NHẬN ĐỊNH VỀ GIÁO HOÀNG BIỂN ĐỨC XVI

SAU NGÀY GIỚI TRẺ THẾ GIỚI 2005

 

Nhận Định về Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI

 

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI - Nguyên văn Diễn Từ Tất Niên với Giáo Triều Rôma ngày Thứ Năm 22/12/2005

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI với Cuộc Phỏng Vấn Truyền H́nh Balan về Vị Tiền Nhiệm Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhân ngày kỷ niệm 16/10

ĐTC Biển Đức XVI với Những Liên Hệ Giữa Công Giáo và Hồi Giáo

 

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI - Nguyên văn Diễn Từ Tất Niên với Giáo Triều Rôma ngày Thứ Năm 22/12/2005

 

Quí Đức Hồng Y

Chư Huynh Khả Kính trong Hàng Giáo Phẩm và Giáo Sĩ

Anh Chị Em thân mến,

 

Quí Đức Hồng Y

Chư Huynh Khả Kính trong Hàng Giáo Phẩm và Giáo Sĩ

Anh Chị Em thân mến,

 

Expergiscere, homo: quia pro te Deus factus est home – Hỡi con người, hăy bừng tỉnh! V́ các người mà Thiên Chúa đă hóa thân làm người” (Thánh Âu Quốc Tinh, bài giảng 185). Việc mừng Lễ Giáng Sinh giờ đây gần đến, quí cộng tác viên của Giáo Triều Rôma thân mến, tôi xin mở đầu cho cuộc gặp gỡ của tôi với anh chị em bằng lời mời gọi của Thánh Âu Quốc Tinh để hiểu được ư nghĩa thực sự của việc Chúa Kitô Giáng Sinh. Tôi xin gửi đến từng người lời chào thân ái nhất của tôi và tôi xin cám ơn anh chị em về những tâm t́nh mộ mến tốt đẹp chuyển đến tôi qua Đức Hồng Y Chủ Tịch, vị tôi xin ngỏ lời cám ơn.

 

Thiên Chúa đă hóa thân làm người v́ chúng ta: đây là một sứ điệp mà mỗi năm từ hang Bêlem lặng lẽ được loan đi thậm chí cho tới tận cùng trái đất. Giáng Sinh là một ngày lễ của ánh sáng và an b́nh, nó là một ngày nỗi ngây ngất và niềm vui nội tâm tràn lan khắp vũ hoàn, v́ “Thiên Chúa đă hóa thân làm người”. Từ hang Bêlem thấp hèn, Người Con hằng hữu của Thiên Chúa, Đấng đă trở thành một Con Trẻ tí hon, lên tiếng nói với mỗi một người trong chúng ta: Người gọi chúng ta, mời chúng ta hăy tái sinh trong Người để, cùng với Người, chúng ta có thể sống đời đời hiệp thông với Chúa Ba Ngôi Chí Thánh.

 

Về Đức Gioan Phaolô II

 

Tâm hồn chúng ta ngập tràn niềm vui xuất phát từ việc nhận thức này, chúng ta hăy nghĩ lại những biến cố trong năm đang tới lúc kết thúc đây. Chúng ta thấy quá khứ của chúng ta những biến cố lớn lao là những ǵ đă lưu lại dấu vết sâu đậm nơi đời sống của Giáo Hội. Trước hết và trên hết, tôi đang nghĩ tới việc ra đi của Đức Thánh Cha yêu dấu của chúng ta là Gioan Phaolô II, một cuộc ra đi được mở màn bằng một giai đoạn dài đớn đau rồi dần dần mất tiếng nói. Không có một vị Giáo Hoàng nào như ngài đă để lại cho chúng ta một số lượng văn bản như ngài đă lưu lại cho chúng ta; không có một vị Giáo Hoàng nào như ngài đă có thể viếng thăm toàn thế giới và trực tiếp nói với dân chúng ở tất cả mọi châu lục.

 

Thế mà, cuối cùng, số phận của ngài là một cuộc hành tŕnh đau thương và câm nín. Chúng ta không thể nào quên được những h́nh ảnh Chúa Nhật Lễ Lá, lúc mà, cầm trong tay cành cây dầu và cảm thấy đớn đau, ngài đă tiến đến cửa sổ để Ban Phép Lành của Chúa như chính bản thân ngài sắp sửa bước tới cây Thập Tự Giá.

 

Sau đó là cảnh ở trong Nguyện Đường Riêng của ngài, lúc mà, cầm Thánh Giá trong tay, ngài tham dự Đường Thánh Giá bấy giờ đang diễn tiến ở Hí Trường Colosseum, nơi ngài rất hay thường vác Thập Giá dẫn đầu đoàn người diễn hành theo sau.

 

Sau hết là Phép Lành âm thầm của ngài hôm Chúa Nhật Phục Sinh, nơi phép lành âm thầm này chúng ta đă thấy niềm hứa hẹn của cuộc Phục Sinh, của sự sống đời đời, rạng ngời tỏa sáng qua tất cả mọi nỗi đớn đau của ngài. Bằng cả lời nói và hành động, Đức Thánh Cha đă cống hiến cho chúng ta rất nhiều điều cao cả; bài học này cũng không kém phần quan trọng được ngài ban cho chúng ta từ ngai ṭa khổ đau và câm nín.

 

Trong cuốn sách cuối cùng của ngài là “Hồi Niệm và Căn Tính” (Weidenfeld and Nicolson, 2005), ngài đă để lại cho chúng ta một dẫn giải về khổ đau không phải là một thuyết về thần học hay triết lư mà là một hoa trái chín mùi qua cuộc hành tŕnh khổ đau của bản thân ngài, một cuộc hành tŕnh khổ đau ngài đă quyết chịu bằng niềm tin tưởng vào Vị Chúa tử giá. Lời dẫn giải này, một việc dẫn giải được ngài khai triển bởi đức tin và là việc dẫn giải mang lại ư nghĩa cho khổ đau của ngài, một khổ đau được ngài chấp nhận trong mối hiệp thông với nỗi khổ đau của Chúa, là việc dẫn giải đă được vang lên qua thái độ âm thầm chịu đựng của ngài, khi ngài biến việc chịu đựng này thành một sứ điệp quan trọng”.

 

Cả ở phần  mở đầu và lập lại một lần nữa ở cuối cuốn sách được đề cập tới trên đây, vị Giáo Hoàng này đă cho thấy rằng ngài cảm thấy rất thấm thía trước cảnh tượng diễn ra của quyền lực sự dữ, một quyền lực sự dữ chúng ta đă trải qua một cách thê thảm trong thế kỷ vừa chấm dứt. Ngài nói trong cuốn sách này rằng: “Sự dữ… không phải là một thứ sự dữ có tầm mức nhỏ hẹp… Nó là một sự dữ có những tầm vóc khổng lồ, một sự dữ được tổ chức đáng hoàng để thực hiện hoạt động gian ác của nó, một sự dữ trở thành một cơ cấu” (trang 189).

 

“Phải chăng sự dữ là những ǵ bất khả thắng? Phải chăng nó là một quyền năng tối hậu của lịch sử?” V́ kinh nghiệm về sự dữ, mà đối với Giáo Hoàng Wojtyla, vấn đề cứu chuộc đă trở thành thiết yếu và là vấn đề trọng yếu trong đời sống của ngài và được suy tưởng như là một Kitô hữu. Có một giới hạn nào đó chống lại những ǵ bị quyền lực sự dữ này hủy hoại hay chăng? “Có đấy”, vị Giáo Hoàng này đă trả lời trong cuốn sách này của ngài cũng như trong Thông Điệp về việc cứu chuộc của ngài.

 

Quyền năng hạn chế sự dữ này là Ḷng Thương Xót Chúa. Bạo lực, h́nh thức thể hiện của sự dữ, bị Ḷng Thương Xót Chúa chống lại trong gịng lịch sử. Chúng ta có thể nói theo Sách Khải Huyền là Con Chiên mạnh hơn con rồng.

 

Ở cuối cuốn sách, bằng việc ôn lại quá khứ về cuộc tấn công vào ngày 13/5/1981, và dựa vào căn bản của kinh nghiệm nơi cuộc hành tŕnh của ngài với Thiên Chúa cũng như với thế giới, Đức Gioan Phaolô II c̣n giải đáp vấn đề này một cách sâu xa hơn nữa.

 

Cái hạn chế quyền lực sự dữ, cái quyền lực chế ngự no, theo cách ngài nói, đó là nỗi khổ đau của Thiên Chúa, nỗi khổ đau của Người Con Thiên Chúa trên Thập Tự Giá: “Nỗi khổ đau của Vị Thiên Chúa Tử Giá không phải chỉ là một h́nh thức khổ đau duy nhất trong số những h́nh thức khổ đau khác…. Bằng việc hy sinh bản thân ḿnh v́ tất cả chúng ta, Chúa Kitô đă cống hiến cho đau khổ một ư nghĩa mới, mở ra một chiều kích mới, một tầm vóc mới, đó là tầm vóc yêu thương…. Cuộc khổ nạn của Chúa Kitô trên Thập Giá là những ǵ cống hiến cho đau khổ một ư nghĩa hoàn toàn mới mẻ, biến đổi nó tự bản chất… Chính cái đau khổ này thiêu đốt và làm tiêu hao đi sự dữ, bằng ngọn lửa yêu thương…. Tất cả khổ đau của loài người, tất cả mọi đớn đau, tất cả mọi yếu đuối bạc nhược đều chất chứa nơi ḿnh một hứa hẹn cứu độ; …. Sự dữ hiện diện trên thế giới một phần là để khơi động lên ḷng yêu thương trong chúng ta, một t́nh yêu trao hiến bản thân ḿnh trong việc phục vụ cách quảng đại và vô tư những ai bị khổ đau dằn vặt… Chúa Kitô đă cứu thế giới: “Chúng ta đă được chữa lành nhờ những vết thương của Người’ (Is 53:5)” (trang 189 và sau đó).

 

Tất cả những điều này không phải chỉ là một thứ thuần kiến thức về thần học, mà là một bày tỏ của một đức tin sống động và trưởng thành qua đau khổ. Chắc chắn là chúng ta cần phải làm mọi sự có thể để giảm bớt khổ đau và ngăn ngừa t́nh trạng bất công là những ǵ gây cho thành phần vô tội khổ đau. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải làm mọi sự trong tầm tay để con người có thể khám phá ra ư nghĩa của khổ đau, nhờ đó, họ biết chấp nhận khổ đau của họ và liên kết nó với khổ đau của Chúa Kitô.

 

Có thế, nó mới ḥa nhập với t́nh yêu thương cứu chuộc và nhờ vậy trở thành một quyền năng chống lại sự dữ trên thế giới này.

 

Việc đáp ứng xẩy ra khắp thế giới trước cái chết của vị Giáo Hoàng này là việc hết ḷng bày tỏ lọg tri ân về sự kiện là ngài đă hoàn toàn hiến thân cho Thiên Chúa v́ thế giới khi thi hành thừa tác vụ của ngài; một lời tạ ơn cho sự kiện là trong một thế giới đầy hận thù và bạo lực này, ngài đă dạy một cách mới mẻ t́nh yêu thương và khổ đau trong việc phục vụ tha nhân; có thể nói ngài đă tỏ cho chúng ta thấy trong xác thịt Đấng Cứu Chuộc, việc cứu chuộc, và đă cống hiến cho chúng ta niềm tin tưởng rằng, thật ra sự dữ không phải là phán quyết tối hậu trên thế gian này”.

 

Về Ngày Giới Trẻ Thế Giới XX ở Cologne

 

Giờ đây tôi xin đề cập ngắn gọn tới hai biến cố khác được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phát động, đó là Ngày Giới Trẻ Thế Giới được cử hành ở Cologne và Thượng Nghị Giám Mục về Thánh Thể, một biến cố cũng bế mạc Năm Thánh Thể được ngai khai mở.

 

Ngày Giới Trẻ Thế Giới đă tồn tại như là một tặng ân cao cả nơi kư ức của những ai tham dự. Trên 1 triệu giới trẻ đă qui tụ về Thánh Phố Cologne bên bờ Sông Rhine cũng như ở các tỉnh lân cận để cùng nhau lắng nghe Lời Chúa, để cùng nhau nguyện cầu, để lănh nhận Bí Tích Ḥa Giải và Thánh Thể, để cùng nhau ca hát và cử hành, để hân hoan vui sống và để tôn thờ cùng lănh nhận Chúa nơi Thánh Thể trong các cuộc họp gặp gỡ đông đảo vào đêm Thứ Bảy và ngày Chúa Nhật. Những ngày này tràn đầy niềm vui.

 

Ngoại trừ việc giữ trật tự, cảnh sát không làm ǵ khác – Chúa đă qui tụ gia đ́nh của Ngài lại, một gia đ́nh tỏ tường vượt hết mọi biên cương bờ cơi và ngăn cách, và Ngài đă cho chúng ta cảm nghiệm thấy việc hiện diện của Ngài nơi mối hiệp thông cao cả giữa chúng ta.

 

Khẩu hiệu được chọn cho những ngày này là “Chúng tôi đến triều bái Người” đă chất chứa hai h́nh ảnh lớn lao gây phấn khởi cho hướng đi thực sự ngay từ ban đầu. Trước hết là h́nh ảnh về thành phần hành hương, h́nh ảnh của một con người, khi vươn tầm mắt vượt ra ngoài những vuệc làm và đời sống thường nhật của ḿnh, lên đường t́m kiếm mục đích thiết yếu của ḿnh, t́m kiếm chân lư, t́m kiếm sự sống chân thật, t́m kiếm Thiên Chúa. H́nh ảnh này về con người đang trên đường tiến đến mục đích của đời sống là những ǵ chất chứa hai hàm ư khác nữa.

 

Thứ nhất là lời mời gọi đừng nh́n thế giới quanh chúng ta chỉ như là những ǵ nguyên vật chất chúng ta có làm ǵ đó, mà hăy cố gắng khám phá ra nơi chúng “chữ viết của Đấng Hóa Công”, lư trí sáng tạo và là t́nh yêu, nguồn mạch phát sinh thế giới và là những ǵ vũ trụ muốn nói với chúng ta, nếu chúng ta chú tâm, nếu cảm quan nội tại của chúng ta tỉnh táo và biết nhận định các chiều kích sâu xa nhất của thực tại.

 

Yếu tố thứ hai là lời mời gọi sâu xa hơn nữa, đó là hăy lắng nghe những tỏ hiện của lịch sử là những ǵ tự chúng có thể cống hiến cho chúng ta cái then chốt để dẫn giải cái mầu nhiệm thầm lặng của thiên nhiên tạo vật, vạch ra cho chúng ta thấy con đường thực tiễn dẫn tới Vị Chúa chân thực của thế giới và của lịch sử, Đấng ẩn ḿnh nơi cảnh bần cùng của hàng lừa Bêlem.

 

Một h́nh ảnh khác được chất chứa nơi khẩu hiệu của Ngày Giới Trẻ Thế Giới đó là con người thờ phượng: “Chúng tôi đến bái thờ Người”. Cần phải thực hiện việc tôn thờ trước bất cứ một hoạt động nào, trước thế giới có thể đổi thay. Chỉ nguyên việc tôn thờ mới có thể giải thoát chúng ta; chỉ nguyên việc tôn thờ mới cống hiến cho chúng ta các qui chuẩn để tác hành. Chính trong một thế giới thiếu vắng các qui chuẩn hướng dẫn và đe dọa đang chực chờ, một thế giới mỗi một người trở thành luật lệ cho ḿnh, th́ hết sức cần phải nhấn mạnh đến việc thờ phượng.

 

Đối với tất cả những ai hiện diện bấy giờ th́ việc thinh lặng triệt để của cả triệu giới trẻ đó là những ǵ không thể nào quên được, một thứ thinh lặng liên kết và thăng hóa tất cả chúng ta khi Chúa Kitô trong Bí Tích Thánh được đặt trên bàn thờ. Chúng ta hăy ấp ủ trong ḷng các h́nh ảnh của Cologne: chúng là những dấu hiệu vẫn tiếp tục có giá trị. Không cần nhắc tới tên tuổi riêng của ai, nhân dịp này tôi xin cám ơn hết mọi người đă làm cho Ngày Giới Trẻ Thế Giới này hiện thực; thế nhưng, đặc biệt chúng ta hăy cùng nhau tạ ơn Chúa, thật sự là thế, chỉ một ḿnh Người mới có thể ban cho chúng ta những ngày này chúng ta đă sống qua như thế.

 

Chữ “tôn thờ” (thờ phượng) đưa chúng ta tới biến cố cao cả thứ hai mà tôi muốn nói tới, đó là Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới và Năm Thánh Thể. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, qua Thông Điệp Giáo Hội Sống Bởi Thánh Thể và Tông Thư Xin Chúa Ở Với Chúng Con, đă cống hiến cho chúng ta những đầu mối thiết yếu, đồng thời, bằng cảm nghiệm bản thân của ngài về đức tin nơi Thánh Thể ngài đă mang giáo huấn của Giáo Hội vào thực tế.

 

Thêm vào đó, Thánh Bộ Thờ Phượng, liên kết với bức Thông Điệp này, đă phổ biến Bản Hướng Dẫn Bí Tích Cứu Chuộc như là một bản chỉ nam cụ thể cho việc áp dụng đúng đắn Hiến Chế của Công Đồng về phụng vụ và việc canh tân phụng vụ. Ngoài những văn kiện này ra, thực sự c̣n điều ǵ mới mẻ hơn nữa để khai triển hơn thế nữa về toàn bộ giáo huấn này hay chăng?

 

Đó chính là cảm nghiệm cao cả của Thượng Nghị này, một thượng nghị được các Nghị Phụ đóng góp những suy tư về kho tàng sự sống Thánh Thể của Giáo Hội ngày nay và về tính cách bất tận của niềm tin của Giáo Hội vào Thánh Thể. Những ǵ các Nghị Phụ đă suy nghĩ và bày tỏ cần phải được tŕnh bày, liên kết với bản Propositiones của Thượng Nghị, trong một Văn Kiện Hậu Thượng Nghị.

 

Ở đây, một lần nữa, tôi chỉ muốn nhấn mạnh đến một điểm vừa được chúng ta đề cập tới liên quan đến Ngày Giới Trẻ Thế Giới, đó là việc tôn thờ Vị Chúa Phục Sinh, Đấng hiện diện nơi Thánh Thể với máu và thịt, với thân xác và linh hồn, với thần tính và nhân tính của Người.

 

Tôi lấy làm cảm động khi thấy khắp nơi trong Giáo Hội niềm vui tôn thờ Thánh Thể đang được khơi động và sinh hoa kết trái. Trong giai đoạn canh tân phụng vụ, Thánh Lễ và việc tôn thờ ngoài Thánh Lễ thường được thấy như là những ǵ nghịch lại nhau. Đó là ư nghĩ cho rằng Bánh Thánh Thể đă không được ban cho chúng ta để chiêm ngưỡng mà là để ăn, như nhiều chống đối thời bấy giờ chủ trương.

 

Cảm nghiệm về việc cầu nguyện của Giáo Hội đă chứng tỏ cái phản đề này vô lư là chừng nào. Thánh Âu Quốc Tinh đă chính thức nói rằng: “… nemo autem illam carnem manducat, nisi prius adoraverit; … peccemus non adorando – Không ai được ăn thịt này mà trước hết không tôn thờ thịt ấy; … chún g ta sẽ phạm tội nếu chúng ta không tôn thờ thịt này” (cf. Enarr. in Ps 98: 9 CCL XXXIX 1385).

 

Thật vậy, chúng ta không chỉ lănh nhận một điều ǵ đó nơi Thánh Thể. Đó là một cuộc hội ngộ và là một cuộc hiệp nhất hai ngôi vị; tuy nhiên, ngôi vị đến gặp gỡ chúng ta và muốn hiệp nhất chính bản thân ḿnh với chúng ta là Con Thiên Chúa. Việc hiệp nhất hóa này chỉ có thể xẩy ra bằng việc tôn thờ.

 

Việc lănh nhận Thánh Thể có nghĩa là tôn thờ Đấng chúng ta nhận lănh. Chính v́ thế và chỉ như thế chúng ta mới có thể nên một với Người. Bởi vậy, vấn đề phát triển về việc tôn thờ Thánh Thể, như nó đă h́nh thành trong Thời Trung Cổ, là thành quả thích hợp nhất của chính mầu nhiệm Thánh Thể: chỉ ở nơi việc tôn thờ việc chấp nhận mới có thể phát triển sâu xa và thực sự. Và chính tác động riêng tự gặp gỡ này với Chúa mới phát triển sứ vụ xă hội là sứ vụ được chất chứa nơi Thánh Thể và mới muốn phá đổ những thứ ngăng trở, chẳng những các ngăng trở giữa Chúa và chúng ta, mà c̣n trên hết những ngăng trở giữa chúng ta với nhau nữa.

 

Kỷ Niệm 40 Năm Bế Mạc Công Đồng Chung Vaticanô II

 

Biến cố cuối cùng của năm nay tôi muốn chioa sẻ ở đây đó là việc cử hành mừng kỷ niệm 40 năm bế mạc Công Đồng Chung Vaticanô II trước đây. Việc tưởng nhớ này gợi lên vấn đề: Đấu là kết quả của Công Đồng này? Công Đồng có được tiếp nhận cách tốt đẹp hay chăng? Trong vciệc chấp nhận Công Đồng th́ đâu là những điều tốt và đâu là những điều không thích đáng hay lầm lẫn? Những ǵ cần phải làm là ǵ? Không ai có thể phủ nhận rằng ở những miền rộng lớn của Giáo Hội việc áp dụng Cộng Đồng này đă gặp phải khó khăn một cách nào đó, thậm chí không thể nào không áp dụng cho những ǵ xẩy ra cho những năm này lời diễn tả được Thánh Basiliô, vị đại Tiến Sĩ của Giáo Hội, đă nói về t́nh h́nh Giáo Hội sau Công Đồng Chung Nicêa: ngài đă so sánh t́nh h́nh Giáo Hội với một trận hải chiến trong tăm tối băo bùng như thế này trong số những điều khác: “Tiếng kêu la khàn khàn của những ai bởi bất đồng đă nổi lên chống lại nhau, của thành phần huyên thuyên khó hiểu, của thành phần lầm lẫn mà cứ ầm ĩ lên tiếng day dứt la ḥ, giờ đây tràn đầy hầu như khắp cả Giáo Hội, làm sai lệch đi v́ thái quá và không hiểu được giáo huấn xác thực của đức tin…” (De Spiritu Sancto, XXX, 77; PG 32, 213 A; SCh 17 ff., p. 524).

 

Chúng ta không muốn áp dụng một cách chính xác lời diễn tả thê thảm ấy vào t́nh h́nh hậu công đồng chung lần này, tuy nhiên, vẫn có một cái ǵ đó trong tất cả những điều ấy cho thấy đă xẩy ra như vậy. Vấn đề được đặt ra ở đây là Tại sao vấn đề áp dụng Công Đồng này lại quá khó khắn như thế ở những lănh vực rộng lớn của Giáo Hội?

 

“Một thứ dẫn giải có tính cách bất liên tục và chia ĺa”

 

Thật ra tất cả đều lệ thuộc vào việc giải thích đúng đắn Công Đồng này, hay - như chúng ta có thể nói là ngày nay – lệ thuộc vào việc dẫn giải thích đáng của Công Đồng - cái then chốt xác đáng cho việc dẫn giải và áp dụng Công Đồng. Các vấn nạn của việc áp dụng Công Đồng xuất phát từ sự kiện là có hai thứ dẫn giải phản ngược nhau ra mặt và trái nghịch nhau chan chát. Một thứ dẫn giải gây ra lầm lẫn, c̣n một thứ, âm thầm song càng ngày càng sáng tỏ hơn, đă và đang sinh hoa kết trái.

 

Một mặt là một thứ dẫn giải được tôi gọi là “một thứ dẫn giải có tính cách bất liên tục và chia ĺa”; nó thường trở thành thuận lợi theo chiều hướng của các thứ truyền thông đại chúng, và cũng là một xu hướng của khoa thần học tân tiến. Mặt khác, cũng có “thứ dẫn giải của việc canh tân”, của việc canh tân liên tục của một chủ thể Giáo Hội duy nhất được Chúa ban cho chúng ta. Giáo Hội là chủ thể tiến triển trong thời gian và phát triển, dù bao giờ cũng vẫn thế, cũng vẫn là một chủ thể duy nhất của Dân Chúa lữ hành.

Việc dẫn giải thiên về tính cách bất liên tục có nguy cơ tiến tới chỗ phân chia Giáo Hội tiền công đồng và Giáo Hội hậu công đồng. Việc dẫn giải này chủ trương rằng các văn kiện  của Công Đồng ấy dù sao cũng không diễn đạt được tinh thần thực sự của Công Đồng. Kiểu dẫn giải này cho rằng những văn kiện ấy là thành quả của những thứ dung ḥa, những ǵ muốn tiến tới chỗ đồng thanh nhất trí cần phải thực hiện để bảo tồn và tái xác định nhiều điều cũ kỹ giờ đây đă trở thành vô dụng. Tuy nhiên, tinh thần thực sự của Công Đồng này không ở tại những thứ dung ḥa này mà là ở những động lực hướng tới những ǵ mới mẻ được chất chứa trong những bản văn kiện ấy.

Chí có những thứ mới mẻ ấy mới đáng làm tiêu biểu cho tinh thần đích thực của Công Đồng, và bắt đầu từ những mới mẻ ấy cũng như hợp với những thứ mới mẻ ấy tinh thần của Công Đồng mới có thể tiến phát. Chính v́ các bản văn kiện này chỉ phản ảnh một cách bất toàn tinh thần thực sự của Công Đồng cũng như tính cách mới mẻ của Công Đồng mới cần phải can đảm vượt ra ngoài những văn kiện để giành chỗ cho cái mới mẻ theo ư hướng sâu xa nhất được Công Đồng bày tỏ, cho dù ư hướng ấy vẫn c̣n mập mờ.

Tóm lại, không cần phải tuân theo các văn kiện của Công Đồng mà là tinh thần của Công Đồng. Như thế th́ hiển nhiên là có cả một giới hạn rộng lớn trước vấn đề được đặt ra ở đây đó là làm thế nào để tinh thần Công Đồng theo đó được xác định và nhờ đó tinh thần này có chỗ đứng nơi hết mọi thứ sáng kiến.

Bản chất của một Công Đồng như thế là những ǵ bị hiểu lầm tận gốc rễ. Theo chiều hướng ấy th́ bản chất của công đồng được coi như là một thứ cấu hợp loại trừ đi một thứ pháp chế cổ xưa để tạo nên một thứ pháp chế mới mẻ. Tuy nhiên, Hội Đồng Cấu Hợp cần có một thừa ủy nhiệm viên cùng với việc xác nhận của vị thừa ủy nhiệm viên này, tức là của thành phần được pháp chế ấy phục vụ. Các Vị Nghị Phụ không có một thừa ủy nhiệm quyền nào như thế và không ai đă từng ban cho các ngài quyền này; cũng chẳng có bất cứ một ai ban cho các vị quyền này v́ pháp chế thiết yếu này của Giáo Hội xuất phát từ Chúa Kitô và được ban cho chúng ta để chúng ta có thể đạt được sự sống trường sinh, và nhờ đó, bắt đầu có thể chiếu tỏa sự sống trong thời gian và chiếu tỏa chính thời gian nữa.

Qua Bí Tích được nhận lănh, các vị Giám Mục là những người quản thủ tặng ân của Chúa. Họ là “những vị bảo quản viên các mầu nhiệm của Thiên Chúa” (1Cor 4:1); nhờ đó, họ phải tỏ ra “trung thành” và “khôn ngoan” (x Lk 12:41-48). Điều này đ̣i các vị phải ban phát tặng ân của Chúa một cách đúng đắn, nhờ đó tặng ân ấy không bị che đậy đi cách nào mà là sinh hoa kết trái, để rồi cuối cùng Chúa nói với thành phần quản trị viên này rằng: “V́ ngươi trung tín trong những điều nhỏ mọn Ta sẽ đặt ngươi coi sóc những việc lớn hơn” (x Mt 25:14-30; Lk 19:11-27).

Những dụ ngôn này của Phúc Âm cho thấy việc phục vụ Chúa đ̣i phải có một động lực của ḷng trung thành; và qua những dụ ngôn này, vấn đề được sáng tỏ là, cái động lực và ḷng trung thành này cần phải có nơi Công Đồng.

Dẫn giải theo chiều hướng canh tân

Lối dẫn giải theo chiều hướng bất liên tục bị đối nghịch bởi lối dẫn giải theo chiều hướng canh tân, như lối dẫn giải theo chiều hướng canh tân này được bày tỏ trước hết nơi bài khai mạc Công Đồng của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII ngày 11/10/1962, cũng như sau đó nơi bài diễn từ bế mạc Công Đồng ngày 7/12/1965 của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI.

Ở đây tôi chỉ trích dẫn những lời lẽ quá nổi tiếng của Đức Gioan XXIII, những lời nói lên một cách dứt khoát lối dẫn giải này khi ngài nói rằng Công Đồng muốn “chuyển đạt một thứ tín lư tinh tuyền và nguyên vẹn, không bị pha loăng hay méo mó”. Và ngài c̣n nói: “Nhiệm vụ của chúng ta không phải chỉ là để canh giữ kho tàng quí báu này, như thể chúng ta chỉ quan tâm tới những ǵ là cổ xưa, mà là để dấn thân bằng một ḷng thiết tha và can đảm cho hoạt động mà thời đại của chúng ta cần đến chúng ta…”. Cần phải tỏ ra là “việc gắn bó với tất cả giáo huấn của Giáo Hội một cách trọn vẹn và chính xác của giáo huấn này…” được thể hiện nơi “việc trung thành và hoàn hảo tuân hợp với tín lư chân chính, những tín lư dầu sao cũng cần phải được học hỏi và quảng diễn bằng những phương pháp nghiên cứu cũng như bằng các h́nh thức văn chương của tâm tưởng tân tiến. Bản chất của tín lư xưa trong kho tàng đức tin là một vấn đề, c̣n đường lối tŕnh bày tín lư này là một vấn đề khác…”, khi bảo tồn cũng một ư nghĩa và sứ điệp của tín lư ấy (The Documents of Vatican II, Walter M. Abbott, S.J., p. 715).

Vấn đề được sáng tỏ là việc dấn thân diễn đạt một sự thật đặc biệt bằng đường lối mới cần phải suy nghĩ mới về sự thật ấy cũng như cần có một mối liên hệ mới mẻ và trọng yếu với nó; vấn đề cũng được sáng tỏ là chỉ có thể khai triển những ngôn từ mới mẻ nếu chúng xuất phát từ một kiến thức rơ ràng về sự thật được bày tỏ, ngoài ra, vấn đề c̣n sáng tỏ là việc suy tư về đức tin cũng đ̣i đức tin này cần phải được sống nữa. Về vấn đề ấy, hoạch định được Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII phác họa thực sự là những ǵ hết sức cần thiết, như sự tổng hợp giữa ḷng trung thành và cái động lực thúc đẩy đ̣i hỏi vậy.

 

Tuy nhiên, bất cứ ở đâu lối dẫn giải này chi phối việc áp dụng Công Đồng th́ ở đó phát triển sự sống mới và gặt hái được hoa trái mới. Bốn mươi năm sau Công Đồng, chúng ta có thể chứng tỏ là những ǵ tích cực c̣n to lớn hơn và sống động hơn là những ǵ công đồng dường như ở trong những năm hỗn loạn vào thời khoảng 1968. Ngày nay, chúng ta thấy rằng, mặc dù hạt giống tốt được phát triển một cách chậm răi song nó đang gia tăng; và ḷng tri ân sâu xa của chúng ta đối với công cuộc do Công Đồng thực hiện đồng thời cũng gia tăng.

 

Trong bài diễn từ bế mạc Công Đồng, Đức Phaolô VI đă vạch ra một lư do đặc biệt hơn nữa cho thấy lư do tại sao lối dẫn giải có tính cách bất liên tục dường như có vẻ thắng thế.

 

Lư do tại sao lối dẫn giải có tính cách bất liên tục dường như có vẻ thắng thế.

 

Trong cuộc tranh luận cả thể về một con người là những ǵ làm nên đặc tính của thời đại tân tiến, Công Đồng đă phải chú trọng đặc biệt đến đề tài nhân loại học. Công Đồng đă đặt vấn đề một đàng về mối liên hệ giữa Giáo Hội cùng đức tin của Giáo Hội, và một đàng về con người cùng với thế giới hiện đại (xem cùng nguồn vừa dẫn). Vấn đề này càng trở thành sáng tỏ hơn, nếu, thay v́ sử dụng từ ngữ chung là “thế giới hiện đại”, chúng ta chọn một từ ngữ khác chính xác hơn: Công Đồng đă quyết định bằng một đường lối mới mẻ mối liên hệ giữa Giáo Hội và kỷ nguyên tân tiến.

 

Mối liên hệ này dường như đă gặp phải phong ba băo tố bắt đầu từ vụ Galileo. Rồi nó hoàn toàn bị khủng hoảng khi Kant diễn tả “tôn giáo theo lư trí thuần túy”, cũng như, trong giai đoạn quyết liệt của thời cuộc Cách Mạng Pháp xẩy ra những tuyên truyền về một thứ h́nh ảnh Quốc Gia và con người thực tế không c̣n muốn để cho Giáo Hội có chỗ đứng nữa.

 

Vào thế kỷ thứ XIX dưới thời Đức Piô IX, cuộc đụng độ giữa đức tin của Giáo Hội với chủ nghĩa tự do cực đoan và các thứ khoa học tự nhiên, những ǵ cho rằng ḿnh hiểu biết tất cả mọi thực tại cho đến hết cỡ của thực tại ấy, ngang nhiên cho rằng “giả thuyết về Thiên Chúa” là đồ vô dụng, khiến cho Giáo Hội phải lên án một cách gắt gao và quyết liệt cái tinh thần của thời đại tân tiến ấy. Bởi thế, dường như không c̣n bất cứ khoảng trống nào cho vấn để thông cảm tích cực và tốt đẹp nữa, cùng với việc loại trừ cũng mănh liệt của thành phần cảm thấy họ là đại diện cho kỷ nguyên mới.

 

Tuy nhiên, trong khi đó, thời đại tân tiến cũng cảm nghiệm thấy những phát triển. Con người tiến đến chỗ nhận thức được rằng Cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ đă là những ǵ cống hiến cho mẫu thức của một Quốc Gia tân tiến, khác với mẫu thức về lư thuyết có những khuynh hướng cực đoan xuất phát trong giai đoạn thứ hai của Cuộc Cách Mạng Pháp.

 

Các khoa học tự nhiên bắt đầu cho thấy càng ngày càng rơ ràng hơn những giới hạn của ḿnh theo phương pháp của chúng, những phương pháp, cho dù có đạt được những điều cao cả, dù sao cũng không thể nào nắm được bản chất toàn cầu của thực tại. Bởi thế mà cả đôi bên dần dần bắt đầu cởi mở hướng về nhau. Trong giai đoạn giữa hai Thế Chiến, nhất là sau Thế Chiến Thứ Hai, thành phần chính khách Công Giáo chứng tỏ rằng một Quốc Gia trần thế tân tiến có thể hiện hữu nếu không tỏ ra trung dung trước những giá trị sống c̣n, xuất phát từ những nguồn đạo lư cao cả được Kitô Giáo khai phá. Giáo huấn Công Giáo về xă hội, một giáo huấn dần dần phát triển, đă trở thành một mô thức quan trọng giữa chủ nghĩa tự do cực đoan và lư thuyết của Marx về Nhà Nước. Các khoa học tự nhiên, những thứ khoa học không khư khư theo phương pháp ngăn cản việc tiến tới với Thiên Chúa của ḿnh, đă nhận thức một cách tỏ tường hơn bao giờ hết là phương pháp ấy không bao gồm tất cả thực tại. Bởi thế, một lần nữa chúng mở cửa ra cho Thiên Chúa, nhận thức rằng thực tại cao cả to lớn hơn phương pháp tự nhiên và tất cả những ǵ nó có thể bao phủ.

 

Có thể nói rằng có 3 vấn đề được xoay quanh ở vào thời Công Đồng Chung Vaticanô II cần được giải đáp. Trước hết là cần phải tái xác định về mối liên hệ giữa đức tin và khoa học tân tiến. Ngoài ra, mối liên hệ này chẳng những liên quan tới các khoa học tự nhiên mà c̣n tới khoa sử học nữa, v́ theo một số trường phái th́ phương pháp nhận định về lịch sử cho rằng nó là phán quyết cuối cùng đối với vấn đề giải thích Thánh Kinh, và một khi đ̣i toàn quyền giải thích Sách Thánh như thế, nó đă chống lại với nhiều điểm quan trọng được dẫn giải cẩn thận theo niềm tin của Giáo Hội.

 

Thứ hai, cần phải cống hiến một định nghĩa mới cho mối liên hệ giữa Giáo Hội và Quốc Gia tân tiến, một quốc gia vô tư giành chỗ đứng cho thành phần công dân thuộc các tôn giáo và ư hệ khác nhau, chỉ v́ trách nhiệm đối với việc họ chung sống trong trật tự và chấp nhận lẫn nhau cũng như v́ quyền tự do được hành đạo của họ.

 

Thứ ba, liên quan một cách tổng quát hơn tới điều này là vấn đề chấp nhận tôn giáo – một vấn đề đ̣i phải có một định nghĩa mới về mối liên hệ giữa đức tin Kitô Giáo với các tôn giáo trên thế giới. Đặc biệt là trước những tội ác mới đây của chế độ Nazi, và nói chung là với cái nh́n về quá khứ của một lịch sử lâu dài và khó khăn, cần phải thẩm định và xác định một đường lối mới nơi mối liên hệ giữa Giáo Hội và niềm tin của dân Do Thái.

 

Đó là tất cả những chủ đề rất quan trọng – chúng là những đề tài lớn thuộc phần hai của Công Đồng này – những đề tài không thể nào chia sẻ rộng hơn nữa trong lúc này đây. Vấn đề rơ ràng là trong tất cả mọi lănh vực ấy, những lănh vực mà tất cả cùng làm nên một vấn đề duy nhất, một thứ bất liên tục nào đó có thể hiện ra. Thật thế, một thứ bất liên tục đă tỏ hiện, thế nhưng, nơi tính chất bất liên tục này, sau khi thực hiện những việc phân tích khác nhau giữa những trường hợp cụ thể về lịch sử với những đ̣i hỏi của những trường hợp này cần phải làm, th́ vẫn thấy rằng tính cách liên tục vẫn không bị loại trừ. Mới thoáng nh́n th́ dễ bỏ qua sự kiện liên tục này.

 

Bản chất của việc canh tân thực sự.

 

Chính ở nơi việc tổng hợp của tính cách liên tục và bất liên tục ở các cấp độ khác nhau hiện hữu chính bản chất của việc canh tân thực sự. Trong tiến tŕnh canh tân theo chiều hướng liên tục này chúng ta cần phải học hiểu một cách cụ thể hơn trước khi quyết định của Giáo Hội về những vấn đề tùy thuộc – chẳng hạn như, về một số h́nh thức cụ thể của chủ nghĩa tự do hay về một thứ phóng khoáng dẫn giải Thánh Kinh – cũng tự ḿnh cần phải tùy thuộc, chính là v́ những quyết định này liên quan tới một thực tại đặc biệt tự bản chất khả hoán. Cần phải biết nh́n nhận rằng nơi những quyết định ấy chỉ có các nguyên tắc mới cho thấy được khía cạnh vĩnh tồn mà thôi, v́ chúng vẫn như là một quyết định sâu xa tác động từ bên trong.

 

Ngoài ra, không có tính cách vĩnh tồn nơi các h́nh thức cụ thể là những ǵ lệ thuộc vào trường hợp lịch sử và do đó cần phải đổi thay.

 

Bởi vậy, những quyết định căn bản tiếp tục là những ǵ vững chắc, trong khi đó đường lối chúng được áp dụng vào các môi trường mới là những ǵ có thể đổi thay. Vậy, chẳng hạn, nếu quyền tự do tôn giáo đă được coi như là biểu hiện con người nơi khả năng khám phá ra chân lư và bởi thế trở thành một thứ phong thần cho chủ nghĩa tương đối, th́ nhu cầu về xă hội và lịch sử này đă được đề cao một cách không thích đáng với tầm mức siêu h́nh học nên đă tước đi mất ư nghĩa đích thực của nó. Do đó, điều này không thể nào khả chấp đối với những ai tin rằng con người có khả năng biết được sự thật về Thiên Chúa, và dựa vào phẩm vị nội tại của sự thật, con người buộc phải gắn bó với kiến thức ấy.

 

Mặt khác, hoàn toàn khác hẳn trong việc coi quyền tự do tôn giáo như là một nhu cầu xuất phát từ việc con người chung sống, hay thực sự là một kết quả nội tại của sự thật là những ǵ không thể bị áp đặt theo bề ngoài nhưng là những ǵ con người cần phải chấp nhận chỉ qua tiến tŕnh xác tín mà thôi.

 

Công Đồng Chung Vaticanô II, khi nh́n nhận và chấp nhận nguyên tắc thiết yếu về Quốc Gia tân tiến bằng Sắc Lệnh về Tự Do Tôn Giáo, đă tái phục hồi cái gia sản sâu xa nhất của Giáo Hội. Làm như thế, Giáo Hội có thể ư thức được việc ḿnh hoàn toàn sống ḥa hợp với giáo huấn của chính Chúa Giêsu (x Mt 22:21), cũng như với Giáo Hội của các vị tử đạo qua mọi thời đại. Giáo Hội cổ xưa thường nguyện cầu cho những vị hoàng đế và các vị lănh đạo chính trị đă hết nhiệm vụ (x 1Tim 2:2); thế nhưng, trong khi nguyện cầu cho các vị hoàng đế như thế, Giáo Hội không chịu tôn thờ họ và do đó minh nhiên loại trừ thứ tôn giáo Quốc Gia. Các vị tử đạo thời Giáo Hội sơ khai đă chết v́ đức tin của ḿnh là niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng đă tỏ ḿnh ra nơi Chúa Giêsu Kitô, và chính v́ lư do này các vị cũng đă chết cho quyền tự do của lương tâm và quyền tự do tuyên xưng niềm tin của ḿnh – một việc tuyên xưng không có một Quốc Gia nào có thể áp đặt, nhưng chỉ có thể được tuyên xưng nhờ ân sủng của Chúa theo quyền tự do của lương tâm. Một Giáo Hội truyền giáo mang danh loan truyền sứ điệp của ḿnh cho tất cả mọi dân tộc cần phải hoạt động cho quyền tự do của niềm tin. Giáo Hội muốn truyền đạt tặng ân sự thật hiện hữu này cho từng người và mọi người.

 

Đồng thời Giáo Hội cũng bảo đảm với các dân tộc và Chính Quyền rằng Giáo Hội không muốn hủy hoại căn tính và văn hóa của họ khi làm như thế, trái lại, c̣n cống hiến một đáp ứng họ đang đợi chờ  ở thẳm cung sâu xa nhất của họ – một đáp ứng mà tính cách đa diện của các nền văn hóa chẳng những không bị mất đi mà trái lại c̣n gia tăng mối hiệp nhất giữa con người nam nữ và cả ḥa b́nh giữa các dân tộc nữa.

 

Công Đồng Chung Vaticanô II, với định nghĩa mới của ḿnh về mối liên hệ giữa đức tin của Giáo Hội với một số yếu tố thiết yếu của tâm tưởng tân tiến, đă kiểm điểm hay thậm chí sửa sai một số những quyết định về lịch sử, thế nhưng, qua tính cách bất liên tục hiển nhiên này, Giáo Hội thực sự vẫn bảo tŕ và đi sâu vào bản chất thâm thúy nhất của ḿnh cùng với căn tính đích thực của ḿnh.

 

Giáo Hội, cả trước lẫn sau Công Đồng, đă và đang là một Giáo Hội như thế, duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền, tiến bước qua gịng thời gian; Giáo Hội tiếp tục “cuộc lữ hành của ḿnh giữa những bách hại của thế gian và những niềm an ủi của Thiên Chúa”, để loan truyền cuộc tử nạn của Chúa cho tới khi Người đến (x Ánh Sáng Muôn Dân, 8).

 

Những ai mong rằng với thái độ “chiều” theo kỷ nguyên tân tiến này th́ tất cả mọi căng thẳng sẽ được loại trừ và thái độ “cởi mở với thế giới” nhờ đó có được sẽ biến đổi mọi sự thành trạng thái hoàn toàn ăn khớp với nhau, th́ họ đă coi nhẹ những căng thẳng nội tại cũng như những tương khắc vốn có nơi thời đại tân tiến này rồi vậy.

 

Họ đă coi thường cái mỏng manh nguy hiểm của bản tính loài người đă từng là mối đe dọa cho sự tiến bộ của con người nơi tất cả mọi giai đoạn của lịch sử cũng như nơi hết mọi thắng lợi sáng lạn của lịch sử. Những nguy hiểm này, với những triển vọng mới cùng với quyền năng mới của con người trên vật chất cũng như trên chính bản thân con người, vẫn không mất đi, trái lại, c̣n có những chiều kích mới nữa: cứ nh́n vào lịch sử hiện nay sẽ thấy rơ điều ấy.

 

Cả trong thời điểm của chúng ta nữa, Giáo Hội vẫn là một “dấu hiệu bị chống đối” (Lk 2:34) – không phải là vô lư mà Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II khi c̣n là Hồng Y đă lấy đầu đề này làm chủ đề tuần Tĩnh Tâm năm 1976 cho Đức Giáo Hoàng Phaolô VI và Giáo Triều Rôma. Công Đồng không thể nào lại có chủ ư loại trừ đi cái phản nghịch của Phúc Âm với những thứ hiểm nguy và lầm lỗi của con người. Trái lại, chắc chắn là Công Đồng muốn thắng vượt những tương phản lầm lẫn hay dư thừa này để tỏ cho thế giới của chúng ta thấy được những đ̣i hỏi hoàn toàn cao cả và tinh tuyền của Phúc Âm.

 

Vấn đề dai dẳng liên hệ giữa đức tin và lư trí

 

Những bước tiến được Công Đồng thực hiện đối với kỷ nguyên tân tiến này phần nào đă bị tŕnh bày một cách mơ hồ như “một thứ cởi mở với thế giới”, những bước tiến, nói tóm lại, là những ǵ thuộc về vấn đề dai dẳng liên hệ giữa đức tin và lư trí, một vấn đề vẫn được tái diễn qua những h́nh thức luôn mới mẻ. T́nh h́nh Công Đồng phải đối diện thực sự có thể được so sánh với những biến cố của các thời đại khác.

 

Trong Bức Thư Thứ Nhất của ḿnh, Thánh Phêrô đă thúc giục các Kitô hữu hăy luôn sẵn sàng đáp ứng (apo-logia) cho bất cứ một ai muốn chất vấn họ về logos, về lư do họ tin tưởng (x 3:15).

 

Điều này có nghĩa là đức tin của Thánh Kinh đă phải được bàn luận và đă giao tiếp với nền văn hóa Hy Lạp, và bằng việc giải thích biết nh́n nhận cái chiều hướng phân biệt song cũng qui hợp và thân thuộc nơi cả hai nơi một lư trí duy nhất do Thiên Chúa ban.

 

Vào thế kỷ 13, qua các triết gia Do Thái và Ả Rập, thời điểm tư tưởng Aristote giao tiếp với Kitô Giáo thời Trung Cổ được h́nh thành theo truyền thống Plato, làm cho đức tin và lư trí có nguy cơ trở thành những ǵ tương khắc với nhau đến độ bất khả hóa giải, th́ trước hết có Thánh Tôma Aquinas, vị đă làm môi giới cho cuộc gặp gỡ mới giữa đức tin và triết lư Aristote, nhờ đó, làm cho đức tin có được một liên hệ tốt đẹp với h́nh thức lư trí thịnh hành thời ấy. Chắc chắn là không thể nào tránh được xẩy ra một cuộc tranh luận mệt nghỉ giữa lư trí tân tiến và đức tin Kitô Giáo, một cuộc tranh luận đă được mở màn một cách tiêu cực với vụ Galileo, rồi trải qua nhiều giai đoạn, song tới Công Đồng Chung Vaticanô II là thời điểm cần phải có một suy tư bao rộng mới mẻ.

 

Nội dung của mối liên hệ này thực sự chỉ lưu dấu vết sơ qua nơi các văn kiện của Công Đồng thôi, nhưng nó cho thấy rơ chiều hướng thiết yếu của nó, nhờ đó, cuộc đối thoại giữa lư trí và đức tin, ngày nay lại càng quan trọng hơn nữa, đă sinh hoa kết trái nhờ Công Đồng Chung Vaticanô II. 

 

Cuộc đối thoại này giờ đây cần phải được phát triển một cách hết sức cởi mở nhưng cũng phải hết sức ư thức được rằng thế giới có lư để mong đợi nơi chúng ta ngay vào chính lúc này đây. Bởi thế, hôm nay chúng ta mới có thể tri ân cảm tạ khi nh́n lại Công Đồng Chung Vaticanô II, ở chỗ, nếu chúng ta giải thích và áp dụng Công Đồng theo lối dẫn giải đúng đắn th́ Công Đồng mới có thể mănh liệt và mới có thể càng ngày càng trở nên mănh liệt cho cuộc canh tân cần thiết hơn bao giờ hết của Giáo Hội.

 

Hồng Y Đoàn Bầu Tân Giáo Hoàng

 

Sau hết, tôi chẳng lẽ nhắc lại một lần nữa là ngày 19/4 năm nay, ngày tôi hết sức ngỡ ngàng khi Hồng Y Đoàn chọn tôi làm người Thừa Kế Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, làm vị Thừa Kế Thánh Phêrô trên ṭa Giám Mục Rôma? Vai tṛ này là những ǵ hoàn toàn vượt ra ngoài điều tôi dự tưởng cho ơn gọi của ḿnh. Bởi thế, với tác động hoàn toàn phó thác cho Thiên Chúa tôi mới nói tiếng “xin vâng” cho việc chọn lựa này. Giờ đây cũng như bấy giờ, tôi xin tất cả anh chị em hăy cầu nguyện cho tôi, những lời nguyện cầu và đỡ nâng mà tôi tin tưởng.

 

Đồng thời tôi cũng hết ḷng cám ơn tất cả những ai đă đón nhận tôi và vẫn đón nhận tôi với tất cả ḷng tin tưởng, thân ái và cảm thông, hằng ngày hỗ trợ tôi bằng lời nguyện cầu của ḿnh.

 

Giờ đây đă gần đến Giáng Sinh. Chúa là Thiên Chúa không đối đầu với các thứ đe dọa của lịch sử bằng quyền năng bên ngoài, như nhân loại chúng ta vẫn trông đợi theo quan điểm của thế giới chúng ta. Khí giới của Ngài là sự thiện hảo. Ngài đă tỏ ḿnh ra là một con trẻ, hạ sinh trong một chuồng ḅ. Đó chính là cách Ngài đối đầu bằng quyền năng của Ngài, hoàn toàn khác với nguyền quyền năng hủy hoại của bạo lực. Ngài đă cứu chúng ta bằng chính đường lối ấy. Ngài tỏ cho chúng ta thấy những ǵ cứu độ bằng đường lối ấy.

 

Trong những ngày Giáng Sinh này, chúng ta hăy hoàn toàn tin tưởng gặp gỡ Ngài, như thành phần mục đồng, như các Vị Đạo Sĩ Đông Phương. Chúng ta hăy xin Mẹ Maria dẫn chúng ta đến với Chúa. Chúng ta hăy xin chính Ngài chiếu tỏ dung nhan của Ngài trên chúng ta. Chúng ta cũng xin Ngài khống chế bạo lực trên thế giới này và làm cho chúng ta cảm nghiệm được quyền năng thiện hảo của Ngài. Với những cảm thức này, tôi thân ái ban Phép Lành Ṭa Thánh cho tất cả anh chị em.

 

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch từ

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2005/december/documents/hf_ben_xvi_spe_20051222_roman-curia_en.html 

TOP

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI với Cuộc Phỏng Vấn Truyền H́nh Balan về Vị Tiền Nhiệm Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhân ngày kỷ niệm 16/10

Sau đây là nguyên văn cuộc phỏng vấn của Đài Truyền H́nh Balan Quốc (TVP: Polish State Television) nhân dịp Ngày Giáo Hoàng, một ngày đă từng được Balan cử hành vào ngày 16/10 từ 5 năm qua.

 

Cuộc phỏng vấn này được thực hiện bởi vị làm đầu chương tŕnh Công Giáo của TVP là Cha Andrzej Majewski, và được thâu tại Tông Dinh Castelgandolfo để phát h́nh vào chính ngày Chúa Nhật 16/10/2005. Từ 8 giờ chiều cùng ngày này, bản văn phỏng vấn đây được phổ biến trên mạng điện toán toàn cầu của Đài Phát Thanh Vatican bằng nguyên ngữ Ư quốc, với các phần chuyển dịch sang tiếng Anh, Pháp, Đức, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. Sau đây là bản tiếng Anh được VIS gửi đi ngày Thứ Hai 17/10/2005.

 

Vị Lm mở đầu:     Con xin cám ơn Đức Thánh Cha đă ban cho chúng con được thực hiện cuộc phỏng vấn ngắn gọn này, nhân dịp Ngày Giáo Hoàng là ngày vẫn đang được cử hành ở Balan.

 

Vào ngày 16/10/1978, Đức Hồng Y Karol Wojtyla lên làm Giáo Hoàng, và từ đó, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, qua hơn 26 năm, đóng vai tṛ làm vị Thừa Kế Thánh Phêrô, như Đức Thánh Cha hiện nay, đă cùng với các vị giám mục và hồng y dẫn dắt Giáo Hội. Trong số các vị hồng y này, có Đức Thánh Cha đây, người được vị tiền nhiệm của ḿnh cảm mến và trân trọng: một con người được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô viết trong cuốn “Đứng Lên, Nào Chúng Ta Lên Đường” – con xin được trích lại ở đây những ǵ Đức Gioan Phaolô II đă viết: “Tôi cám ơn Chúa về sự hiện diện và hỗ trợ của Hồng Y Ratzinger. Ngài là một người bạn đích thực“.

 

Vị Lm hỏi:             Tâu Đức Thánh Cha t́nh bằng hữu này đă được bắt đầu ra sao và Đức Thánh Cha đă gặp Đức Hồng Y Karol Wojtyla khi nào?

 

ĐTC đáp:               Bản thân tôi đă được gặp ngài trong hai cuộc Mật Nghị Hồng Y năm 1978. Thật ra tôi đă nghe về Hồng Y Wojtyla, nhất là trong việc trao đổi thư từ giữa các vị Giám Mục Balan và Đức vào năm 1965. Các vị Hồng Y Đức nói với tôi về những công lênh và đóng góp lớn lao của vị Hồng Y ở Krakow này, và ngài là hồn sống của vấn đề trao đổi thư tín lịch sử này ra sao. Tôi cũng đă nghe thấy những người bạn đại học nói đến vị thế như là một triết gia và tư tưởng gia của ngài. Thế nhưng, như tôi đă nói, tôi được đích thân gặp gỡ ngài lần đầu tiên trong cuộc Mật Nghị Hồng Y năm 1978. Tôi yêu thích ngài ngay từ lúc đầu, và có Chúa biết, tôi tuy chẳng là ǵ, vị Hồng Y này lúc ấy liền làm bạn với tôi. Tôi tri ân ngài về niềm tin tưởng ngài đặt nơi tôi. Đặc biệt là khi tôi xem ngài cầu nguyện, tôi đă thấy được và hiểu được rằng ngài là một con người của Thiên Chúa. Cái ấn tượng đầu tiên của tôi về ngài thế này: ngài là một con người sống với Thiên Chúa và sống trong Thiên Chúa. Tôi cũng cảm phục về t́nh thân ái bất thành kiến trong việc ngài làm bạn với tôi. Nhân một cơ hội khác nhau, ngài đă ngỏ lời với những cuộc mật nghị hồng ư này, và nhờ thế tôi đă được dịp cảm thấy vị thế là một tư tưởng gia của ngài. Không cần phải nói nhiều, ngài cũng đă tạo được một mối liên hệ chân thành, và ngay sau khi được chọn làm Giáo Hoàng, ngài đă gọi tôi đến Rôma một số lần để nói chuyện, rồi cuối cùng ngài đă bổ nhiệm tôi làm Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin.

 

Vị Lm hỏi:             Như thế th́ việc bổ nhiệm này và việc triệu mời về Rôma ấy không có ǵ là lạ?

 

ĐTC đáp:               Thật là khó xử đối với tôi, v́ khi tôi được làm Giám Mục Munich, bằng một cuộc long trọng thánh hiến ở vương cung thánh đường Munich, tôi cảm thấy có trách nhiệm với giáo phận này, hầu như là một cuộc thành hôn vậy. Bởi thế mà tôi cảm thấy bị ràng buộc với giáo phận ấy. Cũng có một số vấn đề chưa được giải quyết, nên tôi không muốn rời giáo phận này trong t́nh trạng như thế. Tôi đă bàn tất cả những điều ấy với Đức Thánh Cha, một cách rất thẳng thắn, và ngài tỏ ḷng rất từ phụ đối với tôi. Ngài đă cho tôi thời gian để suy nghĩ và ngài nói với tôi rằng ngài cũng muốn suy nghĩ nữa. Sau cùng, ngài đă thuyết phục tôi rằng đó là ư muốn của Chúa. Thế nên tôi đă chấp nhận lời mời gọi này và trách nhiệm trọng đại này, một trách nhiệm không dễ dàng và là một trách nhiệm vượt ngoài khả năng của tôi. Thế nhưng, tin tưởng vào tấm ḷng nhân ái từ phụ của vị Giáo Hoàng này cũng như vào sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, tôi đă thưa vâng.

 

Vị Lm hỏi:             cái kinh nghiệm này đă kéo dài trên 20 năm…

 

ĐTC đáp:               Phải, tôi đă đến Rôma vào tháng 2 năm 1982 và nó đă kéo dài cho tới khi vị Giáo Hoàng này qua đời năm 2005.

 

Vị Lm hỏi:             Tâu Đức Thánh Cha, theo Đức Thánh Cha nghĩ th́ đâu là những lúc quan trọng nhất trong Giáo Triều của Đức Gioan Phaolô II?

 

ĐTC đáp:               Chúng ta có thể nh́n Giáo Triều này theo hai quan điểm: quan điểm hướng ngoại “ad extra” – hướng tới thế giới – và quan điểm hướng nội “ad intra” – hướng về Giáo Hội. Về khía cạnh hướng tới thế giới, đối với tôi, qua những lời lẽ của ngài, qua con người của ngài, qua việc ngài hiện diện, qua khả năng thu hút của ngài, Đức Thánh Cha đây đă tạo nên được một cảm thức mới về các thứ giá trị luân lư, về tầm quan trọng của tôn giáo trên thế giới. Điều này đă mở ra một đường hướng mới, một cảm thức mới về tôn giáo, cũng như về nhu cầu cần đến một chiều kích đạo lư nơi con người. Đặc biệt là tầm quan trọng của vị Giám Mục Rôma đă tăng lên quá sức. Bất chấp những khác biệt và bất kể việc không công nhận vai tṛ Thừa Kế Thánh Phêrô của ḿnh, tất cả mọi Kitô hữu đều nh́n nhận rằng ngài là một phát ngôn viên của Kitô giáo. Không một ai trên thế giới này, ở tầm mức quốc tế có thể nhân danh Kitô giáo nói năng như con người này, làm cho thực thể Kitô giáo có tiếng vang và quyền lực trên thế giới ngày nay. Ngài là phát ngôn viên cho các thứ giá trị cao cả của nhân loại đối với những người không phải là Kitô hữu cũng như đối với các tôn giáo khác nữa. Ngài có thể kiến tạo một bầu khí đối thoại giữa các đại tôn giáo và một cảm quan đồng trách nhiệm mà tất cả chúng ta cần phải có đối với thế giới. Ngài cũng nhấn mạnh rằng bạo lực và tôn giáo là những ǵ bất tương hợp, và chúng ta cần phải cùng nhau t́m kiếm đường lối dẫn đến ḥa b́nh, đảm nhận trách nhiệm chung đối với nhân loại. Về t́nh h́nh của Giáo Hội, tôi có thể nói rằng, trước hết, ngài biết cách để làm cho giới trẻ thấm nhập ḷng nhiệt t́nh sống với Chúa Kitô. Đây là điều mới lạ, nếu chúng ta nghĩ đến giới trẻ của cuối thập niên sáu mươi và bảy mươi. Giới trẻ ấy đă trở nên hăng say sống cho Chúa Kitô và cho Giáo Hội cũng như cho những thứ giá trị khó khăn thách đố. Chính tư cách của ngài và cái thu hút nơi vai tṛ lănh đạo của ngài đă góp phần vào việc động viên giới trẻ trên thế giới sống cho Thiên Chúa và v́ mến yêu Chúa Kitô. Trong Giáo Hội, ngài đă tạo nên được một ḷng kính mến mới mẻ đồi với Thánh Thể. Chúng ta vẫn c̣n sống trong Năm Thánh Thể là năm do ngài đầy ḷng mến yêu bí tích này mở ra. Ngài đă khơi dậy một ư thức mới về sự cao cả của T́nh Thương Thần Linh; và ngài hết sức tôn sùng Đức Mẹ. Nhờ đó, ngài đă hướng dẫn chúng ta tiến tới việc nội tâm hóa đức tin, đồng thời cũng tiến tới chỗ hiệu năng hóa đức tin hơn nữa. Dĩ nhiên chúng ta cần phải đề cập tới việc ngài góp phần thiết yếu vào những đổi thay cả thể trên thế giới trong năm 1989, qua việc cộng tác vào cuộc sụp đổ của xă hội chủ nghĩa.

 

Vị Lm hỏi:             Trong thời gian của những cuộc gặp gỡ riêng tư của Đức Thánh Cha và những cuộc nói chuyện của Đức Thánh Cha với Đức Gioan Phaolô II, Đức Thánh Cha cảm thấy điều ǵ đặc biệt nhất? Đức Thánh Cha có thể cho chúng con  biết về những lần gặp gỡ cuối cùng của Đức Thánh Cha, có thể là trong năm nay, với Đức Gioan Phaolô II hay chăng?

 

ĐTC đáp:               Được. Tôi đă gặp ngài hai lần vào lúc cuối cùng: một lần tại Bệnh Viện Gemelli, khoảng vào ngày 5 hay 6 Tháng Hai; và lần thứ hai là ngày trước khi ngài qua đời, tại pḥng của ngài. Trong lần gặp trước, vị Giáo Hoàng này thấy được là đau đớn song hoàn toàn tỉnh táo và rất ư thức. Tôi đă đến gặp ngài để bàn hỏi về công việc, v́ tôi cần ngài quyết định mấy điều. Mặc dù bề ngoài trông có vẻ đớn đau Đức Thánh Cha ấy đă hết sức chăm chú tới những ǵ tôi nói. Ngài đă nói lên quyết định của ngài chỉ bằng mấy lời, rồi ban phép lành cho tôi. Ngài đă chào tôi bằng Đức ngữ và tỏ ra ḷng ngài tin tưởng cùng thân t́nh với tôi. Tôi rất xúc động khi thấy ngài tỏ ra chịu đựng trong sự hiệp nhất với Chúa Kitô khổ đau, cũng như việc ngài chấp nhận đau đớn với Chúa và cho Chúa như thế nào. Cuộc gặp gỡ lần sau xẩy ra vào ngày trước khi ngài chết: bề ngoài ngài rất ư là đau đớn, và được các bác sĩ cùng thân hữu vây quanh. Ngài vẫn tỏ ra rất tỉnh táo và ngài đă ban phép lành cho tôi. Ngài không thể nói được nhiều nữa. Việc ngài nhẫn nại vào lúc đớn đau ấy là một bài học quí giá cho tôi: khi tôi thấy được ngài tin tưởng rằng ngài ở trong tay Chúa ra sao và ngài đă phó ḿnh cho ư định của Thiên Chúa như thế nào. Mặc dù đớn đau trông thấy, ngài vẫn b́nh thản, v́ ngài ở trong bàn tay của T́nh Yêu Thần Linh.

 

Vị Lm hỏi:             Tâu Đức Thánh Cha, thường trong các lời lẽ của ḿnh, Đức Thánh Cha đề cao h́nh ảnh Đức Gioan Phaolô II và nói Đức Gioan Phaolô II là một vị đại Giáo Hoàng, một vị cố tiền nhiệm đáng kính. Chúng con luôn nhớ những lời Đức Thánh Cha tuyên bố ở Thánh Lễ ngày 20 tháng 4 vừa rồi, những lời quả thực là dâng kính Đức Gioan Phaolô II. Tâu Đức Thánh Cha, chính Đức Thánh Cha đă nói những lời, con xin được trích lại ở đây, là “Dường như ngài đă nắm chặt lấy tay tôi, tôi thấy được đôi mắt long lanh của ngài và nghe được những lời của ngài, những lời mà vào lúc ấy ngài đặc biệt hướng về tôi: “Đừng sợ!” Tâu Đức Thánh Cha, sau cùng là một câu hỏi hết sức riêng tư, đó là Đức Thánh Cha có tiếp tục cảm thấy sự hiện diện của Đức Gioan Phaolô II hay chăng, và nếu có th́ như thế nào?

 

ĐTC đáp:               Được. Tôi sẽ bắt đầu bằng cách trả lời phần đầu câu hỏi của cha. Lúc đầu, khi nói về di sản của vị Giáo Hoàng này, tôi đă quên đề cập tới nhiều văn kiện được ngài để lại cho chúng ta – 14 bức thông điệp, nhiều Thư Mục Vụ, và những thứ khác. Tất cả những văn kiện này là một gia sản phong phú vẫn chưa được Giáo Hội hấp thụ hết. Sứ vụ của riêng tôi không phải là ban hành nhiều văn kiện mới mà là để bảo đảm cho việc thấm nhuần các văn kiện của ngài, v́ chúng là một kho tàng dồi dào, chúng là một thứ đích thực dẫn giải cho Công Đồng Chung Vaticanô II. Chúng ta biết rằng vị Giáo Hoàng này là người của Công Đồng, ngài đă thấm nhuần tinh thần và ngôn từ của Công Đồng này. Qua những văn kiện ấy, ngài giúp chúng ta hiểu được những ǵ Công Đồng ấy muốn hay không muốn. Điều ấy giúp cho chúng ta trở thành một Giáo Hội của thời đại chúng ta và cho tương lai. Giờ đây đến phần thứ hai của câu cha hỏi. Vị Giáo Hoàng này luôn gần gũi tôi qua những ǵ ngài viết: Tôi nghe thấy ngài và thấy ngài nói, nhờ đó mà tôi có thể tiếp tục đối thoại với ngài. Ngài luôn nói với tôi qua những ǵ ngài viết. Thậm chí tôi biết được cả nguồn gốc của một số những văn kiện ấy. Tôi có thể nhớ đến những cuộc bàn luận chúng tôi đă có với nhau về một số trong các văn kiện này. Bởi vậy mà tôi tiếp tục đàm đạo với Đức Thánh Cha đây. Việc gần gũi này không chỉ bị hạn hẹp vào các ngôn từ và văn bản mà thôi, v́ đằng sau những bản văn ấy tôi nghe thấy chính vị Giáo Hoàng này. Một con người về với Chúa vẫn không biến mất. Tôi tin rằng một con người về với Chúa thậm chí c̣n gần gũi chúng ta hơn nữa, và tôi cảm thấy ngài gần gũi tôi và tôi gần gũi Chúa. Tôi cảm thấy gần gũi vị Giáo Hoàng này, và giờ đây ngài giúp tôi được gần gũi Chúa, và tôi cố gắng để đi vào bầu khí của nguyện cầu ấy, của ḷng mến yêu Chúa, mến yêu Đức Mẹ, và tôi kư thác cho lời nguyện cầu của ngài. Đó là một cuộc đối thoại thường xuyên và chúng tôi gần gũi nhau một cách mới mẻ, một cách sâu xa.

 

Vị Lm hỏi:             Tâu Đức Thánh Cha, giờ đây chúng con đang đợi chờ Đức Thánh Cha ở Balan. Nhiều người đang thắc mắc là bao giờ Đức Giáo Hoàng tới Balan?

 

ĐTC đáp:               Đúng, nếu Chúa muốn, và nếu chương tŕnh của tôi cho phép, tôi hết sức muốn tới Balan. Tôi đă nói với Đức Ông Dziwisz về ngày giờ và tôi được cho biết là Tháng Sáu là thời gian tốt nhất. Tất nhiên mọi sự vẫn c̣n cần phải được sắp xếp với các cơ cấu khác nhau. Dù sao cũng c̣n quá sớm, nhưng có lẽ vào Tháng Sáu năm tới, nếu Chúa muốn, tôi sẽ đến Balan.

 

Vị Lm Kết:            Tâu Đức Thánh Cha, nhân danh tất cả khán giả của đài truyền h́nh chúng con, con xin cám ơn Đức Thánh Cha về cuộc phỏng vấn này.

 

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo tín liệu của điện thư VIS ngày 17/10/2005.

 

 

 

TOP

 

 

ĐTC Biển Đức XVI với Những Liên Hệ Giữa Công Giáo và Hồi Giáo

 

Cha Daniel Madigan, chủ tịch Học Viện Về Văn Hóa Và Chư Giáo của Đại Học Gregorian ở Rôma, vị mới được vị đương kim giáo hoàng bổ nhiệm làm tham vấn viên liên quan tới những mối liên hệ với Hồi hữu của Hội Đồng Giáo Hoàng Đặc Trách Đối Thoại Liên Tôn, trong một cuộc phỏng vấn với mạng điện toán toàn cầu Zenit, đă cho biết nhận định của ḿnh về thái độ của Đức Thánh Cha Biển Đức đối với cơ hội gặp gỡ nanh chị em Hồi hữu, ở chỗ, ngài chú trọng tới việc đối thoại với con người hơn là với cơ cấu.

 

Vấn:     Phải chăng Đức Thánh Cha Biển Đức XVI theo đường lối của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đối với Hồi hữu, hay là ngài theo một đường lối khác?

 

Đáp:    Quá sớm để tóm tắt đường lối tổng quan của vị tân Giáo Hoàng này đối với Hồi hữu, cũng như để so sánh nó với nhiều năm tháng hoạt động về lănh vực này của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Đối với tôi, có một số điểm trong bài ngài ngỏ cùng thành phần đại diện Hồi hữu ở Cologne cho thấy một cái ǵ đó về kiểu cách của ngài.

 

Đức Thánh Cha này đôi lúc gọi thành phần thính giả của ḿnh là “quí bạn Hồi hữu trọng kính thân mến”, và tôi hiểu rằng việc cứ sử dụng những chữ ấy không có trong nguyên bản được trao cho phóng viên kư giả, thế nhưng chúng phản ảnh những ngôn tự tự phát của ngài vào dịp ấy.

 

Đối với tôi, đó là một dấu hiệu quan trọng về cung cách ngài muốn Giáo Hội thực hiện. Nó không phải là cái ǵ mới mẻ, nhưng cần phải nhấn mạnh trong những năm này là thời điểm nhiều sự đă bị xao động rất nhiều giữa chúng ta.

 

Ngoài ra, ngài tái khẳng định bản văn kiện của Công Đồng Chung Vaticanô II “Nostra Aetate”, cho đó là Đại Hiến Chương cho vấn đề đối thoại. Đó là điều quan trọng ở vào lúc mà một số người đang cố gắng đặt vấn đề về thẩm quyền đối với các chủ trương của công đồng này nơi bản văn kiện ấy.

 

Đức Thánh Cha này chưa bao giờ nói trong bài diễn từ ấy về “Hồi giáo” cả, mặc dù ngài nói hai lần đến đức tin Hồi giáo. Điều này quan trọng v́ chúng ta có khuynh hướng nói về Hồi giáo như thể tôn giáo này là điều duy nhất. Chúng ta cảm thấy choáng váng trước tôn giáo này, v́ tôn giáo ấy dường như quá lớn.

 

Thế nhưng, Đức Thánh Cha Biển Đức hướng tới đường lối bằng cách nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại (như công đồng đă làm) về việc nói về con người, không nói về giáo thể, nói về Hồi hữu, không nói về Hồi giáo.

 

Người ta đôi khi ngờ vực về khả năng của việc đối thoại; một lư do tối thiểu về mối ngờ vực này đó là họ bị nhầm lẫn về thành phần tín hữu thực sự, về tha nhân và đồng nghiệp của họ, về đồng bào của họ, và họ nghĩ rằng đối thoại là vấn đề liên hệ tới những bản văn cổ cùng với những giáo điều lịch sử. Chỉ có con người mới đối thoại với nhau mà thôi.

 

Cuộc gặp gỡ ở Cologne đă cho thấy một bộ mặt quan trọng khác của cuộc đối thoại này – Đức Thánh Cha này đă không ngần ngại nói một cách thành thực về những quan tâm sâu xa của ngài. Ngài kh6ong tránh né sự thật hiển nhiên về t́nh trạng suy đồi của thế giới chúng ta đây, hay ngài không chỉ trách móc “những người bạn trọng kính” của ngài.

 

Trái lại, ngài đă nêu lên việc cùng làm việc với họ để t́m lối thoát. Ngài đă trang trọng coi họ là những tín hữu – thật sự ngài đă nhấn mạnh là “tất cả chúng ta, Kitô hữu và Hồi hữu, đều là những tín hữu” – và đă nói với họ một cách thành thật theo niềm tin của ngài và kêu gọi niềm tin của họ.

 

Vấn:     Vị Giáo Hoàng này không bao giờ nói tới việc đụng độ mà là việc gặp gỡ và liên đới văn minh. Thành phần Hồi hữu cha có dịp đối thoại trao đổi có luôn nghĩ như thế hay chăng?

 

Đáp:    Thật đáng chú ư về việc không có nơi bài nói của ngài tất cả những ngôn từ có tính cách đối đầu, chiến đấu, đối chọi, chiến tranh. Không phải v́ ngài là một người dễ lạc quan, mà ngài dường như nhận thấy rằng tất cả những thứ nói về cuộc đụng độ văn hóa có thể trở thành một thứ tiên tri tự măn.

 

“Văn minh” là một tư tưởng khác trong những tư tưởng trừu tượng rộng lớn có khuynh hướng làm lu mờ đi con người thực sự được chúng ta giao tiếp. Con người nói về một nền văn minh Hồi giáo, thế nhưng theo cách thức họ diễn tả về nó, hầu như không có một Hồi hữu nào tôi biết thuộc về thứ văn minh ấy cả. Tôi giao tiếp với nhiều Hồi hữu từ các quốc gia khác nhau và đời sống khác nhau, họ là một nhóm người hết sức khác nhau.

 

Tôi may mắn được giao tiếp hằng ngày trong 5 năm qua với một nhóm sinh viên Hồi hữu tuyệt vời, thành phần đến Rôma để học hỏi về Kitô giáo hầu phát động việc đối thoại và hiểu biết. Họ thật sự là không mất niềm hy vọng vào việc đối thoại.

 

Một điểm quan trọng nơi kinh nghiệm của họ nữa đó là họ vượt ra ngoài tất cả những thứ nói năng về “Tây phương” và “Kitô giáo”, và sống động cùng hoạt động bên những Kitô hữu thực sự – một lần nữa, chính con người mới là then chốt, chứ không phải cơ cấu.
 
Vấn:     Cha là một chuyên viên về Hồi giáo chẳng những biết được rất rơ về các văn liệu mà c̣n biết được rất nhiều người nữa. Cha thấy những cơ hội quan trọng nhất cho vấn đề đối thoại là ở chỗ nào và những điểm bất đồng trầm trọng nhất là ở chỗ nào?

 

Đáp:    Tôi rất thích việc đối thoại về thần học chúng tôi có được ở nơi viện đại học này. Tuy nhiên, tôi không tin rằng những điểm khác nhau giữa chúng ta thực sự về thần học. Nhẫn nại và chuyên chăm, chúng ta có thể tiến đến chỗ hiểu biết rơ ràng hơn những đường lối khác của nhau nơi việc tin tưởng vào một vị Thiên Chúa duy nhất.

 

Tuy nhiên, càng trở nên khó khăn hơn nữa khi đi sâu vào căn gốc của mối hận ức, của niềm bất măn và của cảm quan bị loại trừ là những ǵ rất nhiều Hồi hữu (và không chỉ Hồi hữu thôi) cảm thấy, những ǵ càng ngày càng được khai thác để trở thành những phản ứng bạo động từ một số ít.

 

Rất nhiều yếu tố góp lại khiến cho thế giới của chúng ta trở nên như hiện này, đó là chính trị, kinh tế, chủ nghĩa quốc gia, vấn đề toàn cầu hóa, nợ nần, chủ nghĩa bộ tộc, chỉ cần liệt kê ít điều như thế. Tất cả những yếu tố ấy cần phải hiểu được biết nếu chúng ta hy vọng thay đổi thế giới của ḿnh.

 

Tôi thấy cơ hội hay nhất cho việc đối thoại là ở chỗ kinh nghiệm về con người, chỗ chúng ta thấy được nỗi ước mong cho một thế giới tốt đẹp hơn. Đó là nơi chúng ta thực sự gặp gỡ nhau: ở đó, ở ḷng mong ước thấy được một thế giới chân chính hơn và một đời sống viên trọn hơn cho tất cả mọi người này vang vọng thần linh của Thiên Chúa là Đấng t́m cách “canh tân bộ mặt trái đất”.

 

Điều này có vẻ qú ứ cao cả và có lẽ là ảo tưởng, thế nhưng chúng ta biết rằng, theo những dụ ngôn của Chúa Giêsu th́ vương quốc của Thiên Chúa giống như một hạt giống nhỏ bé hay là một chồi mềm yếu, chứ không phải là một cơ cấu rải rác khắp thế giới.

 

Chính nơi những cuộc gặp gỡ nhỏ bé ấy mà đường lối của Thiên Chúa lộ diện, qua một nu cười, nơi việc chào hỏi, bằng bàn tay giúp đáp, bằng nói năng tử tế, bằng việc phục vụ nhỏ bé. Đó là những điều chung cho tất cả chúng ta mà tất cả chúng ta đều có trách nhiệm trong vấn đề đối thoại vậy.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch theo Zenit ngày 16/9/2005

TOP