấy cần phải nhấn mạnh tới tính chất cao cả nơi niềm tin tưởng của chúng ta – một quyết tâm cần chúng ta gắn bó không để cho những trường hợp như thế chi phối.
Theo chiều hướng ấy, giờ đây tôi muốn tiếp tục để hoàn tất những chia sẻ hôm Thứ Ba vừa rồi cũng như để nhấn mạnh một lần nữa rằng: cái vấn đề trên hết đó là hãy chăm lo tới mối liên hệ riêng tư của con người với Thiên Chúa, một mối liên hệ nhờ đó Thiên Chúa tỏ mình cho chúng ta nơi Chúa Kitô.
Thánh Âu Quốc Tinh đã nhấn mạnh nhiều lần hai phương diện nơi quan niệm của Kitô Giáo về Thiên Chúa: Thiên Chúa là Lời và Thiên Chúa là Tình Yêu – cho đến độ Ngài đã hoàn toàn hạ mình, mặc lấy thân xác loài người, hiến mình trong tay chúng ta như một miếng bánh. Chúng ta lúc nào cũng phải nhớ rằng và giúp cho những người khác nhớ tới hai khía cạnh này nơi quan niệm của Kitô Giáo về Thiên Chúa.
Thiên Chúa là ‘Thần Linh Sáng Tạo’, Ngài là Lời, Ngài là lý trí. Và đó là lý do tại sao đức tin của chúng ta là một điều có liên quan tới lý trí, có thể được truyền đạt nhờ lý trí và không có lý do gì lại dấu giếm lý trí, thậm chí cả với thứ lý trí của thời đại chúng ta đây. Thế nhưng, chính vì thứ lý trí hằng hữu khôn lường này không phải thuần túy là một thứ toán học về vũ trụ, và lại càng không phải là một nguyên lý đệ nhất nào đó đã rút lui sau khi tạo nên cuộc Đại Bùng Nổ (Big Bang).
Ngược lại, lý trí này có một con tim đến nỗi có thể từ bỏ tính cách lớn lao vĩ đại của mình mà mặc lấy xác thịt. Tôi nghĩ rằng chỉ nguyên điều này thôi cũng cho thấy cái cao cả tối hậu và thực sự nơi quan niệm của chún g ta về Thiên Chúa rồi. Chúng ta biết rằng Thiên Chúa không phải là một thứ giả thiết về triết lý, Ngài không phải là một cái gì đó có lẽ hiện hữu, thế nhưng chúng ta biết Ngài và Ngài biết chúng ta. Và chúng ta có thể biết Ngài mỗi ngày một hơn nếu chúng ta tiếp tục thực hiện cuộc đối thoại trao đổi với Ngài.
Đó là lý do tại sao công việc trọng yếu nơi vấn đề chăm sóc mục vụ là dạy cho dân biết cách nguyện cầu và biết cách làm điều ấy một cách riêng tư mỗi ngày một hơn. Ngày nay, xuất hiện các học đường cầu nguyện và các nhóm nguyện cầu; rõ ràng là dân chúng đều cần đến những điều ấy. Nhiều người tìm kiếm việc suy niệm ở một chỗ khác, vì họ nghĩ rằng họ không thể tìm thấy chiều kích linh thiêng nơi Kitô Giáo.
Chúng ta cần phải tỏ cho họ thấy một lần nữa chẳng những Kitô Giáo có chiều kích thiêng liêng mà nó còn là nguồn mạch của tất cả mọi sự nữa. Để đạt được mục đích này, chúng ta cần phải gia tăng con số học đường cầu nguyện ấy, vì việc cùng nhau cầu nguyện, khi nào có thể, là để học biết cầu nguyện riêng ở tất cả mọi chiều kích của nó: như một thứ âm thầm lắng nghe Thiên Chúa, như một thứ lắng nghe thấm nhập Lời của Ngài, thấm nhập việc im hơi lặng tiếng của Ngài, thấu hiểu được hành động của Ngài trong lịch sử cũng như nơi con người của mình; và hiểu được ngôn từ của Ngài trong đời sống của mình, nhờ đó biết đáp ứng bằng việc nguyện cầu theo những lời kinh nguyện cao cả từ những Thánh Vịnh ở Cựu Ước và những kinh nguyện Tân Ước.
Tự mình, chúng ta chẳng biết nói gì với Thiên Chúa hết, mà là những lời được gợi lên cho chúng ta: chính Thánh Linh là Đấng đã làm lên những lời lẽ nguyện cầu cho chúng ta; chúng ta có thể cảm thấy chúng, chúng ta có thể dùng chúng nguyện cầu và nhờ đó biết tự mình nguyện cầu khá hơn; chúng ta có thể ‘biết được’ Thiên Chúa và nhờ đó cảm thấy vững tâm về Ngài cho dù Ngài âm thầm câm nín – chúng ta có thể trở nên hân hoan trong Thiên Chúa.
Việc thân tình ở với Thiên Chúa, nhờ đó, cảm nghiệm được sự hiện diện của Ngài,
có thể nói là những gì làm cho chúng ta cảm nghiệm thấy một cách mới mẻ hơn bao
giờ hết tính cách cao cả của Kitô Giáo, bởi thế cũng giúp cho chúng ta tìm được
cách thức vượt qua tất cả mọi thứ tầm thường là những gì, tất nhiên, cũng cần
phải sống và mang ra thực hành, từ ngày này đến ngày khác, trong đau thương cũng
như trong yêu thương, trong vui mừng cũng như trong sầu khổ.
Thế rồi từ quan điểm này, theo tôi nghĩ, người ta nhận thấy được tầm quan trọng của Phụng Vụ thực sự như là một học đường nguyện cầu, nơi chính Chúa dạy chúng ta cầu nguyện và là nơi chúng ta cùng nguyêä cầu với Giáo Hội, cả ở những cuộc cử hành âm thầm giản dị có vài tín hữu tham dự cũng như nơi cuộc mừng lễ theo niềm tin.
Qua những cuộc đàm thoại khác nhau, giờ đây tôi đã nhận thấy, một lần nữa vào chính lúc này đây, một đàng là tính cách quan trọng biết bao đối với tín hữu về việc giữ thinh lặng trong cuộc giao tiếp với Thiên Chúa, đàng khác là cuộc mừng lễ theo niềm tin, quan trọng biết bao để làm sao có thể sống động cuộc cử hành mừng lễ này.
Thế giới cũng có những ngày mừng lễ của nó. Nietzsche thực sự đã nói rằng: Chúng ta chỉ có thể c73 hành nếu Thiên Chúa không hiện hữu. Thế nhưng, đây là một điều ngớ ngẩn, ở chỗ, chỉ khi nào Thiên Chúa hiện hữu và chạm tới chúng ta thì cuộc mừng lễ mới thực sự diễn ra mà thôi. Và chúng ta biết rằng những cuộc mừng lễ theo niềm tin này là những gì mở rộng lòng con người ra, tạo nên những ấn tượng hữu ích cho tương lai. Trong các chuyến Tông Du Mục Vụ ở Đức quốc, Ba Lan và Tây Ban Nha, một lần nữa tôi lại thấy được rằng đức tin ở những nơi đó được sống như là một cuộc mừng lễ và nó hỗ trợ dân chúng cùng hướng dẫn dân chúng.
Trong bối cảnh ấy, tôi xin đề cập tới một điều khác tác động tôi và tạo nên một ảnh hưởng lâu dài.
Nơi tác phẩm cuối cùng của Thánh Tôma Aquinas vẫn còn dang dở chưa xong, Cuốn Tổng Luận Thần Học mà ngài có ý cấu trúc một cách giản dị theo 3 thần đức tin, cậy, mến, vị đại Tiến Sĩ này đã bắt đầu và đã khai triển một phần chương sách của mình về đức cậy. Nơi chương này, có thể nói ngài đã đồng hóa đức cậy với việc cầu nguyện: chương về đức cậy đồng thời cũng là chương về việc cầu nguyện.
Cầu nguyện là đức cậy sinh động. Thật thế, lý do đích thực được chứa chất nơi việc cầu nguyện, lý do tại sao có thể hy vọng cậy trông, đó là việc chúng ta tiến đến chỗ giao tiếp với Vị Chúa của thế giới này, Người đang lắng nghe chúng ta, và chúng ta có thể nghe thấy Người. Đó là những gì Thánh I Nhã ám chỉ tới và là những gì tôi muốn nhắc nhở chư huynh hôm nay một lần nữa"ou peismones to ergon, alla megethous estin ho Christianismos" ("Ad Rom." 3, 3) – điều thực sự cao cả nơi Kitô Giáo, điều không châm chước cho con người khỏi những thứ nhỏ nhoi, thường nhật song cũng không bị chúng che khuất, đó là khả năng tiến đến chỗ giao tiếp với Thiên Chúa này.
Điều thứ hai được tôi lưu ý tới ngay trong những ngày này là những gì liên quan
tới những vấn đề luân lý.
Tôi thường nghe nói rằng dân chúng ngày nay cảm thấy khát vọng Thiên Chúa, khát vọng linh đạo, khát vọng tôn giáo, và lại bắt đầu thấy Giáo Hội như là một đồng bạn khả đàm nhờ đó họ có thể nhận được một điều gì đó. (Đã có giai đoạn điều này chỉ thấy nơi các tôn giáo khác thôi).
Có một nhận thức đang phát triển đó là Giáo Hội đặc biệt chuyển đạt cảm nghiệm thiêng liêng; Giáo Hội như một cây choc him trời làm tổ cho dù chúng có muốn bay đi sau đó – nhưng Giáo Hội cũng thực sự là một nơi giúp con người có thể được ổn định một thời gian nào đó.
Trái lại, những gì dân chúng cảm thấy khó khăn hơn đó là thứ luân lý được Giáo Hội truyền dạy. Tôi đã suy nghĩ về điều này – tôi vẫn đang suy nghĩ về nó đã lâu – và tôi thấy càng rõ ràng hơn nữa là trong thời đại của chún g ta đây vấn đề luân lý thực sự bị chia ra làm đôi.
Xã hội tân tiến không phải chỉ thiếu những gì là luân lý mà còn ‘khám phá’ ra và cần đến chiều kích khác của luân lý, những gì mà trong việc Giáo Hội loan báo trong các thập niên gần đây, thậm chí trước cả đó nữa, có lẽ đã chưa được trình bày đầy đủ. Chiều kích này bao gồm những đề tài to lớn về hòa bình, về việc bất bạo động, về công lý cho tất cả mọi người, về mối quan tâm đến người nghèo và về việc tôn trọng thiên nhiên. Chúng đã trở thành một tổng thể đạo lý mà, giống hệt như một quyền lực chính trị, có một quyền lực lớn mà đối với nhiều người có thể trở thành những gì thay thế hay thừa kế cho tôn giáo.
Những đề tài quan trọng về luân lý đóng một vai trò thiết yếu trong việc ban phẩm giá cho con người và hẹn ước với họ, thay cho tôn giáo là những gì được thấy như thuộc về siêu hình học và như là một cái gì đó từ trên cao – có lẽ cũng như là một cái gì đó tư riêng nữa.
Đó là chỉ là một khía cạnh, ở chỗ cái luân lý này xẩy ra đồng thời cũng lôi cuốn cả giới trẻ nữa, thành phần hoạt động cho hòa bình, cho tình trạng bất bạo động, cho công lý, cho người nghèo, cho thiên nhiên. Ngoài ra thật sự là còn có những đề tài luân lý quan trọng cũng thuộc về truyền thống của Giáo Hội nữa. Tuy nhiên, phương tiện được cống hiến cho việc giải quyết đối với những đề tài ấy thường rất ư là đơn phương một chiều và không bao giờ có uy tín hết, song giờ đây chúng ta không thể bàn đến vấn đề này. Những đề tài quan trọng hiện đang xẩy ra.
Một lãnh vực khác của luân lý, thường gây ra tranh cãi bởi các đảng phái chính trị, liên quan tới sự sống. Một khía cạnh trong lãnh vực này đó là cổ võ sự sống từ khi được thụ thai cho tới khi tự nhiên qua đời, tức là việc bênh vực sự sống chống lại vấn đề phá thai, chống lại vấn đề triệt sinh an tử, chống lại vấn đề con người mạo dụng và tự động cho mình có quyền sử dụng sự sống.
Dân chúng thường tìm cách biện minh cho những thứ nhúng tay can thiệp này bằng mục đích có vẻ cao cả, thậm chí còn có tính cách luân lý để nắm trong tay sự sống và mạo dụng nó.
Tuy nhiên , đàng khác, sự sống cũng được nhìn nhận là một tặng ân cần phải tôn trọng và yêu chuộng từ ngay giây phút ban đầu cho tới tận giây phút cuối cùng đối với thành phần khổ đau, tật nguyền và yếu kém.
Vấn đề luân lý về hôn nhân và gia đình cũng thích hợp trong bối cảnh này. Hôn nhân có thể nói trở thành những gì bị loại trừ hơn bao giờ hết.
Chúng ta thấy được thí dụ điển hình nơi một số quốc gia tu chính luật lệ để hôn nhân không còn được định nghĩa là mối liên kết giữa một người nam và một người nữ mà là mối liên kết giữa những con người; bởi đó, rõ ràng là ý nghĩa căn bản về hôn nhân đã bị hủy diệt và nguồn gốc sâu xa của xã hội trở thành một cái gì đó hoàn toàn khác hẳn.
Việc nhận thức rằng tình dục, tình ái và hôn nhân như một cuộc hiệp nhất giữa một người nam và một người nữ là những gì đi với nhau – ‘và họ trở nên một xác thịt’ (Gen 2:24) – đang càng ngày càng trở nên suy yếu, hết mọi mẫu liên kết dường như là những gì hoàn toàn bình thường – chúng tiêu biểu cho một thứ luân lý tổng quan bất biệt phân và là một hình thức tự do hợp với con người.
Tất nhiên, theo đó, tính cách bất khả phân ly của hôn nhân đã trở thành hầu như là một ý nghĩ không tưởng, bị nhiều nhân vật trong quần chúng thực sự dường như phủ nhận. Bởi thế mà cả gia đình thậm chí cũng dần dần bị tan rã.
Dĩ nhiên là có nhiều thứ giải thích cho vấn đề giảm sút ghê gớm nơi mức sinh sản, thế nhưng chắc chắn đóng một vai trò quyết liệt trong vấn đề này là sự kiện con người muốn hoan hưởng cuộc đời, là sự kiện họ ít tin tưởng vào tương lai và họ cảm thấy gia đình không còn tồn tại như là một cộng đồng lâu dài cho các thế hệ tương lai có thể phát triển.
Thế nên, trong những bối cảnh ấy, việc loan báo của chúng ta đụng độ với một ý thức thực sự phản nghịch lại xã hội và với một thứ phản luân lý theo quan niệm tự do được coi như là chức năng được quyền tự động chọn lựa chẳng cần gì đến những hướng dẫn được ấn định trước cả, bất chấp, từ đó đi tới chỗ khả chấp đối với tất cả những gì là khả dĩ.
Bởi vậy, nó tự động cho mình là đúng về đạo lý, nhưng thứ nhận thức khác vẫn không bị biến mất. Nó vẫn còn đó, và tôi tin rằng chúng ta cần phải dấn thân để tái liên kết hai lãnh vực này của luân lý và làm sáng tỏ vấn đề là chúng cần phải được liên kết với nhau bất khả phân ly.
Chỉ khi nào sự sống con người từ khi được thụ thai đến lúc tự nhiên qua đi được tôn trọng thì đạo lý về hòa bình mới khả dĩ và khả tín; chỉ cho tới lúc ấy vấn đề phi bạo lực mới được thể hiện ở mọi chiều kích, chỉ cho tới bấy giờ chúng ta mới có thể thực sự chấp nhận tạo vật và chỉ tới bấy giờ chúng ta mới đạt được công lý đích thực.
Tôi nghĩ rằng đó là một công cuộc cao cả trước mắt chún g ta: một đàng vừa không làm cho Kitô Giáo dường như trở thành thuần luân lý, mà là một tặng ân nhờ đó chún g ta có được một tình yêu nâng đỡ chún g ta và cống hiến cho chúng ta sức mạnh cần thiết để có thể ‘mất sự sống mình’. Mặt khác, trong bối cảnh của một tình yêu tự nguyện trao ban, chúng ta cần tiến tới với những đường lối đem ra thực hành, luôn đặt trên nền tảng Bản Thập Giới là những gì ngày nay chúng ta cần phải dẫn giải với Chúa Kitô và với Giáo Hội một cách tiến bộ và mới mẻ.
Bởi vậy, những đề tài tôi nghĩ tôi cần phải và có thể diễn giải là như thế. Tôi xin cám ơn lòng quảng đại và sự nhẫn nại của chư huynh. Chúng ta hy vọng Chúa sẽ giúp tất cả chúng ta tron g cuộc hành trình của chúng ta!
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,
chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh Vatican
“Khoa học không thể nào thay thế được triết học và mạc khải, trong việc cung cấp một giải đáp trọn vẹn cho những vấn nạn sâu xa nhất của con người”
ĐTC Biển Đức XVI với Đại Hội thường nên của Giáo Hoàng Hàn Lâm Viện Các Khoa Học ngày 6/11/2006
Thưa Quí Vị Giám Mục,
Thưa Quí Tôn Vị Nữ Nam,
Tôi hân hoan gửi lời chào đến các phần tử của Giáo Hoàng Hàn Lâm Viện Các Khoa Học nhân dịp Đại Hội thường niên, và tôi xin cám ơn Giáo Sư Nicola Babibbo về những lời lẽ tốt đẹp ngỏ lời chào tôi thay cho quí vị. Đề tài cho cuộc họp của quí vị – ‘Khả Năng Dự Đoán nơi Khoa Học: Vấn Đề Chính Xác và Những Giới Hạn” – là những gì bàn tới một phẩm chất chuyên biệt của khoa học tân tiến. Thật vậy, khả năng dự đoán là một trong những lý do chính đối với thế giá của khoa học trong xã hội hiện đại. Việc thiết lập phương pháp khoa học đã cống hiến cho các khoa học khả năng dự đoán các hiện tượng xẩy ra, nghiên cứu diễn tiễn của các hiện tượng đó, nhờ đó kiểm soát được môi trường con người sống động.
‘Vấn đề tiến bộ’ đang gia tăng này của khoa học, đặc biệt là khả năng của nó trong việc làm chủ thiên nhiên tạo vật bằng kỹ thuật, có những lúc đã dính dáng tới một ‘cuộc thoái lui’ tương ứng của triết học, của tôn giáo, và thậm chí của cả đức tin Kitô Giáo. Thật vậy, có một số người đã thấy nơi việc tiến bộ này của khoa học và kỹ thuật tân tiến một trong những lý do chính cho tình trạng tục hóa và duy vật chủ nghĩa: tại sao lại cần đến vấn đề khẩn cầu cùng Thiên Chúa để làm chủ những hiện tượng ấy trong lúc khoa học cho thấy nó có thể làm được điều ấy chứ? Thật sự là Giáo Hội nhìn nhận rằng ‘nhờ khoa học và kỹ thuật hỗ trợ…, con người đã nới rộng việc làm chủ của mình trên hầu như toàn thể thiên nhiên tạo vật’, bởi đó mà giờ đây con người, bằng hoạt động của mình, đang làm phát sinh ra những lợi ích từng được họ tìm kiếm từ các quyền lực trên cao’ (Gaudium et Spes, 33). Kitô Giáo cũng đồng thời không chấp nhận là có một cuộc xung khắc bất khả tránh giữa đức tin siêu nhiên và tiến bộ khoa học. Ngay chính ở khởi điểm của mạc khải Thánh Kinh đó là việc khẳng định rằng Thiên Chúa đã tạo dựng nên con người, phú bẩm cho họ trí khôn, và đặt họ trên tất cả mọi tạo vật trên trần gian này. Nhờ đó, con người đã trở thành một quản viên của thiên nhiên tạo vật và là ‘một phụ giúp viên’ của Thiên Chúa. Nếu chúng ta nghĩ, chẳng hạn, về cách thức làm thế nào khoa học tân tiến, nhờ biết dự đoàn các hiện tượng thiên nhiên, đã góp phần vào việc bảo vệ môi trường, vào vấn đề tiến bộ của những quốc gia phát triển, vào việc chiến đấu chống lại các thứ dịch bệnh, và vào việc gia tăng tuổi thọ cho sự sống con người, thì mới thấy rõ là không có gì là xung khắc giữa việc Thiên Chúa quan phòng với công việc thực hiện của nhân loại cả. Đúng vậy, chúng ta có thể nói rằng công việc dự đoán, kiểm soát và quản trị thiên nhiên vạn vật, những gì khoa học ngày nay thực hiện một cách cụ thể hơn trong quá khứ, tự nó thuộc về dự án của Đấng Hóa Công.
Tuy nhiên, khoa học, trong khi cống hiến dồi dào như thế, cũng chỉ cống hiến được những gì theo mục đích của nó thôi. Con người không thể nào tin tưởng một cách sâu xa và tuyệt đối vào khoa học và kỹ thuật đến nỗi tin tưởng rằng việc tiến bộ của khoa học và kỹ thuật có thể giải thích được hết mọi sự và có thể làm hoàn toàn mãn nguyện tất cả mọi nhu cầu hiện hữu và tâm linh. Khoa học không thể nào thay thế được triết học và mạc khải, trong việc cung cấp một giải đáp trọn vẹn cho những vấn nạn sâu xa nhất của con người: những vấn nạn về ý nghĩa của sự sống và sự chết, về những giá trị tối hậu, và về bản chất của chính vấn đề tiến bộ. Đó là lý do Công Đồng Chung Vaticanô II, sau khi nhìn nhận các thứ lợi ích đạt được từ những tiến b ộ của khoa học, đã vạch ra rằng ‘có thể lầm lẫn coi các phương pháp tìm cầu nghiên cứu của khoa học như là qui chuẩn tối hậu trong việc đạt tới sự thật’, rồi thêm: ‘thật là nguy hiểm khi con người, tin tưởng thái quá vào những khám phá ngày nay, nghĩ rằng họ đầy đủ rồi, không cần tìm kiếm những giá trị cao hơn nữa’ (cùng nguồn, đoạn 57).
"Khả năng của khoa học trong việc dự đoán và kiểm soát không bao giờ được sử dụng để chống lại sự sống của con người và phầm giá của sự sống này"
Khả năng dự đoán của khoa học cũng khơi lên vấn đề về những trách nhiệm đạo lý của thành phần khoa học gia nữa. Những khẳng định của họ cần phải được chi phối bởi việc tôn trọng chân lý cũng như bởi việc chân thành nhìn nhận cả sự chính xác lẫn những giới hạn bất khả tránh của phương pháp khoa học. Quả thực thì điều này có nghĩa là tránh đi những tiên đoán báo động không cần, khi những tiên đoán ấy không được căn cứ vào các dữ kiện đầy đủ hoặc vượt quá khả năng thực sự của khoa học trong việc tiên đoán. Thế nhưng, nó cũng có nghĩa là tránh đi những gì nghịch lại, tức là vấn đề giữ im lặng, bởi hãi sợ, trước những vấn đề đích thực. Tầm mức ảnh hưởng của các khoa học gia trong việc hình thành dư luận quần chúng căn cứ vào kiến thức của họ là những gì hết sức quan trọng không được coi thường vì sự vội vàng không đúng lúc hay vì muốn trở thành nổi nang trong quần chúng. Vị tiền nhiệm của tôi là Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II có lần đã nhận định: ‘Các khoa học gia, chính vì họ biết hơn mà họ được kêu gọi phục vụ hơn. Vì quyền tự do được nghiên cứu đã giúp họ có được một kiến thức chuyên biệt hóa mà họ cần phải có trách nhiệm trong việc sử dụng kiến thức ấy một cách khôn ngoan cho thiện ích của toàn thể gia đình nhân loại’ (Address to the Pontifical Academy of Sciences, 11 November 2002).
Quí Hàn Lâm Viên thân mến, thế giới của chúng ta tiếp tục nhìn vào quí vị và đồng nghiệp của quí vị để hiểu rõ hơn những thành quả khả dĩ nơi nhiều hiện tượng thiên nhiên quan trọng. Chẳng hạn, tôi nghĩ đến những thứ đe dọa liên tục xẩy đến cho môi trường đang ảnh hưởng tới toàn thể các dân tộc, và nhu cầu khẩn trương trong việc khám phá ra những nguồn năng lượng thay thế an toàn thuận lợi cho tất cả mọi người. Các khoa học gia sẽ tìm được sự ủng hộ của Giáo Hội nơi nỗ lực của họ trong việc đương đầu với những vấn đề ấy, vì Giáo Hội đã lãnh nhận từ vị sáng lập thần linh của mình công việc hướng dẫn lương tâm con người tới sự thiện hảo, kết đoàn và bình an. Chính vì lý do đó Giáo Hội cảm thấy có nhiệm vụ buộc phải nhấn mạnh rằng khả năng của khoa học trong việc dự đoán và kiểm soát không bao giờ được sử dụng để chống lại sự sống của con người và phầm giá của sự sống này, song bao giờ cũng phải phục vụ sự sống ấy, phục vụ thế hệ hiện nay cũng như những thế hệ mai sau.
Còn một ý nghĩ cuối cùng được chủ đề của Hội Nghị quí vị gợi lên cho chúng ta hôm nay. Như một số báo chí xuất hiện trong mấy ngày vừa rồi đã nhấn mạnh, đó là chính phương pháp khoa học, trong việc thu thập các dữ kiện cũng như trong việc coi xét cùng sử dụng những dữ kiện ấy cho những dự phóng, là những gì vốn có những giới hạn, khiến cho khả năng tiên đoán của khoa học thực sự bị hẹp lại đối với những phạm vi và đường lối riêng biệt. Bởi thế, khoa học không thể cho rằng mình có thể thực hiện được một cuộc trình bày hoàn toàn dứt khoát về tương lai của chúng ta cũng như về tình trạng diễn tiến của mọi hiện tượng được nó nghiên cứu. Triết học và thần học có thể góp phần quan trọng cho vấn đề bản thể học trọng yếu này, chẳng hạn, khi giúp cho những khoa học thực nghiệm thấy được sự khác biệt giữa cái bất lực của toán học trong việc tiên đoán một số biến cố với cái hiệu lực của nguyên tắc nhân quả, hay giữa cái bất định hoặc ngẫu nhiên theo khoa học với cái nhân quả ở lãnh vực triết lý, hoặc sâu xa hơn nữa, giữa cái tiến hóa được coi như là nguồn gốc của một chuỗi nối tiếp trong không gian và thời gian, với việc tạo dựng là nguồn gốc tối hậu của thứ hữu thể dự phần nơi Hữu Thể tất yếu.
Đồng thời cũng có một tầm mức cao hơn thực sự trổi vượt trên tất cả mọi dự đoán của khoa học, tức là thế giới tự do của con người và lịch sử. Trong khi các thứ vũ trụ về thể lý có những diễn tiến về thời không thì chỉ có nhân loại, theo nghĩa hẹp, là có lịch sử, một thứ lịch sử về quyền tự do của nhân loại. Tự do, như lý trí, là một yếu tố quí báu của hình ảnh Thiên Chúa nơi chúng ta, và nó không bao giờ có thể bị phân tích một cách dứt khoát nổi. Cần phải nhìn nhận và tôn trọng chiều kích siêu việt của nó đối với thế giới vật chất, vì nó là dấu hiệu cho thấy nhân phẩm của chúng ta. Nhân danh khả năng cho là tuyệt đối của phương pháp khoa học trong việc dự đoán, cũng như nhân danh tình trạng thế giới của con người để mà chối bỏ chiều kích siêu việt ấy sẽ đưa đến việc làm mất đi những gì là nhân bản nơi con người, và vì không nhìn nhận cái đặc thù cũng như siêu việt của mình, sẽ có nguy cơ mở đường cho việc con người khai thác mình.
Các bạn thân mến, để kết thúc những chia sẻ này, một lần nữa tôi hứa cùng các bạn là tôi hết sức chú trọng tới những hoạt động của Học Viện Tòa Thánh n ày, và hứa nguyện cầu cho các bạn cùng gia đình các bạn. Tôi xin phúc lành khôn ngoan, hoan lạc và an bình của Thiên Chúa Toàn Năng ban xuống cho tất cả các bạn.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày
6/11/2006
Huấn từ cho Giáo Hoàng Đại Học Đường Gregorian ngày 3/11/2006
(Sau 12 đoạn ngắn chào hỏi mọi người tham dự, cả những vị có chức sắc lẫn sinh viên, đặc biệt các cha Dòng Tên quản trị đại học này của các vị, thành phần ân nhân bảo trợ cho đại học, và cả ĐHY Tổng Trưởng Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo là Đại Chưởng Ấn của đại học này, ngài bắt đầu chính thức tiến vào phần huấn dụ của mình như sau:)
Tôi hân hoan được ở trong khu sân nội cung của đại học này, một khu vực tôi đã băng ngang qua lại một số lần. Tôi đặc biệt nhớ đến cuộc biện hộ luận án của linh mục Lohfink diễn ra vào thời Công Đồng Chung Vaticanô II trước sự hiện diện của nhiều vị Hồng Y cùng với những chuyên gia thấp hèn như tôi.
Tôi đặc biệt luyến nhớ đến thời gian vào năm 1972, với tư cách là Giáo Sư về Tín Lý và Lịch Sử Tín Lý ở Đại Học Regensburg, tôi đã được vị Viện Trưởng bấy giờ là linh mục Hervé Carrier, SJ, phái tới để dạy một khóa cho các sinh viên thuộc vòng hai chuyên về Tín Lý Thần Học. Tôi đã dạy một khóa về Thánh Thể Cực Thánh.
Quen thuộc với những thời điểm ấy, tôi có thể nói với anh chị em, quí Giáo Sư và Sinh Viên thân mến, rằng để nỗ lực học hỏi và giảng dạy có một ý nghĩa liên hệ với vương quốc của Thiên Chúa, cần phải được nâng đỡ bởi các thần đức. Thật vậy, đối tượng trực tiếp của các ngành khác nhau về kiến thức thần học là chính Thiên Chúa, vị Thiên Chúa đã tỏ mình ra nơi Chúa Giêsu Kitô, vị Thiên Chúa mang bộ mặt con người.
Cho dù, như trong Giáo luật và Giáo sử, đối tượng trực tiếp là Dân Chúa theo chiều kích hữu hình lịch sử của mình thế nào, thì việc phân tích sâu xa của đề tài này cũng thúc đẩy chúng ta tái chiêm ngưỡng bằng đức tin mầu nhiệm Chúa Kitô Phục Sinh. Chính Người, Đấng hiện diện trong Giáo Hội, dẫn dắt Giáo Hội băng qua giữa các biến cố của thời đại hướng tới tình trạng hoàn trọn cánh chung, một đích điểm chúng ta đã bắt đầu tiến về trong niềm hy vọng.
Tuy nhiên, biết Thiên Chúa chưa đủ. Để thực sự gặp gỡ Ngài, con người cũng cần phải mến yêu Ngài nữa. Hiểu biết trở thành yêu thương.
Việc học hỏi Thần học, Giáo luật và Giáo sử chẳng những là việc hiểu biết về những xác quyết về đức tin được công thức hóa theo lịch sử và việc áp dụng thực hành của nó, mà bao giờ cũng còn là một thứ kiến thức liên quan tới những niềm xác quyết ấy theo đức tin, đức cậy và đức mến nữa.
Chỉ có duy Thần Linh mới dò được thâm cung của Thiên Chúa (x. 1Cor 2:10); bởi vậy mà chỉ khi nào biết lắng nghe Thần Linh, con người mới có thể thấu triệt được chiều sâu của các kho tàng, khôn ngoan và kiến thức về Thiên Chúa (x Rm 11:33).
Chúng ta lắng nghe Thần Linh bằng việc nguyện cầu, khi lòng chúng ta hướng v ề việc chiêm ngắm mầu nhiệm của Thiên Chúa được mạc khải cho chúng ta nơi Người Con Giêsu Kitô, hình ảnh của Thiên Chúa vô hình (x Col 1:15), được đặt làm Thủ Lãnh Giáo Hội và là Chúa của tất cả mọi sự (x Eph 1:10; Col 1:18).
Từ nguyên thủy của mình là Viện Đại Học Rôma - Collegium Romanum, Đại Học Đường Gregorian đã nổi bật về việc nghiên cứu học hỏi triết lý và thần học. Một danh sách dài tên tuổi các triết gia và thần học gia nổi tiếng đã theo nhau giữ các chức Khoa Trưởng ở Trung Tâm hàn lâm này; chúng ta c ũng cần phải thêm vào bản danh sách này các giáo luật gia và giáo sử gia danh tiếng, thành phần đã cống hiến năng lực của mình trong các bức tường thế giá này.
Tất cả những vị ấy đã góp phần quan trọng vào việc phát triển ngành về kiến thức họ đã học hỏi, bởi đó, họ cũng đã góp phần vào việc phục vụ quí báu cho Tòa Thánh trong việc thi hàn h vai trò của Tòa Thánh v ề lãnh vực tín lý, kỷ luật và mục vụ. Qua việc tiến triển của các thời điểm, cần phải thay đổi cái nhìn.
Ngày nay, cần phải chú ý tới cái thách đố của một nền văn hóa trần tục, một nền văn hóa ở nhiều phần đất trên thế giới có khuynh hướng càng ngày càng chối bỏ chẳng những hết mọi dấu hiệu của việc Thiên Chúa hiện diện trong sinh hoạt của xã hội và của con người, mà còn, qua một vài phương tiện, những phương tiện đánh lạc hướng và làm lu mờ đi lương tâm chính trực của con người, đang nỗ lực làm tiêu hao đi khả năng con người lắng nghe Thiên Chúa nữa.
Không thể
nào không lưu ý tới mối liên hệ với các tôn giáo khác, mối liên hệ chẳng những
có tính cách xây dựng nếu nó tránh đi được tất cả những gì là mập mờ làm suy yếu
đi nội dung thiết yếu của niềm tin tưởng của Kitô Giáo vào Chúa Kitô, Đấng cứu
độ duy nhất của toàn thể nhân loại, cũng như niềm tin tưởng vào Giáo Hội, bí
tích cứu độ cần thiết để cứu độ toàn thể nhân loại.
Ở đây chúng ta không thể quên được các khoa học nhân bản khác đang được phát triển tại Đại Học Đường nổi tiếng này theo truyền thống vẻ vang về hàn lâm của viện Đại Học Rôma đây. Tất cả đều quá biết về cái thế giá lớn lao của Viện Đại Học Rôma này có được nơi các ngành Toán học, vật lý và thiên văn.
Chỉ cần nhắc lại rằng lịch “Gregorian”, một thứ lịch được gọi như thế vì nó được vị tiền nhiệm của tôi là Đức Grêgôriô XIII muốn thực hiện, và đang được sử dụng khắp thế giới, là bộ lịch được cha Christopher Clavius biên soạn vào năm 1582, một vị Giảng viên của Đại Học Đường này.
Chỉ cần đề cập tới cha Mattêô Ricci, vị đã mang đến tận Trung Hoa thứ kiến thức ngài có được như môn sinh của Clvius, chưa kể tới chứng từ đức tin của ngài.
Ngày nay, những người môn đệ trên không còn dạy ở Đại Học Grêgôriô này nữa, mà đã được thay thế bởi các khoa học nhân bản như tâm lý học, xã hội học và thông thông xã hội.
Bởi vậy, con người cần phải được hiểu biết sâu xa hơn, cả về chiều kích bản vị của họ lẫn chiều kíc h ngoại tại của họ như là một nhà kiến thiết xã hội trong công lý và hòa bình, và như một truyền đạt viên chân lý.
Không thể nào hoàn toàn hiểu được con người, cả trong nội tại cũng như ngoại diện, nếu họ không hướng về siêu việt thể. Không biết qui chiếu vào Thiên Chúa, con người không thể giải đáp những vấn nạn nồng cốt đang làm day dứt và mãi làm khắc khoải tâm can của họ liên quan tới cùng đích của cuộc đời họ và ví thế liên quan tới ý nghĩa cuộc sống của họ.
Không căn cứ vào Thiên Chúa, con người không thể đáp ứng những vấn nạn trọng yếu đang làm bối rối và sẽ mãi làm bối rối tâm can của họ liên quan tới cùng đích đời sống của họ cũng là đến ý nghĩa của đời sống họ. Bởi thế, thậm chí họ không thể kết hiệp trong xã hội những thứ giá trị về đạo lý là những gì duy nhất có thể góp phần vào việc chung sống hợp với con người.
Không dựa vào Thiên Chúa thì định mệnh của con người chỉ là những gì lẻ loi sầu khổ khiến họ thất vọng mà thôi.
Chỉ khi
nào biết căn cứ vào Vị Thiên Chúa Yêu Thương, Đấng đã tỏ mình ra nơi Chúa Giêsu
Kitô, con người mới tìm thấy ý nghĩa của cuộc đời mình và mới sống trong niềm hy
vọng, bất chấp có trải qua những sự dữ làm tổn thương đến đời sống của họ và xã
hội họ sống.
Hy vọng là những gì giúp cho con người không khóa mình lại trong một thứ chủ nghĩa tuyệt mệnh tê liệt và cằn cỗi, mà là hướng về một cuộc hăng say dấn thân trong xã hội họ sống để có thể canh tân xã hội. Đó là c ông việc Thiên Chúa ủy thác cho con người khi Ngài tạo dựng nên họ theo hình ảnh Ngài và tương tự như Ngài, một công việc làm cho hết mọi người được đầy tràn phẩm vị cao cả nhất có thể, nhưng cũng kèm theo cả một trác h nhiệm lớn lao nữa.
Chính vì chiều hướng ấy mà quí vị, Giáo sư và Giảng viên của Đại Học Đường Gregorian được kêu gọi để huấn luyện sinh viên do Giáo Hội ký thác cho quí vị. Việc huấn luyện trọn vẹn cho giới trẻ đã từng là một trong những việc tông đồ của Dòng Tên từ đầu; đó là lý do tại sao Đại Học Đường Rôma đã đảm n hận sứ vụ này ngay từ đầu.
Việc ủy thác cho Dòng Tên ở Rôma, bên cạnh Tòa Thánh, Giáo Hoàng Đại Học Cao Đẳng Đức quốc, Chủng Viện Rôma, Đại Học Đại Học Cao Đẳng Đức-Hung, Đại Học Đại Học Cao Đẳng Anh quốc, Đại Học Đại Học Cao Đẳng Hy Lạp, Đại Học Đại Học Cao Đẳng Tô Cách Lan, và Đại Học Đại Học Cao Đẳng Ái Nhĩ Lan, có mục đích để bảo đẻm việc huấn luyện hàng giáo sĩ thuộc các quốc gia ấy là nơi mối hiệp nhất của đức tin và mối hiệp thông với Tòa Thánh đã bị đỗ vỡ.
Những Đại Học Cao Đẳng này vẫn còn gửi hầu hết tất cả mọi sinh viên của mình hay phần lớn trong họ đến Đại Học Đường Gregorian, để tiếp tục sứ vụ nguyên thủy ấy.
Qua giòng lịch sử, nhiều Đại Học Cao Đẳng khác đã liên kết với các Đạo Học Cao Đẳng được kể trên, làm cho công việc đang đè nặng trên vai của quí vị, hỡi quí vị Giáo sư và Giảng viên thân mến, lại càng trở thành khẩn thiết hơn bao giờ hết!
Thế nên, thật là thích hợp là sau khi đã suy nghĩ chín chắn, quí vị đã soạn thảo ra một ‘Bản Tuyên Ngôn Chủ Hướng” là những gì thiết yếu cho một tổ chức như của quí vị đây, vì nó tóm gọn bản chất và sứ vụ của nó.
Theo chiều hướng ấy, quí vị gần đi đến chỗ kết thúc việc quí vị điều chỉnh những Điều Lệ của Đại Học Đường này và của các Luật Chung, cùng với các Điều Lệ và Qui Luật của những Phân Khoa khác nhau, các Cơ Cấu và Trung Tâm khác nhau.
Điều này sẽ giúp xác định căn tính của Đại Học Đường Gregorian hơn nữa và giúp cho việc soạn thảo những chương trình học vấn xứng hợp hơn với việc hoàn thành sứ vụ của quí vị, một sứ vụ vừa dễ lại vừa khó.
Dễ vì căn tính và sứ vụ của Đại Học Đường Gregorian là những gì đã được tỏ tường ngày từ những ngày đầu tiên, theo những qui định được các vị Giáo Hoàng Rôma tái xác nhận, trong số những vị Giáo Hoàng này có 16 vị xuất thân từ đại học đây.
Nó đồng thời cũng là một sứ vụ khó khăn, vì nó bao hàm v iệc liên lỉ trung thành với lịch sử và truyền thống của mình để chẳng những không mất đi gốc gác lịch sử của nó mà còn cởi mở với thực tại hiện đại để khôn ngoan đáp ứng, sau khi cẩn thận cứu xét, với các nhu cầu của Giáo Hội và thế giới ngày nay.
Là một Giáo Hoàng Đại Học Đường của Giáo Hội, Trung Tâm hàn lâm này dấn thân ‘sentire in Ecclesia et cum Ecclesia – cảm nhận trong Giáo Hội và với Giáo Hội’. Nó là một cuộc dấn thân xuất phát từ tình yêu mến Giáo Hội, Mẹ của chúng ta và là Hiền Thê của Chúa Kitô. Chúng ta cần phải yêu mến Giáo Hội như chính Chúa Kitô mến yêu Giáo Hội, chấp nhận khổ đau trên thế gian này để hoàn tất những gì còn thiếu trong cuộc khổ nạn của Chúa Kitô trong xác thịt của chúng ta (x Col 1:24).
Nhờ đó, nó mới có thể hình thành các thế hệ linh mục mới, Tu Sĩ và giáo dân dấn thân mới. Thật thế, chúng ta chỉ cần tự hỏi mình là chúng ta muốn thứ huấn luyện như thế nào trong việc truyền đạt cho thành phần sinh viên c ủa chúng ta, cho dù là linh mục, Tu Sĩ hay giáo dân đây.
Quí vị Giáo sư và Giảng sư thân mến, dĩ nhiên là quí vị có ý muốn đào luyện các linh mục thông thái song đồng thời cũng dọn mình sống đời phục vụ tất cả mọi người Chúa ủy thác cho thừa tác vụ của họ, bằng một tấm lòng tha thiết, trong sự khiêm nhượng và bằng một đời sống khổ chế.
Như thế, quí vị có ý cống hiến một cuộc đào luyện vững chắc về tri thức cho thành phần tu sĩ nam nữ, nhờ đó họ mới có thể hân hoan sống đời tận hiến Chúa ban cho họ và cho thấy họ như là một dấu hiệu cánh chung cho cuộc sống tương lai là nơi tất cả chúng ta được kêu gọi tới.
Cũng vậy, quí vị muốn sửa soạn cho những con người nam nữ giáo dân có khả năng để thi hành những việc phục vụ và những vai trò trong Giáo Hội, trước hết và trên hết, là men của Vương Quốc Thiên Chúa trong lãnh vực trần thế.
Theo quan điểm ấy mà chính năm nay đây, viện Đại Học này đã bắt đầu một chương trình liên ngành để huấn luyện thành phần giáo dân sống ơn gọi giáo hội chuyên biệt cho việc dấn thân về đạo lý nơi đấu trường xã hội.
Tuy nhiên, anh chị em sinh viên thân mến, việc huấn luyện cũng là trách nhiệm của anh chị em nữa.
Hẳn nhiên là việc học hành đòi phải liên lỉ khổ chế và bỏ mình, thế nhưng chính vì theo đường lối ấy mà con người được huấn luyện bỏ mình và cảm thức trách vụ.
Thật vậy, những gì anh chị em học hỏi hôm nay đây là những gì anh chị em sẽ mang ra truyền đạt mai ngày, khi Giáo Hội ủy thác cho anh chị em thừa tác vụ thánh hay các việc phục vụ và vai trò khác cho lợi ích của cộng đồng. Trong tất cả mọi trường hợp, cái sẽ mang lại niềm vui cho lòng của anh chị em sẽ là kiến thức được anh chị em luôn ấp ủ bằng những ý hướng chính trực, nhờ đó người ta mới chắc chắn là mình tìm kiếm và thực hiện ý muốn của một mình Thiên Chúa mà thôi. Dĩ nhiên là tất cả những điều ấy đòi hỏi một cuộc thanh tẩy tâm hồn và nhận thức.
Hỡi những người con của Thánh I Nhã, một lần nữa, Giáo Hoàng ủy thác cho anh em viện Đại Học này, một đại học quan trọng đối với Giáo Hội hoàn vũ cũng như đối với nhiều Giáo Hội riêng. Nó bao giờ cũng là một ưu tiên trên hết của các hoạt động tông đồ của Dòng Tên. Chính trong môi trường đại học ở Balê mà Thánh I Nhã thành Loyola và những đồng bạn đầu tiên của ngài đã nẩy ra ước vọng thiết tha muốn giúp cho các linh hồn biết mến yêu và phụng sự Thiên Chúa trong tất cả mọi sự cho vinh quang Ngài hơn.
Được thúc đẩy bởi những tác động Thần Linh trong nội tâm, Thánh I Nhã đã đến Rôma, trung tâm điểm của Kitô Giáo, Tòa Thánh của Vị Thừa Kế Thánh Phêrô, để thành lập Đại Học Rôma ở đây, Việc Đại Học đầu tiên của Dòng Tên.
Ngày nay, Viện Đại Học Gregorian là một môi trường đại học mà, cho dù sau 456 năm, ước vọng của Thánh I Nhã cũng như của các đồng bạn Thánh nhân trong việc giúp cho các linh hồn mến yêu và phụng sự Thiên Chúa trong tất cả mọi sự để Ngài được hiển vinh hơn đang được nên trọn.
Tôi muốn nói rằng, ở nơi đây, trong những bức tường này, đã đạt được những gì Đức Giáo Hoàng Julius III đã nói vào ngày 20/7/1550 trong ‘formula Istituti’, khi ấn định rằng hết mọi phần tử của Dòng Tên buộc phải ‘sub crucis vexillo Deo militare, et soli Domino ac Ecclesiae Ipsius sponsae, sub Romano Pontifice, Christi in terris Vicario, servire", committing himself "potissimum... ad fidei defensionem et propagationem, et profectum animarum in vita et doctrina christiana, per publicas praedicationes, lectiones et aliud quodcumque verbi Dei ministerium ...’ (Apostolic Letter "Exposcit Debitum," n. 1).
Cái chuyên tính đặc sủng này của Dòng Tên, được thể hiện theo qui chế nơi lời khấn thứ 4 liên quan tới việc hoàn toàn tuân phục Giáo Hoàng Rôma trong hết mọi sự mà ngài thấy cần phải truyền khiến "ad profectum animarum et fidei propagationem" (ibid., n. 3), cũng được hiển nhiên nơi sự kiện là vị Bề Trên Tổng Quyền của Dòng Chúa Giêsu còn có thể triệu tập từ khắp nơi trên thế giới các tu sĩ dòng xứng hợp nhất để thi hành công việc giảng dạy tại viện Đại Học này.
Biết rằng điều này có thể bao gồm cả việc hy sinh những hoạt động và việc phục vụ khác trong việc đạt tới những mục tiêu rộng lớn hơn được Dòng Tên đề ra, Giáo Hội hết sức biết ơn dòng này và mong muốn Đại Học Gregorian đây bảo trì được tinh thần Thánh I Nhã là những gì làm nó phát triển, được thể hiện nơi phương pháp và học trình sư phạm của nó.
Các bạn thân mến, bằng lòng cảm mến thân phụ, tôi xin ủy thác tất cả anh chị em, thành phần là những viên đá sống của Viện Đại Học Gregorian – các vị Giáo sư và Giảng sư, các sinh viên, nhân viên không giảng dạy, những vị ân nhân và thân hữu – cho việc chuyển cầu của Thánh I Nhã thành Loyola, Thánh Robert Bellarmine và Đức Trinh Nữ Maria, Nữ Vương Dòng Tên, vị được ám chỉ tới nơi huy hiệu cầu vai của Đại Học này tước hiệu ‘Sedes Sapientiae’.
Với những cảm thức ấy, tôi ban Phép Lành Tòa Thánh như một bảo chứng của dồi dào ơn trời.
Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch từ mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh
"Thiên Chúa là sự thật tối hậu mà tất cả mọi tâm trí tự nhiên hướng tới, một sự thật lôi kéo ước vọng muốn hoàn toàn thực hiện trọn vẹn cuộc hành trình hướng về nó"
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI viếng thăm và huấn dụ ở Đại Học Đường Tòa Thánh Laterano dịp bắt đầu Năm Học mới 21/10/2006
(Lời chào ứng khẩu mở đầu:)
Tôi lấy làm sung sướng được ở Viện Đại Học “của tôi” đây, vì đây là Viện Đại Học của Vị Giám Mục Rôma. Tôi biết rằng sự thật được tìm kiếm ở chỗ này, mà vì thế cuối cùng là Chúa Kitô được tìm kiếm, vì bản thân Người là Sự Thật. Cuộc hành trình hướng về sự thật này – việc cố gắng hiểu biết sự thật hơn nơi tất cả mọi hình thức diễn đạt của nó – thực sự là công việc phục vụ quan trọng của Giáo Hội.
Một đại thần học gia người Bỉ đã viết một cuốn sách mang tựa đề “Lòng Yêu Nghệ Thuật và Ước Vọng Thiên Chúa”, đã cho thấy rằng theo truyền thống đan viện có hai điều đi với nhau, vì Thiên Chúa là Lời, nói với chúng ta qua Thánh Kinh. Bởi thế, vấn đề ở đây là chúng ta bắt đầu đọc, bắt đầu học và đào sâu kiến thức về Nghệ Thuật nhờ đó mà chúng ta đào sâu kiến thức của chúng ta về Lời.
Theo chiều hướng đó, việc khai trương một Thư Viện vừa là một biến cố hàn lâm đại học vừa là một biến cố tu đức thần học, chính vì nhờ đọc trong cuộc hành trình hướng về sự thật, nhờ học những lời lẽ trong việc tìm Lời, mà chúng ta thực hiện việc phục vụ Chúa, một việc phục vụ Phúc Âm cho thế giới, vì thế giới cần đến sự thật. Không có vấn đề tự do thiếu sự thật được; bằng không chúng ta không hoàn toàn sống hòa hợp với dự án nguyên thủy của Đấng Hóa Công.
Cám ơn hoạt động của anh chị em! Xin Thiên Chúa chúc lành cho anh chị em trong Năm Học này.
(Huấn từ chính thức sau đó:)
Quí Đức Hồng Y,
Chư Huynh khả kính trong hàng Giáo Phẩm và Linh Mục,
Quí Tôn Vị Nữ Nam,
Quí Sinh Viên rất thân mến,
Tôi đặc biệt lấy làm hân hoan được chia sẻ với anh chị em vào lúc mở màn cho Năm Học này, một thời điểm trùng hợp với việc long trọng khánh thành một Thư Viện mới và Giảng Đường mới này.
Tôi xin cám ơn Vị Đại Chưởng Ấn là Đức Hồng Y Camillo Ruini về những lời lẽ đón mừng được ngài đại diện anh chị em ân cần ngỏ cùng tôi.
Tôi xin chào vị Viện Trưởng Đại Học này là Đức Giám Mục Rino Fisichella, và xin cám ơn ngài về bài ngài nói để mở màn cho biến cố trọng thể về hàn lâm này.
Tôi xin chào các vị Hồng Y, Tổng Giám Mục và Giám Mục, các vị Thẩm Quyền về Hàn Lâm cũng như toàn thể các vị Giáo Sư, cùng tất cả những ai hoạt động trong viện Đại Học này. Và tôi quí mến chào tất cả mọi sinh viên, vì Đại Học đường này được kiến tạo nên cho họ.
Tôi nhớ lại cuộc tôi mãn nguyện Viếng Thăm Đại Học Latêranô lần trước của mình, và nếu không quá giờ, tôi muốn tiếp tục đề tài bấy giờ đang được bàn luận, hầu như chúng ta đã bị gián đoạn chỉ vì mấy giây đồng hồ.
Một môi trường như môi trường hàn lâm này là những gì đặc biệt mời gọi chúng ta hãy tái tiến vào đề tài về cuộc khủng hoảng văn hóa và căn tính, một cuộc khủng hoảng mà trong những thập niên này đã hiện lên một cách thê thảm ngay trước mắt chúng ta.
Đại Học Đường này là một trong những nơi chốn tốt nhất để cố gắng tìm kiếm những đường lối thích thuận để thoát khỏi tình trạng này. Thật thế, nơi Đại Học đây, cái phong phú về truyền thống vẫn còn tồn tại qua các thế kỷ là những gì đang được bảo tồn – và đặc biệt Thư Viện là một phương tiện thiết yếu để bảo toàn cái phong phú ấy của truyền thống – nơi đại học này, và có thể nói rõ hơn, nơi tính cách phong phú của sự thật, khi sự thật được đón nhận ở những gì xác thực của nó bằng một tâm hồn chân thành và cởi mở.
Ở Viện Đại Học này, các thế hệ trẻ được hình thành, thành phần mong chờ một chương trình nghiêm cẩn gắt gao có khả năng đáp ứng trong những môi trường mới cái vấn nạn lưu tồn về ý nghĩa của cuộc sống chúng ta. Không được làm thất vọng niềm mong đợi này.
Môi trường hiện đại dường như đặt ưu tiên cho một thứ lý trí nhân tạo càng ngày càng bị chi phối bởi những thứ kỹ thuật thực nghiệm, bởi đó quên đi rằng tất cả mọi khoa học bao giờ cũng cần phải là những gì bảo toàn con người và cổ võ ước vọng của họ đối với sự thiện chân thực.
Việc đặt nặng “cái làm”, bằng cách gây lu mờ đi “cái là”, không giúp gì vào việc tái tạo mức quân bình trọng yếu cần thiết cho mọi người để cống hiến cuộc sống của họ một nền tảng chắc chắn và một mục đích vững vàng.
Thật vậy, hết mọi người được kêu gọi để hiến cho những hoạt động của mình cái ý nghĩa, nhất là khi cái ý nghĩa ấy liên quan tới quan điểm của một thứ khám phá khoa học làm suy yếu đi chính yếu tính của cuộc sống cá nhân.
Việc để cho mình bị lôi kéo bởi cái hoan hưởng khám phá mà không biết bảo toàn những qui chuẩn xuất phát từ một nhãn quan sâu xa hơn sẽ dễ dàng trở thành một thảm kịch được một huyền thoại xưa nói tới, đó là Young Icarus, hồ hởi trước cuộc bay đến cõi tuyệt đối tự do, không thèm nghe lời cảnh báo của người cha già của mình là Deadalus, đã bay gần đến mặt trời hơn bao giờ hết, quên đi rằng những cánh anh ta dùng để bay trên bầu trời được làm bằng sáp. Việc anh ta rơi xuống chết đi một cách dữ dội là cái giá phải trả cho cái ảo tưởng của anh ta vậy.
Câu truyện ngụ ngôn cổ tích này chất chứa một bài học mãi mãi đáng giá. Trong cuộc sống có những thứ ảo tưởng khác người ta không thể nào tin tưởng mà lại không liều mình gặp phải những hậu quả thảm khốc cho chính cuộc sống của bản thân cũng như của người khác.
Vị giáo sư đại học có nhiệm vụ chẳng những truy tầm sự thật và làm gợi lên cái kỳ diệu vĩnh tại của nó, mà còn nuôi dưỡng kiến thức về nó ở mọi phương diện, cùng bênh vực nó khỏi bị những giải thích giảm thiểu và méo mó.
Để làm cho đề tài về sự thật trở thành chính yếu thì không phải chỉ là một tác động suy đoán, bị hạn hẹp vào lãnh vực nhỏ bé của các tư tưởng gia; trái lại, nó là một vấn đề sống còn để cống hiến một cái căn tính sâu xa hơn nữa cho cuộc sống cá nhân và đề cao trách nhiệm nơi các mối liên hệ về xã hội (x Eph 4:25).
Thật vậy, nếu con người bỏ qua vấn đề về sự thật và cơ hội cụ thể để có thể đạt được sự thật thì đời sống của họ cuối cùng bị trở thành một thứ thừa thãi theo đủ loại giả định, không còn gì là bảo đảm vững chắc và căn cứ nữa.
Nhà nhân bản danh tiếng Erasmus có lần đã nói: “Các ý nghĩ vu vơ nông cạn là nguồn mạch của một thứ hạnh phúc rẻ mạt! Để hiểu được yếu tính thực sự của các sự vật thì cần phải thực hiện nhiều nỗ lực, cho dù có coi các sự vật chẳng quan trọng mấy đi chăng nữa” (cf. "The Praise of Folly," XL, VII).
Chính vì nỗ lực này mà Viện Đại Học đây cần phải dấn thân hoàn thành; nó cần phải theo đuổi bằng việc học hỏi và nghiên cứu trong một tinh thần kiên trì nhẫn nại. Tuy nhiên, nỗ lực này lại là những gì giúp cho con người có thể từ từ tiến vào tâm điểm của những vấn đề và hướng tới việc đam mê sự thật cũng như tới niềm vui tìm thấy được sự thật.
Những lời lẽ của vị thánh Giám Mục Anselmô ở Aosta vẫn là những gì hoàn toàn hiện đại, đó là: “Ta có thể tìm kiếm ngươi khi mong muốn ngươi, ta có thể mong muốn ngươi khi tìm kiếm ngươi, ta có thể tìm thấy ngươi khi mộ mến ngươi, và khi mộ mến ngươi ta lại tìm thấy ngươi” (cf. "Proslogion," 1).
Chớ gì khoảng trống của việc thinh lặng và chiêm ngắm, những gì là bối cảnh bất khả thiếu để tập trung những vấn đề do tâm trí khơi lên, tìm thấy trong những bức tường đại học này những con người ân cần biết trân quí tầm quan trọng, tính cách hiệu năng cùng với các thành quả đối với cuộc sống cá nhân cũng như xã hội.
Thiên Chúa là sự thật tối hậu mà tất cả mọi tâm trí tự nhiên hướng tới, một sự thật lôi kéo ước vọng muốn hoàn toàn thực hiện trọn vẹn cuộc hành trình hướng về nó. Thiên Chúa không phải là một lời trống rỗng hay một giả định trừu tượng, trái lại, Ngài là nền tảng cần thiết cho việc xây dựng cuộc sống của con người.
Việc sống trong một thế giới ‘veluti si Deus daretur’ là những gì cần đến việc đảm nhận một thứ trách nhiệm biết quan tâm tới vấn đề truy tìm hết mọi đường lối khả dĩ hầu có thể tiến gần đến với Ngài bao nhiêu có thể, Đấng là đích điểm mà tất cả mọi sự hướng về (x 1Cor 15:24).
Thành phần tín hữu biết rằng vị Thiên Chúa này có một Dung Nhan, và Ngài đã một lần vĩnh viễn đến gần với mỗi một người qua Chúa Giêsu Kitô.
Công Đồng Chung Vaticanô II đã sâu xa nhắc nhở điều này như sau: ‘Vì, nhờ việc nhập thể, Đấng là Người Con Thiên Chúa, một cách nào đó, đã liên kết bản thân mình với từng người. Người đã làm việc với bàn tay của con người, Người đã suy nghĩ bằng trí khôn của con người. Người đã hành động với ý muốn của con người, và Người đã yêu thương bằng con tim của con người. Được hạ sinh bởi Trinh Nữ Maria, Người đã thực sự trở thành một người trong chúng ta, giống như chúng ta trong tất cả mọi sự ngoại trừ tội lỗi’ ("Gaudium et Spes," n. 22). Việc nhận biết Người là việc nhận biết tất cả sự thật, một sự thật nhờ đó con người mới có thể tìm thấy tự do: ‘Các người sẽ nhận biết chân lý, và chân lý sẽ giải thoát các người’ (Jn 8:32).
Trước khi kết thúc, tôi muốn bày tỏ lòng sâu xa cảm nhận của tôi đối với việc kiến thiết khu tòa nhà mới này để hoàn thành tốt đẹp cấu trúc viện đại học đây, làm cho nó xứng hợp hơn cho vấn đề học hỏi, nghiên cứu và tính cách sinh động nơi đời sống của toàn cộng đồng đại học này.
Anh chị em muốn dâng hiến Giảng Đường này cho con người tầm thường của tôi. Tôi cám ơn về ý nghĩ của anh chị em; tôi hy vọng rằng nó có thể trở thành một trung tâm lợi ích cho hoạt động khoa học, nhờ đó Viện Đại Học Latêranô có thể phục vụ như là một dụng cụ cho vấn đề trao đổi tốt đẹp giữa những thực tại khác nhau về tôn giáo và văn hóa, trong việc cùng tìm kiếm những đường lối hướng về sự thiện và tôn trọng tất cả mọi sự.
Với những niềm cảm mến ấy, khi xin Chúa ban tràn đầy ánh sáng của Ngài cho chốn này, tôi xin phó thác cuộc hành trình của Năm Học đây cho việc bảo hộ của Rất Thánh Trinh Nữ, và tôi thân ái ban Phép Lành Tòa Thánh cho tất cả mọi người.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 6/11/2006
“Thành Phần Chứng Nhân của Chúa Kitô Phục Sinh là Niềm Hy Vọng cho Thế Giới”
ĐTC Biển Đức XVI: Huấn Từ cho Công Nghị Toàn Ý Quốc Về Giáo Hội Lần 4 ở Trung Tâm Triển Lãm Verona 19/10/2006
Anh chị em thân mến,
Hôm nay tôi rất vui được hiện diện với quý vị tại thành phố Verona xinh đẹp và đầy tính lịch sử, để tích cực tham dự vào Hội nghị toàn quốc về Giáo hội tại Ý đại lợi lần thứ tư. Tôi xin gởi đến tất cả quý vị lời chào thân thiết trong Chúa.
Tôi xin cám ơn Đức hồng y Camillo Ruini, Chủ tịch Hội đồng Giám mục, và bác sỹ Giovanna Girlanda, đại diện Giáo phận Verona, đã thay mặt toàn thể quý vị có những lời chào đón nồng nhiệt đến tôi cũng như đã có bài tóm lược về diễn tiến của Hội nghị.
Tôi xin cám ơn Đức hồng y Dionigi Tettamanzi, Chủ tịch Ban chuẩn bị, và tất cả những ai đã làm việc để thực hiện chương trình. Tôi xin chân thành cám ơn từng người ở đây, qua sự hài hòa êm đềm, đại diện cho các thành phần của Giáo hội Ý đại lợi: Đức giám mục giáo phận Verona Flavio Roberto Carraro, là người tiếp đón chúng ta; các Đức giám mục, linh mục và phó tế, các tu sĩ nam nữ, và quý vị giáo dân là những người nói lên thực trạng của giáo dân Công giáo tại Ý.
Cuộc hội nghị lần thứ 4 là một bước tiến mới trên con đường thực hiện những chỉ đạo của Công đồng Vatican II, mà Giáo hội Ý đã thi hành từ những năm ngay sau khi Công đồng diễn ra.
Trước tiên, đây là một con đường hiệp thông với Chúa Cha và với Con Một Ngài là Chúa Giêsu Kitô, trong Chúa Thánh Thần, và vì thế hiệp thông giữa chúng ta trong sự kết hợp với Thân thể Đức Kitô (x. 1 Jn 1,3; I Cor 12,12-13). Đây là con đường hướng đến sự truyền bá để làm cho đức tin sống động và mạnh mẽ trong Dân tộc Ý. Vì thế đây là một lời chứng trung kiên về tình yêu đối với nước Ý và sự thanh bình năng động để mang lại hữu ích cho những người con của quốc gia này.
Cuộc hành trình của Giáo hội Ý đã diễn tiến trong sự kết hợp liên tục và chặt chẻ với vị Thừa tự thánh Phêrô: Tôi hân hạnh được nhắc lại với quý vị về Người Tôi tớ Chúa là ĐTC Phaolô VI, người đã khởi xướng cuộc hội nghị đầu tiên vào năm 1976, và ĐTC Gioan Phaolô II đã trình bày các Điều chia sẻ căn bản của ngài tại Cuộc hội nghị ở Loreto và Palermo; những điều này đã tăng cường lòng tự tin của Giáo hội Ý để phấn đấu hầu đức tin vào Chúa Giêsu Kitô tiếp tục mang lại cho những người thời nay sự giác ngộ và sự định hướng về sự hiện hữu [của con người]; vì thế ngài đã đóng “vai trò dẫn đầu và năng lực thu hút hiệu quả” trong cuộc hành trình của Nước này đi đến tương lai (x. Bài diễn văn tại cuộc hội ngộ với Giáo hội Ý tại Loreto, ngày 11 tháng 4 năm 1985; L’Osservatore Romano, bản tiếng Anh, ngày 6 tháng 5, tr. 5).
Chúa Kitô Phục Sinh: Tâm điểm của đời sống
Cũng trong tinh thần này tôi đến Verona hôm nay để cùng với quý vị cầu nguyện và chia sẻ, tuy hơi ngắn ngủi, công việc của những ngày này, và trình bày với quý vị lời suy niệm của tôi về điều xem như là ưu tiên đối với sự hiện diện của Kitô giáo tại nước Ý.
Quý vị đã có một sự lựa chọn thích đáng khi đặt Chúa Kitô Phục Sinh vào tâm điểm của Hội nghị, cũng như vào tất cả đời sống và sự nhân chứng của Giáo hội tại Ý. Sự phục sinh của Đức Kitô là một sự kiện lịch sử, được các Tông đồ chứng kiến chứ không phải chế tạo ra. Đồng thời, đây không đơn thuần là một sự trở lại với đời sống trên trái đất, nhưng là một sự “đột biến” vĩ đại nhất đã xảy ra, một “cú nhảy vọt” quyết liệt hướng tới một chiều kích vô cùng mới mẻ của cuộc sống, đi vào một trật tự hoàn toàn khác biệt mà chú trọng trên hết là Đức Giêsu thành Nazarét, và với Ngài là chúng ta, gia đình nhân loại, lịch sử, và hết thảy vũ trụ.
Đó là lý do tại sao sự Phục Sinh của Đức Kitô là tâm đểm của sự rao giảng và làm chứng của người Kitô giáo từ khởi đầu cho đến tận thế. Đây thực sự là một mầu nhiệm vĩ đại, mầu nhiệm cứu chuộc được kiện toàn trong sự Phục Sinh của Ngôi Lời Nhập Thể, một cuộc phục sinh báo hiệu và bảo đảm niềm hy vọng của chúng ta. Nhưng dấu ấn của mầu nhiệm này là tình yêu, và chỉ trong lý lẽ của tình yêu mới có thể chạm tới và thấu hiểu được điều này: Chúa Giêsu Kitô sống lại từ cõi chết, bởi vì tất cả bản thân Ngài được kết hợp một cách mật thiết và trọn vẹn với Thiên Chúa là tình yêu, một tình yêu mãnh liệt hơn sự chết.
Ngài mang một Sự Sống không thể bị hủy diệt và vì thế, Ngài có thể dâng hiến sự sống mình, để mình bị giết đi, nhưng Ngài không thể hoàn toàn thua sự chết: trong bữa tiệc ly Ngài đã vì tình yêu cụ thể ngưỡng và đón nhận cái chết của Ngài trên thập giá, do đó biến đổi việc hiến ban sự sống của Ngài thành một món quà tặng bản thân mình, để mang lại sự sống, giải thoát, và sự cứu rỗi cho chúng ta.
Vì thế, sự Phục Sinh của Ngài trở nên như một sự bùng nổ rạng ngời, một sự bùng nổ yêu thương làm cho xiềng xích tội lỗi và chết chóc bị chặt đứt. Sự kiện này tạo nên một chiều kích sự sống và thực trạng mới, từ đó xuất hiện một thế giới mới và liên tục thấm nhập thế giới chúng ta, biến đổi nó và thu hút chúng ta vào chính Ngài.
Tất cả những điều này xảy ra một cách cụ thể nơi đời sống và việc làm chứng của Giáo hội; đúng hơn, chính Giáo hội là hoa quả đầu tiên của sự biến đổi này, là công việc của Thiên Chúa chứ không phải của chúng ta. Sự biến đổi ấy đến với chúng ta qua đức tin và Bí tích Thanh tẩy, một biến đổi thực sự là sự chết và sự phục sinh, sự tái sinh, sự biến đổi thành một đời sống mới. Đây là điều mà thánh Phaolô đã bày tỏ trong thư gởi đến cộng đoàn Galata: “Không phải là tôi sống mà là Chúa sống trong tôi” (2,20). Vì thế, căn tính chính yếu của đời sống tôi được thay đổi bởi Bí tích Thanh tẩy, và tôi chỉ tiếp tục hiện hữu trong trạng thái đã thay đổi này.
Con người riêng của tôi đã được lột bỏ và tôi được trở thành tràn đầy với một chủ thể mới và cao cả hơn, trong đó cái ‘Tôi’ của tôi vẫn còn đó những đã được biến đổi, thanh tẩy, và ‘hướng tới’ một cuộc hội nhập với ‘Cái Tôi Khác’, Đấng chiếm một chỗ đứng mới trong đời sống của tôi. Vì thế, chúng ta trở nên “một với Đức Kitô” (Gal 3,28), một chủ thể mới duy nhất, và cái “Tôi” của chúng ta được giải thoát khỏi tình trạng đơn độc của nó.
‘Tôi, nhưng không còn là Tôi’: đây là công thức của đời sống Kitô giáo được cấu tạo nơi bí tích Thanh tẩy, một công thức cho sự phục sinh trong thời gian, công thức cho ‘việc canh tân” Kitô Giáo cần thiết để biển đổi thế giới.
Nỗi vui mừng Phục Sinh của chúng ta là ở chỗ ấy. Ơn gọi và trách nhiệm Kitô giáo của chúng ta là ở chỗ hợp tác để cả hai được kiện toàn một cách hiệu quả trong thực trạng hằng ngày của đời sống chúng ta những gì Chúa Thánh Thần đã hoàn thành trong chúng ta qua bí tích Thanh tẩy. Thực vậy, chúng ta được mời gọi trở nên những con người nam nữ mới, có thể thành những chứng tá đích thực của Đấng Phục Sinh, nhờ đó thành người đem sự vui mừng và niềm hy vọng đến cho thế giới, cụ thể là ở trong cộng đồng của những con người nam nữ chúng ta đang sống.
Việc phục vụ của Giáo hội Ý
Vậy, khởi đi từ ý nghĩa căn bản về sự Phục Sinh hiện diện trong chúng ta và trong công việc hằng ngày của chúng ta, tôi bước sang chủ đề sự phục vụ của Giáo hội tại Ý cho đất nước, cho Âu châu, và cho toàn thế giới.
Nước Ý ngày nay biểu lộ cho chúng ta thấy một đất nước rất thiếu thốn và đồng thời lại là một nơi thuận lợi cho chúng ta làm nhân chứng.
Quốc gia này vô cùng thiếu thốn vì nó tham gia vào một thứ văn hóa đang thống trị Tây phương và tìm cách tỏ ra như mình là phổ quát và độc lập, những gì làm nẩy sinh ra một lối sống mới. Từ đó xuất phát một làn sóng minh tri chủ nghĩa và thế tục chủ nghĩa, những chủ nghĩa cho rằng chỉ có những gì kinh nghiệm thấy và tính toán được mới có giá trị hợp lý, trong khi đó, về phương diện thực hành thì tự do cá nhân được xem là một thứ giá trị căn bản chi phối tất cả mọi thứ giá trị khác.
Bởi thế, Thiên Chúa là Đấng vẫn bị loại trừ ra khỏi văn hóa và sinh hoạt quần chúng, và niềm tin vào Ngài trở nên khó khăn hơn, cũng chỉ vì chúng ta sống trong một thế giới mà dường như lúc nào cũng được coi là do chúng ta tạo nên, mà có thể nói rằng Thiên Chúa không còn thực sự hiện diện nữa, mà dường như đã trở thành thừa thãi, thậm chí không còn chỗ đứng nữa.
Liên quan chặt chẽ với tất cả những điều này, đã diễn ra tình trạng sâu xa biến giảm con người, thành phần chỉ được xem là một sản phẩm của thiên nhiên và bởi thế họ không thực sự có tự do, và tự mình có thể bị đối xử như một loài thú mà thôi. Bởi thế, mới xẩy ra tình trạng thực sự đảo lộn cái khởi điểm của nền văn hóa này, một khởi điểm đã được bắt đầu bằng việc chủ trương lấy con người và tự do của họ là những gì chính yếu.
Cũng theo chiều hướng này, đạo lý được giam giữ trong giới hạn của chủ nghĩa tương đối và duy thực dụng, loại bỏ mọi quy tắc luân lý hợp lý và tự bản chất có tính cách trói buộc.
Chúng ta cũng dễ thấy được lý do tại sao loại văn hóa này tiêu biểu cho một thứ sâu xa thực sự tách rời chẳng những khỏi Kitô giáo, mà nói chung khỏi cả các truyền thống tôn giáo và luân lý của nhân loại nữa. Vì thế nó không thể thực hiện việc đối thoại đích thực với các nền văn hóa khác có chiều kích tôn mạnh mẽ, chưa kể tới việc không thể trả lời nổi các nan đề căn bản về ý nghĩa và đường hướng của cuộc đời chúng ta.
Bởi vậy, thứ văn hóa này được đánh dấu bằng một tình trạng bị hụt hẫng sâu nặng, nhưng cũng bằng một nhu cầu hy vọng lớn lao được che đậy một cách vụng về.
Tuy nhiên, như tôi đã đề cập, nước Ý đồng thời là một Mảnh Đất thuận lợi cho việc làm chứng Kitô giáo. Thực ra, ở đây Giáo hội là một thực tại sinh động – và chúng ta có thể thấy được điều này – một thực tại duy trì được một sự hiện diện liên hệ giữa người dân ở các lứa tuổi và giai cấp.
Các truyền thống Kitô giáo thường xuyên tiếp tục đâm rể và sinh hoa kết quả, đồng thời một nỗ lực truyền bá và giáo lý lớn mạnh cũng đang diễn tiến, đặc biệt nhắm vào các thế hệ mới, nhất là các gia đình. Ngoài ra, cùng với tình trạng càng ngày càng hiện lên rõ nét cái què cụt của thứ lý lẽ co quắp và một thứ đạo lý đặc nét cá nhân quá mức, thì trên thực tế, cũng xẩy ra cả mối nguy cơ trầm trọng ở việc nó muốn tách rời ra khỏi những căn gốc Kitô giáo trong xã hội của chúng ta.
Cái cảm quan này, thấm nhập vào Nhân Dân Ý quốc, được rõ ràng và mạnh mẽ nhận định bởi nhiều nhân vật quan trọng trong xã hội, cũng như bởi những ai không chia sẻ với, hay ít là không thực hành, niềm tin của chúng ta.
Vì thế, Giáo hội và người Công giáo tại Ý được kêu mời hân hoan đón nhận cơ hội lớn lao này, và trên hết là hãy ý thức về nó. Bởi vậy, thái độ của chúng ta không bao giờ được loại trừ hay chỉ biết có mình má thôi. Thay vào đó, chúng ta phải làm sinh động, và nếu được, làm gia tăng cái năng lực của chúng ta, tin tưởng hướng tới những mối liên hệ mới, mà không phung phí sức lực có thể góp phần vào sự thăng tiến về văn hóa và đạo đức ở Ý quốc.
Thực vậy, điều này là tùy ở chúng ta có biết tích cực và thu hút đáp ứng những mong mỏi và vấn đề dân chúng của chúng ta hay chăng, không phải bằng những phương tiện nghèo nàn của chúng ta mà là bằng sức mạnh của Chúa Thánh Thần.
Nếu chúng ta có thể làm điều này, Giáo hội tại Ý sẽ không chỉ mang lại ích lợi cho đất nước này, nhưng đồng thời cho cả Âu châu và thế giới nữa, bởi vì cạm bẫy của chủ nghĩa thế tục đang hiện diện khắp nơi và nhu cầu có một đức tin sống động trong mối tương quan với các thách đố của thời đại cũng là những gì phổ thông nữa.
Biểu lộ một đức tin ‘tuân phục’
Anh chị em thân mến, bây giờ chúng ta phải tự hỏi chính mình: cách nào, và dựa vào cơ sở nào, chúng ta có thể hoàn thành được một công việc như vậy? Ở Hội nghị này, quý vị đã có lý chủ trương là không thể châm chước được việc cống hiện một nội dung cụ thể khả thi cho chứng từ Kitô giáo, cứu xét về cách thức có thể thực hiện và phát triển công việc ấy trong mỗi một lĩnh vực lớn lao thuộc cảm nghiệm của con người.
Vì thế, sẽ thuận lợi nếu trong hoạt động mục vụ chúng ta không lãng quên sự liên kết giữa đức tin và đời sống thường nhật, giữa huấn thị của Tin Mừng với những mối lo toan và nguyện vọng mà đa số con người ta đang ôm ấp.
Bởi vậy, trong những ngày này, quí vị đã chia sẻ về đời sống cảm xúc và gia đình, về công việc và ngày nghỉ, về giáo dục và văn hóa, về hoàn cảnh nghèo đói và bệnh tật, về trách nhiệm và bổn phận trong đời sống xã hội và chính trị.
Trước hết, về phần mình, tôi muốn nhấn mạnh rằng, làm thế nào, qua việc làm chứng đa dạng này, tiếng ‘xin vâng’ cao cả đã xuất hiện, một tiếng xin vâng Thiên Chúa, qua Chúa Giêsu Kitô, đã nói với con người cũng như với cuộc sống của họ, với tình yêu của con người, với niềm tự do của chúng ta và với trí óc của chúng ta; và bởi vậy, làm thế nào niềm tin vào Thiên Chúa có dung diện con người có thể mang niềm vui đến cho thế gian.
Quả thực, Kitô giáo là những gì cởi mở đối với tất cả mọi người ở các nền văn hóa cũng như ở một xã hội công bằng, chân thực và tinh tuyền, đối với tất cả những gì làm hân hoan, an ủi và kiên cường cuộc sống của chúng ta. Thánh Phaolô trong thư gởi tín hữu Philliphê đã nói: “Những gì là chân thật, những gì là cao quý, những gì là chính trực, những gì là tinh tuyền, những gì là đáng yêu, những gì là nhân ái, nếu có những gì là hảo hạng, những gì đáng ca ngợi, thì anh em hãy nghĩ tới những điều ấy” (4,8).
Bởi thế, các môn đệ của Đức Kitô nhận ra và hân hoan đón nhận các thứ giá trị đích thực nơi văn hóa của thời đại chúng ta, ví dụ kiến thức khoa học và sự phát triển kỹ thuật, nhân quyền, tự do tôn giáo, và dân chủ. Tuy nhiên, họ không bỏ qua hay coi thường tính cách mềm yếu nguy hiểm nơi bản tính của con người vốn là một mối đe dọa cho sự tiến bộ của nhân loại trong hết mọi môi trường lịch sử; đặc biệt là họ không lơ là với những căng thẳng và mâu thuẫn nội tâm của thời đại chúng ta.
Vì thế, việc truyền bá phúc âm hóa không bao giờ chỉ là một thứ thuần túy thích nghi với văn hóa, nhưng bao giờ cũng là một cuộc thanh tẩy, một cuộc can đảm tách biệt giúp trưởng thành và chữa lành, một sự cởi mở làm nẩy sinh một “tạo vật mới” (II Cor 5,17; Gal 6,15) là hoa quả của Chúa Thánh Thần.
Như tôi đã viết trong Thông điệp “Thiên Chúa Là Tình Yêu”, ở cốt lõi của việc làm người Kitô hữu – và do đó ở cốt lõi của việc chúng ta làm chứng với tư cách là thành phần tín hữu – không có vấn đề về việc quyết định theo đạo lý hay vấn đề có những ý tưởng hay ho, mà là vấn đề của cuộc gặp gỡ Con Người Giêsu Kitô, “Đấng cống hiến cho cuộc sống một chân trời mới và một đường hướng nhất định” (số 1).
Kết quả của sự gặp gỡ này cũng được biểu lộ một cách kỳ lạ và mới mẻ nơi môi trường nhân bản và văn hóa thực tiễn, nhất là trong mối tương quan với lý trí là cái mang lại sức sống cho khoa học hiện đại và các thứ kỹ thuật liên hệ. Thực vậy, một đặc điểm chính yếu của kỹ thuật đó là việc sử dụng một cách có phương pháp các thứ dụng cụ theo toán học để có thể hoạt động với thiên nhiên trong việc khai thác các năng lực lớn lao cho việc phục vụ của chúng ta.
Như thế, toán học là những gì do trí óc của chúng ta tạo nên: sự tương ứng giữa cấu trúc của nó với các cấu trúc thực sự trong vũ trụ – một tương ứng là những gì giả định của tất cả mọi phát triển của khoa học và kỹ thuật hiện đại, đã được Galileo Galilei công thức hóa một cách rõ ràng bằng một câu khẳng định nổi tiếng là cuốn sách thiên nhiên được biết bằng ngôn ngữ toán học – khiến chúng ta phải khâm phục và suy nghĩ nhiều.
Thực vậy, nó hàm ý rằng chính vũ trụ được kết cấu một cách khôn ngoan sáng suốt, vì thế mới có một sự tương ứng sâu xa giữa lý trí chủ quan của chúng ta và lý tính khách quan của thiên nhiên.
Bởi vậy chúng ta không thể không tự hỏi mình rằng phải chăng không có một lý trí nguyên thủy duy nhất là nguồn mạch chung cho cả hai thứ lý trí trên đây hay sao.
Vì thế, chính việc suy tư về vấn đề phát triển khoa học đưa chúng ta đến với Lời Hóa Công. Khuynh hướng lấy làm chính yếu tính cách vô tri, ngẫu nhiên tình cờ, và sự tất yếu là những gì đang bị lật đổ, cũng là những gì dẫn lý trí của chúng ta và quyền tự do của chúng ta về với vấn đề phát triển khoa học đưa chúng ta đến với Lời Hóa Công. Dựa vào những cơ sở ấy, lãnh vực về tính cách hữu lý của chúng ta lại có thể được nới rộng, có thể tái mở ra cho nó những vấn nạn bao rộng hơn về sự thật và sự thiện, có thể nối kết thần học, triết học và khoa học với nhau, trong sự hoàn toàn tôn trọng các phương pháp hợp với chúng, cũng như hợp với tính cách độc lập hỗ tương của chúng, nhưng đồng thời cũng nhận thức được mối hiệp nhất nội tại liên kết chúng lại với nhau.
Đó là công việc trước mắt chúng ta, một cuộc phiêu lưu cuốn hút đáng công sức chúng ta bỏ ra, để cống hiến cho văn hóa của thời đại chúng ta tác lực mới, và phục hồi vai trò trọn vẹn của niềm tin Kitô giáo.
Khi nhắm đến mục tiêu này, “dự phóng về văn hóa” của Giáo Hội Ý quốc chắc chắn là một trực giác tốt đẹp và có thể trở thành một đóng góp rất quan trọng.
Con người: Trí khôn, óc thông minh, và tình yêu
Mặt khác, con người không những có trí khôn và óc thông minh mà thôi, mặc dầu chúng là các yếu tố chủ yếu. Họ mang trong mình, những gì được ghi khắc sâu thẳm nhất trong con người của họ, đó là nhu cầu yêu thương, được yêu và đáp yêu. Vì thế, con người thường tự hỏi và cảm thấy khó hiểu trước những gì là thô bạo của cuộc sống, trước sự dữ xẩy ra trên thế giới, một sự dữ xuất hiện quá ác liệt nhưng đồng thời lại hoàn toàn phi lý.
Đặc biệt trong thời đại chúng ta, bất kể tất cả mọi tiến bộ đạt được, sự xấu xa vẫn chưa bị chế ngự. Quả thực, quyền lực nó dường như được củng cố và tất cả các nỗ lực che dấu nó đi mau chóng bị vạch trần, như kinh nghiệm thường ngày lẫn các biến cố lịch sử lớn đã chứng tỏ cho thấy.
Vì thế các vấn nạn cứ lẩn quẩn trở lại với chúng ta: có chăng một chốn an toàn cho tình yêu đích thực, và nói cho cùng, phải chăng thế giới này thực sự là công việc khôn ngoan của Thiên Chúa? Ở đây, hơn bất cứ lý lẽ nào của con người, cái mới mẻ nghịch thường của sự mạc khải Thánh Kinh đã là những gì giúp đỡ chúng ta: Đấng Sáng Tạo trời đất, Vị Thiên Chúa duy nhất là nguồn gốc của hữu thể, Lời Hóa Công duy nhất, lý trí sáng tạo này biết làm sao để yêu thương con người một cách riêng tư, hay nói đúng hơn, biết tha thiết yêu thương con người và muốn được con người yêu thương đáp trả. Lý trí sáng tạo này, Đấng đồng thời cũng yêu thương nữa, bởi vậy ban sức sống cho một lịch sử yêu thương đối với dân tộc Do Thái, dân tộc của Người; và nơi công việc ấy, trước việc phản bội của dân tộc này, tình yêu của Ngài đã cho thấy mình là một tình yêu vô cùng trung tín và xót thương. Đây là một tình yêu tha thứ vô hạn.
Trong Chúa Giêsu Kitô một thái độ như vậy đạt tới một mức độ thảm thiết quá sức chưa từng thấy: thực vậy, trong Ngài, Thiên Chúa hóa thân trở nên một trong chúng ta, thành người anh em của chúng ta theo nhân tính, còn hơn thế nữa, hy sinh cả mạng sống vì chúng ta.
Nơi cái chết trên Thập giá, một thập giá hiển nhiên là sự dữ đệ nhất trong lịch sử, là việc “Thiên Chúa quay ra đối nghịch lại với chính Ngài, nhờ đó, Ngài ban chính mình để nâng con người dậy và cứu rỗi con người. Đây là tình yêu ở dạng thức sâu thẳm nhất” (“Deus Caritas Est”, số 12), qua đó mới thấy được đâu là ý nghĩa của “Thiên Chúa là tình yêu” (I Gioan 4,8), đồng thời chúng ta cũng hiểu được tình yêu đích thực nghĩa là gì (x. ibid. số 9-10, 12).
Chính vì Ngài thực sự yêu thương chúng ta, mà Thiên Chúa tôn trọng và cứu độ niềm tự do của chúng ta. Ngài không đối phó với mãnh lực sự dữ và tội lỗi bằng một thứ quyền lực mãnh liệt hơn, nhưng – như ĐTC Gioan Phaolô II yêu quý của chúng ta đã trình bày trong thông điệp “Dives in Misericordia”, và sau đó trong cuốn sách ‘Hồi Niệm và Căn Tính’, chứng từ về tâm linh thực sự của ngài – Ngài thích hạn chế lòng kiên nhẫn của Ngài và lòng thương xót của Ngài, một hạn chế thực sự là nỗi khổ đau của Con Một Ngài. Nhờ đó, nỗi đau khổ của chúng ta được biến đổi tự bản chất, mặc dạng thức yêu thương và chất chuưa một hứa hẹn cứu độ.
Anh chị em thân mến, ĐTC Gioan Phaolô II đã không chỉ suy nghĩ và tin tưởng với một đức tin trừu tượng: ngài đã thấu hiểu và sống bằng một đức tin được chín mùi trong khổ đau. Như Giáo hội, chúng ta được kêu gọi đi theo Ngài đi theo con đường này, tùy theo cách thế và mức độ Thiên Chúa định liệu cho mỗi người chúng ta.
Đúng vậy, Thập giá làm cho chúng ta sợ hãi, như nó đã khơi lên nỗi sợ hãi và khổ não ở nơi Chúa Giêsu Kitô (x. Mk 14,33-36); thế nhưng, nó không phải là việc phủ nhận sự sống, ở chỗ muốn được hạnh phúc cần phải tước lột bản thân mình.
Trái lại, nó là một “chấp nhận” thái quá của Thiên Chúa đối với con người, một biểu hiện cao cả nhất của tình Ngài yêu thương và là nguồn mạch của một sự sống dồi dào và hoàn thiện. Vì thế nó chất chứa một lời mời gọi có sức thu hút nhất trong việc bước theo Đức Kitô trên con đường trao tặng chính mình.
Ở đây, tôi đặc biệt mến thương ngỏ lời cùng những chi thể đau thương trong Thân Thể của Chúa Kitô. Tại Ý, cũng như ở khắp nơi trên thế giới, họ hoàn thành những gì đang thiếu nơi cuộc khổ nạn của Đức Kitô trong chính thể xác của họ (x. Col 1,24), và như thế họ đóng góp một cách hiệu quả nhất vào sự cứu rổi của mọi người. Họ là những chứng nhân sống động nhất về niềm vui xuất phát từ Thiên Chúa và là niềm vui ban sức mạnh để chấp nhận thánh giá trong yêu thương và kiên trì.
Chúng ta biết rõ lựa chọn này đối với niềm tin và việc theo Đức Kitô không bao giờ là những gì dễ dàng cả. Ngược lại, nó luôn bị phản đối và gây tranh cải. Vì thế, Giáo hội vẫn là một “dấu chỉ nghịch thường” trong việc tiến bước theo Chúa (x. Lk 2,34), ngay cả trong thời đại chúng ta.
Nhưng chúng ta không nản lòng vì điều này. Ngược lại, chúng ta phải luôn sẵn sàng đối đáp với bất cứ ai muốn biết lý do về niềm hy vọng của mình, như thư thứ nhất của thánh Phêrô (3,15) mời gọi chúng ta, lời đã được quí vị đích đáng chọn để hướng dẫn công việc của những ngày Hội nghị này. Chúng ta phải đáp trả với ‘sự hòa nhã và cung kính’, với một ‘lương tâm trong sáng’ (3,15-16), với một quyền lực êm ái xuất phát từ mối kết hợp với Đức Kitô.
Chúng ta cần phải thực hiện điều này trong mọi lúc, về phương diện tư tưởng lẫn hành động, nơi hành vi cử chỉ riêng tư cũng như nơi việc công khai làm chứng. Sự liên kết chặt chẽ được thấy trong Giáo hội trong những thế kỷ đầu giữa đức tin làm bạn với lý trí và thói sống mang đặc tính yêu thương nhau và quan tâm đến người nghèo khổ, đã trở thành khả dĩ cho việc truyền giáo của Kitô giáo được phát triển rất nhiều ở thế giới Hy La. Việc phát triển truyền giáo này cũng đã diễn ra như thế sau đó, ở những môi trường văn hóa và hoàn cảnh lịch sử khác nhau.
Điều này tiếp tục là một xa lộ cho việc truyền bá phúc âm hóa. Xin Thiên Chúa hướng dẫn chúng ta sống mối hiệp nhất giữa chân lý và tình yêu này trong những hoàn cảnh thích hợp với thời đại chúng ta, để thi hành việc truyền bá phúc âm hóa tại Ý cũng như trên toàn thế giới ngày nay. Và như thế tôi tiến sang một điểm quan trọng và căn bản đó là vấn đề giáo dục.
Vấn Đề Giáo dục
Vấn đề chính yếu ở đây là, để cho kinh nghiệm về đức tin và tình yêu Kitô giáo được đón nhận, thực hành và truyền đạt từ thế hệ này sang thế hệ khác, thì việc giáo dục con người là những gì hệ trọng và quyết liệt. Cần phải quan tâm tới việc đào tạo trí óc của họ, mà vẫn không xao lãng về niềm tự do và khả năng yêu thương của họ. Đây là lý do tại sao cần phải trông cậy vào Ân sủng.
Chỉ bằng cách này mới có thể đối phó một cách hiệu quả nổi với cái nguy cơ nơi số mệnh của gia đình nhân loại, một thứ nguy cơ được thể hiện nơi tình trạng mất quân bình giữa việc phát triển về khả năng kỹ thuật rất nhanh chóng với sự tăng trưởng gay go hơn về những phương tiện luân lý của chúng ta.
Việc giáo dục đích thực cần phải trở thành những gì làm bừng lên lòng dũng cảm để có thể thực hiện những quyết định dứt khoát, những quyết định mà ngày nay được xem như là một thứ ràng buộc khổ sở đối với quyền tự do của chúng ta. Trên thực tế thì đó là điều không thể thiếu được cho vấn đề thăng tiến và để đạt được một cái gì đó cao cả trong đời sống, đặc biệt, để làm cho tình yêu trưởng thành với tất cả vẻ đẹp của nó: nhờ đó, làm cho chính tự do được nhất quán và có ý nghĩa.
Từ mối quan tâm này về con người cùng việc phát triển của họ tiến tới vấn đề chúng ta ‘bác bỏ’ những hình thức yêu thương yếu kém và lệch lạc, cũng như cái giả tạo của quyền tự do được thấy nơi việc biến lý trí thành những gì đo đếm được hay mạo dụng được. Thực vậy, những thứ ‘bác bỏ’ này đúng hơn là những ‘chấp nhận’ đối với tình yêu đích thực, đối với thực tại của con người như họ đã được Thiên Chúa đã tạo dựng nên.
Tôi muốn bày tỏ ở đây việc tôi hết lòng cảm nhận về công việc đào tạo và giáo dục tuyệt vời được các Giáo hội địa phương không ngừng thực hiện ở Ý, qua sự quan tâm mục vụ của mình đối với các tân thế hệ và các gia đình; tôi xin cám ơn về sự chú trọng này!
Trong các hình thức dấn thân đa diện ấy, tôi không thể không nghĩ đặc biệt đến các trường học Công giáo, bởi vì đối với các trường học này, ở một mức độ nào đó, vẫn còn những thành kiến lạc hậu gây nên những trì trệ tai hại, và là những thành kiến không còn khả dĩ biện minh, trong việc nhìn nhận chức năng của chúng cũng như trong việc cho chúng có thể cụ thể hoạt động.
Chứng tá của lòng bác ái
Chúa Giêsu dạy chúng ta rằng bất cứ sự gì chúng ta làm cho người anh em bé mọn nhất là chúng ta làm cho chính Ngài (x. Matt. 25,40). Vì thế, tính chất xác thật của việc chúng ta gắn bó với Chúa Kitô được xác nhận một cách đặc biệt ở tình yêu và sự quan tâm cụ thể đến thành phần yếu đuối và nghèo nàn nhất, những người bị đe dọa nhiều nhất và sống hết sức khốn khổ.
Giáo Hội Ý quốc có một truyền thống tuyệt vời về việc gần gũi, giúp đỡ, và gắn bó với người nghèo, người bệnh tật, và người bị xua đuổi, một truyền thống được biểu lộ ở mức cao nhất nơi hàng loạt tuyệt vời ‘các vị Thánh bác ái’. Truyền thống này vẫn tiếp tục cho đến ngày hôm nay, và là một truyền thống đang phải đương đầu với nhiều hình thức nghèo khổ về vật chất và luân lý, qua các tổ chức Caritas, các tổ chức thiện nguyện, qua các công tác thường âm thần của nhiều giáo xứ, các cộng đồng dòng tu, các đoàn thể và nhóm, qua từng cá nhân được thúc đẩy bởi tình yêu mến Đức Kitô và tha nhân.
Hơn nữa, Giáo hội tại Ý biểu lộ sự đoàn kết đặc biệt đối với vô số người nghèo trên thế giới. Vì thế, rất cần phải luôn giữ được tính chất cao thượng và trong sáng cho tất cả mọi chứng tá bác ái này, nuôi dưỡng nó bằng sự khiêm nhường và lòng tin cậy vào Thiên Chúa, xa tránh các thứ khuynh hướng có tính cách ý hệ cùng những cảm tình có tính cách bè phái, nhất là hướng cái nhìn của nó theo cái nhìn của Chúa Kitô. Bởi thế, công việc thực tiễn ấy đã là một công việc hệ trọng, nhưng việc chia sẻ riêng tư với người nghèo và với nỗi khổ của tha nhân mình là những gì còn cần thiết hơn thế nữa.
Vì thế, anh chị em thân mến, lòng bác ái của Giáo hội là những gì làm hiện lộ tình yêu của Thiên Chúa trên thế giới này, và do đó làm cho đức tin của chúng ta vào vị Thiên Chúa Nhập Thể, Tử Giá và Phục Sinh có sức thu hút.
Trách nhiệm công dân và chính trị của người Công giáo
Hội nghị của quý vị đã có lý lưu tâm tới chủ đề vai trò người công dân, tức là vấn đề trách nhiệm công dân và chính trị của người Công giáo. Chúa Kitô đã đến để cứu chuộc con người thực sự, con người cụ thể, thành phần sống trong lịch sử và trong cộng đồng, vì thế Kitô giáo và Giáo hội có một chiều kích và giá trị về công chúng ngay từ ban đầu.
Như tôi đã trình bày trong thông điệp “Deus Caritas Est” (x. số 28-29) về mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị, Chúa Giêsu Kitô đã mang lại một điều mới mẻ thiết yếu, mở đường cho một thế giới tự do hơn và nhân bản hơn, bằng sự tách biệt và độc lập của nhau giữa Chính quyền và Giáo hội, có nghĩa là, giữa cái của Caesar thì trả cho Caesar, với cái của Thiên Chúa thì trả cho Thiên Chúa (x. Mt 22,21).
Ngay chính quyền tự do tôn giáo mà chúng ta cho là có một giá trị phổ quát, đặc biệt cần thiết trong thế giới ngày nay, đã có gốc gác về lịch sử ở chỗ này. Bởi thế mà Giáo hội không phải là và không có ý định trở thành một tác nhân chính trị. Nhưng đồng thời Giáo hội lại hết sức quan tâm đến thiện ích của cộng đồng chính trị, mà linh hồn của nó là công lý, và cống hiến cho cộng đồng này những đóng góp đặc biệt ở cấp độ lưỡng diện.
Quả thực, niềm tin Kitô giáo là những gì thanh tẩy lý trí và giúp cho nó được nên tốt hơn: vì thế, với giáo thuyết xã hội của mình, bao gồm những lý lẽ được bắt nguồn từ những gì phù hợp với bản tính của hết mọi người, việc đóng góp của Giáo hội là ở chỗ tạo điều kiện cho những gì công chính được nhìn nhận một cách hiệu nghiệm , rồi cũng được hoàn thành nữa. Để đạt được điều này, không thể thiếu được năng lực về luân lý và tinh thần, vì chúng là những gì bảo đảm rằng những đòi hỏi của công lý ưu tiên hơn những thứ tư lợi, ưu tiên hơn một thứ loại xã hội nào, hay thậm chí ưu tiên hơn cả một Quốc Gia nữa. Cả ở đây nữa, Giáo hội đóng một vai trò quan trọng trong việc làm cho những năng lực ấy ăn sâu vào lương tâm, nuôi dưỡng chúng và kiên cường chúng.
Công việc của Giáo Hội không phải là bổn phận trực tiếp hành động trong lãnh vực chính trị để xây dựng một trật tự công bằng trong xã hội, mà là của người tín hữu giáo dân, thành phần hành động với tư cách là những người công dân theo trách nhiệm riêng của họ. Đây là bổn phận rất quan trọng mà người tín hữu Kitô giáo tại Ý được mời gọi dấn thân một cách hăng say và dũng cảm, một bổn phận được soi sáng bởi đức tin cũng như bởi Huấn Quyền của Giáo hội và được sinh động bởi đức bác ái của Đức Kitô.
Ngày nay cần phải đặc biệt chú tâm và hết mình dấn thân trước những thách đố lớn lao đang gây nguy hại tới một phần lớn của gia đình nhân loại: đó là chiến tranh và khủng bố, nạn đói khát và một số chứng bệnh dịch kinh khủng. Nhưng cũng cần phải đối diện, với sự cương quyết tương tự cùng với những chính sách rõ ràng, cả với những nguy cơ nơi những quyết định về chính trị và luật pháp nghịch lại với các gia trị căn bản, với nguyên tắc nhân loại học cũng như với đạo đức học là những gì ăn sâu nơi bản tính con người, đặc biệt là những quyết định liên quan đến việc bảo vệ sự sống con người ở tất cả mọi giai đoạn của nó, từ khi thụ thai cho đến lúc chết một cách tự nhiên, cũng như liên quan tới việc cổ võ gia đình được đặt nền tảng trên hôn nhân, tránh giới thiệu trong quần chúng những hình thức liên kết khác làm cho gia đình bị lung lay, làm lu mờ tính chất đặc biệt và vai trò bất khả thay thế của gia đình trong xã hội.
Việc công khai và dũng cảm làm chứng mà Giáo hội và người Công giáo tại Ý đã và đang thể hiện trong các vấn đề này là cách phục vụ rất quý giá đối với nước Ý, đồng thời bổ ích và phấn khích các quốc gia khác. Sự dấn thân và làm chứng này chắc chắn là một phần của việc ‘chấp nhận’ cao cả mà chúng ta là những người tin vào Đức Kitô nói lên với tha nhân là thành phần được Thiên Chúa yêu thương.
Kết hợp với Đức Kitô
Các anh chị em thân mến, các bổn phận và trách nhiệm mà Hội nghị Giáo hội này đang nêu bật thì nhiều và đa dạng. Chúng ta được khuyến khích phải nhớ rằng không phải một mình chúng ta ôm lấy gánh nặng đâu. Thực vậy, chúng ta hỗ trợ lẫn nhau, và trên hết chính Thiên Chúa hướng dẫn và giữ vững con thuyền mỏng manh của Giáo hội.
Như thế, chúng ta trở lại với điểm xuất phát: sự kết hợp của chúng ta với Ngài là những gì quyết liệt, và vì thế chúng ta có thể nhân danh Ngài mà lên đường (x. Mk 3,13-15).
Vậy, sức mạnh đích thực của chúng ta là việc chúng ta được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa và Mình Ngài, là liên kết chúng ta với món quà Ngài giành cho chúng ta, khi chúng ta thực hiện điều ấy việc cử hành Thánh Thể chiều nay, khi chúng ta tôn thờ Ngài trong Thánh Thể: thật vậy, việc tôn thờ cần phải là những gì đi trước hết mọi sinh hoạt và chương trình của chúng ta, để nó có thể làm cho chúng ta thực sự tự do và chúng ta có được những tiêu chuẩn để hành động.
Xin Đức Nữ Đồng Trinh Maria, luôn được yêu mến và tôn kính ở khắp nước Ý, đi trước và hướng dẫn chúng ta trong việc chúng ta hiệp nhất với Đức Kitô. Nơi Mẹ, chúng ta nhận ra bản chất trong sạch, hoàn hảo, và đích thức của Giáo hội; và cũng ở nơi Mẹ, chúng ta học biết và yêu mến mầu nhiệm Giáo hội sống động trong lịch sử, chúng ta sâu xa cảm thấy mình thuộc về Giáo hội, để rồi, nhờ đó chúng ta trở thành ‘hồn sống của giáo hội’, chúng ta biết chống lại ‘cái tục hóa nội tại’ đang đe dọa Giáo hội trong thời đại của chúng ta đây, một hậu quả của tiến trình tục hóa đã sâu đậm đánh dấu nền văn minh Âu châu.
Các anh chị em thân mến, chúng ta hãy cùng nhau dâng lên Chúa lời cầu nguyện khiêm tốn nhưng tin tưởng, xin cho cộng đồng Công giáo tại Ý, một cộng đồng sâu xa hiệp thông một cách sống động với Giáo hội ở mọi nơi, mọi lúc, và chặt chẽ liên kết với các vị Giám mục của mình, biết mang lại một động lực mới cho Đất Nước dấu yêu này, cũng như mang lại cho mọi nơi trên thế giới, thành phần chứng nhân hân hoan của Chúa Giêsu Phục Sinh, thành phần là niềm hy vọng của nước Ý và của thế giới.
Rev Lê Ngọc Đức Phúc, SVD, chuyển dịch theo
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2006/october/documents/hf_ben-xvi_spe_20061019_convegno-verona_en.html
Quí Huynh khả kính trong hàng Giáo Phẩm và Linh Mục,
Quí Tôn Bà Tôn Ông,
Tôi xin gửi lời chào thân ái đến cùng tất cả quí vị. Cuộc gặp gỡ với quí vị, thành phần khoa học gia và học giả dấn thân cho việc nghiên cứu về vấn đề trị liệu những chứng bệnh đang trầm trọng cho phối nhân loại, là một điều làm tôi cảm thấy đặc biệt an ủi.
Tôi xin cám ơn những vị tổ chức đã phát động Hội Nghị này về một đề tài càng ngày càng trở nên hệ trọng trong những năm gần đây. Đề tài đặc biệt của cuộc Hội Luận được cấu trúc một cách thích hợp bằng một vấn nạn hướng về tương lai, đó là: “Các thứ thân bào: tương lai của việc trị liệu ra sao?”
Tôi xin cám ơn Đức Giám Mục Elio Sgreccia, Chủ Tịch của Giáo Hoàng Học Viện Về Sự Sống, về những lời lẽ tốt đẹp của ngài, cũng thay mặt cho cả Liên Hiệp Thế Giới Chư Hiệp Hội Y Khoa Công Giáo (FIAMC: International Federation of Catholic Medical Associations), một hiệp hội đã cộng tác vào việc tổ chức Hội Nghị này và có vị đại diện ở đây là Giáo Sư Gianluigi Gigli, Vị Chủ Tịch sắp mãn nhiệm, và Giáo Sư Simon de Castellvi, Vị Chủ Tịch vừa được tuyển bầu.
Khi khoa học được áp dụng cho việc làm giảm bớt sự đớn đau và khi nó khám phá rằng theo cách thức riêng của nó những phương phát mới, thì nó tỏ ra hai bộ mặt phong phú về nhân loại: ở tính cách khéo léo khả thủ được đầu tư vào việc nghiên cứu, và ở cái lợi ích được loan báo đến cho tất cả những ai bị bệnh nạn hành hạ.
Những ai cung cấp phương tiện tài chính và khuyến khích những cơ cấu cần thiết cho việc nghiên cứu học hỏi là thành phần cũng có công trong việc tiến bộ trên con đường văn minh ấy.
Nhân dịp này, tôi muốn lập lại những gì tôi đã nói ở Buổi Triều Kiến Chung gần đây: “Việc tiến bộ trở thành tiến bộ thực sự chỉ khi nào nó phục vụ con người, và chỉ khi nào con người phát triển, chẳng những về quyền lực kỹ thuật của họ, mà còn về ý thức luân lý của họ nữa” (16/8/2006).
Theo chiều hướng ấy thì việc nghiên cứu thân bào cũng đáng được chấp nhận và khuyến khích khi nó khéo léo hòa hợp lại với nhau kiến thức khoa học, kỹ thuật tân tiến nhất nơi ngành sinh học và lãnh vực đạo lý liên quan tới việc tôn trọng con người ở mọi giai đoạn cuộc đời họ sống.
Những viễn tượng được mở ra bởi khúc quanh mới này là những gì tự chúng lđang lôi cuốn, vì chúng cống hiến một thoáng nhìn thấy việc khả trị những chứng bệnh mô sợi bị suy thoái đi đến chỗ gây nguy hiểm tật nguyền và chết chóc cho những ai bị nhiễm mắc.
Làm sao lại không cảm thấy có nhiệm vụ trong việc ca ngợi tất cả những ai dấn thân cho việc nghiên cứu này cũng như tất cả những ai nâng đỡ tổ chức ấy cùng gánh chịu các thứ tốn kém của nó?
Tôi đặc biệt thiết tha xin các cơ cấu khoa học đã lôi kéo hứng khởi của họ cũng như tổ chức của Giáo Hội Công Giáo hãy gia tăng thứ nghiên cứu này, và hãy thiết lập việc liên hệ chặt chẽ khả dĩ nhất với nhau cũng như với những ai tìm cách làm giảm bớt đi sự đớn đau của con người bằng những đường lối thích đáng.
Trước những cáo buộc phi cảm ứng thường xuyên xẩy ra một cách bất công nhắm đến Giáo Hội, xin cho tôi cũng được nói lên ở đây việc Giáo Hội liên lỉ ủng hộ việc nghiên cứu nhắm đến chỗ chữa lành các thứ bệnh tật để đem lại thiệc ích cho nhân loại qua 2000 năm lịch sử của Giáo Hội.
Nếu đã từng xẩy ra việc chống cự nào – và nếu vẫn đang còn xẩy ra việc chống cự ấy – thì đó đã là và đang là những thứ chống đối những hình thức nghiên cứu nhắm đến việc cố tình làm triệt tiêu con người đang hiện hữu, cho dù họ chưa được sinh ra. Trong các trường hợp như thế thì việc nghiên cứu, bất kể có những thành quả trị liệu hiệu năng, thực sự không phải là những gì phục vụ nhân loại.
Thật thế, việc nghiên cứu này đạt được tiến bộ bằng việc triệt tiêu sự sống con người, một sự sống có giá trị tương đương với các sự sống của những cá nhân khác cũng như sự sống của chính thành phần nghiên cứu.
Chính lịch sử đã lên án một thứ khoa học như thế trong quá khứ và sẽ lean án nó trong tương lai, chẳng những vì nó thiếu ánh sáng của Thiên Chúa mà còn vì nó thiếu cả nhân tính nữa.
Tôi xin lập lại ở đây những gì tôi đã viết cách đây ít lâu: Vấn đề ở đây là chúng ta không thể nào cứ chạy loanh quanh; không ai được quyền triệt hạ sự sống con người. Cần phải thiết lập một giới hạn bất khả vượt qua đối với khả năng thực hiện và thí nghiệm của chúng ta. Nhân loại không phải là một đối tượng khả triệt, trái lại, hết mọi cá thể đều cho thấy sự hiện diện của Thiên Chúa trên thế giới này (cf. J. Ratzinger, God and the World, Ignatius Press, 2002).
Không thể nào có vấn đề dung hòa hay lảng tránh trước việc thực sự triệt hạ con người. Người ta không thể nghĩ rằng một xã hội có thể chiến đấu với tội ác một cách hiệu nghiệm khi chính xã hội lại hợp pháp hóa tội ác trong lãnh vực của sự sống được thụ thai.
Vào dịp của các Cuộc Hội Nghị gần đây của Giáo Hoàng Học Viện Về Sự Sống, tôi đã có cơ hội để tái thẩm định giáo huấn của Giáo Hội, một giáo huấn được ngỏ cùng tất cả mọi con người thành tâm thiện chí, về giá trị nhân bản của một con trẻ vừa mới được thụ thai, cũng như vào thời điểm được coi là tiền cấy vào tử cung.
Sự kiện quí vị ở Hội Nghị này đã bày tỏ việc quí vị quyết tâm và hy vọng chiếm đạt được những thánh quả trị liệu mới từ việc sử dụng các thứ tế bào nơi thân thể người lớn mà không cần đến đường lối triệt tiêu những con người mới được thụ thai, và sự kiện hoạt động của quí vị đang được tưởng thưởng bằng những thành quả, là những gì khẳng định tính cách hiệu năng của lời Giáo Hội liên lỉ mời gọi hết sức tôn trọng con người từ khi được thụ thai. Thiện ích của con người chẳng những cần phải tìm kiếm theo những mục đích hiệu năng phổ quát mà còn bằng những phương pháp được sử dụng để đạt tới những mục đích ấy nữa.
Một thành quả tốt đẹp không bao giờ có thể biện minh cho những phương tiện tự bản chất bất hợp pháp. Vấn đề không phải chỉ là vấn đề của một thứ qui chuẩn về sức khỏe liên quan tới việc sử dụng những nguồn tài chính giới hạn, mà còn, trên hết, là vấn đề tôn trọng các thứ nhân quyền căn bản của con người nơi chính việc nghiên cứu khoa học nữa.
Tôi hy vọng rằng Thiên Chúa sẽ làm cho các nỗ lực của quí vị – những nỗ lực chắc chắn được nâng đỡ bởi Thiên Chúa là Đấng tác hành nơi hết mọi con người thành tâm thiện chí và cho thiện ích của tất cả mọi người – niềm vui trong việc khám phá chân lý, khôn ngoan trong việc quan tâm và tôn trọng hết mọi con người, và thành đạt trong việc nghiên cứu những phương dược hiệu nghiệm cho nỗi đớn đau của con người.
Để niêm ấn niềm hy vọng này, cùng với lời hứa nguyện cầu của mình, tôi thân ái ban Phép Lành cảm mến cho tất cả quí vị, cho những người hợp tác với quí vị và cho thân quyến của quí vị, cũng như cho các bệnh nhân là thành phần sẽ được lợi ích bởi sự khéo léo và tài xoay sở của quí vị cùng với các thành quả nơi hoạt động của quí vị,
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo
Chia Sẻ với Các Vị Giám Mục Ontario Canada dịp Các Ngài Viếng Thăm Tòa Thánh Ngũ Niên 8/9/2006
Huynh Hồng Y,
Quí Huynh Giám Mục thân mến,
1. ‘Thiên Chúa là tình yêu, nên ai sống trong tình yêu là sống trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa sống trong họ’ (1Jn 4:16).
Với lòng quí mến huynh đệ, tôi thân ái đón chào quí huynh, những vị giám mục ở Ontario, và tôi xin cám ơn Đức Giám Mục Smith thay mặt chư huynh đã bày tỏ những cảm tình tốt đẹp. Tôi xin ân cần đáp lại những cảm tình ấy và hứa nguyện cầu cho cùng quan tâm tới chư huynh cũng như những ai được chư huynh chăm sóc mục vụ.
Việc chư huynh viếng thăm ngũ niên tòa thánh ‘ad limina apostolorum’ và vị Thừa Kế Thánh Phêrô là một cơ hội xác nhận việc chư huynh quyết tâm làm cho Chúa Kitô càng ngày càng trở thành hữu hình trong Giáo Hội và xã hội, bằng việc hân hoan làm chứng cho Phúc Âm là chính Chúa Giêsu Kitô.
Nhiều đoạn huấn dụ của Thánh Ký Gioan về việc ở lại trong tình yêu và sự thật của Chúa Kitô gợi lên hình ảnh về một nơi cư trú vững chắc và an toàn. Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước (1Jn 4:10), và chúng ta, được thu hút bởi tặng ân yêu thương ấy, tìm thấy một nơi nghỉ ngơi, nơi chúng ta có thể ‘liên lỉ uống một cách tươi mát từ tận nguồn là Chúa Giêsu Kitô, từ con tim của Người tuôn trào tình yêu của Thiên Chúa’ (Thông Điệp ‘Thiên Chúa là Tình Yêu’, 7).
Thánh Gioan cũng được thúc đẩy trong việc thiết tha xin các cộng đồng của ngài hãy ở lại trong tình yêu ấy. Một số cộng đồng đã trở nên suy yếu bởi những thứ tranh cãi và phân tâm dần dần đi đến chỗ chia rẽ.
2. Quí huynh thân mến, các cộng đồng giáo phận của chư huynh đươc thách đố trong việc làm vang dội lời tuyên ngôn đức tin sống động, đó là: ‘Chúng tôi nhận biết và tin tưởng tình Thiên Chúa yêu thương giành cho chúng tôi’ (1Jn 4:16).
Những lời này, những lời hùng hồn cho thấy đức tin như là việc gắn bó riêng tư với Thiên Chúa và đồng thời chấp nhận tất cả sự thật được Thiên Chúa mạc khải (x Tuyên Nôn ‘Dominus Iesus’, 7), có thể được loan báo một cách có uy tín sau khi hội ngộ với Chúa Kitô. Được thu hút bởi tình yêu của Người, người tín hữu trao phó tất cả bản thân cho Thiên Chúa và nên một với Chúa (x 1Cor 6:17).
Trong Thánh Thể, mối hiệp nhất này được củng cố và đổi mới bằng việc tham dự vào chính năng lực ban mình của Chúa Kitô nhờ đó được thông phần sự sống thần linh: ‘Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi thì ở trong Tôi và Tôi ở trong người ấy’ (Jn 6:56; x Thông Điệp Thiên Chúa là Tình Yêu, 13).
(Phần còn lại của bài huấn từ, ĐTC đã nói bằng tiếng Pháp, chứ không bằng Anh ngữ như đoạn trên đây)
Tuy nhiên, lời cảnh giác của Thánh Gioan bao giờ cũng là những gì hợp thời. Trong xã hội càng ngày càng bị tục hóa của chúng ta, như chính chư huynh nghiệm thấy, thì tình yêu phát sinh từ con tim của Thiên Chúa đối với nhân loại có thể không được nhận biết hay thậm chí còn bị ruồng bỏ. Khi nghĩ rằng dứt mình khỏi mối liên hệ này là cách giải quyết việc giải phóng mình thì thực ra con người trở thành một kẻ xa lạ với chính mình, vì ‘thực vậy, sự thật đó là mầu nhiệm con người chỉ sáng tỏ chỉ ở nơi mầu nhiệm Lời nhập thể mà thôi’ (Hiến Chế Gaudium et Spes, 22).
Vì thiếu quan tâm tới một tình yêu cho thấy tất cả sự thật về con người như thế mà nhiều con người nam nữ tiếp tục xa lánh nơi cư trú của Thiên Chúa để sống trong sa mạc của mối lẻ loi cô quạnh cá nhân, của tình trạng đổ vỡ xã hội và việc mất đi căn tính về văn hóa.
3. Theo quan điểm này, người ta thấy rằng công việc nống cốt của việc truyền bá phúc âm hóa văn hóa là một thách đố trong việc làm cho Thiên Chúa trở thành hiện lộ trên dung nhan của Chúa Giêsu. Trong việc giúp cho các cá nhân nhận ra và cảm nghiệm tình yêu của Chúa Kitô, chư huynh sẽ làm bùng lên nơi họ ước muốn được cư ngụ trong nhà Chúa, khi thiết tha với đời sống của Giáo Hội.
Đó là sứ vụ của chúng ta. Nó thể hiện bản chất của giáo hội và bảo đảm là hết mọi hoạt động về việc truyền bá phúc âm hóa đồng thời cũng là những gì củng cố căn tính Kitô Giáo. Về vấn đề này, chúng ta cần phải công nhận rằng bất cứ những gì muốn biến đổi sứ điệp chính yếu về Chúa Giêsu, tức là về ‘vương quốc của Thiên Chúa’, thành một thứ chuyện mập mờ về ‘các thứ giá trị vương quốc’, đều làm suy yếu đi căn tính của Kitô Giáo và làm yếu kém đi việc Giáo Hội gop1 phần làm tái sinh xã hội.
Khi việc tin tưởng được thay thế bằng việc ‘hành động’ và việc làm chứng bằng việc bàn đến ‘các vấn đề’, thì rất cần phải phục hồi niềm vui sâu xa và niềm kính sợ của thành phần môn đệ tiên khơi, những vị cảm thấy lòng mình trước sự hiện diện của Chúa Kitô ‘bừng nóng lên’, thúc đẩy họ ‘kể lại đầu đuôi câu truyện của mình’ (x Lk 24:32,35).
Ngày nay, những ngãng trở trong việc truyền bá vương quốc của Chúa Kitô xẩy ra một cách thê thảm nhất nơi tình trạng phân rẽ giữa Phúc Âm và văn hóa, bằng việc loại trừ Thiên Chúa ra khỏi lãnh vực quần chúng. Canada đã được tiếng là quảng đại và cụ thể dấn thân cho công lý và hòa bình, và có một cảm quan sinh động và cơ hội thu hút nơi các thành phố đa văn hóa của chư huynh.
Tuy nhiên, đồng thời một số giá trị, bị tách khỏi những gốc rễ luân lý của chúng cũng như khỏi cái ý nghĩa trọn vẹn nơi Chúa Kitô, là những gì đã biến hóa theo những đường lối đáng lo ngại nhất. Nhân danh ‘tính cách khoan nhượng’, xứ sở của chư huynh từng phải chịu đựng cái mù quáng của việc tái định nghĩa vấn đề vợ chồng, và nhân danh ‘quyền tự do chọn lựa’, nó phải đương đầu với việc hủy hoại hằng ngày trẻ em chưa sinh vào đời. Khi dự án thần linh của hóa công bị khinh thường thì sự thật về bản tính của con người cũng bị mất đi.
Những thứ phân đôi sai lầm không phải là những gì chưa từng biết tới trong chính cộng đồng Kitô Giáo. Chúng đặc biệt gây tác hại khi các vị lãnh đạo dân sự Kitô hữu hy sinh mối hiệp nhất đức tin và chấp nhận sự phân hóa giữa lý trí và các nguyên tắc đạo lý tự nhiên, bằng việc chiều theo các xu hướng xã hội phù phiếm cùng với những đòi hỏi không xác thực của các cuộc thăm dò ý kiến.
Dân chủ chỉ thành đạt ở chỗ nó được căn cứ vào chân lý và việc hiểu biết đúng đắn về con người. Việc người Công Giáo dấn thân vào sinh hoạt chính trị không thể nào tác hại tới nguyên tắc này; bằng không, chứng từ Kitô Giáo cho chân lý rạng ngời trong lãnh vực xã hội sẽ bị tắc nghẹn và mở màn cho tính cách tự động về luân lý (cf. "Doctrinal Note on Some Questions Regarding the Participation of Catholics in Political Life," 2-3; 6).
Trong việc chư huynh bàn luận với các chính trị gia và thành phần lãnh đạo dân sự, tôi xin chư huynh hãy chứng tỏ rằng đức tin Kitô Giáo của chúng ta chẳng những không phải là những gì cản trở việc đối thoại mà còn là chiếc cầu nối chíng vì nó mang lý trí và văn hóa lại với nhau.
4. Trong bối cảnh truyền bá phúc âm hóa văn hóa ấy, tôi muốn đề cập tới một tổ chức học đường Công Giáo tốt đẹp được coi trọng nơi đời sống giáo hội ở giáo tỉnh của chư huynh.
Việc dạy giáo lý và giáo dục về đạo là một việc tông đồ đòi hỏi cố gắng. Tôi xin cám ơn và khuyến khích nhiều giáo dân nam nữ cùng với thành phần tu sĩ đang nỗ lực để bảo đảm rằng giới trẻ của quí huynh hằng ngày biết cảm nhận hơn nữa tặng ân đức tin họ đã lãnh nhận.
Hơn bao giờ hết, điều này đòi hỏi việc làm chứng, một việc làm chứng được nuôi dưỡng bằng nguyện cầu, trở thành tất cả môi trường chung của hết mọi trường học Công Giáo. Thày cô, là thành phần nhân chứng, phải chứng tỏ niềm hy vọng dưỡng nuôi đời sống của họ (x 1Pt 3:15), bằng việc sống sự thật họ dạy cho học sinh của mình, luôn căn cứ vào sự thật họ đã từng gặp gỡ và vào sự thiện thuộc sự thật ấy, một sự thiện được họ hân hoan nêu gương (cf. Address to Rome's Ecclesial Diocesan Convention, Living the Truth that God Loves his People, June 6, 2005).
Bởi thế, cùng với Thánh Âu Quốc Tinh, họ nói rằng: ‘Chúng tôi là người nói và anh chị em là người nghe nhận biết chúng tôi như là thành phần đồng môn của cùng một sự phụ duy nhất’ (Semons, 23.2).
Một trở ngại đặc biệt xảo quyệt cho việc giáo dục ngày nay, một trở ngại được bản phúc trình của c hư huynh chứng thực, đó là sự hiện diện nổi bật trong xã hội một thứ chủ nghĩa tương đối, một chủ nghĩa không công nhận gì là vĩnh tuyệt, chỉ biết có bản thân mình cùng với những ước muốn của nó như là qui chuẩn tối hậu. Nơi chân trời tương đối như thế diễn ra tình trạng mờ mịt những mục đích cao cả của đời sống, qua việc hạ thấp những tiêu chuẩn của những gì là tuyệt hảo, qua việc rụt rè ái ngại trước đẳng cấp của sự thiện, và qua việc không ngừng theo đuổi một cách vô nghĩa cái mới mẻ phô diễn như là việc hiện thực của tự do.
Những chiều hướng tác hại như thế cho thấy tính cách khẩn trương đặc biệt của việc tông đồ ‘bác ái trí thức’ là những gì chấp nhận mối hiệp nhất của kiến thức, hướng dẫn giới trẻ tới tâm trạng mãn nguyện một cách cao quí việc hành sử tự do của họ liên quan tới sự thật, và cho thấy mối liên hệ giữa đức tin với tất cả mọi khía cạnh của gia đình và đời sống dân sự.
Được dẫn tới một tình yêu mến sự thật n hư thế, tôi tin tưởng rằng giới trẻ Canada sẽ thích thú với việc khám phá thấy nhà của Chúa là Đấng ‘soi sáng mọi người đến trong thế gian’ (Jn 1:9) và là Đấng làm thỏa mãn hết mọi ước muốn của con người.
5. Chư huynh thân mến, với lòng cảm mến và tri ân huynh đệ, tôi cống hiến những suy tư này với chư huynh và khuyến khích chư huynh thực hiện việc loan báo Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô của chư huynh.
Hãy cảm nghiệm tình yêu của Người, nhờ đó, chiếu dọi ánh sáng của Thiên Chúa vào thế giới! (x Thông Điệp Thiên Chúa là Tình Yêu, 39).
Bằng việc kêu xin Mẹ Maria là tòa đức khôn ngoan chuyển cầu cho chư huynh, tôi thân ái ban phép lành tòa thánh của tôi cho chư huynh cùng những linh mục, tu sĩ và giáo dân thuộc các giáo phận của chư huynh.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày
8/9/2006
Sứ Điệp ngày 4/9/2006 gởi Cuộc Hội Ngộ Liên Tôn để Cầu Nguyện cho Hòa Bình lần thứ 20
Trân trọng gởi người anh em đáng kính
Đức Giám Mục Domenico Sorrentino, Giám Mục giáo phận Assisi-Nocera Umbra-Gualdo Tadino
Đây là năm thứ 20 của Cuộc họp Liên tôn để cầu nguyện cho hòa bình, một cuộc họp đươc thực hiện theo ước nguyện của vị tiền nhiệm khả kính của tôi là ĐTC Gioan Phaolô II vào ngày 27 tháng 10 năm 1986 tại Assisi.
Điều đã được mọi người biết là ngài đã không chỉ mời đại diện của các phái Kitô giáo nhưng còn đại diện của cả các tôn giáo khác nữa. Việc khởi xướng này đã tác động mạnh mẽ đến dư luận. Biến cố đã tạo nên một thông điệp đầy khí lực đẩy mạnh hòa bình và đã để lại dấu ấn trên lịch sự thời đại.
Vì thế, ký ức về các biến cố này vẫn tiếp tục gây cảm hứng cho các nỗ lực suy tư và dấn thân. Một số nỗ lực sẽ được diễn ra ngay tại Assisi trong dịp kỷ niệm thứ 20 của cuộc khởi xướng ấy. Tôi đang liên tưởng đến sự kiện được Cộng Đoàn Sant’Egidio tổ chức với sự đồng thuận của Giáo phận này, cũng như các cuộc họp thường niên khác của Cộng Đoàn ấy.
Ngoài ra, chính trong những ngày diễn ra cuộc họp kỷ niệm, cũng sẽ diễn ra một Hội nghị được Viện Thần học Assisi tổ chức, và các Giáo hội trong vùng sẽ tụ họp trong Thánh lễ được các Đức Giám Mục Giáo Phận Umbria cử hành trong nhà thờ thánh Phanxicô.
Hội đồng Đối thoại Liên tôn của Tòa Thánh sẽ tổ chức một cuộc họp đối thoại, cầu nguyện, và huấn luyện về hòa bình cho giới trẻ Công giáo và các bạn trẻ thuộc các tôn giáo khác.
Các nỗ lực này, mỗi việc mang một phong thái khác nhau, nêu bật giá trị nơi sự sáng suốt của ĐTC Gioan Phaolô II và thể hiện tính cách hợp thời theo chiều hướng những gì đã xảy ra trong 20 năm qua cũng như tình trạng nhân loại ngày nay.
Chắc chắn biến cố quan trọng nhất trong giai đoạn này là sự sụp đổ của các chế độ Cộng sản tại Đông Âu. Điều này đã làm chấm dứt Cuộc Chiến Tranh Lạnh là cuộc chiến đã từng gây chia rẻ thế giới thành hai phe đối nghịch, đưa đến tình trạng dự trữ các kho chứa vũ khí và quân lực ghê gớm để chuẩn bị cho một cuộc chiến toàn lực.
Đây là khoảnh khắc mà niềm hy vọng hòa bình lan tràn đã thúc đẩy nhiều người mơ ước có một thế giới khác biệt, nơi các mối quan hệ có thể phát triển giữa con người, không còn bị ác mộng chiến tranh đe dọa, và nơi tiến trình “toàn cầu hóa” là những gì sẽ diễn ra theo chiều hướng các dân tộc và văn hóa gặp gỡ nhau một cách thuận hòa, dựa vào một nền luật pháp quốc tế chung, luôn biết tôn trọng nhu cầu chân lý, công bình, và đoàn kết.
Tiếc thay, ước mơ hòa bình này chưa trở nên hiện thực. Ngược lại, thiên niên kỷ thứ 3 đã khai mạc bằng những cảnh khủng bố và bạo lực mà không thấy dấu chỉ thuyên giảm. Rồi, sự kiện về các cuộc xung đột đang diễn ra bởi sự căng thẳng về địa dư và chính trị ở nhiều vùng là những gì có thể gây ấn tượng rằng: không phải chỉ có vấn đề đa văn hóa nhưng còn cả vấn đề khác biệt về tôn giáo nữa là nguyên do gây ra tình trạng bất ổn hay các mối đe dọa đối với niềm hy vọng hòa bình.
Trước bối cảnh ấy mà sự khởi xướng của ĐTC Gioan Phaolô II cách đây 20 năm đã đạt được những tính chất tiên tri thực sự. Lời ngài mời gọi các vị lãnh đạo tôn giáo trên thế giới hãy đồng nhất làm chứng cho hòa bình là những gì cho thấy một cách không thể lầm lẫn rằng: tôn giáo phải là sứ giả của hòa bình.
Như Công đồng Vaticanô II đã chỉ dẫn trong Tuyên Ngôn “Nostra Aetate” về Mối Quan hệ giữa Giáo hội và các Tôn giáo không thuộc Kitô giáo rằng: “Chúng ta không thể thực sự cầu nguyện với Thiên Chúa là Cha của mọi người nếu chúng ta không đối xử theo tinh thần huynh đệ với bất cứ người nào khác, bởi vì mọi người được tạo dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa” (số 5).
Mặc dầu có những khác biệt giữa các niềm tin tôn giáo, sự nhận biết về Thiên Chúa, điều mà con người chỉ có được qua cảm nghiệm về thiên nhiên tạo vật (x. Rom 1,20), phải khiến các tín hửu nhìn vào những người khác như là anh em. Bởi thế, bất kể ai lấy sự khác biệt tôn giáo làm giả định hay lý do để có thái độ hung hăng với những người khác là không hợp lý.
Người ta tranh có thể phản đối rằng: lịch sử đã trải qua hiện tượng đáng tiếc là các cuộc chiến tôn giáo. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng, các biểu hiện bạo lực này không thể được quy cho tôn giáo nhưng là các hạn chế về văn hóa được sống và phát triển vào lúc ấy.
Tuy nhiên, khi ý thức tôn giáo được trưởng thành sẽ tạo nên một quan niệm trong người tín hữu rằng: niềm tin vào Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa vũ trụ và Người Cha của mọi người phải là những gì khuyến khích mối tương quan về tình huynh đệ giữa toàn thể mọi người.
Trên thực tế, chứng từ về sự liên kết mật thiết giữa mối tương quan với Thiên Chúa và luân lý yêu thương là những gì đã được ghi nhận trong tất cả các tôn giáo lớn. Chúng ta là những Kitô hữu cảm thấy được củng cố bởi điều này và tiếp tục được Lời Chúa soi sáng. Sách Cựu Ước đã cho thấy tình yêu của Thiên Chúa đối với mọi dân tộc, một mối tình Ngài đã thiết lập với ông Noah, khi Ngài đã ôm ấp qui tụ họ lại, được tượng trưng qua “chiếc cầu vồng” (ST 9,13,14,16); và theo lời của các Tiên tri, ngài dự tính sẽ tụ họp tất cả vào một gia đình thống nhất (x. Is 2,2tt; 42;6, 66,18-21, Jer. 4,2; TV 47[46]).
Trong sách Tân Ước, chương trình yêu thương này được mạc khải trong Mầu nhiệm Phục Sinh; Con Một của Ngài, qua hành động vô cùng đoàn kết, đã hiến mình trên Thập giá để cứu chuộc nhân loại. Bởi thế, Thiên Chúa đã chứng tỏ rằng bản tính của Ngài là tình yêu. Đây là điều tôi muốn nhận mạnh trong thông điệp đầu tiên của tôi với các chữ mở đầu là “Deus caritas est” (1Gn 4,7).
Sự khẳng định trong Thánh Kinh không chỉ làm tỏa sáng mầu nhiệm của Chúa mà con làm rõ mối tương quan giữa con người được mời gọi để tuân theo điều răn yêu thương.
Cuộc gặp gỡ được Người Tôi Tớ của Chúa là ĐTC Gioan Phaolô II tổ chức tại Assisi nhấn mạnh một cách xứng đáng đến giá trị của lời cầu nguyện trong việc xây dựng hòa bình. Quả thật, chúng ta ý thức được rằng tiến trình này có thể rất khó khăn và đôi khi rất tuyệt vọng. Hòa bình là giá trị mà nhiều yếu tố phải hội tụ. Để xây dựng hòa bình, các đường lối về văn hóa, chính trị, và hệ thống kinh tế, dù quan trọng đến đâu chăng nữa, hòa bình trước tiên vẫn cần phải được xây dựng trong tâm hồn. Chính nơi đây mới phát triển những cảm nghỉ có thể nuôi dưỡng hòa bình, hay ngược lại, có thể đe dọa, làm suy yếu, và bóp chết nó.
Ngoài ra, trong quả tim của con người mới là nơi Thiên Chúa can thiệp. Về điều này, ngoài chiều kích “ngang” trong mối quan hệ với người khác, chiều kích “dọc” trong mối quan hệ với Thiên Chúa là nền tảng của mọi điều, mang tính cách quan trọng thực sự. Đây chính là điều ĐTC Gioan Paolô II muốn nhắc nhở thế giới trong biến cố 1986.
Ngài đã kêu gọi thực hiện việc cầu nguyện chân thật bằng cả đời sống của mình. Vì thế, ngài muốn sự ăn chay đi kèm lời cầu nguyện và được biểu lộ qua cuộc hành hương, là những gì biểu hiệu cho cuộc hành trình gặp gỡ Thiên Chúa. Ngài đã giải thích rằng: “Lời cầu nguyện đòi hỏi sự biến đổi trong quả tim chúng ta” (Lễ khai mạc Ngày thế giới cầu nguyện cho hòa bình, Assisi, 28-10-1986, số 4; L’Osservatore Romano bản tiếng Anh, 3-11, tr.1).
Trong các khía cạnh của Cuộc họp năm 1986, chúng ta nên nhấn mạnh rằng giá trị cầu nguyện trong việc xây dựng hòa bình đã được thành phần đại diện của các tôn giáo khác nhau chứng nhận; điều này không xảy ra ở những khoảng cách xa nhau mà chính trong bối cảnh của cuộc họp. Bởi thế, các thành viên thuộc các tôn giáo khác nhau cầu nguyện có thể diễn tả qua ngôn ngữ minh chứng rằng: lời cầu nguyện không chia rẻ nhưng đoàn kết và là một yếu tố có tính cách quyết định việc thực hiện hòa bình, dựa vào tình thân hữu, vào sự đón nhận lẫn nhau, và vào việc đối thoại giữa những người xuất phát từ các truyền thống và tôn giáo khác nhau.
Hơn bao giờ hết chúng ta cần có sự đối thoại, đặc biệt nếu chúng ta nhìn vào các thế hệ mới. Những cảm tưởng oán thù đã được gieo vào nhiều người trẻ ở các nơi trên thế giới đang sống trong các cuộc xung đột, trong các bối cảnh về ý hệ là nơi đang vun trồng các hạt giống của những mối oán giận lâu đời, và tinh thần họ đang được chuẩn bị để tham gia vào bạo lực trong tương lai. Các rào cản phải được kéo xuống và sự gặp gỡ phải được khuyến khích.
Vì thế, tôi vui mừng vì nỗ lực được dự định tại Assisi năm nay đi theo đường hướng này, cụ thể, Hội đồng Đối thoại Liên tôn của Tòa Thánh đã có ý tưởng áp dụng nó một cách đặc biệt cho giới trẻ.
Để bảo đảm cái ý nghĩa của điều mà ĐTC Gioan Phaolô II muốn đạt được năm 1986 và điều, trong chính ngôn từ của ngài, ngài có thói quen gọi là “tinh thần Assisi”, chúng ta không thể thiếu thận trọng trong dịp này trong việc bảo đảm rằng: “Buổi cầu nguyện liên tôn” không có tính cách hòa đồng theo quan niệm tương đối.
Chính vì lý do này mà ĐTC Gioan Phaolô II đã tuyên bố ngay từ lúc đầu: “Việc chúng ta đến đây không hàm chứa bất cứ ý định nào muốn tìm đến một sự hòa đồng về tôn giáo hay để thương lượng về tín ngưỡng của chúng ta. Nó cũng không có nghĩa tôn giáo có thể được giải hòa ở mức độ dấn thân chung trong một dự án trần thế sẽ bao trùm lên tất cả. Nó cũng không phải là sự nhượng bộ trong đức tin tôn giáo theo thuyết tương đối” (ibid, số 2).
Tôi muốn tái khẳng định nguyên tắc này là cơ sở cho việc đối thoại liên tôn mà Công Đồng Vaticanô II đã mong muốn, như đã được bày tỏ trong bản Tuyên Ngôn về Mối quan hệ giữa Giáo hội và các tôn giáo ngoài Kitô giáo (x. “Nostra Aetate,” số 2).
Tôi vui mừng lấy cơ hội này để gởi lời chào đến các đại biểu của các tôn giáo khác đang tham dự trong các việc kỷ niệm tại Assisi. Như những người Kitô hữu chúng ta, họ biết rằng lời cầu nguyện giúp chúng ta có thể cảm nghiệm thấy Thiên Chúa và từ đó có thể lấy được niềm phấn khởi thực sự cho cuộc dấn thân thực hiện sự nghiệp hòa bình.
Tuy nhiên, ở đây chúng ta cũng phải tránh sự lầm lẫn không thích đáng. Vì thế, ngay cả khi chúng ta tụ họp để cầu nguyện cho hòa bình, lời cầu nguyện phải nằm trong khuôn khổ khác nhau của các tôn giáo. Đây là quyết định từ năm 1986 và ngày nay vẫn còn hợp lý.
Sự gặp gỡ giữa nhiều sự khác biệt không tạo nên ấn tượng rằng có sự đầu hàng trước tương đối thuyết là thuyết từ chối chính ý nghĩa về chân lý và khả năng tìm ra chân lý.
Để thực hiện sáng kiến táo bạo và tiên tri của mình, ĐTC Gioan Phaolô II đã muốn chọn một nơi gợi lên nhiều cảm xúc, đó là thị trấn Assisi, mà toàn thế giới đều biết đến vì thánh Phanxicô.
Thực ra, vị “Poverello” đã thể hiện một cách mẫu mực các Mối Phúc Thật mà Chúa Giêsu đã công bố trong Tin Mừng: “Phúc cho người hòa giải, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (Matt. 5,9). Chứng từ của thánh Phanxicô trong thời đại của ngài đã tạo ra một cứ điểm tất yếu ngày nay cho những ai đang nung nấu lý tưởng hòa bình, tôn trọng thiên nhiên, và đối thoại giữa các dân tộc, tôn giáo và văn hóa. Tuy nhiên, nếu không muốn đi ngược với thông điệp của ngài, chúng ta phải nhớ rằng, chính lời tuyên bố quyết liệt của Đức Kitô ấy đã cung cấp cho ngài chìa khóa để thấu hiểu tình huynh đệ mà tất cả đều được mời gọi tham dự; và trong đó, ngay cả các tạo vật vô tri vô giác – từ “anh mặt trời” đến “chị mặt trang” – đều tham dự ở một mức độ nào đó.
Vì thế, tôi muốn nêu lên rằng biến cố kỷ niệm 800 năm cuộc đổi đời của thánh Phanxicô trùng hợp với dịp kỷ niệm 20 năm Buổi họp cầu nguyện cho hòa bình này của ĐTC Gioan Phaolô II. Cả hai lễ kỷ niệm làm sáng tỏ lẫn nhau. Theo lời Chúa Giêsu nói với ngài từ cây thánh giá thánh Damian: “Phanxicô, hãy đi sửa chữa ngôi nhà của Cha”; một cuộc phiêu lưu, bằng việc chọn lối sống khốn khó, nơi nụ hôn trao cho người mắc bệnh phong cùi bày tỏ khả năng nhìn thấy và yêu mến Đức Kitô trong người anh em khốn cùng, đã được bắt đầu, mang tính con người và Kitô giáo, mà cho đến ngày nay vẫn tiếp tục quyến rũ vô số người hành hương đến thị trấn này.
Tôi xin ủy thác cho ngài, hỡi huynh đáng kính, Vị Mục Tử của Nhà Thờ Thánh Assisi-Nocera-Umbra-Gualdo Tadino, trách nhiệm truyền đạt những cảm nghỉ này đến các tham dự viên trong các buổi lễ được tổ chức vào dịp kỷ niệm năm 20 biến cố lịch sử Buổi họp Liên tôn ngày 27 tháng 10 năm 1986. Đồng thời xin huynh vui lòng truyền lại đến mọi người lời chào hỏi thân thương cũng như lời chúc lành, tôi muốn gởi kèm theo lời chào và lời cầu nguyện của vị “Poverello” thành Assisi: “Xin Thiên Chúa ban cho quí vị sự bình an!”.
Rev Antôn Lê Ngọc Đức Phúc, SVD, chuyển dịch theo
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/letters/2006/documents/hf_ben-xvi_let_20060902_xx-incontro-assisi_en.html
Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Huấn Từ Ở Đền Thờ Nhan Thánh, Manoppello, Ý, Thứ Sáu 1/9/2006
(Trước khi vào Đền Thánh này, ĐTC đã nói với những người tụ tập ở bên ngoài mấy lời, trong đó có câu:)
“… Như các Thánh Vịnh nói, tất cả chúng ta đang ‘tìm kiếm Dung Nhan Chúa’. Và đó cũng là ý nghĩa của việc tôi viếng thăm đây. Chúng ta hãy cùng nhau tìm cách nhận biết Dung Nhan Chúa mỗi ngày một hơn, và nơi Dung Nhan của Chúa, chúng ta hãy tìm cái động lực yêu thương và hòa bình là những gì cũng tỏ cho chúng ta thấy con đường của đời sống chúng ta… ”.
(ĐTC đã chính thức mở đầu bài huấn từ của mình ĐTC bằng những lời cám ơn và chào hỏi những người liên hệ với Đền Thánh này, như vị Tổng Giám Mục và các cha Dòng Capuchin, cũng như thành phần tu sĩ và chủng sinh hiện diện)
Trong cuộc dừng chân nguyện cầu vừa rồi, tôi đã nghĩ đến hai vị tông đồ tiên khởi, những vị được thúc đẩy bởi Thánh Gioan Tẩy Giả, đã theo Chúa Giêsu đến bờ Sông Dược Đăng, như chúng ta đọc thấy trong đoạn mở đầu của Phúc Âm Thánh Gioan (x 1:35-37).
Vị thánh ký này thuật lại rằng Chúa Giêsu quay lại mà hỏi họ: ‘Các anh đang tìm kiếm gì đó?’ Và các vị đã trả lời Người rằng: ‘Thưa Thày… Thày hiện đang ở đâu?’ Rồi Người nói với các vị: ‘Hãy đến mà xem’ (x Jn 1:38-39).
Vào chính ngày hôm đó, hai vị đã theo Người có được một cảm nghiệm không thể nào quên nổi, một cảm nghiệm khiến các vị phải nói rằng: ‘Chúng tôi đã gặp Đấng Thiên Sai’ (Jn 1:41).
Đấng mà trước đó ít tiếng đồ hồ, họ đã nghĩ chỉ là một ‘vị tôn sư’ vậy thôi bấy giờ chiếm được một căn tính rất chính xác, đó là căn tính của một Đức Kitô hằng trông đợi qua bao thế kỷ. Thế nhưng, sự thật thì trước mắt những vị môn đệ này là cả một cuộc hành trình dài biết bao!
Các vị thậm chí không thể nào nghỉ được mầu nhiệm về Giêsu Nazarét sâu xa biết là chừng nào và khôn dò, khôn thấu đến đâu, nghĩ được về ‘Dung Nhan’ của Người ra sao, để rồi, thậm chí sau 3 năm sống với Chúa Giêsu, một người trong các vị là Philiphê đã phải nghe Người nói trong Bữa Tiệc Ly rằng: ‘Thày đã chẳng ở với con đã bao nhiêu lâu mà con chưa biết Thày hay sao Philiphê?’ Thế rồi những lời gồm tóm cái mới mẻ nơi mạc khải của Chúa Giêsu đó là: ‘Ai thấy Thày là thấy Cha’ (Jn 14:9).
Chỉ sau cuộc khổ nạn của Người, lúc các vị gặp gỡ Người phục sinh, lúc mà Thần Linh soi động tâm trí của các vị, các tông đồ mới hiểu được ý nghĩa của những lời Chúa Giêsu đã nói với các vị mà nhận biết Người là Con Thiên Chúa, là Đấng Thiên Sai được hứa hẹn đến để cứu chuộc nhân loại. Bấy giờ các vị mới trở thành những sứ giả bất khuất của Người, những chứng nhân can trường của Người cho đến nỗi chịu tử đạo.
‘Ai thấy Thày là thấy Cha’. Phải, anh chị em thân mến, để ‘thấy Thiên Chúa’, cần phải biết Chúa Kitô và mình được Thần Linh là Đấng dẫn tín hữu ‘vào tất cả sự thật’ (x Jn 16:13) khuôn đúc. Những ai gặp gỡ Chúa Giêsu, thành phần được Người thu phục và sẵn sàng theo Người cho đến độ hiến mạng sống vì Người, mới cảm nghiệm được Người một cách thân tình, như Người đã thực hiện trên cây thập tự giá, vì chỉ có ‘hạt lúa miến’ rơi xuống đất chết đi mới trổ sinh ‘nhiều hoa trái’ (Jn 12:24).
Đó là đường lối của Chúa Giêsu, đường lối của một tình yêu trọn vẹn thắng vượt sự chết: Ai đi theo đường lối này mà ‘ghét sự sống mình trên thế gian này thì sẽ giữ được nó cho sự sống trường sinh’ (Jn 12:25). Nói cách khác, họ sống trong Thiên Chúa ngay trên trái đất này, một cuộc sống được thu hút và biến đổi bởi ánh quang rạng ngời từ Dung Nhan của Người.
Đó là cảm nghiệm của những người bạn chân tình của Thiên Chúa, của các thánh nhân, thành phần mà, nơi những người anh em, nhất là nơi những kẻ bần cùng và khẩn thiết nhất, đã nhận ra và yêu thương Dung Nhan của vị Thiên Chúa được họ thiết tha chiêm ngắm hằng giờ khi nguyện cầu. Đối với chúng ta, các vị là những mẫu gương sáng phấn khởi để bắt chước; các vị bảo đảm với chúng ta rằng nếu chúng ta theo đường lối ấy, đường lối yêu thương, một cách trung thành, thì cả chúng ta nữa, như thánh vịnh gia cất tiếng, sẽ được no thỏa bởi sự hiện diện của Thiên Cgúa (x Ps 17[16]:15).
‘'Jesu ... quam bonus te quaerentibus!' – Ôi Chúa Giêsu, Chúa nhân ái là dường nào đối với những ai tìm kiếm Chúa!’ Đó là những gì chúng ta vừa hát lên trong bài thánh ca cổ điển: ‘Jesu, dulcis menoria’ (Giêsu, chính là tâm tưởng của anh chị em), lời ca được một số người cho là của Thánh Bênađô.
Đó là bài thánh ca có được một tính cách sống động hiếm có nơi đền thánh được cung hiến cho Thánh Nhan này, bài thánh ca gợi nhớ tới bài Thánh Vịnh 23[24]: ‘Đó là thế hệ của những ai tìm kiếm Ngài, thành phần tìm kiếm dung nhan Vị Thiên Chúa của Giacóp’ (câu 6).
Thế nhưng, đâu là ‘thế hệ’ của những kẻ tìm kiếm Dung Nhan Thiên Chúa, thế hệ nào đáng ‘tiến lên núi Chúa’ và ‘đứng trong nơi thánh của Ngài’ đây?
Thánh Vịnh gia giải thích rằng: Nó bao gồm những ai có ‘bàn tay thanh sạch và tấm lòng trinh khiết’, thành phần không ăn nói điêu ngoa, thành phần không ‘thề nguyền gian trá’ với cận nhân của mình (x các câu 3-4). Bởi thế, để được dự phần vào mối hiệp thông với Chúa Kitô và chiêm ngưỡng Nhan Ngài, để nhận ra Dung Nhan của Chúa nơi các khuôn mặt của người an hem mình cũng như trong các biến cố hằng ngày, chúng ta cần phải có ‘bàn tay thanh sạch và con tim tinh tuyền’.
Bàn tay thanh sạch, tức là một đời sống được soi động bởi sự thật yêu thương thắng vượt những gì là lạnh lùng dửng dưng, là ngờ vực, là sai lầm và vị kỷ; và con tim tinh tuyền cũng là những gì thiết yếu nữa, những con tim ngất ngây trước vẻ đẹp thần linh, như Chị Thánh Têrêsa Nhỏ thành Lisieux đã nói trong kinh nguyện cầu cùng Thánh Nhan, những con tim được niêm ấn bằng dấu tích của Thánh Nhan Chúa Kitô.
Quí linh mục thân mến, nếu sự thánh thiện của Dung Nhan Chúa Kitô vẫn là những gì sâu đậm nơi anh em, những vị mục tử của đàn chiên Chúa Kitô, thì đừng sợ: Thánh phần tín hữu được ủy thác cho an hem chăm sóc cũng sẽ được lây nhiễm và biển đổi bởi sự thánh thiện của Dung Nhan này nữa.
Cả anh em chủng sinh, những người đang được huấn luyện để trở thành những hướng đạo viên hữu trách của dân Kitô Giáo, đừng để mình bị thu hút bởi bất cứ một sự gì khác ngoài Chúa Giêsu và ước vọng phục vụ Giáo Hội của Người.
Tôi cũng muốn nói như thế với cả anh chị em tu sĩ, để các hoạt động của anh chị em được phản ảnh hiển nhiên sự thiện hảo và tình thương thần linh.
‘Ôi Chúa, con tìm kiếm Dung Nhan Chúa’: Việc tìm kiếm Dung Nhan Chúa Giêsu cần phải là niềm ước mong của tất cả mọi Kitô hữu chúng ta; thật thế, chúng ta là ‘thế hệ’ tìm kiếm Dung Nhan Ngài trong thời đại của chúng ta đây, Dung Nhan của ‘Vị Thiên Chúa Giacóp’. Nếu chúng ta kiên trì trong việc tìm cầu Dung Nhan Chúa, thì vào cuối cuộc hành trình trần thế của mình, Người, Chúa Giêsu, sẽ là niềm vui vĩnh hằng của chúng ta, là phần thưởng và vinh quang muôn đời của chúng ta: "Sis Jesu nostrum gaudium, qui es futurus praemium: sit nostra in te gloria, per cuncta semper saecula."
Đó là niềm tin tưởng đã tác động các thánh ở miền đất của anh chị em đây, trong số đó, tôi xin đặc biệt nhắc đến Thánh Gabriel Đức Mẹ Sầu Bi và Thánh Camillus de Lellis; việc chúng ta kính nhớ và nguyện cầu được ngỏ cùng các vị.
Thế nhưng, giờ đây chúng ta hãy hiến một tư tưởng biệt kính ‘Nữ Vương toàn thể chư thánh’, đó là Trinh Nữ Maria, Vị chúng ta tôn kính ở các đền thánh và nguyện đường khác nhau khắp các thủng lũng và núi đồi của miền đất Abruoãi. Chớ gì Đức Mẹ, nơi dung nhan của Mẹ – hơn bất cứ nơi một tạo vật nào khác – chúng ta có thể nhận ra những đường nét của Lời Nhập Thể, trông coi các gia đình cũng như các giáo xứ và các thành phố cùng các quốc gia trên toàn thế giới.
Chớ gì Người Mẹ của Đấng Hóa Công cũng giúp chúng ta biết tôn trọng thiên nhiên tạo vật, một tặng ân cao cả của Thiên Chúa mà chúng ta có thể ca ngợi ở nơi đây, khi nhìn thấy những ngọn núi tuyệt vời chung quanh chúng ta. Tuy nhiên, tặng ân này càng ngày càng bị nguy cơ trầm trọng suy thoái môi trường, bởi thế cần phải được bênh vực và bảo vệ. Đây là những gì hết sức khẩn trương, như ĐTGM Force đã nhận định và được nhấn mạnh một cách thích đáng bởi Ngày Suy Nghĩ và Nguyện Cầu cho Việc Bảo Trì Tạo Sinh, một ngày đang được Giáo Hội ở Ý cử hành vào chính hôm nay đây.
Anh chị em thân mến, trong khi cám ơn anh chị em một lần nữa về sự hiện diện của anh chị em và các quà tặng của anh chị em, tôi xin Phúc Lành của Thiên Chúa xuống trên anh chị em cũng như trên tất cả mọi người thân yêu của anh chị em, với công thức thánh kinh xưa kia: ‘Xin Thiên Chúa chúc lành cho anh chị em và gìn giữ anh chị em: Xin Chúa làm cho dung nhan của Ngài chiếu tỏa trên anh chị em và tỏ ra ưu ái với anh chị em: chớ gì Chúa ngước mặt của Ngài về phíc anh chị em và ban cho anh chị em được bình an’ (x Num 6:24-26). Amen!
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày
7/9/2006
Nguyên văn bài Huấn Từ cho Ngày Nguyện Cầu và Chay Tịnh cho Hòa Bình Trung Đông tại Nhà Thờ Thánh George ở Aosta Valley Chúa Nhật 23/7/2006
Tôi chỉ muốn cống hiến mấy lời ngắn ngủi để suy niệm về bài đọc chúng ta đã nghe. Trước bối cảnh của tình trạng thảm thương ở Trung Đông, chúng ta thấy cảm kích trước nhãn quan cái đẹp được Thánh Phaolô trình bày (x Eph 2:13-18): Chúa Kitô là hòa bình của chúng ta. Người đã hòa giải người Do Thái với dân ngoại, liên kết họ vào Thân Thể của Người. Người đã chế ngự được sự thù hằn bằng Thân Thể của Người trên cây thập tự giá. Với cái chết của mình, Người đã chế ngự được sự thù hằn và đã liên kết tất cả chúng ta trong bình an của Người.
Tuy nhiên, còn hơn vẻ đẹp của cái nhãn quan này nữa, chúng ta cảm thấy ngỡ ngàng trước cái tương phản về thực tại chúng ta đang trải qua và chứng kiến. Thoạt tiên, chúng ta chỉ có thể cầu xin Chúa rằng: ‘Thế nhưng, lạy Chúa, vị tông đồ của Chúa đang nói gì với chúng con vậy: Họ đạ được hòa giải rồi ư?’ Thực tế chúng ta lại thấy họ chẳng giải hoà gì cả…. Vẫn còn xẩy ra chiến tranh giữa những người Kitô hữu, tín đồ Hồi giáo, và Do Thái; và vẫn còn có những người khác xúi bẩy chiến tranh làm cho tất cả tiếp tục đầy những hận thù, bạo lực. Vậy thì đâu là hiệu năng của việc Chúa hy hiến? Đâu là thứ bình an được vị tông đồ của Chúa nói với chúng con trong lịch sử?
Con người chúng ta không thể nào giải mã được mầu nhiệm của lịch sử, mầu nhiệm về cái quyền tự do của con người ‘không chấp nhận’ hòa bình của Thiên Chúa. Chúng ta không thể giải mã được tất cả mầu nhiệm về mối liên hệ giữa Thiên Chúa và con người, mầu nhiệm về tác động của Ngài và việc đáp ứng của chúng ta. Chúng ta cần phải chấp nhận mầu nhiệm ấy. Tuy nhiên, có những yếu tố của việc đáp ứng được Chúa cống hiến cho chúng ta.
Yếu tố thứ nhất đó là sự hòa giải này của Chúa, hy tế này của Người, không phải là những gì vô hiệu năng. Thực tại cao cả về mối hiệp thông của Giáo Hội hoàn vũ, của tất cả mọi dân tộc, đó là cơ cấu Hiệp Thông Thánh Thể, một hiệp thông vượt lên trên các biên giới văn hóa, văn minh, dân tộc và thời điểm.
Cuộc hiệp thông này hiện hữu; những ‘hải đảo bình an’ này hiện hữu nơi Thân Thể của Chúa Kitô. Những hải đảo đó hiện hữu. Và những quyền lực hòa bình hiện hữu trên thế giới này. Nếu chúng ta nhìn vào lịch sử, chúng ta có thể thấy các vị đại thánh về bác ái, những vị đã từng tạo nên ‘những ốc đảo’ an bình này của Thiên Chúa trên thế giới, những vị tái thắp sáng lên ngọn đèn của mình, và có thể hòa giải cùng tái tạo hòa bình. Các vị tử đạo hiện hữu là thành phần chịu khổ với Chúa Kitô; các vị đã cống hiến chứng từ hòa bình ấy, chứng từ của tình yêu thương ngăn chặn bạo lực.
Và, khi thấy rằng thực tại hòa bình này hiện hữu, mặc dù thực tại khác vẫn cứ dai dẳng, chúng ta có thể suy niệm sâu xa hơn nữa về sứ điệp của bức thư Thánh Phaolô gửi cho Kitô hữu Êphêsô. Chúa đã chiến thắng trên cây thập tự giá. Người đã không thắng bằng một đế quốc mới, bằng một quyền lực mạnh hơn những quyền lực khác, có khả năng tiêu diệt chúng; Người đã không chiến thắng theo kiểu cách con người, như chúng ta tưởng, bằng một đế quốc này mạnh hơn đế quốc kia. Người đã chiến thắng bằng một tình yêu thương có thể tử vong.
Đó là cách chiến thắng mới của Thiên Chúa, ở chỗ, Ngài không chống lại bạo động bằng thứ bạo động dữ dội hơn. Ngài chống lại bạo động hoàn toàn ngược lại, ỡ chỗ, bằng tình yêu thương cho đến cùng, đến thập giá của Ngài. Đó là đường lối chiến thắng khiêm hạ của Thiên Chúa: ở chỗ, bằng tình yêu của mình – và chỉ nhờ đó mới có thể – Ngài giới hạn bạo lực. Đó là đường lối chiến thắng có vẻ quá chậm đối với chúng ta, thế nhưng đó là đường lối chân thật để chiến thắng sự dữ, chế ngự bạo lực, và chúng ta cần phải tin tưởng đường lối khống chế này của Thiên Chúa.
Tin tưởng nghĩa là chủ động tham dự vào tình yêu thần linh ấy, tham dự vào nỗ lực bình an hóa này, theo chiều hướng với những gì được Chúa Kitô nói rằng: ‘Phúc cho những ai xây dựng hòa bình, vì họ con cái của Thiên Chúa’. Chúng ta cần phải, trong tầm tay của mình, mang tình yêu của chúng ta đến với tất cả những ai đang khổ đau, biết rằng Vị Thẩm Phán của Cuộc Chung Thẩm đồng hóa mình với những ai chịu khổ đau.
Bởi thế, những gì chúng ta làm cho những ai khổ đau là chúng ta làm cho Vị Thẩm Phán Cuối Cùng của cuộc đời chúng ta. Đó là điều hệ trọng, ở chỗ, vào lúc này đây chúng ta có thể mang cuộc chiến thắng của Người vào thế giới, chủ động tham dự vào việc bác ái của Người. Ngày nay, trong một thế giới đa văn hóa và đa tôn giáo, nhiều người đã cố gắng nói rằng: ‘Về vấn đề hòa bình trên thế giới giữa các tôn giáo và văn hóa thì tốt hơn đừng nói quá nhiều về đặc tính đặc biệt của Kitô Giáo, tức là về Chúa Giêsu, về Giáo Hội, và về các bí tích. Hãy hài lòng với những gì chung chung vậy thôi…’
Thế nhưng, nó lại là những gì không đúng. Chính vào lúc này đây, , lúc mà danh Chúa bị lạm dụng hết sức, chúng ta cần đến một Vị Thiên Chúa là Đấng chiến thắng trên thập tự giá, Đấng không chiến thắng bằng bạo lực, mà bằng yêu thương. Chính vào lúc này đây, chúng ta cần đến dung nhan của Chúa Kitô để biết được chân dung của Thiên Chúa, nhờ đó mới có thể mang mối hòa giải và áng sáng cho thế giới. Đó là lý do, cùng với tình yêu, với sứ điệp của tình yêu, chúng ta cũng cần đến chứng từ của Vị Thiên Chúa này, đến cuộc Thiên Chúa chiến thắng của Thiên Chúa, chỉ bằng sự bất bạo động của thập giá Người.
Như thế, chúng ta trở về với khởi điểm. Những gì chúng ta có thể làm đó là chứng từ yêu thương, chứng từ đức tin, và nhất là kêu lên cùng Thiên Chúa rằng: Chúng ta chỉ còn biết nguyện cầu! Chúng ta tin tưởng rằng Cha của chúng ta nghe thấy tiếng kêu của con cái Ngài. Trong Thánh Lễ này, khi chúng ta dọn lòng rước lễ, để lãnh nhận Mình Thánh Chúa Kitô là những gì liên kết chúng ta, chúng ta hãy cùng với Giáo Hội mà nguyện cầu rằng: ‘Lạy Chúa, xin giải thoát chúng con khỏi mọi sự dữ và ban hòa bình cho chúng con vào những ngày tháng của chúng con đây’. Chớ gì đây là lời cầu của chúng ta trong lúc này đây: “Xin giải thoát chúng con khỏi tất cả mọi sự dữ và ban cho chúng con hòa bình’, không phải là ngày mai hay ngày mốt: Lạy Chúa, xin ban hòa bình cho chúng con hôm nay đây. Amen.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 25/7/2006
“Niềm vui xuất phát từ đức tin và mối liên hệ của đức tin với việc giáo dục các thế hệ mới”
Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Huấn Từ Ngỏ Cùng Hội Nghị Giáo Phận Rôma 5/6/2006
Anh Chị Em thân mến,
Tôi hân hoan ở cùng anh chị em một lần nữa để chia sẻ những suy tư của tôi với hội nghị giáo phận của chúng ta, một hội nghị nhắm đến một đề tài thật đẹp và có một tấm vóc hết sức quan trọng về mục vụ, đó là đề tài: Niềm vui xuất phát từ đức tin và mối liên hệ của đức tin với việc giáo dục các thế hệ mới.
Bởi vậy, theo chiều hướng trực tiếp liên quan tới giới trẻ, chúng ta đang trở lại với và khai triển thêm về chủ đề được chúng ta đã bắt đầu bàn tới vào năm ngoái nhân dịp hội nghị giáo phận trước đây.
Bấy giờ chúng ta đã chú trọng tới vai trò của gia đình cũng như của cộng đồng Kitô hữu trong việc hình thành con người và việc truyền đạt đức tin.
Tôi thân ái chào từng người trong anh chị em, các vị giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ nam nữ và giáo dân dấn thân trong việc làm chứng cho đức tin của chúng ta. Tôi đặc biệt chào giới trẻ là thành phần đang có ý định muốn gồm tóm tiến trình đào luyện bản thân của mình với việc lãnh nhận trách nhiệm của giáo hội và truyền giáo đối với thành phần giới trẻ khác cùng thành phần trẻ em.
Tôi ân cần cám ơn vị hồng y tổng đại diện về các lời lẽ của ngài đại diện tất cả anh chị em ngỏ cùng tôi.
Với cuộc hội nghị này cũng như với năm mục vụ là năm sẽ được tác động bởi nội dung của nó, Giáo Phận Rôma đang thực hiện cuộc hành trình qua một giai đoạn dài đã được bắt đầu 10 năm trước mà hiện nay mang Sứ Vụ Thành Đô như lòng mong ước của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, vị tiền nhiệm yêu dấu của tôi.
Thật ra mục đích của nó vẫn không có gì đổi thay, đó là việc lãnh nhận đức tin trong cộng đồng của chúng ta và tìm cách tái thức tỉnh hay tác động nó nơi tất cả mọi cá nhân và gia đình ở đại đô thị này, nơi đức tin đã được rao giảng và Giáo Hội đã được thiết lập bởi thế hệ Kitô hữu đầu tiên, nhất là Tông Đồ Phêrô và Phaolô.
Trong 3 năm vừa qua, anh chị em đã chú trọng đặc biệt tới gia đình để củng cố thực tại nồng cốt của con người này bằng sự thật của Phúc Âm – một sự thật mà tiếc thay ngày nay đã bị trầm trọng suy yếu và đe dọa – cũng như để giúp gia đình thi hành sứ vụ bất khả châm chước của mình trong Giáo Hội và xã hội.
Cái ưu tiên hiện nay chúng ta giành cho việc giáo dục các thế hệ mới sống theo đức tin không có nghĩa là chúng ta đang loại trừ việc chúng ta dấn thân cho gia đình là cơ cấu chính yếu có trách nhiệm trong việc giáo dục.
Trái lại, chúng ta đang đáp ứng với mối quan tâm rộng rãi của nhiều gia đình tin tưởng, thành phần, trong môi trường xã hội và văn hóa ngày nay, sợ rằng họ không thành công trong việc truyền đạt cho con cái mình gia sản đức tin quí báu.
Thật vậy, việc khám phá ra vẻ đẹp và niềm vui của đức tin là một đường lối mà hết mọi thế hệ mới cần phải thực hiện, vì tất cả những gì chúng ta có thuộc về chúng ta nhất và thân thiết với chúng ta nhất đều liên quan tới đức tin: trái tim của chúng ta, trí khôn của chúng ta, tự do của chúng ta, đều liên quan riêng tư một cách sâu xa với vị Chúa hoạt động trong chúng ta.
Tuy nhiên, sâu xa thì đức tin là một tác động và thái độ cộng đồng; nó là việc ‘chúng tôi tin’ của Giáo Hội.
Bởi thế mà niềm vui của đức tin là một niềm vui chung, như Tông Đồ Gioan viết: ‘Những gì chúng tôi đã thấy và đã nghe (là lời sự sống) thì chúng tôi loan báo cho anh chị em, để anh chị em cũng được hiệp thông với chúng tôi… Và chúng tôi viết điều này là để niềm vui của chúng tôi được trọn vẹn’ (1Jn 1:3-4).
Do đó, việc giáo dục các thế hệ mói sống đức tin là một công việc quan trọng và nồng cốt bao gồm toàn thể cộng đồng Kitô hữu.
Anh chị em thân mến, hôm nay tôi đã cảm nghiệm thấy hết sức khó khăn biết bao các khía cạnh khác nhau của việc giáo dục này, thế nhưng chính vì lý do đó mà nó lại càng trở thành quan trọng hơn và đặc biệt khẩn trương hơn.
Thật vậy, có thể nhận thấy hai chiều hướng căn bản của xã hội bị tục hóa hiện nay là những gì rõ ràng liên thuộc nhau. Chúng khiến con người thôi thực hiện việc loan báo Kitô hữu và không thể nào có được một tác hiệu trên những ai có những khuynh hướng và chọn lựa sống đang phát triển.
Một trong hai chiều hướng này là chủ nghĩa bất khả thần tri, một chủ nghĩa xuất phát từ việc biến trí thông minh của con người thành một thứ dụng cụ thuần túy thực tiễn hướng đến chỗ dập tắt đi cảm quan tôn giáo được ghi khắc sâu xa nơi bản tính của chúng ta.
Một chiều hướng khác đó là tiến trình tương đối hóa và làm bật gốc, một tiến trình làm suy yếu những liên hệ linh thánh nhất và những cảm thức xứng đáng nhất của con người, với một hậu quả là con người bị yếu kém đi và những mối liên hệ hỗ tương của chúng ta trở thành nhất thời và bất ổn.
Chính trong trường hợp này mà tất cả chúng ta, nhất là con cái của chúng ta, thành phần thanh thiếu niên và giới trẻ, cần phải sống đức tin như niềm vui và phải tỏa ra một thứ an bình sâu xa xuất phát từ cuộc gặp gỡ Chúa.
Trong thông điệp ‘Thiên Chúa là Tình Yêu’, tôi đã viết: ‘Chúng ta tiến đến chỗ tin tưởng vào tình yêu của Thiên Chúa: Nơi những lời này, Kitô hữu có thể bày tỏ quyết định sâu xa về đời sống của mình. Việc làm Kitô hữu không phải là thành quả của một thứ chọn lựa đạo đức hay của một ý nghĩ cao qúi, mà là cuộc gặp gỡ một biến cố, một con người, những gì làm sống động một chân trời mới và một hướng đi quyết liệt’ (khoản 1).
Nguồn mạch của niềm vui Kitô hữu là niềm tin được Thiên Chúa yêu thương, được yêu thương một cách riêng tư bởi Đấng Tạo Hóa của chúng ta, bởi Đấng nắm giữ toàn thể vũ trụ trong tay của mình và yêu thương mỗi một người trong chúng ta cũng như toàn thể đại gia đình nhân loại bằng một tình yêu say mê và thủy chung, một tình yêu lớn hơn những bất trung và tội lỗi của chúng ta, một tình yêu tha thứ.
Tình yêu này ‘cao cả đến nỗi làm cho Thiên Chúa chống lại bản thân mình’, như hiển nhiên cho thấy nơi mầu nhiệm thập giá: ‘Tình yêu Thiên Chúa đối với con người cao cả đến nỗi khi làm người Người đã theo họ cho đến chết, nhờ đó hòa giải công lý và yêu thương’ (Thông Điệp Thiên Chúa Là Tình yêu, khoản 10).
Anh Chị Em thân mến, niềm tin tưởng và niềm vui được Thiên Chúa yêu thương ấy cần phải được chuyển đạt một cách rõ ràng và thực tiễn cho mỗi một người trong chúng ta, nhất là cho các thế hệ trẻ là thành phần đang tiến vào thế giới đức tin. Nói cách khác, Chúa Giêsu đã nói rằng Người là ‘đường’ dẫn đến cùng Cha, cũng như là ‘sự thật’ và là ‘sự sống’ (Jn 14:5-7).
Vậy vấn đề được đặt ra ở đây là: Làm thế nào để con cái và giới trẻ của chúng ta tìm thấy nơi Người con đường cứu độ và niềm vui ấy một cách cụ thể và hiện sinh? Đó chính là sứ vụ cao cả khiến Giáo Hội hiện hữu – như là gia đình của Thiên Chúa và là cộng đồng các bạn hữu mà chúng ta đã được tháp nhập qua phép rửa khi còn là một con trẻ bé bỏng – trong đó đức tin của chúng ta cùng với niềm vui của chúng ta và niềm tin được Chúa yêu thương cần phải triển nở.
Bởi thế, nó là một việc bất khả châm chước – và đây là công việc được ủy thác cho các gia đình Kitô hữu, các vị linh mục, các giáo lý viên và các nhà giáo dục, cho chính giới trẻ sống giữa bạn bè cũng như cho giáo xứ của chúng ta, các hội đoàn và phong trào, và sau cùng cho toàn thể cộng đồng giáo phận của chúng ta – đó là việc các thế hệ mới cảm nghiệm Giáo Hội như là một cộng đồng bạn hữu thực sự khả lụy và gần gũi ở mọi nơi và mọi lúc trong cuộc đời, cho dù vui mừng và mãn nguyện hay cực nhọc và tối tăm; như một cộng đồng không bao giờ bỏ rơi chúng ta, ngay cả trong giờ lâm tử, vì nó mang trong mình lời hứa trường sinh.
Trẻ em và giới trẻ Rôma thân mến, phần các con tôi xin các con hãy phó mình cho Giáo Hội và hãy yêu mến cùng tin tưởng Giáo Hội, vì Chúa hiện diện nơi Giáo Hội và vì Giáo Hội chẳng tìm kiếm gì ngoài sự thiện thực sự của các con.
Ai biết rằng họ được yêu thương thì bị đánh động để yêu thương. Chính Chúa là Đấng đã yêu thương chúng ta trước, Đấng xin chúng ta hãy đặt lòng yêu mến Người và thành phần được Người yêu thương vào tâm điểm của cuộc đời của mình.
Đặc biệt là thành phần thanh thiếu niên và giới trẻ, thành phần cảm thấy nơi bản thân mình tiếng gọi khẩn thiết yêu thương, thành phần cần phải được giải tỏa khỏi thành kiến lan tràn cho rằng Kitô Giáo, với những giới luật và cấm đoán của mình, đặt ra quá nhiều ngăn trở trên con đường hoan lạc yêu thương, nhất là ngăn ngừa con người trọn vẹn hoan hưởng niềm hạnh phúc mà con người nam nữ tìm thấy được nơi tình họ yêu thương nhau.
Trái lại, đức tin và đạo lý Kitô Giáo không có ý dập tắt yêu thương mà làm cho nó lành mạnh, mạnh mẽ và thật sự thanh thoát: Đó là ý nghĩa thực sự của Thập Giới, một thập giới không phải là một chuỗi ‘chối từ’ mà là một ‘ưng thuận’ cao cả đối với yêu thương và sự sống.
Thật vậy, tình yêu thương của con người cần phải được thanh tẩy, chín mùi và trổi vượt nếu nó muốn trở thành hoàn toàn nhân bản, muốn mở màn cho một niềm vui chân thật và bền bỉ, tức là muốn đáp ứng với vấn đề trường sinh nó chất chứa trong mình và không thể chối bỏ mà không phản lại chính mình.
Đó là lý do chính tại sao tình yêu giữa một người nam và một người nữ chỉ hoàn toàn trọn vẹn trong hôn nhân mà thôi.
Nơi tất cả mọi công cuộc giáo dục, trong việc đào luyện con người và Kitô hữu, chúng ta không được quan trọng hóa vấn đề yêu thương bằng nỗi sợ hãi hay ngượng ngùng: Nếu chúng ta làm thế, chúng ta sẽ cho thấy một thứ Kitô Giáo quái gở thật sự không thể nào lôi cuốn giới trẻ là thành phần vốn hướng về sự sống.
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải đưa giới trẻ ấy đến chiều kích nguyên vẹn của tình yêu Kitô Giáo, một tình yêu đối với Thiên Chúa và một tình yêu đối với tha nhân liên kết với nhau bất khả phân ly, và tình yêu tha nhân đặc biệt là một việc dấn thân thiết thực. Kitô hữu không thể cảm thấy mãn nguyện với những lời nói hay những ý hệ lọc lừa mà cần phải đáp ứng các thứ nhu cầu của anh chị em mình, thực sự cống hiến bản thân mình mà không hài lòng với một vài công việc thiện rải rác nào đó.
Bởi thế, việc dạy cho trẻ em một thứ kinh nghiệm phục vụ cụ thể đối với thành phần tha nhân cần thiết hơn họ là một yếu tố giáo dục đích thức và trọn vẹn trong đức tin.
Cùng với nhu cầu yêu thương, ước muốn biết sự thật là những gì bẩm sinh nơi chính bản tính của con người.
Bởi thế, trong việc giáo dục cho các thế hệ trẻ, vấn đề sự thật chắc chắn là những gì không thể nào tránh được: Trái lại, nó cần phải chiếm một vị thế chính yếu.
Khi đặt vấn đề về sự thật là chúng ta thật sự đang nới rộng chân trời lý trí của chúng ta, chúng ta đang bắt đầu giải thoát lý trí khỏi những biên giới quá hẹp hòi gò bó nó khi chúng ta chỉ coi những gì có thể là đối tượng của nghiệm thực hay tính toán mới hợp tình hợp lý.
Ở đây xẩy ra việc gặp gỡ giữa lý trí và đức tin. Đúng vậy, nhờ đức tin chúng ta chấp nhận tặng ân Thiên Chúa tỏ mình ra cho chúng ta, thành phần là tạo vật được dựng nên theo hình ảnh của Ngài. Chúng ta đón nhận và chấp nhận sự thật mà trí khôn chúng ta không thế nào hoàn toàn thấu triệt hay chiếm hữu, mà là sự thật chính vì thế lại nới rộng chân trời kiến thức của chúng ta và khiến chúng ta có thể tiến tới một mầu nhiệm nhận chìm chúng ta, và thấy được nơi Thiên Chúa ý nghĩa tối hậu cho cuộc đời của chúng ta.
Các bạn thân mến, chúng ta rõ biết là không dễ gì thắng vượt được những giới hạn của lý trí chúng ta như thế.
Do đó, là một tác động rất riêng tư, đức tin vẫn là một sự chọn lựa của quyền chúng ta tự do có thể phủ nhận.
Tuy nhiên, ở đây mới cần đến chiều kích thứ hai của đức tin, đó là việc phó mình cho một con người, không phải là bất cứ ai, mà là Chúa Giêsu Kitô, cũng như cho Cha là Đấng đã sai Người.
Tin tưởng nghĩa là tạo nên một mối liên hệ rất riêng tư với Đấng Hóa Công và Cựu Chuộc của chúng ta, nhờ Chúa Thánh Thần là Đấng tác động trong tâm can của chúng ta, và làm cho mối liên hệ này trở thành nền tảng cho cả cuộc sống của chúng ta.
Thật vậy, Chúa Giêsu Kitô ‘là sự thật hiện thân, Đấng lôi kéo thế gian đến cùng Người…. Hết mọi sự thật khác là hương vị của sự thật Người và qui về Người’ ("Address to the Congregation for the Doctrine of the Faith," Feb. 10, 2006; L'Osservatore Romano, English edition, Feb. 22, 2006, p. 3).
Bởi thế, Người làm cho tâm can chúng ta tràn đầy, nới rộng và chiếm đoạt nó bằng niềm vui, mở rộng trí khôn của chúng ta tới những chân trời chưa từng thấy, cống hiến cho tự do của chúng ta điểm tựa quan thiết, nâng nó lên khỏi tính chất hẹp hòi vị kỷ và làm cho nó có khả năng yêu thương chân chính.
Trong việc giáo dục cho các thế hệ mới, do đó, chúng ta không được sợ phải đương đầu với sự thật của đức tin thực sự làm chủ được kiến thức của nhân loại.
Khoa học đang tiến bộ rất nhanh hiện nay và điều này khiến cho tất cả mọi mọi sự rất thường được thấy như mẫu thuẫn với những niềm xác tín của đức tin, gây ra tình trạng lầm lẫn và gây khó dễ hơn cho việc chấp nhận sự thật Kitô Giáo.
Thế nhưng, Chúa Giêsu Kitô là và vẫn là Chúa của tất cả tạo vật và toàn thể lịch sử: “Tất cả mọi sự đều được dựng nên nhờ Người và cho Người… trong Người tất cả mọi sự liên kết với nhau’ (Col 1:16-17).
Cho nên, nếu cuộc đối thoại giữa đức tin và lý trí được thành tâm và xác đáng thực hiện thì nó cống hiến cơ hội để có thể nhận định một cách hiệu quả hơn và thuyết phục hơn cái lý do tại sao tin tưởng vào Thiên Chúa – không phải là vào bất cứ một vị Chúa nào mà là Thiên Chúa tỏ mình ra nơi Chúa Giêsu Kitô – cũng như cơ hội để tỏ ra cho thấy rằng hết mọi ước nguyện chính đáng của con người đều được nên trọn nơi chính Chúa Giêsu Kitô.
Giới trẻ Rôma thân mến, do đó, các bạn hãy tin tưởng và can đảm dấn bước trên con đường tìm kiếm sự thật. Và các vị linh mục và giáo dục gia thân mến, xin đừng ngần ngại cổ võ một thứ ‘chăm sóc mục vụ cho trí khôn’ thực sự và thích đáng – nói một cách rộng hơn, một thứ chăm sóc mục vụ cho con người – thứ chăm sóc mục vụ trân trọng chú ý tới các vấn nạn của giới trẻ, cả những vấn nạn về cuộc sống lẫn những vấn nạn xuất phát từ việc họ đem so sánh với các hình thức lý lẽ lập luận lan tràn ngày nay, để giúp cho họ có thể tìm thấy những giải đáp chắc chắn và thích đáng của Kitô Giáo, và sau cùng, làm cho họ biết coi Chúa Giêsu là những gì đáp ứng trên hết của họ.
Chúng ta đã nói về đức tin như một cuộc gặp gỡ với Đấng là sự thật và là tình yêu. Chúng ta cũng đã thấy rằng đó là một cuộc gặp gỡ vừa hiệp thông vừa riêng tư, và là một cuộc gặp gỡ cần phải diễn ra nơi tất cả mọi chiều kích của đời sống chúng ta qua việc hành sử trí thông minh của chúng ta, những chọn lựa tự do của chúng ta, việc phục vụ yêu thương của chúng ta.
Tuy nhiên, có một nơi đặc biệt để việc hội ngộ này có thể diễn ra một cách trực tiếp hơn. Ở đó, nó được củng cố và vững vàng, nhờ đó có thể thực sự thấm đậm và đánh dấu cả cuộc sống của chúng ta, đó là việc cầu nguyện.
Giới trẻ thân mến, tôi tin rằng nhiều người trong các bạn đã tham dự Ngày Giới Trẻ Thế Giới ở Cologne. Ở đó, cùng nhau chúng ta đã nguyện cầu cùng Chúa, chúng ta đã tôn thờ Người hiện diện trong Thánh Thể, chúng ta đã hiến dâng Hy Tế Thánh của Người.
Chúng ta đã suy niệm về tác động dứt khoát yêu thương Chúa Giêsu tỏ ra ở Bữa Tiệc Ly hướng đến cuộc tử nạn của Người, chấp nhận cuộc tử nạn này nơi tận thâm tâm của Người và đã biến đổi nó thành một tác động yêu thương, thành một cuộc cách mạnh đặc thù có thể thực sự canh tân thế giới và giải thoát nhân loại, chế ngự quyền lực tội lỗi và sự chết.
Tôi xin quí bạn giới trẻ cùng tất cả anh chị em đang hiện diện nơi đây, anh chị em thân mến, tôi xin toàn thể Giáo Hội Rôma yêu dấu, nhất là các tâm hồn tận hiến đặc biệt trong các đan viện kín cổng cao tường, hãy thiết tha nguyện cầu, liên kết một cách thiêng liêng với Mẹ Maria của chúng ta, để tôn thờ Chúa Kitô sống động trong Thánh Thể, để say yêu Người hơn bao giờ hết.
Người là người anh em của chúng ta và là người bạn thật sự của chúng ta, là vị phu quân của Giáo Hội, là Vị Thiên Chúa trung thành và xót thương đã yêu chúng ta trước.
Nhờ đó giới trẻ quí bạn mới sẵn sàng và tình nguyện đáp lại tiếng gọi của Người nếu Người muốn quí bạn hoàn toàn hiến thân cho Người sống thiên chức linh mục hay đời tận hiến.
Nếu chúng ta nuôi dưỡng mình bởi Chúa Kitô và mến yêu Người thì chúng ta sẽ cảm thấy nơi mình cái động lực thôi thúc chúng ta mang những người khác đến cùng Người: Thật vậy, chúng ta không thể giữ niềm vui đức tin nơi mình; chúng ta cần phải truyền đạt niềm vui ấy.
Nhu cầu này cần phải trở nên mãnh liệt hơn nữa và thôi thúc hơn nữa trong lúc đang lan tràn tình trạng lạ lùng lãng quên Thiên Chúa ở những miền rộng lớn trên thế giới ngày nay cũng như tại Rôma này đây ở một mức độ nào đó. Tình trạng lãng quên này làm phát sinh ra nhiều chuyện phù phiếm, nhiều lập luận vô bổ phi lý, bao gồm cả cảm giác hết sức bất mãn và trống rỗng.
Thế nên, anh chị em thân mến, trong việc khiêm tốn làm chứng và thừa sai cho Vị Thiên Chúa hằng sống ấy, chúng ta cần phải trở thành những sứ giả ở khắp nơi cho niềm hy vọng xuất phát từ niềm xác tín của đức tin: Nhờ đó chúng ta mới có thể giúp cho anh chị em chúng ta và đồng bào chúng ta tái khám phá ra ý nghĩa và niềm vui nơi cuộc sống của họ.
Tôi biết rằng anh chị em đang dấn thân cho các môi trường yêu dấu của việc chăm sóc mục vụ: tôi lấy làm vui và tôi xin cám ơn anh chị em.
Trong năm đầu của giáo triều mình, tôi đặc biệt có thể cảm nghiệm và cảm thức được cái sống động nơi việc Kitô hữu hiện diện nơi giới trẻ và các sinh viên đại học ở Rôma, cũng như nơi thành phần trẻ em được rước lễ lần đầu.
Tôi xin anh chị em hãy tin tưởng tiếp tục như thế, vào sâu hơn nữa mối liên hệ giữa anh chị em với Chúa Kitô, nhờ đó công cuộc tông đồ của anh chị em càng ngày càng hiệu nghiệm hơn.
Trong việc dấn thân này, đứng coi thường bất cứ một chiều kích nào của cuộc sống, vì Chúa Kitô đã đến cứu độ trọn vẹn con người, nơi cái thâm sâu của lương tâm cũng như nơi những diễn đạt của văn hóa và các mối liên hệ về xã hội.
Anh chị em thân mến, tôi xin trao phó cho anh chị em những suy tư chia sẻ này với một con tim thân tình, như là một góp phần cho công việc của anh chị em trong những buổi tối hội nghị này cũng như trong năm mục vụ tới đây.
Chớ gì lòng cảm mến và phép lành của tôi luôn hỗ trợ anh chị em, hôm nay và mai này.
Xin cám ơn anh chị em đã chú tâm lắng nghe tôi!
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 23/6/2006
(Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Huấn Từ cho thành phần nhân viên Truyền Thông Công Giáo của Hội Đồng Giám Mục Ý Quốc ngày 2/6/2006)
Chư Hồng Y, Quí Huynh trong Hàng Giáo Phẩm,
Anh Chị Em thân mến trong Chúa Kitô,
Hôm nay tôi hân hoan gặp gỡ tại Vatican này thành phần nhân viên của tờ nhật báo Công Giáo Avvenire, của đài truyền hình Sat2000, của đài phát thanh InBlu, và của cơ quan báo chí SIR.
Đây là một nhóm rất quan trọng về ngành truyền thông đại chúng có liên hệ với hội đồng giám mục Ý Quốc được đại diện nơi đây có vị chủ tịch của nó là Đức Hồng Y Camillo Ruini, vị tôi trước hết gửi lời chào kính của tôi.
Rồi tôi ưu ái gửi lời chào đến mỗi một người trong anh chị em, và tôi cám ơn vị giám đốc nhật báo Avvenire và của đài truyền hình Sat2000 về những lời lẽ tốt đẹp ngỏ cùng tôi thay cho hết mọi người hiện diện nơi đây.
Quí bạn thân mến, quí bạn đang thực hiện một vai trò thật sự là quan trọng, đó là việc quí bạn thực sự góp phần vào việc liên tục dấn thân của người Công Giáo Ý Quốc trong việc mang Phúc Âm của Chúa Kitô vào đời sống của quốc gia này.
Thật thế, tôi hoan hỉ nhớ lại rằng trong những năm ngay sau Công Đồng Chung Vaticanô II, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã hết sức mong ước thành lập tờ Avvenire như là một tờ nhật báo Công Giáo toàn quốc. Đó là một quyết định phấn khởi trong việc bấy giờ nới rộng việc dấn thân của anh chị em tới lãnh vực truyền thanh và truyền hình, sử dụng các kỹ thuật tân tiến nhất như sắc lệnh ‘Inter Mirifica’ mong muốn (x các khoản 13-14).
Anh chị em bởi thế đã trở nên một trong những phương tiện để gieo rắc sứ điệp Công Giáo ở Ý quốc.
Đức tin và văn hóa
Để nắm được tầm mức quan trọng tổng quát công việc được anh chị em hằng ngày dấn thân thực hiện, cần phải suy nghĩ vắn gọn về những liên hệ giữa đức tin và văn hóa như chúng đã phát triển trong mấy thập niên gần đây.
Như anh chị em quá rõ, Kitô Giáo đã giúp vào việc hình thành văn hóa Âu Châu qua các thế kỷ.
Trước sự xuất hiện của trào lưu minh tri, văn hóa Âu Châu bắt đầu càng ngày càng bị trôi giạt một cách mau chóng khỏi những nền tảng Kitô Giáo của nó. Nhất là trong giai đoạn gần đây nhất, tình trạng đổ vỡ về gia đình và hôn nhân, những cuộc tấn công sứ sống con người và phẩm giá của nó, tình trạng biến đức tin thành một cảm nghiệm chủ quan và việc tục hóa từ đó mà ra nơi ý thức của quần chúng, đều được coi như là những hậu quả nghiệt ngã và thê thảm của tình trạng tách lìa ấy.
Tuy nhiên, tại những phần đất khác nhau ở Âu Châu, có những cảm nghiệm và hình thức văn hóa Kitô Giáo đang phát triển mạnh mẽ hơn hay đang tái phục hồi tính chất sống động hơn. Đặc biệt là đức tin Công Giáo vẫn còn hiện hữu một cách thực sự nơi đời sống của dân chúng Ý quốc, và những dấu hiệu về tính chất sống động mới mẻ của nó được hiện lộ tở tường trước mắt tất cả mọi người.
Bởi thế mà, trong công việc làm của anh chị em như là những nhà truyền thông được tác động bởi Phúc Âm, vấn đề liên lỉ ý thức là những gì thiết yếu.
Như anh chị em quá rõ, các vị mục tử của Giáo Hội ở Ý quốc đang lo lắng bảo trì những hình thức Kitô Giáo xuất phát từ truyền thống cao cả của nhân dân Ý quốc và là những gì khuôn đúc đời sống cộng đồng, làm cho chúng được cập nhật hóa, thanh tẩy chúng ở những chỗ cần thiết, thế nhưng trên hết là củng cố và phấn chấn chúng.
Công việc của anh chị em còn là việc bảo trì và cổ võ các cảm nghiệm Kitô Giáo mới mẻ đang được phát sinh, và giúp chúng phát triển một ý thức rõ ràng hơn bao giờ hết về các căn gốc giáo hội của mình cùng với vai trò chúng có thể thực hiện trong xã hội và văn hóa Ý quốc.
Quí bạn thân mến, tất cả những điều ấy đều thuộc về công khó hằng ngày của quí bạn, thuộc về một công việc không phải được thực hiện một cách thuần lý trí, mà là chú trọng tới hằng ngàn khía cạnh nơi đời sống thực tiễn của một dân tộc, tới những trục trặc của nó, tới những nhu cầu của nó và tới những niềm hy vọng của nó.
Chớ gì niềm tin tưởng rằng đức tin Kitô Giáo là những gì cởi mở trước ‘những gì là chân thực, thiện hảo, công chính, tinh tuyền, yêu thương, độ lượng’ nơi văn hóa của các dân tộc, như Thánh Phaolô dạy Kitô hữu giáo đoàn Philiphê (x 4:8), bảo trì quí bạn và hiến cho quí bạn lòng can đảm để thực hiện những công khó của quí bạn.
Bởi vậy, quí bạn hãy tiếp tục nơi công việc của mình bằng tinh thần này và thái độ này, thực hiện một chứng từ ngời sáng của một đời sống Kitô Giáo sâu xa và nhờ đó liên kết chặt chẽ với Chúa Kitô, để quí bạn có thể nhìn vào thế giới bằng con mắt của Người.
Quí bạn hãy sung sướng được thuộc về Giáo Hội và góp tiếng nói của mình và trí khôn của mình cho trào lưu truyền thông to lớn. Đừng bao giờ chán chường trong việc thiết dựng những cây cầu thông cảm và truyền thông giữa cảm nghiệm của giáo hội với ý nghĩ của quần chúng. Có thế quí bạn mới trở thành những vai chính của một hình thức truyền thông không lẩn tránh mà là thiết tha với việc phục vụ thành phần đồng thời của chúng ta.
Tôi tha thiết hy vọng rằng những người Công Giáo và tất cả mọi người Ý đều mong muốn những giá trị chân thực sẽ lưu tâm và nâng đỡ việc truyền thông này.
Về phần mình, tôi xin hứa với anh chị em về việc gắn bó của tôi, và để công việc của anh chị em càng sinh dồi dào hoa trái hơn, tôi thân ái ban phép lành tòa thánh cho anh chị em và gia đình của anh chị em, một phép lành ban hồng ân ánh sáng và sức mạnh chỉ có Thiên Chúa mới có thể làm thấm nhập vào tâm can của con cái mình mà thôi.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 27/6/2006
Anh Chị Em thân mến,
Trong lúc chúng ta hướng tới cuộc gặp gỡ giữa các phần tử của hơn 100 phong trào và tân cộng đồng, được tổ chức vào Thứ Bảy, 3/6 ở Quảng Trường Thánh Phêrô, tôi hân hoan gửi đến anh chị em, thành phần đại diện cho tất cả mọi hiệp hội của giáo hội ấy qui tụ lại tại Rocca di Papa cho Cuộc Hội Nghị Thế Giới của anh chị em, lời chào thân ái theo những lời của Thánh Tông Đồ: ‘Xin Thiên Chúa của niềm hy vọng làm cho anh chị em tràn đầy mọi niềm vui và an bình trong sự tin tưởng, nhờ đó,, bởi quyền năng của Thánh Linh, anh chị em được dồi dào hy vọng’ (Rm 15:13).
Hình ảnh về Hội Nghị Thế Giới trước đây của Các Phong Trào trong Giáo Hội được tổ chức ở Rôma vào thời khoảng 26-29/5/1988 vẫn còn sống động trong tâm trí của tôi. Trong khả năng của mình bấy giờ là tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin, tôi đã được yêu cầu nói với hội nghị này, bằng một bài diễn từ về cốt lõi thần học của các phong trào trong giáo hội.
Tột đỉnh của hội nghị ấy là buổi gặp gỡ đáng nhớ với Vị Giáo Hoàng Gioan Phaolô II yêu dấu của chúng ta hôm 30/5 tại Quảng Trường Thánh Phêrô, một buổi gặp gỡ được vị tiền nhiệm của tôi bày tỏ việc hài lòng của ngài với các phong trào và các tân cộng đồng trong giáo hội, những tổ chức ngài diễn tả là ‘các dấu hiệu hy vọng’ cho thiện ích của Giáo Hội và nhân loại.
Hôm nay, ý thức được cái nền tảng được thiết lập từ đó, trên con đường cho thấy mối quan tâm mục vụ, lòng cảm mến và giáo huấn của Gioan Phaolô II, tôi muốn chúc mừng Hội Đồng Tòa Thánh Về Giáo Dân qua các vị Tổng Giám Mục Stanislaw Rylko, chủ tịch, Giám Mục Josef Clemens, thư ký, và các cộng tác viên của các vị, về việc khơi động quan trọng và quí hóa cho Hội Nghị Thế Giới này.
Đề tài của hội nghị này, ‘Vẻ đẹp của việc làm Kitô hữu và niềm vui của việc truyền đạt vẻ đẹp này’, được tác động bởi điều tôi đã nói trong bài giảng đăng quang Thừa Tác Vụ Phêrô của tôi. Đề tài này là một lời mời gọi suy nghĩ về những gì là những đặc tính chính yếu của biến cố Kitô giáo: thật thế, chúng ta gặp gỡ nơi biến cố Kitô giáo này Đấng, bằng máu thịt, đã làm cho vinh quang của Thiên Chúa rạng ngời trên trái đất một cách hữu hình và trong lịch sử.
Những lời của Bài Thánh Vịnh 45 [44]:2 là những áp hợp với Người: ‘Người là người con tuyệt mỹ nhất trong con cái loài người’. Và ngược đời thay, những lời sau đây của vị tiên tri cũng ám chỉ về Người nữa: ‘Người không còn hình thù hay duyên dáng mà chúng ta đáng lẽ thấy Người, và không còn vẻ đẹp như chúng ta mong thấy nơi Người’ (Is 53:2).
Nơi Chúa Kitô, vẻ đẹp của sự thật và vẻ đẹp của yêu thương hội tụ lại; thế nhưng, yêu thương, như con người biết, cũng kêu gọi việc sẵn sàng chịu khổ, một thứ sẵn sàng đối với thành phần yêu nhau thậm chí có thể dẫn đến việc hy sinh mạng sống mình (x Jn 15:13)!
Chúa Kitô, Đấng là ‘sự mỹ trên hết mọi sự mỹ’, như Thánh Bonaventura thường nói (Sermones Dominicales, 1:7), được trở thành hiện thực nơi tâm can của con người nam nữ và thu hút họ đến với ơn gọi yêu thương của họ. Chính nhờ lực thu hút phi thường này mà lý trí được lôi kéo ra khỏi tình trạng lờ đờ của nó và mở ra trước Huyền Nhiệm. Bởi thế mà vẻ đẹp tuyệt vời của tình yêu nhân hậu Thiên Chúa được tỏ hiện, đồng thời, vẻ đẹp của con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, được tái sinh bởi ân sủng và hướng đến vinh quang vĩnh hằng.
Qua các thế hệ, Kitô Giáo đã được truyền đạt và phổ biến nhờ tính chất mới mẻ từ đời sống của những con người và những cộng đồng có khả năng làm chứng từ sâu sắc yêu thương, hiệp nhất và niềm vui.
Chính cái mãnh lực này đã đẩy một số lớn con người tới ‘việc sinh động’, từ thế hệ này tới thế hệ kia. Không phải hay sao vẻ đẹp của đức tin nơi dung nhan các thánh đã thúc động nhiều con người nam nữ theo vết chân của các vị hay sao?
Mãnh lực này thực sự cũng bao gồm cả anh chị em nữa, ở chỗ, qua các vị thành lập và những vị khởi xướng nên những phong trào và cộng đồng mà anh chị em đã thoáng nhìn dung nhan của Chúa Kitô chiếu giãi ánh quang đặc biệt và mở đường cho cuộc hành trình của anh chị em.
Hôm nay chúng ta vẫn tiếp tục làm vang động trong tâm can của rất nhiều lời mời gọi ‘hãy đến theo Thày’ là lời mời gọi có thể quyết định số mệnh của họ. Điều này xẩy ra một cách bình thường qua chứng từ của những người đã có cảm nghiệm riêng tư về sự hiện diện của Chúa Kitô. Trên dung nhan và nơi ngôn từ của những ‘tạo vật mới’ ấy, ánh sáng của Người trở nên hữu hình và lời mời gọi của Người trở nên khả thính.
Bởi thế tôi muốn nói cùng anh chị em, hỡi quí bạn thuộc các phong trào: hãy tác hành để bảo đảm rằng các vị bao giờ cũng là những học đường của mối hiệp thông, cũng là những nhóm tiếp tục cuộc hành trình giúp con người biết sống trong sự thật và yêu thương được Chúa Kitô bày tỏ và truyền đạt cho chúng ta qua chứng từ của các vị tông đồ, giữa lòng của đại gia đình các môn đệ.
Chớ gì lời huấn dụ của Chúa Giêsu không ngừng vang vọng trong lòng anh chị em: ‘Ánh sáng của các con phải chiếu tỏa trước mắt con người, để họ thấy việc lành của các con mà tôn vinh Cha các con ở trên trời’ (Mt 5:16). Hãy mang ánh sáng của Chúa Kitô đến với tất cả mọi môi trường xã hội và văn hóa các bạn sống. Lòng nhiệt thành truyền giáo là chứng cớ của một cảm nghiệm sâu xa cho lòng trung thành mới mẻ hơn bao giờ hết đối với thứ linh sủng của con người vượt trên bất cứ một loại thoái lui mệt mỏi hay vị kỷ nào.
Hãy dẹp tan bóng tối của một thế giới tràn ngập những sứ điệp mâu thuẫn của các thứ ý hệ! Không có vẻ đẹp giá trị nào nếu thiếu một sự thật cần được nhìn nhận và theo đuổi, nếu yêu thương nhường bước cho cảm tình hời hợt mau qua, nếu hạnh phúc trở thành một thứ ảo vọng khó nắm bắt, hay nếu tự do thoái hóa thành bản năng.
Xấu xa biết bao cái đam mê về quyền lực, sở hữu và khoái lạc là những gì có thể nẩy sinh ra nơi đời sống của dân chúng và các quốc gia! Hãy làm chứng cho cái tự do Chúa Kitô làm cho chúng ta thanh thoát (x Gal 5:1) đối với thế giới bị rắc rối này.
Cái liên hiệp đặc biệt giữa tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân làm cho đời sống tuyệt vời và khiến cho sa mạc chúng ta thường sống nở hoa tươi mới. Nơi nào yêu thương được thể hiện như một đam mê tha thiết với đời sống và định mệnh của người khác, nơi nào yêu thương chiếu tỏa cả ở cảm thức lẫn việc làm và trở thành một lực xây dựng một trật tự xã hội công chính hơn, thì ở đó một nền văn minh được dựng xây có thể đương đầu với cuộc tấn công của tình trạng dã man.
Hãy trở thành những người xây dựng một thế giới mới hợp với ordo amoris là nơi thể hiện vẻ đẹp của đời sống con người.
Ngày nay, các phong trào của giáo hội và các tân cộng đồng là một dấu hiệu rạng ngời cho vẻ đẹp của Chúa Kitô cũng như cho Giáo Hội là hiền thê của Người. Các bạn thuộc về cấu trúc sống động của Giáo Hội. Giáo Hội cám ơn các bạn về cuộc dấn thân truyền giáo của các bạn, về hoạt động chính thức vì các gia đình Kitô hữu mà các bạn đang càng ngày càng tiến triển, và về việc phát động những ơn gọi linh mục thừa tác và đời sống tận hiến được các bạn nuôi dưỡng nơi các phần tử của mình.
Giáo Hội cũng biết ơn các bạn về việc các bạn sẵn lòng chẳng những chấp nhận những hướng dẫn chủ động của Vị Thừa Kế Thánh Phêrô, thế nhưng cũng của các vị giám mục thuộc những Giáo Hội địa phương khác nhau, những vị, cùng với Giáo Hoàng, là thành phần quản thủ chân lý và bác ái trong sự hiệp nhất. Tôi tin tưởng vào đức vâng lời mau mắn của các bạn.
Bên trên và vượt trên việc xác nhận về quyền lợi đối với chính sự sống, thì việc xây dựng Thân Thể của Chúa Kitô giữa những gì khác bao giờ cũng phải là những gì trổi vượt như là một ưu tiên bất khả phủ nhận.
Các phong trào cần phải tiến đến mỗi một vấn đề bằng những cảm thức sâu xa hiệp thông, bằng một tinh thần trung thành với những vị mục tử hợp pháp.
Chớ gì các bạn được nâng đỡ nhờ tham dự vào việc nguyện cầu của Giáo Hội, mà phụng vụ là việc diễn đạt cao đẹp nhất cái vẻ đẹp của vinh quang Thiên Chúa, và một cách nào đó là một cái thoáng nhìn của trời cao trên trái đất vậy.
Tôi ký thác các bạn cho việc chuyển cầu của vị chúng ta kêu cầu như Tota pulchra, ‘Toàn Mỹ’, một vẻ đẹp lý tưởng được thành phần họa sĩ luôn tìm kiếm để mô phỏng nơi các tác phẩm của họ, ‘người nữ mặc mặt trời’ (Rev 12:1), nơi người nữ này vẻ đẹp của con người gặp gỡ vẻ đẹp của Thiên Chúa.
Với những cảm thức ấy, tôi ban phép lành tòa thánh đặc biệt chop tất cả các bạn như một hứa quyết lòng quí mến liên lỉ của tôi.
Tại Vatican ngày 22/5/2006
Giáo Hoàng Biển Đức XVI
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 16/7/2006
Ngày đầu Tháng Hoa 2006 về Năm Mùa Vui và Mẹ Maria là Người Nữ Mến Yêu
Trong Tháng Hoa 2006, vào chính ngày đầu tháng 1/5, Đức Thánh Cha đã viếng thăm Đền Thánh Đức Mẹ Tình Yêu Thần Linh ở ngoại ô thành Rôma. Kết thúc buổi cầu Kinh Mân Côi, Đức Thánh Cha đã ban huấn từ (như được chuyển dịch dưới đây). Thế rồi, vào buổi tối ngày cuối tháng, tức vào Lễ Mẹ Thăm Viếng 31/5, vào lúc 8 giờ tối, ngài đã đến Hang Đức Mẹ Lộ Đức vào lúc 9 giờ để ngỏ đôi lời và ban phép lành cho thành phần tham dự.
Anh Chị Em thân mến,
Thật là an ủi được ở với anh chị em hôm nay để lần hạt Mân Côi ở Đền Thánh Đức Mẹ của Lòng Thương Xót Chúa đây, nơi tín hữu bày tỏ lòng sùng mộ đối với Trinh Nữ Maria là những gì được đâm rễ trong tâm hồn và lịch sử của dân Rôma.
Tôi cảm thấy đặc biệt vui mừng khi nghĩ tới vị tiền nhiệm yêu dấu của tôi là Đức Gioan Phaolô II, vị vào ngày đầu tiên của Tháng Hoa năm 1979, đúng 27 năm trước đây, đã đến thăm đền thánh này lần đầu tiên với tư cách là Giáo Hoàng.
Tôi thân ái chào vị giám đốc đền thánh là Đức Ông Pasquale Silla, và cám ơn ngài về những lời lẽ ưu ái ngài ngỏ cùng tôi. Ngoài ra tôi xin chào quí vị linh mục khác, Oblate Sons of Our Lady of Divine Love, và các chị dòng, Daughters of Our Lady of Divine Love, quí tu sĩ nam nữ đang hân hoan và quảng đại dấn thân phục vụ ở đền thánh này cùng với hàng loạt tất cả những công việc tốt lành khác nhau của đền thánh đây. Tôi chào vị đại diện giáo phận Rôma là Đức Hồng Y Camillo Ruini, và vị giám mục phụ tá Vùng Nam Rôma là Đức Cha Paolo Schiavon, cùng toàn thể anh chị em thân mến, thành phần đã đông đảo đến đây.
Chúng ta đã lần hạt Mân Côi với năm mầu nhiệm mùa vui, những mầu nhiệm diễn lại trước con mắt tâm hồn những giây phút khởi đầu cho việc cứu độ của chúng ta, từ khi Chúa Giêsu được thụ thai trong lòng Trinh Nữ Maria bởi Thánh Thần, đến việc Người được tìm thấy trong đền thờ Giêrusalem ở vào tuổi 12, lắng nghe những vị tôn sư và đặt ra những vấn đề cùng các vị.
Chúng ta đã lập lại những lời lẽ của mình theo lời lẽ của Thiên Thần rằng: ‘Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà!’ cùng với lời lẽ Thánh Isave đón chào Vị Trinh Nữ đã vội vã đến giúp đỡ phục vụ mình rằng: ‘Bà có phúc hơn mọi người nữ, và Giêsu Con lòng Bà gồm phúc lạ!’
Chúng ta đã chiêm ngắm đức tin đơn thành của Mẹ Maria, người đã hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa và trọn vẹn trao phó bản thân cho Ngài. Như các mục đồng, cả chúng ta nữa cũng cảm thấy được gần gũi với Con Trẻ Giêsu nằm trong máng cỏ và nhìn nhận cùng tôn thờ Người như là Người Con hằng hữu của Thiên Chúa, một Người Con vì yêu thương đã trở thành anh em của chúng ta, bởi thế, cũng trở thành Đấng Cứu Độ duy nhất của chúng ta.
Chúng ta cũng tiến lên đền thờ cùng với Mẹ Maria và Thánh Giuse, để dâng hiến Con Trẻ này cho Thiên Chúa, cũng như để thi hành nghi thức thanh tẩy: Và ở nơi đây, trong việc cứu độ, chúng ta cảm thấy mình, qua những lời của vị lão thành Simêon, đang ngưỡng vọng về cái dấu tương khắc của thập giá, cũng như về thanh gươm đâm thâu qua linh hồn của Mẹ Maria dưới chân cây thập tự giá, nhờ đó làm cho Mẹ chẳng những là Mẹ của Thiên Chúa mà còn làm Mẹ của tất cả chúng ta nữa.
Anh chị em thân mến, nơi đền thánh này chúng ta tôn kính Mẹ Maria Rất Thánh với tước hiệu ‘Đức Mẹ của Lòng Thương Xót Chúa’.
Như thế, thật là sáng tỏ về mối liên kết giữa Mẹ Maria và Thánh Linh ngay từ ban đầu cuộc sống của Mẹ, lúc Mẹ được thụ thai thì Thần Linh là Tình Yêu hằng hữu của Chúa Cha và Chúa Con, lập cư nơi Mẹ và bảo toàn Mẹ khỏi mọi bóng tối tội lỗi; thế rồi, một lần nữa, khi cùng Vị Thần Linh này hiện hữu hóa Người Con Thiên Chúa trong lòng Mẹ; chưa hết, nhờ tặng ân của Thần Linh, những lời của Mẹ Maria đã được hoàn tất trong suốt cuộc đời của Mẹ: ‘Này tôi là tôi tớ Chúa’; và cuối cùng, bởi quyền năng của Thánh Thần, về thể lý, Mẹ Maria đã được đưa về bên Người Con trong vinh quang của Thiên Chúa Cha.
Tôi đã viết trong thống điệp ‘Thiên Chúa là Tình Yêu’: ‘Mẹ Maria là một người nữ yêu mến…. Là một tín hữu tin tưởng, nghĩ theo ý nghĩ của Thiên Chúa và muốn như ý Thiên Chúa muốn, Mẹ luôn là một người nữ mến yêu’ (đoạn 41). Phải, anh chị em thân mến, Mẹ Maria là hoa trái và là dấu hiệu của tình Thiên Chúa yêu thương chúng ta, của niềm thiết tha và tình thương của Ngài giành cho chúng ta. Bởi thế, cùng với anh chị em của chúng ta trong đức tin ở mọi thời đại và mọi nơi chốn, chúng ta hãy hướng về Mẹ trong những nỗi thiếu thốn và niềm hy vọng của chúng ta, trong những biến cố hân hoan và sầu thương của chúng ta. Vào lúc này đây tâm tưởng của tôi hết sức thương cảm gia đình ở Đảo Ischia bị thiên tai hôm qua.
Trong tháng của Mẹ Maria đây, có nhiều người đến đây hành hương từ các giáo xứ Rôma cũng như từ nhiều khu vực khác, để nguyện cầu và hoan hưởng vẻ đẹp cùng bầu khí tĩnh lặng thanh thản của nơi chốn này. Từ đây, từ Đền Thánh Lòng Thương Xót Chúa này, nhờ đó chúng ta trông mong có được một sự trợ giúp quyền năng và hỗ trợ thiêng liêng cho Giáo Phận Rôma, cho bản thân tôi là Giám Mục của Giáo Phận này, cũng như cho các vị giám mục khác hợp với với tôi, cho các vị linh mục, cho các gia đình, cho ơn kêu gọi, cho những người nghèo, người khổ đau và người bệnh nạn, cho trẻ em và cho người già, cho toàn thể quốc gia Ý quốc thân yêu.
Chúng ta đang đặc biệt mong có được sinh lực nội tâm để hoàn thành lời thề hứa của nhân dân Rôma ngày 4/6/1944, lúc mà họ long trọng xin Đức Mẹ của Lòng Thương Xót Chúa cho thành phố này được gìn giữ cho khỏi xẩy ra chiến tranh, và họ đã được nhận lời: lời thề và lời hứa này là ở chỗ đúng dắn hóa và cải tiến hóa tác hành luân lý của từng người để làm cho tác hành của mình hợp với tác hành của Chúa Giêsu.
Cả hôm nay nữa vẫn cần phải hoán cải trở về cùng Thiên Chúa, về cùng Thiên Chúa Đấng là Tình Yêu, nhờ đó thế giới này được thoát khỏi chiến tranh và nạn khủng bố. Chúng ta, tiếc thay, đã được nhắn nhở về điều này nơi thành phần nạn nhân, chẳng hạn như những phục vụ nhân đã ngã xuống hôm Thứ Năm vừa rồi tại Nasiriyah ở Iraq, những người chúng ta ký thác cho việc chuyển cầu của Mẹ Maria, Nữ Vương Hòa Bình.
Anh chị em thân mến, bởi thế, từ Đền Thánh Đức Mẹ của Lòng Thương Xót Chúa này, tôi lập lại lời kêu gọi tôi đã nêu lên trong thông điệp Thiên Chúa là Tình Yêu, đó là: ‘Hãy thi hành lòng mến yêu để nhờ đó chiếu giãi ánh sáng của Thiên Chúa vào thế giới’ (đoạn 39). Amen!
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 15/5/2006
Ngày kết Tháng Hoa 2006 về Chuyến Tông Du Balan và Lễ Mẹ Thăm Viếng
Vào lúc 8 giờ tối, để kết thúc tháng Năm, đã diễn ra một cuộc rước kiệu theo truyền thống, từ Nhà Thờ Thánh Stêphanô ở Abyssinians, gần hậu cung của Đền Thờ Vatican, đến Hang Lộ Đức ở Vườn Vatican. Cuộc rước kiệu này được chủ sự bởi ĐTGM Angelo Comastri, tổng đại diện của Đức Thánh Cha về Quốc Đô Vatican, với cả mấy trăm người tham dự.
Đức Thánh Cha đã đến vào lúc 9 giờ, và trước khi ban phép lành ngài đã ngỏ mấy lời cùng đoàn người tham dự, với những ý tưởng chính yếu tiêu biểu như sau.
Trước hết, ngài đã nhắc lại làm sao năm nay Tháng Hoa này lại ‘được đánh dấu bằng việc tượng Trinh Nữ Maria ở Quảng Trường Thánh Phêrô nhân dịp 25 năm kỷ niệm cuộc ám sát Đức Gioan Phaolô II của chúng ta, cũng như bằng chuyến tông du của tôi… đến Balan, nơi tôi đã viếng thăm các địa điểm thân thương với vị đại tiền nhiệm của tôi’.
Ngài nói tiếp, tại Đền Thánh Jasna Gora ở Cxestochowa, ‘tôi đã hiểu được biết bao Vị Bảo Hộ thiên đình của chúng ta hỗ trợ cuộc hành trình của con cái Mẹ, và không ngoảnh mặt đi trước những lời van xin cầu khấn được ngỏ cùng Mẹ với tấm lòng khiêm cung tin tưởng. Một lần nữa, cùng với anh chị em, tôi muốn tạ ơn Mẹ đã hỗ trợ tôi trong cuộc tôi viếng thăm mảnh đất Balan thân yêu. Tôi cũng muốn bày tỏ lòng biết ơn của tôi đối với Mẹ Maria về việc Mẹ hỗ trợ tôi trong việc tôi phục vụ Giáo Hội hằng ngày. Tôi biết tôi có thể cậy trông vào sự trợ giúp của Mẹ trong tất cả mọi hoàn cảnh, thật vậy, tôi biết rằng, bằng trực giác từ mẫu, Mẹ đáp ứng các nhu cầu của tất cả con cái Mẹ và rat ay hỗ trợ họ một cách hiệu nghiệm’.
Đoạn Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến việc làm thế nào mà trong cuộc Mẹ viếng thăm người chị họ Isave của Mẹ – một biến cố được Giáo Hội cử hành cùng ngày như Lễ Mẹ Thăm Viếng – ‘Chúa Giêsu là nhân vật âm thầm đóng vai chính. Mẹ Maria cưu mang Người trong lòng như là một nhà tạm linh thánh…. Bất cứ Mẹ ở đâu thì Chúa Giêsu ở đó’.
‘Chớ gì việc tôn sùng Mẹ Maria chân thực không bao giờ làm lu mờ đi hay làm suy giảm niềm tin tưởng và lòng yêu mến đối Chúa Giêsu Kitô là Đấng Cứu Thế của chúng ta, vị trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và con người…. Bởi vậy, chúng ta hãy phó mình cho Mẹ bằng lòng sùng mộ của những người con cái’.
Ngài đã đúc kết bài huấn từ của mình bằng việc xin các tín hữu hãy nguyện cầu cho buổi canh thức sắp tới ở Quảng Trường Thánh Phêrô vào Thứ Bảy 3/6, thời điểm ngài sẽ gặp gỡ các phong trào và cộng đồng mới của giáo dân ‘những nhóm hứa hẹn đã được nở rộ trong Giáo Hội sau Công Đồng Chung Vaticanô II’.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 1/6/2006
“Ở tại Auschwitz-Birkenau, nhân loại đã bước đi qua ‘thung lũng tối’... ”
Diễn Từ ở Trại Tử Thần Auschwitz, Auschwitz-Birkenau, Chúa Nhật 28
|
Không thể nào nói được bất cứ điều gì ở nơi kinh hoàng này đây, ở nơi đã xẩy ra vô vàn tội ác chưa từng có phạm đến Thiên Chúa và con người, nhất là lại nói bởi một Kitô hữu, bởi một vị Giáo Hoàng xuất thân từ Đức. Ở một chốn như thế này thì lời nói đành câm nín; để rồi chỉ còn duy nỗi lặng thinh kinh hãi – một thứ lặng thinh tự mình là một lời kêu gào chân tình lên Thiên Chúa: Lạy Chúa, tại sao Chúa lại cứ thinh lặng chứ? Làm sao Chúa lại có thể chịu đựng được tất cả những thứ này? Bởi vậy, trong thinh lặng, chúng ta cúi đầu trước vô tận những ai đã chịu khổ cực và bị sát hại ở nơi đây; tuy nhiên việc thinh lặng của chúng ta lại trở thành một lời van xin tha thứ và hòa giải, một lời van nài Vị Thiên Chúa hằng sống đừng bao giờ để điều này tái diễn nữa.
Hai mươi bảy năm trước đây, vào ngày 7/6/1979, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã đứng ở nơi này. Ngài đã nói rằng: ‘Hôm nay tôi đến đây như một người hành hương. Như anh chị em biết, tôi đã đến đây nhiều lần rồi. Rất nhiều lần rồi! Và nhiều lần tôi đã đi xuống tới ngục thất tử thần của Maximilian Kolbe, dừng lại trước bức tường hành quyết, và bước đi giữa những đổ nát hoang tàn của các lò thiêu Birkenau. Tôi không thể nào không tới đây như một vị Giáo Hoàng’. Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tới đây như là một người con của một dân tộc, cùng với dân Do Thái, đã chịu khổ nhất ở nơi chốn này, nói chung suốt cả cuộc chiến. ‘Sáu triệu người Balan đã bị mất mạng trong Thế Chiến Thứ II, tức 1/5 dân số của quốc gia này, ngài đã nhắc nhở chúng ta như thế. Cũng ở nơi đây, ngài đã trang trọng kêu gọi tôn trọng các thứ nhân quyền và quốc quyền, như các vị tiền nhiệm của ngài là Gioan XXIII và Phaolô VI đã làm trước ngài, và thêm rằng: ‘Con người đang nói những lời lẽ này đây là … người con của một quốc gia theo lịch sử của mình đã bị khổ đau rất nhiều bởi kẻ khác. Ngài nói điều này, không phải là để cáo tối mà là để tưởng nhớ. Ngài nói nhân danh tất cả những quốc gia có quyền lợi bị vi phạm và bị gạt bỏ ra ngoài…’
Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã đến đây như là một người con của nhân dân Balan. Tôi đến đây hôm nay như là một người con của nhân dân Đức quốc. Chính vì lý do ấy mà tôi có thể làm vang vọng và cần phải làm âm vang những lời của ngài, đó là tôi không thể nào không tới đây. Tôi cần phải tới nơi đây. Đó là một nhiệm vụ trước sự thật và công lý đối với tất cả những ai đã phải chịu khổ ở nơi đây, một nhiệm vụ trước Thiên Chúa, mà đối với tôi cần phải đến đây như là vị thừa kế của Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và là một người con dân Đức quốc – một người con thuộc dân tộc bị một nhóm những tay tội ác nổi lên nắm quyền hành bằng những hứa hẹn liên quan tới cái cao cả mai hậu cùng với việc phục hồi vinh dự, nổi nang và thịnh vượng cho dân tộc , nhưng qua việc khủng bố và đe dọa, hậu quả dân tộc chúng tôi đã phải hứng chịu đó là bị sử dụng và làm dụng như công cụ cho khát vọng hủy diệt và quyền bính của họ. Phải, tôi đã không thể nào không tới nơi đây. Vào ngày 7/6/1979, tôi đã đến đây với tư cách là một vị Tổng Giám Mục ở Munich-Freising, cùng với các vị Giám Mục khác đi hộ tống Đức Giáo Hoàng này, lắng nghe những lời ngài nói và liên kết với việc nguyện cầu của ngài. Vào năm 1980, tôi đã trở lại với nơi chốn rùng rợn này với một phái đoàn đại biểu những vị Giám Mục Đức quốc, những vị cảm thấy kinh hoàng trước sự dữ xẩy ra cho nó, nhưng lại lấy làm biết ơn trước sự kiện xuất hiện một vì tinh tú hòa giải ở bên trên các tầng mây mù vây phủ nó. Đó cũng chính là lý do tại sao hôm nay tôi đã đến đây để xin ơn hòa giải thứ tha – trước hết từ Thiên Chúa là Đấng duy nhất có thể mở lòng chúng ta và thanh tẩy tâm can của chúng ta, từ những con người nam nữ đã chịu khổ đau ở nơi đây, và sau cùng nguyện xin ơn hòa giải cho tất cả những ai, vào chính giây phút lịch sử này đây đang chịu khổ đau một cách mới mẻ bởi quyền lực của hận thù và bởi bạo lực do thù hận gây ra.
Biết bao nhiêu là vấn đề được xuất phát ở nơi chốn này! Vấn đề liên lỉ hiện lên đó là Thiên Chúa ở đâu trong những ngày ấy? Tại sao Ngài lại thinh lặng chứ? Làm sao Ngài lại có thể để xẩy ra cuộc tàn sát khôn cùng này chứ, cuộc chiến thắng của sự dữ ấy chứ? Những lời của bài Thánh Vịnh 44 đã hiện lên trong tâm trí, đó là lời than vãn của dân Yến Duyên về các kẻ thù địch của họ: ‘Ngài đã vùi dập chúng tôi trong hang động chó rừng, và phủ chụp tăm tối kín mít lên chúng tôi… vì Ngài chúng tôi đá bị sát hại suốt ngày, và đã bị coi như con chiên mang đi làm thịt. Xin Ngài hãy ra tay! Ôi Chúa, tại sao Ngài lại ngủ chứ? Xin hãy tỉnh giấc, đừng mãi mãi bỏ mặc chúng tôi! Tại sao Ngài lại cứ ẩn mặt đi? Tại sao Ngài lại chẳng lưu ý gì tới nỗi đau thương và tình trạng bị đàn áp của chúng tôi chứ? Vì chúng tôi bị dìm xuống cát bụi; thân thể chúng tôi dính liền với mắt đất. Xin hãy vùng lên và ra tay cứu giúp chúng tôi! Xin hãy cứu chúng tôi vì tình yêu trung kiên của Ngài!’ (19,22-26). Tiếng kêu thống khổ này, tiếng kêu được dân Yến Duyên dâng lên Thiên Chúa trong cảnh khổ đau của họ, trong giây phút hết sức sầu thương của họ, cũng là tiếng kêu cứu giúp của tất cả những ai thuộc mọi thời đại – hôm qua, hôm nay và ngày mai – chịu khổ vì tình yêu Thiên Chúa, vì lòng yêu chuộng chân lý và sự thiện hảo. Họ nhiều biết bao, thậm chí ở cả thời đại của chúng ta đây!
Chúng ta không thể nào nhìn thấu được dự án huyền nhiệm của Thiên Chúa – chúng ta chỉ thấy được một phần nào, và chúng ta có thể sai lầm một khi cho mình là những kẻ thẩm phán của Thiên Chúa và lịch sử. Bấy giờ chúng ta không phải là kẻ đang bênh vực con người mà chỉ góp phần vào việc sụp đổ của con người mà thôi. Không – một khi tất cả những gì đã nói và đã làm, chúng ta cần phải tiếp tục khiêm nhượng song cương quyết kêu lên cùng Thiên Chúa rằng: Xin hãy đứng lên! Đừng quên nhân loại là tạo vật của Ngài! Và lời chúng ta kêu lên Thiên Chúa cũng phải là một tiếng kêu xuyên thấu chính tâm can của chúng ta, một tiếng kêu đánh động trong chúng ta sự hiện diện âm thầm của Thiên Chúa – nhờ đó, quyền năng của Ngài, một quyền năng Ngài đã cấy trồng nơi tâm can của chúng ta, sẽ không bị chôn vùi hay chết nghẹt trong chúng ta bởi bùn lầy của lòng vị kỷ, của tính nhu nhược, của thái độ lạnh lùng hay của chủ trương thời cơ. Chúng ta hãy kêu lên Thiên Chúa bằng tất cả tâm can của mình, vào giờ khác hiện tại này đây, khi đang đổ xuống trên chúng ta những bất hạnh mới, khi tất cả mọi mãnh lực của tối tăm dường như đang xuất phát một cách mới mẻ từ tâm can nhân loại của chúng ta: một là việc lạm dụng danh Thiên Chúa như phương tiện để biện minh cho việc bạo động vô nghĩa phạm tới những con người vô tội, hai là tỏ ra chủ trương yếm thế chối bỏ việc nhận biết Thiên Chúa và nhạo cười niềm tin tưởng vào Ngài. Chúng ta hãy kêu lên Thiên Chúa, để Ngài làm cho con người nam nữ biết hoán cải và giúp họ thấy được rằng bạo động không phải là những gì mang lại hòa bình song chỉ gây thêm bạo loạn mà thôi – gây ra một cuộc sa lầy tàn hại mà cuối cùng tất cả moị người đều là những kẻ thua cuộc. Vị Thiên Chúa mà chúng ta tin tưởng là một Thiên Chúa của lý trí – một lý trí chắc chắn không phải là một thứ toán học lạnh lùng về vũ trụ này mà là một lý trí biết yêu thương và thiện hảo. Chúng ta hãy dâng lời nguyện cầu lên Thiên Chúa và chúng ta kêu gọi nhân loại, để lý trí này, tức lý lẽ của yêu thương và việc nhìn nhận quyền lực hòa giải và bình an, được thắng vượt những thứ đe dọa xuất phát từ khuynh hướng vô tri hay từ một thứ lý trí sai lạc và phi thần linh.
Địa điểm chúng ta đang đứng đây là một nơi thuộc ký ức, nó là nơi chốn của biến cố Shoah. Quá khứ không bao giờ chỉ thuần túy là quá khứ. Nó bao giờ cũng là một cái gì đó muốn nói với chúng ta; nó nói với chúng ta về những đường lối cần phải theo và những đường lối đừng tiến vào. Như Đức Gioan Phaolô II, tôi đã bước dọc theo những tấm bảng ghi khắc được viết bằng các ngôn ngữ khác nhau để tưởng nhớ những người đã chết ở nơi đây, những tấm bảng ghi khắc bằng tiếng Belarusian, Czech, German, French, Greek, Hebrew, Croatian, Italian, Yiddish, Hungarian, Dutch, Norwegian, Polish, Russian, Romani, Romanian, Slovak, Serbian, Ukrainian, Judaeo-Spanish và English. Tất cả các tấm bảng ghi khắc này đều nói về nỗi sầu đau của nhân loại, chúng cống hiến cho chúng ta một cái thoáng nhìn về tính cách cay độc của một thứ chế độ đối xử với con người nam nữ như là những đối tượng về thể chất, và không nhìn thấy nơi những con người ấy là hiện thân hình ảnh của Thiên Chúa. Một số tấm bảng ghi khắc có tính cách nhắc nhở. Có một tấm bảng ghi khắc bằng tiếng Do Thái. Những tay cầm quyền của Third Reich muốn giầy xéo toàn thể nhân dân Do Thái, muốn xóa bỏ họ khỏi sổ sách các dân tộc trên thế giới. Bởi thế mà những lời của bài Thánh Vịnh ấy đã được nên trọn một cách kinh hoàng: ‘Chúng tôi bị tàn sát, bị coi là con chiên bị đem đi làm thịt’. Tận thâm tâm thì những kẻ ác phạm ghê tởm ấy muốn sát hại Thiên Chúa, bằng việc loại trừ dân của Ngài, Đấng đã kêu gọi Abraham, Đấng đã phán trên núi Sinai và đã đặt ra các nguyên tắc để giúp hướng dẫn loài người, những nguyên tắc muôn đời vẫn có hiệu lực. Nếu dân tộc này, bằng chính việc hiện hữu của mình, là chứng từ cho Vị Thiên Chúa nói với nhân loại và mang chúng ta lại với Ngài, thì Vị Thiên Chúa ấy cuối cùng cần phải chết đi và quyền năng cần phải thuộc về một mình con người mà thôi – thuộc về những con người nghĩ rằng họ làm chủ thế giới này bằng võ lực. Bằng việc huy diệt dân Yến Duyên, bằng biến cố Shoah, tự kỳ chung họ muốn nhổ tận gốc rễ đức tin Kitô giáo và thay thế vào đó một đức tin theo sáng chế riêng của họ, đó là đức tin vào việc lãnh đạo của con người, vào việc cai trị của thành phần quyền lực.
Rồi cũng có tấm ghi khắc bằng tiếng Balan nữa. Trước hết và trên hết họ muốn loại trừ thành phần ưu tú về văn hóa, nhờ đó xóa bỏ nhân dân Balan như là một chủ thể lịch sử biệt lập và biến nó thành nô lệ nếu nó tiếp tục tồn tại. Một tấm ghi khắc khác có tính cách nhắc nhở đó là tấm được viết bằng tiếng của dân Sinti và Rôma. Cả ở nơi tấm ghi khắc này nữa, dự định đó là tẩy diệt cả một dân tộc đang sống lưu vong giữa các dân tộc. Dân tộc này được coi như là thành phần bị lịch sử thế giới chối bỏ, theo một thứ ý hệ chỉ coi trọng những gì là hữu dụng theo kinh nghiệm; còn mọi sự khác, theo quan điểm này, đều được coi như là lebensunwertes Leben – tức một sự sống không đáng sống. Cũng có tấm bảng ghi khắc bằng tiếng Nga, tấm bảng tưởng niệm việc các người lính Nga chiến đấu chống lại việc cai trị kinh khủng của Nazi bị mất mát sự sống một cách hãi hùng; thế nhưng tấm ghi khắc này cũng nhắc nhở chúng ta rằng sứ vụ của họ đã có một hậu quả lưỡng diện thảm thương, đó là họ đã giải phóng các dân tộc khỏi một chính sách độc tài, song các dân tộc ấy bởi đó lại bị qụi lụy vào một chính sách khác, chính sách của Stalin và của chế độ Cộng Sản.
Những tấm ghi khắc khác, được viết bằng nhiều ngôn ngữ Âu Châu, cũng nói với chúng ta về các nỗi khổ đau của những con người nam nữ ở khắp châu lục này. Chúng mạnh mẽ khuấy động tâm can của chúng ta nếu chúng ta chỉ tưởng nhớ đến các nạn nhân một cách chung chung vậy thôi, nhưng còn cần phải thấy được cả các bộ mặt của những con người cá biệt đã kết thúc cuộc đời tại vực thẳm kinh hoàng ở nơi đây nữa.
Tôi cảm thấy được mạnh mẽ dừng chân lại một cách đặc biệt trước tấm bảng ghi khắc bằng tiếng Đức. Nó cho thấy dung nhan của Edith Stein, Theresia Benedicta a Cruce: một nữ nhân Do Thái và Đức Quốc, vị đã biến mất cùng với chị em của mình trong đêm đen ở trại tập trung Nazi Đức quốc; là một Kitô hữu và là người Do Thái, chị đã chấp nhận cái chết với nhân dân của chị và cho nhân dân của chị. Những người Đức bị mang đến Auschwitz-Birkenau và bị chết ở đây đều được coi là thành phần Abschaum der Nation – tức thành phần bị quốc gia khước từ. Hôm nay, chúng ta tri ân nghiêng mình trước họ như là thành phần nhân chứng của chân lý và của sự thiện mà ngay trong thành phần nhân dân của chúng tôi vẫn không bị lu mờ. Chúng ta ghi ơn họ, vì họ không qụi lụy quyền lực của sự dữ, và giờ đây họ hiện lên trước mắt chúng ta như ánh sáng chiếu soi trong đêm tối. Bởi vậy, với tấm lòng trọng kính và ghi ơn, chúng ta hãy cúi đầu trước tất cả những ai, giống như 3 người trẻ ở Babylon trước cái chết trong hỏa lò, vẫn có thể đáp lại rằng: ‘Chỉ có một mình Thiên Chúa của chúng tôi mới có thể cứu được chúng tôi. Thế nhưng cho dù Ngài có không cứu chúng tôi đi chăng nữa, thì xin Vua hãy biết cho rằng chúng tôi sẽ không phụng sự các thần linh của vua đâu, và chúng tôi sẽ không tôn thờ tượng vàng được vua dựng lên đâu’ (x Dan 3:17ff).
Đúng thế, đằng sau những tấm ghi khắc ấy là số mệnh của vô vàn con người. Chúng làm ký ức của chúng ta bị chấn động, chúng tác động tâm can của chúng ta. Chúng không có ý muốn tiêm nhiễm vào chúng ta mối hận thù, trái lại, chúng cho chúng ta thấy hậu quả kinh khiếp của hận thù. Chúng muốn giúp cho trí khôn của chúng ta thấy được sự dữ là sự dữ và loại trừ nó; chúng muốn khơi lên trong chúng ta lòng can đảm hành thiện và chống dữ. Chúng muốn làm cho chúng ta cảm thấy những cảm thức được bày tỏ qua những lời Sophocles đặt vào miệng lưỡi của Antigone, khi bà chiêm ngắm thấy cảnh tượng kinh hoàng xẩy ra chung quanh bà: bản tính của tôi không liên kết với hận thù mà là trong yêu thương.
Nhờ ơn Chúa, cùng với việc thanh tẩy ký ức cần phải có bởi chốn kinh hoàng này, đã bừng lên một số khởi xướng nhằm áp đặt giới hạn trên sự dữ và củng cố sự thiện hảo. Tôi vừa được dịp làm phép Trung Tâm Về Đối Thoại Và Nguyện Cầu. Ở khu vực liền ngay đây là các nữ đan sĩ sống đời ẩn thân, biết rằng họ liên kết một cách đặc biệt với mầu nhiệm Thập Giá của Chúa Kitô và nhắc nhở chúng ta về đức tin của người Kitô hữu, một đức tin tuyên xưng rằng Thiên Chúa đã đích thân xuống tận ngục của khổ đau và của thành phần đau khổ với chúng ta. Ở Oswiecim có Trung Tâm Thánh Maximilian Kolbe, và Trung Tâm Quốc Tế Giáo Dục về Auschwitz cũng như về Cuộc Tế Thần. Cũng có cả những Nhà Quốc Tế Cho Các Cuộc Họp Giới Trẻ. Gần một trong những Nhà Cầu Nguyện cũ có Trung Tâm Do Thái. Sau cùng Học Viện Về Nhân Quyền cũng đang được xây dựng. Bởi vậy hy vọng rằng nơi này dần dần sẽ trở thành một chốn có những tâm tưởng xây dựng, và việc tưởng nhớ sẽ nung nấu cuộc chống lại sự dữ cho tình yêu thắng cuộc.
Ở tại Auschwitz-Birkenau, nhân loại đã bước đi qua ‘thung lũng tối’. Bởi vậy, ở nơi đây, tôi muốn kết thúc bằng một lời nguyện cầu của lòng tin tưởng – bằng một trong những lời Thánh Vịnh của dân Do Thái cũng là một lời nguyện của Kitô hữu, đó là: ‘Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng còn thiếu thốn chi. Nơi đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ; tới nguồn nước chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi, tâm hồn tôi Người lo bồi dưỡng. Vì uy danh Người, Người dẫn tôi theo đường ngay nẻo chính. Dù bước đi trong thung lũng tối, tôi không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng tôi, cây roi và cái trượng của Ngài, đó là điều an ủi lòng tôi… Tôi sẽ cư ngụ trong nhà Chúa suốt đời tôi’
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,
chuyển dịch theo mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/travels/2006/index_polonia_en.htm
Huấn Dụ Thành Phần Giới Trẻ, ở Krakow-Błonie, Thứ Bảy 27
Các Bạn Trẻ thân mến,
|
|
Tôi xin gửi đến các bạn lời chào mừng nồng hậu nhất của tôi! Việc hiện diện của các bạn làm cho tôi cảm thấy sung sướng. Tôi cám ơn Chúa về cuộc gặp gỡ thân tình này. Chúng ta biết rằng ‘ở đâu cho hai hay ba người qui tụ lại vì danh Chúa Giêsu thì Người ở giữa họ’ (x Mt 18:20). Hôm nay đây, các bạn còn thật là nhiều hơn như thế nữa! Bởi thế, Chúa Giêsu đang ở với chúng ta nơi đây. Người đang ở giữa giới trẻ Balan, đang nói với họ về một ngôi nhà sẽ không bao giờ bị sụp đổ vì nó được xây trên đá. Đó là bài Phúc Âm chúng ta vừa nghe (x Mt 7:24-27).
Hỡi các bạn, ở trong lòng hết mọi người đều có một ước vọng về một ngôi nhà. Thậm chí còn hơn thế nữa nơi tâm hồn của con người trẻ có một khát vọng cả thể về một ngôi nhà thích đáng, một ngôi nhà vững chắc, một ngôi nhà họ chẳng nhưng không thể nào không hân hoan vui sướng trở về mà còn là nơi khách khứa có tới cũng được hân hoan đón tiếp nữa. Đó là một khát vọng về một ngôi nhà có lương thực hằng ngày là yêu thương, thứ tha và thông cảm. Nó là một nơi chân lý là nguồn mạch làm phát sinh niềm bình an nội tâm. Đó là một khát vọng về một ngôi nhà các bạn có thể lấy làm hãnh diện, nơi các bạn không bị thẹn thuồng và là nơi các bạn không hề lo sợ nó bị mất đi. Những niềm khát mong này chỉ là ước vọng về một đời sống trọn vẹn, hạnh phúc và thành đạt. Đừng sợ có nỗi ước mong ấy! Đừng xa lánh niềm mong ước này. Đừng tỏ ra thất đảm khi thấy những căn nhà bị đổ nát, những ước vọng bị bất thành và những ngóng trông bị tàn phai. Thiên Chúa Hóa Công, Đấng tác động nơi tâm hồn giới trẻ một khát vọng mãnh liệt muốn được hoan hưởng hạnh phúc, sẽ không bỏ rơi các bạn trong việc khó khăn để xây dựng ngôi nhà được gọi là đời sống ấy.
Hỡi các bạn, điều ấy đưa đến vấn đề là: ‘Làm thế nào để xây dựng ngôi nhà này đây?’ Chắc chắn đây là vấn đề các bạn đã từng đối diện nhiều lần và các bạn sẽ phải trực diện nhiều lần hơn nữa. Hằng ngày các bạn cần phải nhìn vào nội tâm của mình mà tự vấn: ‘Tôi làm sao để có thể xây dựng ngôi nhà được gọi là đời sống ấy đây?’ Chúa Giêsu, Đấng các bạn vừa nghe những lời của Người trong đoạn Phúc Âm của Thánh Mathêu, đã khuyến khích chúng ta hãy xây nhà trên đá. Thật thế, chỉ có cách đó ngôi nhà mới không bị tàn rụi mà thôi. Thế nhưng, xây nhà trên đá nghĩa là gì? Trước hết, xây nhà trên đá tức là xây nhà trên Chúa Kitô và với Chúa Kitô. Chúa Giêsu nói: ‘Vậy ai nghe những lời này của Thày mà làm theo sẽ giống như một người khôn ngoan xây nhà mình trên đá’ (7:24). Đó không phải là những lời nói chơi chơi của một con người nào đó, mà là những lời của Chúa Giêsu. Chúng ta không lắng nghe bất cứ một con người nào mà là Chúa Giêsu. Chúng ta không được kêu gọi để chỉ làm một điều gì đó mà là dấn thân thực hiện những lời của Chúa Giêsu.
Việc dựng nhà trên Chúa Giêsu và với Chúa Giêsu đây nghĩa là dựng nhà trên một nền tảng được gọi là ‘tình yêu tử giá’. Nghĩa là dựng nhà với Một Vị, biết chúng ta hơn cả chính chúng ta biết mình, nói với chúng ta rằng: ‘Các con là những gì quí hóa trước nhan Ta và là những gì được trân trọng, Ta yêu thương các con’ (Is 43:4). Nghĩa là dựng nhà với Một Vị luôn trung tín, cho dù chúng ta có thiếu niềm tin tưởng, bởi ngài không thể chối bỏ chính mình Ngài (x 2Tim 2:13). Nghĩa là dựng nhà với Một Vị luôn nhìn tới tấm lòng thương tích của con người mà nói: ‘Ta không kết tội con đâu, hãy đi và đừng phạm tội nữa’ (x Jn 8:11). Nghĩa là dựng nhà với Một Vị, từ Cây Thập Tự Giá, vươn cánh tay của mình ra để muôn đời lập lại rằng: ‘Ôi con người, Ta hiến sự sống của Ta cho các con vì Ta yêu thương các con’. Tóm lại, dựng nhà trên Chúa Kitô tức là hướng tất cả mọi ước muốn của các bạn, khát vọng của các bạn, mơ ước của các bạn, tham vọng của các bạn và dự án của các bạn theo ý muốn của Ngài. Nghĩa là nói với chính bản thân mình, với gia đình mình, với bạn hữu mình, với toàn thế giới, và nhất là với Chúa Kitô rằng: ‘Lạy Chúa, trong cuộc sống con không muốn làm bất cứ một điều gì phạm đến Chúa, vì Chúa biết những gì tốt nhất cho con. Chỉ duy có một mình Chúa có những lời ban sự sống đời đời’ (x Jn 6:68). Hỡi các bạn, đừng sợ việc nương dựa vào Chúa Kitô! Hãy mong mỏi Người, như nền tảng cho đời sống của các bạn! Hãy khơi động lên trong các bạn ước muốn xây dựng cuộc sống của mình trên Người và cho Người! Vì không ai lệ thuộc vào tình yêu tử giá của Lời Nhập Thể lại có thể bị lạc mất cả.
Việc xây nhà trên đá nghĩa là việc dựng nhà trên Chúa Kitô và với Chúa Kitô. Trong Thư Thứ Nhất gửi Giáo Đoàn Côrintô, khi nói về cuộc hành trình của thành phần dân tuyển chọn băng qua sa mạc, Thánh Phaolô đã giải thích rằng tất cả ‘đã được uống tử tảng đá siêu nhiên đã theo đuổi họ và tảng đá đó là Chúa Kitô’ (1Cor 10:4). Các vị cha ông của thành phần Dân Tuyển Chọn này chắc chắn là không hề biết gì tới chuyện tảng đá thiêng liêng ấy là Chúa Kitô. Họ không ý thức được việc họ được đồng hành bởi Người là Đấng vào lúc thời gian viên trọn đã nhập thể và mặc lấy một thân thể loài người. Họ không cần hiểu rằng cơn khát của họ được thỏa mãn bởi chính Nguồn Mạch sự sống, là một mạch nguồn có thể ban nước sự sống làm giãn cơn khát của mọi tâm can. Tuy nhiên, họ đã uống từ tảng đá thiêng liêng là Chúa Kitô này, vì họ khát vọng thứ nước hằng sống ấy và cần đến thứ nước hằng sống này. Trên con đường cuộc đời đôi khi chúng ta không ý thức được sự hiện diện của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, chính sự hiện diện này, sự hiện diện sống động và chân thực, đã xẩy ra nơi công cuộc tạo dựng, nơi Lời Chúa và nơi Thánh Thể, nơi cộng đồng các tín hữu và nơi mọi con người được Máu châu báu Chúa Kitô cứu chuộc, một mạch nguồn khôn tận cho sức mạnh của con người. Chúa Giêsu Nazarét, Vị Thiên Chúa làm Người, ở bên chúng ta trong những lúc may lành cũng như trong những lúc chẳng may, và Người khao khát mối liên hệ ấy, một mối liên hệ thực sự là nền tảng của một nhân loại chân thực. Chúng ta đọc thấy trong Sách Khải Huyền những lời quan trọng này: ‘Này, Ta đứng trước cửa mà gõ; nếu ai nghe tiếng của Ta mà mở cửa thì Ta sẽ đến với họ và ăn uống với họ để họ được ở với Ta’ (3:20).
Hỡi các bạn, việc xây nhà trên đá nghĩa là gì? Xây nhà trên đá cvũng có nghĩa là dựn g nhà trên Một Vị đã bị loại trừ. Thánh Phêrô nói với thành phần tín hữu của Chúa Kitô như là ‘một viên đá bị con người loại bỏ song trước nhan Thiên Chúa lại là viên đá được chọn lọc và quí giá’ (1Pet 2:4). Một sự kiện không thể chối cãi về việc Thiên Chúa tuyển chọn Chúa Giêsu không che dấu mầu nhiệm sự dữ, bởi thế con người có thể loại trừ Người là Đấng đã yêu thương cho tới cùng. Việc Chúa Giêsu bị con người loại trừ như Thánh Phêrô đề cập tới trải dài suốt lịch sử nhân loại, thậm chí cho tới cả thời của chúng ta đây. Người ta không cần phải có một trí khôn sắc xảo đặc biệt để thấy được nhiều đường lối loại trừ Chúa Kitô, ngay cả trước ngưỡng cửa của chúng ta đây. Thường Chúa Giêsu bị coi thường bỏ qua, bị chế giễu và được tuyên xưng là vị vua của quá khứ, chứ không phải cho ngày nay và chắc chắn không phải cho tương lai. Người bị bỏ vào kho chức của những vấn đề và những con người mà người ta không dám công khai lớn tiếng đả động tới. Nếu trong tiến trình dựng nhà cuộc sống của các bạn có gặp phải những ai coi thường khinh bỉ cái nền tảng mà các bạn đang xây lên thì đừng thất đảm! Một đức tin mạnh mẽ cần phải chịu đựng các thứ thách đố. Một đức tin sống động bao giờ cũng cần phải tăng trưởng. Đức tin của chúng ta nơi Chúa Giêsu Kitô, để được như thế, cần phải đối diện đương đầu với thường xuyên với tình trạng thiếu đức tin của những người khác.
Các bạn thân mến, việc xây nhà trên đá nghĩa là gì? Việc xây nhà trên đá nghĩa là ý thức rằng sẽ xẩy ra những bất trắc. Chúa Kitô nói rằng: ‘Mừa trút xuống và lụt xẩy ra, gió thổi tới làm rung chuyển ngôi nhà…’ (Mt 7:25). Những hiện tượng thiên nhiên này chẳng những là hình ảnhcủa nhiều những bất trắc nơi thân phận của con người, chúng còn cho thấy rắng những bất trắc ấy là những gì bình thường cần phải chấp nhận. Chúa Kitô không hứa rằng sẽ không bao giờ xẩy ra một trận mưa như trút gây lụt lội ngôi nhà đang được xây cất, Người không hứa rằng sẽ không bao giờ xẩy ra một cơn sóng tàn phá cuốn trôi đi những gì thân thương nhất của chúng ta, Người không hứa rằng sẽ không bao giờ xẩy ra những trận cuồng phong thổi bay đi những gì chúng ta đang xây dựng, đôi khi chúng ta phải trả bằng một giá hy sinh kinh khủng. Chúa Kitô chẳng những hiểu được ước muốn của con người về một ngôi nhà vững bền, Người còn hoàn toàn biết được tất cả những gì có thể phá hoại hạnh phúc của con người nữa. Bởi thế, các bạn đừng lấy làm lạ trước những bất trắc rủi ro, cho dù chúng là gì đi chăng nữa! Đừng vì chúng mà bị thất đảm! Một dinh thự được xây trên đá không giống như một dinh thự bị biến đi bởi những lực thiên nhiên, những lực được in dấu vết nơi mầu nhiệm của con người. Việc xây nhà trên đá tức là việc có thể sử dụng một thứ kiến thức ở vào những lúc khó khăn trở thành một mãnh lực đáng các bạn tin tưởng.
Hỡi các bạn, xin cho tôi được đặt vấn đề một lần nữa: việc xây nhà trên đá nghĩa là gì? Nghĩa là x6ay nhà một cách khôn ngoan. Không phải là vô lý Chúa Giêsu đã so sánh những ai nghe lời của Người mà đem ra thực hành với một con người khôn ngoan xây nhà của họ trên đá. Thật vậy, đúng là ngu xuẩn khi xây nhà trên cát, trong khi các bạn có thể xây trên đá và vì thế có được một ngôi nhà có thể bất chấp mọi phong ba bão tố. Thật là ngu xuẩn khi xây nhà trên mảnh đất không bảo đảm việc vững chắc trong những lúc khó khăn nhất. Có thể là dễ dàng hơn để xây nhà cuộc đời mình trên cát lún theo quan điểm riêng của họ, xây dựng một tương lai xa cách lời của Chúa Giêsu và thậm chí đôi khi phản nghịch lại với lời của Người. Hãy tin chắc rằng ai xây nhà theo kiểu ấy đều là những người bất khôn, vì họ muốn thuyết phục chính mình và người khác rằng trong cuộc đời của họ không có bão tố cuồng phong và không có vấn đề sóng gió tấn công ngôi nhà của họ. Thái độ khôn ngoan đó là biết rằng việc vững chắc của một ngôi nhà là những gì lệ thuộc vào việc quyết định của cái nền tảng. Đừng sợ sống khôn ngoan; tức là đừng sợ xây nhà trên đá!
Hỡi các bạn, một lần nữa: xây nhà trên đá nghĩa là gì? Xây nhà trên đá còn có nghĩa là xây trên Phêrô và với Phêrô. Thật vậy, Chúa Kitô đã nói với ngài rằng: ‘Con là Đá, và trên đá này Thày sẽ xây Giáo Hội của Thày, và quyền lực sứ chết sẽ không thắng nổi nó’ (Mt 16:18). Nếu Chúa Kitô là Tảng Đá, là viên đá xống động và quí giá, gọi vị Tông Đồ này của Người là ‘đá’, nghĩa là Người muốn Phêrô, và cùng với Phêrô là toàn thể Giáo Hội, trở thành một dấu hiệu hữu hình của Đấng Cứu Độ và là Chúa duy nhất. Ở Krakow đây, thành phố yêu dấu của Đức Gioan Phaolô II, vị Tiền Nhiệm của tôi, không ai cảm thấy bàng hoàng trước những lời ‘xây nhà với Phêrô và Phêrô’. Đó là lý do tôi nói cùng anh chị em là đừng sợ xây đời mình trên Giáo Hội và với Giáo Hội. Tất cả anh chị em đều hãnh diện về lòng yêu mến anh chị em giành cho Vị Phêrô và cho Giáo Hội được úy thác cho ngài. Đừng để bị lừa đảo bởi những ai muốn Chúa Kitô và Giáo Hội đối đầu với nhau. Chỉ có một nền tảng duy nhất đáng để xây nhà mà thôi. Nền tảng đó là Chúa Kitô. Chỉ có một tảng đá duy nhất đáng làm nền tảng cho hết mọi sự. Tảng đá này là tảng đá được Chúa Kitô nói: ‘Con là Đá, và trên đá này Thày sẽ xây Giáo Hội của Thành’ (Mt 16:18). Hỡi giới trẻ, các bạn quá rõ Tảng Đá này trong thời đại của chúng ta đây. Bởi thế, đừng quên Vị Phêrô đang canh chừng cuộc tu họp của chúng ta đây từ cửa sổ của Thiên Chúa Cha, hay Vị Phêrô này giờ đây đang đứng trước các bạn đây, hoặc bất cứ một Vị Phêrô thừa kế nào sẽ tỏ ra chống lại các bạn hay chống lại việc xây nhà trên đá. Thật vậy, ngài sẽ cống hiến trái tim của ngài và đôi tay của ngài để giúp các bạn xây dựng một cuộc sống trên Chúa Kitô và với Chúa Kitô.
Quí bạn thân mến, suy niệm về những lời của Chúa Kitô diễn tả tảng đá là nền tảng thích đáng cho một ngôi nhà, chúng ta không thể nào không chú ý tới lời cuối cùng là một lời hy vọng. Chúa Giêsu nói rằng, bất chấp tình trạng cay nghiệt của các yếu tố thiên nhiên thì ngôi nhà ấy vẫn không bị hủy hoại, bởi nó được xây trên tảng đá. Lời của Người chất chưa một niềm cậy trông đặc biệt nơi cái vững chắc của nền tảng này, một đức tin không sợ những thứ nghịch thường, vì đức tin này được củng cố kiên cường bởi cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa Kitô. Đó là đức tin mà những năm sau đó Thánh Phêrô đã tuyên xưng trong bức thư của ngài: ‘Này Ta đặt ở Sion một viên đá, một viên đá gốc được chọn lọc và quí giá, và ai tin vào Người sẽ không bị hổ thẹn’ (1Pet 2:6). Chắc chắn là ‘họ sẽ không bị hổ thẹn’. Các bạn trẻ thân mến, nỗi sợ hãi bị thất bại có những lúc làm lung lạc ngay cả những giấc mộng tuyệt vời nhất. Nó có thể làm tê liệt ý muốn, làm cho con người không thể tin rằng thực sự là có thể xây nhà trên đá. Nó có thể thuyết phục con người là nỗi khát vọng về một ngôi nhà như thế chỉ là một thứ vọng tưởng trẻ con chứ không phải là một dự án cho cuộc sống. Cùng với Chúa Giêsu, các bạn hãy nói với nỗi hãi sợ này rằng: ‘Một ngôi nhà xây trên đá không thể nào bị đổ nát được !’. Cùng với Thánh Phêrô, các bạn hãy nói cùng khuynh hướng ngờ vực rằng: ‘Ai tin vào Chúa Kitô sẽ không bị bẽ bàng hổ thẹn!’ Tất cả các bạn đều là chứng nhân cho niềm hy vọng, cho niềm hy vọng không sợ xây nhà của cuộc sống của mình, vì tin tưởng rằng niềm hy vọng ấy có thể đặt trên nền tảng không bao giờ bị tàn rụi là Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,
chuyển dịch theo mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/travels/2006/index_polonia_en.htm
Huấn Dụ Thành Phần Bệnh Nhân ở Krakow - Tagiewniki Thứ Bảy 27
Anh Chị Em thân mến,
|
|
Tôi rất vui mừng được gặp gỡ anh chị em trong cuộc tôi viếng thăm Đền Thờ Lòng Thương Xót Chúa đây. Tôi xin gửi lời chào thân ái tới tất cả anh chị em: thành phần bệnh nhân, những người chăm sóc cho họ, các vị linh mục thực hiện thừa tác mục vụ ở Đền Thờ này, các Nữ Tu Đức Mẹ Thương Xót, các phần tử thuộc tổ chức ‘Faustinum’ và tất cả những ai hiện diện.
Nhân cơ hội này, chúng ta đối diện với hai mầu nhiệm: mầu nhiệm về khổ đau của nhân loại và mầu nhiệm về Lòng Thương Xót Chúa. Mới thoạt nhìn thì hai mầu nhiệm này dường như tương phản với nhau. Thế nhưng, khi chúng ta nghiên cứu chúng một cách sâu xa theo ánh sáng đức tin chúng ta thấy rằng chúng hòa hợp với nhau nơi mầu nhiệm Thập Giá Chúa Kitô. Như Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói ở nơi đây rằng: ‘Thập Giá là việc Thần Tính cúi mình sâu thẳm nhất xuống tới con người…. Thập Giá như một ngọn đuốc của tình yêu hằng hữu tỏa trên những thương tích đau thương nhất nơi cuộc sống trần gian của con người’ (17/8/2002).
Quí bạn bệnh nhân thân mến, những người mang dấu tích đau thương nơi thân xác hay tâm hồn, quí bạn được liên kết mật thiết nhất với Thập Tự Giá của Chúa Kitô, và đồng thời quí bạn cũng là những chứng nhân sống động nhất của tình thương Thiên Chúa. Qua quí bạn cũng như nhờ những khổ đau của quí bạn, Người đang ưu ái cúi mình xuống trên nhân loại. Quí bạn nào âm thầm thốt lên rằng: ‘Giêsu ơi, con tin nơi Chúa’ là người dạy cho chúng ta rằng không có niềm tin nào sâu xa hơn, không có hy vọng nào sống động hơn, và không có tình yêu nào nồng nhiệt hơn đức tin, đức cậy và đức mến của một con người giữa khổ đau biết an bình phó mình vào bàn tay của Thiên Chúa. Chớ gì bàn tay nhân loại của những ai chăm sóc cho quí bạn nhân danh tình thương trở thành cánh tay nối dài rộng mở của Thiên Chúa.
Bởi vậy tôi muốn ôm ấp từng người trong anh chị em. Thế nhưng không thể nào được, nên tôi kéo anh chị em vào lòng tôi cách thiêng liêng, để ban Phép Lành cho anh chị em nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,
chuyển dịch theo mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/travels/2006/index_polonia_en.htm
“Theo bước chân của Đức Gioan Phaolô II, một nhân chứng đức tin”
Huấn Dụ Thành Phần Dân Chúng ở Wadowice, Rynek Square Thứ Bảy 27
Anh Chị Em thân ái,
|
|
Tôi cảm thấy đầy xúc động ở nơi sinh trưởng này của Vị Đại Tiền Nhiệm tôi là Người Tôi Tớ Chúa Gioan Phaolô II, nơi tỉnh mà ngài đã trải qua thời thơ ấu và thanh niên. Thật vậy, tôi không thể nào không tới Wadowice khi tôi hành hương đến Balan theo bước chân của ngài. Tôi muốn dừng lại chính địa điểm này, nơi ngài đã bắt đầu sống đức tin và trưởng thành đức tin, để cùng với tất cả anh chị em nguyện cầu cho ngài sớm được tôn vinh trên bàn thờ. Johann Wolfgang von Goethe, một đại thi hào người Đức, đã nói: ‘Ai muốn hiểu được một nhà thơ thì cần phải đến viếng thăm quê hương của nhà thơ ấy. Điều này cũng đúng với những ai muốn hiểu được đời sống và thừa tác vụ của Đức Gioan Phaolô II; cần phải đến thành phố sinh trưởng của ngài đây. Chính ngài đã thú nhận rằng, ở nơi đây, ở Wadowice này, ‘mọi sự đã được bắt đầu: đời sống, học hành, khấu trường và linh mục’ (Wadowice, 16/6/1999).
Đức Gioan Phaolô II, khi quay về với những thuở ban đầu của mình, thường đề cập tới một dấu hiệu, đó là dấu hiệu bể rửa tội, là dấu hiệu được chính ngài đặc biệt tôn kính nơi Giáo Hội ở Wadowice. Vào năm 1979, trong chuyến hành hương đầu tiên của ngài về Balan, ngài đã nói rằng: ‘Nơi bể rửa tội này đây, vào ngày 20/6/1920, tôi đã lãnh nhận ơn được làm con Thiên Chúa, cùng với đức tin vào Đấng Cứu Chuộc của tôi, và tôi đã được đón nhận vào cộng đồng Giáo Hội. Tôi đã trịnh trọng hôn bể rửa tội này vào năm mừng kỷ niệm đệ nhất thiên niên Balan được lãnh nhận Phép Rửa, vào lúc tôi làm Tổng Giám Mục Kraków hồi ấy. Tôi đã hôn bể rửa tội này một lần nữa vào dịp kỷ niệm 50 năm tôi được lãnh nhận bí tích thanh tẩy, lúc tôi làm Hồng Y, và hôm nay đây tôi hôn bể rửa tội này lần thứ ba, khi tôi từ Rôma trở về như Vị Thừa kế Thánh Phêrô’ (Wadowice, 7/6/1979). Dường như nơi những lời này của Đức Gioan Phaolô II có chất chứa cái then chốt để hiểu được tính cách nhất trí nơi đức tin của ngài, tính cách sâu xa nơi đời sống Kitô hữu của ngài, và ước vọng nên thánh được ngài liên tục bộc lộ. Ở đây, với ý thức sâu xa về ân sủng thần linh, về tình yêu vô tư của Thiên Chúa đối với loài người, mà thành phần Dự Tòng, nhờ nước và Thánh Linh được thuộc vào số muôn vàn con cái của Ngài, thành phần được Máu Chúa Kitô cứu chuộc. Đường lối của đời sống Kitô hữu chân chính là những gì tương đương với lòng trung thành thực hiện các lời hứa quyết của Phép Rửa thánh. Câu khẩu hiệu cho chuyến hành hương này là ‘Hãy đứng vững trong đức tin của anh chị em’ ở nơi đây có một chiều kích cụ thể có thể được diễn đạt bằng lời huấn dụ như thế này: ‘Hãy cương quyết tuân giữ các lời hứa quyết của phép rửa’. Một chứng nhân của chính đức tin này là Người Tôi Tớ Chúa Gioan Phaolô II, vị được nơi chốn này nói tới một cách rất đặc biệt.
Vị đại Tiền Nhiệm của tôi đã xác nhận là Đền Thờ Wadowice, giáo xứ quê quán của ngài, là một địa điểm đặc biệt quan hệ tới việc phát triển đời sống thiêng liêng của ngài cũng như tới ơn gọi linh mục của ngài là ơn gọi tỏ hiện nơi ngài. Có lần ngài đã nói rằng: ‘Nơi nhà thờ này, tôi đã Xưng Tội lần đầu và đã Rước Lễ lần đầu. Ở nơi đây tôi đã là một chú giúp lễ. Ở nơi đây tôi tạ ơn Chúa về tặng ân linh mục, và là Tổng Giám Mục Kraków, tôi đã cử hành 25 năm lãnh nhận thiên chức linh mục. Chỉ có một mình Thiên Chúa, Đấng ban phát mọi ơn lành, mới biết được những gì là thiện hảo và đầy những ân huệ tôi đã nhận được nơi nhà thờ này cũng như nơi cộng đồng giáo xứ này. Hôm nay tôi xin tôn vinh Ngài, Vị Thiên Chúa Ba Ngôi, ở ngưỡng cửa của ngôi nhà thờ đây’ (Wadowice, 16/6/1979). Nhà thờ là dấu hiệu của mối hiệp thông của tín hữu được liên kết nhờ sự hiện diện của Thiên Chúa là Đấng ngự giữa họ. Cộng động này là Giáo Hội được Giáo Hoàng Gioan Phaolô II yêu dấu. Tình ngài mến yêu Giáo Hội được xuất phát từ giáo xứ Wadowice đây. Nơi ngôi nhà thờ này, ngài đã cảm nghiệm được đời sống bí tích, được việc truyền bá phúc âm hóa và việc hình thành một đức tin chín chắn trưởng thành. Đó là lý do, là một linh mục, là một giám mục và là một Giáo Hoàng, ngài đã hết sức chăm sóc cho các cộng đồng giáo xứ. Theo tinh thần của mối quan tâm ấy, trong cuộc viếng thăm ngũ niên Tòa Thánh, tôi đã xin các Vị Giám Mục Balan hãy làm tất cả những gì có thể để bảo đảm rằng giáo xứ Balan thực sự là một ‘cộng đồng giáo hội’ và là một ‘gia đình Giáo Hội’.
Để kết luận, tôi muốn nhắc lại lần nữa một đặc tính về đức tin và về linh đạo của Đức Gioan Phaolô II, một đặc tính có liên hệ với nơi chốn này. Chính ngài đã nhớ đến nhiều lần việc dân sự ở Wadowice sâu xa gắn bó với tấm ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở địa phương này và thói lệ đọc kinh hằng ngày trước tượng Mẹ của các em học sinh. Việc hồi niệm ấy giúp chúng ta tiến tới nguồn mạch của niềm xác tín đã nuôi dưỡng Đức Gioan Phaolô II – niềm xác tín liên quan tới địa vị ngoại hạng của Người Mẹ Thiên Chúa trong cuộc đời của ngài, một niềm xác tín mà chính ngài, đầy lòng sùng mộ, đã bày tỏ qua khẩu hiệu ‘Totus tuus’. Cho đến giây phút cuối cùng trong cuộc hành trình trần thế của mình, ngài vẫn trung thành với việc hiến dâng này.
Theo tinh thần của việc hiến dâng ấy, trước tấm ảnh này đây, tôi xin dâng lời tạ ơn Thiên Chúa về Giáo Triều của Đức Gioan Phaolô II, và, cũng như ngài, tôi xin Đức Mẹ hãy trông coi Giáo Hội đã được Chúa muốn trao phó cho tôi hướng dẫn. Tôi cũng xin tất cả anh chị em, anh chị em thân mến, hãy nguyện cầu cho tôi như anh chị em đã nguyện cầu cho vị đồng hương cao cả ấy của anh chị em vậy. Tận đáy lòng của mình, tôi cúc lành cho tất cả anh chị em hiện diện nơi đây hôm nay cũng như cho tất cả những ai đến Wadowice để kín múc từ cái bể tinh thần đức tin của Đức Gioan Phaolô II.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,
chuyển dịch theo mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/travels/2006/index_polonia_en.htm
“Chúng ta cần phải hết sức chú trọng tới việc phát triển đức tin của chúng ta, để đức tin được thực sự thấm đậm tất cả mọi thái độ, tâm tưởng, hành động và ý hướng của chúng ta”
Huấn Dụ Thành Phần Tu Sĩ, Chủng Sinh và Đại Diện Các Phong Trào, ở Czestochowa Thứ Sáu 26
|
|
Quí Tu Sĩ Nam Nữ, thành phần sống đời tận hiến, những người đã được lời Chúa Giêsu tác động vì mến yêu mà theo Người!
Quí Chủng Sinh, những người đang dọn mình làm linh mục thừa tác!
Quí đại diện các phong trào công giáo tiến hành, thành phần mang quyền năng của Phúc Âm đến cho các gia đình, đến hãng xưởng, đến đại học đường, đến thế giới truyền thông và văn hóa, đến giáo xứ họ đạo của mình!
Như các Vị Tồng Đồ đã cùng với Mẹ Maria ‘lên căn thượng lầu’ và ở đó ‘đồng tâm nhất trí nguyện cầu’ (Acts 1:12,14), cả chúng ta nữa, cũng qui tụ lại hôm nay đây ở Jasna Góra, một nơi, đối với chúng ta trong giây phút này đây, là ‘căn thượng lầu’, nơi Mẹ Maria, Mẹ Chúa Kitô, hiện diện giữa chúng ta. Hôm nay đây, chính Mẹ là vị hướng dẫn việc suy niệm của chúng ta; Mẹ dạy chúng ta cách thức nguyện cầu. Mẹ Maria tỏ cho chúng ta thấy làm thế nào để chúng ta có thể mở lòng trì mình ra trước quyền năng của Thánh Linh, Đấng đến với chúng ta để được mang đến cho toàn thế giới. Chúng ta cần một giây phút thinh lặng và suy tưởng trong việc ngồi vào học đường của Mẹ, nhờ đó Mẹ mới dạy cho chúng ta làm thế nào để sống bởi đức tin, làm thế nào để có thể lớn lên trong đức tin, làm thế nào để giữ được mối giao tiếp với mầu nhiệm của Thiên Chúa nơi các biến cố tự nhiên thường nhật trong cuộc sống của chúng ta. Với tính chất tế nhị của nữ giới và bằng ‘khả năng hòa hợp cái trực giác sâu xa với ngôn từ lời lẽ đỡ nâng và phấn khích’ (Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Mẹ Đấng Cứu Chuộc, đoạn 46), Mẹ Maria đã bảo trì đức tin của Thánh Phêrô và của các Vị Tông Đồ ở Căn Thượng Lầu, và hôm nay đây Mẹ bảo trì đức tin của tôi cũng như của anh chị em.
‘Đức tin là mối giao hệ với mầu nhiệm của Thiên Chúa’ (cùng nguồn vừa dẫn, đoạn 17), vì ‘tin tưởng tức là phó mình cho sự thật nơi lời của Thiên Chúa hằng sống, nhận biết và khiêm tốn nhìn nhận phán quyết của Ngài là những gì khôn dò và đường lối của Ngài thì khôn thấu’ (cùng nguồn, 14). Đức tin là một tặng ân, được ban cho chúng ta nơi Phép Rửa, một Phép Rửa làm hiện thực việc chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng ẩn thân trong mầu nhiệm; nghĩ rằng hiểu được Ngài có nghĩa là muốn giam nhốt Ngài vào ý nghĩ và kiến thức của chúng ta, bởi thế sẽ mất Ngài ngay tức khắc. Tuy nhiên, với đức tin, chúng ta có thể thấy được trước mặt một con đường xuyên qua các quan niệm, thậm chí là những quan niệm về thần học, và có thể ‘đụng chạm’ tới Vị Thiên Chúa hằng sống. Và Thiên Chúa, một khi được chạm tới, liền ban cho chúng ta quyền lực của Ngài. Khi chúng ta phó mình cho Vị Thiên Chúa hằng sống này, khi chúng ta chạy đến với Ngài bằng tấm lòng khiêm tốn, thì một thứ suối nguồn của sự sống thần linh thầm kín tuôn tràn ra trong chúng ta. Quan trọng biết bao việc tin tưởng vào quyền năng của đức tin, vào khả năng của đức tin trong việc tạo nên một mối liên hệ chặt chẽ với Vị Thiên Chúa hằng sống! Chúng ta cần phải hết sức chú trọng tới việc phát triển đức tin của chúng ta, để đức tin được thực sự thấm đậm tất cả mọi thái độ, tâm tưởng, hành động và ý hướng của chúng ta. Đức tin có một chỗ đứng, chẳng những trong tình trạng của linh hồn và nơi các cảm nghiệm về đạo nghĩa, nhất là trong tâm tưởng và hành động, trong công việc làm hằng ngày, trong cuộc chiến đấu với bản thân mình, trong đời sống cộng đồng cũng như trong việc tông đồ, vì đức tin là những gì bảo đảm cho việc đời sống của chúng ta được thấm đẫm quyền năng của chính Thiên Chúa. Đức tin bao giờ cũng có thể mang chúng ta về với Thiên Chúa thậm chí cả những lúc tội lỗi dẫn chúng ta đi vào con đường sai trật lệch lạc chăng nữa.
Ở Căn Thượng Lầu ấy, các Vị Tông Đồ không biết được những gì đang đợi chờ các vị. Các vị bấy giờ đang sợ hãi và lo âu về tương lai của các vị. Các vị tiếp tục ngẫm nghĩ về cái chết và phục sinh của Chúa Giêsu và đang đau buồn cảm thấy bị bỏ mặc sau khi Người thăng thiên về Trời. Mẹ Maria, ‘Vị đã tin rằng lời Chúa phán sẽ được thực hiện’ (x Lk 1:45), thiết tha nguyện cầu cùng với các Vị Tông Đồ, đã dạy sống kiên trì trong đức tin. Qua thái độ của mình, Mẹ đã chinh phục được các vị là Thánh Thần, theo đức khôn ngoan của Ngài, biết rõ đường lối Ngài dẫn dắt họ bước đi, do đó, các vị có thể tin tưởng nơi Thiên Chúa, dứt khoát hiến mình cho Ngài, cùng với tài năng của các vị, những hạn hữu của các vị và tương lai của các vị.
Nhiều người trong anh em hiện diện nơi đây đã cảm nghiệm thấy tiếng gọi thầm kín này của Thánh Thần và đã đáp lại bằng một tấm lòng hoàn toàn quảng đại. Tình yêu của Chúa Giêsu ‘được tuôn đổ vào lòng anh chị em nhờ Thánh Thần là Đấng được ban cho anh chị em’ (x Rm 5:5) là những gì cho anh chị em thấy con đường sống đời tận hiến. Không phải là anh chị em tìm kiếm tình yêu này. Chính Chúa Giêsu là Đấng đã kêu gọi anh chị em, mời gọi anh chị em đến với cuộc hiệp nhất sâu xa với Người. Nơi bí tích Thánh Tẩy, anh chị em đã từ bỏ Satan cùng với những việc làm của hắn, và đã lãnh nhận những ơn cần thiết cho đời sống Kitô hữu và cho việc nên thánh. Từ lúc ấy, ơn đức tin đã nở ra trong anh chị em, và giúp cho anh chị em có thể hiệp nhất với Thiên Chúa. Ở vào giây phút anh chị em tuyên lời khấn dòng, đức tin đã dẫn anh chị em tới chỗ hoàn toàn gắn bó với mầu nhiệm của Trái Tim Chúa Giêsu là kho tàng anh chị em đã khám phá thấy. Nên anh chị em đã từ bỏ những thứ tốt lành như việc tự do định đoạt cuộc đời mình, việc có được một gia đình, việc sở hữu sản vật, để anh chị em được tự do thanh thoát hiến mình cho Chúa Kitô và cho Vương Quốc của Người. Anh chị em chẳng lẽ không nhớ đến lòng nhiệt tình của mình khi anh chị em bắt đầu cuộc hành trình sống đời tận hiến, tin tưởng vào ân sủng của Thiên Chúa hay sao? Anh chị em đừng để mất đi cái nhiệt tình ban đầu ấy, và hãy để cho Mẹ Maria dẫn anh chị em tới chỗ gắn bó trọn vẹn hơn. Quí tu sĩ nam nữ thân mến, quí tâm hồn sống đời tận hiến thân mến! Bất cứ những gì cho anh chị em được sứ vụ này ủy thác cho, bất cứ những gì anh chị em đang tham phần vào công cuộc đan tu hay tông đồ, xin anh chị em hãy bảo tồn trong lòng mình cái ưu tiên của cuộc đời tận hiến. Chớ gì cuộc đời tận hiến canh tân đức tin của anh chị em. Đời sống tận hiến, một cuộc sống theo đức tin, là cuộc sống liên kết anh chị em chặt chẽ với Thiên Chúa, là cuộc sống có sức thu hút và làm cho việc phục vụ của anh chị em trổ sinh hoa trái một cách đặc biệt.
Quí dự sinh linh mục thân mến! Rất nhiều điều có thể học được ở việc suy niệm về cách thức Mẹ Maria đã học biết nơi Chúa Giêsu! Từ Mẹ, tiếng ‘xin vâng’ ngay từ đầu của Mẹ, qua những tháng năm dài bình thường của cuộc sống ẩn dật, khi Mẹ nuôi lớn Chúa Giêsu, hay khi Mẹ xin Người làm dấu lạ đầu tay ở Cana xứ Galiêa, hoặt khi Mẹ đứng bên Cậy Thập Tự Giá nhìn lên Chúa Giêsu trên Đồi Canvê, Mẹ đã ‘học biết’ Người từng lúc một. Trước hết, nơi đức tin của Mẹ rồi mới tới nơi cung lòng của Mẹ, Mẹ đã lãnh nhận Thân Thể Chúa Giêsu và hạ sinh Người vào trần gian. Ngày ngày Mẹ ngất ngây tôn thờ Người. Mẹ đã ưu ái quan tâm phục vụ Người, hát lên bài ca vịnh Ngợi Khen trong lòng Mẹ. Trong cuộc hành trình dọn mình của quí bạn, cũng như trong thừa tác vụ linh mục của mình, quí bạn hãy để cho Mẹ Maria hướng dẫn quí bạn khi quí bạn ‘học biết’ Chúa Giêsu. Hãy gắn mắt vào Người. Hãy để Người hình thành quí bạn, nhờ đó, nơi thừa tác vụ của mình, quí bạn mới có thể tỏ Người ra cho tất cả những ai tiến đến với quí bạn. Khi quí bạn cầm trong tay mình Thánh Thể Chúa Giêsu để dưỡng nuôi Dân Người, cũng như khi quí bạn lãnh trách nhiệm đối với phần Nhiệm Thể sẽ được ủy thác cho quí bạn ấy, quí bạn hãy nhớ đến thái độ chiêm ngắm và tôn thờ là những gì làm nên đặc tính đức tin của Mẹ Maria. Như Mẹ, bằng một tình yêu ân cần từ mẫu đối với Chúa Giêsu, Mẹ đã bảo trì tình yêu trinh nguyên tràn đầy chiêm ngắm của Mẹ thế nào, quí bạn cũng hãy bảo trì trong tâm hồn mình khả năng chiêm ngắm và tôn thờ như vậy. Quí bạn hãy biết làm sao để nhìn nhận nơi Dân Chúa được úy thác cho quí bạn những dấu hiệu hiện diện của Chúa Kitô. Hãy chuyên chú tới những dấu hiệu thánh đức được Thiên Chúa tỏ cho quí bạn thấy nơi thành phần tín hữu. Đừng sợ những nhiệm vụ mai này hay những gì chưa được biết tới! Đừng sợ là những lời nói của quí bạn sẽ làm cho quí bạn thất bại hay làm cho quí bạn bị loại trừ! Thế giới và Giáo Hội cần những vị linh mục, những vị linh mục thánh hảo.
Quí đại diện các Phong Trào mới trong Giáo Hội, tính cách sinh động của các cộng đồng quí bạn là dấu hiệu cho thấy việc hiện diện sống động của Chúa Thánh Thần! Sứ vụ của quí bạn đã xuất phát từ chính đức tin của Giáo Hội cũng như từ các hoa trái phong phú của Thánh Linh. Tôi cầu xin để quí bạn được gia tăng con số hơn nhờ đó phục vụ cho Vương Quốc của Thiên Chúa trong thế giới ngày nay. Quí bạn hãy tin vào ân sủng của Thiên Chúa là những gì hỗ trợ quí bạn và làm cho sứ vụ của quí bạn được ăn khớp với tấm vải sống động Giáo Hội, nhất là ở những nơi vượt ngoài tầm tay của linh mục và tu sĩ. Các phong trào của quí bạn thì nhiều. Quí bạn được dưỡng nuôi bởi nhiều trường phái tu đức được Giáo Hội công nhận. Hãy rút tỉa lấy đức khôn ngoan của các vị thánh, hãy sử dụng gia sản được các vị để lại cho chúng ta. Hãy hình thành tâm tưởng của quí bạn theo các công việc của những bậc đại sư và đại chứng nhân đức tin, với ý thức rằng các trường phái tu đức không phải là một kho tàng bị khóa chặt lại ở trong các viện tu hay các thư viện. Sự khôn ngoan của Phúc Âm, một sự khôn ngoan đã được chất chứa nơi các bút tích của những vị đại thánh và đã được chứng thực qua đời sống của các vị, cần phải được mang tới, một cách chín chắn, chứ không phải một cách ngây ngô hay bừa bãi, cho thế giới văn hóa và hoạt động, cho thế giới truyền thông và chính trị, cho thế giới gia đình và đời sống xã hội. Tính cách chân chính nơi đức tin và sứ vụ của quí bạn, một tính chất không chú trọng tới chính mình mà là thực sự chiếu tỏa đức tin và đức mến, là những gì có thể thử nghiệm xem sao bằng việc căn cứ vào đức tin của Mẹ Maria. Hãy soi mình trong trái tim Mẹ. Hãy ở lại với học đường của Mẹ!
Khi các Vị Tông Đồ, được đầy Thánh Linh, ra mặt với toàn thể thế giới để loan truyền Phúc Âm, thì một người trong họ là Thánh Gioan, Vị Tông Đồ của tình yêu, đã đón Mẹ về nhà của ngài (x Jn 19:27). Chính vì mối liên kết chặt chẽ sâu xa giữa ngài với Chúa Giêsu và Mẹ Maria mà ngài có thể nhấn mạnh một cách hết sức chính xác về sự thật ‘Thiên Chúa là tình yêu’ (1Jn 4:8,16). Đó là những lời tôi đã mở đầu cho bức Thông Điệp mở tay cho Giáo Triều của mình: Deus caritas est! Đó là những gì quan trọng nhất, là sự thật chính yếu nhất về Thiên Chúa. Tôi muốn lập lại một lần nữa hôm nay đây với tất cả những ai khó lòng tin vào Thiên Chúa rằng: ‘Thiên Chúa là tình yêu’. Quí bạn thân mến, quí bạn hãy trở thành những nhân chứng cho sự thật này. Quí bạn sẽ chắc chắn làm được điều ấy nếu quí bạn tham dự học đường của Mẹ Maria. Ở bên Mẹ, quí bạn sẽ tự cảm nghiệm thấy được rằng Thiên Chúa là tình yêu, và quí bạn sẽ truyền đạt sứ điệp này cho thế giới một cách dồi dào và đa dạng mà chỉ có Thánh Linh mới biết làm thế nào để khơi động lên thôi.
Chúc tụng Chúa Giêsu Kitô.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,
chuyển dịch theo mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/travels/2006/index_polonia_en.htm
Huấn Dụ Thành Phần Tu Sĩ, Chủng Sinh và Đại Diện Các Phong Trào, ở Czestochowa Thứ Sáu 26
|
|
Quí Tu Sĩ Nam Nữ, thành phần sống đời tận hiến, những người đã được lời Chúa Giêsu tác động vì mến yêu mà theo Người!
Quí Chủng Sinh, những người đang dọn mình làm linh mục thừa tác!
Quí đại diện các phong trào công giáo tiến hành, thành phần mang quyền năng của Phúc Âm đến cho các gia đình, đến hãng xưởng, đến đại học đường, đến thế giới truyền thông và văn hóa, đến giáo xứ họ đạo của mình!
Như các Vị Tồng Đồ đã cùng với Mẹ Maria ‘lên căn thượng lầu’ và ở đó ‘đồng tâm nhất trí nguyện cầu’ (Acts 1:12,14), cả chúng ta nữa, cũng qui tụ lại hôm nay đây ở Jasna Góra, một nơi, đối với chúng ta trong giây phút này đây, là ‘căn thượng lầu’, nơi Mẹ Maria, Mẹ Chúa Kitô, hiện diện giữa chúng ta. Hôm nay đây, chính Mẹ là vị hướng dẫn việc suy niệm của chúng ta; Mẹ dạy chúng ta cách thức nguyện cầu. Mẹ Maria tỏ cho chúng ta thấy làm thế nào để chúng ta có thể mở lòng trì mình ra trước quyền năng của Thánh Linh, Đấng đến với chúng ta để được mang đến cho toàn thế giới. Chúng ta cần một giây phút thinh lặng và suy tưởng trong việc ngồi vào học đường của Mẹ, nhờ đó Mẹ mới dạy cho chúng ta làm thế nào để sống bởi đức tin, làm thế nào để có thể lớn lên trong đức tin, làm thế nào để giữ được mối giao tiếp với mầu nhiệm của Thiên Chúa nơi các biến cố tự nhiên thường nhật trong cuộc sống của chúng ta. Với tính chất tế nhị của nữ giới và bằng ‘khả năng hòa hợp cái trực giác sâu xa với ngôn từ lời lẽ đỡ nâng và phấn khích’ (Đức Gioan Phaolô II, Thông Điệp Mẹ Đấng Cứu Chuộc, đoạn 46), Mẹ Maria đã bảo trì đức tin của Thánh Phêrô và của các Vị Tông Đồ ở Căn Thượng Lầu, và hôm nay đây Mẹ bảo trì đức tin của tôi cũng như của anh chị em.
‘Đức tin là mối giao hệ với mầu nhiệm của Thiên Chúa’ (cùng nguồn vừa dẫn, đoạn 17), vì ‘tin tưởng tức là phó mình cho sự thật nơi lời của Thiên Chúa hằng sống, nhận biết và khiêm tốn nhìn nhận phán quyết của Ngài là những gì khôn dò và đường lối của Ngài thì khôn thấu’ (cùng nguồn, 14). Đức tin là một tặng ân, được ban cho chúng ta nơi Phép Rửa, một Phép Rửa làm hiện thực việc chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng ẩn thân trong mầu nhiệm; nghĩ rằng hiểu được Ngài có nghĩa là muốn giam nhốt Ngài vào ý nghĩ và kiến thức của chúng ta, bởi thế sẽ mất Ngài ngay tức khắc. Tuy nhiên, với đức tin, chúng ta có thể thấy được trước mặt một con đường xuyên qua các quan niệm, thậm chí là những quan niệm về thần học, và có thể ‘đụng chạm’ tới Vị Thiên Chúa hằng sống. Và Thiên Chúa, một khi được chạm tới, liền ban cho chúng ta quyền lực của Ngài. Khi chúng ta phó mình cho Vị Thiên Chúa hằng sống này, khi chúng ta chạy đến với Ngài bằng tấm lòng khiêm tốn, thì một thứ suối nguồn của sự sống thần linh thầm kín tuôn tràn ra trong chúng ta. Quan trọng biết bao việc tin tưởng vào quyền năng của đức tin, vào khả năng của đức tin trong việc tạo nên một mối liên hệ chặt chẽ với Vị Thiên Chúa hằng sống! Chúng ta cần phải hết sức chú trọng tới việc phát triển đức tin của chúng ta, để đức tin được thực sự thấm đậm tất cả mọi thái độ, tâm tưởng, hành động và ý hướng của chúng ta. Đức tin có một chỗ đứng, chẳng những trong tình trạng của linh hồn và nơi các cảm nghiệm về đạo nghĩa, nhất là trong tâm tưởng và hành động, trong công việc làm hằng ngày, trong cuộc chiến đấu với bản thân mình, trong đời sống cộng đồng cũng như trong việc tông đồ, vì đức tin là những gì bảo đảm cho việc đời sống của chúng ta được thấm đẫm quyền năng của chính Thiên Chúa. Đức tin bao giờ cũng có thể mang chúng ta về với Thiên Chúa thậm chí cả những lúc tội lỗi dẫn chúng ta đi vào con đường sai trật lệch lạc chăng nữa.
Ở Căn Thượng Lầu ấy, các Vị Tông Đồ không biết được những gì đang đợi chờ các vị. Các vị bấy giờ đang sợ hãi và lo âu về tương lai của các vị. Các vị tiếp tục ngẫm nghĩ về cái chết và phục sinh của Chúa Giêsu và đang đau buồn cảm thấy bị bỏ mặc sau khi Người thăng thiên về Trời. Mẹ Maria, ‘Vị đã tin rằng lời Chúa phán sẽ được thực hiện’ (x Lk 1:45), thiết tha nguyện cầu cùng với các Vị Tông Đồ, đã dạy sống kiên trì trong đức tin. Qua thái độ của mình, Mẹ đã chinh phục được các vị là Thánh Thần, theo đức khôn ngoan của Ngài, biết rõ đường lối Ngài dẫn dắt họ bước đi, do đó, các vị có thể tin tưởng nơi Thiên Chúa, dứt khoát hiến mình cho Ngài, cùng với tài năng của các vị, những hạn hữu của các vị và tương lai của các vị.
Nhiều người trong anh em hiện diện nơi đây đã cảm nghiệm thấy tiếng gọi thầm kín này của Thánh Thần và đã đáp lại bằng một tấm lòng hoàn toàn quảng đại. Tình yêu của Chúa Giêsu ‘được tuôn đổ vào lòng anh chị em nhờ Thánh Thần là Đấng được ban cho anh chị em’ (x Rm 5:5) là những gì cho anh chị em thấy con đường sống đời tận hiến. Không phải là anh chị em tìm kiếm tình yêu này. Chính Chúa Giêsu là Đấng đã kêu gọi anh chị em, mời gọi anh chị em đến với cuộc hiệp nhất sâu xa với Người. Nơi bí tích Thánh Tẩy, anh chị em đã từ bỏ Satan cùng với những việc làm của hắn, và đã lãnh nhận những ơn cần thiết cho đời sống Kitô hữu và cho việc nên thánh. Từ lúc ấy, ơn đức tin đã nở ra trong anh chị em, và giúp cho anh chị em có thể hiệp nhất với Thiên Chúa. Ở vào giây phút anh chị em tuyên lời khấn dòng, đức tin đã dẫn anh chị em tới chỗ hoàn toàn gắn bó với mầu nhiệm của Trái Tim Chúa Giêsu là kho tàng anh chị em đã khám phá thấy. Nên anh chị em đã từ bỏ những thứ tốt lành như việc tự do định đoạt cuộc đời mình, việc có được một gia đình, việc sở hữu sản vật, để anh chị em được tự do thanh thoát hiến mình cho Chúa Kitô và cho Vương Quốc của Người. Anh chị em chẳng lẽ không nhớ đến lòng nhiệt tình của mình khi anh chị em bắt đầu cuộc hành trình sống đời tận hiến, tin tưởng vào ân sủng của Thiên Chúa hay sao? Anh chị em đừng để mất đi cái nhiệt tình ban đầu ấy, và hãy để cho Mẹ Maria dẫn anh chị em tới chỗ gắn bó trọn vẹn hơn. Quí tu sĩ nam nữ thân mến, quí tâm hồn sống đời tận hiến thân mến! Bất cứ những gì cho anh chị em được sứ vụ này ủy thác cho, bất cứ những gì anh chị em đang tham phần vào công cuộc đan tu hay tông đồ, xin anh chị em hãy bảo tồn trong lòng mình cái ưu tiên của cuộc đời tận hiến. Chớ gì cuộc đời tận hiến canh tân đức tin của anh chị em. Đời sống tận hiến, một cuộc sống theo đức tin, là cuộc sống liên kết anh chị em chặt chẽ với Thiên Chúa, là cuộc sống có sức thu hút và làm cho việc phục vụ của anh chị em trổ sinh hoa trái một cách đặc biệt.
Quí dự sinh linh mục thân mến! Rất nhiều điều có thể học được ở việc suy niệm về cách thức Mẹ Maria đã học biết nơi Chúa Giêsu! Từ Mẹ, tiếng ‘xin vâng’ ngay từ đầu của Mẹ, qua những tháng năm dài bình thường của cuộc sống ẩn dật, khi Mẹ nuôi lớn Chúa Giêsu, hay khi Mẹ xin Người làm dấu lạ đầu tay ở Cana xứ Galiêa, hoặt khi Mẹ đứng bên Cậy Thập Tự Giá nhìn lên Chúa Giêsu trên Đồi Canvê, Mẹ đã ‘học biết’ Người từng lúc một. Trước hết, nơi đức tin của Mẹ rồi mới tới nơi cung lòng của Mẹ, Mẹ đã lãnh nhận Thân Thể Chúa Giêsu và hạ sinh Người vào trần gian. Ngày ngày Mẹ ngất ngây tôn thờ Người. Mẹ đã ưu ái quan tâm phục vụ Người, hát lên bài ca vịnh Ngợi Khen trong lòng Mẹ. Trong cuộc hành trình dọn mình của quí bạn, cũng như trong thừa tác vụ linh mục của mình, quí bạn hãy để cho Mẹ Maria hướng dẫn quí bạn khi quí bạn ‘học biết’ Chúa Giêsu. Hãy gắn mắt vào Người. Hãy để Người hình thành quí bạn, nhờ đó, nơi thừa tác vụ của mình, quí bạn mới có thể tỏ Người ra cho tất cả những ai tiến đến với quí bạn. Khi quí bạn cầm trong tay mình Thánh Thể Chúa Giêsu để dưỡng nuôi Dân Người, cũng như khi quí bạn lãnh trách nhiệm đối với phần Nhiệm Thể sẽ được ủy thác cho quí bạn ấy, quí bạn hãy nhớ đến thái độ chiêm ngắm và tôn thờ là những gì làm nên đặc tính đức tin của Mẹ Maria. Như Mẹ, bằng một tình yêu ân cần từ mẫu đối với Chúa Giêsu, Mẹ đã bảo trì tình yêu trinh nguyên tràn đầy chiêm ngắm của Mẹ thế nào, quí bạn cũng hãy bảo trì trong tâm hồn mình khả năng chiêm ngắm và tôn thờ như vậy. Quí bạn hãy biết làm sao để nhìn nhận nơi Dân Chúa được úy thác cho quí bạn những dấu hiệu hiện diện của Chúa Kitô. Hãy chuyên chú tới những dấu hiệu thánh đức được Thiên Chúa tỏ cho quí bạn thấy nơi thành phần tín hữu. Đừng sợ những nhiệm vụ mai này hay những gì chưa được biết tới! Đừng sợ là những lời nói của quí bạn sẽ làm cho quí bạn thất bại hay làm cho quí bạn bị loại trừ! Thế giới và Giáo Hội cần những vị linh mục, những vị linh mục thánh hảo.
Quí đại diện các Phong Trào mới trong Giáo Hội, tính cách sinh động của các cộng đồng quí bạn là dấu hiệu cho thấy việc hiện diện sống động của Chúa Thánh Thần! Sứ vụ của quí bạn đã xuất phát từ chính đức tin của Giáo Hội cũng như từ các hoa trái phong phú của Thánh Linh. Tôi cầu xin để quí bạn được gia tăng con số hơn nhờ đó phục vụ cho Vương Quốc của Thiên Chúa trong thế giới ngày nay. Quí bạn hãy tin vào ân sủng của Thiên Chúa là những gì hỗ trợ quí bạn và làm cho sứ vụ của quí bạn được ăn khớp với tấm vải sống động Giáo Hội, nhất là ở những nơi vượt ngoài tầm tay của linh mục và tu sĩ. Các phong trào của quí bạn thì nhiều. Quí bạn được dưỡng nuôi bởi nhiều trường phái tu đức được Giáo Hội công nhận. Hãy rút tỉa lấy đức khôn ngoan của các vị thánh, hãy sử dụng gia sản được các vị để lại cho chúng ta. Hãy hình thành tâm tưởng của quí bạn theo các công việc của những bậc đại sư và đại chứng nhân đức tin, với ý thức rằng các trường phái tu đức không phải là một kho tàng bị khóa chặt lại ở trong các viện tu hay các thư viện. Sự khôn ngoan của Phúc Âm, một sự khôn ngoan đã được chất chứa nơi các bút tích của những vị đại thánh và đã được chứng thực qua đời sống của các vị, cần phải được mang tới, một cách chín chắn, chứ không phải một cách ngây ngô hay bừa bãi, cho thế giới văn hóa và hoạt động, cho thế giới truyền thông và chính trị, cho thế giới gia đình và đời sống xã hội. Tính cách chân chính nơi đức tin và sứ vụ của quí bạn, một tính chất không chú trọng tới chính mình mà là thực sự chiếu tỏa đức tin và đức mến, là những gì có thể thử nghiệm xem sao bằng việc căn cứ vào đức tin của Mẹ Maria. Hãy soi mình trong trái tim Mẹ. Hãy ở lại với học đường của Mẹ!
Khi các Vị Tông Đồ, được đầy Thánh Linh, ra mặt với toàn thể thế giới để loan truyền Phúc Âm, thì một người trong họ là Thánh Gioan, Vị Tông Đồ của tình yêu, đã đón Mẹ về nhà của ngài (x Jn 19:27). Chính vì mối liên kết chặt chẽ sâu xa giữa ngài với Chúa Giêsu và Mẹ Maria mà ngài có thể nhấn mạnh một cách hết sức chính xác về sự thật ‘Thiên Chúa là tình yêu’ (1Jn 4:8,16). Đó là những lời tôi đã mở đầu cho bức Thông Điệp mở tay cho Giáo Triều của mình: Deus caritas est! Đó là những gì quan trọng nhất, là sự thật chính yếu nhất về Thiên Chúa. Tôi muốn lập lại một lần nữa hôm nay đây với tất cả những ai khó lòng tin vào Thiên Chúa rằng: ‘Thiên Chúa là tình yêu’. Quí bạn thân mến, quí bạn hãy trở thành những nhân chứng cho sự thật này. Quí bạn sẽ chắc chắn làm được điều ấy nếu quí bạn tham dự học đường của Mẹ Maria. Ở bên Mẹ, quí bạn sẽ tự cảm nghiệm thấy được rằng Thiên Chúa là tình yêu, và quí bạn sẽ truyền đạt sứ điệp này cho thế giới một cách dồi dào và đa dạng mà chỉ có Thánh Linh mới biết làm thế nào để khơi động lên thôi.
Chúc tụng Chúa Giêsu Kitô.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,
chuyển dịch theo mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/travels/2006/index_polonia_en.htm
Huấn Từ với Hàng Giáo Sĩ Balan tại Vương Cung Thánh Đường Warszawa Thứ Năm 25
|
|
‘Trước hết, nhờ Đức Giêsu Kitô tôi tạ ơn Chúa cho tất cả anh em… Vì tôi mong được gặp gỡ anh em để tôi có thể trao tặng cho anh em những tặng ân thiêng liêng để làm cho anh em thêm kiên cường, tức là, để chúng ta có thể phấn khích đức tin của nhau, cả của tôi cũng như của anh em’ (Rm 1:8-12).
Quí vị linh mục thân mến, tôi ngỏ cùng anh em những lời này của Thánh Phaolô, vì chúng hoàn toàn phản ảnh tâm tưởng của tôi hôm nay, phản ảnh các ước muốn cùng những nguyện cầu của tôi. Tôi đặc biệt chào Đức Hồng Y Joséf Glemp, Tổng Giám Mục Warsaw và là Vị Giáo Chủ của Balan, vị tôi xin gửi lời chúc mừng thân ái nhất của tôi nhân dịp 50 thụ phong linh mục vào chính ngày hôm nay đây. Tôi đến Balan, quê hương yêu dấu đối với vị Đại Tiền Nhiệm Giáo Hoàng Gioan Phaolô II của tôi, để hít thở, như ngài vẫn thường làm, bầu khí đức tin anh em đang sống, cũng như để ‘chuyển đến cho anh em tặng ân thiêng liêng để nó có thể làm cho anh em nên kiên cường’. Tôi tin rằng chuyến hành hương của tôi trong những ngày này sẽ là những gì ‘phấn khích niềm tin chung của chúng ta, của anh em và của tôi’.
Hôm nay tôi đang gặp gỡ anh em ở Vương Cung Thánh Đường Warsaw, nơi mà từng viên đá đều nói lên cái lịch sử tang thương về thủ đô của anh em cũng như về quê hương của anh em. Anh em đã chịu biết bao nhiêu là thử thách trong quá khứ vừa qua! Chúng ta nhớ lại những chứng nhân anh hùng làm chứng cho đức tin, thành phần đã bỏ mạng sống mình cho Chúa cũng như cho đồng loại của mình, kể cả các vị thánh đã được tuyên phong cũng như dân thường, những người đã kiên trì sống cương trực, chuyên chính và thiện hảo, không bao giờ tỏ ra thất vọng. Nơi Vương Cung Thánh Đường này, tôi đặc biệt nhớ đến Người Tôi Tớ Chúa là Đức Hồng Y Stefan Wyszynski, vị tôi gọi là ‘Giáo Chủ của Ngàn Năm’. Phó mình cho Chúa Kitô và Mẹ của Người, ngài đã biết trung thành phục vụ Giáo Hội, bất chấp những thử thách thảm thương và dai dẳng xẩy ra quanh ngài. Chúng ta hãy tri ân cảm tạ nhớ tới những ai không để mình bị quyền lực tối tăm lấn át, và chúng ta hãy học từ các vị lòng can đảm kiên trì liên lỉ gắn bó với Phúc Âm Chúa Kitô.
Hôm nay tôi đang gặp gỡ anh em, những vị linh mục được Chúa Kitô kêu gọi để phục vụ Người trong ngàn năm mới. Anh em đã được chọn trong dân, được chỉ định để tác hành liên quan với Thiên Chúa, để hiến dâng những lễ vật và hy sinh đền bù tội lỗi. Hãy tin tưởng vào quyền năng thiên chức linh mục của anh em! Bởi bí tích này, anh em đã lãnh nhận tất cả những gì anh em có. Khi anh em thốt lên những lời ‘Ta’ và ‘của Ta’ (‘Ta tha tội cho con… Này là mình của Ta…’), là anh em làm điều này không phải nhân danh anh em mà là nhân danh Chúa Kitô, ‘in persona Christi’, Đấng muốn sử dụng môi miệng và bàn tay của anh em, tinh thần hy sinh của anh em và tài năng của anh em. Vào lúc anh em được thụ phong, qua dấu hiệu đặt tay theo phụng vụ, Chúa Kitô đã đến để bênh vực anh em; anh em đã được bàn tay của Người và Trái Tim của Người bao bọc chở che. Hãy dìm mình vào tình yêu thương của Người, và hãy dâng cho Người tình yêu của anh em! Khi bàn tay của anh em được xức dầu, một dấu hiệu Thánh Linh, là chúng được giành để phục vụ Chúa như bàn tay riêng của Người trong thế giới hôm nay. Chúng không còn phục vụ những mục đích vị kỷ nữa, mà phải tiếp tục làm chứng cho tình yêu của Người trên thế giới.
Sự cao cả nơi thiên chức linh mục của Chúa Kitô khiến chúng ta cảm thấy rùng mình. Chúng ta có thể bị thôi thúc mà kêu lên như Thánh Phêrô rằng: ‘Lạy Chúa, xin xa con ra, vì con là một kẻ tội lỗi’ (Lk 5:8), vì chúng ta thấy khó có thể tin được rằng Chúa Kitô đã đặc biệt kêu gọi chúng ta. Người chẳng lẽ không chọn được một người khác có khả năng hơn tôi, thánh thiện hơn tôi hay sao? Thế nhưng Chúa Giêsu đã âu yếm nhìn đến mỗi một người trong chúng ta, để rồi chúng ta cảm thấy tin tưởng trước ánh mắt này của Người. Chúng ta đừng bị vội vã cuốn hút, như thể thời giờ giành cho Chúa Kitô trong thinh lặng nguyện cầu là thời gian lãng phí. Trái lại, chính vào lúc bấy giờ mà những hoa trái tuyệt vời nhất của việc mục vụ mới phát sinh. Không nên chán nản vì sự kiện cần phải cố gắng mới thực hiện được việc nguyện cầu, hay vì cảm giác Chúa Giêsu vẫn cứ lặng thinh. Người thực sự là thinh lặng, thế nhưng Người cũng đang hành động. Về vấn đề này tôi cảm thấy vui nhắc lại cảm nghiệm của tôi năm ngoái ở Cologne. Tôi bấy giờ đã chứng kiến thấy một sự thinh lặng sâu xa không thể nào quên được của một triệu con người trẻ vào lúc Chầu Thánh Thể! Cái thinh lặng nguyện cầu ấy liên kết chúng ta, cống hiến cho chúng ta niềm an ủi lớn lao. Trong một thế giới đầy những ồn ào náo động, đầy những hoang mang bối rối, cần phải thực hiện việc thinh lặng chầu Chúa Giêsu ẩn mình trong Bánh Thánh. Hãy siêng năng thực hiện việc nguyện chầu ấy và dạy cho giáo dân biết làm việc này. Nó là mạch nguồn của niềm ủi an và ánh sáng đặc biệt cho những ai đang cảm thấy khổ đau.
Người tín hữu mong đợi chỉ một điều duy nhất nơi các vị linh mục, đó là các vị trở thành những chuyên viên cổ động việc hội ngộ giữa con người với Thiên Chúa. Vị linh mục không được yêu cầu hãy trở thành chuyên viên về kinh tế, kiến trúc hay chính trị. Ngài cần phải trở thành chuyên viên về đời sống thiêng liêng. Để nhắm tới mục đích này, trong những bước đầu, vị linh mục trẻ cần phải làm cho có thể tham vấn với một bậc thày đầy kinh nghiệm có thể giúp họ không bị lạc đường giữa đầy những tâm tưởng được nền văn hóa thời đại tung ra. Trước những khuynh hướng của chủ nghĩa tương đối hay của xã hội yếm thế, vị linh mục thực sự không cần phải biết được tất cả những gì là cập nhật hóa nhất, việc thay đổi các trào lưu tư tưởng; cái tín hữu mong đợi nơi ngài đó là việc ngài trở thành một nhân chứng cho đức khôn ngoan hằng hữu được chất chứa nơi lời mạc khải. Mối quan tâm đến phẩm chất của việc nguyện cầu riêng tư cũng như đến việc trao luyện tốt đẹp về thần học là những gì sinh hoa kết trái trong đời sống. Sống dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa chuyên chế độc đoán có thể gây ra một khuynh hương vô thức trong việc nấp sau chiếc mặt nạ, do đó trở thành một cái gì đó giả hình. Dĩ nhiên là điều này không làm gia tăng những mối liên hệ huynh đệ chân chính và có thể sẽ dẫn tới chỗ quá tập trung vào bản thân mình. Thực sự chúng ta tăng trưởng một cách chín chắn về tình cảm nếu lòng chúng ta gắn bó với Thiên Chúa. Chúa Kitô cần đến những vị linh mục trưởng thành, cứng cát, có thể vun trồng tính cách thân phụ thiêng liêng chân thực. Để thực hiện điều ấy, các vị linh mục cần phải tỏ ra chân thành, cởi mở với vị linh hướng và tin tưởng vào tình thương thần linh.
Nhân dịp Đại Năm Thánh, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thường huấn dụ Kitô hữu hãy thực hiện việc thống hối về những bất trung bội tín trong quá khứ. Chúng ta tin rằng Giáo Hội là thánh, nhưng lại có các tội nhân nơi thành phần chi thể của Giáo Hội. Chúng ta cần loại trừ ước muốn chỉ đồng hóa mình với những ai vô tội. Làm sao Giáo Hội có thể loại trừ tội nhân ra khỏi hàng ngũ của mình được chứ? Chính vì phần rỗi của họ mà Chúa Giêsu đã mặc lấy xác thịt, đã chết và phục sinh. Bởi thế chúng ta cần phải biết thực hiện việc thành tâm thống hối theo Kitô giáo. Nhờ thực hành việc này, chúng ta hiệp với những người khác xưng thú các tội lỗi riêng tư, trước mặt họ và trước nhan Thiên Chúa. Tuy nhiên, chúng ta phải canh chừng yêu sách ngông cuồng cho mình có quyền phán xét các thế hệ trước kia, thành phần sống ở những thời điểm khác và trong hoàn cảnh khác. Cần phải chân thành khiêm tốn để chẳng những không phủ nhận tội lỗi trong quá khứ, đồng thời cũng không chiều theo những cáo buộc dễ dàng khi thiếu những bằng cớ thực sự hay chẳng lưu ý gì tới những tiền kiến khác ở thời bấy giờ. Ngoài ra, việc xưng thú lỗi lầm - confessio peccati, như Thánh Âu Quốc Tinh diễn tả, bao giờ cũng cần phải được kèm theo bằng việc xưng thú chúc tụng - confession laudis. Khi chúng ta xin lỗi về lỗi lầm đã làm trong quá khứ, chúng ta cũng cần phải nhớ đến sự thiện kèm theo nữa, nhờ ơn Chúa ban, sự thiện cho dù được chứa đựng trong những bình sành sinh hoa kết trái thường tuyệt vời.
Ngày nay Giáo Hội ở Balan đang gặp phải những thách đố cả thể về mục vụ, ở chỗ làm sao để có thể chăm sóc cho thành phần tín hữu rời bỏ quê hương xứ sở. Nạn thất nghiệp bắt buộc nhiều người phải xuất ngoại. Đó là một hiện tượng tràn lan và có tầm mức rộng lớn. Khi các gia đình bị phân chia như thế, khi những liên hệ về xã hội bị đổ vỡ, Giáo Hội làm thế nào có thể dửng dưng cho được. Những ai lìa bỏ như thế cần phải được các vị linh mục chăm sóc, những vị linh mục, cộng tác với Giáo Hội địa phương, thực hiện thừa tác mục vụ nơi thành phần di dân. Giáo Hội ở Balan đã có được nhiều linh mục và nữ tu để chẳng những phục vụ thành phần Balan tha hương, mà còn phục vụ cả những địa điểm truyền giáo đôi khi trong những hoàn cảnh cực kỳ khó khăn ở Phi Châu, Á Châu, Mỹ Châu latinh cùng các miền khác. Xin đừng quên những nhà truyền giáo này, hỡi các vị linh mục yêu dấu của tôi. Tặng ân có được nhiều ơn gọi do Chúa ban cho Giáo Hội của anh em cần phải được lãnh nhận bằng một quan điểm thật sự là Công Giáo. Hỡi các vị linh mục Balan, xin đừng sợ xa lìa vùng thế giới an ninh và quen thuộc của mình, để lên đường phục vụ ở những nơi thiếu thốn linh mục và ở những nơi lòng quảng đại của anh em sinh hoa kết trái.
Hãy đứng vững trong đức tin của anh chị em! Tôi cũng trao phó câu tâm niệm cho cuộc hành trình này của tôi nơi anh em nữa. Hãy sống chân chính đích thực trong cuộc đời của anh em cũng như nơi thừa tác vụ của anh em. Gắn mắt nhìn lên Chúa Kitô, anh em hãy sống một đời khiêm tốn, đoàn kết với tín hữu là thành phần anh em được gửi tới với họ. Hãy phục vụ mọi người; hãy trở thành thuận lợi trong các giáo xứ cũng như nơi những tòa giải tội, hãy hỗ trợ các phong trào và hội đoàn mới, hãy nâng đỡ các gia đình, đừng quên mối liên hệ với giới trẻ, hãy lưu ý tới thành phần nghèo khổ và bị bỏ rơi. Nếu anh em sống bởi đức tin thì Thánh Thần sẽ tỏ cho anh em biết những gì anh em cần phải nói năng và cách thức anh em cần phải phục vụ. Anh em bao giờ cũng có thể tin tưởng vào sự trợ giúp của Mẹ Maria là Đấng đi trước Giáo Hội trong đức tin. Tôi khuyên anh em hãy luôn kêu cầu Mẹ bằng những lời anh em quá quen thuộc, đó là: ‘Chúng con gắn bó với Mẹ, chúng con tưởng nhớ đến Mẹ, chúng con dõi theo Mẹ’.
Tôi ban phép lành cho tất cả anh em!
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,
chuyển dịch theo mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/travels/2006/index_polonia_en.htm
Huấn Dụ Học Viện Gioan Phaolô II Đặc Trách Nghiên Cứu Về Hôn Nhân Và Gia Đình
Trong cuộc gặp gỡ thành phần triều kiến bao gồm giáo sư, sinh viên và ra trường của Học Viện Gioan Phaolô II Đặc Trách Nghiên Cứu Về Hôn Nhân Và Gia Đình, Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã nhắc lại một trong những ấp ủ của vị Giáo Hoàng tiền nhiệm rất yêu quí của ngài, một giấc mơ đã thành sự thật.
Vì học viện này, với trụ sở chính ở Rôma, tại Đại Học Lateranô, đã lan khắp năm châu, như ở Âu Châu ngoài Rôma còn có Gaming, Áo Quốc và Valencia, Tây Ban Nha; ở Mỹ Châu có Washington DC, Hoa Kỳ, có Mexico City và Guadalajara, Mễ Tây Cơ, và có Salvador da Bahia, Ba Tây; ở Đại Dương Châu có Melbourne, Úc Đại Lợi; ở Phi Châu có Cotonou, Benin; và ở Á Châu có Changanacherry, Ấn Độ.
Vị tân chủ tịch của học viện này là Đức Ông Livio Melina, một giáo sư về luân lý thần học. Ngài là sinh viên tiến sĩ đầu tiên trình luận án của mình ở học viện này trước sự hiện diện của Đức Hồng Y Joseph Ratzinger bấy giờ là Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin.
Sau đây là nguyên văn bài huấn từ của ngài.
Trọng kính Quí Hồng Y,
Quí Huynh Khả Kính trong hàng Giáo Phẩm và Linh Mục,
Anh Chị Em thân mến:
Thật là một niềm vui lớn lao tôi được gặp gỡ anh chị em nhân dịp mừng kỷ niệm 25 năm thành lập Học Viện Gioan Phaolô II của Tòa Thánh Đặc Trách Nhiên Cứu Về Hôn Nhân Và Gia Đình, ở Đại Học Tòa Thánh Latêranô. Tôi xin chào tất cả mọi anh chị em với lòng cảm mến và tôi thành thật cám ơn Đức ông Livio Melina về những lời lẽ nồng hậu ngài thay cho anh chị em ngỏ cùng tôi.
Thuở ban đầu của học việc của anh chị em đây gắn liền với một biến cố rất đặc biệt: đó là chính vào ngày 13/5/1981, tại Quảng Trường Thánh Phêrô, vị tiền nhiệm yêu dấu của tôi là Đức Gioan Phaolô II, đã trải qua một cuộc ám sát nghiêm trọng nổi tiếng trong buổi triều kiến được ngài dùng để loan báo về việc thiết lập học viện của anh chị em. Biến cố này có một tầm vóc đặc biệt quan trọng nơi việc tưởng niệm hiện nay đây, một việc tưởng niệm chúng ta cử hành ngay sau khi chúng ta cử hành kỷ niệm cái chết của ngài. Anh chị em muốn đề cao nó bằng sáng kiến thích hợp liên quan tới một hộïi nghị bàn về đề tài: ‘Di Sản của Đức Gioan Phaolô II về Hôn Nhân và Gia Đình: yêu thương tình yêu của nhân loại’.
Anh chị em có lý để cảm thấy được cái di sản này một cách hoàn toàn đặc biệt, vì anh chị em là thành phần thụ nhận và là những người tiếp tục cái nhãn quan đã từng là một trong những noon bay cho sứ vụ và suy tưởng của ngài: dự án của Thiên Chúa về hôn nhân và gia đình. Di sản này không phải chỉ là tổng hợp những tín lý và ý nghĩ, mà trên hết là một giáo huấn khôn ngoan liên quan tới một mối hiệp nhất sáng ngời về ý nghĩa của tình yêu sự sống nơi con người. Sự hiện diện của nhiều gia đình trong buổi triều kiến này là một chứng cớ hùng hồn cho thấy giáo huấn về sự thật ấy đã được đón nhận và sinh hoa trái ra sao.
Ý nghĩ ‘giảng dạy yêu thương’ đã có ở nơi vị linh mục trẻ Karol Wojtyla và sau đó đã thúc đẩy vị giám mục trẻ là ngài khi ngài đối diện với những giây phút khó khăn xẩy ra sau khi vị tiền nhiệm của tôi là Đức Phaolô VI ban hành bức thông điệp ‘Sự Sống Con Người’ có tính cách tiên liệu và luôn hợp thời. Chính trong hoàn cảnh đó mà ngài đã hiểu được nhu cầu cần phải thực hiện một cuộc nghiên cứu học hỏi có hệ thống và phương pháp về đề tài này.
Điều này đã tạo nên cơ sở cho giáo huấn sau đó được ngài cống hiến cho toàn thể Giáo Hội trong loạt bài ‘Giáo Lý về Tình Yêu Con Người’. Ngài đã lợi dụng để nhấn mạnh đến hai yếu tố nồng cốt được anh chị em đã nỗ lực suy tư một cách sâu xa hơn trong những năm này và là những yếu tố định hình cho cái rất mới mẻ nơi học viện của anh chị em như là một thực tại về hàn lâm mang một sứ vụ đặc biệt trong Giáo Hội vậy.
Yếu tố thứ nhất đó là hôn nhân và gia đình được bắt nguồn từ cốt lỡi sâu xa nhất nơi sự thật về con người và định mệnh của họ. Thánh Kinh đã mạc khải rằng ơn gọi yêu thương là những gì thuộc về hình ảnh đích thực của Thiên Chúa được Đấng Hóa Công muốn in ấn nơi tạo vật của Ngài, khi kêu gọi con người hãy trở nên giống như Ngài chính ở cách thức con người hướng về yêu thương. Sự khác nhau về phái tính ở nơi thân thể của người nam và người nữ, bởi thế, không phải là một sự kiện thuần sinh lý, mà có một ý nghĩa sâu xa hơn thế nhiều, ở chỗ nó cho thấy rằng nhờ yêu thương như vậy con người nam nữ trở nên một xác thịt duy nhất; họ có thể hiện thực mối hiệp thông chân thực giữa con người hướng về việc truyền đạt sự sống và nhờ đó cộng tác với Thiên Chúa trong việc sinh sản những con người mới.
Yếu tố thứ hai làm nên đặc tính mới mẻ nơi giáo huấn của Đức Gioan Phaolô II về tình yêu con người đó là cách thức độc đáo được ngài sử dụng để dẫn giải dự án của Thiên Chúa qua việc qui hợp mạc khải của Thiên Chúa với kinh nghiệm của con người. Thật thế, nơi Chúa Kitô là tất cả mạc khải của tình yêu Chúa Cha, cũng đã bộc lộ tất cả sự thật về ơn gọi yêu thương của con người, một ơn gọi chỉ có thể hoàn toàn nơi việc trao ban bản thân mình.
Trong thông điệp mới đây của mình, tôi đã muốn nhấn mạnh đến cách thức làm thế nào thực sự nhờ yêu thương mà ‘hình ảnh của Thiên Chúa nơi Kitô hữu cùng với hình ảnh của nhân loại bởi đó cùng với định mệnh của nó’ được thể hiện (‘Thiên Chúa Là Tình Yêu’, đoạn 1). Tức là, Ngài đã sử dụng đường lối yêu thương để mạc khải mầu nhiệm sự sống Ba Ngôi của mình.
Ngoài ra, mối liên hệ sâu xa giữa hình ảnh Thiên Chúa Tình Yêu và tình yêu nhân loại làm cho chúng ta có thể hiểu được rằng ‘hôn nhân một vợ một chồng tương xứng với hình ảnh của vị Thiên Chúa độc thần. Hôn nhân được đặt trên một tình yêu chuyên nhất và tận tuyệt trở thành hình ảnh cho mối liên hệ giữa Thiên Chúa với Dân của Ngài và ngược lại, đường lối yêu thương của Thiên Chúa trở thành chuẩn mực cho tình yêu thương của nhân loại’ (ibid. 11). Nhận định này vẫn còn là một lãnh vực rộng lớn cần phải được khai phá thêm.
Như thế, công việc được tóm lại như sau: Học Viện Đặc Trách Nghiên Cứu Về Hôn Nhân Và Gia Đình, qua tất cả cấu trúc hàn lâm của mình, cần phải làm sáng tỏ sự thật về sự sống như một cách thức làm phong phú tất cả mọi hình thức hiện hữu của con người. Cái thách đố lớn lao của việc Tân Truyền Bá Phúc Âm Hóa được Đức Gioan Phaolô II đầy tâm huyết phác họa, cần phải được hỗ trợ bởi một ý thức sâu xa đíùch thực về tình yêu con người, vì tình yêu này là một đường lối đặc biệt được Thiên Chúa dùng để tỏ mình ra cho thế giới, và qua tình yêu thương này Ngài kêu gọi thế giới đến với mối hiệp thông sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Đường lối ấy cũng giúp cho chúng ta có thể thắng vượt quan niệm thu hẹp vào một thứ tình yêu thường thuần riêng tư là một thứ yêu thương rất ư là thịnh hành phổ thông ngày nay. Tình yêu thương chân thực là những gì được biến đổi thành một thứ ánh sáng hướng dẫn cả cuộc sống tiến đến chỗ phong phú, phát sinh một xã hội được nhân bản hóa cho con người. Mối hiệp thông sự sống và yêu thương là hôn nhân, nhờ đó, trở thành một sự thiện đích thực cho xã hội. Việc tránh lánh sự lẫn lộn với các kiểu hiệp nhất khác xuất phát từ thứ yêu thương yếu hèn là một điều đặc biệt khẩn trương ngày nay. Chỉ có tảng đá yêu thương trọn vẹn và bất khả hủy bỏ giữa người nam và người nữ mới có thể làm nền tảng cho một xã hội trở thành nhà cho tất cả mọi dân tộc.
Tầm quan trọng mà công cuộc của học viện này có được trong sứ vụ của Giáo Hội cho thấy cái hình dạng của nó: Thật vậy, Đức Gioan Phaolô II đã phê chuẩn một tổ chức duy nhất có những chi nhánh khác nhau trải khắp năm châu, để tổ chức này có thể chia sẻ cái phong phú của sự thật duy nhất nơi tính cách đa dạng của các nền văn hóa.
Mối hiệp nhất về nhãn quan nơi việc nghiên cứu và giáo huấn, mặc dù có tính cách đa dạng về nơi chốn và cảm thức, tiêu biểu cho một thứ giá trị anh chị em cần phải canh giữ, bằng việc phát triển những kho tàng được chôn giấu nơi mọi nền văn hóa. Đặc tính ấy của tổ chức này đã tự chứng tỏ cho thấy là đặc biệt thích hợp với việc học hỏi về một thực tại như hôn nhân và gia đình. Công cuộc của anh chị em là những gì có thể tỏ cho thấy làm thế nào để tặng ân thiên nhiên được thể hiện ở các nền văn hóa khác nhau này đã được ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu thăng hóa.
Để có thể thi hành sứ vụ của anh chị em một cách tốt đẹp như thành phần trung thành thừa hưởng của vị sáng lập học viện này, Đức Gioan Phaolô II của chúng ta, tôi mời anh chị em hãy chiêm ngưỡng Mẹ Maria Rất Thánh là Mẹ của Tình Yêu Tuyệt Mỹ. Tình yêu cứu chuộc của Lời nhập thể, đối với mỗi một cuộc hôn nhân và mỗi gia đình, cần phải trở thành ‘những nguồn nước sự sống giữa một thế giới khát khao’ (Deus Caritas Est, 42). Tôi xin gửi đến những lời chúc tốt đẹp nhất, kèm theo một phép lành đặc biệt đến tất cả anh chị em, đến quí vị giáo sư thân mến, đến các sinh viên hôm qua và hôm nay, đến toàn thể nhân viên của học viện, cũng như đến các gia đình thuộc học viện của anh chị em.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 11/5/2006
Với Tham Dự Viên Khóa Hội Luận ở Sảnh Đường Phaolô ngày 10/4/2006 về Giáo Dục Cao Học Ở Âu Châu
Kính Đức Hồng Y,
Quí Huynh Khả Kính trong Hàng Giáo Phẩm và trong Hàng Linh Mục,
Quí Tôn Vị Nữ Nam,
Tôi hân hạnh tiếp đón anh chị em và thân ái chào tất cả anh chị em đang tham dự Buổi Hội Luận về đề tài: “Gia Sản Về Văn Hóa cùng Các Giá Trị Hàn Lâm của Đại Học Âu Châu và Tính Chất Thu Hút của Lãnh Vực Giáo Dục Cao Học Âu Châu”. Anh chị em đến tham dự từ khoảng 50 quốc gia Âu Châu gắn bó với cái được gọi là “Tiến Trình Bologna”, một tiến trình Giáo Hội cũng góp phần xây dựng của mình.
Tôi xin chào Đức Hồng Y Zenon Grocholewski, Tổng Trưởng Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo, vị đã ngỏ những lời lẽ nhã nhặn và trân trọng với tôi thay cho anh chị em, đồng thời giải thích cho biết những mục tiêu của cuộc họp này của anh chị em, và tôi xin cám ơn ngài về việc tổ chức cuộc họp này ở Vatican với sự hợp tác của Hội Đồng Viện Trưởng Các Đại Học Tòa Thánh, Học Viện Tòa Thánh Về Các Khoa Xã Hội Học, UNESCO-CEPES và Hội Đồng Âu Châu, với sự bảo trợ của Ủy Ban Âu Châu.
Tôi xin đặc biệt chào các vị Bộ Trưởng và các vị Đại Diện thuộc các Tổ Chức Quốc Tế cũng muốn đến tham dự cuộc họp này.
Trong những ngày này, việc anh chị em suy nghĩ tập trung vào sự đóng góp được các đại học Âu Châu, các đại học được phong phú hóa bởi một truyền thống lâu đời, có thể cống hiến vào việc xây dựng Âu Châu của ngàn năm thứ ba, chú trọng tới sự kiện là hết mọi thực tại về văn hóa vừa thuộc về ký ức quá khứ vừa là một dự phóng cho tương lai.
Giáo Hội có ý định thực hiện việc đóng góp của mình vào việc suy tư này như Giáo Hội đã từng làm qua các thế kỷ. Giáo Hội đã liên lỉ chú trọng tới những trung tâm nghiên cứu và những đại học của Âu Châu, một Âu Châu, cùng với ‘việc phục vụ về tư tưởng’, đã truyền lại cho các thế hệ trẻ những thứ giá trị của một gia sản đặc biệt về văn hóa được phong phú hóa bởi hai ngàn năm kinh nghiệm về nhân bản và Kitô Giáo (x Ecclesia in Europa, đoạn 59).
Trước tiến là đời sống đan viện đã thực hiện một ảnh hưởng đáng kể. Công lênh sự nghiệp của đời sống đan tu này, cả trong bối cảnh về tinh thần lẫn tôn giáo, cũng bao gồm cả các lãnh vực về kinh tế và tri thức nữa. Trong thời Charlemagne, các học đường thực sự được thành lập bằng việc đóng góp của Giáo Hội, và vị Hoàng Đế này nhiều người bao nhiêu có thể được hưởng lợi ích của những trường học đó.
Một ít thế kỷ sau tới việc xuất hiện đại học đường, cũng được xuất phát từ động lực chính yếu là Giáo Hội. Nhiều đại học Âu Châu, từ Đại Học Bologna đến các đại học ở Paris, Krakow, Salamanca, Cologne, Oxford và Prague, chỉ cần đầ cập tới một ít thế thôi, phát ttriển nhanh chóng và đóng một vai trò quan trọng trong việc củng cố căn tính Âu Châu và xây dựng gia sản văn hóa của nó.
Các cơ cấu đại học luôn được nổi bật bởi lòng yêu chuộng sự khôn ngoan và tìm cầu chân lý, như mục đích thật sự của các đại học, những điều liên lỉ gắn liền với nhãn quan Kitô Giáo là nhãn quan nhìn nhận con người là tác phẩm chính của thiên nhiên tạo vật, vì họ được dựng nên theo hình ảnh và tương tự như Thiên Chúa (x Gen 1:26-27).
Niềm xác tín rằng có một mối liên hệ sâu xa giữa sự thật và sự thiện, giữa những cái nhìn của trí khôn với những cái nhìn của tấm lòng: ‘Ubi amor, ibi oculos’, như Riccardo di San Vittore đã nói (x Beniamin minor, c. 13), đã luôn là mô mẫu của nhãn quan này: tình yêu làm cho con người nhìn thấy. Các đại học đường hiện hữu bởi lòng yêu chuộng kiến thức cũng như bởi sự tò mò muốn biết, muốn biết bản chất của thế giới, bản chất của con người, nhưng cũng hiện hữu bởi một thứ kiến thức dẫn đến tác hành, một kiến thúc cuối cùng dẫn tới yêu thương.
Quí tôn vị nữ nam, với một thoáng nhìn về Châu Lục ‘cổ’ dễ thấy được những thách đố về văn hóa Âu Châu ngày nay đang đương đầu, vì nó quyết tâm tái nhận thức căn tính của nó, một căn tính không phải chỉ hoàn toàn về kinh tế hay chính trị. Vấn đề căn bản ngày nay, cũng như trong quá khứ, vẫn là vấn đề về nhân loại học, đó là vấn đề con người là gì? Họ từ đâu tới? Họ rồi phải đi đâu? Họ phải đi như thế nào?
Nói cách khác, nó là vấn đề làm sáng tỏ quan niệm về con người, thành phần là nền tảng cho các dự phóng mới.
Và anh chị em có lý hỏi mình rằng đại học đường có ý định phục vụ nhân loại nào đây, hình ảnh con người nào đây: một cá thể thu mình vào việc bênh vực những tư lợi của họ, bênh vực quan điểm duy nhất về lợi lộc, một quan điểm duy vật, hay là một con người hướng về tình đoàn kết với kẻ khác trong việc tìm kiếm ý nghĩa đích thực của cuộc sống, một cuộc sống có một ý nghĩa chung vượt lên trên cá thể?
Chúng ta cũng ngẫm nghĩ về mối liên hệ giữa con người, khoa học và kỹ thuật là gì nữa. Nếu trong thế kỷ 19 và 20, kỹ thuật đã đạt được mức tiến bộ lạ lùng, thì ở đầu thế kỷ 21 này, những bước tiến đã được diễn ra, ở chỗ, kỹ thuật cũng nhờ khoa điện toán học cũng góp phần vào tiến trình tâm trí của chúng ta, với những thành quả liên quan tới cách thức chúng ta suy nghĩ và có thể hạn định chính tự do của chúng ta.
Cần phải mạnh mẽ nói rằng nhân loại không thể nào và không bao giờ được trở thành tế vật cho việc thành đạt của khoa học và kỹ thuật: đó là lý do tại sao cái được gọi là ‘vấn đề nhân loại học’ cho thấy tầm quan trọng hoàn toàn của nó.
Đối với chùng ta, thành phần thừa hưởng của truyền thống nhân bản được bắt nguồn từ các giá trị Kitô Giáo, vấn đề này cần phải được đối diện theo chiều hướng của những nguyên tắc sáng suốt thuộc nền văn minh của chúng ta, một nền văn minh được thành lập ở nơi các phòng thí nghiệm thực sự của các việc đại học Âu Châu trong việc nghiên cứu và việc đào sâu kiến thức.
‘Từ quan niệm thánh kinh về con người, Âu Châu kín múc được nền văn hóa đệ nhất về nhân bản’, Đức Gioan Phaolô II đã nhận định như thế trong Tông Huấn Hậu Thượng Nghị Giám Mục Ecclesia in Europa, “và đã phát triển phẩm vị của con người như là chủ thể của các thứ quyền lợi bất khả chuyển nhượng” (khoản 25). Bởi vậy, ‘Giáo Hội’, vị Tiền Nhiệm khả kính của tôi còn viết thêm, ‘ đã giúp làm phát triển và củng cố các thứ giá trị làm cho văn hóa Âu Châu trở thành phổ quát’ (ibid.).
Thế nhưng, con người không thể hiểu được chính mình hoàn toàn nếu họ coi thường Thiên Chúa. Đó là lý do tại sao, cùng một lúc Âu Châu của ngàn năm thứ ba đang được xây dựng thì chiều kích tôn giáo của cuộc sống con người không thể bị loài trừ.
Ở đây vai trò đặc biệt của đại học hiện lên như là một vũ trụ về khoa học không chỉ giới hạn vào những thứ chuyên biệt khác nhau: trong tình hình hiện nay thì đại học đường không được dừng lại ở việc giảng dạy hay ở việc truyền đạt kiến thức về kỹ thuật và chuyên nghiệp là những khoa rất quan trọng nhưng chưa đủ, vì nó cũng cần phải thực hiện việc đóng một vai trò giáo dục đặc biệt để phục vụ các thế hệ mới nữa, bằng việc sử dụng di sản của các thứ lý tưởng và giá trị làm nên đặc tính của các thiên kỷ đã qua.
Nhờ đó, các việc đại học mới có thể giúp cho Âu Châu bảo trì và tái nhận thức được ‘cái hồn’ của nó, khi làm tái sinh động các căn gốc Kitô Giáo là những gì đã làm nên nó.
Quí tôn vị nữ nam, xin Thiên Chúa làm cho công cuộc của anh chị em và các nỗ lực của anh chị em mang lại lợi ích cho nhiều giới trẻ, thành phần là hy vọng của Âu Châu. Kèm theo niềm ước vọng này, tôi hứa cầu nguyện đặc biệt cho mỗi người trong anh chị em, và xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả anh chị em.
Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch từ
Thư Gửi Tham Dự Viên Đại Hội Thường Niên Học Viện Tòa Thánh Về Các Khoa Xã Hội Học
Gửi Giáo Sư Mary Ann Glendon,
Chủ Tịch Học Viện Tòa Thánh Về Các Khoa Xã Hội Học
Nhân dịp Học Viện Tòa Thánh Về Các Khoa Xã Hội Học nhóm họp Đại Hội lần thứ 12, tôi xin gửi lời chào đến bà cùng tất cả mọi Phần Tử, và tôi xin nguyện chúc mọi điều tốt đẹp để cuộc nghiên cứu và bàn luận đánh dấu đại hội hằng năm này không những góp phần vào việc phát triển kiến thức về các ngành thích hợp của anh chị em mà còn hỗ trợ Giáo Hội thực hiện sứ vụ làm chứng cho một chủ nghĩa nhân bản chân thực vững chắc trong chân lý và theo chiều hướng Phúc Âm.
Khóa họp của anh chị em hiện nay nhắm đến một chủ đề hợp thời đó là: Giới Trẻ đang tiêu tan? Tình Đoàn Kết Với Trẻ Em và Giới Trẻ trong Một Thời Đại Hỗn Loạn. Có một số dấu hiệu về nhân khẩu học đã rõ ràng cho thấy nhu cầu khẩn trương cần phải can thận suy nghĩ về lãnh vực này. Trong khi thống kê về việc gia tăng dân số được giải thích khác nhau thì vẫn có một thỏa thuận chung chúng ta chứng kiến thấy ở một mức độ toàn cầu, và ở đặc biệt các quốc gia phát triển, có hai chiều hướng đáng chú ý và liên hệ với nhau, đó là, một đàng thì gia tăng về tuổi thọ, đàng khác là việc giảm mức sinh sản. Vì các xã hội trở thành già hơn mà nhiều quốc gia hay các nhóm quốc gia thiếu mất một số giới trẻ cần thiết để đổi mới dân chúng của họ.
Tình trạng này được gây ra bởi những lý do đa diện và phức tạp – thường có tính chất về kinh tế, xã hội và văn hóa – những căn nguyên được anh chị em dự định mang ra nghiên cứu mổ xẻ. Thế nhưng những căn nguyên trên hết của nó có thể được thấy liên quan tới luân lý và tinh thần; chúng liên hệ tới tình trạng suy yếu đáng lo ngại về đức tin, đức cậy và thực sự là đức ái. Để đưa con cái vào đời cần tình ái –eros qui về mình được nên trọn trong một thứ từ ái – agape đầy quảng đại và mang tính cách tin tưởng và hy vọng vào tương lai. Theo bản chất của mình thì đức ái hướng về vĩnh hằng (x Deus Caritas Est, 6). Có lẽ việc thiếu hụt một thứ tình yêu sáng tạo và hướng tới như thế là nguyên nhân tại sao nhiều cặp ngày nay đã quyết định không lập gia đình, tại sao có rất nhiều cuộc hôn nhân đổ vỡ, và tại sao mức sinh sản bị suy giảm một cách trầm trọng.
Chính trẻ em và giới trẻ là thành phần đầu tiên thường cảm thấy những hậu quả của tình trạng hụt hang yêu thương và hy vọng này. Thay vì cảm giác được yêu thương và âu yếm ấp ủ, họ thường chỉ được chấp nhận vậy thôi. Trong “một thời đại hỗn loạn”, họ thường không được người lớn hướng dẫn về luân lý đến độ gây thiệt hại trầm trọng cho việc phát triển về tri thức và về tâm linh của chúng. Nhiều trẻ em hiện nay đang lớn lên trong một xã hội lãng quên Thiên Chúa và phẩm vị bẩm sinh của con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa. Trong một thế giới được hình thành bởi các tiến trình toàn cầu hóa gia tốc, họ thường chỉ được thấy toàn là những nhãn quan duy vật về vũ trụ, về sự sống và về việc viên trọn nhân bản.
Tuy nhiên, trẻ em và giới trẻ tự bản chất là thành phần thụ nhận, cởi mở, theo đuổi lý tưởng và hướng về siêu việt. Trên hết họ cần được yêu thương và phát triển trong một môi trường lành mạnh, nơi họ có thể tiêá đến chỗ nhận thấy rằng họ không bị rơi vào một thế giới ngẫu nhiên tình cờ mà là nhờ tặng ân thuộc dưựán yêu thương của Thiên Chúa. Cha mẹ, giáo dục viên và các vị lãnh đạo cộng đồng, nếu trung thành với ơn gọi của mình thì không bao giờ có thể bỏ bê nhiệm vụ của mình trong cuộc đề ra cho trẻ em và giới trẻ việc chọn dự án sự sống nhắm tới niềm hạnh phúc chân thực, một dự án có khả năng phân biệt giữa sự thật và dối trá, giữa thiện và ác, giữa công lý và bất công, giữa thế giới chân thực và thế giới ‘ảo thực’.
Trong đường lối khoa học riêng của anh chị em đối với những vấn đề khác nhau được bàn tới trong Khóa Họp này, tôi xin anh chị em hãy quan tâm đặc biệt tới những vấn đề nhức nhối, nhất là vấn đề về tự do của con người, một vấn đề hàm chứa bao rộng một nhãn quan lành mạnh về con người và về việc đạt tới tình trạng trưởng thành về tình cảm trong cộng đồng. Tự do nội tâm thực sự là điều kiện cho việc phát triển thực sự của con người. Nơi nào thiếu tự do này hay tự do ấy gặp nguy hiểm thì giới trẻ cảm thấy bị thất vọng và không thể hăng say nỗ lực theo đuổi các lý tưởng có thể hình thành đời sống của chúng như là một cá thể và là phần tử của xã hội. Bởi thế, họ có thể cảm thấy chán chường hay nổi loạn, và khả năng dồi dào về nhân bản của họ không thể đối đầu với những thách đố hào hứng của cuộc đời.
Kitô hữu, thành phần tin rằng Phúc Âm chiếu sáng trên mọi khía cạnh về cuộc sống nhân nhân cũng như xã hội, sẽ không ngừng thấy được những chiều kích về triết lý và thần học của các vấn đề ấy, cũng như nhu cầu cần phải thấy rằng việc tương phản giữa tội lỗi và ân sủng bao gồm tất cả mọi thứ xung khắc khác gây rắc rối cho tâm can con người, những xung khắc giữa lầm lạc và chân lý, giữa tội lỗi và nhân đức, giữa nổi loạn và hợp tác, giữa chiến tranh và hòa bình. Họ không thể nào không thâm tín rằng đức tin, được sống trọn vẹn bởi đức ái và được truyền đạt cho các tân thế hệ, là một yếu tố thiết yếu trong việc xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn cũng như trong việc bảo toàn tình đoàn kết liên thế hệ, vì nó gắn bó mọi nỗ lực của con người trong việc xây dựng một nền văn minh yêu thương vào mạc khải của Vị Thiên Chúa Hóa Công, vào việc tạo dựng con người nam nữ theo hình ảnh Ngài, cũng như vào cuộc vinh thắng của Chúa Kitô trên sự dữ và sự chết.
Các bạn thân mến, trong khi tôi bày tỏ lòng tri ân và hỗ trợ của tôi cho việc nghiên cứu quan trọng của anh chị em đây, một việc nghiên cứu được thực hiện theo những phương pháp hợp với các khoa học hiện hành của anh chị em, tôi xin anh chị em đừng bao giờ lạc mất cái quan niệm phấn khởi và sự nâng đỡ được những cuộc học hỏi của anh chị em có thể cống hiến cho giới trẻ nam nữ của thời đại chúng ta trong việc giúp cho họ nỗ lực sống cuộc đời phong phú và mãn nguyện. Tôi chân thành xin phúc lành khôn ngoan, sức mạnh và an bình của Thiên Chúa ban xuống cho anh chị em cùng gia đình của anh chị em, cũng như trên tất cả mọi người cộng tác vào công việc của Học Viện Tòa Thánh Về Các Khoa Xã Hội Học.
Tại Vatican ngày 27/4/2006
Biển Đức XVI
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch từ
Huấn Từ kết thúc Đường Thánh Giá ở Hí Trường Colosseum Rôma Thứ Sáu 14/4/2006
Anh Chị Em thân mến:
Chúng ta đã theo Chúa Giêsu trên Đường Thánh Giá. Chúng ta đã theo Người nơi đây, trên con đường của các vị tử đạo, ở Hí Trường Colosseum, nơi nhiều vị đã bị khổ đau vì Chúa Kitô, nơi các vị đã hiến mạng sống mình vì Người, bởi đó, Chúa Kitô đã tái chịu khổ đau nơi rất nhiều con người.
Bởi thế chúng ta đã hiểu rằng Đường Thánh Giá không phải là một cái gì đó của quá khứ và ở một nơi đặc biệt nào đó trên trái đất này. Thập giá của Chúa Kitô ôm lấy thế giới, Đường Thập Giá của Người băng qua các lục địa và thời gian. Chúng ta không thể chỉ đóng vai khách bàng quan trên Con Đường Thánh Giá. Chúng ta cần phải tham gia và cần phải tìm thấy vị trí của mình: Chúng ta đang ở đây đây?
Trên Đường Thánh Giá, không có vấn đề trung lập. Philatô, một trí thức gia ngờ vực, đã cố gắng tỏ ra trung lập, muốn đứng ra ngoài cuộc, thế nhưng, chính vì làm như thế mà ông đã chủ trương chống lại công lý chỉ vì nghề nghiệp của mình. Chúng ta cần phải tìm thấy chỗ đứng của chúng ta.
Qua tấm gương soi của cây thập tự giá, chúng ta đã thấy được tất cả mọi khổ đau của nhân loại ngày nay. Trên cây thập giá của Chúa Kitô, chúng ta đã thấy được ngày nay nỗi khổ đau của thành phần trẻ em bị bỏ rơi và lạm dụng, thấy được những đe dọa tấn công gia đình, thấy được tình trạng chia rẽ của thế giới giữa thái độ cao ngạo của thành phần giầu có, thành phần không nhìn đến Lazarô ở trước cửa nhà mình, với tình trạng nghèo khổ của rất nhiều người khổ đau bởi đói khát.
Thế nhưng chúng ta cũng thấy những chặng đường an ủi. Chúng ta thấy Người Mẹ nhân hậu tỏ ra trung thành cho tới chết và sau cái chết. Chúng ta đã thấy người phụ nữ can trường tiến đến với Chúa Kitô và là người không sợ hãi tỏ ra gắn bó với con người khổ đau ấy. Chúng ta đã thấy Simon Cyrene, một người Phi Châu, vác thập giá với Chúa Giêsu. Và cuối cùng chúng ta đã thấy nơi những chặng đường an ủi ấy là như đau khổ không cùng thế nào thì an ủi cũng không cùng như thế.
Chúng ta đã thấy làm thế nào trên đường thánh giá, Thánh Phaolô đã tìm được nhiệt tình cho đức tin của ngài và thắp sáng yêu thương; chúng ta đã thấy làm thế nào Thánh Âu Quốc Tinh tìm thấy đường lối của ngài, Thánh Phanxicô Assisi, Thánh Vincent de Paul, Thánh Maximilian Kolbe, Mẹ Têrêsa Calcutta, và bởi vậy chúng ta cũng được kêu mời tìm thấy chỗ của mình, và cùng những nhân vật can trường cao cả này tìm thấy con đường ấy với Chúa Giêsu và vì Chúa Giêsu, con đường thiện hảo, chân lý, can đảm và yêu thương.
Như thế chúng ta đã hiểu rằng Đường Thánh Giá không phải chỉ là một bản liệt kê những gì tối tăm và buồn thảm trên thế giới, hay một thứ răn dạy đưa đến chỗ vô hiệu năng; nó không ohải là một tiếng kêu chống đối mà chẳng làm thay đổi được chi.
Trái lại, Đường Thánh Giá là con đường của tình thương, một tình thương ngăn chặn sự dữ, như chúng ta học được điều này từ Đức Gioan Phaolô II. Nó là con đường của tình thương nên cũng là con đường cứu độ. Nó mời gọi chúng ta hãy thực hiện đường lối xót thương, và với Chúa Giêsu hãy ngăn chặn sự dữ lại.
Chúng ta hãy cầu xin cùng Chúa để Người giúp chúng ta được thấm nhiễm tình thương của Người. Chúng ta hãy cầu xin cùng Người Mẹ thánh của Chúa Giêsu, Người Mẹ của tình thương, để chúng ta nữa cũng trở thành những con người nam nữ của tình thương, hầu đóng góp vào phần tỗi của thế giới, vào phần rỗi của con người tạo sinh của Thiên Chúa. Amen.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 15/4/2006
Đêm Canh Thức 2/4/2006 Cầu Kinh Mân Côi Kỷ Niệm Đầy Năm Đức Gioan Phaolô II Qua Đời
Đã có khoảng 100 ngàn người ở Quảng Trường Thánh Phêrô tối Chúa Nhật 2/4/2006 để cầu Kinh Mân Côi tưởng niệm đầy năm băng hà của Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, một cuộc băng hà đã được ĐTGM quyền văn phòng Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh bấy giờ loan báo là “Đức Thánh Cha của chúng ta đã về Nhà Cha”.
Sau việc cầu Kinh Mân Côi chấm dứt, Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã xuất hiện ở cửa sổ phòng ngài vào đúng 9 giờ 37 phút, giờ qua đời của đức cố giáo hoàng, để ngỏ lời cùng dân chúng. Đức Biển Đức XVI nói:
Anh Chị Em thân mến!
Chúng ta qui tụ lại tối hôm nay đây vào dịp đệ nhất chu niên biến cố băng hà của Đức Gioan Phaolô II yêu dấu của chúng ta, vì đêm canh thức Thánh Mẫu này được giáo phận Rôma tổ chức. Tôi chào tất cả tất cả mọi anh chị em hiện diện tại Quảng Trường Thánh Phêrô, trước hết là ĐHY Đại Diện Giáo Phận Rôma là Camillo Ruini cùng với các vị giám mục phụ tá; tôi đặc biệt nghĩ tới các vị hồng y, giám mục, linh mục, nam nữ tu sĩ cùng tất cả mọi tín hữu giáo dân, cách riêng giới trẻ.
Thực sự là cả thành phố Rôma đang tụ hợp lại nơi đây nhân dịp gặp gỡ suy tư và nguyện cầu cảm kích này. Tôi ngỏ lời chào đặc biệt ĐHY Stanislaw Dziwosz, TGM Krakow, vị được viễn liên truyền hình với chúng ta đây, vị nhiều năm đã là một hợp tác viên trung thành của Đức Cố Giáo Hoàng.
Một năm đã qua từ biến cố băng hà của Người Tôi Tớ Chúa Gioan Phaolô II, một biến cố đã xẩy ra hầu như vào đúng giờ này – 9 giờ 37 phút tối – thế nhưng việc tưởng nhớ đến ngài vẫn tiếp tục đặc biệt sống động, như được chứng thực qua nhiều nghi thức được thực hiện trong những ngày này trên khắp thế giới. Ngài tiếp tục hiện diện trong trí khôn của chúng ta và trong tâm can của chúng ta. Ngài tiếp tục thông đạt cho chúng ta tình ngài mến yêu Thiên Chúa và lòng ngài mến thương con người; ngài tiếp tục tác động nơi tất cả mọi người, nhất là giới trẻ, lòng nhiệt thành tìm kiếm sự thiện và lòng can đảm theo Chúa Giêsu cùng giáo huấn của Người.
Làm sao để có thể tóm lược được cái chứng từ phúc âm ấy của vị đại Giáo Hoàng này đây? Tôi cố gắng tóm lược lại bằng hai từ ngữ, đó là ‘trung thành’ và ‘dấn thân’. Hoàn toàn trung thành với Thiên Chúa và dứt khoát dấn thân cho sứ vụ làm mục tử của Giáo Hội hoàn vũ. Lòng trung thành và việc dấn thân thậm chí trở nên sống động và cảm kích hơn nữa trong những tháng cuối đời của ngài, khi ngài thể hiện bản thân mình những gì ngài viết vào năm 1984 trong tông thư ‘Salvifici Doloris’: ‘Khổ đau đang hiện diện trên thế giới để phát tỏa yêu thương, để hạ sinh những công cuộc yêu thương đối với tha nhân, để biến đổi toàn thể văn minh con người thành một thứ ‘văn minh yêu thương’ (đoạn 30).
Với gương mặt can trường, bệnh nạn của ngài đã làm cho mọi người chú trọng tới nỗi đớn đau của con người hơn, tới tất cả nỗi khổ đau về thể lý và tinh thần; ngài cống hiến cho khổ đau cái phẩm vị và giá trị, cho thấy rằng cái giá trị của con người không phải ở cái hiệu năng của họ hay dáng vẻ bề ngoài của họ, mà là ở trong chính bản thân họ, vì họ đã được Thiên Chúa tạo dựng và yêu thương.
Bằng lời nói và cử chỉ của mình, Đức Gioan Phaolô II thân yêu của chúng ta không thôi chỉ cho thế giới thấy rằng nếu con người để cho Chúa Kitô chiếm đoạt thì nó không làm hư hao đi cái phong phú của nhân tính mình; nếu họ kính mến Người hết lòng thì sẽ không thiếu thốn gì hết. Trái lại, việc gặp gỡ Chúa Kitô làm cho đời sống của chúng ta trở thành phấn khởi hơn.
Chính vì ngài đã lôi kéo chúng ta đến gần với Thiên Chúa hơn bằng nguyện cầu, bằng chiêm niệm, bằng lòng yêu chuộng Chân và Mỹ, mà Vị Giáo Hoàng thân yêu của chúng ta đây biến mình thành một kẻ đồng hành với mỗi người chúng ta và có thế giá để thậm chí nói với cả những ai xa cách đức tin Kitô Giáo.
Nhân dịp đệ nhất chu niên việc ngài về Nhà Cha, tối nay chúng ta được mời gọi để tiếp tục lại cái di sản thiêng liêng ngài để lại cho chúng ta. Ngài phấn khích chúng ta hãy sống Sự Thật không ngừng tìm kiếm, vì chỉ có duy sự thật này mới có thể thỏa mãn tâm can của chúng ta mà thôi. Ngài khuyến khích chúng ta đừng sợ theo Chúa Kitô để loan báo Phúc Âm cho tất cả mọi người, một phúc âm là men cho một nhân loại huynh đệ và đoàn kết hơn.
Chớ gì Đức Gioan Phaolô II từ trời cao giúp chúng ta tiếp tục cuộc hành trình của chúng ta, là những người môn đệ dễ dạy của Chúa Giêsu, để, như Người thích nói với giới trẻ, trở thành ‘lính canh hừng đông’ ở đầu đệ tam thiên kỷ Kitô Giáo này. Vì thế, chúng ta hãy cầu xin cùng Mẹ Maria, Người Mẹ của Đấng Cứu Chuộc, Vị mà ngài lúc nào cũng tỏ lòng sùng ái.
Giờ đây tôi muốn ngỏ lời cùng tín hữu ở Balan là những người đang liên kết với chúng ta. (Ngài nói bằng tiếng Balan dưới đây sau phần nói bằng tiếng Ý ở trên, và câu cuối cùng ngài kết thúc bằng Ý ngữ)
Chúng ta hãy hiệp nhất trong tinh thần với những người Balan tập trung ở Krakow, Warsaw và các nơi khác cho đêm canh thức này. Ký ức về Đức Gioan Phaolô II đang sống trong chúng ta và cảm quan về sự hiện diện linh thiêng của ngài vẫn không bị tan biến. Chớ gì việc tưởng nhớ về tình yêu đặc biệt ngài cảm thấy đối với đồng hương của ngài luôn soi sáng cho anh chị em trên con đường tiến đến với Chúa Kitô. ‘Hãy giữ vững niềm tin’. Tôi chân thành ban phép lành cho anh chị em.
Giờ đây tôi
thành thực ban phép lành cho tất cả mọi người.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến
ngày 3/4/2006
Chia Sẻ sau khi xem cuốn phim về về Đức Gioan Phaolô II ngày 30/3/2006 ở Sảnh Đường Phaolô VI
Quí Hồng Y
Quí Huynh thân mến trong Hàng Giáo Phẩm và Linh Mục,
Quí Tôn Vị Nữ Nam,
Trong lúc những hình ảnh được trình bày một cách mới mẻ hay ho về giáo triều Đức Gioan Phaolô II vẫn còn sống động trong tâm trí của mình, tôi muốn bày tỏ tâm tưởng chân tình của tôi với những ai góp phần vào việc thực hiện cuốn phim mang tựa đề ‘Karol: Một Vị Giáo Hoàng vẫn Là Một Con Người’. Buổi tối hôm nay chúng ta đã sống lại những cảm xúc chúng ta đã cảm thấy vào Tháng Năm năm trước, khi chúng ta xem phần đầu của bộ phim này cũng ở tại sảnh đường đây sau khi Vị Giáo Hoàng thân yêu này qua đời ít lâu.
Tôi tri ân vị giám đốc kiêm soạn giả Giacomo Battiato, cũng như thành phần hợp tác viên tài khéo của ông trong việc trình bày cho chúng ta thấy một cách mới mẻ những biến cố quan trọng nhất nơi sứ vụ giáo tông được vị Tiền Nhiệm khả kính của tôi thực hiện; tôi chân thành ‘cảm tạ’ Piotr Adamczyk, diễn viên đóng vai chính trong việc tái diễn gương mặt của ngài, và cám ơn cả các diễn viên khác; tôi chân thành cám ơn nhà xuất bản Pietro Valsecchi và những vị giám đốc của các hãng xuất bản phim Taodue và Mediaset đang hiện diện nơi đây.
Câu truyện về cuộc sống trần gian của vị Giáo Tông thân yêu này được chấm dứt ở phần thứ hai thuộc bộ phim này. Chúng ta đã được nghe lại lời kêu gọi tiên khởi của giáo triều ngài, một lời lêu gọi thường được tái vang vọng qua năm tháng là ‘Hãy mở rộng cửa cho Chúa Kitô! Đừng sợ!’. Những hình ảnh trình chiếu cho chúng ta thấy một Vị Giáo Hoàng trầm ngâm trong việc giao tiếp với Thiên Chúa, và chính vì lý do này mà ngài luôn nhậy cảm với những trông đợi của người khác.
Cuốn phim đã làm cho chúng ta nghĩ lại một cách tuyệt vời những cuộc tông du khắp thế giới của ngài; nó cống hiến cho chúng ta cơ hội để sống lại những cuộc ngài gặp gỡ rất ư là nhiều người, với những kẻ cả trên trái đất này cũng như với thành phần công dân bình thường, với những nhân vật nổi tiếng cũng như với các cá nhân vô danh tiểu tốt. Trong số những con người ấy, đặc biệt phải kể đến việc ngài tha thiết với Mẹ Têrêsa Calcutta. Mẹ đã liên kết với Đức Gioan Phaolô II bằng một mối hòa hợp thiêng liêng sâu xa.
Ở ngay địa điểm như thể chúng ta đã hiện diện vào lúc bấy giờ, chúng ta một lần nữa đã nghe thấy những phát súng muốn lấy mạng của ngài một cách thảm thương ở Quảng Trường Thánh Phêrô ngày 13/5/1981. Từ đó tất cả mới hiện lên cho thấy hình ảnh về một vị ngôn sứ của niềm hy vọng và an bình, vị đã không biết mệt mỏi đi khắp các nẻo đường trái đất để thông đạt Phúc Âm cho hết mọi người. Những lời lẽ vang động của ngài trở về với tâm trí của chúng ta, khi ngài lên án các chế độ độc tài, tình trạng bạo động và chiến tranh sát hại; những lời đầy ủi an và hy vọng bày tỏ việc ngài gần gũi với thành phần thân thuộc của các nạn nhân gây ra bởi các cuộc khủng bố tấn công xung đột và thảm thương, chẳng hạn như cuộc khủng bố tấn công tháp đôi ở Nữu Ước; những lời can đảm bài bác một xã hội hưởng thụ và thứ văn hóa khoái lạc nhắm đến việc tạo nên một thứ phúc lợi thuần vật chất không thể thỏa đáng những nhu cầu sâu xa của cõi lòng con người.
Anh chị em thân mến, đó là những cảm thức tự nhiên xuất phát từ tâm can của tôi tối hôm nay và là những gì tôi muốn chia sẻ với anh chị em, bằng việc kiểm điểm lại qua những hình ảnh của cuốn phim đây các giai đoạn của giáo triều bất khả lãng quên của Đức Gioan Phaolô II. Xin vị Giáo Hoàng thân yêu của chúng ta từ trời cao hỗ trợ chúng ta và xin Chúa ban cho chúng ta ơn luôn như ngài trung thành với sứ vụ của chúng ta. Tôi ban phép lành cho tất cả mọi người đang hiện diện nơi đây cũng như cho những người thân yêu của anh chị em.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 11/4/2006
Trọng Kính Quí Vị Thành Viên Quốc Hội,
Quí Vị Tôn Nữ và Tôn Nam,
Tôi hân hạnh được tiếp đón quí vị nhân dịp Những Ngày Học Hỏi Về Âu Châu này, những ngày được Nhóm Quốc Hội của quí vị tổ chức. Các vị Giáo Hoàng Rôma bao giờ cũng đặc biệt chú trọng tới châu lục này; cuộc triều kiến hôm nay đây cũng cho thấy điều ấy, và nó diễn tiến trong một chuỗi dài những cuộc gặp gỡ giữa các vị tiền nhiệm của tôi với các phong trào chính trị theo tinh thần Kitô Giáọ Tôi xin cám ơn Ông Pottering Khả Kính về những lời lẽ ngỏ cùng tôi thay cho quí vị, và tôi xin gửi đến ông cùng toàn thể quí vị lời chào thân ái của tôị
Hiện nay, Âu Châu cần phải giải quyết những vấn đề phức tạp có tầm vóc rất quan trọng, chẳng hạn như việc tăng trưởng và phát triển tình trạng hội nhập Âu Châu, việc gia tăng vấn đề xác định chính xác về chính sách cận thân trong Khối Hiệp Nhất và việc tranh cãi về mẫu thức về xã hội của nó. Để đạt tới những mục đích này, nó cần phải được tác động, với một lòng trung thành sáng tạo, bởi di sản Kitô Giáo là những gì đã thực hiện việc đóng góp đặc biệt vào vấn đề hình thành căn tính của châu lục đâỵ Bằng việc trân quí các căn gốc Kitô Giáo của mình, Âu Châu mới có thể cống hiến một hướng đi an toàn cho những chọn lựa nơi thành phần công dân và dân chúng của mình, nó mới có thể củng cố nhận thức của nó liên quan tới vấn đề thuộc về một nền văn minh chung, và nó mới có thể nuôi dưỡng việc dấn thân của tất cả mọi người hầu giải quyết những thách đố trong hiện tại cho một tương lai tốt đẹp hơn. Bởi thế, tôi ca ngợi việc Nhóm của quí vị nhìn nhận di sản Kitô Giáo của Âu Châu, một di sản cống hiến những hướng dẫn giá trị về đạo lý trong việc tìm kiếm một mẫu thức về xã hội có thể thích đáng đáp ứng với những đòi hỏi của một nền kinh tế đã được toàn cầu hóa, cũng như với những đổi thay về nhân khẩu học, bảo đảm cho tình trạng tăng trưởng và công ăn việc làm, cho việc bảo vệ gia đình, cho tình trạng bình đẳng về cơ hội giáo dục đối với giới trẻ, và cho mối quan tâm đến người nghèọ
Ngoài ra, việc quí vị ủng hộ di sản Kitô Giáo còn có thể góp phần một cách đặc biệt đến vấn đề đánh bại một nền văn hóa hiện nay đang khá lan tràn ở Âu Châu, một thứ văn hóa đẩy việc biểu lộ các niềm xác tín về tôn giáo của mình vào lãnh vực riêng tư và chủ quan. Các chính sách được căn cứ vào thứ văn hóa này chẳng những bao gồm việc bác bỏ vai trò công cộng của Kitô Giáo; mà còn, tổng quát loại trừ đi tính cách dính dáng với truyền thông đạo giáo của Âu Châu, một truyền thống quá rõ ràng là, bất chấp những biến dạng về hệ phái của nó, đe dọa tới chính nền dân chủ là chế độ có quyền lực lệ thuộc vào các thứ giá trị được truyền thống này cổ võ (cf. Evangelium Vitae, 70). Nếu truyền thống này, chính ở nơi những gì được gọi là mối hiệp nhất đa âm của nó, chuyên chở những thứ giá trị là nền tảng cho sự thiện của xã hội, thì Khối Hiệp Nhất Âu Châu chỉ có thể thăng tiến khi liên kết với nó mà thôị Nếu chọn những gì ngược với nó hay loại bỏ nó đi, thay vì đối thoại với nó, thì đó là dấu hiệu còn non dại chưa trưởng thành, nếu khgông muốn nói thực sự là yếu kém. Về khía cạnh này, người ta cần phải nhìn nhận rằng đang có một tình trạng bất khoan nhượng trần thế tỏ ra thù địch với sự khoan nhượng cũng như với nhãn quan trần thế lành mạnh về quốc gia và xã hộị Bởi thế, tôi cảm thấy vui là bản hiệp ước hiến pháp của Khối Hiệp Nhất Âu Châu phác họa mối liên hệ theo cơ cấu và liên tục với các cộng đồng tôn giáo, khi nhìn nhận căn tính của các cộng đồng này cùng với việc góp phần chuyên biệt của chúng. Nhất là tôi tin tưởng rằng việc áp dụng một cách hiệu nghiệm và xác đáng mối liên hệ này giờ đây sẽ được bắt đầu, với sự hợp tác của tất cả mọi phong trào chính trị bất kể chiều hướng đảng pháị Cũng không được quên rằng, khi các Giáo Hội hay các cộng đồng giáo hội can thiệp vào cuộc tranh cãi công khai, bày tỏ những cân nhắc hay nhắc nhở những nguyên tắc khác nhau, thì điều ấy không phải là những gì tạo nên một hình thức bất dung nhượng hay là một thứ pha mình, vì những cuộc can thiệp như thế chỉ có một mục đích duy nhất đó là soi động lương tâm, giúp cho lương tâm có thể tác hành một cách tự do và hữu trách, theo những đòi hỏi thực sự của công lý, ngay cả khi điều này có xung khắc với những trường hợp về quyền lực và tư lợi chăng nữạ
Riêng với Giáo Hội Công Giáo thì việc quan tâm chính yếu của những lần Giáo Hội can thiệp vào lãnh vực quần chúng là để bảo vệ và cổ võ phẩm vị của con người, và bởi thế Giáo Hội cố ý kéo chú ý tới những nguyên tắc bất khả thương thuyết. Trong số những nguyên tắc ấy là những nguyên tắc sau đây rõ ràng xuất hiện là:
· Bảo vệ sự sống ở tất cả mọi giai đoạn của nó, từ giây phút nó mới được thụ thai cho tới khi nó tự nhiên qua đi;
· Nhìn nhận và cổ võ cơ cấu tự nhiên của gia đình – như một liên kết giữa một người nam và một người nữ theo cơ cấu hôn nhân – và bảo về gia đình khỏi những nỗ lực làm cho nó tương đương theo pháp lý với những hình thức liên kết cấp tiến khác thực sự chỉ tác hại nó và làm cho nó trở thành bấp bênh, làm lu mờ đi tính chất riêng biệt của nó và vai trò xã hội bất khả thay thế của nó;
· Bảo vệ quyền lợi của cha mẹ trong việc giáo dục con cái của họ.
Những nguyên tắc này không phải là những chân lý đức tin, cho dù chúng có được đức tin làm sáng tỏ hơn và củng cố hơn; chúng là những gì được ghi khắc nơi chính bản tính con người, do đó chúng là những gì chung đối với tất cả loài ngườị Hoạt động của Giáo Hội trong việc phát động chúng như thế không có tính cách tôn giáo theo tính chất, mà là được ngỏ cùng tất cả mọi dân nước, bất kể họ thuộc về tôn giáo nàọ Trái lại, hoạt động ấy lại càng cần thiết hơn nữa khi những nguyên tắc ấy bị chối bỏ hay hiểu lầm, vì điều này tạo nên những gì vi phạm tới sự thật về con người, một vết thương trầm trọng gây ra cho chính công lý.
Quí bạn thân mến, trong việc kêu gọi quí bạn hãy trở thành những chứng nhân khả tín và kiên định cho các chân lý căn bản này qua hoạt động chính trị của quí bạn, nhất là qua việc quí bạn sống một đời sống chân thực và kiên định, tôi xin Thiên Chúa tiếp tục nâng đỡ quí bạn và hoạt động của quí bạn, và để làm bảo chứng cho việc nguyện cầu này, tôi thân ái ban Phép Lành cho quí bạn cùng những ai đi theo quí bạn.
Đaminh Maria Cao
Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2006/march/documents/hf_ben-xvi_spe_20060330_eu-parliamentarians_en.html
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI với Văn Phòng Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh và Thành Phần Đại Diện Tòa Thánh Ở Các Tổ Chức Quốc Tế hôm Thứ Bảy 19/3/2006
Đức Hồng Y cùng quí vị đại diện Tòa Thánh ở các tổ chức quốc tế thân mến,
Tôi thân ái tiếp đón quí vị trong cuộc gặp gỡ này, cuộc gặp gỡ lần đầu tiên tôi hân hoan có được, khi quí vị qui tụ lại ở Rôma để suy nghĩ về những vấn đề quan trọng của thời điểm hiện nay. Tôi thân ái chào tất cả quí vị và xin gửi đến Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh niềm chân thành cám ơn của tôi về những lời của ngài đại diện quí vị ngỏ cùng tôi.
Việc Tòa Thánh tham dự sâu rộng hơn vào các hoạt động quốc tế là những gì hết sức phấn khởi để Giáo Hội có thể tiếp tục lên tiếng nói với lương tâm của tất cả những ai làm nên cộng đồng quốc tế. Nó là việc phục vụ mềm mại và vất vả, một việc phục vụ, được nâng đỡ bởi quyền lực của chân lý, một quyền lực có vẻ yếu kém nhưng hết sức thắng đoạt, nỗ lực cộng tác vào việc kiến tạo nên một xã hội quốc tế, một xã hội chú trọng hơn với phẩm vị của con người cũng như những đòi hỏi thực sự của con người.
Theo chiều hướng ấy, sự hiện diện của Tòa Thánh ở các tổ chức quốc tế liên chính quyền là những gì tiêu biểu cho việc đóng góp thiết yếu vào vấn đề tôn trọng nhân quyền và công ích, bởi đó, vào cả quyền tự do chân thực và công lý nữa. Chúng ta cần phải thực hiện một cuộc dấn thân chuyên biệt và đặc thù cho có hiệu nghiệm hơn, nếu cuộc dấn thân này kết hợp nỗ lực với những ai chân thành hiến mình cho sứ vụ của Giáo Hội trên thế giới này.
Những mối liên hệ giữa các quốc gia và trong quốc gia là những gì chân chính nếu chúng biết tôn trọng chân lý. Tuy nhiên, một khi sự thật bị coi thường thì hòa bình bị đe dọa, luật lệ gặp nguy khốn, kéo theo một hậu quả hợp tình hợp lý nữa đó là tình trạng bất công và tháo thứ. Đó là những lằn biên giới phân chia các quốc gia một cách còn sâu xa hơn cả những giới hạn được phác vẽ trên bản đồ địa dư, và thường chẳng những là những biên cương bờ cõi ngoại tại mà còn là nội tại đối với các quốc gia nữa.
Những thứ bất chính ấy cũng có những bộ mặt mới. Chẳng hạn, bộ mặt của tính cách thờ ơ lãnh đạm và hỗn loạn xẩy ra gây hại cho cơ cấu gia đình là tế bào căn bản của xã hội. Hay bộ mặt của chủ nghĩa độc đoán hay của tính cách ngạo mạn là những gì có thể được hợp pháp, làm câm nín đi những ai không có tiếng nói hay sức mạnh để được lắng nghe, như xẩy ra trong trường hợp bất công mà có lẽ ngày nay trường hợp bất công nhất là việc loại trừ đi sự sống con người vừa mới được phôi thai.
‘Thiên Chúa đã chọn thành phần yếu kém trên thế gian này để làm cho thành phần mạnh mẽ phải hổ ngươi’ (1Cor 1:27). Chớ gì tiêu chuẩn của tác động thần linh vẫn còn mạnh mẽ ngày nay ấy giúp cho quí vị không lấy làm ngỡ ngàng ngạc nhiên, lại càng không bị thất đảm nản lòng, trước những khó khăn và hiểu lầm. Thật vậy, quí vị biết rằng, nhờ chúng, quí vị tham dự một cách có thế lực vào trách nhiệm ngôn sứ của Giáo Hội, Một Giáo Hội nỗ lực để tiếp tục lên tiếng bênh vực con người, cho dù chính trị quốc gia hay đa số quần chúng có đi ngược chiều chăng nữa. Đúng vậy, sức mạnh của sự thật được chất chứa trong chính sự thật, chứ không phải ở con số ưng thuận nó nhận được.
Xin quí vị hãy tin rằng tôi đồng hành với quí vị trong sứ vụ vất vả và quan trọng của quí vị một cách ưu ái theo dõi và chân thành tri ân, và để bảo đảm việc tôi nhớ đến quí vị trong lời nguyện cầu của tôi, tôi ban cho tất cả quí vị phép lành tòa thánh của tôi.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 20/3/2006
Sau đây là huấn từ của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI ngỏ cùng thành phần tham dự viên Đại Hội của Hội Đồng Tòa Thánh Về Truyền Thông Xã Hội, khi họ đến triều kiến ngài ngày 17/3/2006 tại Sảnh Đường Clementine trong Tông Dinh Vatican.
Quí Hồng Y,
Quí Giám Mục,
Anh Chị Em thân mến trong Chúa Kitô,
Thật là vui mừng được đón tiếp anh chị em ở Vatican hôm nay nhân dịp đại hội thường niên của Hội Đồng Giáo Hoàng Về Truyền Thông Xã Hội. Trước hết tôi xin cám ơn Đức Tổng Giám Mục Foley, chủ tịch của hội đồng này, về những lời lẽ mở đầu tốt đẹp của ngài, và thực sự là cám ơn tất cả anh chị em về việc anh chị em dấn thân cho hoạt động tông đồ truyền thông xã hội quan trọng, như là một hình thức trực tiếp từ truyền bá phúc âm hóa cũng là việc góp phần vào vấn đề cổ võ tất cả những gì là thiện hảo cùng chân thực cho hết mọi xã hội loài người.
Sứ điệp đầu tiên của tôi cho Ngày Thế Giới Truyền Thông đã nói đến vấn đề truyền thông đại chúng như là một cơ cấu trong việc làm dễ dàng hóa vấn đề truyền đạt, hiệp thông và hợp tác. Tôi nói như vậy khi nhắc lại rằng sắc lệnh của Công Đồng Chung Vaticanô II, “Inter Mirifica”, đã công nhận cái năng lực lớn lao của việc truyền thông đại chúng trong vấn đề làm cho tâm trí con người hiểu biết và khuôn đúc tâm tưởng của họ. Bốn mươi năm sau, chúng ta nhận thấy, hơn bao giờ hết, nhu cầu khẩn trương trong việc củng cố quyền lực này cho thiện ích của toàn thể nhân loại.
Thánh Phaolô đã nhắc nhở chúng ta rằng nhờ Chúa Kitô chúng ta không còn là những kẻ xa lạ và ngoại cuộc mà là thành phần công dân với các thánh và phần tử của gia đình Thiên Chúa, phát triển thành một đền thờ thánh hảo, một nơi Thiên Chúa ngự (x Eph 2:19-22). Hình ảnh cao đẹp về một đời sống hiệp thông bao gồm tất cả mọi khía cạnh của đời sống Kitô hữu chúng ta, nhất là đối với anh chị em, là những gì thách đố trong việc phấn khích các thứ truyền thông xã hội và các kỹ nghệ về giải trí trở thành những kẻ bênh vực chân lý và là những cổ động viên một thứ hòa bình xuất phát từ những cuộc sống theo sự thật giải phóng.
Như anh chị em quá rõ, việc dấn thân này đòi hỏi một lòng can đảm và dứt khoát về nguyên tắc nơi những ai sở hữu và hoạt động trong kỹ nghệ truyền thông có một tầm ảnh hưởng vĩ đại ấy, hầu bảo đảm rằng việc cổ võ công ích không bao giờ được trở thành giá hy sinh cho việc tìm cầu mưu lợi cá nhân hay cho những hoạt động ý hệ thiếu trách nhiệm chung. Khi suy nghĩ tới các mối quan tâm ấy, tôi tin tưởng rằng việc nghiên cứu của anh chị em về bức tông thư ‘The Rapid Development – Việc Phát Triển Nhanh’ của vị Tiền Nhiệm yêu dấu của tôi sẽ là những gì hết sức ích lợi.
Qua sứ điệp của tôi năm nay,tôi cũng muốn kéo chú ý đặc biệt tới nhu cầu khẩn trương trong việc bênh đỡ và ủng hộ đời sống hôn nhân và gia đình là nền tảng của hết mọi văn hóa và xã hội. Bằng cách cộng tác với thành phần phụ huynh, các ngành truyền thông và kỹ nghệ giải trí có thể hỗ trợ ơn gọi dưỡng dục con cái tuy khó khăn nhưng cũng hết sức an ủi này, qua việc trình bày những mô phạm có tính cách xây dựng về cuộc sống và tình yêu thương nhân loại. Thật là buồn nản và thiệt hại biết bao cho tất cả chúng ta khi xẩy ra những gì ngược lại như thế! Lòng chúng ta đã chẳng kêu lân hay sao, nhất là khi giới trẻ của chúng ta chiều theo những thể hiện yêu thương đê hèn hay sai lầm là những gì tỏ ra nhạo báng diễu cợt phẩm vị thiên phú của con người và gây tác hại cho lợi ích gia đình?
Tóm lại, tôi xin anh chị em hãy lập lại những nỗ lực của mình trong việc hỗ trợ những ai hoạt động trong thế giới truyền thông đại chúng để cổ võ những gì là thiện hảo và chân thực, nhất là những gì liên quan tới ý nghĩa của cuộc sống con người và xã hội, cũng như để bài bác những gì là sai lầm, nhất là các chiều hướng độc hại đang tác hại tới cơ cấu của một xã hội dân sự xứng với con người. Chớ gì những lời của Thánh Phaolô làm cho chúng ta phấn khởi, đó là: Chúa Kitô là hòa bình của chúng ta: Nơi Người chúng ta là một (x Eph 2:14)! Và chớ gì chúng ta cùng nhau xây dựng mối hiệp thông yêu thương theo ý định của Đấng Hóa Công được tỏ ra qua Con của Ngài! Tôi thân ái ban phép lành tòa thánh cho tất cả mọi anh chị em, đồng nghiệp của anh chị em và phần tử thuộc gia đình của anh chị em ở nhà.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 17/3/2006
Kính Đức Hồng Y,
Chư Vị Giáo Triều thân mến,
Vào lúc kết thúc những ngày ân phúc này thật là hữu lý và đẹp đẽ để Vị Giáo Hoàng này nói tiếng ‘Cám ơn!”. Trước hết và trên hết là cám ơn Chúa, Đấng đã ban cho chúng ta cuộc nghỉ ngơi về thể lý và tâm thần này, đồng thời cũng cám ơn Đức Hồng Y về việc hướng dẫn chúng tôi theo bước chân Thánh Marcô trên con đường lên Giêrusalem cùng với Chúa Giêsu.
Ngay từ lúc đầu, Đức Hồng Y đã làm cho chúng tôi hiểu được bản chất sâu xa của Giáo Hội về tính cách ‘sacramentum exercitii’ này. Đức Hồng Y đã làm cho chúng tôi nhận ra rằng đây không phải là vấn đề của một cuộc tĩnh tâm cá nhân hay riêng tư. Với tính chất ‘sacramentum exercitii’, chúng ta thể hiện tình đoàn kết của chúng ta với Giáo Hội trong tính chất ‘exercitum’ chung về bí tích, nhờ đó đáp ứng với trách nhiệm là thành phần Mục Tử của chúng ta.
Chúng ta không thể mang đến cho thế giới Tin Mừng là chính bản thân Chúa Kitô, nếu chính chúng ta không sâu xa kết hiệp với Chúa Kitô, nếu chúng ta không biết Người, một cách sâu xa, một cách thân mật, nếu chúng ta không sống Lời của Người.
Cùng với bản chất về giáo sĩ và giáo hội của những ngày Tuần Phòng này, Đức Hồng Y cũng cho chúng tôi thấy cả chiều kích Kitô học của chúng nữa. Đức Hồng Y đã làm cho chúng tôi chú ý tới Vị Sư Phụ nội tâm, Đức Hồng Y giúp chúng tôi lắng nghe Vị Sư Phụ này, Đấng nói với chúng ta và nói trong chúng ta; Đức Hồng Y đã giúp chúng tôi đáp ứng và nói với Chúa, khi lắng nghe lời Người. Đức Hồng Y đã dẫn chúng tôi trong cuộc hành trình ‘giáo lý’ là Phúc Âm theo Thánh Marcô, trong một cuộc hành trình chung cùng với những vị môn đệ buộc phải lên Giêrusalem.
Đức Hồng Y cũng phục hồi cho chúng tôi niềm tin tưởng rằng Chúa Kitô ở trong Con Thuyền của chúng ta, bất chấp tất cả mọi cơn phong ba bão tố của lịch sử. Đức Hồng Y đã dạy chúng tôi nhìn một cách mới mẻ dung nhan đau khổ của Chúa Kitô, dung nhan bị đội mạo gai, hiển vinh của Đấng Phục Sinh.
Chúng tôi cám ơn Đức Hồng Y về điều ấy, và chúng tôi có thể hành trình tiến về Phục Sinh, cùng với Chúa Kitô và các môn đệ của Người, bằng một năng lực mới và niềm vui mới.
Trong tất cả những ngày này, ánh mắt của tôi cần phải tập trung vào bức họa Truyền Tin Cho Mẹ Maria này. Điều làm cho tôi cảm thấy say mê là thế này: đó là Tổng Thần Gabiên cầm một cuộn sách trong tay, một cuộn sách theo tôi là biểu hiệu cho Thánh Kinh, cho Lời Chúa. Và Mẹ Maria đang quì trong cuộn sách ấy; tức là Mẹ sống trọn cuộc sống của Mẹ theo Lời Chúa. Như thể Mẹ chìm name vào Lời này. Nhờ đó, tất cả những gì Mẹ nghĩ, Mẹ muốn và Mẹ làm đều được Lời Chúa thấm nhuần và hình thành.
Vì chính bản thân Mẹ sống trong Lời Chúa mà Mẹ cũng có thể trở thành ‘Nơi Cư Trú’ mới của Lời Chúa trên thế giới này.
Một cách âm thầm, với những điểm ấy mà thôi, Đức Hồng Y đã dẫn chúng tôi trên con đường Thánh Mẫu. Con đường Thánh Mẫu này kêu gọi chúng tôi hãy hội nhập với Lời Chúa, hãy sống theo Lời Chúa, nhờ đó hữu thể chúng ta được thấm nhuần Lời này, hầu chúng ta có thể trở thành những nhân chứng trong thời đại của mình về Lời hằng sống, về chính Chúa Kitô.
Vậy, với một lòng can đảm mới và niềm vui mới, chúng ta tiến tới Phục Sinh, tiến tới việc cử hành Mầu Nhiệm của Chúa Kitô là những gì không phải chỉ thuần túy là cử hành hay nghi thức: nó là Sự Hiện Diện và là Sự Thật. Và chúng ta hãy cầu cùng Chúa giúp chúng ta trở về với Người, nhờ đó trở thành hướng đạo viên và là mục tử của đàn chiên được trao phó cho chúng ta chăm sóc.
Xin cám ơn Đức Hồng Y!
Xin cám ơn, Chư Vị Giáo Triều thân mến!
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
Quí Hồng Y,
Chư Huynh Khả Kính trong Hàng Giáo Phẩm và Linh Mục,
Anh Chị Em thân mến,
Tôi thân ái chào tất cả anh chị em tham dự Hội Nghị Quốc Tế được Thánh Bộ Truyền Bá Phúc Âm Hóa Chư Dân và Đại Học Tòa Thánh Urban nhân dịp 40 năm kỷ niệm Sắc Lệnh Ad Gentes của Công Đồng Chung Vaticanô II.
Trước hết tôi xin chào ĐHY Crescenzio Sepe, Tổng Trưởng Thánh Bộ Truyền Bá Phúc Âm Hóa Chư Dân, và cám ơn ngài về những gì ngài ngỏ cùng tôi thay cho anh chị em. Tôi xin chào các vị Giám Mục và linh mục hiện diện nơi đây cùng tất cả những ai tham dự vào hội nghị này, một hội nghị hợp thời hơn bao giờ hết trong việc đáp ứng với nhu cầu cần phải tiếp tục đào sâu kiến thức về các giáo huấn của Công Đồng Chung Vaticanô II, hầu thể hiện cái quyền năng mãnh liệt được khóa họp Công Đồng này mang lại cho đời sống và sứ vụ của Giáo Hội.
Thật vậy, việc chuẩn nhận bản Sắc Lệnh Ad Gentes ngày 7/12/1965 này đã mang lại một tác lực mới cho sứ vụ truyền giáo của Giáo Hội. Các cơ sở về thần học của việc dấn thân truyền giáo đã được rõ ràng nêu lên, cùng với giá trị và tính cách hợp thời của nó trước những đổi thay trên thế giới cũng như những thách đố của đời sống tân tiến đối với việc rao giảng Phúc Âm (x đoạn 1).
Giáo Hội đã có được một nhận thức rõ ràng hơn bao giờ hết về ơn gọi truyền giáo bẩm sinh của mình, khi nhìn nhận nó là yếu tố làm nên chính bản tính của mình.
Vì tuân theo lệnh truyền của Chúa Kitô, Đấng đã sai các môn đệ đi rao giảng Phúc Âm cho tất cả mọi dân nước (x Mt 28:18-20), cộng đồng Kitô hữu trong thời đại của chúng ta nữa cũng cảm thấy mình được sai đi đến với những con người nam nữ của đệ tam thiên niên, để làm cho họ quen thuộc với sự thật của sứ điệp Phúc Âm, nhờ đó giúp họ có thể tiến vào con đường cứu độ.
Và điều này, như tôi đã nói, không phải là một chọn lựa mà là một ơn gọi xứng hợp với Dân Chúa, một nhiệm vụ được úy thác cho Dân Chúa bởi lệnh truyền của chính Chúa Giêsu Kitô (x Evangelii Nuntiandi, đoạn 5).
Thật ra việc loan báo và làm chứng cho Phúc Âm là việc phục vụ tiên khởi Kitô hữu có thể mang đến cho hết mọi người cũng như cho toàn thể nhân loại, thành phần Kitô hữu được kêu gọi để truyền đạt cho tất cả mọi người tình yêu của Thiên Chúa đã được hoàn toàn tỏ hiện nơi Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc duy nhất của thế giới.
Việc ban hành Sắc Lệnh Ad Gentes của Công Đồng mà anh chị em đã giành ra để suy niệm này đã đề cao hơn nữa căn gốc nguyên thủy nơi sứ vụ truyền giáo của Giáo Hội, tức là sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa, mạch nguồn được các Ngôi Vị Thần Linh tuôn đổ tác động yêu thương xuống trên nhân loại. Tất cả đều xuất phát từ Trái Tim của Chúa Cha trên trời, Đấng đã quá yêu thương thế gian đến ban Người Con Duy Nhất của mình để những ai tin vào Con thì không bị chết song được sự sống đời đời (x Jn 3:16).
Với mầu nhiệm Nhập Thể, Người Con Duy Nhất này đã trở thành Vị Trung Gian đích thực và tối cao giữa Chúa Cha và con người nam nữ. Nơi Đấng đã chết đi và sống lại, niềm trìu mến quan phòng của Chúa Cha vươn tới hết mọi người qua các hình thức và đường lối chỉ có Ngài biết mà thôi.
Phận sự của Giáo Hội là thông truyền tình yêu thần linh này ra không ngừng qua hành động sống động của Thánh Linh. Thật vậy, Thần Linh chính là Đấng biến đổi đời sống của người tín hữu, giải thoát họ khỏi tình trạng làm tôi cho tội lỗi và sự chết, khiến họ có thể làm chứng cho tình yêu nhân hậu của Thiên Chúa, Đấng muốn làm cho nhân loại trở thành một gia đình duy nhất nơi Con của Ngài (x Thông Điệp Thiên Chúa Là Tình Yêu, đoạn 19).
Ngay từ đầu, Dân Kitô Giáo đã rõ ràng thấy được tầm quan trọng của việc chia sẻ những kho tàng của tình yêu thương này với những ai chưa biết Chúa Kitô, bằng hoạt động truyền giáo liên lỉ.
Nhu cầu cần phải tái khẳng định việc dấn thân này đã được cảm thấy thậm chí mãnh liệt hơn trong những năm gần đây, vì ở giai đoạn tân tiến này, như Vị Tiền Nhiệm yêu dấu Gioan Phaolô II của tôi đã nhận định, the mission ad gentes – truyền giáo cho muôn dân đôi khi đã dường như bị trì trệ bởi những khó khăn vì các đổi thay nơi những bối cảnh về nhân loại học, văn hóa, xã hội và tôn giáo của nhân loại.
Ngày nay, Giáo Hội được kêu gọi để đương đầu với những thách đố mới và để sẵn sàng đối thoại với các nền văn hóa và tôn giáo khác, cùng với thành phần thiện tâm tìm cách xây dựng việc đồng chung sống giữa các dân tộc.
Như thế, lãnh vực mission ad gentes – truyền giáo cho muôn dân được vươn rộng một cách đáng kể và không thể được ấn định chỉ nguyên về địa dư hay luật lệ; thật vậy, hoạt động truyền giáo của Dân Chúa không phải chỉ có ý nhắm tới các dân tộc không phải Kitô Giáo và những miền đất xa vắng, mà trước hết nhắm đến các môi trường và trung tâm về xã hội và văn hóa.
Việc thực thi lệnh truyền này một cách trung thành đòi phải nhẫn nại và nhìn xa trông rộng, can đảm và khiêm nhu, lắng nghe Lời Chúa và ý thức được ‘các dấu chỉ thời đại’. Sắc lệnh ‘Ad Gentes – cho muôn dân’ của Công Đồng này cho thấy việc Giáo Hội ý thức là, để ‘những gì Chúa Kitô hoàn tất cho phần rỗi của tất cả mọi người, qua giòng thời gian, có thể đạt được thành quả đại đồng (đoạn 3), cần phải đi con đường như Chúa Kitô đã đi, con đường dẫn đến cái chết trên cây thập tự giá.
Thật thế, hoạt động truyền bá phúc âm hóa “cần phải bước đi con đường được chính Chúa Kitô bước đi, con đường nghèo khó và tuân phục, con đường phục vụ và tự hiến cho tới chết, một cái chết từ đó Người trở thành vinh thắng… (ibid đoạn 5). Phải! Giáo Hội được kêu gọi để phục vụ nhân loại trong thời đại của chúng ta, bằng việc tin tưởng vào một mình Chúa Kitô, khi để cho Giáo Hội được Lời Ngài soi chiếu và bắt chước Người trong việc quảng đại tự hiến mình cho anh em. Giáo Hội là một dụng cụ trong tay Người, chính vì thế Giáo Hội làm những gì có thể, ý thức rằng Đấng làm hết mọi sự là Chúa.
Anh chị em thân mến, cám ơn anh chị em về những suy tư anh chị em đã khai triển trong những ngày này, đào sâu kiến thức của anh chị em về nội dung và cung cách của hoạt động truyền giáo trong thời đại của chúng ta, và suy nghĩ đặc biệt tới việc làm sáng tỏ vai trò thần học, một vai trò cũng đào sâu một cách có phương pháp về các khía cạnh khác nhau của việc Giáo Hội truyền giáo.
Nhờ việc góp phần của tất cả mọi Kitô hữu, việc loan báo Phúc Âm chắc chắn sẽ là những gì khả thức và hiệu quả hơn bao giờ hết. Xin Mẹ Maria, Minh Tinh Truyền Bá Phúc Âm Hóa, hỗ trợ và nâng đỡ những ai ở nhiều miền đất trên thế giới đang hoạt động ở tiền tuyến Truyền Giáo.
Về vấn đề này, làm sao người ta quên được những vị, cả các vị mới đây nữa, đã hiến mạng sống mình vì Phúc Âm? Chớ gì việc hy sinh của các vị đạt được một mùa xuân mới, phong phú nơi hoa trái tông đồ cho việc truyền bá phúc âm hóa. Chúng ta hãy cầu nguyện cho vấn đề này, ký thác cho Chúa tất cả những ai làm việc qua những đường lối khác nhau ở đại vườn nho của Chúa.
Với những cảm thức ấy, tôi ban Phép Lành Tòa Thánh cho anh chị em đang hiện diện nơi đây, và tôi thân ái gửi phép lành Tòa Thánh cho các người thân yêu của anh chị em, cũng như cho các Cộng Đồng Giáo Hội anh chị em thuộc về.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2006/march/documents/hf_ben-xvi_spe_20060311_ad-gentes_en.html
Về Đài Phát Thanh Vatican ngày 3/3/2006 Kỷ Niệm 75 Năm
Anh Chị Em thân mến:
Tôi xin gửi lời chào thân ái đến tất cả mọi con người nam nữ, đến thành phần thính giả của Đài Phát Thanh Vatican, tôi xin chúc bình an và hân hoan của Chúa đến với tất cả.
Thật là niềm vui lớn lao cho tôi được đến nơi đây. Chúng ta biết rằng 75 năm năm trước đây, Đức Giáo Hoàng Piô XI đã khánh thành Đài Phát Thanh Vatican, nhờ đó tạo nên tiếng nói cho Tòa Thánh, cũng như cho Giáo Hội và cho Chúa – một tiếng nói nhờ đó thực sự thi hành lệnh truyền của Chúa là “Hãy loan báo Phúc Âm cho tất cả mọi tạo vật cho đến tận cùng trái đất”.
Như tôi thấy, trong 75 năm này,vấn đề kỹ thuật được hoàn thiện rất nhiều. Ngày nay tiếng nói của Đài Phát Thanh Vatican có thể vang tới tất cả mọi phần đất trên thế giới, và nhiều gia đình – như được nhấn mạnh – cũng có được một tính cách hỗ tương tuyệt vời, chẳng những trong việc nói về mà còn trong cả việc nhận lãnh các câu trả lời nữa, qua cuộc đối thoại đích thực để hiểu biết, đáp ứng và xây dựng gia đình của Thiên Chúa.
Đối với tôi thì đây là ý nghĩa của các phương tiện truyền thông như phương tiện này đây, đó là để giúp vào việc xây dựng đại gia đình vô biên giới này, trong đó, tất cả mọi người cảm thấy mình là anh chị em của nhau trong cái đa dạng của những nền văn hóa và ngôn ngữ, nhờ đó cho thấy được cái quyền lực thực hiện bình an.
Tôi hy vọng rằng tất cả những ai đang lắng nghe tôi vào lúc này đây có thể cảm thấy thực sự dấn thân cho cuộc đối thoại sự thật cao cả này. Trong thế giới truyền thông đây, như chúng ta biết, không thiếu những tiếng nói chống đối. Bởi thế, tiếng nói này đặc biệt can phải hiện hữu, một tiếng nói thực sự muốn phục vụ chân lý, phục vụ Chúa Kitô, nhờ đó, phục vụ hòa bình và hòa giải trên thế giới.
Tôi mong rằng những ai hoạt động ở đây trở thành những dụng cụ hiệu nghiệm cho công cuộc hòa bình cao cả này của Chúa. Tôi xin cám ơn anh chị em về tất cả mọi sự anh chị em làm, ngày này qua ngày khác, và cũng có thể cả đêm này qua đêm khác.
Tôi mong thành phần thính giả cũng tham gia vào việc đối thoại cao cả ấy, và trở thành nhân chứng cho chân lý, và là mãnh lực hòa bình trên thế giới.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 3/3/2006
Trao Đổi với Hàng Giáo Sĩ ở Rôma Hôm 2/3/2006
Hôm 2/3/2006, tại Hall of Blessings, Đức Thánh Cha đã ban huấn từ cho hàng giáo sĩ ở Rôma. Sau khi ĐHY Camillo Ruini, đại diện Giáo Phần Rôma, Đức Giáo Hoàng đã trả lời những câu hỏi và những phát biểu của 10 vị linh mục, rồi sau đó ngài cũng giải đáp cả những chia sẻ nhận định của 5 vị linh mục khác nữa. Sau đây là 15 câu vấn đáp giữa Đức Thánh Cha và hàng giáo sĩ ở Rôma.
“Tôi sẽ vào đề ngay, kẻo chờ cho đến khi kết thúc tất cả mọi chia sẻ nhận định thì phần độc tấu của tôi sẽ quá dài đi.
“Trước hết, quí linh mục giáo phận Rôma thân mến, tôi muốn bày tỏ niềm hân hoan được ở cùng anh em nơi đây. Đây là niềm vui thực sự khi thấy được rất nhiều vị mục tử phục vụ ‘Vị Mục Tử Nhân Lành’ ở nơi đây, ở Giáo Phận đầu tiên của Kitô Giáo, ở một Giáo Hội ‘chủ sự trong đức ái’ và phải trở thành một mô phạm cho các Giáo Hội địa phương khác. Cám ơn việc phục vụ của anh em!
“Chúng ta có được một gương sáng của Cha Andrea, vị đã cho chúng ta thấy ý nghĩa ‘là’ linh mục như thế nào cho đến cùng, đó là chết đi cho Chúa Kitô trong giây phút nguyện cầu, nhờ đó, một đàng cho thấy cái nội tâm của đời sống ngài với Chúa Kitô, đàng khác, cho dân chúng thấy chứng từ của ngài ở vào thời điểm thực sự là ‘panpherical’ trên thế giới này, một thế giới đầy những hận thù và cuồng tín của kẻ khác. Đó là một chứng từ tác động mọi người theo Chúa Kitô, trong việc hiến mạng sống mình cho người khác, nhờ đó được Sự Sống”.
Nhân dịp kỷ niệm đầy năm băng hà của Đức Gioan Phaolô II, và nhân Mùa Chay, ở đây chỉ chuyển dịch trao đổi đầu tiên giữa vị linh mục thứ nhất với Đức Thánh Cha có liên quan tới hai khía cạnh này mà thôi.
Lm 1: Tâu Đức Thánh Cha, chúng con lần đầu tiên được triều kiến Đức Thánh Cha vào dịp gặp gỡ Mùa Chay này. Con xin tưởng nhớ tới Người Tôi Tớ Chúa Gioan Phaolô II thân yêu. Qua những lời Đức Thánh Cha nói ở lễ an táng của ngài, con thấy được một dấu hiệu liên tục giữa Đức Thánh Cha và Vị Tiền Nhiệm yêu dấu của Đức Thánh Cha: ‘Chúng ta có thể tin rằng Vị Giáo Hoàng thân yêu của chúng ta hôm nay đây đang đứng ở cửa sổ Nhà Cha, ngài trông thấy chúng ta và ban phép lành cho chúng ta’. Ý nghĩ ấy đã gợi hứng cho con viết thành bài thơ thập tứ cú theo thổ âm Rôma để kính dâng Đức Thánh Cha, đó là bài: ‘Một cửa sổ trên Trời cao’.
ĐTC: Về chia sẻ nhận định đầu tiên này, trước hết tôi xin hết lòng ‘cám ơn’ về bài thơ tuyệt vời này! Giáo Hội ở Rôma cũng có những nhà thơ và nghệ sĩ nơi hàng giáo sĩ Rôma, và tôi sẽ có cơ hội để suy tư và ngẫm nghĩ những lời lẽ mỹ lệ ấy, ý thức rằng ‘cửa sổ’ này bao giờ cũng ‘mở’. Có lẽ đây là cơ hội để nhớ lại di sản quan trọng của vị đại Giáo Hoàng Gioan Phaolô II để càng ngày càng tiếp tục thấm nhuần di sản ấy.
Hôm qua chúng ta bắt đầu Mùa Chay. Phụng vụ hôm nay cống hiến cho chúng ta một tư tưởng sâu xa về ý nghĩa chính yếu của Mùa Chay: Đó là bản chỉ nam cho đời sống của chúng ta.
Bởi thế, đối với tôi - tôi nói liên quan tới Giáo Hoàng Gioan Phaolô II - đó là chúng ta cần phải nhấn mạnh một chút xíu tới Bài Đọc Thứ Nhất hôm nay. Bài giảng trọng đại của Moisen, trước ngưỡng của Thánh Địa sau cuộc hành trình 40 năm trong sa mạc, là những gì tóm gọn toàn bộ Ngũ Kinh, toàn bộ Lề Luật. Ở đây chúng ta thấy được cái thiết yếu chẳng những đối với dân Do Thái mà còn đối với cả chúng ta nữa. Cái thiết yếu ấy chính là Lời Chúa: ‘Ta đặt trước các người sự sống và sự chết, phúc lành và nguyền rủa; bởi thế hãy chọn sự sống’ (Deut 30:19).
Những lời sâu xa của Mùa Chay này cũng là những lời sâu xa nơi di sản của vị đại Giáo Hoàng Gioan Phaolô II của chúng ta, đó là ‘hãy chọn sự sống’. Ơn gọi linh mục của chúng ta đó là chính mình chọn sự sống và giúp người khác chọn sự sống. Nó là vấn đề có thể nói là canh tân trong Mùa Chay ‘việc chọn lựa trọng yếu’ của riêng chúng ta, việc chọn lựa sự sống.
Thế nhưng, vấn đề ở đây là: làm sao chúng ta có thể chọn sự sống, tại sao chúng ta lại phải làm như thế? Suy nghĩ về điều này, tôi đã nhớ lại rằng tình trạng bội giáo trầm trọng ở Kitô Giáo xẩy ra ở Tây Phương trong 100 năm qua chính là vấn đề nhân danh việc chọn sự sống ấy. Người ta nói rằng – tôi đang nghĩ tới Nietzche cũng như rất nhiều người khác – Kitô giáo là một thứ chọn lựa chống lại sự sống. Với Cây Thập Giá, với tất cả những giới luật, với tất cả những ‘cấm đoán’ ấn định cho chúng ta, một số người nói rằng Kitô Giáo đã đóng cửa sự sống lại.
Thế nhưng, chúng ta, chúng ta muốn có sự sống và chúng ta chọn, chúng ta lựa sự sống trên hết, khi chúng ta giải thoát mình bằng Thập Giá, giải thoát mình bằng tất cả những Giới Luật ấy, bằng tất cả những ‘thứ ngăn cấm’ này. Chúng ta muốn có sự sống viên mãn, không gì khác ngoài sự sống.
Đến đây chúng ta nghĩ ngay đến những lời của bài Phúc Âm, đó là lời ‘Ai muốn cứu sự sống mình sẽ mất sự sống; và ai mất sự sống mình vì Thày thì sẽ giữ được nó’ (Lk 9:24). Đó là những gì mâu thuẫn ngược đời chúng ta trước hết cần phải nhận thức trong việc chọn lựa sự sống. Nó không phải là vấn đề yêu sách sự sống cho mình mà là hiến ban sự sống, không phải có sự sống và giữ lấy sự sống mà là ban tặng sự sống mà chúng ta mới được sự sống. Đó là ý nghĩa tối hậu của Thập Giá, ở chỗ không tìm kiếm sự sống cho bản thân mình, song hiến mạng sống mình.
Như thế, Tân Ước và Cựu Ước đi với nhau. Trong Bài Đọc Thứ Nhất theo Sách Nhị Luật, đáp ứng của Thiên Chúa là: ‘Tôi truyền cho các ngươi ngày hôm nay đây là hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa của các người, hãy bước đi theo đường lối của Ngài, và hãy tuân giữ các giới huấn của Ngài cũng như những chỉ thị của Ngài, để các người được sống’ (Deut 30:16). Thoạt tiên chúng ta có thể không thích điều này, thế nhưng đó là đường lối ở chỗ việc chọn lựa sự sống và chọn lựa Thiên Chúa là những gì đồng nhất. Chúa Kitô đã nói như thế trong Phúc Âm Thánh Gioan: ‘Đây là sự sống đời đời, đó là họ nhận biết Cha’ (Jn 17:3).
Sự sống con người là một mối liên hệ. Chỉ trong mối liên hệ, chứ không thu mình lại, chúng ta mới có sự sống. Và mối liên hệ sâu xa này là mối liên hệ với Đấng Hóa Công, ngoài ra, các mối liên hệ khác đều là những gì mong manh mỏng dòn. Bởi thế, cần phải chọn Thiên Chúa. Một thế giới không có Thiên Chúa, một thế giới lãng quên Thiên Chúa, là một thế giới mất sự sống và rơi vào tình trạng của một nền văn hóa sự chết.
Bởi thế, việc chọn sự sống, việc lựa sự sống, trước hết và trên hết, nghĩa là chọn giải pháp liên hệ với Thiên Chúa. Tuy nhiên vấn đề được đặt ra là: với Thiên Chúa nào? Ở đây, một lần nữa, Phúc Âm giúp cho chúng ta tìm ra câu giải đáp, đó là với Vị Thiên Chúa tỏ cho chúng ta thấy dung nhan của Ngài nơi Chúa Kitô, Vị Thiên Chúa khống chế hận thù trên Cây Thập Giá, tức là bằng yêu thương cho đến cùng. Do đó, khi chọn Vị Thiên Chúa này là chúng ta chọn sự sống vậy.
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã ban cho chúng ta bức thông điệp trọng đại là ‘Phúc Âm Sự Sống’. Nơi bức thông điệp thực sự là một bức họa về các vấn đề của văn hóa, hy vọng và nguy hiểm ngày nay này, chúng ta rõ ràng thấy rằng một xã hội lãng quên Thiên Chúa, loại trừ Thiên Chúa, chính là để có sự sống, thì lại rơi vào một thứ văn hóa sự chết.
Chính là để có sự sống mà người ta đã nói ‘không’ với đứa nhỏ, vì nó lấy đi mất một phần đời của tôi; ‘không’ với tương lai để có được tất cả cái hiện tại; ‘không’ với sự sống trong bụng cũng như với sự sống khổ đau sắp chết. Những gì là nền văn hóa sự sống trở thành một thứ phản văn hóa sự chết, nơi vắng bóng Thiên Chúa, nơi Vị Thiên Chúa không muốn hận thù mà là chế ngự hận thù vắng bóng. Ở đây chúng ta thực sự chọn sự sống.
Như thế, hết mọi sự đều có liên hệ với nhau, ở chỗ, việc chọn lựa sâu xa nhất đối với Chúa Kitô Tử Giá có liên hệ với việc chọn lựa trọn vẹn nhất đối với sự sống, từ giây phút đầu tiên cho tới giây phút cuối cùng.
Đối với tôi thì điều này, một cách nào đó, là trọng tâm của việc chúng ta chăm sóc về mục vụ, đó là giúp cho dân chúng biết thực sự chọn sự sống, biết canh tân mối liên hệ với Thiên Chúa như là một mối liên hệ ban cho chúng ta sự sống và tỏ cho chúng ta thấy sự sống. Nhờ đó, biết yêu mến Chúa Kitô một cách mới mẻ, Đấng không phải là một Hữu Thể mờ mịt nhất, Đấng chúng ta không tới gần được và là Đấng bí ẩn, trở thành một Vị Thiên Chúa rạng ngời, một Vị Thiên Chúa với dung nhan con người, một Vị Thiên Chúa là tình yêu.
Chúng ta hãy quan tâm giữ lấy vấn đề cốt yếu này cả cuộc đời của mình, và hãy làm sao để chương trình ấy chất chứa tất cả Phúc Âm, Cựu Ước và Tân Ước, tập trung vào Chúa Kitô. Đối với chúng ta, Mùa Chay phải là thời gian canh tân việc nhận thức của chúng ta về Thiên Chúa, mối quan hệ của chúng ta với Chúa Giêsu, để có thể hướng dẫn người khác bằng đường lối thuyết phục trong việc chọn sự sống, mà thực sự là chọn Thiên Chúa. Chúng ta cần phải ý thức rằng trong việc chọn Chúa Kitô, chúng ta không muốn chối bỏ sự sống, mà thực sự là chọn sự sống ở tầm mức viên mãn.
Việc chọn lựa của Kitô hữu là một chọn lựa thật ra rất ư là giản dị: Nó là chọn lựa việc tỏ ra ‘ưng thuận’ với sự sống. Thế nhưng, việc ‘ưng thuận’ này chỉ xẩy ra với Vị Thiên Chúa tỏ mình ra, Vị Thiên Chúa mang khuôn mặt con người. Nó xẩy ra bằng việc theo Vị Thiên Chúa này vào mối hiệp thông yêu thương. Những gì tôi nói nẫy giờ là có ý muốn gợi lại việc chúng ta tưởng nhớ tới vị đại Giáo Hoàng Gioan Phaolô II của chúng ta.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 25/3/2006
Giáo Hoàng Biển Đức XVI với Nhóm Linh Mục và Chủng Sinh Chính Thống Hy Lạp 27/2
Sau đây là bài diễn từ của Giáo Hoàng Biển Đức XVI ngỏ cùng nhóm linh mục và chủng sinh thuộc viện thần học ‘Apostoliki Diakonia’ của Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp tại Sảnh Đường Consistory ngày Thứ Hai 27/2/2006.
Quí Vị Tu Viện Trưởng,
Quí Linh Mục, Chủng Sinh và
Tất cả những ai tham dự việc đến Rôma ‘viếng thăm học hỏi’
Nhân dịp tôi hân hoan và cảm tạ tiếp đón dịp quí vị lần đầu tiên viếng thăm Rôma đây, tôi muốn nhắc lại một lời khuyến dụ của Thánh Ignatio, vị đại Giám Mục ở Antioch ngỏ cùng giáo đoàn Êphêsô: ‘Hãy chịu khó gặp gỡ thường xuyên hơn để dâng lời tạ ơn Thiên Chúa và chúc tụng Ngài. Vì nếu anh em thường xuyên gặp gỡ thì các quyền lực của sự dữ sẽ bị khống chế và công việc của tử thần sẽ bị hủy hoại bởi tình trạng hòa hợp niềm tin của anh em”.
Ở vào lúc mở màn cho đệ nhị thiên kỷ đây, đối với Kitô hữu Đông phương và Tây phương, các quyền lực sự dữ vẫn hoạt động nơi những cuộc tranh luận còn kéo dài giữa chúng ta.
Tuy nhiên, trong 40 năm qua, nhiều dấu hiệu khả quan đầy hy vọng đã khiến chúng ta thoáng thấy được một rạng đông mới, rạng đông của một ngày mà chúng ta sẽ hoàn toàn hiểu được rằng việc gắn bó chặt chẽ với tình yêu Chúa Kitô thực sự là việc tìm một cách thực tế nào đó để thắng vượt những thứ chia rẽ của chúng ta bằng việc hoán cải tư riêng cũng như cộng đồng, bằng việc thực hành lắng nghe nhau và cầu nguyện chung cho mối hiệp nhất của chúng ta.
Trong số những dấu hiệu phấn khởi của cuộc hành trình này, một cuộc hành trình gay go nhưng bất khả châm chước, tôi xin nhắc lại việc phát triển tích cực mới đây về mối liên hệ giữa Giáo Hội Rôma và Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp. Các hình thức khác nhau của việc hợp tác và những dự phóng, những gì giúp cho việc hiểu biết nhau sâu xa hơn, cũng như giúp vào việc nuôi dưỡng vấn đề hình thành những thế hệ trẻ trung nhất, đã được diễn tiến sau cuộc gặp gỡ đáng nhớ ở Areopagus Nhã Điển giữa Vị Tiền Nhiệm yêu dấu của tôi là Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, và Đức Christodoulos, Tổng Giám Mục Nhã Điển và Toàn Quốc Hy Lạp.
Việc trao đổi về những chuyến viếng thăm, về kiến thức uyên thâm và về việc hợp tác nơi lãnh vực biên tập đã cho thấy là một phương tiện hữu hiệu cho vấn đề gia tăng đối thoại và kiên cường đức ái, một đức ái làm trọn lành cuộc sống, và, như Thánh Ignatio còn nói, và cùng với nguyên tắc, với đức tin, nó sẽ có thể thắng vượt tình trạng bất đồng trên thế giới này.
Tôi ân cần cám ơn Apostoliki Diakonia về chuyến viếng thăm Rôma này cũng như về những sáng kiến liên quan tới việc đào luyện đang phát triển qua Tiểu Ban Công Giáo Về Việc Hợp Tác Văn Hóa với Chư Giáo Hội Chính Thống theo chiều hướng của Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo. Tôi tin rằng đức bác ái hỗ tương là những gì có thể duy trì được tính cách sáng tạo của chúng ta và dẫn chúng ta bước vào những con đường mới mẻ.
Chúng ta cần phải đương đầu với những thứ thách đố đang đe dọa tới đức tin, phải vun trồng thứ đất mùn đã làm phì nhiêu Âu Châu qua nhiều thế kỷ, phải tái xác nhận các thứ giá trị Kitô Giáo, phải cổ võ hòa bình và gặp gỡ, ngay cả trong những điều kiện khó khăn nhất, và phải củng cố những yếu tố đức tin và đời sống giáo hội có thể dẫn chúng ta tới mục đích trọn vẹn hiệp thông trong chân lý và đức ái, nhất là hiện nay là lúc toàn thể cuộc đối thoại chính thức giữa Giáo Hội Công Giáo và Giáo Hội Chính Thống đang tái diễn hành trình của mình với một nghị lực mới.
Trong đời sống Kitô Giáo thì đức tin, đức cậy và đức mến là những gì sát cánh với nhau. Chứng từ của chúng ta trong thế giới ngày nay sẽ trở thành chân thực hơn và hiệu nghiệm hơn, nếu chúng ta nhận thức rằng con đường dẫn đến hiệp nhất đòi tất cả chúng ta phải có một đức tin sống động hơn, một đức cậy mạnh mẽ hơn, và một đức mến thực sự trở thành niềm hứng khởi sâu xa nhất muôi dưỡng mối liên hệ hỗ tương của chúng ta! Tuy nhiên, đức cậy cần phải được thực hành một cách nhẫn nại và khiêm tốn, cũng như cần phải tin tưởng vào Đấng hướng dẫn chúng ta.
Cho dù nó dường như không ở vào ngay tầm tay với của chúng ta, mục đích của mối hiệp nhất giữa thành phần môn đệ Chúa Kitô không ngăn cản chúng ta việc chúng ta sống với nhau trong đức ái ở tất cả mọi cấp độ, từ giây phút này đây. Không có nơi nào hay lúc nào tình yêu được mô phạm theo tình yêu của Vị Sư Phụ chúng ta là Chúa Giêsu lại trở thành thừa thãi cả; tình yêu không thể nào lại bất khả trở thành một ngõ tắt tiến tới mối trọn vẹn hiệp thông.
Tôi xin quí vị giúp chuyển đạt những niềm cảm mến của tình yêu thương huynh đệ chân thành của tôi tới Đức Christodoulos. Ngài đã ở với tôi ở Rôma đây để chào vĩnh biệt Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Chúa sẽ cho chúng ta thấy những cách thức và những thời điểm canh tân việc gặp gỡ của chúng ta trong bầu khí vui mừng của một cuộc gặp gỡ ah em với nhau.
Chớ gì việc viếng thăm của quí vị đạt được mọi sự như ý. Chớ gì Phép Lành của tôi ở cùng quí vị.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2006/february/documents/hf_ben-xvi_spe_20060227_apostoliki-diakonia_en.html
Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Huấn Từ tại Sảnh Đường Clementine Thứ Hai 27/2/2006 cùng Tham Dự Viên Tổng Nghị Lần 12 của Học Viện Tòa Thánh Về Sự Sống và cùng Hội Nghị về “Nhân Bào Phôi Thai Ở Giai Đoạn Tiền Cấy”.
Quí Huynh trong Hàng Giáo Phẩm và trong Hàng Linh Mục,
Quí Tôn Vị Nữ Nam,
Tôi xin ttrân trọng và thân ái gửi lời chào tới mọi người nhân dịp Tổng Nghị của
Học Viện Tòa Thánh Về Sự Sống và Hội Nghị Quốc Tế về ‘Nhân bào phôi thai ở giai
đoạn tiền cấy’, một hội nghị vừa được bắt đầu.
Tôi đặc biệt chào Đức Hồng Y Javier Lazano Barragàn, Chủ Tịch Hội Đồng Tòa Thánh
Về Việc Chăm Sóc Mục Vụ Sức Khỏe, cũng như Giám Mục Elio Sgreccia, Chủ Tịch Học
Viện Tòa Thánh Về Sự Sống, người tôi xin cám ơn về những lời lẽ tốt đẹp đã trình
b ày một cách rõ ràng về mối quan tâm đặc biệt nơi các vấn đề được bàn đến vào
dịp này, và tôi chào Hồng Y vừa được chọn là Carlo Caffarra, một người bạn tiếng
tăm đã lâu.
Thật vậy, đề tài học hỏi được chọn cho Hội Nghị của anh chị em, ‘Nhân bào phôi
thai ở giai đoạn tiền cấy’, tức là nhân bào phôi thai còn ở trong những ngày đầu
tiên sau khi được thụ thai, là một vấn đề hết sức quan trọng ngày nay, vì những
ảnh hưởng hiển nhiên đối với tư tưởng về nhân loại học triết lý và đạo lý, cũng
như vì những viễn tượng có thể áp dụng vào môi trường của các khoa về sinh y học
và luật học.
Chắc chắn nó là một đề tài hấp dẫn, cho dù nó có khó khăn và gay go thế nào đi
nữa, bởi bản chất tế nhị của vấn đề được khảo sát, cũng như bởi tính chất phức
tạp của các vấn đề về kiến thức liên quan tới mối liên hệ giữa việc bày tỏ các
sự kiện ở mức độ của các khoa học thực nghiệm với việc suy nghĩ về các giá trị
về nhân loại học cần thiết sau đó.
Vấn đề cũng dễ thấy được rằng Thánh Kinh hay Truyền Thống Kitô Giáo lâu đời nhất
không có bất cứ một bàn luận hiển nhiên nào về đề tài này của quí vị cả. Tuy
nghiên, Thánh Luca đã chứng tỏ việc hiện diện chủ động mặc dù kín đáo của hai
thai nhi.
Ngài trình thuật cuộc gặp gỡ của Mẹ Chúa Giêsu, Vị đã thụ thai Người trong cung
lòng trinh nguyên của mình mấy ngày trước đó, với người mẹ của Thánh Gioan Tẩy
Giả, người cũng đã có thai được 6 tháng: ‘Khi Isave nghe lời Mẹ Maria chào thì
con trẻ nhẩy mừng trong lòng bà’ (Lk 1:41).
Thánh Ambrôsiô nhận định là nếu bà Isave ‘thấy được việc Mẹ Maria đến, thì Thánh
Gioan thấy được việc Chúa đến, người nữ với việc đến của Người Nữ, con trẻ với
cuộc đến của Con Trẻ’ (Comm. in Luc. 2: 19, 22-26).
Cho dù không có giáo huấn minh nhiên về chính những ngày đầu tiên của thai nhi,
chúng ta vẫn có thể tìm thấy được những chi tiết giá trị trong Thánh Kinh gợi
lên những cảm thức mộ mến và tôn trọng đối với con người mới được thụ thai, nhất
là ở nơi những con người như quí vị đây là thành phần đang đề ra việc học hỏi về
mầu nhiệm con người sản sinh.
Thật thế, các sách thánh bắt đầu chứng tỏ cho thấy tình Chúa yêu thương hết mọi
con người ngay cả trước khi họ được hình thành trong lòng mẹ nữa.
‘Trước khi Ta hình thành ngươi trong lòng mẹ, Ta đã biết ngươi, và trước khi
người được sinh ra Ta đã thánh hiến ngươi’ (Jer 1:5), Thiên Chúa phán cùng Tiên
Tri Giêrêmia như thế. Và Thánh Vịnh Gia tri ân nhìn nhận rằng: ‘Ngài đã hình
thành các phần nội tạng của con, Ngài đã thêu dệt nên con trong lòng thân mẫu.
Con chúc tụng Ngài, vì Ngài đáng kính và tuyệt diệu. Tuyệt vời thay công cuộc
của Chúa! Chúa biết con quá rõ ràng’ (Ps 139[138]:13-14).
Những lời này có được một ý nghĩa trọn vẹn dồi dào của mình khi con người nghĩ
rằng Thiên Chúa trực tiếp nhúng tay vào việc tạo dựng nên linh hồn của mọi con
người mới.
Tình yêu thương của Thiên Chúa không phân biệt giữa thành phần phôi nhi mới được
thụ thai trong lòng mẹ mình, với thành phần thơ nhi, thành phần giới trẻ, thành
phần người lớn và thành phần lão nhân. Thiên Chúa không phân biệt họ, vì nơi mỗi
một người trong họ, Ngài đều thấy dấu hiệu về hình ảnh của Ngài và những gì
giống như Ngài.
Ngài không biết phân biệt vì Ngài nhận thấy nơi tất cả mọi người trong họ phản
ảnh dung nhan của Người Con duy nhất của Ngài, Đấng ‘Ngài đã chọn… trước khi tạo
dựng thế giới… Ngài định cho chúng ta được trở thành con cái của Ngài trong yêu
thương… theo mục đích của ý Ngài định’ (Eph 1:4-6).
Mối tình yêu thương vô bến bờ và hầu như khôn thấu này của Thiên Chúa đối với
con người cho thấy mức độ con người đáng được yêu thương đối với Ngài, hoàn toàn
không liên quan gì tới bất cứ yếu tố nào khác - như trí thông minh, vẻ đẹp, sức
khỏe, trẻ trung, nguyên tuyền toàn vẹn v.v. Tóm lại, sự sống con người bao giờ
cũng là một sự thiện, vì nó ‘là một biểu hiện của Thiên Chúa trên thế giới, là
dấu hiệu cho thấy việc hiện diện của Ngài, là dấu vết phản chiếu vinh hiển của
Ngài’ (Thông Điệp Phúc Âm Sự Sống, khoản 34).
Thật vậy, con người được ban cho một phẩm vị cao cả, một phẩm vị được bắt nguồn
từ mối liên hệ sâu xa thắt kết họ với Ngài là Đấng Hóa Công của họ: Nơi con
người, nơi hết mọi người, nơi bất cứ giai đoạn hay tình trạng sự sống nào của họ,
một phẩm vị chiếu tỏa chính thực tại về Thiên Chúa.
Chính vì lý do đó mà huấn quyền của Giáo Hội đã liên lỉ rao giảng tính chất linh
thánh bất khả vi phạm của hết mọi sự sống con người, từ khi nó được thụ thai cho
tới khi tự nhiên qua đi (x ibid, số 57). Phán quyết về luân lý này vốn có hiệu
lực ngay từ khi bắt đầu có sự sống nơi phôi bào, ngay trước nó được cấy vào lòng
một bà mẹ, nơi bảo vệ và nuôi dưỡng nó trong 9 tháng cho tới khi ra đời: ‘Sự
sống của con người là những gì linh thánh và bất khả vi phạm ở bất cứ giây phút
nào trong cuộc sống, bao gồm cả giai đoạn khởi sự trước khi nó được hạ sinh’
(ibid, 61).
Hỡi quí vị học giả, tôi quá biết là, với những cảm thức suy tư và hết sức tôn
trọng như thế đối với con người, quí vị đang thực hiện công việc gay go và tốt
đẹp của vấn đề nghiên cứu về nguồn gốc của chính sự sống con người, một mầu
nhiệm có tầm vóc được khoa học càng ngày càng làm cho sáng tỏ, mặc dù khoa học
khó có thể giải mã nó hoàn toàn.
Thật vậy, trí khôn vừa thành đạt trong việc thắng vượt một giới hạn dường như
bất khả vượt qua, nó sẽ bị thách đố bởi những giới hạn chưa từng thấy khác. Con
người sẽ mãi mãi là một bí ẩn sâu xa và bất khả thấu.
Vào thế kỷ thứ bốn, Thánh Cyril thành Giêrusalem đã cống hiến suy tư sau đây cho
thành phần dự tòng sửa soạn lãnh nhận Phép Rửa: ‘Ai sửa soạn một lỗ hổng trong
bụng mẹ cho việc sản sinh con cái? Ai thở sự sống vào bào thai vô sinh khí trong
bụng mẹ? Ai thêu dệt chúng ta lại bằng xương cốt và bắp thịt, và khoác da khoác
thịt vào cho chúng ta (x Jb 10:11), và ngay khi người con được sinh ra thì ngực
người mẹ liền có dồi dào sửa nuôi con? Làm thế nào người con này, khi phát triển,
trở thành một thanh thiếu niên, rồi từ một thanh thiếu nhiên trở thành một người
trẻ, đoạn thành người lớn và cuối cùng thành lão nhân, mà không ai có thể ấn
định ngày tháng chính xác cho việc đổi thay này xẩy ra?’
Và thánh nhân đã kết luận: ‘Ôi Con Người, ngươi đang nhìn thấy Vị Thủ Công,
người đang nhìn thấy Đấng Hóa Công khôn ngoan’ (Catechesi Battesimale, 9,
15-16).
Vào đầu thế kỷ thứ ba những can nhắc này vẫn còn hiệu lực. Chúng được nói lên
không phải vì hiện tượng thể lý hay vật lý học mà là vì tầm quan trọng về nhân
loại học và siêu hình học của nó. Chúng ta đã cải tiến kiến thức của chúng ta
rất nhiều và khá hơn, một kiến thức đồng hóa với những hạn chế của việc vô tri
của chúng ta, thế nhưng, đối với trí thông minh của con người, nó dường như trở
thành quá khó khăn trong việc nhận thức rằng khi chiêm ngưỡng thiên nhiên tạo
vật con người thấy được dấu chỉ của Đấng Hóa Công.
Thật thế, ai mến yêu sự thật, như quí vị, hỡi các học giả thân yêu, đều phải
nhận thấy rằng việc nghiên cứu những đề tài sâu xa như thế làm cho chúng ta có
thể thấy được và hầu như chạm tới bàn tay của Thiên Chúa. Ở bên ngoài những giới
hạn của các phương pháp về thử nghiệm, ở những hạn chế của lãnh vực được một số
người gọi là phân tích siêu hình, nơi nhận thức của cảm quan và các thử nghiệm
của khoa học chẳng những không xứng hợp mà còn thậm chí bất khả, thì ở đó chính
là khởi điểm của cuộc thám hiểm về siêu việt thể, cuộc dấn thân ‘vượt thoát’.
Quí nghiên cứu gia và chuyên gia thân mến, tôi hy vọng quí vị sẽ thành công mỗi
ngày một hơn, chẳng những trong việc khảo sát thực tại là chủ đề thuộc nỗ lực
của quí vị, mà còn trong việc chiêm ngắm nó ở chỗ, cùng với những khám phá của
quí vị, nêu lên những vấn nạn dẫn tới việc khám phá ra nơi vẻ đẹp của các tạo
vật hình ảnh của Đấng Hóa Công.
Theo chiều hướng ấy, tôi thiết tha bày tỏ việc cảm nhận và tri ân của tôi đối
với Học Viện Tòa Thánh Về Sự Sống liên quan tới công việc ‘học hỏi, huấn luyện
và thông tin’ đáng giá của nó là những gì mang lại lợi ích cho các phân bộ của
Tòa Thánh, cho các Giáo Hội địa phương, cũng như cho các học giả chú trọng tới
những gì Giáo Hội phác ra về lãnh vực nghiên cứu khoa học của họ cũng như về sự
sống con người liên quan tới vấn đề đạo lý và luật lệ.
Vì tính cách khẩn trương và quan trọng của những vấn đề này mà tôi coi việc vị
tiền nhiệm khả kính Gioan Phaolô II của tôi thành lập Cơ Cấu này là việc quan
phòng. Bởi thế tôi muốn bày tỏ việc gần gũi và hỗ trợ của tôi với niềm thân ái
chân thành với tất cả quí vị, thành phần nhân viên và phần tử thuộc Học Viện Tòa
Thánh Về Sự Sống.
Với những niềm cảm mến ấy, bằng việc trao phó công việc của quí vị cho sự bảo vệ
của Mẹ Maria, tôi ban Phép Lành Tòa Thánh cho tất cả quí vị.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2006/february/documents/hf_ben-xvi_spe_20060227_embrione-umano_en.html
Tóm lại, nếu Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã huấn dụ thành phần chuyên gia y khoa và khoa học gia hôm Thứ Bảy 20/3/2004, tại Sảnh Đường Clementine, ngỏ cùng 400 tham dự viên của Hội Nghị Thế Giới về chủ đề “Những Trị Liệu Bảo Trì Sự Sống và Trạng Thái Thực Vật: Các Tiến Bộ Về Khoa Học và Những Nan Giải Về Đạo Lý”, tức về sự sống của con người trước khi lìa đời thế nào, Đức Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI của chúng ta cũng huấn dụ tại Sảnh Đường Clementine hôm Thứ Hai 27/2/2006 cùng Tham Dự Viên của Tổng Nghị Lần 12 của Học Viện Tòa Thánh Về Sự Sống về vấn đề “Nhân Bào Phôi Thai Ở Giai Đoạn Tiền Cấy”, tức về giá trị của sự sống con người ngay từ khi vào đời như vậy.
Giáo huấn của Giáo Hoàng Biển Đức XVI về giá trị và thực tại của sự sống con người khi vừa được thụ thai ra sao?
Chúng ta có thể tóm tắt những ý tưởng chính yếu từ bài huấn từ của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI về vấn đề sự sống khi mới được thụ thai như sau:
Thứ nhất, ‘sự sống của con người là những gì linh thánh và bất khả vi phạm ở bất cứ giây phút nào trong cuộc sống, bao gồm cả giai đoạn khởi sự trước khi nó được hạ sinh’.
Thứ hai, sở dĩ ‘sự sống của con người là những gì linh thánh và bất khả vi phạm ở bất cứ giây phút nào trong cuộc sống’, bởi vì nó ‘là một biểu hiện của Thiên Chúa trên thế giới, là dấu hiệu cho thấy việc hiện diện của Ngài, là dấu vết phản chiếu vinh hiển của Ngài’
Thứ ba, sự sống ‘là một biểu hiện của Thiên Chúa trên thế giới, là dấu hiệu cho thấy việc hiện diện của Ngài, là dấu vết phản chiếu vinh hiển của Ngài’, bởi vì Thiên Chúa yêu thương hết mọi con người ngay cả trước khi họ được hình thành trong lòng mẹ nữa.
Thứ bốn, Thiên Chúa yêu thương hết mọi con người ngay cả trước khi họ được hình thành trong lòng mẹ nữa, ở chỗ, như Ngài phán với Tiên Tri Giêrêmia: ‘trước khi Ta hình thành ngươi trong lòng mẹ, Ta đã biết ngươi, và trước khi người được sinh ra Ta đã thánh hiến ngươi’ (Jer 1:5).
Trên đây là những dẫn chứng Thánh Kinh và giáo huấn của Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong Thông Điệp Phúc Âm Sự Sống được Đức Thánh Cha Biển Đức XVI trích lại để khuyên dạy về việc tôn trọng và bảo vệ sứ sống con người ngay từ khi sự sống được thụ thai trong lòng mẹ.
Thật vậy, theo kẻ phân tích bài huấn từ của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI trên đây thì những lý lẽ của Thánh Kinh và Huấn Quyền của Giáo Hội trên đây cũng rất thích hợp với triết lý. Ở chỗ, cái nhân bào phôi thai ngay từ khi được thụ thai đã là người về bản chất, dù chưa thành người về hình dạng, nói cách khác, nếu cái mầm phôi thai bào ấy không phải là người thì sẽ không bao giờ thành người. Vậy sát hại cái mầm phôi thai chưa thành người song đã là người ấy chính là giết người rồi vậy.
ĐTC Biển Đức XVI với Các Bệnh Nhân cuối Thánh Lễ 11/2/2006 về Ngày Thế Giới Bệnh Nhân
Anh Chị Em thân mến,
Tôi rất hân hoan gặp gỡ anh chị em và tôi cám ơn anh chị em về việc tiếp đón nồng hậu của anh chị em. Tôi đặc biệt chào anh chị em, anh chị em bệnh nhân thân mến đang tụ họp tại Đền Thờ Thánh Phêrô đây, và tôi muốn gửi tới tất cả mọi bệnh nhân đang theo dõi chúng ta qua truyền thanh hay truyền hình, cũng như những ai không thể ở đây ngoại trừ liên kết với chúng ta bằng sự liên kết sâu xa của tinh thần, trong đức tin và trong nguyện cầu.
Tôi chào ĐHY Camillo Ruini, vị đã chủ tế Thánh Lễ, và ĐHY Francesco Marchisano, tổng linh mục đền thờ Vatican này. Tôi chào các vị giám mục và linh mục khác đang hiện diện nơi đây. Tôi cám ơn Liên Hiệp Ý Quốc Về Chuyên Chở Bệnh Nhân đến Lộ Đức và Các Đền Thánh Quốc Tế (UNITALSI: National Italian Union for Transporting the Sick to Lourdes and International Shrines), và Opera Romana Pellegrinaggi là tổ chức đã sắp xếp và tổ chức cuộc gặp gỡ này với sự giúp đỡ của nhiều tình nguyện viên.
Tôi cũng đang nghĩ đến Úc Đại Lợi ở bên kia địa cầu, nơi ĐHY Javier Lozano Barrangán, chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh Về Ciệc Chăm Sóc Mục Vụ Sức Khỏe, chủ sự cuộc cử hành chính của Ngày Thế Giới Bệnh Nhân mấy tiếng trước đây ở Adelaide.
Mười bốn năm trước, vào ngày 11/2, lễ nhớ Đức Mẹ Lộ Đức, đã trở thành Ngày Thế Giới Bệnh Nhân. Tất cả chúng ta đều biết rằng Đức Trinh Nữ đã thể hiện lòng êm ái của Thiên Chúa đối với khổ đau ở Hang Động Massabielle. Lòng êm ái này, mối quan tâm ưu ái này, được cảm thấy một cách sống động trên thế giới vào chính ngày lễ Mẹ Lộ Đức, việc tái hiện nơi phụng vụ, nhất là nơi Thánh Thể, mầu nhiệm của Chúa Kitô, Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần, mà Đức Nữ Trinh Vô Nhiễm là hoa trái đầu mùa của Người.
Qua việc hiện ra với Bernadette như là Đấng Đầu Thai Vô Nhiễm, Mẹ Maria Rất Thánh đã đến để nhắc nhở thế giới tân tiến đang có nguy cơ quên mất mối quan tâm ưu ái ấy, quên mất tính cách chủ chốt của ân sủng thần linh là những gì mạnh hơn cả tội lỗi và sự chết. Chính vì lý do ấy mà nơi Mẹ hiện ra, Động Massabielle ở Lộ Đức, trở thành một tâm điểm thu hút toàn Dân Chúa, nhất là những ai cảm thấy bị trầm đắm và khổ đau nơi thân xác và tinh thần.
Chúa Giêsu nói: “Hãy đến với Cha hỡi tất cả các con là những người lao nhọc và gánh nặng, Ta sẽ cho các con nghỉ ngơi” (Mt 11:28). Ở Lộ Đức, Người tiếp tục lập lại lời mời gọi này, bằng vai trò môi giới từ mẫu của Mẹ Maria, với tất cả những ai tin tưởng trở về với Người.
Anh chị em thân mến, năm nay, cùng với các vị cộng tác viên của tôi nơi Hội Đồng Tòa Thánh về Việc Chăm Sóc Mục Vụ Sức Khỏe, tôi muốn chú trọng tới thành phần bị bệnh tâm thần. “Tâm bệnh và nhân phẩm” là đề tài của hội nghị này đã diễn ra ở Adelaide, một đề tài được cứu xét tới các khía cạnh về khoa học, đạo lý và mục vụ nữa.
Tất cả chúng ta đều biết rằng Chúa Giêsu đứng trước con người với tất cả bản thân của Người để chữa lành con người một cách trọn vẹn, nơi thân xác, trí khôn và tinh thần. Thật vậy, con người là một thứ hiệp nhất và những chiều kích khác nhau có thể và cần phải được phân biệt nhưng không tách biệt. Bởi thế, cả Giáo Hội nữa cũng luôn coi con người như thế, và quan niệm này định lượng phẩm chất các cơ cấu Công Giáo chăm sóc sức khỏe cùng với đường lối các nhân viên chăm sóc sức khỏe ở những cơ cấu ấy.
Vào lúc này đây tôi đang nghĩ đến đặc biệt các gia đình có phần tử bị bệnh tâm thần, những gia đình đang cảm thấy rã rời cùng với những vấn đề khác bởi đó mà ra. Chúng ta cảm thấy gần gũi với tất cả mọi trường hợp này, nhất là ở những nơi thiếu pháp luật, không đầy đủ những cơ cấu chung, và các thiên tai hay bất hạnh thay chiến tranh cùng các cuộc xung đột võ trang đang sản gây ra nơi con người những thứ chấn thương trầm trọng về tâm lý. Đây là những hình thức nghèo khổ thu hút đức bái ái của Chúa Kitô, Người Samaritanô nhân lành, cũng như của Giáo Hội, một Giáo Hội liên kết bất khả phân ly với Người trong việc Giáo Hội phục vụ nhân loại đau thương.
Hôm nay tôi xin trao tặng một cách tượng trưng, cho tất cả mọi vị bác sĩ, y tá và các nhân viên chăm sóc sức khỏe ở lãnh vực này bức thông điệp “Thiên Chúa là Tình Yêu”, với niềm hy vọng rằng tình yêu của Thiên Chúa sẽ luôn sinh động trong tâm hồn của họ, nhờ đó, tình yêu này sẽ làm men cho công việc hằng ngày của họ, cho các dự phóng của họ, cho các sáng kiến của họ, đặc biệt là những liên hệ của họ với bệnh nhân.
Quí bạn thân mến, bằng việc tác hành nhân danh đức bác ái và theo cung cách của
đức bác ái, anh chị em cũng thực hiện việc đóng góp quí báu vào việc truyền bá
phúc âm hóa, vì việc loan báo Phúc Âm cần đến những dấu hiệu liên lỉ củng cố nó.
Và những dấu hiệu này nói lên thứ ngôn ngữ yêu thương đại đồng, một thứ ngôn ngữ mà mọi người đều có thể hiểu được.
Một chút nữa đây, để tái tạo bầu khí thiêng liêng ở Lộ Đức, tất cả mọi ánh sáng trong đền thờ đều bị tắt đi, và chúng ta sẽ thắp lên cây nến của chúng ta, biểu hiệu của đức tin và của việc thiết tha kêu cầu Thiên Chúa. Việc hát bài Ave Maria của Lộ Đức sẽ kêu mời chúng ta tiến bước một cách linh thiêng đến Hang Massabielle, đến chân Đức Nữ Trinh Vô Nhiễm.
Bằng niềm tin tưởng sâu xa, chúng ta hãy trình cho Mẹ thân phận loài người của chúng ta, các bệnh tật của chúng ta, một dấu hiệu cho thấy cảnh túng thiếu tất cả chúng ta đều có khi chúng ta hành trình trong cuộc hành hương trần thế để được cứu độ bởi Con Mẹ là Chúa Giêsu Kitô.
Chớ gì
Mẹ Maria giữ cho niềm hy vọng của chúng ta tồn tại, nhờ đó, trung thành với giáo
huấn của Giáo Hội, chúng ta tái tấu việc dấn thân của chúng ta để làm giảm nhẹ
đi bệnh tình của họ. Xin Chúa làm sao cho không còn một ai bị cô đơn lẻ loi một
mình hay bị bỏ rơi trong lúc thiếu thốn, thế nhưng, trái lại, có thể sống cả với
bệnh tật nữa hợp với phẩm giá của con người. Với những cảm mến này, tôi hết lòng
ban phép lành của tôi cho tất cả anh chị em: người bệnh, các chuyên viên chăm
sóc và những tình nguyện viên.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo
Quí Hồng Y,
Quí Huynh Khả Kính trong Hàng Giáo Phẩm và Linh Mục
Anh Chị Em thân mến,
Tôi hân hoan gặp gỡ Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin vào lúc kết thúc hội nghị hằng năm của nó, một thánh bộ tôi đã giữ vai trò làm chủ tịch hơn 20 năm theo ý của Vị Tiền Nhiệm của tôi là Giáo Hoàng khả kính Gioan Phaolô II.
Các khuôn mặt của anh chị em cũng làm cho tôi nhớ đến tất cả những ai hợp tác với phân bộ này trong những năm ấy: tôi nhớ đến tất cả những người trong họ với lòng biết ơn và cảm mến. Thật vậy, tôi không thể nào không cảm xúc khi nhớ tới giai đoạn rất cam go đầy hoa trái tôi đã có với thánh bộ này, một thánh bộ có nhiệm vụ phát động vào bảo toàn tín lý của đức tin và luân lý trong toàn thể Giáo Hội Công Giáo (x Pastor Bonus, 48).
Đức tin có một tầm vóc hết sức quan trọng trong đời sống Giáo Hội, vì tặng ân tỏ mình ra nơi Mạc Khải là những gì nồng cốt và tặng ân Thiên Chúa tỏ mình này là những gì được chấp nhận bằng đức tin.
Ở đây mới thấy được tính cách quan trọng nơi thánh bộ của anh chị em. Nhờ việc phục vụ của mình cho toàn thể Giáo Hội cũng như cho riêng các vị giám mục là thày dạy đức tin và là mục tử, thánh bộ này thực sự được kêu gọi trong tinh thần đoàn tính để phấn khích và nhắc nhở tính cách trọng yếu của đức tin Công Giáo qua việc thể hiện chân thực của nó.
Ngoài ra, bất cứ khi nào nhận định về tính cách trọng yếu này bị yếu kém đi thì kết cấu của đời sống Giáo Hội bị mất đi tính cách sáng ngời nguyên thủy của nó và trở thành mờ nhạt, ở chỗ, nó bị thoái hóa thành chủ nghĩa duy động cằn cỗi hay bị biến thành động cơ chính trị có mùi vị trần tục.
Trái lại, nếu sự thật của đức tin được chân thành và dứt khoát được đăt làm tâm điểm của đời sống Kitô Giáo thì sự sống con người sẽ được đổi mới và phục hồi bởi một tình yêu không biết mỏi mệt và giới hạn, như tôi cũng đã có dịp nhắc đến trong thông điệp ‘Thiên Chúa Là Tình Yêu” mới đây của tôi.
Đức bác ái, như tình yêu đổi mới tất cả mọi sự, chuyển từ Trái Tim của Thiên Chúa đến Trái Tim của Chúa Giêsu Kitô, và qua Thần Linh của Ngài đến khắp thế giới. Tình yêu thương này được bắt nguồn từ cuộc gặp gỡ Chúa Kitô trong đức tin: “Là Kitô hữu không phải là thành quả của việc chọn lựa về đạo lý hay của một ý nghĩ cao vời, mà là cuộc gặp gỡ nơi một biến cố, một con người, những gì cống hiến hồn sống cho một chân trời mới và một hướng đi quyết liệt” (Deus Caritas Est, 1).
Chúa Giêsu Kitô là Sự Thật Được Nhân Cách Hóa, Đấng thu hút thế giới về với mình. Ánh sáng từ Chúa Giêsu chiếu tỏa là ánh quang chân lý. Hết mọi thứ sự thật khác là một mảnh của Sự Thật là Người và về Người này.
Chúa Giêsu là Ngôi Sao Bắc Đẩu của tự do con người: Không có Người, tự do bị mất đi cái cảm quan về chiều hướng, vì thiếu kiến thức về sự thật thì tự do bị suy thoái, trở thành cô lập và tác hành một cách vô công hiệu.
Với Người, tự do được tái nhận thức; nó được nhìn nhận là được dựng nên cho thiện ích của chúng ta và được thể hiện qua các hành động cùng cử chỉ bác ái.
Bởi thế Chúa Giêsu làm cho con người nam nữ được hoàn toàn thân mật với sự thật và tiếp tục mời gọi họ hãy sống trong sự thật. Nó là sự thật được cống hiến như là một thực tại phục hồi con người đồng thời vượt trên con người và ở trên con người, như một Mầu Nhiệm bao gồm và đồng thời vượt quá khả năng của lý trí con người.
Không gì có thể thay thế được lòng mến yêu chân lý thúc đẩy con người hướng đến những chân trời chưa được khám phá. Chúa Giêsu Kitô, Đấng là toàn chân, lôi kéo tâm hồn của mỗi một con người, mở rộng nó và làm cho nó tràn nay niềm vui. Thật vậy, chỉ một mình sự that mới có thể chiếm đoạt tâm trí và làm cho nó trọn vẹn hân hoan.
Chính niềm vui này làm gia tăng các chiều kích của tâm can con người, làm cho nó thoát khỏi tính cách hẹp hòi của lòng vị kỷ và cống hiến cho nó khả năng yêu thương đích thực. Đó là cảm nghiệm của niềm vui thúc nay và thu hút con người đến việc tự do tôn thờ, không phải bằng việc quị lụy đê hèn mà bằng lòng kính tôn chân thành trước Chân Lý họ gặp gỡ.
Bởi vậy, việc phục vụ cho đức tin, tức việc làm chứng cho Đấng là tất cả Sự Thật, cũng là việc phục vụ niềm vui, và đó là niềm vui Chúa Kitô muốn làm tràn lan trên khắp thế giới: Nó là niềm vui của lòng tin tưởng nơi Người, của sự thật được Người truyền đạt, của ơn cứu độ xuất phát từ Người! Chính niềm vui này chúng ta cảm thấy trong lòng khi chúng ta tin tưởng quì xuống tôn thờ Chúa Giêsu!
Lòng mến yêu chân lý này cũng tác động và hướng dẫn Kitô hữu tiến tới với thế giới hiện đại và với cuộc dấn thân truyền bá phúc âm hóa của Giáo Hội, những đề tài được anh chị em bỏ giờ ra để bàn luận trong cuộc hội nghị này của mình.
Giáo Hội hân hoan tiếp nhận những khám phá đích thực của kiến thức con người, và nhìn nhận rằng việc truyền bá phúc âm hóa cũng đòi hỏi cần phải thấu triệt một cách xứng hợp những chân trời cùng với những thách đố được kiến thức tân thời khám phá thấy. Thật vậy, mức tiến bộ cả thể của kiến thức khoa học như chúng ta đã thấy trong thế kỷ vừa qua đã giúp chúng ta hiểu được mầu nhiệm tạo dựng hơn và có một tính cách nhận thức sâu xa về tất cả mọi dân tộc.
Tuy nhiên, những tiến bộ của khoa học đôi khi nhanh đến nỗi làm cho việc nhận thức trở thành khó khăn ở chỗ không biết rằng chúng có phù hợp với các chân lý về con người và về thế giới như Thiên Chúa mạc khải cho biết hay chăng. Có những lúc, có những chủ trương theo kiến thức khoa học chống lại các sự thật này. Điều này làm cho tín hữu bị lẫn loan cách nào đó, khiến cho việc loan báo và chấp nhận Phúc Âm trở thành khó khăn.
Bởi thế, heat mọi việc học hỏi nghiên cứu nhắn đến chỗ đào sâu kiến thức về những chân lý được lý trí khám phá ra đều là những gì hết sức quan trọng, với niềm xác tín rằng không có “vấn đề tranh chấp nhau giữa lý trí và đức tin” (Thông Điệp Đức Tin và Lý Trí, khoản 17).
Chúng ta không được sợ hãi khi phải đối diện đương đầu với thách đố này: Chúa Giêsu Kitô thật sự là Chúa của tất cả mọi tạo sinh và của tất cả lịch sử. Người tín hữu quá biết rằng “tất cả mọi sự được tạo doing nên nhờ Người và cho Người… và trong Người tất cả mọi sự được liên kết với nhau” (Col 1:16,17).
Bằng việc liên tục đào sâu kiến thức về Chúa Kitô, trung tâm của vũ trụ và của lịch sử, chúng ta có thể cho con người nam nữ trong thời đại chúng ta thấy được rằng niềm tin tưởng nơi Người là những gì quan trọng đối với tương lai của nhân loại: Thật vậy, nó là việc hoàn thành cho tất cả những gì là nhân loại chân thực. Chỉ ở nơi quan điểm này chúng ta mới có thể cung ứng những giải đáp thuyết phục cho con người đang tìm kiếm chân lý.
Việc dấn thân này là những gì hết sức hệ trọng cho việc loan báo và truyền đạt đức tin trong thế giới hiện đại. Thật thế, ngày nay công việc truyền bá phúc âm hóa là một ưu tiên khẩn trương và đòi phải thực hiện việc dấn thân tương xứng.
Cuộc đối thoại giữa đức tin và lý trí, giữa tôn giáo và khoa học, không những làm cho nó có thể tỏ cho con người trong thời đại của chúng ta thấy được cái hợp tình hợp lý của niềm tin tưởng nơi Thiên Chúa một cách hiệu nghiệm và thuyết phục bao nhiêu có thể, mà còn chứng tỏ là việc hoàn toàn mãn nguyện hết mọi ước vọng chân thực của con người chỉ có ở nơi Chúa Giêsu Kitô mà thôi. Về vấn đề này, nỗ lực nghiêm trọng truyền bá phúc âm hóa không thể nào bỏ qua được những vấn đề cũng xuất phát từ các khám phá của khoa học và triết học ngày nay.
Lòng ước mong tìm thấy chân lý là những gì thuộc về chính bản tính của con người. Toàn thể tạo thành là lời mời gọi mãnh liệt hãy tìm kiếm những câu giải đáp hướng lý trí con người tới câu đại giải đáp lu6on được nó kiếm tìm và trông đợi: “Chân lý của mạc khải Kitô Giáo, được thấy nơi Chúa Giêsu Nazarét, là những gí có thể giúp con người nam nữ thấm nhiễm ‘mầu nhiệm’ về chính cuộc sống của họ. Là sự thật tuyệt đối, nó kêu gọi con người hãy hướng tới siêu việt thể, trong khi đó, vẫn tôn trọng tính cách độc lập của một tạo vật và quyền tự do của họ. Về điểm này, mối liên hệ giữa tự do và sự thật mới trọn vẹn, và chúng ta mới hiểu được ý nghĩa hoàn toàn của những lời Chúa Kitô nói:
“Quí vị sẽ nhận biết sự thật và sự thật sẽ giải phóng quí vị” (Jn 8:32) (Thông Điệp Đức Tin và Lý Trí, đoạn 15).
Nơi vấn đề này, thánh bộ đây thấy được động lực dấn thân của mình cùng với chân trời phục vụ của mình. Việc phục vụ của anh chị em cho một đức tin trọn vẹn là việc phục vụ cho chân lý, bởi thế cũng là việc phục vụ cho niềm vui, một niềm vui xuất phát từ tận đáp long, một niềm vui xuất phát từ những thẳm cung của tình yêu được Chúa Kitô mở ra từ Trái Tim của Người bị đâm thâu trên Thập Giá và là một tình yêu được Thần Linh của Người tuôn đổ một cách dồi dào bất tận vào thế giới. Theo chiều hướng ấy, thừa tác vụ về tín lý của anh chị em có thể được định nghĩa một cách thích hợp là “mục vụ”.
Thật thế, việc phục vụ của anh chị em, là việc phục vụ cho vấn đề làm cho lan tỏa trọn vẹn ánh sáng của Thiên Chúa trên thế giới này! Chớ gì ánh sáng của đức tin, được thể hiện qua tính cách trọn vẹn và nguyên vẹn của nó, luôn soi chiếu hoạt động của anh chị em và là “minh tinh” hướng dẫn anh chị em cùng giúp anh chị em hướng tâm hồn con người về với Chúa Kitô!
Đây là một công việc năng nề nhưng hào hứng thuộc về Vị Thừa Kế Thánh Phêrô nơi sứ vụ của ngài mà anh chị em được kêu gọi hợp tác. Cám ơn hoạt động của anh chị em và việc phục vụ của anh chị em!
Với những cảm thức ấy tôi ban pháp lành cho tất cà anh chị em.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo
Quí Vị Kiểm Tra, Viên Chức và Hợp Tác Viên của Pháp Đình Rota Tòa Thánh Roma
Đã qua gần một năm từ cuộc gặp gỡ vừa rồi của Pháp Đình quí vị với vị Tiền Nhiệm yêu dấu của tôi là Đức Gioan Phaolô II. Đó là cuộc gặp gỡ cuối cùng trong một chuỗi dài những cuộc gặp gỡ. Trong số di sản vĩ đại về giáo luật được ngài lưu lại cho chúng ta, tôi đặc biệt muốn chú trọng tới bản hướng dẫn “Dignitas Connubii”, đến những phương thức cần phải theo trong việc cứu xét tới những căn nguyên hủy hôn. Bản hướng dẫn này có mục đích phác họa một loại “vademecum”, chẳng những chứa đựng các qui tắc tương ứng còn hiệu lực về vấn đề này, mà còn trang bị thêm cho các qui tắc ấy những tiêu chuẩn thẩm định thích đáng hơn nữa cần để áp dụng chúng một cách đúng đắn.
Việc đóng góp lớn nhất của Bản Hướng Dẫn này, một bản hướng dẫn tôi tin rằng được các tòa án của Giáo Hội trọn vẹn áp dụng, là ở chỗ đề cập tới, trong việc cứu xét hủy hôn, tầm mức và cách thức được dùng để áp dụng các qui tắc được chất chứa trong các khoản giáo luật hiện hành liên quan tới phán quyết thường được tranh cãi, cũng như đến việc tuân giữ các qui tắc đặc biệt cần thiết cho tình trạng của con người cũng như cho công ích.
Như quí vị quá rõ, việc quan tâm đến những cuộc xét xử hủy hôn càng ngày càng vượt trên phạm vi của thành phần chuyên gia. Thật vậy, đối với nhiều tín hữu thì những phán quyết của Giáo Hội về lãnh vực này liên quan tới vấn đề họ có được Hiệp Lễ hay chăng.
Chính khía cạnh này, một khía cạnh rất quan trọng theo quan điểm về đời sống Kitô Giáo, là khía cạnh cho thấy ly do tại sao vấn đề hủy hôn đưa nêu lên nhiều lần ở Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới mới đây về Thánh Thể. Thoạt nhìn thì hình như có một sự phân rẽ to tát giữa quan tâm mục vụ được tỏ ra nơi hoạt động của Thượng Nghị này và tinh thần của bộ qui tắc pháp lý nơi bản hướng dẫn “Dignitas Cunnubii”, hầu như chúng phản nghịch nhau.
Một đàng dường như Các Vị Nghị Phụ Thượng
Nghị này lên tiếng kêu gọi các tòa án của Giáo Hội hãy hết sức nỗ lực để bảo đảm
rằng các phần tử tín hữu không kết hôn theo giáo luật, sớm bao nhiêu có thể,
được bình thường hóa tình trạng hôn nhân của họ để trở lại với Bàn Tiệc Thánh
Thể.
Mặt khác, pháp chế của giáo luật và Bản Hướng dẫn mới đây dường như, trái lại, đặt giới hạn cho vấn đề cốt lõi về mục vụ này, như thể mối quan tâm chính là để tiến hành các thứ thủ tục về pháp lý được thấy trước, nhưng lại không lưu ý gì tới các mục đích mục vụ nơi tiến trình pháp lý này.
Ẩn nấp đằng sau đường lối này là một thứ
xung khắc được cho là xẩy ra giữa luật lệ và việc chăm sóc mục vụ nói chung. Ở
đây tôi không muốn đi sâu vào vấn đề đã được Đức Gioan Phaolô II đã bàn đến vào
một số dịp, nhất là trong bài huấn từ của ngài ngỏ cùng Pháp Tòa Rota Roma năm
1990 (cf. Jan. 18, 1990; L'Osservatore Romano
English edition, [ORE], Jan. 29, 1990, p. 6).
Trong cuộc gặp gỡ của tôi với quí vị lần đầu tiên đây, tôi muốn chú ý tới một khía cạnh tiêu biểu cho vấn đề gặp gỡ chính yếu giữa luật lệ và việc chăm sóc mục vụ, đó là việc yêu chuộng chân lý. Ngoài ra, bằng việc khẳng định này, tôi muốn liên kết trong tinh thần với chính những gì vị Tiền Nhiệm đáng kính của tôi đã nói với quí vị trong bài huấn từ của ngài năm ngoái (Jan. 29, 2005; ORE, Feb. 2, p. 3).
Những thủ tục theo giáo luật để hủy hôn chính yếu là phương tiện để bảo đảm sự thật về mối liên hệ phối ngẫu. Bởi thế, mục đích xây dựng của nó không được làm cho đời sống tín hữu trở thành phức tạp một cách vô ích, lại càng không làm tăng thêm việc tranh chấp kiện tụng của họ, mà là để phục vụ sự thật.
Ngoài ra, cơ cấu xét xử nói chung tự nó không phải là một phương tiện để làm thỏa mãn bất cứ một thứ khuynh hướng nào, mà là một khí cụ xứng đáng trong việc đáp ứng nhiệm vụ của đức công bằng để cống hiến cho mỗi người những gì xứng với họ.
Chính vì cơ cấu thiết yếu của mình mà việc xét xử thiết lập vì công lý và cho hòa bình. Thật thế, mục đích của các thủ tục là để công bố về sự thật bởi phía bất thiên vị thứ ba, sau khi đôi bên đã có cơ hội như nhau để trình bày lý lẽ và chứng cớ của mình hầu rộng đường bàn luận. Cuộc trao đổi ý nghĩ này bình thường là những gì cần thiết nếu vị thẩm phán muốn khám phá ra sự thật, nhờ đó, mới đi đến phán quyết chính trực. Bởi thế, hết mọi cơ chế xét xử cần phải nỗ lực để bảo đảm tính chất khách quan, nhanh chóng và hiệu năng nơi những quyết định của các vị thẩm phán.
Cả ở lãnh vực này nữa, mối liên hệ giữa đức tin và lý trí là những gì hết sức quan trọng. Nếu trường hợp xẩy ra tương hợp với lý trí đúng đắn, thì sự kiện Giáo Hội sử dụng những thủ tục pháp lý để giải quyết các vấn đề liên giáo hội có tính cách pháp lý thì không thể nào lại gây ra ngạc nhiên cả. Bởi thế mới có một truyền thống giờ đây đã trải qua bao thế kỷ và là truyền thống đã được bảo trì trong thời đại của chúng ta đây nơi các tòa án của giáo hội trên khắp thế giới.
Hơn nữa, cần phải nhớ rằng vào thời luật cổ điển thời trung cổ, giáo luật đã góp phần quan trọng vào việc làm trọn hảo cơ cấu tổ chức của chính việc xét xử.
Việc áp dụng luật ấy trong Giáo Hội, trước hết và trên hết, liên quan tới những trường hợp, vì vấn đề không được giải quyết, đôi bên có thể tiến tới một thỏa hiệp ổn định việc tranh chấp của họ, thế những vì những lý do khác nhau nó đã không xẩy ra.
Khi tìm cách quyết định những gì là đúng, chẳng những phải sử dụng tới các thủ tục không nhắm tới chỗ làm gia tăng những gì xung khắc, mà tìm cách làm cho những xung khắc ấy trở thành nhân bản hơn, bằng việc tìm kiếm những giải pháp khách quan thích đáng cho những đòi hỏi của công lý.
Dĩ nhiên, giải quyết này tự nó vẫn chưa đủ, vì con người cần yêu thương, nhưng khi bất khả tránh, thì vẫn cần phải theo đúng hướng.
Thật vậy, các việc xét xử cũng có thể bao gồm những vấn đề mà việc ổn định chúng vượt ngoài cả phạm vi của thành phần liên quan, vì những vấn đề ấy liên quan tới các thứ quyền lợi của toàn thể cộng đồng Giáo Hội. Tiến trình tuyên bố hủy hôn thực sự là thích hợp trong bối cảnh ấy: Thật vậy, hôn nhân theo chiều kích song hành của nó – tự nhiên và bí tích – không phải là những gì đôi phối ngẫu có thể tùy ý quyết định, hay, căn cứ vào tính chất xã hội và công khai của nó, không thể nghĩ ra một hình thức tự quyết nào đó.
Đến đây tự nhiên hiện lên nhận định thứ hai: đó là không một cuộc điều trần nào ở tòa án tự bản chất ‘chống lại’ với bên kia, như thể nó là vấn đề gây ra một thiệt hại bất công nào đó. Mục đích của việc xét xử không phải là để lấy mất một sự thiện khỏi bất cứ người nào mà là để thiết lập và bảo vệ con người và các tổ chức quyền làm chủ các sản vật.
Thêm vào vấn đề này, một vấn đề có hiệu lực nơi mọi cuộc xét xử, còn có một vấn đề khác chuyên biệt hơn nơi những giả thiết về việc hủy hôn. Ở đây, đôi bên không tranh giành một thứ sở hữu nào đó cần phải giành cho bên này hay bên kia. Mục đích của việc xét xử là để công bố sự thật liên quan tới tính chất hiệu thành hay bất hiệu thành của một cuộc hôn nhân thực sự, nói cách khác, là để công bố về thực tại làm nên cơ cấu gia đình, và là những gì sâu xa liên quan tới Giáo Hội cũng như xã hội dân sự.
Như thế, có thể nói rằng nơi kiểu mẫu xét xử này, chính Giáo Hội là nơi được yêu cầu thực hiện việc công bố ấy. Nếu tự nhiên cho rằng việc thành hiệu của một cuộc hôn nhân đã được chính thức thiết lập, thì vị Tiền Nhiệm của tôi là Giáo Hoàng Biển Đức XIV, một giáo luật gia ngoại hạng, đã nghĩ đến và buộc phải có trong những thủ tục ấy sự tham dự của biện hộ viên cho mối liên hệ này ở cuộc xét xử được nói tới (cf. apostolic constitution "Dei Miseratione," Nov. 3, 1741). Bởi thế, việc biện chứng của các thủ tục để biết chắc được sự thật sẽ được bảo đảm hơn nữa.
Như việc biện chứng của các thủ tục ấy dẫn chúng ta tới chỗ hiểu được tiêu chuẩn của việc tìm kiếm sự thật thế nào thì nó cũng có thể giúp chúng ta nắm được một khía cạnh khác của vấn đề pháp lý: đó là giá trị mục vụ của vấn đề pháp lý, một giá trị không thể được tách khỏi lòng mến yêu chân lý.
Thật thế, có thể xẩy ra trường hợp là đức ái về khía cạnh mục vụ đôi khi bị ô nhiễm bởi những thái độ ve vuốt chiều chuộng đôi bên. Những thái độ này có vẻ như là mục vụ song thực tế chúng không đáp ứng với sự thiện của cá nhân, hay với sự thiện của cộng đồng Giáo Hội; bằng việc tránh né đương đầu với sự thật cứu độ thì những thái độ ấy thậm chí trở thành những gì bất lợi cho việc gặp gỡ cứu độ của mỗi người với Chúa Kitô.
Nguyên tắc về tính cách bất khả phân ly của hôn nhân được Dức Gioan Phaolô II mạnh mẽ xác nhận (cf. addresses: Jan. 21, 2000, in ORE, Jan. 26, 2000, p. 1; Jan. 28, 2002, in ibid., Feb. 6, 2002, p. 6) liên quan tới tính cách nguyên vẹn của mầu nhiệm Kitô Giáo.
Tiếc thay, ngày nay, chúng ta có thể nhận thấy là sự thật này đôi khi bị lu mờ đi trong lương tâm của Kitô hữu và của con người thiện tâm. Vì chính lý do này mà việc phục vụ ấy, được cống hiến cho thành phần tín hữu cũng như cho những đôi phối ngẫu ngoài Kitô Giáo gặp khó khăn, là những gì gian xảo lọc lừa: Nó củng cố nơi họ, một cách ngấm ngầm, khuynh hướng quên đi tính cách bất khả phân ly của việc họ hiệp nhất.
Như thế, việc can thiệp khả dĩ của tổ chức giáo hội để hủy hôn có nguy cơ gặp thất bại.
Tuy nhiên, sự thật được tìm kiếm trong tiến trình hủy hôn không phải là một sự thật trừu tượng, một sự thật hoàn toàn tách khỏi sự thiện của cá nhân trong cuộc. Nó là một sự thật hoàn toàn thuộc về cuộc hành trình nhân bản và Kitô giáo của mỗi một người tín hữu. Bởi vậy, thật là quan trọng đối với vấn đề tuyên bố về sự thật này cần phải xẩy ra trong khoảng thời gian hữu lý.
Đấng Quan Phòng Thần Linh chắc chắn biết cách rút lấy sự thiện từ sự dữ, cho dù các cơ cấu của Giáo Hội có bỏ bê lơ là với nhiệm vụ của mình hay có vấp phạm lầm lẫn chăng nữa.
Tuy nhiên, cần phải mang hoạt động về cơ cấu của Giáo Hội nơi các pháp tòa của Giáo Hội gần gũi hơn nữa với thành phần tín hữu. Ngoài ra, cảm quan mục vụ này cần phải tiến tới chỗ tránh đi việc hủy hôn khi đôi phối ngẫu tìm cách lập gia đình, cũng như tới chỗ nỗ lực giúp các đôi phối ngẫu giải quyết các vấn đề có thể xẩy ra và tìm đường lối giải quyết hòa giải. Tuy nhiên, chính cái cảm quan mục vụ ấy đối với những trường hợp thực tế của cá nhân cần phải làm sao dẫn tới việc bảo toàn chân lý và áp dụng các qui tắc được qui định để bảo vệ nó trong cuộc xét xử.
Tôi hy vọng rằng những suy tư chia sẻ này là
những gì giúp quí vị hiểu hơn về cách thức làm thế nào lòng yêu chuộc sự thật có
thể nối kết giữa cơ cấu của việc cứu xét về giáo luật vấn đề hủy hôn, với cảm
quan mục vụ chân thực là những gì làm cho những việc cứu xét ấy linh động. Nhìn
theo chiều hướng ấy thì Bản Hướng Dẫn ‘Dignitas connubii’ và những quan tâm xuất
phát từ Cuộc Thượng Nghị Giám Mục mới đây, hoàn toàn hòa hợp với nhau vậy.
Quí bạn thân mến, Cộng Đồng Giáo Hội hết sức biết ơn quí bạn về việc quí bạn thận trọng thực hiện công việc cực nhọc và lôi cuốn mang lại mối hòa hợp ấy. Với niềm chân thành hy vọng là hoạt động pháp lý của quí bạn sẽ góp phần vào sự thiện của tất cả mọi người hướng đến quí bạn, và sẽ phấn khích họ trong việc họ riêng tư gặp gỡ Sự Thật là Chúa Kitô, tôi tri ân cảm mến ban phép lành cho quí bạn.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 14/2/2006
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI với Chư Hiệp Hội Lao Động Kitô Hữu Ý Quốc ngày 27/1/2006
Quí Huynh khả kính trong Hàng Giáo Phẩm và trong Hàng Giáo Sĩ,
Quí Phần Tử Chư Hiệp Hội Lao Động Kitô Hữu Ý Quốc thân mến,
Chúng ta hôm nay gặp nhau vào dịp mừng kỷ niệm 60 năm Chư Hiệp Hội Lao Động Kitô Hữu Ý Quốc. Tôi chào vị Chủ Tịch Luigi Bobba và hết lòng cám ơn ông về những lời lẽ lịch duyệt thực sự làm tôi cảm kích; tôi chào các vị lãnh đạo khác và chào từng quí vị. Tôi đặc biệt chào các vị Giám Mục và linh mục đi theo với anh chị em và quan tâm tới việc đào luyện tinh thần cho anh chị em.
Việc công đoàn của anh chị em ra đời là nhờ cái trực giác nhìn xa trông rộng của Đức Giáo Hoàng Piô XII đáng kính nhớ. Ngài đã ước mong hình thành một sự hiện diện hữu hình và hiệu năng của thành phần Công Giáo Ý nơi thế giới làm việc và đích thân cộng tác quí báu với Giovanni Battista Montini bấy giờ là Vị Thay Thế Quốc Vụ Khanh.
Mười năm sau đó, vào ngày 1/5/1955, cũng vì Giáo Hoàng này thiết lập Lễ Thánh Giuse Lao Động để vạch ra cho tất cả mọi thành phần lao động trên thế giới thấy đường lối thánh hóa bản thân bằng việc làm, nhờ đó phục hồi quan điểm về vấn đề nhân loại hóa chân chính cho tính cách cực nhọc của cuộc sống thường nhật.
Cả đến ngày hôm nay, vấn đề về việc làm, vấn đề chú trọng tới những thay đổi nhanh chóng và phức tạp, không bao giờ thôi kêu gọi lương tâm con người hãy suy nghĩ, và đòi thành phần lao động gắn chặt vào cái nguyên tắc căn bản cần phải hướng dẫn quyết định thực hành, đó là sự thiện của tất cả mọi con người cũng như của toàn thể xã hội.
Trong việc trung thành thực sự với dự án nguyên thủy của Thiên Chúa, tôi muốn lập lại nơi đây một cách ngắn gọn, với anh chị em và cho anh chị em, ba “cấp trật” hay “ba mức độ trung thực” mà trong quá khứ anh chị em đã dấn thân để hiện thực trong hoạt động đa dạng của anh chị em.
Sự trung thực thứ nhất đó là Chư Hiệp Hội Lao Động Kitô Hữu Ý Quốc được kêu gọi sống đó là trung thực với thành phần lao động. Con người là “tầm mức của giá trị việc làm” (Cuốn Tổng Tắt Tín Lý Xã Hội của Giáo Hội, đoạn 271). Đó là lý do, Huấn Quyền bao giờ cũng nhắc nhở chiều kích nhân bản của hoạt động việc làm, và đã tái hướng nó về mục đích thực sự của nó, song không quên rằng giáo huấn của Thánh Kinh về việc làm lên đến tuyệt đỉnh nơi giới răn về sự nghỉ ngơi. Bởi thế, muốn có được một Ngày Chúa Nhật không được tương đương với tất cả các ngày khác trong tuần là một quyết định văn minh.
Những thứ ưu tiên khác xuất phát từ tính cách chủ yếu của giá trị về đạo lý nơi lao công của con người. Con người ưu tiên hơn việc làm (xem Thông Điệp Laborem Exercens, đoạn 12), việc làm ưu tiên hơn vốn liếng (cùng nguồn), mục đích chung của sản vật ưu tiên hơn quyền sở hữu về tư sản (cùng nguồn đoạn 14), tóm lại, cái là ưu tiên hơn cái có (cùng nguồn đoạn 20).
Cái cấp trật này của vấn đề ưu tiên hiển nhiên cho thấy là môi trường làm việc hoàn toàn thuộc về vấn đề của nhân loại học.
Ngày nay, đang xẩy ra trong lãnh vực này một bao hàm mới mẻ chưa hề thấy về vấn đề xã hội liên quan tới việc bảo vệ sự sống. Chúng ta sống trong một thời điểm được khoa học và kỹ thuật cống hiến những cơ hội để cải tiến cuộc sống của hết mọi người. Thế nhưng, việc méo mó sử dụng quyền năng này có thể trở thành mối đe dọa trầm trọng và bất khả chữa trị liên quan tới định mệnh của chính sự sống.
Thế nên, cần phải tái thẩm định giáo huấn của Đức Gioan Phaolô thân yêu, vị đã xin chúng ta hãy coi sự sống như là một biên cương mới của vấn đề xã hội (x Thông Điệp Phúc Âm Sự Sống, đoạn 20).
Việc bảo vệ sự sống từ lúc nó được thụ thai cho tới khi nó tự nhiên qua đi và ở bất cứ nơi nào nó bị đe dọa nó, xúc phạm hay bị chà đạp, là phận vụ tiên khởi cần đến một thứ đạo lý chân thực về trách nhiệm, một thứ đạo lý trách nhiệm phải nhất trí bao gồm tất cả mọi hình thức nghèo khổ, bất công và loại trừ khác nữa.
“Sự trung thực” thứ hai tôi muốn đề nghị với anh chị em đó là – hợp với tinh thần của Chư Vị Sáng Lập của anh chị em – sự trung thực với tính cách dân chủ là tính cách duy nhất có thể bảo đảm sự quân bình và các thứ quyền lợi cho hết mọi người.
Thật vậy, có một thứ lệ thuộc hỗ tương giữa tính cách dân chủ và công lý thúc bách mọi người phải hoạt động một cách hữu trách để bào toàn quyền lợi của mỗi người, nhất là những quyền lợi của thành phần yếu kém và sống bên lề xã hội.
Không được quên rằng việc tìm kiếm sự thật đồng thời là điều kiện tạo cơ hội cho một thứ dân chủ thực sự chứ không phải chỉ hiển nhiên mà thôi: “Như lịch sử cho thấy, một nền dân chủ thiếu mất các thứ giá trị thì dễ trở thành một thứ chuyên chế công khai hay mập mờ nào đó” (Thông Điệp Centesimus Annus, đoạn 46).
Từ đó mới đi đến chỗ mời gọi hãy làm việc, hãy gia tăng việc ưng thuận về một nội dung của những gì liên quan chung, bằng không lời kêu gọi thực hiện dân chủ có nguy cơ trở thành một thuần lễ nghi theo phương thức kéo dài những khác biệt và làm tăng bội những trục trặc.
Công việc thứ ba là sự trung thực với Giáo Hội. Chỉ khi nào gắn bó một cách thân thương và tha thiết với cuộc hành trình của Giáo Hội mới bảo đảm là cái căn tính thiết yếu được thể hiện ở mọi môi trường xã hội trên thế giới không bị mất đi mùi vị của Phúc Âm.
Không phải tình cờ mà Đức Gioan Phaolô II đã ngỏ những lời này cho anh chị em hôm 1/5/1995, đó là “Chỉ một mình Phúc Âm mới là những gì canh tân Chư Hiệp Hội Lao Động Kitô Hữu Ý Quốc”; những lời ấy vẫn cho thấy đường lối chính yếu cho Hiệp Hội của anh chị em, vì chúng phấn khích anh chị em hãy lấy Lời Chúa làm tâm điểm của đời sống anh chị em và hãy coi việc truyền bá phúc âm hóa là yêu tố nguyên vẹn nơi sứ vụ của anh chị em.
Bởi thế, sự hiện diện của các vị linh mục như những vị hướng đạo thiêng liêng giúp anh chị em thực hiện việc liên hệ tối đa của anh chị em với Giáo Hội địa phương và củng cố việc dấn thân của anh chị em cho vấn đề đại kết cũng như vấn đề đối thoại liên tôn.
Là thành phần lao động và giáo dân Kitô hữu hiệp hội, anh chị em bao giờ cũng phải chịu khó thực hiện việc đào luyện cho các phần tử và lãnh đạo của mình, nhắm tới việc phục vụ đặc biệt anh chị em được kêu gọi tới thực hiện. Là thành phần nhân chứng của Phúc Âm và là những người thêu dệt các mối liên hệ huynh đệ, anh chị em hãy hiện diện cách can đảm ở các lãnh vực quan trọng trong đời sống xã hội.
Quí bạn thân mến, đề tài chính của việc cử niệm mừng 60 năm của anh chị em đây là việc tái dẫn giải ý nghĩa cho những “sự trung thực” lịch sử này, mang lại tính cách chính đáng cho công tác thứ tư được Vị Đáng Kính Gioan Phaolô II đã thúc giục anh chị em làm đó là “nới rộng giới hạn hoạt động xã hội của anh chị em” (Address to the ACLI, 27 April 2002; L'Osservatore Romano English edition, 12 June, n. 4, p. 11).
Chớ gì việc dấn thân này cho tương lai của nhân loại luôn được niềm hy vọng Kitô Giáo làm cho sinh động. Nhờ đó cả anh chị em nữa, như thành phần nhân chứng của Chúa Giêsu Phục Sinh, Niềm Hy Vọng của thế giới, sẽ giúp ghi khắc một sinh lực mới trên quyền thống của Chư Hiệp Hội Lao Động Kitô Hữu Ý Quốc, và có thể hợp tác theo tác động của Thánh Linh để canh tân bộ mặt trái đất.
Xin Thiên Chúa hỗ trợ anh chị em và Đức Trinh Nữ bảo vệ anh chị em, gia đình anh chị em và tất cả mọi dự phóng của anh chị em. Tôi thân ái chúc lành cho anh chị em, tôi hứa đặc biệt nhớ đến anh chị em trong lời nguyện cầu của tôi.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2006/january/documents/hf_ben-xvi_spe_20060127_acli_en.html
Trọng Kính Ngài Tôn Sư Trưởng,
Quí Bạn Thân Mến: “Nguyện Chúc Bình An!”
“Chúa là sức mạnh của tôi và là bài ca của tôi, Ngài đã trở nên phần rỗi cho tôi” (Ex 15:2): Đây là bài ca của Moisen và con dân Yến Duyên, khi Chúa cứu dân Ngài khi họ băng qua biển cả đại dương. Isaia cũng đã hát như thế: “Này đây, Thiên Chúa là Đấng cứu độ của tôi; tôi sẽ tin tưởng và không hãi sợ; vì Chúa là Thiên Chúa trở thành sức mạnh và bài ca của tôi, và Ngài đã trở nên phần rỗi cho tôi” (12:2).
Việc quí bạn đến viếng thăm làm tôi hết sức vui mừng, và nó khiến tôi phải lập lại cùng quí bạn bài ca tạ ơn cho phần rỗi này. Nhân dân Yến Duyên đã được giải thoát nhiều lần khỏi bàn tay của các kẻ thù địch họ, và trong những lúc thê thảm của Shoah, bàn tay của Đấng Toàn Năng đã hướng dẫn và nâng đỡ họ. Hồng ân của Vị Thiên Chúa Giao Ước luôn hỗ trợ họ, ban cho họ sức mạnh để thắng vượt các cuộc thử thách. Cộng đồng Do Thái của quí bạn, hiện diện ở Rôma đây trên 2000 năm nay, cũng mang chứng từ cho việc chú ý ưu ái này của Thiên Chúa.
Giáo Hội Công Giáo gần gũi quí bạn và là thân hữu của quí bạn. Phải, chúng tôi yêu mến quí bạn và không thể nào không yêu mến quí bạn, “nơi các vị Cha Ông”: Vì các vị mà quí bạn là những người rất thân ái đối với chúng tôi và là những người anh em thân thương (x Rm 11:28b). Sau Công Đồng Chung Vaticanô II, việc quí mến và tin tưởng hỗ tương này giữa chúng ta đã tăng tiến. Những liên lạc huynh đệ hơn và thân ái hơn đã phát triển, trở nên gia tăng thậm chí hơn nữa trong giáo triều của vị tiền nhiệm tôi là Đức Gioan Phaolô II.
Trong Chúa Kitô, chúng tôi được tham dự vào gia sản của các Vị Cha Ông, để “đồng lòng” (Zep 3:9) phụng sự Đấng Toàn Năng, được ghép thành một “cây thánh” dân Chúa duy nhất. Là Kitô hữu, sự kiện này khiến chúng tôi nhận thức rằng, với quí bạn, chúng tôi được thông phần vào trách nhiệm hợp tác cho thiện ích của tất cả mọi dân tộc, trong công lý và hòa bình, trong sự thật và tự do, trong thánh thiện và yêu thương.
Chú ý tới sứ vụ chung này, chúng tôi không thể nào không lên án và mạnh mẽ chiến đấu chống lại hận thù và hiểu lầm, bất công và bạo lực đang là những gì làm cho tâm hồn của thành phần nam nữ thành tâm thiện chí lo âu. Như thế, làm sao chúng tôi lại không đau khổ và quan tâm tới những hình thức mới mẻ bài Do Thái cho được?
Trọng kính Ngài Tôn Sư Trưởng, cách đây ít lâu, ngài đã được ủy thác cho việc hướng dẫn tinh thần cho cộng đồng Do Thái Rôma; ngài đã lãnh nhận trách nhiệm này với đầy những kinh nghiệm của mình là một nhà học giả và là một tiến sĩ, vị đã chia sẻ niềm vui nỗi buồn của rất nhiều người. Tôi xin gửi đến ngài những lời chúc mừng tốt đẹp nhất cho sứ vụ của ngài và xin ngài hãy tin tưởng vào lòng quí mến và thân tình của tôi cùng những người cộng tác với tôi. Có nhiều nhu cầu và thách đố ở Rôma cũng như trên thế giới đang mời gọi chúng ta hãy liên kết bàn tay và tấm lòng trong những hoạt động cụ thể của tình đoàn kết, cống lý (“tzedek”) và bác ái (“tzedekah”). Cùng nhau chúng ta có thể thực hiện việc chuyển giao ngọn đuốc Thập Giới và niềm hy vọng cho các thế hệ trẻ.
Xin Đấng Hằng Hữu chăm sóc ngài cùng toàn thể cộng đồng Do Thái Rôma! Trong giây phút đặc biệt này đây, tôi muốn sử dụng lại lời nguyện cầu của Giáo Hoàng Clêmentê I, xin phúc lành của Trời Cao đổ xuống trên quí bạn. “Xin ban cho chúng tôi và tất cả những ai sống trên trái đất này sự hòa hợp và an bình, như Ngài đã ban cho cha ông chúng tôi khi các vị kêu cầu danh Ngài trong tin tưởng và chân lý” ("To the Corinthians" 60,4). "Shalom – Nguyện Chúc Bình An!"
Vị Tôn Sư
Trưởng đã ngỏ lời cám ơn ĐTC về lời công khai tỏ ra cương quyết chống việc bài
Do Thái và nạn khủng bố cực đoan.
Về vấn đề liên hệ giữa Giáo Hội Công Giáo và Do Thái Giáo đã được Đức Gioan Phaolô II phát động, vị tôn sư trưởng này nhìn nhận rằng:
“Từ giây phút đầu tiên của tân giáo triều này, vấn đề xác tín đã trở nên sáng tỏ, đó là chẳng những không lùi bước trước con đường đang tiến tới mà con tiếp tục con đường đã thực hiện nữa. Niềm xác tín này của chúng tôi được xác quyết bởi nhiều hành động của ngài, bởi nhiều lời phát biểu của ngài, bởi cảm tính bài bác việc bài Do Thái quá khứ và hiện tại, bởi việc lên án nạn khủng bố cực đoan, và bởi việc chú trọng tới quốc gia Do Thái, tất cả đều là những cứ điểm thiết yếu và chính yếu đối với nhân dân Do Thái vậy”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 16/1/2006
Quí Vị Lãnh Sự, Quí Bà và Quí Ông,
Tôi hân hoan chào đón tất cả quí vị hiện diện trong cuộc gặp gỡ theo truyền thống này giữa Giáo Hoàng và Phái Đoàn Ngoại Giao Chư Quốc làm việc với Tòa Thánh. Sau việc chúng tôi cử hành các đại lễ Kitô Giáo là Giáng Sinh và Hiển Linh, Giáo Hội tiếp tục lấy sinh lực từ niềm vui do các ngày lễ này mang lại: niềm vui ấy là những gì lớn lao, vì nó xuất phát từ sự hiện diện của Emmanuel – Thiên Chúa ở với chúng ta – thế nhưng nó cũng là những gì âm thầm lặng lẽ, vì nó được nghiệm cảm trong khung cảnh nội bộ của Thánh Gia, một gia đình sống giản dị và gương mẫu được Giáo Hội làm sống lại một cách sâu đậm vào thời điểm này. Tuy nhiên, nó cũng là niềm vui cần phải được truyền đạt, vì niềm vui chân thực không thể bị cô lập hóa mà lại không trở thành phai nhạt và tàn tạ. Bởi vậy, tôi xin chúc niềm vui Kitô Giáo đến tất cả quí vị Lãnh Sự, cũng như tới nhân dân và Chính Quyền được quí vị xứng đáng đóng vai đại diện, cho gia đình thân yêu của quí vị và cho thân hữu của quí vị. Chớ gì nó là niềm vui của tình yêu thương huynh đệ được Chúa Kitô mang đến, một niềm vui phong phú phong phú về các giá trị chân thực và được chia sẻ một cách cởi mở và quảng đại; chớ gì nó ở với quí vị và hằng ngày gia tăng thêm trong năm vừa được bắt đầu.
Quí Vị Lãnh Sự, Vị Niên Trưởng của quí vị đã chuyển những lời chào chúc tốt đẹp của Phái Đoàn Ngoại Giáo bày tỏ một cách tốt đẹp những niềm cảm mến của quí vị. Tôi xin cám ơn vị niên trưởng và cám ơn quí vị. Ông cũng đề cập tới một số trong nhiều vấn đề trầm trọng đang hành khổ thế giới ngày nay. Chúng là mối quan tâm đối với quí vị cũng như đối với Tòa Thánh và Giáo Hội Công Giáo khắp thế giới, mối quan tâm liên kết với hết mọi hình thức khổ đau, với mọi niềm hy vọng và với hết mọi nỗ lực kèm theo lịch sử của con người. Bởi thế chúng ta cảm thấy liên kết lại trong cùng một sứ vụ chung, một sứ vụ để đương đầu với những thách đố luôn mới mẻ và dữ dội. Tuy nhiên, chúng ta tin tưởng nói đến chúng, nhiệt tình nâng đỡ nhau – mỗi người theo trách nhiệm xứng hợp của mình – trên con đường chúng ta tiến tới các mục tiêu cao cả chung.
Tôi đã nói tới “sứ vụ chung của chúng ta”. Và nó là gì, nếu không phải là sứ vụ hòa bình? Công việc của Giáo Hội không là gì khác ngoài việc quảng bá sứ điệp của Chúa Kitô, Đấng đã đến, như Thánh Phaolô viết trong Thư gửi tín hữu Êphêsô, để loan báo hòa bình cho những ai ở xa cũng như những người ở gần (x 2:17). Phần quí vị, thành phần Đại Diện Ngoại Giáo đáng kính của nhân dân quí vị, theo các qui định của quí vị (Hiệp Định Vienna về Những Liên Hệ Ngoại Giao) quí vị có được điều này nơi những mục đích cao quí của quí vị, đó là việc cổ võ những mối liên hệ quốc tế thân tình. Trên nền tảng này hòa bình thực sự mới phát triển.
Hòa bình, than ôi, đang bị trở ngại hay phá hãi hoặc bị đe dọa ở nhiều phần đất trên thế giới. Đâu là đường lối dẫn đến hòa bình? Trong Sứ Điệp tôi gửi cho Ngày Thế Giới Hòa Bình năm nay, tôi đã nói rằng: ‘Bất cứ ở đâu và bất cứ khi nào con người nam nữ được soi động bằng ánh quang chân lý, thì họ mới có thể bắt đầu con đường hòa bình’ (đoạn 3). Hòa Bình trong chân lý”.
Việc dấn thân cho sự thật là linh hồn của công lý.
Điểm thứ nhất đó là việc dấn thân cho sự thật là linh hồn của công lý. Những ai dấn thân cho sự thật không thể nào kại không loại trừ đi luật của sức mạnh là thứ luật bắt nguồn từ dối trá và rất hay thường gây thê lương cho lịch sử của con người, quốc gia cũng như quốc tế. Cái dối trá này thường tỏ mình ra như là chân lý, nhưng thực tế bao giờ nó cũng là những gì chọn lựa và có dụng ý, vị kỷ mưu đồ mạo dụng con người, để rồi cuối cùng khống chế con người. Những chế độ chính trị trong quá khứ, song không phải chỉ có trong quá khứ, đã là một điển hình xót xa về điều này. Ngược lại, có sự thật và sự trung thực là những gì dẫn đến việc gặp gỡ người khác, dẫn đến việc chân nhận và cảm thông: sự thật không thể nào không tỏa ra qua ánh quang nổi bật của mình – rạng ngời chân lý splendor veritatis; và lòng mến yêu sự thật tự bản chất là những gì hướng tới sự hiểu biết cũng như việc tái hữu nghị một cách chính đáng và vô tư không thiên vị, cho dù có khó khăn mấy đi nữa.
Kinh nghiệm của quí vị là thành phần ngoại giao có thể khẳng định rằng, nơi cả những liên hệ quốc tế nữa, nhờ việc tìm kiếm chân lý, người ta mới có thể thấy được những sắc thái tinh tế nhất của tính cách đa dạng, cùng với những đòi hỏi bởi đó mà ra, do đó cũng thấy cả những giới hạn cần phải tôn trọng, không được vượt quá, để bảo vệ những gì là ích lợi hợp lý. Việc tìm kiếm chân lý này đồng thời cũng dẫn quí vị tới việc mạnh mẽ chủ trương rằng cần phải tôn trọng cả những gì chung, liên quan tới chính bản tính của con người, của tất cả mọi dân tộc và mọi văn hóa. Chỉ khi nào những khía cạnh về tính cách đa dạng và bình đẳng này – những gì biệt phân nhưng bổ túc – được nhận biết và công nhận, bấy giờ mới giải quyết được những trục trặc và mới ổn định được những bất đồng theo công lý, và mới có được những cảm thông sâu xa bền vững. Ngược lại, khi nào một trong chúng bị hiểu lầm hay không được trân trọng xứng đáng, thì hiểu lầm sẽ xuất hiện cùng với tình trạng xung khắc và khuynh hướng sử dụng bạo lực để áp đảo.
Đối với tôi, căn cứ vào những điều cân nhắc ấy, thì một điển hình hầu như đệ nhất trong cái cảnh tượng kinh động của thế giới đó là Thánh Địa. Ở đó, Nước Do Thái cần phải được sống bằng an hợp với các qui chuẩn quốc tế; ở đó, cũng thế, nhân dân Palestine cần phải làm sao có thể phát triển một cách yên hàn những cơ cấu dân chủ của mình cho một tương lai tự do và thịnh vượng.
Những điều cân nhắc ấy cũng áp dụng rộng rãi hơn vào bối cảnh hoàn vũ ngày nay, một bối cảnh đã thực sự kéo chú ý tới mối nguy hiểm của một thứ đụng độ về các nền văn minh. Mối nguy hiểm này lại càng trở nên kịch liệt hơn bởi nạn khủng bố có tổ chức, một nạn khủng bố đã lan tràn khắp thế giới này. Những căn nguyên của nó thì nhiều và phức tạp, không phải chỉ có những căn nguyên liên quan tới ý hệ chính trị được lồng với những chủ trương đạo giáo lầm lẫn. Nạn khủng bố không nương tay tấn công cả thành phần bất khả tự vệ, bất kể là ai, hay áp đặt những thứ đe dọa vô nhân, gây hoảng sợ trong dân chúng, để bắt buộc các nhà lãnh đạo chính trị phải đáp ứng những mưu đồ của thành phần khủng bố. Không có một trường hợp nào lại có thể biện minh cho cái hoạt động tội ác như thế, một hoạt động che chở cho thành phần gây ra những điều ô nhục bỉ ổi, và nó lại càng tệ hại hơn nữa khi nó mang cái mặt nạ tôn giáo, khiến sự thật tinh tuyền về Thiên Chúa bị hạ xuống tầm mức của cái mù quáng và việc xuyên tạc về luân lý của thành phần khủng bố.
Việc dấn thân cho sự thật về phía sứ vụ Ngoại Giao, cả ở mức độ song phương lẫn đa phương, là những gì thiết yếu có thể cống hiến vào việc hòa giải những khác biệc bất khả phủ nhận giữa các dân tộc ở những phần đất khác nhau trên thế giới cũng như những nền văn hóa của họ, chẳng những ở chỗ chung sống thuận hòa mà còn hợp với dự án cao cả hơn và phong phú hơn của nhân loại nữa. Ở những thế kỷ qua, các thứ trao đổi về văn hóa giữa Do Thái Giáo và Triết Lý Hy Lạp, giữa thế giới Rôma, thế giới Đức và thế giới Slav, cũng như giữa thế giới Ả Rập và thế giới Âu Châu, đã làm phong phú cho văn hóa và đã làm thuận lợi cho các thứ khoa học và các nền văn minh. Điều này cần phải được tái thực hiện cả ở ngày hôm nay nữa, thậm chí còn hơn thế nữa, vì những cơ hội trao đổi và tương kiến trở nên thuận lợi hơn nhiều. Để đạt được mục đích ấy, trước hết ngày nay cần phải loại bỏ đi những gì làm ngăn trở việc thông tin qua báo chí và kỹ thuật truyền thông tân tiến, lại còn cần phải gia tăng việc trao đổi giữa thành phần học giả và sinh viên ở các phân khoa đại học về nhân bản trong các miền văn hóa khác nhau.
Việc dấn thân cho sự thật là những gì thiết lập và củng cố quyền tự do
Điểm thứ hai tôi muốn nói tới là thế này: việc dấn thân cho sự thật là những gì thiết lập và củng cố quyền tự do. Cái cao cả đặc thù của con người trên hết là ở khả năng nhận biết chân lý. Và con người muốn biết sự thật. Tuy nhiên, sự thật chỉ có thể đạt được trong tự do. Điều này áp dụng cho tất cả mọi sự thật, như hiển nhiên thấy nơi lịch sử của khoa học; thế nhưng nổi bật nhất là những sự thật mà trong đó chính bản thân thực sự của con người lại đang gặp nguy hiểm, những sự thật về thần linh, những sự thật về thiện ác, về những mục đích cao cả và về chân trời của cuộc sống, về những liên hệ giữa chúng ta với Thiên Chúa. Những sự thật này không thể đạt tới mà lại không mang lại thành quả sâu xa cho đường lối sống của chúng ta. Và một khi được tự do chiếm đoạt, chúng đòi hỏi một phạm vi rộng lớn của tự do, nếu chúng được sống một cách xứng hợp với hết mọi chiều kích của đời sống con người.
Đó là nơi mà hoạt động của mọi Quốc Gia, và sinh hoạt ngoại giao giữa các Quốc Gia theo bản chất của mình phải thực hiện. Trong việc phát triển luật lệ quốc tế ngày nay, càng ngày càng hiển nhiên thấy được rằng không một Chính Quyền nào có thể cảm thấy tránh khỏi việc lơ là với nhiệm vụ của mình, trong việc bảo đảm những điều kiện tự do xứng hợp giành cho thành phần công dân của mình, nhờ đó mới không tác hại tới uy tín của mình trong việc lên tiếng về các vấn đề quốc tế. Đúng thế, vì trong việc bảo toàn các thứ quyền lợi thuộc về con người như thế, các thứ quyền lợi được quốc tế bảo đảm như thế, là con người dĩ nhiên cần phải ưu tiên chú trọng tới việc bảo đảm các quyền lợi tự do trong từng Quốc Gia, trong đời sống chung riêng, trong những mối liên hệ về kinh tế và chính trị, cũng như nơi các lãnh vực về văn hóa và tôn giáo. Về vấn đề này, chính quí vị đã thừa biết rằng vì chính bản chất của mình mà hoạt động ngoại giao của Tòa Thánh là những gì liên quan tới việc cổ võ, trong số các hình thức khác của tự do, khía cạnh tự do về tôn giáo. Tiếc thay, ở một số Quốc Gia, thậm chí nơi những quốc gia có thể hãnh diện về truyền thống văn hóa ngàn năm thì tự do tôn giáo chẳng những không được bảo đảm mà lại còn bị vi phạm trầm trọng nữa, nhất là ở những nơi có thành phần thiểu số. Ở đây tôi chỉ xin nhắc lại những gì đã được phác họa rất rõ ràng trong Bản Hiến Chương Chung về Nhân Quyền. Các quyền lợi căn bản của con người đều là những gì giống nhau ở mọi nơi; trong đó, cần phải chú trọng tới vị trí cao cả của quyền tự do tôn giáo, vì nó bao gồm những mối liên hệ quan trọng nhất của con người, đó là mối liên hệ giữa chúng ta với Thiên Chúa. Tôi xin nói cùng tất cả những ai có trách nhiệm với đời sống của Chư Quốc là, nếu quí vị không sợ sự thật thì quí vị chẳng lo gì tự do! Tòa Thánh, trong việc yêu cầu quyền tự do chân thực cho Giáo Hội Công Giáo ở khắp nơi cũng yêu cầu quyền tự do ấy cho hết mọi người nữa.
Việc dấn thân cho chân lý là những gì mở đường cho thứ tha và hòa giải
Giờ đây tôi sang tới điểm thứ ba, đó là việc dấn thân cho chân lý là những gì mở đường cho thứ tha và hòa giải. Cái liên kết cần thiết giữa hòa bình và việc dấn thân cho chân lý này đã làm xuất phát ra tình trạng chống đối như thế này, đó là những xác tín khác nhau về chân lý gây ra những thứ căng thẳng, hiểu lầm, tranh cãi, và nếu tất cả những tình trạng ấy càng trở nên nghiêm trọng hơn thì các niềm xác tín lại càng sâu xa hơn ở bên trong những tình trạng ấy. Theo giòng lịch sử thì những cái khác biệt ấy đã gây ra những cuộc đụng độ bạo lực, những cuộc xung đột về xã hội và chính trị, thậm chí những trận chiến tranh về tôn giáo nữa. Đó là sự thật không thể phủ nhận, thế nhưng, trong tất cả những trường hợp như thế, nó là thành quả của một chuỗi những nguyên nhân đồng phát chẳng dính dáng mấy hay chẳng dính dáng gì tới sự thật hay tôn giáo cả, mà do đó bao giờ nó cũng chỉ vì phương tiện được sử dụng không thích hợp với việc chân thành dấn thân cho chân lý hay với việc tôn trọng tự do theo đòi hỏi của chân lý. Đây là vấn đề liên quan tới Giáo Hội Công Giáo, liên quan tới những lầm lẫn trầm trọng xẩy ra trong quá khứ bởi một số phần tử của Giáo Hội cũng như bởi những tổ chức của Giáo Hội, Giáo Hội đã lên án những lầm lỗi ấy và đã không ngần ngại lên tiếng xin thứ tha. Điều này là những gì cần phải thực hiện theo đòi hỏi của việc dấn thân cho chân lý.
Việc xin tha thứ, và việc thứ tha nữa cũng là một nhiệm vụ – vì hết mọi người đều bao gồm nơi lời Chúa Kitô khuyên can là: ai không có tội thì hãy ném đá trước đi (x Jn 8:7) – là những yếu tố bất khả châm chước cho hòa bình. Nhờ đó, ký ức chúng ta được thanh tẩy, tâm hồn chúng ta được yên hàn, và ánh mắt của chúng ta sáng ngời gắn chặt vào những đòi hỏi của chân lý nếu chúng ta cần phải gieo vãi tư tưởng về hòa bình. Ở đây tôi xin nhắc lại những lời lẽ khôn ngoan của Đức Gioan Phaolô II: “Không thể nào có hòa bình nếu không có công lý, không thể nào có công lý mà lại thiếu thưa tha” (Sứ Điệp cho Ngày Hòa Bình Thế Giới 2002). T6oi xin lập lại những lời này một cách khiêm nhượng và với lòng sâu xa yêu mến với các vị lãnh đạo chư quốc, nhất là với những nơi đau thương nhất bởi các cuộc xung đột về thể lý và luân lý và cần đến hòa bình nhất. Người ta nghĩ ngay tới nơi sinh hạ của Chúa Giêsu Kitô, Ông Hoàng của Bình An, Đấng đã ban cho tất cả mọi người một sứ điệp hòa bình và thứ tha; người ta nghĩ tới Lebanon là nơi nhân dân nước này, nhờ việc hỗ trợ của tình đoàn kết quốc tế, cần phải tái khám phá ra ơn gọi lịch sử của mình trong việc cổ võ vấn đề hợp tác chân thành và tốt đẹp giữa các cộng đồng tôn giáo khác nhau; và tới toàn thể Trung Đông, nhất là Iraq là cái nôi của các nền văn minh cao cả, nơi mà trong mấy năm qua hằng ngày đã trải qua những hành động bạo lực của nạn khủng bố. Người ta nghĩ tới Phi Châu, nhất là các xứ sở thuộc vùng Đại Hồ là nơi vẫn còn chịu đựng những hậu quả thê thảm của những thứ chiến tranh huynh đệ tương tàn trong những năm gần đây; tới nhân dân Darfur bất khả tự vệ, đang trải qua cuộc bạo lực tệ hại, gây những âm hưởng nguy hiểm cho quốc tế; và tới nhiều quốc gia khác khắp thế giới đang là khấu trường cho cuộc xung đột bạo lực.
Chắc chắn một trong những mục đích cao cả của việc ngoại giao cần phải thực hiện đó là dẫn tất cả mọi bên trong cuộc xung đột hiểu được rằng, nếu họ muốn dấn thân cho hòa bình thì họ cần phải nhìn nhận lầm lỗi – không phải chỉ có lỗi lầm của kẻ khác – hay không chối từ hướng tới việc thứ tha, cả khi được yêu cầu lẫn khi ban phát. Việc dấn thân cho sự thật – một việc chắc chắn là thiết tha đối với tâm can của họ – là những gì triệu tập họ tới hòa bình bằng việc thứ tha. Việc đổ máu không đòi phải trả đũa mà là van xin việc tôn trọng sự sống, tgôn trọng hòa bình! Chớ gì Ủy Ban Thiết Lập Hòa Bình mới được Tổ Chức Liên Hiệp Quốc thiết lập hiệu nghiệm đáp ứng nhu cầu căn bản này của loài người, bằng việc tất cả mọi phần tử liên hệ sẵn lòng cộng tác.
Việc dấn thân cho hòa bình mở đường cho những niềm hy vọng mới.
Giờ đây, Thưa Quí Vị Lãnh Sự, tôi xin nói đến điểm cuối cùng: đó là việc dấn thân cho hòa bình mở đường cho những niềm hy vọng mới. Ở một nghĩa nào đó thì đây là điểm đúc kết tất cả những gì tôi nói tới. Con người có khả năng biết được sự thật! Họ có một khả năng liên quan tới các vấn đề quan trọng đối với hữu thể và tác hành: là một cá nhân và là một phần tử của xã hội, hoặc một nước hay toàn thể nhân loại. Hòa bình, những gì họ có thể và cần phải dấn thân cho, không phải chỉ là tình trạng im hơi lặng tiếng cuộc đụng chạm vũ khí; hơn thế nữa, nó là một thứ hòa bình có thể phấn khích những nghị lực mới trong các mối liên hệ quốc tế, những mối liên hệ trở thành phương tiện gìn giữ hòa bình. Thế nhưng, điều này có thể xẩy ra nếu những mối liên hệ ấy đáp ứng sự thật về con người và về phẩm giá của họ. Bởi thế mà người ta không thể nói về hòa bình ở những trường hợp con người thiếu thốn cả đến những nhu cầu căn bản nhất để sống xứng với phẩm giá của họ. Ở đây, tôi nghĩ tới vô vàn con người đang chịu đựng đói khổ. Không thể nói rằng họ sống trong hòa bình, cho dù họ không ở trong tình trạng chiến tranh: thật vậy họ là những nạn nhân bất khả tự vệ của chiến tranh. Ngay sau đó là những hình ảnh buồn thảm của các trại khổng lồ khắp thế giới cho những người di tản và tị nạn, thành phần sống trong những điều kiện hết sức cố gắng để thoát khỏi số phận tệ hại song vẫn sống trong cảnh thiếu thốn thảm khốc. Chẳng lẽ những con người này không phải là anh chị em của chúng ta hay sao? Con cái của họ không vào đời có cùng những niềm mong đợi được hạnh phúc như những đứa trẻ khác hay sao? Người ta cũng có thể nghĩ tới tất cả những ai bị những điều kiện sinh sống bất xứng buộc phải di tản xa nhà cửa và gia đình, ôm niềm hy vọng có được một cuộc sống nhân bản hơn. Chúng ta cũng không bỏ qua được nạn buôn người vẫn còn là những gì hổ ngươi ô nhục trong thời đại của chúng ta.
Trước những “thứ nguy ngập về nhân đạo” này cũng như những thảm trạng nhân bản khác, nhiều người thiện tâm, cùng với các tổ chức quốc tế và các cơ quan phi chính phủ khác nhau, thật sự đã tỏ ra đáp ứng. Thế nhưng vẫn cần phải cố gắng nhiều hơn nữa từ toàn thể cộng đồng ngoại giao để cương quyết trong chân lý và can đảm quảng đại khắc phục những chướng vật vẫn còn cản trở những giải quyết nhân đạo hiệu nghiệm. Và sự thật đòi hỏi là không một Quốc Gia trù phú nào chối bỏ trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong việc ra tay giúp đỡ, bằng cách trích ra một cách quảng đại hơn nữa các nguồn lợi của mình. Căn cứ vào những dữ kiện thống kê sẵn có, có thể nói rằng gần một nửa số lượng khổng lồ chi phí trên thế giới cho vấn đề vũ trang quá đủ để giải thoát vô số nhiều người nghèo khỏi cảnh cơ cực. Đây là điều thách đố lương tâm nhân loại. Việc dấn thân chung của chúng ta cho sự thật có thể và cần phải mang lại niềm hy vọng mới cho những người sống dưới mức nghèo khổ, phần nhiều là do bởi những mối liên hệ chính trị, thương mại và văn hóa quốc tế, hơn là bởi những hoàn cảnh vượt ra ngoài khả năng kiểm soát của họ.
Quí Vị Lãnh Sự!
Trong việc Hạ Sinh của Chúa Kitô, Giáo Hội thấy rằng lời tiên tri của Thánh Vịnh Gia đã nên trọn, đó là “tình thương và lòng trung thành gặp nhau; công lý và hòa bình ôm lấy nhau; chân lý từ đất vọt lên và công lý từ trời nhìn xuống” (85:10-11). Khi chú giải những lời được linh ứng này, vị Đại Giáo Phụ của Giáo Hội là Âu Quốc Tinh, khi bày tỏ niềm tin tưởng của toàn thể Giáo Hội, đã kêu lên rằng: “Chân lý thật sự đã vọt lên từ đất, đó là Chúa Kitô, Đấng đã tự xưng: ‘Thày là Sự Thật’, đã được hạ sinh bởi Vị Trinh Nữ” (Bài Giảng 185).
Giáo Hội luôn kín múc sự sống từ chân lý này, thế nhưng, vào giai đoạn phụng niên đây, Giáo Hội thấy nó là một nguồn ánh sáng và niềm vui. Và trong ánh sáng của sự thật này, chớ gì những lời này của tôi ngỏ cùng quí vị đây, thành phần đại diện cho hầu hết các quốc gia trên thế giới, như lời bày tỏ niềm xác tín và hy vọng rằng chỉ có trong chân lý mới có hòa bình mà thôi!
Theo tinh thần ấy, tôi xin gửi đến tất cả quí vị lời chân thành chúc mừng tốt đẹp nhất của tôi cho một Tân Niên hạnh phúc!
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo
Với Các Vị Lãnh Đạo Thế Giới Liên Minh Chư Giáo Hội Cải Cách Thứ Bảy 7/1/2006
Quí Bạn thân mến,
Vào lúc mở màn cho năm mới đây, tôi đón mừng quí bạn, những vị lãnh đạo của Thế Giới Liên Minh Chư Giáo Hội Cải Cách, nhân dịp quí bạn viếng thăm Vatican. Tôi tri ân nhớ lại việc hiện diện của những vị Đại Biểu thuộc Thế Giới Liên Minh này ở cả lễ an táng vị tiền nhiệm của tôi là Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng như ở lễ đăng quang cho thừa tác vụ giáo hoàng của tôi. Qua những dấu hiệu tỏ ra tương kính và thân hữu này tôi cảm thấy vui mừng thấy được một thứ hoa trái tốt đẹp xuất phát từ việc đối thoại và hợp tác huynh đệ đã được thực hiện trong 4 thập niên qua, và là một dấu hiệu cho thấy niềm hy vọng vững chắc trong tương lai.
Thật vậy, trong tháng vừa qua, tháng đánh dấu 40 năm bế mạc Công Đồng Chung Vaticanô II, một Công Đồng đã ban hành Sắc Lệnh về Đại Kết Unitatis Redintegratio. Cuộc Đối Thoại giữa Giáo Hội Công Giáo và Chư Giáo Hội Cải Cách, một cuộc đối thoại xẩy ra sau đó ít lâu, đã là một đóng góp quan trọng cho công việc cần thiết để suy tư về thần học và nghiên cứu về lịch sử là những gì bất khả châm chước để thắng vượt những chia rẽ thảm thương xuất phát từ nơi Kitô hữu trong thế kỷ thứ 16. Một trong những kết quả của cuộc Đối Thoại này đó là việc cho thấy những lãnh vực qui hợp quan trọng giữa việc Chư Giáo Hội Cải Cách hiểu về Giáo Hội như là Creatura Verbi với việc Giáo Hội Công Giáo hiểu về Giáo Hội như là một Bí Tích nồng cốt để Thiên Chúa tuôn ban ân sủng xuống trong Chúa Kitô (xem Ánh Sáng Muôn Dân, 1). Nó là một dấu hiệu phấn khởi để giai đoạn đối thoại hiện thời tiếp tục đào sâu vào tính cách phong phú và bổ xung của những thứ kiến thức này.
Sắc Lệnh về Đại Kết xác nhận rằng “không có một cuộc đại kết nào xứng với danh xưng của mình nếu không thực hiện việc thống hối nội tâm” (đoạn 7). Vào lúc mở màn cho Giáo Triều của mình, tôi đã nói lên niềm xác tín của mình là “việc hoán cải nội tâm là điều kiện tiên quyết cho tất cả mọi tiến bộ về đại kết” (Homily in the Sistine Chapel, 20 April 2005), và nhắc lại gương của vị tiền nhiệm mình là Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, vị thường nói về nhu cầu cần phải “thanh tẩy ký ức” như cách thức mở lòng ra để lãnh nhận tất cả sự thật của Chúa Kitô. Vị cố Giáo Hoàng này, nhất là vào dịp Đại Năm Thánh 2000, đã cống hiến một động lực mãnh liệt cho nỗ lực này của Giáo Hội Công Giáo, và tôi cảm thấy vui mừng khi thấy rằng có một số Chư Giáo Hội Cải Cách là phần tử của Tổ Chức Thế Giới Liên Minh này cũng đã thực hiện tương tự như thế. Những cử chỉ như vậy là những tảng đá xây dựng cho một mối liên hệ sâu xa hơn là những gì cần phải được nuôi dưỡng trong chân lý và yêu thương.
Quí bạn thân mến, tôi nguyện cầu để cuộc gặp gỡ của chúng ta hôm nay đây tự nó sẽ sinh hoa kết trái nơi việc dấn thân mới mẻ cho hoạt động hiệp nhất tất cả mọi Kitô hữu. Con đường trước mắt chúng ta đòi chúng ta phải thực hiện việc nghiên cứu và trao đổi khôn ngoan, khiêm tốn, nhẫn nại. Chớ gì chúng ta bắt đầu bằng một niềm tin tưởng mới, bằng việc tuân phục Phúc Âm và bằng niềm hy vọng mãnh liệt nơi lời Chúa Kitô nguyện cầu cho Giáo Hội của Người, nơi tình yêu của Chúa Cha và nơi quyền năng của Chúa Thánh Thần (cf. Unitatis Redintegratio, 24).
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2006/january/documents/hf_ben-xvi_spe_20060107_alliance-reformed-churches_en.html