NHẬN ĐỊNH VỀ GIÁO HOÀNG BIỂN ĐỨC XVI
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI: 100 Ngày Làm Giáo Hoàng
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, Công Đồng Chung Vaticanô II và Tính Chất Tân Tiến
Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI là “Một Đối Phó của Thiên Chúa với Khuynh Hướng Tục Hóa”
ĐTC BĐXVI với Bí Tích Thánh Thể
Khoa Giáo Hội Học Hiêp Thông của Hồng Y Joseph Ratzinger
NGUỒN GỐC NHÂN CHỦNG HỌC CỦA GIA Đ̀NH
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI: Ư Hướng Hiệp Nhất của ngài theo nhận định của một linh mục thân quen
ĐTC Biển Đức XVI với Luật Thánh Biển Đức
“Vị GH của Bữa Tiệc Ly … liên quan đến Hiệp Nhất Kitô Giáo”: Hy vọng bừng lên từ chân trời đại kết
ĐTC Biển Đức XVI với ư nghĩa Lễ Ḿnh Máu Thánh Chúa
Các Nữ Tu Ḍng Kín Thánh Clara ở Ḥa Lan cầu cho ĐHY Ratzinger được làm Giáo Hoàng
GH Biển Đức: Vị Giáo Hoàng của Hiệp Nhất Kitô Giáo: "Những cử chỉ cụ thể"
ĐTC Biển Đức XVI là Vị Thông Hiểu về ông tổ Thệ Phản Martin Lutherô
Tân Giáo Hoàng Biển Đức: Vị GH của Bữa Tiệc Ly . ... của Hiệp Thông Giáo Hội
Khoa Giáo Hội Học Hiệp Thông: Thao Thức Thần Học của HY Thần Học Gia Joseph Ratzinger
Giáo Hoàng Biển Đức XVI là một Đại Thần Học Gia Thời Hiện Đại
Một Nữ Đan Viện Biển Đức ở Tuscany vốn là Nhà Bêtania của Hồng Y Joseph Ratzinger
Một cặp vợ chồng trẻ mới được Hồng Y Ratzinger làm phép cưới cho cảm nhận về vị tân giáo hoàng
Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI là một con người yêu thích thiên nhiên và thể thao
Vị chủ tịch Liên Hiệp Thế Giới Lutherô hào hứng nơi tân giáo triều của GH Biển Đức XVI
Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Quê Hương, Thiên Tài và Danh Nghiệp
Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Một con người khổ hạnh mà vui tính
Tân GH Biển Đức XVI: Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội hưởng ứng ư hướng đại kết Kitô giáo của ngài
Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Chúc Mừng của Các Nhà Lănh Đạo Chính Trị
Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Cảm Nhận của Chư Vị Giáo Phẩm trong Giáo Hội
Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Nhận Định của Chư Giới Kitô Giáo
Một học giả lỗi lạc
Thao thao giảng uyên bác
Ngày đăng quang Giáo hoàng
Giòng tư duy như thác
Đất liền người chăn chiên
Xuống thuyền thành đánh cá
Xin vâng lời tất cả
Thầy Kitô nhân hiền
Lễ đăng quang ý nghĩa
Aó hoàng bào hình sò
Đồng cỏ xanh nhung tơ
Để đàn chiên nằm nghỉ
Giữ lửa tim nhiệt tình
Không thiết lập chương trình
Xin vâng nên đầy cá
Theo Thầy như bońg hình
Ra tay chống tay chèo
Lái con thuyền Giáo hội
Nghiêng ngả vẫn cố theo
Mong đàn chiên một mối
Chân lý trong bác ái
Trưởng thành trong đức tin
Kim chỉ nam Giáo hội
Ngài cố công giữ gìn
Luôn tác phong khiêm nhường
Tính tình thật dễ thương
Kinh Tin Kính giáo lý
Quyết bảo tồn kỷ cương
Thông thạo nhiều ngoại ngữ
Tín thác và chính truyền
Kinh nghiệm thật dư đủ
Mục vụ và giáo truyền
“Cầm cân nảy mực” tài
Một vấn ̣ḍề cho ngài
Có nhiều người dân ̣Đức
Đòi tự do quá mức
Hai anh em đi tu
Cả hai cùng linh mục
Anh cha xứ hiền từ
Còn em thành giám mục
Một giáo sư đại học
Mới ba chục tuổi đời
Nổi danh nhà thần học
Dạy tín lý nhiều nơi
Vị Chính Thống gọi ngài
Thần học gia vĩ đại
Của thời ̣đại hiện tại
Sách trước tác miệt mài
Ngợi ca Chuá Thánh Linh
Ban chủ chăn nhiệt tình
Đúng nhu cầu giáo hội
Hi sinh và thông minh
Lê ngọc Hồ
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI: 100 Ngày Làm Giáo Hoàng
Vào ngày áp 100 ngày (19/4-28/7/2005) làm giáo hoàng của ĐTC Biển Đức XVI, phóng viên Tosatti chuyên viên về Vatican của tờ La Stampa đă bày tỏ nhận định của ḿnh về vị tân giáo hoàng, vị kư giả cũng là tác giả cuốn sách bằng Ư ngữ đó là “Cuốn Tự Điển về Giáo Hoàng Ratzinger: Bản Hướng Dẫn cho Giáo Triều Ngài”.
Vấn: Đâu là ư tưởng nổi bật nhất, nguyên khôi nhất và quan trọng nhất về cuốn “Tự Điển Giáo Hoàng Ratzinger”?
Đáp: Tôi rất thích việc ngài suy tư về Ngai Ṭa Thánh Phêrô – khó khăn và khó nuốt – cũng như về Do Thái Giáo vào thời của Chúa Giêsu. Tân Ước chẳng là ǵ khác ngoài việc dẫn giải về Do Thái Giáo, bắt đầu từ lịch sử của “lề luật, tiên tri và các bản văn” về Chúa Giêsu mà vào thời của Chúa Giêsu chưa đạt được h́nh thức trọn vẹn của ḿnh như một sổ bộ dứt khoát cuối cùng, thế nhưng vẫn c̣n bỏ ngỏ và v́ thế được tŕnh bày cho thành phần môn đệ như một chứng từ về chính Chúa Giêsu, như các cuốn Sách Thánh mạc khải về mầu nhiệm của Người.
Vấn:
H́nh như một phần của Âu Châu và thế giới Tây Phương hướng chiều về việc hợp
pháp hóa nghịch lại với luật tự nhiên và các giáo huấn của Kitô giáo. Một cuộc
đối chọi về các đề tài luân lư cũng như về mối liên hệ giữa Giáo Hội và quốc gia
dường như khó có thể tránh được. Theo ư của ông th́ sao?
Đáp:
Chắc chắn là có mối nguy hiểm này. Luật tự nhiên và quyền tự nhiên dường như
đang gặp nguy hiểm ở thế giới Tây phương. Thế nhưng, một số trường hợp, tôi đang
cố ư nói tới chủ trương của nhiều nhà tư tưởng “trần thế” quan trọng ở Ư trong
những tháng vừa rồi, khiến cho người ta hy vọng rằng ít là một phần thế giới cho
ḿnh là Kitô giáo sẽ hiểu được những nguy cơ xuất phát từ cá nhân chủ nghĩa, từ
cái châm ngôn “mọi ước muốn đều là quyền lợi”.
Vấn: Ông có nghĩ rằng giáo triều Biển Đức XVI, Vị Giáo Hoàng Đức quốc đầu tiên qua nhiều thế kỷ, có thể ảnh hưởng đến những đổi thay về chính trị và văn hóa của quê hương đất nước ngài hay chăng?
Đáp: Tôi không nghĩ thế. Tôi không nghĩ xứ sở sinh trưởng của ngài là mối quan tâm chính yếu của ngài. Tôi lấy làm lạ v́ thấy ngài coi nó như là một phần của thế giới Tây phương, trong đó những h́nh thức mới của chủ nghĩa dân ngoại đang chiếm ưu thế, và trong đó đang tái hiện t́nh trạng mê tín dị đoan gây ra bởi thiếu hụt đức tin. Tuy nhiên, tôi nghĩ việc tuyển chọn một vị Giáo Hoàng Đức quốc có thể làm gia tăng sự hứng thú của đồng bào ngài vào h́nh ảnh và sứ điệp của ngài, như là một tác hiệu về lâu về dài.
Vấn:
Là tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin, và là một nhà trí thức, Đức Joseph
Ratzinger đă nhúng tay một cách rơ ràng vào việc chống lại chủ nghĩa tương đối
về luân lư và đạo nghĩa. Ông đă khám phá ra những ǵ nơi mối liên hệ này khi
viết cuốn sách của ông?
Đáp: Tôi đă giành hai đoạn dài cho đề tài về chủ nghĩa tương đối. Tôi đă trích dẫn ngay từ đầu là “Chủ nghĩa tương đối đă trở thành… vấn đề chính yếu của thời đại chúng ta”. Ở một đoạn khác ngài viết rằng tin tưởng vào Chúa Giêsu Kitô “được coi như một thứ bảo thủ xuất hiện như là một cuộc thực sự tấn công tinh thần tân tiến”.
Vấn:
Là chuyên viên
Vatican, ông có
thể cho biết nhận định tổng hợp về những ngày đầu tiên này của giáo triều Đức
Biển Đức XVI hay chăng?
Đáp: Tôi không dám nêu lên nhận định, cho bằng chia sẻ những cảm tưởng của ḿnh. Ngài tiến hành một cách nhẫn nại, khôn ngoan và tế nhị, thế nhưng ngài tiến hành và thực hiện nhiều hơn là chúng ta nhận thấy. Ngài không sợ nhă nhặn nhưng hết sức rơ ràng minh bạch để nói lên những điều nào đó.
Từ từ ngài để cho thấy chiều kích nhân bản của ngài, một chiều kích hết sức phong phú, và là một chiều kích không phải bao giờ cũng dễ dàng đối với một con người bẽn lẽn. Ngài biết cách nói với thành phần đơn thành cũng như với thành phần triết gia, và làm cho người ta hiểu biết về ngài, và đó là một khả năng không phải là thông dụng. Tôi nghĩ rằng ngài sẽ làm nhiều điều tốt đẹp cho Giáo Hội và cho thế giới.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit ngày 27/7/2005
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, Công Đồng Chung Vaticanô II và Tính Chất Tân Tiến
Bà Rowland ở Melbourne, Úc Đại Lợi, tác giả cuốn “Văn Hóa và Truyền Thống Thánh Tôma: Sau Công Đồng Chung Vaticanô II” (Routledge xuất bản), đă chia sẻ với mạng điện toán Zenit về lư do tại sao việc tái cứu xét và tái giải thích Hiến Chế “Vui Mừng và Hy Vọng”, một đề tài nổi bật trong công cuộc thần học của Đức Joseph Ratzinger, là những ǵ cần thiết để tái hướng dẫn việc Giáo Hội đương đầu với tính chất tân tiến phóng khoáng.
Theo bà, nhiều người tin rằng hiến chế “Vui Mừng và Hy Vọng” là văn kiện chính yếu làm nên đời sống của Giáo Hội những năm ngay sau Công Đồng Chung Vaticanô II. Tuy nhiên, sau 40 năm của công đồng này, văn kiện mục vụ ấy đă khiến cho nhiều người kết luận rằng văn kiện ấy không hiểu biết đầy đủ về văn hóa, nhâá là thứ văn hóa của nền văn hóa tân tiến phóng khoáng. Kết quả là, theo bà này, mới bùng lên những trào lưu trong Giáo Hội làm hư hại trầm trọng đến phụng vụ và gây ra một thứ nhân bản chủ nghĩa sai lầm mà cuối cùng đă đi đến chỗ hủy hoại việc chăm sóc mục vụ cho các linh hồn.
Vấn: Vai tṛ của Đức Joseph Ratzinger tại Công Đồng Chung Vaticanô II ra sao và làm thế nào công đồng đă h́nh thành nên các quan điểm thần học của ngài?
Đáp: Ngài đă tham dự Công Đồng này như là một cố vấn cho ĐHY Joseph Frings TGP Cologne. Trong một bài nói nổi tiếng, vị hồng y Frings đă khai chiến về vấn đề Ṭa Thánh, và việc trao đổi giữa ngài và ĐHY Alfredo Ottaviani thường được coi là một cuộc tranh luận sôi nổi nhất Công Đồng. Người ta cho rằng vị linh mục trẻ Ratzinger đă đóng góp tư tưởng vào việc nhận định này của hồng y Frings.
Về vấn đề Công Đồng này tác dụng trên Đức Ratzinger th́ việc ngài tham dự với tư cách là cố vấn đă cống hiến cho ngài một quan niệm bao rộng đáng kể thuộc lănh vực tri thức Công giáo, một kiến thức về những vấn đề Giáo Hội phải đương đầu ở những phần đất khác nhau trên thế giới cùng với một số kinh nghiệm về việc hoạt động ở Ṭa Thánh.
Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng Công Đồng đă thay đổi quan niệm của ngài cũng như các quan niệm của ngài đă làm nên Công Đồng.
Vấn: Vị tân Giáo Hoàng này quan niệm thế nào về vai tṛ của Giáo Hội và mối liên hệ giữa Giáo Hội với “thế giới” như được quan niệm bởi Công Đồng Chung Vaticanô?
Đáp: Công Đồng Chung Vaticanô II đă diễn tả Giáo Hội như là một bí tích cứu độ phổ quát. Theo đó, Giáo Hội không phải là một thực thể tách biệt khỏi thế giới mà thế giới được ḥa giải với Giáo Hội và với Thiên Chúa. Đó là một thứ quan niệm người ta cho rằng do Đức Biển Đức phát động.
Trái với những nhận định phổ thông, linh đạo Âu Quốc Tinh của ngài không có nghĩa là ngài chống lại thế giới, hay là ngài tin rằng người Công giáo cần phải lần ṃ vào những khu ổ chuột bần cùng.
Linh đạo của ngài cho thấy ngài không phải là thành phần Pelagian. Ngài không nghĩ rằng được đầy đủ giáo dục th́ Tân Gia Liêm có thể được xây dựng trên trái đất này. Nguyên việc giáo dục về quyền lợi và nghĩa vụ, những bài giảng về nhân quyền, những huấn dụ về t́nh yêu thương huynh đệ và công ích, sẽ chẳng đi đến đâu trừ phi con người cởi mở trước công việc của ân sủng và việc hướng dẫn của Thánh Linh.
Một thứ nhân bản không phải Kitô giáo không thể cứu thế giới. Đây là lời kết luận của vị đồng cố vấn của ngài là Hồng Y Henri de Lubac, và Đức Biển Đức đă nói một số câu rất mạnh chống lại những thứ huyênh hoang của một thứ nhân bản thuần thế tục.
Ngoài ra, trong khi ngài không biện hộ cho việc rút lui ra khỏi thế gian th́ ngài đă khuyến dụ người Công giáo hăy tái phục hồi, một cách nghiêm chỉnh về phúc âm, cái can đảm không chiều theo các hướng chiều về xă hội của thế giới thịnh đạt.
Ngài đă
nói rằng chúng ta cần phải can đảm để vượt lên trên những ǵ được coi là “b́nh
thường” đối với một con người ở cuối thế kỷ 20, và tái khám phá ra tính cách đơn
giản của đức tin. Nói cách khác, người ta có thể giao tiếp với thế giới, và ở
trong thế giới, song không thuộc về thế giới.
Vấn: Dự phóng này, một dự phóng
được các Nghị Phụ Công Đồng ấy đặt để trong hieên chế “Vui Mừng và Hy Vọng”,
thành công hay thất bại?
Đáp: Trước bối cảnh của việc đọc một cách tụa hóa hiến chế “Vui Mừng và Hy Vọng”, Đức Gioan Phaolô II lập luận rằng văn kiện này cần phải được đọc theo quan điểm của Khoản 22. Tóm tắt th́ khoản này nói rằng con người cần nhận biết Chúa Kitô để biết bản thân ḿnh.
Chắc chắn là Đức Giáo Hoàng Biển Đức đồng ư rằng khoản này làm giảm đi những chữ nghĩa mâu thuẫn nếu nó được coi như cái lăng kính để đọc các phần khác của văn kiện này. Thế nhưng có bao nhiêu người Công Giáo trên thế giới, kể cả thành phần giáo sĩ, biết được tầm quan trọng của Khoản 22 ấy?
Việc giải thích phổ thông bản văn kiện này đó là nó cho thấy việc Giáo Hội công nhận tính chất tân tiến là những ǵ có thể chấp nhận được, và v́ đó là ư muốn của Thần Linh mà người Công giáo thích ứng các việc thực hành và văn hóa của ḿnh, kể cả văn hóa phụng vụ, với tinh thần tân tiến sớm bao nhiêu có thể.
Điều này đă gây ra việc xuất phát một thứ cách mạng về văn hóa trong Giáo Hội đến nỗi bất cứ những ǵ có tính cách tiền công đồng đều được đặt lại vấn đề.
Những kiểu trang phục phụng vụ, những h́nh thức kinh nguyện, những việc tôn sùng khác nhau, những bản thánh ca từng là một phần thuộc kho tàng văn hóa của Giáo Hội qua nhiều thế kỷ, đều chẳng những bị vứt bỏ mà c̣n chủ động dẹp đi nữa. Để làm một người Công Giáo hành đạo ở nhiều giáo xứ, người ta cần phải chia sẻ với nền văn hóa nhân gian thuộc thập niên 1960 và 1970.
Chống lại t́nh trạng này, Đức Ratzinger đă từng bị phê phán về những ǵ ngài gọi là “tính cách pho trương ḷe loẹt và tính cách non nớt về mục vụ” – “việc hạ thấp phụng vụ xuống mức độ của một bữa tiệc trà giáo xứ và mức độ dễ hiểu của một tờ nhật báo thông dụng”.
Nếu dự phóng của hiến chế “Vui Mừng và Hy Vọng” được hiểu là “việc dàn xếp vấn đề thực hành đức tin theo văn hóa tân tiến” th́ tôi nghĩ rằng dự phóng này có vấn đề về phương diện mục vụ.
Tuy
nhiên, nếu nó được đọc bằng lăng kính “Thảm Kịch của Chủ Nghĩa Nhân Bản Vô Thần”
của thần học gia de Lubac th́ tôi nghĩ rằng dự phóng ấy đang vươn tới con người
được gọi là tân tiến và giúp họ t́m thấy bản thân họ, bằng cách phổ biến thần
học về thân thể của Đức Gioan Phaolô II, khoa nhân loại học Ba Ngôi của bộ thông
điệp “Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần”, “Giầu Ḷng Thương Xót” và “Là Chúa và Là Đấng
Ban Sự Sống”, cùng với những giá trị của Phúc Âm Sự Sống nơi Thông Điệp “Phúc Âm
Sự Sống” và “Rạng Ngời Chân Lư” – một dự phóng như thế thực sự mới chỉ là những
ǵ bắt đầu và c̣n lâu mới khởi sự sinh hoa kết trái.
Vấn: Về vấn đề giao tiếp của Giáo
Hội với “thế giới” có vấn đề liên tục hay ngắt quăng nơi quan điểm của Giáo
Hoàng Biển Đức và Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, vị góp phần chính yếu vào hiến chế
“Vui Mừng và Hy Vọng” như thế nào?
Đáp: Tôi nghĩ rằng sẽ có một sự liên tục ở chỗ Đức Biển Đức chắc chắn đồng ư là cần phải đọc hiến chế “Vui Mừng và Hy Vọng” theo kiểu của thần học gia de Lubac, là văn hóa không phải là những ǵ trung dung về thần học, là chúng ta phải chọn lựa giữa văn minh yêu thương và văn hóa sự chết, là Chúa Kitô và khoa nhân loại Kitô giáo cần thiết để giải cứu chúng ta khỏi mạng lưới của những thực hành văn hóa và luân lư làm hủy hoại tính cách nguyên vẹn của con người và nuôi dưỡng chủ nghĩa buông thả.
Tuy nhiên, một điểm khác biệt duy nhất về sắc thái đó là Đức Biển Đức ít có khuynh hướng sử dụng ngữ pháp đặc biệt là những ǵ được Đức Gioan Phaolô II ưa chuộng.
Chẳng hạn như Đức Gioan Phaolô II có lần nói rằng Giáo Hội của Công Đồng này “thấy ḿnh như là hồn sống của tính chất tân tiến”. Rồi ngài định nghĩa tính chất tân tiến như là “một tụ điểm của những điều kiện giúp cho con người thể hiện tốt đẹp hơn tính chất trưởng thành của ḿnh về tinh thần, luân lư và văn hóa”. Vấn đề ở đây là đó không phải là những ǵ được hầu hết con người ta nghĩ tới khi họ nghe thấy từ ngữ diễn tả “tính chất tân tiến”; và chắc chắn đó không phải là cách hiểu biết như người ta thấy xẩy ra nơi nhiều lập luận thức giả của thứ hiện tượng văn hóa ấy.
Từ những ǵ tôi đă đọc, Đức Biển Đức không theo sách lược tri thức này. Khi ngài nói về tính chất tân tiến ngài không cố gắng để tái định nghĩa lại ư nghĩa chung. Điều này có lẽ là v́ ngài nghĩ rằng về ngữ pháp không có ǵ là lợi cho lắm khi tŕnh bày Giáo Hội như tân tiến khi mà thành phần hậu tân tiến lại quá bận bịu với việc phê phán tính chất tân tiến. Nó chỉ làm cho người Công giáo lấy lại cho thăng bằng một thứ chủ trương đang bị lu mờ đi tính cách phổ thông của nó.
Cách thứ hai tôi nghĩ vai tṛ giáo hoàng của hai vị có thể khác nhau đó là trong khi Đức Gioan Phaolô II chú trọng tới đạo đức học và nhân loại học – và bởi v́ đó là những đề tài chính yếu của hiến chế “Vui Mừng và Hy Vọng” – th́ Đức Biển Đức có thể sẽ chú trọng nhiều hơn đến giáo hội học, tập trung vào các đề tài trong hiến chế “Ánh Sáng Muôn Dân” và sắc lệnh về đại kết cũng như với tất cả những ǵ về phụng vụ.
Trong cuốn “Thần Đô”, Thánh Âu Quốc Tinh viết rằng trong việc viết lên lịch sử thế giới theo sự quan pḥng thần linh có một nét đẹp nào đó xuất phát từ cái tương phản của những thứ nghịch đảo, một tính chất hùng hồn nơi các biến cố thay v́ nơi ngôn từ.
Khi so sánh giữa hai vai tṛ làm giáo hoàng này có một thứ tính cách hùng hồn về lịch sử nơi việc Đức Wojtyla, một người Balan được tuyển chọn để làm cho chủ nghĩa Marxít sụp đổ và chú trọng tới việc cổ vơ một khoa nhân loại học Kitô giáo thay thế, trong khi Đức Ratzinger người Đức được tuyển chọn để đối đầu với các vấn đề gây ra bởi những thành phần mà trong đó có Lutherô và Nietzche.
Vai tṛ giáo hoàng này có thể chú trọng nhiều đến việc chữa lành các vết thương của Phong Trào Cải Cách được bắt đầu ở Đức, và chiến đấu với những ǵ được ngài gọi là “cái độc đoán của chủ nghĩa tương đối” mà gịng dơi tri thức của chủ nghĩa này cũng mang tính chất Đức quốc rất ư là mănh liệt.
Việc này cho thấy vẻ đẹp và bàn tay can thiệp tối hậu của thần linh.
Vấn: Bà đă nói rằng trận chiến
chính yếu về tri thức và thần học trong Giáo Hội là trận chiến xẩy ra giữa
“thành phần theo chủ thuyết Tôma thiên Âu Quốc Tinh” và “thành phần theo chủ
nghĩa Tôma thiên Whig”. Như thế có nghĩa là ǵ?
Đáp: Trước hết, để tôi định nghĩa về “Whig” cái đă.
Thành ngữ “Whig Thomist” được Michael Novak tạo ra để diễn tả dự án về tri thức
của ông ta. Tứ ban đầu chữ “Whig” xuất phát từ từ ngữ Tô Cách Lan “Whiggamor” về
một tay lùa gia xúc – mặc dù có chỗ nói là tên trộm gia cầm hay chỗ khác cho là
tên trộm ngựa. Ban đầu chữ này được áp dụng cho thành phần Tín Đồ Tô Cách Lan,
hầu hết ở phía tây ngạn Tô Cách Lan, thành phần chống lại động cơ của Stuart
trong những trận chiến tranh thời thế kỷ 17.
Đối phương của họ là Tories – một chữ bắt nguồn từ Gaelic ám chỉ “ngoài ṿng
pháp luật” – bao gồm một số quí tộc, nhiều điềm chủ và nông dân. Họ là thành
phần thương mại về chính sách kinh tế, thành phần trung thành về chính trị và có
khuynh hướng ủng hộ việc nối ngôi của James II (1633-1701).
Qua gịng thời gian, chữ này được sử dụng để nói đến một bè phái thuộc chính trị
Hiệp Vương Quốc (British). Mặc dù không bao giờ có một định nghĩa theo ư nghĩa
về từ ngữ này, nhưng v́ được tổng quát hóa theo xă hội học, có thể nói rằng
thành phần Whigs là miêu duệ của Chủ Nghĩa Minh Tri Tô Cách lan, một chủ nghĩa
chú trọng tới quyền tự do về kinh tế và chính trị, hay một thứ triết lư mới được
gọi là tự do chủ nghĩa, một chủ nghĩa thường được đồng hóa với một h́nh thức
Thanh giáo của Phong Trào Thệ Phản.
Vào thế kỷ 19, Lord Acton đă làm phổ thông hóa ư nghĩ là Thánh Tôma Aquinas là
nhân vật Whig tiên khởi, tức là một nhân vật xướng xuất tiên khởi của một thứ
quan niệm chính trị tân tiến, hậu Minh Tri. Bởi thế “Whig Thomism” là thành ngữ
nói về một dự án tri thức t́m cách để định vị nguồn gốc về truyền thống tự do
nơi tư tưởng của Thánh Tôma Aquinas cũng như để tổng hợp những yếu tố nơi truyền
thống Tự Do, đặc biệt những yếu tố được cung cấp bởi Chủ Nghĩa Minh Tri Tô Cách
Lan, đối với Chủ Nghĩa Tôma kinh điển.
Dự án muốn đọc Thánh Tôma Aquinas như là một nhân vật tiên khởi Whig hay Cấp
Tiến đă bị một số học giả lên tiếng chỉ trích.
Chẳng hạn như Robert Kraynak, trong cuốn “Đức Tin Kitô Giáo và Dân Chủ Tân Thời”,
đă viết rằng “cho dù là hấp dẫn, việc giải thích của Acton đang là những ǵ lừa
đảo, v́ Thánh Tôma bênh vực việc chia sẻ quyền lực và việc tham gia vào chính
trị, chứ không phải như một thứ quyền của dân chúng đối với việc đồng ư của nghị
viện, cũng không phải là phương tiện để bảo vệ các quyền lợi và quyền tự do cá
nhân, mà là việc khôn khéo áp dụng lề luật tự nhiên là những ǵ có mục đích hiện
thực hóa một cách tốt nhất ở một cấp độ vững chắc theo hiến định hướng về ḥa
b́nh, đức độ và ḷng đạo hành Kitô hữu. Đó là chủ nghĩa tổ hợp của thời trung cổ
được áp dụng trong khuôn khổ giáo thuyết của Thánh Âu Quốc Tinh về Hai Thành Đô,
hơn là việc giải thích đầu tiên gây nên vấn đề tự do tân tiến”.
Những ai có thể được xếp một cách rộng răi vào “thành phần theo chủ nghĩa Thánh
Tôma thiên Âu Quốc Tinh” th́ theo cách đọc về Thánh Tôma kiểu của Kraynak, hơn
là kiểu của Acton.
Những ǵ tôi đă lập luận trong cuộc sách của tôi “Văn Hóa và Truyền Thống Thánh
Tôma: sau Công Đồng Vatican II” đó là có một sự phân rẽ giữa những ai nghĩ rằng
truyền thống Thánh Tôma cần phải thích ứng với nền văn hóa tân tiến, nhất là với
những khía cạnh về kinh tế của nền văn hóa này – đó là thành phần cho ḿnh là
“Whig Thomist” – với những ai tin rằng tính chất tân tiến và truyền thống tư do
của nó thực sự là độc hại cho việc phát triển đức tin.
Những ai chấp nhận chủ trương cuối cùng này không muốn bổ khuyết truyền thống
Thánh Tôma bằng những liều lượng của các thứ giá trị thuộc Chủ Nghĩa Minh Tri.
Họ được diễn tả một cách rất rộng, v́ nhu cầu không c̣n danh xưng nào hay hơn,
như là thành phần theo chủ nghĩa Thánh Tôma thiên Âu Quốc Tinh, ở chỗ nhất trí
với ư nghĩ của Thánh Âu Quốc Tinh về hai thành đô, họ bác bỏ cái đ̣i hỏi của
truyền thống tự do tỏ ra trung lập đối với những viễn tượng đối chọi về sự thiện
và những đ̣i hỏi đối chọi về thần học.
Trong khi thành phần Whigs lập luận là chủ nghĩa tự do là cái bừng phát hợp lư
của cuộc tổng hợp kinh điển hữu thần, th́ thành phần theo chủ nghĩa Tôma thiên
Âu Quốc Tinh lại cho rằng truyền thống tự do là tiêu biểu cho việc nó muốn tái
kiến trúc cái biến đổi và dị giáo của nó, và họ có khuynh hướng đồng ư với
Samuel Johnson rằng ma quỉ, chứ không phải Thánh Tôma Aquinas, là nhân vật Whig
tiên khởi.
Bởi thế mới có hai thứ nhận định khác nhau về tính chất tân tiến, từ đó, mới có
hai cách nhận định về Giáo Hội liên quan tới thế giới đương đại. Trong khi thành
phần Whigs muốn Giáo Hội thích ứng với nền văn hóa hiện đại th́ thành phần thiên
Âu Quốc Tinh lại thích chủ trương cẩn trọng hơn nhiều.
Một vấn đề khác được tôi đề cập tới trong cuốn sách của tôi đó là những ai nghĩ
rằng truyền thống tự do là một avant-garde th́ sống khoảng 40 năm thụt lùi về
thời gian. Chủ nghĩa tự do đă không c̣n là thứ truyền thống tri thức bá chủ ở
thế giới Tây phương nữa vào năm 1968. Ít là v́ bấy giờ trận chiến đụng độ về tri
thức này đă trở thành tay ba.
Thành phần thứ nhất đều là hữu thần, đó là Công giáo, Hồi giáo, Thệ Phản v.v.;
thành phần thứ hai, đó là những kẻ tin vào lư lẽ kiểu Chủ Nghĩa Minh Tri, tức là
những kẻ khác nhau thuộc thành phần cấp tiến muốn cắt ĺa lư trí khỏi đức tin;
và thành phần thứ ba đó là thành phần hậu tân tiến, những kẻ nghĩ rằng Chủ Nghĩa
Minh Tri là một kinh nghiệm rất áp bức về xă hội và tất cả mọi lối giải thích về
lư lẽ một cách nào đó đều liên hệ tới những giả thuyết về thần học hay hoang
đường học, nhưng họ không chấp nhận là chúng ta có thể sử dụng lư trí của chúng
ta để phán đoán giữa những thứ giả thuyết đối chọi nhau về thần học ấy.
Về một số phương diện, các học giả Công giáo có thể khá hơn khi giao tiếp với
thành phần hậu tân tiến này hơn là những ai cứ nhấn mạnh đến cái tách ĺa triệt
để giữa đức tin và lư trí, hay ít là họ không đóng đinh những sắc thái của ḿnh
một cách bất khả văn hồi vào cây trụ tự do.
Vấn đề mà thành phần Whigs và Âu Quốc Tinh xung khắc với nhau đă qua là những ǵ
bao gồm cả vấn đề về tính chất luân lư của những ǵ được gọi là “văn hóa Mỹ”,
một thứ văn hóa dĩ nhiên không thu hẹp vào lănh địa của Hiệp Chủng Quốc. Như
Alasdair Maclnture nói, nó là một thứ cấu trúc về lư thuyết.
Thành phần Whigs muốn công nhận lănh vực kinh tế quốc tế hiện nay, trong khi đó
thành phần thiên Âu Quốc Tinh muốn thực hiện một biện pháp cẩn trọng hơn, lập
luận rằng có những thực hiện về kinh tế mang tính chấp không hợp với giáo huấn
về xă hội của Giáo Hội.
Ngoài ra, thành phần thiên Âu Quốc Tinh dường như muốn cho thấy rằng hầu hết
người ta không chịu ngồi xuống để khai triển một vũ trụ quan cho ḿnh theo những
thời điểm của việc suy tư về triết học và thần học. Họ khéo léo lấy những giá
trị và tư tưởng của những cơ cấu họ có liên hệ.
Thành phần thiên Âu Quốc Tinh này lập luận rằng có những khía cạnh về nền văn
hóa tân tiến tỏ ra gây trở ngại cho việc triển nở vấn đề sống đạo và tin tưởng
của Kitô hữu, và trừ phi nền văn hóa này được thay đổi, th́ không có một thức
thao luyện về tri thức nào của thành phần học giả Giáo Hội sẽ giúp ích cho hằng
tỉ người Công giáo cần phải sinh sống trong thế giới này.
Noí cách khác, nếu người ta phải là một vị thánh mới không bị nhập nhiễm về luân
lư bởi thứ văn hóa họ có liên hệ th́ có một cái ǵ đó sai trái nơi nền văn hóa
đó.
Tôi không nghĩ rằng đây là trận chiến chính yếu về tri thức trong Giáo Hội là mà
một trận chiến quan trọng.
Vấn: Giáo Hoàng Biển Đức XVI là một thành phần Âu Quốc Tinh ở chỗ nào? Ngài là thành phần theo chủ trương của Thánh Tôma ở chỗ nào?
Đáp: Tôi có thể nói là Giáo Hoàng Biển Đức XVI là một phần tử Tôma ở chỗ ngài có lẽ hợp với hầu hết những ǵ Thánh Tôma viết. Tuy nhiên, ngài không phải là phần tử theo Thánh Tôma ở chỗ nại vào thẩm quyền của Thánh Tôma trong việc bênh vực đức tin, căn cứ các nỗ lực về trí thức của ḿnh vào những tác phẩm của Thánh Tôma hay ở chỗ sử dụng phương pháp học kiểu kinh viện.
Trái lại, Giáo Hoàng Biển Đức là một trong nhiều phần tử thuộc thế hệ của ngài, thành phần, trong khi bất đồng ư với nội dung tư tưởng của Thánh Tôma, vẫn tin rằng việc tŕnh bày đức tin theo kiểu kinh viện không thực sự làm cho linh hồn sinh động ngoại trừ chúng trở thành một loại linh hồn đặc biệt ham tranh luận về tri thức. Ngài đă nói rằng “triết học kinh viện có cái cao cả của nó nhưng mọi sự đều là những ǵ vô cảm thức”.
Trái lại, với Thánh Âu Quốc Tinh, “con người cảm thương, sầu đau, vấn nạn bao giờ cũng có đó, và quí vị có thể cảm thấy như thánh nhân”.
Đức Biển Đức cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều cái nguyên tắc về đức tin của Thánh Âu Quốc Tinh ở chỗ đức tin là cửa mở ra kiến thức. Ngài đă nói rằng ngài tin rằng nơi con người đă được ghi khắc một loại kư ức về Thiên Chúa, một loại tưởng nhớ đến Thiên Chúa, nhưng nó cần phải được làm bừng tỉnh.
Mầm mống Âu Quốc Tinh của ngài cũng được tỏ lộ ra nơi việc chú trọng đến siêu việt tính của vẻ đẹp và việc ngài hiểu biết được tầm quan trọng về giáo lư của ngôn ngữ cũng như của những biểu hiệu, và về mối liên hệ giữa chất thể của mô thể với bản thể.
T́nh trạng lộn xộn về phụng vụ rất nhiều trong 30 năm qua đă được thành phần ít hiểu biết muốn đổ dồn cho thứ ngôn ngữ của phụng vụ, muốn thay thế những cử chỉ biểu hiệu bằng việc thành phần giáo dân giải thích những ǵ Cha đang làm – như thể tất cả chúng ta là những tay Martian không được giáo lư hóa – và rút ruột ngôn ngữ phụng vụ nơi chiều kích thi văn của nó.
Cho dù có những triết gia về ngữ học trần tục lập luận rằng mô thể và bản thể là những ǵ bất khả phân ly – tức là nếu chúng ta thay đổi ngôn ngữ, th́ ở một nghĩa nào đó, chúng ta có thể thay đổi cách thức con người suy nghĩ. Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI thuộc về thành phần này, cùng với ĐHY Francis George ở Chicago, cũng như các học giả về phụng vụ chẳng hạn Aidan Nichols, OP, Đức Ông Peter Elliott, Stratfort Caldecott thuộc Trung Tâm về Đức Tin và Văn Hóa ở Oxford, và Alcuin Reid, OSB.
Vấn: “Khuynh hướng Tôma thiên Âu Quốc Tinh” của Giáo Hoàng Biển Đức XVI đă h́nh thành ra sao cách thức ngài nhận định về hiện tượng dân chủ phóng khoáng?
Đáp: Theo quan điểm thiên Âu Quốc Tinh th́ vấn đề lớn nhất đối với chủ nghĩa tự do đó là vấn đề nó muốn trở thành trung lập hay dửng dưng về thần học đối với các truyền thống tôn giáo. Có một danh sách dài các nhà học giả thấy rằng chủ trương tự do cấp tiến về tính cách trung lập thần học này là những ǵ hư tạo. Bảng liệt kê này bao gồm các Kitô hữu Anh giáo gắn bó với thành phần chính thống bảo thủ cũng như các học giả có kiến thức thần học thiên giáo phái Baptist hơn.
Nó không phải là một chủ trương chỉ áp dụng vào thành phần Công giáo được gọi là bảo thủ hay kiểu cực lạc giáo Montanus (thế kỷ 2). Thật vậy hầu hết thành phần hậu tân tiến đều đồng ư với lời b́nh phẩm này về truyền thống tự do cấp tiến. Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đă làm sáng tỏ là thành phần Công giáo không được theo thứ ngữ thuật tự do trong việc tin tưởng rằng để là những người công dân tốt họ cần phải chia ḿnh ra thành hai thứ phân nửa vừa công cộng vừa tư riêng.
Ngài nhận định rằng chủ nghĩa trần tục tự nó là một thứ ư hệ, một loại chủ trương về tôn giáo cho ḿnh như là tiếng nói duy nhất của lư lẽ. Ngài thấy những quan điểm này gây ra một thách đố cho những thứ văn hóa chính trị chủ chốt của các thể chế dân chủ tự do cấp tuến hiện đại.
Tuy nhiên, nói như thế là nói rằng ngài chống lại chủ trương hiến định. Ngài không nói rằng Giáo Hội cần phải điều hành quốc gia. Ngài có lẽ đồng ư với câu nói của Martin Luther King rằng Giáo Hội không phải là chủ của quốc gia mà cũng chẳng phải là tôi tớ của quốc gia mà là lương tâm của quốc gia.
Vấn: Giáo Hoàng Biển Đức XVI đă được cho rằng là một “con người của văn hóa”, nhưng các thần học gia không biết cảm thức về đại nghệ thuật, ca nhạc hay sự mỹ dường như tỏ ra không chấp nhận như vậy. Văn hóa đóng vai tṛ ra sao nơi thần học và sinh hoạt chính trị?
Đáp: Một trong những câu của Đức Ratzinger được tôi yêu chuộng trích dẫn đó là câu “Một thần học gia không yêu thích nghệ thuật, thi phú, ca nhạc và thiên nhiên là một con người có thể nguy hiểm!” Theo nhận định của ngài th́ một cách nào đó ngài thích tinh thần người Ư hơn là người Đức, v́ các thánh nhân là tất cả những người biết mường tượng – không phải là những viên chức của các bộ máy.
Nói cách khác, hăy coi chừng con người không yêu thích văn chương, ca nhạc, nghệ thuật, thi phú và thiên nhiên nhưng lại là thành phần rất thích trông coi việc điều khiển máy móc. Tôi chưa từng nghe những ǵ ngài đă nói với thành phần quan lại ở Vatican, những người được cho biết là muốn tống khứ các con mèo của ngài ra khỏi các tông pḥng của ĐTC, thế nhưng họ cũng có vẻ nguy hiểm nữa – tức là thành phần quan lại này.
Để trả lời cho câu hỏi của quí vị về văn hóa và thần học, lănh vực của thần học về văn hóa th́ rất bao rộng. Nó đi từ luân lư của các việc thực hành khác nhau về cơ cấu và xă hội, bao gồm cả những việc thực hành thuộc các cơ cấu chính trị nữa, đến những vấn đề về khuôn phép của những loại nhạc khác nhau được sử dụng cho phụng vụ, cũng như đến những vấn đề về vai tṛ của ngôn ngữ trong tiến tŕnh của việc truyền bá phúc âm hóa.
Chẳng hạn việc chúng ta có cần phải chấp thuận ngôn ngữ thuộc các truyền thống tri thức hận thù khi tŕnh bày các giáo huấn của Giáo Hội hay chăng? Và cần phải áp dụng những nguyên tắc nào khi nhận thấy những ǵ thuộc về “các chiến lợi phẩm của người Ai Cập” cướp đoạt?
Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đă nhận định rằng Giáo Hội là chủ thể về văn hóa của riêng Giáo Hội đối với tín hữu, thành phần c̣n tỏ ra rằng họ không có khuynh hướng theo chính sách mục vụ thích ứng văn hóa của Giáo Hội với bất cứ những ǵ xẩy ra để trở thành thời trang trong thế giới Tây Phương hiện đại.
Trong một bài nói với tổ chức Hiệp Sĩ Columbus, ĐHY Stafford đă nói rằng hết mọi tôn giáo trên thế giới đang rung ḿnh trước bước tiến của nền văn hóa lồi lơm Hoa Kỳ. Tôi nghĩ rằng Giáo Hoàng Biển Đức đồng ư với nhận định này, và ngài hiểu rằng Giáo Hội, theo một nghĩa nào đó, cần phải là mẹ của văn hóa. Giáo Hội cần làm mẹ của văn hóa. Giáo Hội cần đưa sự sống về lại cho văn hóa, nhờ đó dân chúng mới có thể được dựng xây và cảm nghiệm thấy cái siêu việt tính bản thân.
Vấn:
Theo Giáo Hoàng Biển Đức th́ cái lành mạnh của một nền văn hóa được đo lường
bằng những chuẩn mực nào?
Đáp: Trong cuốn sách của ḿnh là “Tinh Thần Phụng Vụ”, Đức Biển Đức XVI đă đặt vấn đề là mục đích duy nhất – không phải là mục đích chính yếu mà là mục đích duy nhất – của việc giải phóng dân Do Thái khỏi vua Pharao đó là v́ Thiên Chúa muốn họ có thể tôn thờ theo các qui định của Ngài.
Bởi thế, tôi có thể nói rằng, đối với Đức Biển Đức XVI, vấn đề quan trọng nhất về bất cứ nền văn hóa nào đó là vấn đề vị trí ra sao của phụng vụ nơi nền văn hóa đó? Phải chăng nó là sự thiện cao cả nhất? Phải chăng chúng ta đang quan tâm tới một thành đô phụng vụ? Hay phải chăng chúng ta đang quan tâm tới một thứ văn hóa bị chi phối bởi các yếu tố về kinh tế? Ai là thần linh của nền văn hóa ấy? Cái nhăn quan chủ yếu của con người là ǵ? Thành phần yếu bệnh và mỏng ḍn được đối xử ra sao?
Thực tế mà nói th́ có ít lợi lộc đối với Kitô hữu sống trong một thứ văn hóa cần phải được phép thi hành baât cứ loại diễn đạt phụng vụ nào, nếu, như những người Do Thái dưới thời Pharao, họ bị bắt buộc phải làm việc như thành phần nô lệ chỉ để có được nơi ở và của ăn cho gia đ́nh ḿnh, không có thời giờ để nguyện cầu và giải trí, tức là không có giờ cho Thiên Chúa, trong một cuộc đời bị chi phối bởi việc sống c̣n về thể lư.
Trong cùng tác phẩm ấy, Đức Biển Đức nói rằng lề luật và đạo đức học không đi đôi với nhau nếu chúng không gắn liền với với trọng tâm của phụng vụ và được phụng vụ khởi hứng tác động.
Ngài cũng nêu lên vấn đề là hết mọi xă hội đều có những thứ sùng bái của ḿnh; thậm chí có những thể chế hoàn toàn vô thần duy vật cũng kiến tạo nên những h́nh thức sùng bái riêng. Ngài rất gần gũi với chủ trương của các học giả như Catherine Pickstock và William T. Cavanaugh, người đă lập luận rằng trong xă hội Tây Phương hiện đại, thị trường đă thay thế cho Thánh Thể như đối tượng tôn thờ của chúng ta.
Nói thế không có ư nói rằng ngài chống lại tư tưởng về thị trường theo bản chất của nó, thế nhưng, theo tôi nghĩ th́ ngài chống lại việc làm cho việc tranh giành của thị trường thành thứ năng lực căn bản cấu đúc của một nền văn hóa.
Karl Polanyi đă bày tỏ chủ trương một cách khéo léo khi viết rằng một “lănh vực tự nhiên” là một lănh vực mà trong đó kinh tế được gắn liền với các mối liên hệ về xă hội, hơn là một thứ kinh tế mà trong đó các mối liên hệ về xă hội gắn bó với guồng máy kinh tế, làm cho xă hội trở thành một thứ đồ phụ thuộc thuần túy của thị trường.
Bằng việc thực hiện cuộc thử nghiệm về vị thế và bản chất của phụng vụ trong một nền văn hóa nào đó, Đức Biển Đức cũng thực hiện chủ trương rất Âu Quốc Tinh. Thánh Âu Quốc Tinh có thể nói rằng những ǵ chúng ta tôn thờ là dấu hiệu của những ǵ chúng ta yêu mến, và những ǵ chúng ta yêu mến là việc công bố về tấm thẻ công dân của chúng ta của Đấng làm chủ hai thành đô – thành đô của Thiên Chúa hay thành đô của con người.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit ngày 24-25/7/2005
Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI là “Một Đối Phó của Thiên Chúa với Khuynh Hướng Tục Hóa”
ĐTGM Paul Cordes, một người bạn lâu đời của ĐHY Joseph Ratzinger tin rằng vị tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI là “Một Đối Phó của Thiên Chúa” đối với t́nh trạng tràn lan chủ nghĩa trần tục. Trong cuộc phỏng vấn với mạng lưới điện toán toàn cầu Zenit, vị chủ tịch 70 tuổi của Hội Đồng Ṭa Thánh “Đồng Tâm” Cor Unum, đă diễn tả một số đặc tính chính yếu của Đức Thánh Cha Biển Đức như sau:
Vấn: Theo một số quan sát viên th́ Đức Gioan Phaolô II đă là vị giáo hoàng đối phó với chủ nghĩa hưởng thụ và Đức Thánh Cha Biển Đức XVI sẽ là vị giáo hoàng đối phó với chủ nghĩa tương đối về luân lư và tôn giáo. Theo ư của ĐTGM th́ chủ trương này xác thực tới đâu?
Đáp: Với những chọn tuyển của ḿnh, chắc chắn Thiên Chúa đă có trong trí của ḿnh về tiểu sử từng trải và khả năng chuyên biệt của thành phần sứ giả được Ngài sai đến.
Vào thời trẻ của ḿnh và với vai tṛ làm giám mục ở Krakow, cuộc sống của Đức cố Giáo Hoàng đă trải qua kinh nghiệm cộng sản đau thương. Và v́ lư do đó, ngài đă chiến đấu một cách nhiệt liệt các lực lượng vô thần của chế độ này…
Với tư cách là Giám Mục Rôma, ngài không thôi tranh đấu trước các vị hoàng vương và tổng thống cho tự do và phẩm giá con người. Tiếc thay, ước vọng muốn viếng thăm Nga Sô và Trung Quốc của ngài không được đáp ứng.
Là một giáo sư thần học, ĐGH Biển Đức XVI bao giờ cũng truyền đạt chân lư đức tin và Truyền Thống một cách minh bạch và trọn vẹn. Ngài đă h́nh thành các vị linh mục và giáo lư viên tương lai ở đại học đường. Ngài đă cố gắng nhận định và truyền bá trong giới trí thức những luận cứ để hiểu biết Mạc Khải.
Là tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin, ngài đă giúp Đức Gioan Phaolô II trong việc h́nh thành những chỉ dẫn về thần học cho dân Chúa; chỉ cần nghĩ đến việc soạn thảo cuốn Giáo Lư Giáo Hội Công Giáo là đủ.
Bởi thế, là Giáo Hoàng, ngài sẽ không thôi đương đầu với chủ nghĩa tương đối về luân lư và đạo nghĩa.
Vấn: Có một kư giả đă nói rằng Đức
Gioan Phaolô II là vị làm đầy những quảng trường, c̣n Đức Biển Đức XVI là vị làm
đầy những nhà thờ. Căn cứ vào nhiệt t́nh diễn ra trong những tháng đều tiên này
th́ dường như Đức Biển Đức XVI sẽ làm đầy cả các quảng trường lẫn các nhà thờ.
ĐTGM nghĩ sao?
Đáp: Tôi hoàn toàn đồng ư với quí vị. Đoàn lũ hành hương tuốn đến Rôma là những ǵ đủ cho thấy rằng nhận định này của người phóng viên ấy thật là vững chắc.
Chắc
chắn Đức Gioan Phaolô II từ trời cao đă giúp và tiếp tục giúp vào việc làm cho
việc mộ mến con người và thừa tác vụ của Đức Giáo Hoàng Joseph Ratzinger có một
âm hưởng lạ lùng như thế…
Vấn: Một yếu tố quan trọng khác
nữa đó là tính cách mới mẻ của vị Giáo Hoàng người Đức sau gần 1000 năm. Sự kiện
này lại càng quan trọng hơn khi nó xẩy ra sau biến cố sụp đổ Bức Tường Bá Linh.
Thánh Biển Đức đă cứu văn minh khỏi bị tàn rụi bởi Đế Quốc Rôma; Đức Biển Đức
XVI đă được trao phó cho công việc làm tái sinh động truyền thống Kitô Giáo và
Do Thái Giáo ở Âu Châu và Tây Phương trước t́nh trạng thoái hóa về luân lư và
đạo nghĩa. Đức quốc là một quốc gia quyết định cho tương lai của Âu Châu, và v́
thế, vị Giáo Hoàng Đức Quốc mới là những ǵ được quan pḥng. ĐTGM nghĩ sao?
Đáp: Chủ nghĩa tục hóa của thế giới được gọi là Thế Giới Đệ Nhất đă từng là những ǵ hết sức quan tâm của Đức Gioan Phaolô II.
Mặc dù ngài đă xuất thân từ một miền đất sâu xa theo truyền thống Kitô giáo, một truyền thống nhờ những thách đố về chính trị đă thành đạt trong việc làm cho nó trở thành năng động về đạo nghĩa hơn, song ngài vẫn thấy rơ những dấu hiệu suy thoái của nó.
Đó là lư do, vào dịp viếng thăm Áo quốc năm 1983, bất chấp sự kiện được khuyên can bởi thành phần ngoại giao viên của giáo hội, ngài đă muốn đến viếng thăm Kahlenberg ở khu vực ngoại ô Vienna, để tưởng niệm đệ tam bách chu niên “cuộc chiến thắng may mắn” là cuộc chiến thắng đă bảo vệ Âu Châu khỏi bị xâm chiếm bởi Người Thổ Nhĩ Kỳ và tôn giáo của họ.
Khi gặp gỡ các vị giám mục Áo quốc vào dịp ấy, ngài đă bày tỏ những tư tưởng sắc bén về t́nh trạng bệnh hoạn của Âu Châu thế này: “Kinh nghiệm về t́nh trạng rơ ràng thiếu vắng Thiên Chúa đè nặng chẳng những trên những ai vắng mặt hay những ai xa cách nhất mà c̣n trên đại chúng nữa. Bởi thế Vị Mục Tử Nhân Lành cảm thấy cần phải giành chỗ trên thế giới, nhất là trong Giáo Hội, cho ánh sáng xuất phát từ đức tin trước sự hiện diện sống động của Thiên Chúa”.
Vị tân Giáo Hoàng này chắc chắn là một đối phó của Thiên Chúa với t́nh trạng hiểm nghèo về chủ nghĩa tục hóa. Không phải chỉ có danh xưng được ngài chọn có liên quan đến vấn đề này đâu. Giáo Hoàng Biển Đức đă rơ ràng bày tỏ niềm tiếc xót của ngài về t́nh trạng thiếu tôn kính Thiên Chúa trong lời mở đầu của Bản Hiệp Định Hiến Pháp Âu Châu.
Tuy nhiên, v́ một số lư do, tôi nghĩ rằng không được quá nhấn mạnh đến việc Đức quốc góp phần vào việc đứng đắn thiết dựng Kitô giáo ở Âu Châu.
Trái lại, tôi căn cứ vào việc tái sinh động đức tin nơi châu lục của chúng ta đây là nhờ các phong trào mới về tu đức xuất phát ở Ư, Tây Ban Nha và Pháp, và là những ǵ thấy được nơi nguồn gốc của Ngày Giới Trẻ Thế Giới.
ĐGH
Biển Đức XVI cũng thấy rằng cần phải mời họ đến Rôma một lần nữa vào dịp Lễ Hiện
Xuống 2006 để thực hiện một cuộc đại hội.
Vấn: Nhiều quan sát viên đă diễn
tả ĐHY Joseph Ratzinger như vị nghiêm bảo quản tính cách chính thống. Là người
có cơ hội biết vị Giáo Hoàng này, ĐTGM có thể nhận định về người đă diễn tả về
chính ḿnh như là “một lao công đơn thành khiêm hạ trong vườn nho Chúa” hay
chăng?
Đáp: Chắc chắc rồi, chỉ cần ít tuần lễ trong giáo triều của ḿnh đă đủ để loại trừ đi thành kiến này. Những ai biết Hồng Y Ratzinger chưa bao giờ đồng ư với ư nghĩ đó cả. Những ai không biết ngài, giờ đây đă có cơ hội để thay đổi ư nghĩ của họ.
Lư do tại sao ngài đă bị tai tiếng như thế là v́ sự kiện ngài luôn luôn phải nhắc nhở về các thứ chân lư bất hợp với đức tin và Truyền Thống. Thế nhưng, làm thế nào để những ai truyền đạt những vấn đề ấy có thể tránh khỏi tâm trạng bất măn đây? Trong lúc họ lại làm giảm thiểu đi vấn đề này hay khó ḷng nh́n nhận những ǵ tích cực của vấn đề.
Thế
giới đầy thông tin tín liệu này bao giờ cũng mang đặc tính hung hăng của một số
phóng viên kư giả. Thế nhưng họ đă lạ lùng bỡ ngỡ trước muôn vàn giáo lữ đến để
nh́n Đức Gioan Phaolô II hay trước những ai không ngờ lại muốn đến thấy và nghe
Đức Biển Đức XVI.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit ngày 21/7/2005
ĐTC BĐXVI với Bí Tích Thánh Thể
Trong cuộc phỏng vấn với mạng điện toán toàn cầu Zenit, linh mục John Corapi đă cho biết ưu tiên lớn của vị tân giáo hoàng Biên Đức XVI này là vấn đề phục hồi chức linh mục và phụng vụ thánh.
Vị linh mục này trước đây là một thương gia, bị nghiện ngập và trở thành vô gia cư trước khi trải qua một cuộc hoán cải tâm linh mănh liệt. Sauk hi học ở Hoa Kỳ và ở Đại Học Navarre ở Tây Ban Nha, ngài đă chịu chức vào năm 1991, lúc ngài 44 tuổi.
Ngài là một phần tử của Hội Ḍng Đức Bà Chúa Ba Ngôi và hiện nay là một nhà giảng thuyết cho các tuần pḥng, các buổi tĩnh tâm và các cuộc nghị hội khắp Hoa Kỳ. Ngài thường có mặt trên truyền h́nh IWTN.
Vấn: Thánh Thể đă đóng vai tṛ ra sao trong việc hoán cải con người của cha?
Đáp: “Cuộc trở lại” nguyên khởi làm tôi trở về với việc sống đức tin Công giáo, một đức tin tôi đă được tái sinh, đă diễn tiến một cách cổ xưa.
Việc tiến triển xẩy ra từ t́nh trạng thành công và phúc lợi trần thế đến t́nh trạng mất mát, bị bỏ rơi và hoàn toàn cơ cực; từ t́nh trạng của một triệu phú đến kẻ vô gia cư. Sự kiện bị rơi xuống cảnh cùng tận đă xẩy ra trong ṿng 5 năm.
Có một chiều kích giáo dục nơi việc chịu đựng khổ đau, như người con phung phí của Phúc Âm đă cho thấy. Thế rồi, tôi đi từ việc đọc 1 Kinh Kính Mừng mỗi ngày tới việc lần hạt mân côi hằng ngày. Việc này đă dẫn tôi đến bí tích thống hối hay đến việc xưng tội, rồi đến Thánh Thể.
Tôi liền đi lễ hằng ngày. Điều ấy đă đưa tôi đến chỗ khát khao hơn nữa trong việc nhận biết Thiên Chúa, yêu mến Thiên Chúa và phụng sự Thiên Chúa. Việc tôn thờ Thánh Thể đă trở nên phần đời của tôi. Việc ấy đưa tôi đến đời tập sinh tu sĩ, đoạn tới chủng viện, và tới vấn đề học thần học ở Âu Châu với cấp bằng tiến sĩ.
Tôi được thụ phong bởi Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II vào Chúa Nhật Lễ Chúa Ba Ngôi năm 1991. Đêm hôm trước, bề trên của tôi và tôi cầu nguyện trước Thánh Thể thâu đêm để sửa soạn cho việc chịu chức. Tôi vẫn cảm nghiệm được việc hoán cải hằng ngày khi tôi cử hành Thánh Lễ thường nhật và nguyện cầu trước Thánh Thể mỗi ngày.
Mạch nguồn của bất cứ mănh lực nào có được nơi việc giảng giải của tôi, việc giảng giải giờ đây đă lên tới cả hằng triệu người, cả Công Giáo lẫn không, đều xuất phát từ Thánh Thể. Chúa Giêsu Thánh Thể là Cây Nho. Chúng ta là cành nho. Không có Người chúng ta chẳng làm ǵ nổi.
Vấn:
Đức Biển Đức XVI, tại Hội Nghị Thánh Thể mới đây ở Ư, đă đề cập tới “Thánh
Thể như là bí tích hiệp nhất”. Làm sao chúng ta có thể t́m cách hiệp nhất với
các giáo phái Kitô hữu khác bằng Thánh Thể?
Đáp: Đức Biển Đức XVI, cũng như tất cả mọi vị giáo hoàng gần đây, sẽ tiếp tục nhấn mạnh đến Thánh Thể như là một bí tích hiệp nhất. Là “Bánh Sự Sống” bao gồm nhiều hạt lúa để làm thành một Tấm Bánh duy nhất, Thánh Thể cuối cùng cũng sẽ tác dụng mối hiệp nhất nơi nhiều cá nhân, nhiều tôn giáo v.v.
Thánh Thể là ch́a khóa để hiện thực hóa vấn đề “một Chủ Chiên và một đàn chiên” là t́nh trạng chúng ta tất cả cần phải nguyện cầu. Tuy nhiên, giữa bây giờ và bấy giờ, có một vực thẳm chỉ có thể được lấp đầy bằng Thánh Linh mà thôi. Chúng tat hi hành phần của ḿnh, nhưng thời giờ thuộc về Thiên Chúa.
Chúa Giêsu đă rơ ràng nhắc nhở chúng ta rằng “Thày đến không phải để đem b́nh an mà là chia rẽ… để nhà có 5 th́ ba chống lại hai và hai chống lại ba, cha chống lại con và con chống lại cha…” Nói thế Vị Hoàng Tử Ḥa B́nh này cố ư nói ǵ? Thực sự là việc hiên ngang và minh nhiên loan truyền chân lư là những ǵ sẽ gây ra phân rẽ trước hết. Chúng ta biết được điều này bởi kinh nghiệm chung. Có một số người công nhận, một số không.
Để Thánh Thể tác dụng vào mối hiệp nhất, người Công giáo cần phải thực sự là dân Thánh Thể, chứ không phải chỉ bằng lời nói suông. Cái lỗ hổng giữa những ǵ chúng ta tuyên xưng và những ǵ chúng ta sống cần phải được hẹp lại cho đến khi Thánh Thể thực sự là nguồn mạch chân thực, là tâm điểm và là tổt đỉnh của đời sống Kitô hữu.
Chúng ta cần phải dạy tín lư về Thánh Thể một cách rơ ràng minh bạch và một cách trung thực, rồi chúng ta sống tín lư ấy một cách mạnh mẽ và trọn vẹn. Để rồi, khi thế giới nh́n thấy cách chúng ta tin tưởng, sống động và yêu thương họ sẽ bị thu hút như một cục nam châm.
Vấn:
Cho tới nay cha nhận thấy ra sao về Đức Biển Đức XVI và việc ngài chú tâm tôn
sùng Thánh Thể, và cha nghĩ ǵ về chiều hướng này của giáo triều ngài?
Đáp: Khi Hồng Y Ratzinger chọn danh hiệu Biển Đức XVI, tôi liền thực hiện một vài nghiên cứu để hiểu tại sao ngài lại chọn danh hiệu này, một danh hiệu thường cho thấy chiều hướng của vị tân giáo hoàng.
Tôi tin rằng tôi đă t́m thấy một cái mấu chốt thực sự những ǵ Đức Biển Đức XV chú trọng nhất. Chắc chắc là ngài chú trọng tới việc bảo tŕ và/hay phục hồi ḥa b́nh ở những ngày tao loạn liên quan tới Thế Chiến I.
Tuy nhiên, đối với tôi, ngài cũng rất chú trọng tới việc phục hồi chức linh mục và phụng vụ thánh. Dĩ nhiên, về phụng vụ thánh, theo lịch sử, cũng đóng vai tṛ thật quan trọng đối với chính đặc sủng của ḍng Biển Đức.
Thế nhưng, vấn đề cần chú ư tới nhất có thể ở Thông Điệp đáng kể nhất của ngài “Humani Generis Redemptionem”, một thông điệp chúng ta t́m được cái mấu chốt cho giáo triều của Đức Biển Đức XVI.
Văn kiện ấy quan tâm tới việc phục hồi thiên chức linh mục và sửa soạn cho những nhà rao giảng Phúc Âm lành nghề. Người ta không thể nào xứng hợp đến với Năm Thánh Thể mà lại không để ư tới chức linh mục thừa tác. Vấn đề dễ hiểu thôi, v́ không có linh mục cũng không có Thánh Thể. Chúa Giêsu thiết lập hai bí tích này chung với nhau và cả hai liên kết với nhau một cách bất khả phân ly.
Tôi tin rằng việc giáo dục và thánh đức xứng hợp cho các linh mục là vấn đề quan trọng nhất đối với Đức Thánh Cha mới này. Dĩ nhiên, vấn đề này đă được gồm tóm rất nhiều nơi khuynh hướng tỏ tường của ngài về việc “cải tổ việc canh tân” về phụng vụ thánh. Không phải là vấn đề trở lại với những ngày trước Công Đồng Chung Vaticanô II, mà là hiểu cùng thực hành đúng đắn và xứng hợp với những ǵ Công Đồng Chung Vaticanô II thực sự mong muốn.
Tôi tin rằng đó là một trong những quan tâm chính nơi nhăn quan của vị tân Giáo Hoàng về Giáo Hội: đó là những vị linh mục thánh thiện và được huấn luyện đàng hoàng, cũng như việc tôn kính và mến yêu đối với Chúa Giêsu Kitô trong Bí Tích Thánh Thể.
Điều này sẽ tự nhiên đưa đến chỗ hết sức chú trọng và yêu thích việc tôn thờ Bí Tích Thánh. Đức Biển Đức XV muốn giáo dục một cách xứng hợp các vị giảng thuyết – vế tín lư chân thực – nhất là những vị giảng thuyết thánh đức. Quí vị không thể cho những ǵ quí vị không có, và Chúa Giêsu Kitô là tất cả những ǵ chúng ta cần phải trao ban.
Vấn: Cha có những dự án nào cho năm được giành để tôn kính Thánh Thể để cổ động việc tôn sùng Thánh Thể hay chăng?
Đáp: Tôi đă thực hiện một loạt bài mới mang tựa đề là “Quyền Lực của Thánh Thể”, một tựa đề là đề tài của tất cả mọi cuộc giảng pḥng của tôi khắp xứ sở này trong năm Thánh Thể đây.
Tôi đang cố gắng tập trung vào đề tài này, cố gắng vừa giáo dục vừa phấn chấn tín hữu trong việc hiểu biết hơn nữa về tín lư Thánh Thể cũng như về việc yêu chuộng thực hành đưa đến chỗ tôn kính trong Thánh Lễ và thực hiện Giờ Thánh, hay một “phút thánh”, như tôi nói với dân chúng.
Nếu quí vị không
thể làm được một giờ thánh, th́ hăy làm một phút thánh. Quí vị không thể qua mặt
Thiên Chúa về ḷng quảng đại được. Nếu chúng ta hiến dâng cho Ngài một ít thời
gian của ḿnh, Ngài sẽ trả lại cho chúng ta rất nhiều hơn nữa.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit ngày 3/7/2005
Khoa Giáo Hội Học Hiêp Thông của Hồng Y Joseph Ratzinger
Theo tôi, kể cả tác phẩm vừa được xuất bản hôm 21/6/2005, ĐHY Joseph Ratzinger đă viết tới 54 tác phẩm về nhiều lănh vực, nhưng có thể tóm lại trong 2 đề tài chính yếu, đó là đề tài về văn hóa thời đại nói chung và Âu Châu nói riêng, và đề tài về giáo hội học liên quan đến cả phụng vụ lẫn thần học và đại kết.
Đó là lư do, ngay khi ngài vừa lên làm Giáo Hoàng, tôi đă cảm thấy được khoa thần học về giáo hội hiệp thông của ngài, để rồi sau đó tôi đă soạn thảo và cho xuất bản tác phẩm bao gồm cả hai phương diện văn hóa thời đại (liên quan đến Âu Châu) và Giáo Hội (liên quan đến hiệp nhất Kitô giáo), một tác phẩm mang tựa đề: “Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Vị Giáo Hoàng của Hiệp Nhất Kitô Giáo và cho Một Tân Âu Châu”, phát hành vào ngày 13/5/2005, sau ngày (19/4/2005) ngài được bầu giáo hoàng gần 1 tháng.
Trong tác phẩm về ngài này, tôi đă phổ biến bài diễn giải rất hay của ngài về Khoa Giáo Hội Học của Công Đồng Chung Vaticanô II (Khoa Giáo Hội Học của Công Đồng Chung Vaticanô II).
Trong cuốn “Được Kêu Gọi Hiệp Thông: Hiểu Biết Giáo Hội Ngày Nay”, hồng y Ratzinger đă nói tới nguồn gốc và yếu tính của Giáo Hội, vai tṛ giáo hoàng và quyền bính Thánh Phêrô, mối hiệp nhất và ‘hiệp thông’ của Thân Thể Chúa Kitô.
Để hiểu rơ hơn về khoa giáo hội học này của vị tân giáo hoàng của chúng ta, cha Matthew Lamb, giám đốc trường thần học và giáo sư thần học ở Đại Học Ave Maria đă chia sẻ với mạng điện toán toàn cầu Zenit tổng quan về một số đề tài được đề cập tới trong tác phẩm trên của vị hồng y thần học gia vừa trổ thành giáo hoàng này.
Vấn: Kiến thức của Hồng Y Ratzinger ra sao về nguồn gốc và yếu tính của Giáo Hội, như được phác họa trong tác phẩm của ngài?
Đáp: Đọc cuốn “Được kêu gọi Hiệp Thông” là một niềm vui cho tâm trí.
Vào lúc phát hành cuốn sách này, ĐHY Ratzinger đă gọi nó là “cơ bản cho khoa giáo hội học Công Giáo”. Như những cuốn sách về thần học khác của ḿnh, cuốn sách này đă tuyệt vời phục hồi cho thời đại của chúng ta truyền thống cao cả của Công Giáo về sự khôn ngoan, về mối ḥa hợp với “toàn thể” sự hiện diện sáng tạo và cứu chuộc của Thiên Chúa Ba Ngôi.
“Công giáo” có nghĩa là sống “trọn vẹn” sự hiện diện thần linh này. Đường lối khôn ngoan ấy cho thấy Tân Ước đă kín múc từ và làm hoàn trọn giao ước với dân Do Thái ra sao. Dân Do Thái đă được chọn tuyển và được dẫn ra khỏi Ai Cập để tôn thờ Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất, nhờ đó, làm chứng cho tất cả mọi dân nước.
Trong việc rao giảng, truyền dạy và hành động của ḿnh, Chúa Giêsu Kitô đă làm hoàn tất những lời hứa thiên sai. Trong bữa tiệc ly, Chúa đă khởi xướng Tân Ước bằng ḿnh máu chí thánh của ḿnh. Đức Ratzinger đă viết trong tác phẩm “Được Kêu Gọi Hiệp Thông” rằng: “Chúa Giêsu loan báo việc sụp đổ của nghi lễ cũ và …. Hứa hẹn một việc tôn thờ mới cao cả hơn được tập trung nơi thân xác hiển vinh của Người”.
Chúa Giêsu loan báo Vương Quốc Thiên Chúa hằng hữu như “hoạt động hiện tại của Thiên Chúa” nơi ngôi vị thần linh nhập thể của Người. Như Cha sai Chúa Giêsu Kitô thế nào, về phần ḿnh, Chúa Giêsu cũng sai các tông đồ và môn đệ của Người như vậy.
Nguồn gốc của Giáo Hội là Chúa Giêsu Kitô, Đấng sai Giáo Hội đi như Cha đă sai Người. Các vị tông đồ và môn đệ, cùng với thành phần thừa kế của các vị qua gịng thời gian, làm nên Giáo Hội như một “ecclesia”, một cuộc qui tụ “dân Chúa”.
Trích dẫn từ luận án tiến sĩ của ḿnh về Giáo Hội theo thần học của Thánh Âu Quốc Tinh, Đức Ratzinger cho thấy rằng dân Chúa là những ǵ được Thánh Phaolô gọi là “thân thể của Chúa Kitô”. Yếu tính của Giáo Hội là dân của Thiên Chúa như Thân Thể của Chúa Kitô, một Thân Thể gồm có đầu và các chi thể, nhờ Thánh Thần, hiệp nhất trong mối hiệp thông hữu h́nh với các vị thừa kế các Tông Đồ, hiệp nhất với Giáo Hoàng là vị thừa kế Thánh Phêrô.
Qua các thế hệ, Giáo Hội tiếp tục các sứ vụ hữu h́nh và vô h́nh của Con và Thánh Linh qua việc rao giảng và giảng dạy về Con và về Thánh Thần, bằng việc rao truyền và giảng dạy, bằng các bí tích thánh hóa và bằng việc quản trị thống nhất bởi mối hiệp thông của ḿnh với vị thừa kế Thánh Phêrô.
Vấn: Trong cuốn “Được Kêu Gọi Hiệp Thông”, ngài đă nghĩ ǵ về vai tṛ của Giáo Hoàng trong Giáo Hội?
Đáp: “C̣n là Đá và trên đá này Thày sẽ xây Giáo Hội của Thày… Thày sẽ trao cho con ch́a khóa nước trời”. Trong Phúc Âm Mathêu đoạn 16:17-19, những lời chân thật này của Chúa Giêsu đă vượt lên trên những cuộc luận chiến theo niềm tin giáo phái. Từ những lời ấy Đức Ratzinger đă nêu lên vai tṛ của vị Giáo Hoàng.
Căn cứ vào sứ vụ Thánh Phêrô được ủy thác ngài thấy rằng thánh Phêrô được ủy thác cho sứ vụ thứ tha tội lỗi. Như ngài đă viết trong cuốn “Được Kêu Gọi Hiệp Thông”, nó là một sứ vụ ban phát “ơn tha thứ. Nó tạo nên Giáo Hội. Giáo Hội được xây dựng trên sự thứ tha. Chính bản thân Thánh Phêrô là biểu hiện cho sự thật này, v́ ngài được phép trở thành người cầm giữ ch́a khóa sau khi đă sa ngă, đă thú tội và đă lănh nhận ơn tha thứ”.
Vấn: ĐHY Ratzinger đă nhận định về tối thượng quyền Phêrô và mối hiệp nhất của Giáo Hội ra sao?
Đáp: Trước hết ngài chứng tỏ cho thấy sứ vụ Phêrô trong toàn thể truyền thống Tân Ước. Yếu tính của vai tṛ làm môn đệ là ở việc làm chứng cho Chúa Giêsu phục sinh. Đức Ratzinger đă cho thấy thượng quyền Phêrô ở ngay vai tṛ này, như được chứng thực bởi Thánh Phaolô, vị thậm chí có lúc đối đầu với tông đồ Phêrô, cũng nh́n nhận trong Thư Thứ Nhất gửi giáo đoàn Côrintô 15:5 rằng Phêrô là ‘Cephas’ – tiếng Aramaic nghĩa là ‘đá’ – nơi việc tông đồ Phêrô làm chứng cho Chúa Kitô phục sinh.
Bởi thế tông đồ Phêrô là bảo viên của một Phúc Âm chung duy nhất. Tất cả các Phúc Âm nhất lăm đều đồng ư việc trao cho tông đồ Phêrô thượng quyền trong danh sách các vị tông đồ. Sứ vụ của Thánh Phêrô trước hết là hiện thực mối hiệp nhất nơi các vị tông đồ trong việc các vị làm chứng cho Chúa Kitô phục sinh cũng như trong sứ vụ của các vị được Người ủy thác cho.
Như Đức Ratzinger đă viết trong cuốn “Được Kêu Gọi Hiệp Thông”, sau đó những giáo phận hay ṭa giám mục được đồng hóa với các vị tông đồ đă trở thành những ǵ nổi bật, và, như Thánh Irenaues đă chứng thực ở thế kỷ thứ hai, những giáo ṭa này đă nh́n nhận tiêu chuẩn quyết liệt được thi hành bởi “Giáo Hội Rôma là nơi Thánh Phêrô và Phaolô tử đạo. Chính nhờ Giáo Hội này mà hết mọi cộng đồng đă đồng nhất; Rôma là tiểu chuẩn cho tất cả truyền thống tông đồ đích thực”.
Vấn:
Vai tṛ giáo hoàng làm thế nào để có thể dễ dàng hóa mối hiệp thông hay
‘communio’ trong Giáo Hội?
Đáp: Vai tṛ giáo hoàng dễ dàng hóa ‘mối hiệp thông’ chính là nhờ ở việc làm chứng cho một thực tại siêu việt về Chúa Kitô phục sinh. Điều này là những ǵ hiển nhiên nơi các vị thừa kế tiên khởi của Thánh Phêrô. Như Thánh Phêrô, các vị cũng làm chứng cho sứ vụ Thánh Phêrô đă lănh nhận – nhiều vị giáo hoàng thời Giáo Hội sơ khai đă chịu tử đạo.
Ch́a khóa Nước Trời chính là những lời thứ tha mà chỉ có duy một ḿnh Thiên Chúa mới có thể thực sự trao quyền cho thôi. Vai tṛ giáo hoàng cổ vơ mối hiệp thông bằng việc trung thành với sự thật của phúc âm cũng như của sứ vụ cứu độ thứ tha theo bí tích. Trong cuốn “Được Kêu Gọi Hiệp Thông”, Đức Ratzinger đă viết: “Bằng việc tử nạn của ḿnh, Chúa Giêsu đă đẩy tảng đá lấp miệng tử thần, tức là lấp đi quyền lực hỏa ngục, nhờ đó, từ cuộc tử nạn của Người, quyền năng tha tội không ngừng trào ban”.
Sau đó, Đức Ratzinger đă trở lại đề tài này về việc các vị tông đồ và thành phần thừa kế của các vị cần phải thực hiện sứ vụ thứ tha v́ các vị được ủy thác cho một sứ vụ mà chỉ có Thiên Chúa Ba Ngôi mới có thể hoàn thành.
Bởi thế, những lời lẽ của ngài trong cuốn “Được Kêu Gọi Hiệp Thông”, đă âm vang sau khi ngài được chọn làm Đức Biển Đức XVI: “Những con người có vấn đề này” – tức các vị tông đồ – “quá ư là bất xứng một cách tỏ tường và hiển nhiên với phận sự ấy” – phận sự làm tảng đá vững chắc nơi niềm tin và cuộc sống của ḿnh – “mà chính việc ban quyền để con người thành tảng đá ấy cho thấy rơ ràng là không phải các vị bảo tŕ Giáo Hội cho bằng chính duy một ḿnh Thiên Chúa làm điều này, Đấng làm điều này c̣n hơn là họ làm nữa cho dù họ là loài người”.
Chỉ nhờ việc tha thứ như thế hoàn toàn trung thành với Chúa Giêsu Kitô và dưới sự hướng dẫn của Thánh Linh mà mối hiệp thông trọn vẹn nơi Thân Thể Chúa Kitô mới được thực hiện. “Khoa giáo hội học Thánh Thể” của Đức Ratzinger là khoa theo chiều hướng của các Vị Giáo Phụ trong việc liên kết chiều tung kích của ḿnh máu phục sinh, linh hồn và thiên tính Chúa Kitô trong Bí Tích Thánh Thể với chiều hoành kích của việc qui tụ thành phần môn đệ Chúa Kitô.
Đức Ratzinger viết: “Các Vị Giáo Phụ đă tóm gọn hai khía cạnh này – khía cạnh Thánh Thể và qui tụ – vào một chữ ‘hiệp thông’, mối hiệp thông một lần nữa trở thành những ǵ được chú trọng hôm nay đây”.
Vấn: Trong bài phát biểu đầu tiên của ḿnh, Giáo Hoàng Biển Đức nói rằng ngài muốn theo đuổi việc dấn thân thực hiện Công Đồng Chung Vaticanô II. Điều này nghĩa là ǵ?
Đáp: Nghĩa là ngài thực sự quyết tâm theo bước của các vị tiền nhiệm trong việc áp dụng những giáo huấn của Công Đồng Chung Vaticanô II. Ngài thấy Công Đồng này như một chiếc “địa bàn” để nhờ đó khai mào cho ngàn năm thứ ba của thế giới Công giáo. Chúng ta không cần đến một Công Đồng khác – Giáo Hội vẫn kín múc những kho táng của Công Đồng Chung Vaticanô II.
Ngài cũng cho thấy rằng việc áp dụng này thực sự là “Công giáo”, hay theo “toàn diện”. Đối với một việc áp dụng thi hành như thế chỉ có thể xẩy ra “trong việc liên tục trung thành với hai ngàn năm truyền thống của Giáo Hội”. Chỉ hiệp thông với toàn thể Giáo Hội là thân thể của Chúa Kitô qua các thời đại “chúng ta mới gặp gỡ Chúa Kitô thực sự”.
ĐHY Ratzinger cương quyết đối đầu với những thần học gia và với những ai lầm lẫn cho rằng Công Đồng Chung Vaticanô II là như là một cái ǵ tách khỏi quá khứ của Giáo Hội. Không thể nào viện lư lẽ cho quan niệm lầm lẫn này nơi các văn kiện của chính Công Đồng ấy, họ thường sử dụng những từ ngữ như “tinh thần” hay “đường lối” của Công Đồng này. Vị Giáo Hoàng này đă hứa là ngài sẽ đi theo các vị tiền nhiệm của ḿnh trong việc cổ vơ vấn đề canh tân đích thực của Công Đồng trong toàn thể truyền thống Công giáo.
Vấn:
Trong cùng bài phát biểu trên đây, ĐGH Biển Đức đă vang lên hợp âm đoàn tính.
Ngài hiểu thế nào về vai tṛ của giáo hoàng với vai tṛ của đoàn tính liên quan
đến vai tṛ giáo hoàng?
Đáp: Mối liên hệ giữa giáo hoàng và giám mục đoàn là những ǵ tiếp tục của thượng quyền Phêrô nơi 12 Tông Đồ.
Như ngài đă nói: “Như Thánh Phêrô và các vị tông đồ khác, theo ư muốn của Chúa Kitô, là một tông đồ đoàn duy nhất thế nào, cũng thế, Vị Thừa Kế Thánh Phêrô và các vị giám mục thừa kế các tông đồ – Công Đồng Chung Vaticanô II đă mănh liệt lập lại điều này – cũng cần phải liên kết chặt chẽ với nhau”.
Như ĐGH nhận định, mối hiệp nhất và đoàn tính này là những ǵ “hoàn toàn liên quan đến việc loan báo cho thế giới biết về sự hiện diện sống động của Chúa Kitô”. Bài phát biểu đầu tiên này của ĐTC chứng tỏ cho thấy thần học của ngài được xuất phát ra sao từ mối thân t́nh sâu xa của ngài với Chúa Giêsu Kitô trong việc ngài hoàn toàn dấn thân cho sứ vụ được Chúa Kitô ủy thác cho Giáo Hội.
Vấn:
ĐHY Ratzinger đă tŕnh bày ra sao về bản chất của giám mục và linh mục trong
cuốn “Được Kêu Gọi Hiệp Thông”?
Đáp: Thánh Thể và các bí tích khác không phải là một điều ǵ đó mà bất cứ ai, theo quyền năng riêng của ḿnh, cũng có thể thực sự làm nổi. Lời Nhập Thể nơi Chúa Giêsu Kitô là Đấng duy nhất có thể thực sự nói rằng “Này là ḿnh Thày” hay “tội lỗi của con đă được thứ tha”. Chỉ v́ Chúa Giêsu đă sai các tông đồ ra đi như Người đă được Cha sai mà chúng ta mới có một Giáo Hội với những bí tích của Giáo Hội.
Giáo Hội như Thánh Thể chỉ có thể t́m thấy nơi mối hiệp thông với các vị giám mục là thành phần thừa kế các tông đồ. Qui tụ lại quanh bàn thờ, Giáo Hội là Thánh Thể. Giáo Hội bao giờ cũng bao gồm cả địa phương lẫn hoàn vũ, như Giáo Hội liên kết cả chiều kích tung và hoành vậy.
ĐHY Ratzinger đă nhấn mạnh rằng tính cách phổ quát của Giáo Hội là những ǵ có ở nơi Chúa Giêsu Kitô Lời Nhập Thể. Giáo Hội là Thánh Thể – mỗi một cộng đồng địa phương cử hành Hiến Tế Thánh Lễ đều được liên kết với toàn thể Chúa Kitô bao gồm tất cả mọi tín hữu khắp các thời đại. Trong Thánh Lễ, chúng ta kêu cầu các thần trời cũng như Đức Mẹ, toàn thể các thánh và cầu cho kẻ chết nữa.
Không có một cộng đồng địa phương nào tự ḿnh cấp cho ḿnh một vị giám mục thế nào th́ nó lại càng không phải chỉ là một cử hành tự ḿnh không liên hệ ǵ tới toàn thể Giáo Hội Công Giáo. Việc thánh hiến các vị giám mục là những ǵ tỏ tường cho thấy những vị giám mục hiệp thông với vị thừa kế Thánh Phêrô và lănh nhận sứ vụ của ḿnh từ chính Chúa Kitô được môi giới qua các thời đại trong mối hiệp thông với chính các vị tông đồ đă được Chúa Giêsu kêu gọi.
ĐTC Biển Đức XVI nói đến điều này trong bài phát biểu đầu tiên làm giáo hoàng của ngài khi chia sẻ về việc ngài được chọn làm vị thừa kế Thánh Phêrô: “Chúng ta nghĩ đến vào những giờ khắc này về những ǵ xẩy ra ở Caesarea Philippi 2 ngàn năm về trước: ‘Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống’, và lời trịnh trọng xác nhận của Chúa: ‘Con là Đá và trên đá này Thày sẽ xây Giáo Hội của Thày…. Thày sẽ trao cho con ch́a khóa nước trời’”.
Như Đức Thánh Cha, mỗi vị giám mục cũng đă được ủy thác cho sứ vụ duy tŕ mối hiệp nhất và công giáo tính của Giáo Hội thuộc thẩm quyền của các vị. Không hiệp nhất, theo ĐHY Ratzinger nhận định, sẽ không có thánh thiện thật, v́ thánh thiện đ̣i một t́nh yêu được trao ban là mối liên hệ hiệp nhất vậy.
Vị giám mục cần phải vun trồng mối hiệp nhất mỗi ngày một sâu xa hơn với Chúa Kitô – như các vị tông đồ, ngài phải là ‘con người hiện đại của Chúa Kitô’ – bằng không, ngài sẽ chỉ là một viên chức của giáo hội vậy thôi.
Cũng thế, các vị linh mục thánh chức thông phần vào sứ vụ của các vị giám mục như thánh phần môn đệ được tuyển chọn thông phần vào sứ vụ của các vị tông đồ. V́ hoạt động tông đồ chân thực không phải là sản phẩm của khả năng riêng các vị ấy thế nào th́ đối với các vị giám mục và linh mục thánh chức cũng thế.
Chính Chúa Kitô nói năng và hành động qua họ như là những dụng cụ khi các vị dạy tín lư chân thực, cử hành các bí tích, và quản trị một cách xứng hợp. Họ có thể nói chỉ là “không”. Nó là tất cả sự hiện diện và hoạt động của Chúa Kitô, như tất cả những ǵ Người làm đều từ Cha trong Thánh Linh vậy.
Hồng Y Ratzinger khéo tóm tắt điều này là “Được Kêu Gọi Hiệp Thông”: “Đó chính là những ǵ chúng ta muốn nói khi chúng ta gọi việc truyền chức linh mục là bí tích: việc truyền chức không phải là những ǵ về việc phát triển khả năng và tặng ân riêng của con người. Nó không phải là việc bổ nhiệm một con người làm một viên chức v́ họ đặc biệt giỏi về nó, hay v́ nó hợp với họ, hoặc chỉ v́ nó trở thành cách thức ngon lành cho họ kiếm sống….
“Bí tích nghĩa là tôi cho đi những ǵ chính tôi không thể cho; tôi làm những ǵ không phải là việc của tôi; tôi thực hiện một sứ vụ và trở thành một người ôm ấp những ǵ được người khác úy thác cho thực hiện”.
Cũng như với vị giám mục, “nền tảng của thừa tác vụ linh mục là mối liên hệ sâu xa tư riêng với Chúa Giêsu Kitô”.
Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit ngày 23-24/6/2005
Tác phẩm “Joseph Ratzinger. Una biografía – Joseph Ratzinger: Tiểu Sử” được Eunsa xuất bản là của soạn giả Pablo Blanco, tiến sĩ triết học và là người đă nghiên cứu về đời sống và các bút tích của ĐTC BĐXVI nhiều năm. Qua cuộc phỏng vấn với Zenit, ông đă cho biết về vị giáo hoàng này như sau:
Vấn: Khi ông viết cuốn sách này ông có nghĩ rằng ĐHY Ratzinger một ngày kia trở thành Giáo Hoàng hay chăng?
Đáp: Dĩ nhiên là không. Tôi chú ư tới hồng y Joseph Ratzinger như là một thần học gia và là một con người của Giáo Hội, chứ không phải như một vị Giáo Hoàng. Dù sao, giờ đây, qua thời gian, tôi đă nhận thấy rằng các vị hồng y, nhờ sự trợ giúp khôn lường của Thánh Linh, đă biết phải chọn lựa ra sao.
Vị Giáo Hoàng này xứng đáng nhất ở một số điều trổi vượt, và theo tôi, chỉ cần đề cập tới 3 điều chính yếu là việc ngài hoàn toàn có thể giải bày những thứ thách lớn lao của thời đại hiện tại, như việc giải bày vấn đề tục hóa, việc cổ vơ vấn đề đại kết, cũng như việc phấn khích vấn đề cương quyết và chân thành truyền bá phúc âm hóa.
Vấn:
Ông đă viết rằng ĐHY Ratzinger và ĐGH GPII đă hợp tác với nhau rất chặt chẽ,
chẳng những vào các chiều Thứ Sáu và riêng tư, mà c̣n cả vào các ngày Thứ Ba,
ngày trước các buổi triều kiến chung hằng tuần. Từ những cuộc gặp gỡ này đă xuất
phát ra một số bài giáo lư cho ngày Thứ Tư và những bản văn kiện. Giờ đây đức
Ratzinger là Giáo Hoàng, ông có nghĩ rằng sẽ có một ai đó giúp ngài về các bài
giáo lư hay chăng?
Đáp: Thẳng thắn mà nói th́ tôi không biết. Đức Ratzinger đă nổi tiếng về việc viết ra hết những ǵ (Đức GPII) đọc. Tôi nghĩ rằng ngài sẽ có các cộng sự viên đáng kể nhưng ngài sẽ chịu trách nhiệm một cách rất riêng tư về tất cả những ǵ ngài nói hay viết.
Vấn:
Có những khía cạnh nào của Đức Biển Đức XVI, theo ông, chưa được truyền thông
nhấn mạnh đến hay chăng?
Đáp: Tôi nghĩ rằng điều rất quan trọng nơi đời sống của ngài là những ǵ ngài đă nói trong bài giảng khai triều của ḿnh: chương tŕnh duy nhất của ngài đó là thực hiện ư muốn của Thiên Chúa.
Suốt cuộc sống của ḿnh, người ta có thể thấy cách thức ngài để ḿnh được dẫn dắt bởi bàn tay vô h́nh của Thiên Chúa, Đấng đưa ngài đến những nơi ngài không muốn tới: chẳng hạn ngài thôi làm giáo sư để trở thành TGM Munich, ngài đi Rôma để đảm nhiệm một vai tṛ khó khăn nhất trong Giáo Hội là vai tṛ làm tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin, và đă chấp nhận việc được bầu làm Giáo Hoàng… với danh hiệu Biển Đức XVI.
Đối với tôi, tất cả những điều ấy ngài chẳng những tỏ ra can đảm ngài c̣n cho thấy ngài có một khả năng cao cả trong việc để cho Thiên Chúa hành động nữa.
Vấn:
Ông đă viết rằng ĐHY Ratzinger là một trong những kiến trúc sư chính yếu của
Công Đồng Chung Vaticanô II cũng như của giai đoạn hậu công đồng trong toàn thể
Giáo Hội. Ngài đă tỏ ra bênh vực Công Đồng ở những lănh vực nào nhất?
Đáp: Tôi nghĩ rằng ngài có một nhăn quan đặc biệt về toàn diện tất cả mọi thứ trục trặc về đức tin hiện nay.
Trong số nhiều vấn đề khác nhau, người ta có thể thấy được vai tṛ chính yếu của Chúa Giêsu Kitô và tầm quan trọng của phụng vụ, của luân lư, của nữ giới trong Giáo Hội, của vai tṛ linh mục là để phục vụ, của vấn đề đại kết như công việc chính yếu của ngài, và sau hết của tính chất quyết liệt nơi Việc Tuyên Xưng Đức Tin trong đời sống Kitô hữu.
Chứng cớ của việc này chẳng hạn như Cuốn Giáo Lư của Công Đồng Chung Vaticanô II, một cuốn sách chính ngài chịu trách nhiệm và điều hợp.
Dù sao đi nữa vấn đề rơ ràng là, với tư cách chủ yếu ngài đă đóng trong Công Đồng ấy, ngài biết Giáo Hội cần phải đi về đâu; tất cả những ǵ cần đó là tiếp tục lắng nghe tiếng Thiên Chúa trong Lễ Hiện Xuống liên tục này.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit ngày 28/6/2005
NGUỒN GỐC NHÂN CHỦNG HỌC CỦA GIA Đ̀NH
(Tóm lược và diễn ư bài huấn từ của Đức Bênêđíctô XVI nói trong Đại Hội Giáo Phận Rôma)
Đúng vậy, gia đ́nh không những là nền tảng xă hội, mà c̣n là tương lai của Giáo Hội nữa. V́ gia đ́nh là cái nôi, là vườn ươm sự thánh thiện cho Giáo Hội. Gương sáng của cha mẹ, anh chị em. Đời sống chia sẻ, thương yêu của gia đ́nh là những bài học về đời sống thánh thiện của người Kitô hữu sau này, và cũng là một trường đào luyện những nhân đức xă hội. Trong ư nghĩa giáo dục, gia đ́nh là một học đường tốt nhất, và cha mẹ là những thầy dậy có tác dụng và ảnh hưởng nhất. Ở đây, câu nói của thánh Anphongxô, sáng lập ḍng Chúa Cứu Thế vẫn c̣n có ư nghĩa: “Tất cả những ǵ tôi có được hôm nay đều do mẹ tôi ban cho”.
Nhưng rất tiếc, gia đ́nh hiện nay và ơn gọi hôn nhân hiện nay đang bị trào lưu hưởng thụ, lối sống buông thả hủ hóa. Chính v́ thế, Giáo Hội, đặc biệt là Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă không ngừng cổ vơ, và đề cao đời sống và ơn gọi hôn nhân gia đ́nh. Đức Bênêđíctô XVI, đấng kế vị Đức Gioan Phaolô II cũng không đi ngoài con đường này. Ngài cổ vơ và đề cao ơn gọi hôn nhân gia đ́nh.
Ngày 9 và 10 tháng 6 vừa qua, màn điện toán toàn cầu Zenit đă phổ biến bài huấn từ của Đức Bênêđíctô XVI nói trong Đại Hội Giáo Phận Rôma với tư cách là Giám mục Rôma, cũng như Giám Mục toàn thế giới. Trong vai tṛ thừa kế Thánh Phêrô, ngài đă huấn dụ mọi người với đề tài “Nguồn Gốc Nhân Chủng Học của Gia Đ́nh”. Bằng với những suy tư thần học, triết học, xă hội học và giáo dục, Đức Thánh Cha đă làm nổi bật vai tṛ và ơn gọi hôn nhân gia đ́nh, đặc biệt, gia đ́nh Kitô giáo trong bối cảnh sống của con người hiện nay. Một bối cảnh mà gia đ́nh và ơn gọi hôn nhân của Kitô giáo đang gặp rất nhiều thử thách, trong đó Ngài đề cập đến một lối sống theo thời, lối sống bất cần đời, mà ngài gọi là chủ thuyết nửa vời.
Lối sống và triết lư sống nửa vời ấy, phản ảnh những suy tư con người thời nay, khi cố t́nh loại bỏ những ǵ là thiện hảo, là đạo đức, là lành mạnh ra khỏi tầm nh́n và trái tim con người. Bằng lối sống như hiện nay, con người đang cố t́nh tạo cho ḿnh một mẫu sống khác, một hôn nhân theo kiểu đồng tính luyến ái. Một hôn nhân mà cha mẹ không màng đến việc sinh sản, và giáo dục con cái. Coi con cái như một gánh nặng, hoặc thờ ơ để mặc cho xă hội và bạn bè xấu ảnh hưởng. Lối sống này, theo Đức Thánh Cha, là một lối sống cố t́nh loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống gia đ́nh. Mà hậu quả là con người ngày nay đang gặp phải những khủng hoảng lớn lao.
Ngay trong cái nh́n về nhân chủng học, đời sống và h́nh thức gia đ́nh như hiện nay đă không giải thích và nói lên được những giá trị thật của nó. Ngược lại, c̣n làm cho méo mó, và lỏng lẻo mọi liên hệ tốt của một con người với con người, và một con người trong đời sống và lời thệ hôn của họ. Đánh mất đi những giá trị và sự cao cả của hôn nhân như tự nó đă có, con người sẽ không t́m được ư nghĩa của cuộc đời ḿnh. Họ không biết ḿnh ở đâu mà ra, và cũng không biết họ sẽ đi về đâu và làm ǵ? Liệu con người có thể sao bản chính ḿnh? Làm sao những cặp đồng tính có thể có con? Và nếu không có con th́ lấy ai đẻ con để họ nhận làm con nuôi? Hoặc ai là những cha mẹ tử tế lại dám để cho những cặp vợ chồng đồng tính ấy nuôi dưỡng và giáo dục con ḿnh? Con người ngày nay, qua lối sống ấy, thật sự đang làm mất đi cái cội nguồn, và ư niệm về chính ḿnh.
Với lối sống hưởng thụ hiện nay, những giá trị của đời sống hôn nhân gia đ́nh như việc sinh sản, giáo dục con cái cũng được hiểu theo một chiều hướng mới, có tiềm ẩn những nhu cầu hưởng thụ và ích kỷ. Cha mẹ sợ không có con. Và khi cần thiết, chỉ giới hạn trong một số ít con cái. Họ coi con cái không phải là quà tặng của Thiên Chúa, là kết quả của t́nh yêu mà họ dành cho nhau, nhưng là một sở hữu và một cái ǵ mà họ thích thú, hoặc đem lại cho họ niềm vui. Với nhiều lư do biện minh, nhưng có thể nói, cái ích kỷ hẹp ḥi được ngụy trang trong những lư do này khác là một điều đang làm ung nhọt đời sống gia đ́nh và ảnh hưởng đến quyết định sinh con của nhiều cặp vợ chồng. Hậu quả của nó là ngừa thai. Và nếu không ngừa được th́ phá thai. Mỗi năm, theo thống kê, chúng ta thấy có hằng mấy chục triệu thai nhi bị giết chết trong ḷng mẹ ḿnh v́ cái ích kỷ và lối sống hưởng thụ ấy.
Tóm lại, những tư tưởng được Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI tŕnh bày bao gồm những nhận định về nguồn gốc nhân chủng của gia đ́nh, tiếp đến là hôn nhân và gia đ́nh trong lịch sử cứu độ, việc sinh sản con cái, gia đ́nh và Giáo Hội, những đe dọa của lư thuyết nửa vời, và sau cùng là linh mục và đời sống tận hiến.
Chương tŕnh Phát Thanh Tin Mừng Sự Sống trên làn sóng (106.3 FM Nam California. Phát thanh vào mỗi tối thứ Sáu từ 9 giờ đến 9:30, sẽ lần lượt tŕnh bày sâu hơn về huấn từ này vào những buối phát thanh kế tiếp. Tài liệu này đă được nhóm Vào Đời chuyển ngữ và hiện có trên màn điện toán của Chương Tŕnh: WWW. Thoidiemmaria.net hoặc Tinmungsusong.org. Độc gỉa ở xa có thể nghe chương tŕnh này qua màn điện toán.
Trần Mỹ Duyệt
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI: Ư Hướng Hiệp Nhất của ngài theo nhận định của một linh mục thân quen
Vị linh mục chủ bút tờ First Things là cha Richard John Neuhaus đă chia sẻ với Zenit những cảm nhận của ḿnh về Đức tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI khi c̣n là hồng y Joseph Ratzinger.
Vấn: Xin cha làm ơn chia sẻ những cảm nghiệm riêng tư của cha với ĐHY Ratzinger, và đâu là những tặng ân đặc biệt theo cha ngài mang theo vai tṛ lkàm giáo hoàng của ngài?
Đáp: Tôi đă quen biết ĐHY Ratzinger nay là Giáo Hoàng Biển Đức trên 20 năm nay, và chúng tôi đă từng đối thoại với nhau về nhiều vấn đề.
Như mọi người đều biết rằng ngài là một thần học gia tổ sư, và theo tôi, ngài đă được công nhận là một trong những đại thụ về thần học trong ṿng 100 năm qua nếu ngài không cống hiến phần đời chính yếu của ḿnh để phục vụ Đức Gioan Phaolô Cả với vai tṛ là tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin.
Như mọi người cũng đều biết, ngài là một con người dịu dàng và b́nh thản đặc biệt, với một bộ óc ham hiểu biết về tri thức một cách sắc bén liên quan đến các quan điểm khác nhau.
Tôi c̣n nhớ là vào năm 1988, tôi đă mời ngài đến để chia sẻ Bài Thuyết Tŕnh Erasmus hằng năm của chúng tôi ở Nữu Ước đây, một bài nói mở màn cho một hội nghị kéo dài vài ngày giữa các thần học gia Công giáo, Tin Lành và Chính Thống giáo.
Bài thuyết tŕnh công khai này được tổ chức ở giữa phố Manhattan đă bị gây lũng đoạn một cách thô bạo bởi những tay náo hoạt viên đồng tính, thành phần vừa vẫy những h́nh tam giác mầu hồng của họ vừa la ḥ những lời hài hước như ‘Sieg Heil!”, “Nazi Ratzy!” và “Tên Quan Ṭa Điều Tra Cút Về Đi!” Cuối cùng tôi đă phải gọi cảnh sát tới để dạp thành phần chống đối và phục hồi trật tự.
Trước cảnh tượng ấy, vị hồng y này rất ư là thản nhiên. Khi ngài có cơ hội nói, ngài đă mở đầu bài thuyết tŕnh của ngài, một bài thuyết tŕnh về vấn đề dẫn giải Thánh Kinh, bằng việc gợi lại một cách cảm động về việc phản loạn của sinh viên năm 1968 ở Âu Châu, một biến cố đă giúp ngài hiểu sâu xa hơn tính cách bất khả thiếu về phép lịch sự nơi các mối liên hệ của loài người.
Vào trường hợp này hay ở những trường hợp khác, đối với tôi, hiển nhiên là tính cách trầm lặng của ngài là những ǵ đă được bắt nguồn sâu xa từ một đức tin bị thử thách và thao luyện. Ngày hôm sau, những đầu đề của tờ báo khổ nhỏ tuyên bố rằng “Thành Phần Đồng Tính Chống Đối Tay Tổ Vatican”. Ngài đă khúc khích cười với cái danh hiệu với ‘Tay Tổ Vatican’ này.
Vấn: Đức Biển Đức XVI đă chú trọng đến vấn đề đại kết như là một việc ưu tiên của ngài. Cha có lấy làm lạ về việc này chăng?
Đáp: Không, không lạ tí nào hết. Điều này đă từng là mối quan tâm và chú trọng liên lỉ của ngài, và ngài đă viết nhiều về đề tài đại kết này. Là một người Đức, ngài có đầy kinh nghiệm với các truyền thống xuất phát từ những cuộc phân ly hồi thế kỷ 16, nhất là với Kitô giáo theo phong trào Luthêrô và Cải Cách, hay theo phong trào Calvin.
Ngài có một nhận thức thiện cảm về những ǵ đúng của Martin Luther, và cũng phân tích một cách xác đáng những không khiêu khích về những ǵ sai của vị này. Là đầu của Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin, ngài có trách nhiệm về các khía cạnh tín lư đối với tất cả mọi cuộc đối thoại đại kết được Giáo Hội tham gia, và sẽ tiếp tục thi hành trách nhiệm này.
Mặc dù ngài dĩ nhiên không xác nhận, tôi cũng thấy được chứng cớ rơ ràng có bàn tay của ngài nhúng vào những đoạn chính yếu của bức thông điệp về mối hiệp nhất Kitô giáo “Xin cho chúng được nên một” được ban hành vào năm 1995. Chúng ta sẽ thấy, trong giáo triều này của ngài, tôi cho rằng, một lằn mức rất rơ ràng về thẩm quyền, khi vị Giáo Hoàng là viên chức tín lư chính yếu của Giáo Hội sử dụng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin trong việc điều hợp các văn pḥng khác để giải quyết những vấn đề về tín lư. Chẳng hạn như Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin đă tham gia một cách sâu xa vào bản tuyên ngôn về tín lư công chính hóa giữa Luthêrô và Công
Vấn: Việc chú trọng đến vấn đề đại kết nói ǵ ở vào lúc có rất
nhiều quan tâm đến những vấn đề pḥ sự sống?
Đáp: Đang có một mối liên hệ chặt chẽ. Thần học gia phái Baptist là Timothy George nói về “vấn đề đại kết về những đường mương rănh”, tức nói đến những đường lối mà những người Công giáo và Tin lành ở xứ sở này cần phải đi đến chỗ hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau v́ vấn đề pḥ sự sống.
Đây cũng là điều hết sức quan trọng cho dự án liên tục được gọi là Cùng Nhau Tin Lành và Công Giáo (Evangelicals and Catholics Together, ECT), một dự án được Charles Colson và tôi khai mào vào năm 1994. Tôi đă nhiều năm liên lạc với ĐHY Ratzinger về những phát triển của dự án này, và ngài hoàn toàn ủng hộ. Chắc chắn, là một người Âu Châu, ngài tương đối ít có kinh nghiệm thực sự về phong trào tin lành ở Hoa Kỳ, một phong trào rất khác với những ǵ là “tin lành” ở Đức quốc.
Thế nhưng ngài biết rất rơ mức phát triển nhẩy vọt của Kitô giáo tin lành và Thánh Linh ở Nam Bán Cầu, và điều này chắc chắn được nhăn quan về đại kết của ngài nhận thức. Việc nhận thức của Giáo Hội thường được lập đi lập lại đó là vấn đề dấn thân cho việc đại kết là những ǵ ‘bất khả văn hồi’, và mục tiêu của vấn đề đại kết đó là thiết lập ‘mối hiệp thông trọn vẹn’.
Về vấn đề hiệp thông trọn vẹn, những mong đợi của ĐGH Biển Đức là những ǵ đặc biệt điềm đạm. Trong những bài viết của ngài, ngài đă nhấn mạnh rằng mối hiệp nhất duy nhất chúng ta có thể t́m kiếm, mối hiệp nhất duy nhất làm hài ḷng Thiên Chúa, đó là hiệp nhất trong sự toàn chân. Ngài đă nói rằng thành phần Công giáo và Thệ phản đă từng chịu đựng lẫn nhau hồi thế kỷ 16 đặc biệt lại gần nhau hơn là đôi khi ở trường hợp của các cuộc đối thoại thần học hiện đại, v́ cả hai thành phần trên đều hiểu được rằng cái nguy hại đó là chân lư Thiên Chúa muốn cho tất cả mọi người nhận biết.
Ngài cũng nhấn mạnh rằng con đường tiến đến mối hiệp nhất không phải là vấn đề chương tŕnh và kế hoạch của chúng ta mà là việc trung thành chờ đợi tác động mới của Thánh Thần là những ǵ chúng ta không thể nắm trong tay hay dự tưởng. Điều này không có nghĩa là việc dấn thân đại kết của ngài ít khẩn trương hơn là nơi trường hợp hiển nhiên với Đại Giáo Hoàng Gioan Phaolô. Việc dấn thân đại kết là những ǵ bất khả văn hồi và cần phải cẩn thận nuôi dưỡng những ǵ có thể thực hiện, bao gồm cả việc gia tăng hợp tác với các Kitô hữu khác để chiến đấu cho văn hóa sự sống chống văn hóa sự chết.
Vấn: Phải chăng xuất thân từ Đức ngài có một quan điểm đặc biệt về
vấn đề đại kết?
Đáp: Như tôi vừa mới nói đến một phần về điều này, ở đây cần phải để ư rằng ĐGH Biển Đức đă có một số lời phát biểu đầu tiên mănh liệt xác nhận việc t́m cầu ḥa giải với Chính Thống giáo.
Đối với Đức Gioan Phaolô, là một người Balan, thực thể Chính Thống giáo là những ǵ trực tiếp thôi thúc hơn, nhưng tôi cũng chắc chắn là ĐGH Biển Đức có cùng một ước vọng về lúc mà Giáo Hội tái “hít thở banèg hai buồng phổi, Đông và Tây”.
Tôi đă nói những ǵ chúng ta chia sẻ với Chính Thống giáo đó là chỉ một điều thiếu để tiến đến chỗ hoàn toàn hiệp thông đó là việc hoàn toàn hiệp thông, và tôi không nghĩ rằng ĐGH Biển Đức không đồng ư với ư nghĩ này. Đôi khi v́ là cận thân gần gũi lại gây thêm khó khăn hơn. Theo chiều hướng này th́ có thể là người Chính Thống giáo ít gặp trục trặc nơi mối liên hệ với một người Đức hơn là với một người Balan. Phải công nhận là đây chỉ là một ‘yếu tố phi thần học’, thế nhưng Thiên Chúa vẫn có thể sử dụng những yếu tố phi thần học để đạt mục đích của Ngài.
Vấn: Những ǵ làm cho cha cho tới nay cảm thấy cảm kích về vị tân
Giáo Hoàng này?
Đáp: Có một số điều, nhưng có lẽ trước hết tôi phải đề cập tới tính cách điềm đạm của ngài. Ngài đă nói bằng nhiều cách thức khác nhau là ngài không muốn áp đặt con người của ngài hay các quan điểm riêng tư của ngài, mà chỉ muốn trở thành một người tôi tớ trung thành của truyền thống được lưu lại.
Giờ đây chúng ta có được một vị giáo hoàng khác, vị là một nhà trí thức rất có thế lực. Dưới thời Đức Gioan Phaolô có một số người đă lo âu rằng quan điểm triết thần chuyên biệt của vị giáo hoàng này đang có một ảnh hưởng quá sâu đậm trên giáo huấn của huấn quyền.
Đức Biển Đức dường như dự đoán trước được mối quan tâm tương tự này trong trường hợp của ngài. Dù sao ngài có cả một “triền giấy” rộng một dặm và dài nhiều dặm, v́ đă ghi nhận những quan điểm của ngài về rất nhiều vấn đề. Ngài h́nh như đang muốn nói rằng ngài đă quá biết rằng trách nhiệm của thần học gia Joseph Ratzinger và tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin Joseph Ratzinger khắc hẳn với các trách nhiệm là Giáo Hoàng Biển Đức, và điều ấy là điều xác thực.
C̣n một dấu hiệu tinh vi nữa từ khi ngài được tuyển chọn, một dấu hiệu tôi nghĩ rằng càng ngày sẽ càng hiện lộ hơn, đó là ngài muốn hiểu rằng ngài là vị Giáo Hoàng ‘tôi tớ của mọi tôi tớ Chúa’, nhất là của thành phần đồng giám mục của ngài.
Những phên phán nghiêm nghị của ngài trước đây về các hội đồng giám mục chư quốc, theo tôi, đă bị hiểu lầm một cách trầm trọng. Thực ra ngài là một tay tranh đấu nhiều cho đoàn tính giáo phẩm và không muốn những hội đồng giám mục quốc gia hay những cơ cấu khác pha ḿnh vào việc làm của các vị giám mục v́ các vị là giám mục, tức là, trước hết, là những bậc thày đức tin chân thực tại giáo hội địa phương của các vị.
Vấn: Thánh phần Kitô hữu không phải Công giáo nói chung đă quan
niệm về ĐHY Ratzinger ra sao?
Đáp: Những dấu hiệu cho thấy là ngài được nhiệt t́nh đón nhận bởi cả người Công giáo lẫn không Công giáo như nhau. Ngài không có, theo tôi cũng có thể không xẩy ra, những ǵ được gọi là “tính chất minh tinh” bao quanh Đức Gioan Phaolô. Có nhiều cá biệt khác nhau giữa hai vị. Nó liên quan tới truyện sống đời cũng rất khác biệt giữa hai vị.
Truyện đời của Đức Gioan Phaolô phải nói là thê thảm hơn, một cuộc sống dưới chế độ Đức Quốc và Cộng Sản, sớm mất mẹ và anh, cuộc thách đố thành công đối với ‘đế quốc độc dữ’ Nga Sô v.v. Đời sống của ngài có những chất liệu rất hay đối với thành phần sản xuất các thứ sách vở hài hước ca tụng.
Tôi cho rằng cũng sẽ có những cuốn sách hài hước về giáo hoàng Biển Đức, thế nhưng chúng sẽ không hào hứng bằng. So với Đức Gioan Phaolô th́ cuộc đời của ngài là một cuộc đời có tính cách liên tục tuần tự đặc biệt.
Ngoại trừ những năm tháng dưới thời Hít Le, cuộc sống của ngài trải qua thời thơ bé vui tươi ở Bavaria, một nhận thức và hoàn tất sớm ơn gọi làm linh mục, một việc làm rất thành công như môä thần học gia, sau đó được thăng phẩm TGM hồng y, rồi qua Rôma. Giờ đây làm giáo hoàng. Đó là một cuộc đời ở trong Giáo Hội và cho Giáo Hội.
Với tính cách êm thắm của cá tính ḿnh, cái nổi bật đó là tính cách sinh động nơi đức tin của ngài cũng như cái phong phú nơi tư tưởng của ngài. Tôi đă đề cập đến ngay từ đầu cái dịu dàng nơi cung cách và b́nh lặng nơi tâm hồn của ngài. Đó không phải là những tính chất xấu để chiếm được một vị thế chính yếu ở một lúc mà đức hiền lành và sự b́nh tâm bị hụt hẫng này.
Tôi chỉ xin thêm một chút nữa là thật là sai lầm khi nghĩ rằng đức hiền lành và
sự b́nh tâm có nghĩa là yếu kém hay không biết mạnh mẽ dứt khoát.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL chuyển dịch từ tài liệu được Zenit phổ biến hôm Thứ Hai 6/6/2005.
ĐTC Biển Đức XVI với Luật
Thánh Biển Đức
Ḍng Biển Đức được thành lập từ thế kỷ thứ 6 và là ḍng chú trọng tới việc cử
hành phụng vụ, chăm sóc cho các linh hồn, truyền giáo, nghiên cứu, nghệ thuật,
giáo dục giới trẻ và truyền thông xứng hợp với đời sống đan viện. Ḍng này hiện
nay có 7.860 đan sĩ, trong đó có 4.139 linh mục.
Cha Notker Wolf, viện phụ của Liên Hiệp Đan Sĩ Biển Đức đă cho biết về vị tân
giáo hoàng qua cuộc phỏng vấn với Zenit, một cuộc phỏng vấn được Zenit phổ biến
ngày 31/5/2005, như sau:
Vấn: Cha cảm thấy thế nào khi cha nghe thấy vị
tân Giáo Hoàng nhân danh hiệu là Biển Đức XVI?
Đáp: Bấy giờ tôi đang ở Đan Viện Tepeyac Mễ Tây
Cơ, và tôi đă theo dơi các biến cố trên truyền h́nh. Chúng tôi rất bỡ ngỡ và vui
mừng khi nghe thấy danh hiệu của ngài.
Vấn: Làm thế nào việc hiện diện của các đan sĩ
Biển Đức ở Bavaria đă ảnh hưởng tới vị tân Giáo Hoàng này, hoặc về lănh vực thần
học hay về việc chọn danh hiệu của ngài?
Đáp: Kinh nghiệm ngài đă có được từ các đan sĩ
Biển Đức ở Bavaria dường như có một ảnh hưởng thực sự. Chính ngài đă nghĩ đến
việc gia nhập một đan viện Biển Đức. Có tất cả 17 đan viện Biển Đức ở Bavaria.
Tâm thức của người Bavaria bị ảnh hưởng rất nhiều của các đan sĩ Biển Đức. Những
năm gần đây Vị Giáo Hoàng này đă Tĩnh Tâm hằng năm ở Đan Viện Biển Đức ở
Scheyern.
Thật vậy, trong một số dịp ngài đă trích dẫn một đoạn của Luật Ḍng Biển Đức:
“Christo omnino nihil prepanant – tuyệt đối không coi ǵ hơn Chúa Kitô – Chúa
Kitô là tâm điểm đời sống của chúng ta. Chúa Kitô là ơn cứu độ của thế giới.
Vấn: Các vị đan sĩ Biển Đức là một tổ chức năng
động. Họ không tập trung nhưng để mỗi đan việc được nhiều tự do hơn. Cha có nghĩ
rằng vị Giáo Hoàng này sẽ được tác động bởi mẫu thức Giáo Hội phân quyền này hay
chăng?
Đáp: Thánh Biển Đức yêu cầu vị viện phụ phải thi
hành quyền bính, nhưng ngài không chấp nhận vấn đề độc quyền. Khi cần phải giải
quyết một vấn đề quan trọng th́ tất cả đều được góp ư kiến. Vị viện phụ chỉ
quyết định sau đó mà thôi.
Chúng ta biết rằng, ở các cuộc họp, ĐHY Joseph Ratzinger muốn để cho mọi người
nói và ngài biết cách lắng nghe. Tôi không lấy làm lạ nếu ngài thực hiện nhiều
việc ủy quyền và nếu ngài phát động nguyên tắc trợ thuộc.
Chính ngài đă nói rằng Giáo Hội hoàn vũ không được theo chiều hướng tập quyền.
Ngài sẽ tôn trọng các Giáo Hội địa phương mà không gây hại đến mối hiệp nhất của
Giáo Hội.
Vấn: Làm thế nào Thánh Biển Đức tác động Âu Châu
ngày nay?
Đáp: Qua luật ḍng của ngài và các đan sĩ của
ngài, Thánh Biển Đức đă truyền đạt cho Tây phương t́nh trạng ổn định và một thứ
văn hóa mới ở vào một thời điểm có những thay đổi cả thể.
Trong một thời đại như của chúng ta đây, một thời đại cũng được đánh dấu bằng
những đổi thay lớn lao, các nguyên tắc của ngài cũng cần phải cho thấy con đường
tiến đến tương lai là con đường cần phải có, trong những điều khác, trách nhiệm
chung đối với Thiên Chúa, tôn trọng phẩm vị con người, tôn trọng việc cá nhân
con người hội nhập vào cộng đồng, và tôn trọng phương thức chân chính nơi tác
hành ở lănh vực luật lệ và việc áp dụng luật lệ này.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch theo Zenit ngày 31/5/2005
Đúng như đă dự đoán trên chương tŕnh phát thanh Tin Mừng Sự Sống ngày Thứ Sáu 15/4/2005 (106.3 FM từ 9 đến 9 giờ 30 Thứ Sáu hằng tuần) về vị tân giáo hoàng, khi mật nghị hồng y bầu tân giáo hoàng vào ngày Thứ Hai 18/4/2005 chưa xẩy ra, đó là vị tân giáo hoàng sẽ là “vị giáo hoàng của bữa tiệc ly… liên quan đến hiệp nhất Kitô giáo” (Nguyệt San Hiệp Nhất số 150, 6/2005, trang 38).
Vị Giáo Hoàng của Bữa Tiệc Ly về ḷng tôn sùng Thánh Thể
Thứ nhất, là v́ giáo triều của ngài mở màn vào ngay giữa Năm Thánh Thể, như chính ngài đă minh nhiên khẳng định trong sứ điệp gửi hồng y đoàn vào cuối thánh lễ tại nguyện đường Sistine hôm Thứ Tư 20/4, tức sau ngày được bầu làm vị giáo hoàng thứ 265 của Giáo Hộị Ngài nói:
· “Giáo triều của tôi, một cách hết sức ư nghĩa, được mở màn vào lúc Giáo Hội đang sống một năm đặc biệt giành cho Thánh Thể. Làm sao tôi lại không thấy được cái trùng hợp được quan pḥng này một yếu tố cần phải đánh dấu thừa tác vụ tôi đă được kêu gọi thi hành đâỷ Thánh Thể, tâm điểm của đời sống Kitô hữu và là nguồn mạch của sứ vụ truyền bá phúc âm hóa của Giáo Hội, chắc chắn bao giờ cũng phải là tâm điểm và là nguồn mạch cho sứ vụ thừa kế Thánh Phêrô đă được trao phó cho tôi”.
Thứ hai, là v́ ngài chủ trương ưu tiên đệ nhất của giáo triều ngài là vấn đề hiệp nhất Kitô giáo, vấn đề được Chúa Giêsu nguyện ước ở cuối Bữa Tiệc Lư, cũng là vấn đề được chính ngài đă minh định trong cùng một sứ điệp trên đâỵ Ngài nói:
· “Bởi vậy, bằng tất cả ư thức và vào lúc mở đầu cho thừa tác vụ của ḿnh ở Giáo Hội Rôma là nơi Thánh Phêrô đă tắm máu, vị Thừa Kế này lănh nhận, như là quyết tâm chính yếu của ḿnh, quyết tâm không ngừng hoạt động hướng đến việc tái thiết mối hiệp nhất trọn vẹn và hữu h́nh của tất cả mọi thành phần môn đệ của Chúa Kitô. Đó là tham vọng của ngài, đó là nhiệm vụ bó buộc của ngàị Ngài biết rằng, để làm điều này, những bày tỏ về cảm t́nh thiện cảm mà thôi chưa đủ. Cần phải có những cử chỉ cụ thể để thấm nhập các tâm hồn và đánh động lương tâm, phấn khích mọi người tiến đến chỗ hoán cải nội tâm là điều căn bản cho tất cả mọi thứ tiến bộ trên con đường đại kết”.
Thứ ba, là v́, trong khi Đức Gioan Phaolô II, vị giáo hoàng “vui mừng và hy vọng” của Giáo Hội trong thế giới tân tiến thực hiện chuyến tông du đầu tiên ngoài Rôma trong Nước Ư là Đền Thánh Phanxicô ở Assisi ngày 5/11/1978, th́ chuyến tông du đầu tiên ngoài thành Rôma trong Ư quốc của vị tân giáo hoàng Biển Đức XVI của chúng ta đây là chuyến đi Bari để bế mạc Hội Nghị Thánh Thể ở Ư vào Chúa Nhật 29/5/2005, như ngài đă đề cập tới trong Huấn Từ Truyền Tin Chúa Nhật Chúa Ba Ngôi 22/5/2005 tại Quảng Trường Thánh Phêrô. Ngài nói:
· “Với niềm hy vọng sẽ đích thân đến Bari vào Chúa Nhật tới đây để cử hành Thánh Thể, giờ đây tôi xin liên kết bản thân ḿnh một cách thiêng liêng với biến cố quan trọng này của giáo hội”.
Thứ bốn, là v́, trong những ngày đầu tiên của giáo triều ḿnh, ngài đă thúc giục hết mọi người, nhất là giáo sĩ hăy sốt sắng cử hành mầu nhiệm Thánh Thể.
Trước hết, đối với hết mọi người, trong sứ điệp ngỏ cùng hồng y đoàn ngày 20/4/2005, ngài đă kêu gọi:
“Bởi thế, trong năm nay, Lễ Trọng Kính Ḿnh Thánh Chúa Kitô cần phải được cử hành một cách hết sức đặc biệt. Thánh Thể sẽ là trọng tâm của Ngày Giới Trẻ Thế Giới ở Cologne vào Tháng Tám, và của Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới thường lệ vào Tháng Mười, một thượng nghị sẽ bàn đến đề tài ‘Thánh Thể là Nguồn Mạch và là Tuyệt Đỉnh của Đời Sống và Sứ Vụ của Giáo Hộí. Tôi xin hết mọi người hăy gia tăng vào những tháng tới đây ḷng yêu mến và việc sùng kính đối với Chúa Giêsu Thánh Thể và thể hiện một cách can đảm tỏ tường sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô, trước hết, qua những việc cử hành một cách long trọng và đúng đắn”.
Trong Huấn Từ Truyền Tin Chúa Nhật Lễ Chúa Ba Ngôi 22/5/2005, ngài cũng đă kêu gọi mọi người rằng:
· “Chúng ta chiêm ngưỡng mầu nhiệm t́nh yêu của Thiên Chúa bằng việc long trọng tham dự Thánh Thể chí thánh, bí tích Ḿnh Máu Chúa Kitô là hiện thực hiến tế cứu chuộc của Ngườị Bởi thế, hôm nay, lễ Ba Ngôi Chí Thánh, tôi hân hoan gửi lời chào đến thành phần tham dự viên hội nghị Thánh Thể của Giáo Hội Ư được khai mạc từ hôm qua ở Barị Ở tâm điểm của năm giành kính Thánh Thể này, dân Kitô giáo qui tụ lại quanh Chúa Kitô hiện diện nơi Bí Tích Cực Thánh là nguồn mạch và là tột đỉnh của đời sống và sứ vụ của ḿnh. Đặc biệt là mỗi giáo xứ được kêu gọi để tái khám phá ra cái vẻ đẹp của Chúa Nhật là ngày của Chúa, ngày mà thành phần môn đệ của Chúa Kitô lập lại nơi Thánh Thể mối hiệp thông với Đấng ban ư nghĩa cho niềm vui và sự kiệt lực của họ mỗi ngàỵ ‘Chúng ta không thể sống nếu không có Chúa Nhật’, các Kitô hữu tiên khởi đă tuyên bố như thế, cho dù họ có bị thiệt mạng sống, và đây là những ǵ ngày nay chúng ta được kêu gọi để lập lại”.
Sau nữa, đối với riêng giáo sĩ, ngài đă kêu gọi các vị khi gặp gỡ hàng giáo sĩ thuộc giáo phận Rôma vào ngày Thứ Sáu 13/5/2005 tại Đền Thờ Latêranô
· “Tôi đặc biệt xin các vị linh mục thực hiện điều ấy, những vị giờ đây tôi đang hết ḷng quí mến nghĩ đến vào lúc này đâỵ Thừa tác vụ linh mục được phát sinh từ Nhà Tiệc Ly, cùng với Thánh Thể, như vị tiền nhiệm đáng kính Gioan Phaolô II của tôi đă nhiều lần nhấn mạnh đến. ‘Đời sống linh mục cần phải đặc biệt có một ‘dạng thức Thánh Thể’, ngài đă viết như thế trong Bức Thư cuối cùng của ngài cho Ngày Thứ Năm Tuần Thánh. Việc sốt sắng cử hành hằng ngày Thánh Lễ, tâm điểm của đời sống và sứ vụ của hết mọi vị linh mục, là những ǵ góp phần vào việc đạt được mục đích ấy”.
Thế rồi, trong huấn từ ngỏ cùng hàng giáo sĩ Rôma vào ngày Thứ Sáu 13/5/2005 tại Đền Thờ Latêranô, ngài đă khuyên giục các vị theo gương sống Thánh Thể của Đức Gioan Phaolô II như sau:
· “Do đó, tôi muốn lập lại cùng quí huynh trong hàng giáo sĩ thân mến những lời không thể quên được của Đức Gioan Phaolô II: ‘Thánh Lễ là tâm điểm trên hết của đời sống tôi và của mỗi ngày tôi sống’ (Ađress at a Symposium in honor of the 30th anniversary of the Decree "Presbyterorum Ordinis," Oct. 27, 1995, n. 4; L'Osservatore Romano English edition, Nov. 15, 1995, p. 7). Mỗi một người trong chúng ta làm sao để có thể nói những lời ấy như là những lời của ḿnh: Thánh Lễ là tâm điểm trên hết của đời sống tôi và của mỗi ngày tôi sống…
“Như thế, vấn đề bỏ giờ ra sống trước nhan Chúa bằng việc nguyện cầu là một ưu tiên mục vụ thực sự; nó không phải là một thứ thêm thắt vào hoạt động mục vụ: ở trước nhan Chúa là một ưu tiên mục vụ và phải nói là một ưu tiên quan trọng nhất. Đức Gioan Phaolô II đă cho chúng ta thấy điều này một cách cụ thể và rạng ngời nhất qua tất cả mọi hoàn cảnh sống và thi hành thừa tác vụ của ngài”.
Vị Giáo Hoàng của Hiệp Nhất Kitô Giáo với “những cử chỉ cụ thể”
Như chúng ta đă biết, vị tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI của chúng ta, ngay sau ngày được bầu làm giáo hoàng, tức vào cuối Thánh Lễ Thứ Tư 20/4/2005, trong sứ điệp ngỏ cùng hồng y đoàn bấy giờ, ngài đă chính thức công khai tuyên bố vấn đề đại kết Kitô giáo là mối quan tâm đệ nhất của ngài (như trên đă trích dẫn), trong đó ngài nhấn mạnh đến “những cử chỉ cụ thể” về vấn đề hết sức quan trọng và khẩn trương này nữạ Ngài nói:
· “… Vị Thừa Kế này, lấy làm quyết tâm chính yếu của ḿnh, cương quyết không ngừng hoạt động để hướng đến việc tái thiết mối hiệp nhất trọn vẹn và hữu h́nh của tất cả mọi thành phần môn đệ của Chúa Kitô. Đó là tham vọng của ngài, đó là nhiệm vụ bó buộc của ngàị Ngài biết rằng, để làm điều này, những bày tỏ về cảm t́nh thiện cảm mà thôi chưa đủ. Cần phải có những cử chỉ cụ thể để thấm nhập các tâm hồn và đánh động lương tâm, phấn khích mọi người tiến đến chỗ hoán cải nội tâm là điều căn bản cho tất cả mọi thứ tiến bộ trên con đường đại kết”.
Vậy, từ sau khi ngài tuyên bố những lời làm nên sứ vụ giáo triều của ngài này, ngài đă thực hiện “những cử chỉ cụ thể” này ra sao, và thành phần có liên quan đến hoạt động đại kết Kitô giáo đă nhận định về ngài như thế nàỏ
Trước hết, về “những cử chỉ cụ thể để thấm nhập các tâm hồn và đánh động lương tâm, phấn khích mọi người tiến đến chỗ hoán cải nội tâm là điều căn bản cho tất cả mọi thứ tiến bộ trên con đường đại kết”, vị tân Giáo Hoàng Biển Đức của chúng ta quả thực đă bắt đầu thực hiện.
Thật vậy, ĐTGM Claude Feidt of Aix en Provende, đại diện Giáo Hội Công Giáo có mặt tại hội nghị Giáo Hội Cải Cách Pháp Quốc ở thành phố này đă đọc bản văn được văn pḥng quốc vụ khanh của Ṭa Thánh thay cho Đức Thánh Cha gửi đến hội nghị được chấm dứt hôm Chúa Nhật 8/5/2005 nàỵ
Trong sứ điệp của ḿnh, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đă gửi lời chào “thân ái đến tất cả mọi tham dự viên, ngài hứa sẽ cầu nguyện cho họ”, vị chủ tịch của hội nghị này là Marcel Manoel đă cho biết như thế. Ông nói tiếp: “Đây là lần đầu tiên hội nghị của chúng tôi đă nhận được một sứ điệp như vậỵ Chúng tôi nhận được sứ điệp này như là một cử chỉ của sự quan tâm”.
Giáo Hội Cải Cách Pháp Quốc có tất cả 350 phần tử. Chủ đề cho hội nghị lần này là “Tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô trong một Xă Hội Trần Thế”. Giáo Hội Cải Cách Pháp Quốc là giáo hội chính trong Liên Hiệp Thệ Phản Pháp Quốc, một tổ chức có chừng 900 ngàn ngườị
Chúng ta cũng nên biết là, trong thời gian c̣n giữ vai tṛ Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin, ngài đă thực hiện “những cử chỉ cụ thể” đối với vấn đề đại kết Kitô giáo này rồị Chắc chúng ta c̣n nhớ bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Lư Công Chính Hóa kư kết giữa Giáo Hội Công Giáo với Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới ở Đức ngày 30/10/1999 tại Augsburg, một thành quả tốt đẹp sau hơn 30 năm đối thoại đại kết. Thế nhưng, thành quả đại kết đầu tiên này không thể có nếu không thiếu “những cử chỉ cụ thể” do đích thân vị hồng y tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin Joseph Ratzinger thực hiện.
Thật vậy, trong cuộc tranh luận về thông điệp “Đức Tin và Lư Trí” của ĐTC Gioan Phaolô II xẩy ra tại Rôma vào Tháng 10/1998, vị hồng y nay làm giáo hoàng Biển Đức XVI của chúng ta đây đă cho biết rằng trước khi ngài lên đại học, ngài đă đọc tất cả các tác phẩm của Luthêrô được viết trước thời Cải Cách, tức là ngài đă hiểu được những suy nghĩ của một nhân vật Luthêrô khi c̣n là linh mục Công giáọ
ĐHY Ratzinger bấy giờ đă kêu gọi những ai hiện diện hăy đọc lại những bản văn đó, v́ chúng cho thấy cuộc chiến đấu cả thể Luthêrô đă trải qua khi phải đương đầu với bản thân ḿnh để sống và chấp nhận những giáo huấn của Vị Thiên Chúa công minh và thiện hảọ Cuộc tranh luận về thông điệp “Đức Tin và Lư Trí” nầ đă kéo dài mấy tiếng đồng hồ. Vị nguyên Giám Mục Tin Lành Luthêrô Wolfgang Huber ở Bálinh (bấy giờ, nay làm chủ tịch Hội Đồng Giáo Hội Tin Lành Đức Quốc) lấy làm cảm phục trước sự ứng đáp của vị tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin và khen Đức Ratzinger là một trong ít người thực sự hiểu được Luthêrô. Và chính kiến thức của ĐHY Joseph Ratzinger về ông tổ Thệ Phản Luthêrô đă giúp phần làm hiện thực việc kư kết lịch sử Bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Lư Công Chính Hóạ
Tuy nhiên, có một số điểm trong bản dự thảo của bản tuyên ngôn này được tŕnh bày trong năm 1998 đă bị cả Ṭa Thánh lẫn hiệp hội loại bỏ. Khi t́nh h́nh cho thấy dự án có thể bị hỏng cuộc, th́ những khó khăn ấy đă được thắng vượt bởi Giám Mục Johannes Hanselmann, nguyên chỉ tịch Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới, và ĐHY Ratzinger, nhờ t́nh thân hữu lâu đời của hai vị này, mối thân hữu đă đưa đến việc thực hiện một cuộc họp riêng giữa hai người với nhau vào Tháng 11/1998.
Sau khi vị Giám Mục Tiến Sĩ Hanselmann này chết vào ngày 2/10/1999, ĐHY Ratzinger đă tiết lộ trong một bài diễn thuyết là: “Chúng tôi đă thực hiện một cuộc gặp gỡ ở nhà của người anh em của tôi, tại Đức quốc, khi mà dường như việc thỏa thuận về Tín Lư Công Chính Hóa đă bất thành. Nhờ đó, trong diễn tŕnh của một cuộc tranh luận kéo dài cả một ngày trời, chúng tôi đă t́m thấy được những công thức làm sáng tỏ những điểm vẫn c̣n gặp trục trặc… Với công thức được dẫn giải vào những ngày ấy, theo cả Liên Hiệp Luthêrô lẫn giáo huấn của Công Giáo, họ đă có thể công nhận rằng họ đi đến việc thỏa thuận về một số điển nồng cốt của Tín Lư Công Chính Hóạ Nó không phải là một việc thỏa thuận có tính cách toàn cầu, thế nhưng, với công thức này mới có thể tiến đến chỗ kư vào một văn bản thỏa thuận ở những ǵ căn bản”.
Sau nữa, thành phần có liên quan đến hoạt động đại kết Kitô giáo đă nhận định về ngài như thế nàỏ Trước quyết tâm cương quyết đi cho đến cùng con đường hiệp nhất Kitô giáo này của vị tân Giáo Hoàng 265 của Giáo Hội Công Giáo như thế, các nhân vật cao cấp thuộc Phong Trào Thệ Phản Tây Phương là phong trào được bắt đầu từ linh mục ḍng Âu Quốc Tinh Martin Lutherô vào tiền bán thế kỷ 16 đă nhận định về ngài như thế nàỵ
Đối với Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội (the World Council of Churches), một tổ chức bao gồm 347 giáo hệ phái và cộng đồng giáo hội trên 100 quốc gia và lănh thổ, với hơn 400 triệu Kitô hữu, mục sư Samuel Kobia, tổng thư kư của tổ chức này và là mục sư của Giáo Hội Methodist ở Kenya, trong cuộc phỏng vấn với mạng điện toán toàn cầu Zenit (được phổ biến ngày Thứ Sáu 22/4/2005), đă nhận định về ư hướng quyết tâm đẩy mạnh cuộc đối thoại hiệp nhất Kitô giáo của vị tân Giáo Hoàng.
· “Quả thực tôi rất sung sướng thấy rằng Vị Biển Đức XVI đă coi rất trọng hoạch định này trong các ưu tiên của ngài ‘mối hiệp nhất trọn vẹn và hữu h́nh của Kitô hữú, là mục tiêu tối hậu của phong trào đại kết và là lư do hiện hữu của Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hộị Nếu Vị Biển Đức XVI muốn tiến sâu vào những mối liên hệ và hợp tác với các Giáo Hội Kitô Giáo khác, và mạo hiểm đi vào các con đường mới để có thể mang chúng ta lại gần nhau hơn với mối hiệp thông trọn vẹn hơn bao giờ hết th́ ngài sẽ thấy nơi Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội này một đồng bạn sẵn sàng đi với ngài tới đâu ngài muốn”.
Trong buổi triều kiến chung của thành phần Đại Kết và Liên Tôn trưa Thứ Hai 25/4, vị Giáo Chủ Anh Giáo là Rowan Williams, TGM Canterbury, đă được nói chuyện một chút với ĐTC Biển Đức XVI, sau đó, trong một cuộc họp báo ở Đại Học Anh Quốc ở Rôma, với sự hiện diện của cả ĐTGM Westminster là hồng y Cormac Murphy-ĨConnor, đă cho biết nhận định của ḿnh về vấn đề đại kết nơi vị tân giáo hoàng này như sau:
· “Những ǵ đă làm cho chúng tôi cảm thấy phấn khởi trong cuộc viếng thăm này đó là hai điềụ Dĩ nhiên một điều là Giáo Hoàng Biển Đức đă nhấn mạnh đến việc lấy làm ưu tiên hoạt động đại kết. Ngài đă nói về việc làm tôi tớ cho mối hiệp nhất, và chúng tôi đă cảm thấy thấm thía khi chúng tôi nghe thấy thế”.
Vị chủ tịch hiện nay của tổ chức Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới là Mục Sư Mark Hanson, lập gia đ́nh và có 6 người con, đồng thời cũng là vị giám mục chủ tịch ở Chicago của Evangelical Lutheran Church tại Hoa Kỳ, đă khen kiến thức sâu rộng của Vị Giáo Hoàng về Martin Luther và mong muốn củng cố vấn đề hiểu biết nhau hơn giữa người Công Giáo và Luthêrô. Mạng điện toán toàn cầu Zenit hôm 25/4/2005 đă phổ biến cuộc phỏng vấn giữa họ với vị mục sư chủ tịch này, một người đă nhận định về vị tân giáo hoàng Biển Đức XVI với vấn đề đại kết Kitô giáo như sau:
· “Chúng tôi có đủ lư do để hy vọng thấy được những phát triển đại kết tốt đẹp và việc hiểu biết nhau hơn nơi những người Luthêrô và những người Công giáo Rôma trong giáo triều của vị Giáo Hoàng nàỵ Trong vai tṛ lănh đạo Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin, ĐHY Ratzinger đă mang lại cho vai tṛ lănh đạo đại kết quan trọng, bao gồm cả việc ủng hộ việc chính thức chấp nhận một văn kiện rất lịch sử, đó là Bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Điều Công Chính Hóạ Bản văn kiện này được kư ở Augsburg, Đức quốc, quê hương xứ sở của Đưc Giáo Hoàng, vào ngày 31/10/1999. Đó là ngày theo truyền thống những người Luthêrô cử hành Cuộc Cải Cách”.
Hy vọng bừng lên từ chân trời đại kết
Mới đây, vào lúc mở màn cho giáo triều của vị giáo hoàng chủ trương ưu tiên đệ nhất vấn đề hiệp nhất Kitô giáo này, chúng ta quả thực đă thấy hiện lên một cách bất ngờ ở chân trời những dấu hiệu hướng về hiệp nhất hết sức phấn khởi như sau, một đối với Kitô Giáo Anh Quốc và một đối với Kitô Giáo Luthêrô.
Trước hết, dấu hiệu hướng về hiệp nhất phát hiện từ Kitô Giáo Anh Quốc, một Giáo Hội đă tác khỏi Giáo Hội Công Giáo Rôma từ năm 1535, và là một Giáo Hội vẫn bất đồng với Giáo Hội Công Giáo về hai tín điều Thánh Mẫu là Tín Điều Vô Nhiệm Nguyên Tội và Tín Điều Mông Triệu, cũng như về việc tôn sùng Thánh Mẫu của những người Công giáọ Thế mà, Ủy Ban Quốc Tế Anh Giáo và Công Giáo Rôma (ARCIC: Anglican Roman Catholic International Commission), bao gồm 18 thần học gia thuộc 10 quốc gia của cả hai bên, hôm Thứ Hai 16/5/2005, đă phổ biến văn kiện đúc kết 6 năm bàn luận về h́nh ảnh Đức Maria, với tựa đề “Đức Maria: Ân Sủng và Hy Vọng trong Chúa Kitô”.
Bản văn kiện này được phổ biến trong một cuộc cử hành tại vương cung Thánh Đường Công Giáo ở TGP Seattle, với sự hiện diện của cả 2 vị đồng chủ tịch là TGM Công Giáo Alexander Brunett và TGM Anh Giáo Peter Carnley, giáo chủ Úc Châụ Bản văn này c̣n được gọi là “Bản Tuyên Cáo Seattle” không phải là một bản tuyên ngôn có thẩm quyền hoặc bởi Công giáo hay Anh giáo nhưng có mục đích để đôi bên bàn luận hơn nữạ
ĐHY Cormac Murphy-ĨConnor, TGM Công Giáo ở Westminster, đă nhận định là bản văn kiện này “là một thành đạt chính yếu trong cuộc đối thoại đang diễn tiến giữa người Công giáo và Anh giáo hoàn vũ. Nó là một thành đạt trong việc gia tăng vấn đề hiểu biết sâu xa nơi chủ trương của mỗi giáo hội”.
ĐGM McMahon Công giáo ở Nottingham nói rằng: “Việc hiểu biết của người Anh giáo và Công giáo đă được củng cố rất nhiều bởi cuộc đối thoại nàỵ Những ǵ chúng ta đă thực hiện đó là dọn đường dẫn đến vấn đề hiệp nhất Kitô giáo”.
Ủy ban này đă được bắt đầu từ năm 1970 và đă viết những văn kiện về Thánh Thể, thẩm quyền thừa tác vụ trong Giáo Hội, ơn cứu độ và công chính hóa cùng bản chất của Giáo Hộị
Cha Donald Bolen, linh mục Công giáo đồng thư kư của ủy ban này và là trợ tá cho ngành Tây Phương của Hội Đồng Ṭa Thánh Đặc Trách Hiệp Nhất Kitô Giáo, trong cuộc phỏng vấn với mạng điện toán toàn cầu Zenit (và bài phỏng vấn đă được Zenit phổ biến ngày 18-19/5/2005), đă cho biết các nhà thần học Anh Giáo đă công nhận hai tín điều Thánh Mẫu và việc tôn sùng Thánh Mẫu của Giáo Hội Công Giáo là những ǵ hợp với Thánh Kinh.
Trước hết, về tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội, vị linh mục này cho biết khoản số 59 viết rằng:
· “Theo ơn gọi là Mẹ Đấng Thánh của Người (x Lk 1:35), chúng ta có thể cùng nhau xác nhận là công cuộc cứu chuộc của Chúa Kitô đă đạt đến ở nơi Đức Maria tầm mức sâu thẳm hữu thể của Người cũng như vào những giây phút ban đầu của Ngườị Điều này không ngược với giáo huấn của Thánh Kinh, và chỉ có thể hiểu được theo chiều hướng Thánh Kinh. Những người Công giáo Rôma có thể nh́n nhận nơi điều này những ǵ đă được tín điều ấy xác nhận – tức là vấn đề ‘được ǵn giữ khỏi tất cả mọi t́ vết nguyên tộí và ‘từ giây phút đầu tiên khi Người được hoài thaí”.
Sau nữa, về tín điều Mông Triệu, vị linh mục này cũng cho biết những chi tiết liên quan đến khoản số 56 và 58 như thế này:
· “Dù ‘không có chứng cớ trực tiếp trong Thánh Kinh liên quan đến việc kết thúc cuộc sống của Đức Mariá (56), ‘Kitô hữu Đông Tây từ đời nọ đến đời kia vẫn nghĩ về công cuộc của Thiên Chúa nơi Đức Maria, họ đều ư thức một cách tin tưởng rằng… thật là xứng hợp việc Chúa đă triệu Người về với Ngài một cách trọn vẹn: trong Chúa Kitô, Người đă là một tạo vật mới…’ (58). Một lần nữa, khi liên kết ư thức về ân sủng và niềm hy vọng này nơi đời sống của Đức Maria với tín điều Mông Triệu của Đức Maria, bản văn nhận định là: ‘chúng ta có thể cùng nhau xác nhận giáo huấn Thiên Chúa đă mang Đức Trinh Nữ Maria vào vinh quang tất cả con người của Người là những ǵ hợp với Thánh Kinh, và giáo huấn ấy thực sự chỉ hiểu được theo chiều hướng Thánh Kinh như thế mà thôị Những người Công Giáo Rôma có thể nh́n nhận rằng giáo huấn này về Đức Maria được tuyên bố bằng một tín điềú” (58).
Sau hết, về việc tôn sùng Thánh Mẫu của Giáo Hội Công Giáo, vị linh mục này tiết lộ như sau:
· “Phần chính yếu cuối cùng của bản văn (64-75) nói đến vị trí của Đức Maria trong đời sống Giáo Hội, vấn đề liên quan tới việc tôn sùng Thánh Mẫụ Phần này được bắt đầu bằng việc mạnh mẽ xác nhận là: ‘Chúng ta cùng nhau đồng ư rằng với ư thức Đức Maria là mẫu gương trọn vẹn nhất của con người về đời sống ân sủng, chúng ta được kêu gọi để suy nghĩ đến những bài học về đời sống của Người được ghi nhận trong Thánh Kinh và liên kết với Người như một vị thực sự chưa qua đi song vẫn thực sự sống trong Chúa Kitô’ (65). Bản văn này nhấn mạnh là việc tôn sùng Thánh Mẫu và việc kêu cầu Đức Maria không thể nào làm lu mờ hay suy giảm vai tṛ trung gian duy nhất của Chúa Kitô. Bản văn kết luận: ‘Cùng nhau xác nhận một cách ư thức vai tṛ trung gian duy nhất của Đức Kitô, một vai tṛ mang lại hoa trái trong đời sống của Giáo Hội, chúng ta không coi việc kêu xin Đức Maria và các thánh nguyện cầu cho chúng ta như là một việc chia rẽ mối hiệp thông của chúng ta… chúng ta tin rằng không có lư do về thần học nào nữa về việc chia rẽ giáo hội liên quan tới các vấn đề nàư”.
Chưa hết, dấu hiệu hướng về hiệp nhất thứ hai phát hiện (c̣n rạng ngời hơn nữa) từ Kitô Giáo Luthêrô. Thật vậy, trong Hội Nghị Thánh Thể Ư Quốc ở Bari, nơi Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đến để bế mạc hội nghị này vào Chúa Nhật 29/5/2005, th́ hôm Thứ Tư, 25/5/2005, ngày hội nghị giành để bàn về vấn đề đại kết Kitô giáo, có một vị Giám Mục Luthêrô ở Helsinki là Eoro Huovinen đă bày tỏ trong hội nghị này là các người Luthêrô Phần Lan muốn trở thành phần tử thuộc Giáo Hội Công Giáo của Chúa Kitô.
Sau khi giải thích rằng Martin Luthêrô không muốn thành lập một giáo hội mới mà chỉ muốn canh tân giáo hội thôi, v́ giám mục này nói:
· “Những người Luthêrô Phần Lan chúng tôi muốn trở thành phần tử thuộc Giáo Hội Công Giáo của Chúa Kitô”.
Vị giám mục này đă cắt nghĩa rằng trong năm 2005, cùng với những người Công giáo và các Kitô hữu khác, những người Luthêrô cử hành 850 năm Giáo Hội ở Phần Lan. Những người Luthêrô chiếm 85% trong tổng số 5.2 triệu dân ở nước nàỵ
“Cùng với anh chị em Công Giáo, chúng ta hăy cầu nguyện để có thể là một trong Chúa Kitô”. Đối với đề tài về Chúa Nhật của Hội Nghị Thánh Thể này, vị giám mục Luthêrô nói rằng người ta không thể nào sống “không có bí tích Thánh Thể, không có Chúa Kitô và không có Thiên Chúạ Chúa Nhật là ngày Chúa Kitô phục sinh. Thánh Thể là bí tích của việc Chúa Kitô thực sự hiện diện. Hiệp nhất không có hiệu lực khi thiếu sự thật… Tận đáy ḷng của ḿnh, tôi muốn tham dự vào ngày mà người Luthêrô và Công giáo cùng nhau hiệp nhất một cách hữu h́nh”.
Trong bài giảng Bế Mạc Hội Nghị Thánh Thể Ư Quốc XXIV ở Bari hôm Chúa Nhật 29/5/2005, ĐTC Biển Đức XVI c̣n nói đến Bí Tích Thánh Thể là Bí Tích Hiệp Nhất và lập lại quyết tâm hiệp nhất Kitô giáo của ngài như sau:
“Đến đây chúng ta đối diện với một chiều kích sâu xa hơn nữa của Thánh Thể là chiều kích tôi muốn bàn đến trước khi kết thúc bài giảng. Chúa Kitô là Đấng chúng ta gặp gỡ trong bí tích này cũng chỉ là một ở Bari đây, như ở Rôma, ở Âu Châu, Mỹ Châu, Phi Châu, Á Châu, Đại Dương Châu. Người là Chúa Kitô duy nhất hiện diện nơi bánh Thánh Thể ở khắp mọi nơi trên trái đất này. Điều này có nghĩa là chúng ta chỉ có thể hội ngộ với Người cùng với tất cả những người khác. Chúng ta chỉ có thể nhận lấy Người trong hiệp nhất mà thôi.
“Đó không phải là những ǵ đă được Thánh Tông Đồ Phaolô nói với chúng ta trong bài đọc chúng ta vừa nghe hay sao? Khi viết cho Kitô hữu Côrintô, ngài đă khẳng định rằng: “V́ chỉ có một tấm bánh duy nhất mà chúng ta tuy nhiều chỉ là một thân thể duy nhất, v́ tất cả chúng ta đều tham dự vào một tấm bánh duy nhất” (1Cor 10:17). Kết quả rơ ràng là: Chúng ta không thể hiệp thông với Chúa Kitô nếu chúng ta không hiệp thông với chính chúng ta. Nếu chúng ta muốn ra trước nhan Người, chúng ta cần phải tiến đến chỗ gặp gỡ nhau. Để làm được điều này cần phải biết hết sức thứ tha. Chúng ta không được để cho những con ấu trùng sát hại của tâm trạng bất măn cầm buộc tinh thần của chúng ta, nhưng hăy mở ḷng ḿnh ra một cách rộng lượng, để lắng nghe người khác, để cảm thông, để có thể chấp nhận những lời xin lỗi của nhau, để quảng đại ban phát những ǵ của chúng ta.
“Chúng ta hăy lập lại Thánh Thể là bí tích của hiệp nhất. Thế nhưng, tiếc thay, Kitô hữu lại chia rẽ nhau chính v́ bí tích hiệp nhất này. Bởi thế, đó lại càng là lư do, được Thánh Thể nâng đỡ, chúng ta cần phải cảm thấy được phấn khích hết sức hường đến mối hiệp nhất trọn vẹn như Chúa Kitô thiết tha mong muốn ở nhà tiệc ly. Chính ở Baria này đây, thành phố đang giữ những xương cốt của Thánh Nicholas, mảnh đất của gặp gỡ và đối thoại với những người anh em Kitô hữu Đông phương mà tôi xin khẳng định ư muốn của tôi trong vấn đề thực hiện hết sức ḿnh, như là một cuộc dấn thân chính yếu, trong việc tái thiết mối hiệp nhất tất cả mọi thành phần môn đệ Chúa Kitô một cách trọn vẹn và hữu h́nh.
“Tôi biết rằng, để làm như thế, những việc bày tỏ thiện cảm vẫn chưa đủ. Cần phải có những cử chỉ cụ thể là những ǵ thẩm thấu tâm linh và khuấy động lương tri, mời gọi từng người tiến đến chỗ hoán cải nội tâm là điều kiện tiên quyết cho tất cả mọi sự tiến bộ trên con đường đại kết (cf. Benedict XVI's Address to Representatives of Christian Churches and Communities and of Other Non-Christian Religions, April 25, 2005). Tôi xin tất cả anh chị em hăy cương quyết thực hiện con đường đại kết thiêng liêng này, con đường bằng việc nguyện cầu mở cửa cho Thánh Linh là Đấng duy nhất có thể kiến tạo hiệp nhất mà thôi”.
Riêng tôi, trong bài chia sẻ “Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Vị Giáo Hoàng của Một Tân Âu Châu” trong buổi phát thanh Tin Mừng Sự Sống 242 ngày 1/5/2005 (www.tinmungsuong.org) , một bài cũng được phổ biến trên mạng điện toán toàn cầu www.thoidiemmariạnet và www.dongcong.net cùng ngày phát thanh, đă cảm thấy dường như Thiên Chúa đă dọn đường trước cho vị giáo hoàng người Đức xuất thân từ một quốc gia xuất phát Phong Trào Thệ Phản này, để giúp ngài có thể hoàn tất sứ vụ hiệp nhất Kitô giáo của ngài, khi Thiên Chúa đă cho hoàn tất Bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Lư Công Chính Hóa giữa Giáo Hội Công Giáo với Liên Hiệp Lutherô Thế Giới gần 6 năm trước đây, để rồi, qua tổ chức Liên Hiệp Thế Giới Luthêrô này, như qua Công Đoàn Liên Đới ở Balan đă được Thiên Chúa sử dụng nhờ ảnh hưởng của Đức Gioan Phaolô II trong biến cố làm sụp đổ Khối Cộng Sản Đông Âu vào cuối năm 1989 thế nào, tổ chức Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới cũng có thể được Vị Chủ Tể Lịch Sử loại người sử dụng, nhờ ảnh hưởng của vị tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI, với “những cử chỉ cụ thể” đại kết Kitô giáo của ngài, để làm cho Âu Châu là châu lục Kitô giáo được thực sự trở thành một Khối Hiệp Nhất, để chẳng những Kitô giáo có thể đứng vững trước cuộc tấn công của tân ư hệ duy nhân bản hiện nay của thế giới, mà c̣n trở thành một thần lực truyền bá phúc âm hóa trong ngàn năm thứ ba Kitô giáo nữạ
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
ĐTC Biển Đức XVI với ư nghĩa Lễ Ḿnh Máu Thánh Chúa
Về Lễ Trọng Kính Ḿnh Máu Thánh Chúa đầu giáo triều của ḿnh Thứ Năm 26/5/2005 tại Vatican cũng như vào Chúa Nhật 29/5/2005 tại Hội Nghị Thánh Thể Bari, chắc chắn ngài sẽ chia sẻ với chúng ta nhiều cảm nghiệm Thánh Thể của ngài.
Trong khi chờ đợi để được nghe thấy cảm nghiệm của vị chủ chiên tối cao này, chúng ta hăy cùng nhau ôn lại một số tư tưởng rất đặc biệt của ngài về Lễ Ḿnh Máu Thánh Chúa đă được ngài chia sẻ qua cuốn “Thiên Chúa gần gũi chúng ta”, một tác phẩm được ngài xuất bản vào năm 2003, cùng năm với Thông Điệp “Giáo Hội Sống Bởi Thánh Thể” được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ban hành vào Thứ Năm Tuần Thánh 17/4/2003, vị tân giáo hoàng Biển Đức XVI của chúng ta, bấy giờ c̣n là Hồng Y Joseph Ratzinger, Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin, ở chương có nhan đề “Đứng Trước Nhan Chúa, Bước Đi Với Chúa, Qú Trước Nhan Chúa”. Theo ngài, 3 tác động đứng, đi và qú này là tất cả ư nghĩa của Lễ Ḿnh Máu Thánh Chúa được Giáo Hội cử hành hằng năm. Ngài đă viết ở đoạn mở đầu của chương này như sau:
“Nếu chúng ta muốn hiểu được ư nghĩa của Lễ Ḿnh Máu Thánh Chúa Kitô, điều hay nhất cần phải làm đó là chỉ cần nh́n vào h́nh thức phụng vụ được Giáo Hội cử hành và dẫn giải tầm quan trọng của lễ này. Vượt trên những yếu tố chung đối với tất cả mọi lễ khác của Kitô giáo, có 3 yếu tố đặc biệt làm nên h́nh dạng chuyên biệt nơi cách thức chúng ta cử hành lễ này.
“Trước hết là những ǵ chúng ta đang làm bây giờ, đó là việc chúng ta đang gặp gỡ nhau chung quanh Chúa, việc chúng ta đứng trước nhan Chúa, đứng ở bên Chúa, nhờ đó, chúng ta cũng cùng đứng bên nhau. Tiếp theo là việc chúng ta bước đi với Chúa, đó là việc rước kiệu Thánh Thể. Và sau hết là tâm điểm và là tột đỉnh của việc bước đi với Chúa ấy đó là việc chúng ta qú trước nhan Chúa. Đứng trước nhan Chúa, bước đi với Chúa, và quí trước nhan Chúa, bởi thế, là ba yếu tố cấu tạo nên ngày lễ này, và giờ đây chúng ta suy nghĩ về chúng một chút.
Về yếu tố thứ nhất của Lễ Ḿnh Máu Thánh Chúa là “đứng trước nhan Chúa”, tức là yếu tố hiệp nhất trong Chúa. Ngài đă nói đến diễn tiến lịch sử của việc cử hành Thánh Thể vào thời Giáo Hội c̣n sơ khai, như ở vùng Địa Trung Hải, nơi qui tụ mọi giai cấp trong xă hội lại với nhau trước bàn thờ Chúa, hay ở chính Rôma, nơi vị Giám Mục Rôma là Đức Giáo Hoàng, đặc biệt trong Mùa Chay, đi từ nhà thờ này đến nhà thờ khác để cử hành Thánh Thể, làm cho Kitô hữu thuộc các nhà thờ khác nhau có thể gặp gỡ nhau. Cuối cùng ngài đă đúc kết như sau:
“Chúng ta càng đứng ở bên Chúa và trước nhan Chúa th́ chúng ta càng đứng với nhau, và khả năng hiểu biết nhau càng lớn lên, khả năng nhận biết nhau là con người, là anh chị em với nhau, như thế, khi ở với nhau là xây dựng nền tảng và tạo cơ hội cho nhân loại và cho sự sống”.
Về yếu tố thứ hai của Lễ Ḿnh Máu Thánh Chúa là “bước đi với Chúa”, ngài trước hết đă liên kết với yếu tố “đứng trước nhan Chúa” rồi sau đó suy diễn như sau:
“Việc cùng nhau đứng trước nhan Chúa và với Chúa đây đă đưa tới chỗ thực sự là những ǵ thuộc về tâm điểm của việc đứng từ đầu này, đó là việc bước đi tới Chúa. V́ chúng ta không tự nhiên có thể đứng bên nhau được. Đó là lư do tại sao việc đứng tại chỗ (station) có thể xẩy ra chỉ khi nào con người ta trước đó đă qui tụ lại và đi đến với nhau từng đoàn lũ (procession). Đây là lời kêu gọi thứ hai của Lễ Ḿnh Máu Thánh Chúa. Chúng ta chỉ có thể đứng bên nhau chỉ khi nào, trước hết, theo sự hướng dẫn của Chúa, chúng ta đi đến với nhau. Chúng ta có thể đến với Chúa chỉ bằng việc tiến hành (procedure) này mà thôi, bằng việc vươn ḿnh ra và vươn ḿnh tới ấy, bằng việc vượt lên trên những thành kiến riêng tư của chúng ta, trên những giới hạn của chúng ta và trên những ngăng trở của chúng ta mà thôi, để đi đến với Người, và tiến đến điểm chúng ta có thể gặp gỡ nhau”.
Căn cứ vào ư nghĩa thứ hai của Lễ Ḿnh Máu Thánh Chúa là “bước đi với Chúa” để có thể tiến đến với nhau như thế, ngài đă nói đến ư nghĩa của việc Rước Kiệu Thánh Thể như sau:
“Việc rước kiệu này, việc rước kiệu mà từ giai đoạn đầu đă là một phần của việc thờ phượng tại chỗ ở Rôma, chắc chắn đă có một chiều kích mới, một ư nghĩa mới, nơi Lễ Ḿnh Máu Thánh Chúa. V́ việc rước kiệu Thánh Thể không c̣n chỉ là việc bước đi tới Chúa, tới việc cử hành Thánh Thể nữa; mà là bước đi với Chúa; tự ḿnh nó là yếu tố của việc cử hành Thánh Thể, một chiều kích của biến cố Thánh Thể…
“Chỉ bước đi với Chúa chúng ta mới có thể tồn tại với cuộc hành tŕnh lịch sử của chúng ta mà thôi. Như thế, Lễ Ḿnh máu Thánh Chúa Kitô cho thấy ư nghĩa của cả đời sống chúng ta, của toàn thể lịch sử thế giới: đó là việc chúng ta tiến về đất hứa, một cuộc tiến bước có thể tiếp tục theo đúng hướng chỉ khi nào chúng ta bước đi với Người là Đấng đă đến giữa chúng ta như bánh và là Lời Chúa”.
Về yếu tố thứ ba của Lễ Ḿnh Máu Thánh Chúa là “qú trước nhan Chúa” có ư nghĩa là “tôn thờ”, ngài đă nói đến tác động rất quan trọng này liên quan tới con người cao ngạo của thời đại văn minh như sau:
“Nếu Chúa ban ḿnh cho chúng ta th́ việc lănh nhận Người có nghĩa là cúi ḿnh trước nhan Người, là tôn vinh Người, là thờ lạy Người. Ngay cả ngày nay việc này cũng không phản lại với phẩm giá, tự do và thân phận của con người trong việc họ qú gối xuống, trong việc vâng phục Người, trong việc thờ phượng Người và trong việc tôn vinh Người….
“Đấng chúng ta tôn thờ không phải là một quyền lực cách biệt nào đó. Chính Người đă qú xuống trước chúng ta để rửa chân cho chúng ta. Việc ấy đă cống hiến cho việc tôn thờ của chúng ta tính chất của một việc tôn thờ không bị bó buộc, một việc tôn thờ trong hân hoan và niềm hy vọng, v́ chúng ta đang cuí ḿnh trước Đấng đă đích thân cúi ḿnh xuống, v́ chúng ta cuí ḿnh xuống để được tham dự vào một t́nh yêu không biến chúng ta thành những kẻ nô lệ mà biến đổi chúng ta”.
Sau bài giáo lư cho buổi triều kiến chung hằng tuần, Thứ Tư 25/5/2005, ĐTC Biển Đức XVI đă ngỏ lời mời tất cả mọi người hăy đến tham dự Lễ Trọng Kính Ḿnh Máu Thánh Chúa do ngài chủ tế như sau:
“Ngày mai là Lễ Trọng Kính Ḿnh Máu Thánh Chúa Kitô, tôi sẽ chủ tế Thánh Lễ vào lúc 7 giờ tối ở quảng trường Đền Thờ Gioan Latêranô. Sau đó là cuộc Kiệu Thánh Thể theo truyền thống đến Đền Thờ Đức Bà Cả. Tôi thân ái mời tất cả anh chị em hăy tham dự vào cuộc cử hành này để cùng nhau chúng ta làm chứng cho đức tin của chúng ta nơi Chúa Kitô hiện diện trong Thánh Thể”.
Bài phát thanh Tin Mừng Sự Sống
246 ngày Thứ
Sáu 27/5/2005 www.tinmungsusong.org
Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL
Các Nữ Tu Ḍng Kín Thánh
Clara ở Ḥa Lan cầu cho ĐHY Ratzinger được làm Giáo Hoàng
Một tờ nội san số tháng 4/2005 của các nữ tu kín Ḍng Thánh Clara ở Eindhoven
Ḥa Lan đă viết như sau:
“Đêm vọng ở Quảng Trường Thánh Phêrô được chấm dứt vào lúc 8 giờ 37 phút ngày
2/4/2005 đă được tiếp tục cho tới khuya ở nơi đây, nơi chẳng có truyền thanh hay
truyền h́nh ǵ cả để có thể nói cho chúng tôi biết về vị cha của chúng ta đă
thực sự bước qua ngưỡng cửa hy vọng”.
Những vị nữ tu kín này, thành phần chỉ biết tin tức bên ngoài nhờ mạng điện toán
Zenit và bạn bè, chỉ biết được tin ĐTC GPII qua đời nhờ chuông đổ ở nhà thờ gần
đó.
Khi đến tiếng chuông nhà thờ này đổ vào giữa đêm hôm như thế đến hồi thứ 15, các
nữ tu cho rằng: “chỉ có một lư do duy nhất khiến chuông đổ vào nửa đêm như vậy”.
Và trong khi cả thế giới đang xem lễ an táng của Đức Gioan Phaolô II th́ các nữ
tu này giành cả ngày cầu nguyện thiết tha cho ngài.
“Việc làm này ít là đă làm cho một nam nhân lấy làm bàng hoàng”. Số là có một
phóng viên của tờ nhật báo địa phương Eindhoven muốn chụp một tấm ảnh về việc
các nữ tu này đang xem lễ an táng của ĐTC GPII, các nữ tu cho ông ta biết rằng
các sơ không có truyền h́nh. “Bấy giờ ông ta bật ngửa người ra: Các sơ không có
lấy được một cái truyền h́nh à? Không có truyền h́nh hay sao? Không có truyền
h́nh hả? Không có thực à?”
Các nữ tu này nói rằng các sơ cầu nguyện thiết tha cho ĐHY Ratzinger được làm
giáo hoàng, và các sơ muốn biết ngay vị nào là tân giáo hoàng. Các sơ đă liên
lạc với hai người bạn trong cộng đồng được trao cho số điện thoại riêng của mẹ
bề trên, và họ phải gọi các sơ khi thấy khói trắng bay lên từ ống khói của
nguyện đường Sistine.
Điện thoại đă reo vào chiều ngày 19/4 và báo tin rằng khói đen lại bốc lên,
nhưng mẹ bề trên không tin lời tŕnh báo này v́ nó cho rằng quá sớm để kết thúc
việc bầu phiếu.
Các sơ đă vào t́m trong mạng điện toán toàn cầu, và mẹ bề trên liền gọi các sơ
đến ngay văn pḥng của mẹ.
Theo dơi các biến cố trên màn ảnh nhỏ của máy điện toán trên bàn của mẹ bề trên,
các sơ, tất cả chen chúc trong một văn pḥng nhỏ, bật lên cảm xúc khi nghe thấy
tên “Ratzinger”: “Chúng tôi đă hô lên, nhẩy lên, chúng tôi đă ôm lấy nhau…”
Tân Giáo Hoàng Biển Đức: Vị
Giáo Hoàng của Hiệp Nhất Kitô Giáo: "Những cử chỉ cụ thể"
Như chúng ta đă biết, vị tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI của chúng ta, ngay sau ngày
được bầu làm giáo hoàng, tức vào cuối Thánh Lễ Thứ Tư 20/4/2005, trong sứ điệp
ngỏ cùng hồng y đoàn bấy giờ, ngài đă chính thức công khai tuyên bố vấn đề đại
kết Kitô giáo là mối quan tâm đệ nhất của ngài. Ngài nói:
• “Bởi vậy, bằng tất cả ư thức và vào lúc mở đầu cho thừa tác vụ của ḿnh ở Giáo
Hội Rôma là nơi Thánh Phêrô đă tắm máu, vị Thừa Kế này, lấy làm quyết tâm chính
yếu của ḿnh, cương quyết không ngừng hoạt động để hướng đến việc tái thiết mối
hiệp nhất trọn vẹn và hữu h́nh của tất cả mọi thành phần môn đệ của Chúa Kitô.
Đó là tham vọng của ngài, đó là nhiệm vụ bó buộc của ngài. Ngài biết rằng, để
làm điều này, những bày tỏ về cảm t́nh thiện cảm mà thôi chưa đủ. Cần phải có
những cử chỉ cụ thể để thấm nhập các tâm hồn và đánh động lương tâm, phấn khích
mọi người tiến đến chỗ hoán cải nội tâm là điều căn bản cho tất cả mọi thứ tiến
bộ trên con đường đại kết”.
Vậy, từ sau khi ngài tuyên bố những lời làm nên sứ vụ giáo triều của ngài này,
ngài đă thực hiện “những cử chỉ cụ thể” này ra sao, và thành phần có liên quan
đến hoạt động đại kết Kitô giáo đă nhận định về ngài như thế nào?
Trước hết, về “những cử chỉ cụ thể để thấm nhập các tâm hồn và đánh động lương
tâm, phấn khích mọi người tiến đến chỗ hoán cải nội tâm là điều căn bản cho tất
cả mọi thứ tiến bộ trên con đường đại kết”, vị tân Giáo Hoàng Biển Đức của chúng
ta quả thực đă bắt đầu thực hiện.
Thật vậy, ĐTGM Claude Feidt of Aix en Provende, đại diện Giáo Hội Công Giáo có
mặt tại hội nghị Giáo Hội Cải Cách Pháp Quốc ở thành phố này đă đọc bản văn được
văn pḥng quốc vụ khanh của Ṭa Thánh thay cho Đức Thánh Cha gửi đến hội nghị
được chấm dứt hôm Chúa Nhật 8/5/2005 này.
Trong sứ điệp của ḿnh, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đă gửi lời chào “thân ái đến
tất cả mọi tham dự viên, ngài hứa sẽ cầu nguyện cho họ”, vị chủ tịch của hội
nghị này là Marcel Manoel đă cho biết như thế. Ông nói tiếp: “Đây là lần đầu
tiên hội nghị của chúng tôi đă nhận được một sứ điệp như vậy. Chúng tôi nhận
được sứ điệp này như là một cử chỉ của sự quan tâm”.
Giáo Hội Cải Cách Pháp Quốc có tất cả 350 phần tử. Chủ đề cho hội nghị lần này
là “Tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô trong một Xă Hội Trần Thế”. Giáo Hội Cải Cách
Pháp Quốc là giáo hội chính trong Liên Hiệp Thệ Phản Pháp Quốc, một tổ chức có
chừng 900 ngàn người.
Chúng ta cũng nên biết là, trong thời gian c̣n giữ vai tṛ Tổng Trưởng Thánh Bộ
Tín Lư Đức Tin, ngài đă thực hiện “những cử chỉ cụ thể” đối với vấn đề đại kết
Kitô giáo này rồi. Chắc chúng ta c̣n nhớ bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Lư Công
Chính Hóa kư kết giữa Giáo Hội Công Giáo với Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới ở Đức
ngày 30/10/1999 tại Augsburg, một thành quả tốt đẹp sau hơn 30 năm đối thoại đại
kết. Thế nhưng, thành quả đại kết đầu tiên này không thể có nếu không thiếu
“những cử chỉ cụ thể” do đích thân vị hồng y tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin
Joseph Ratzinger thực hiện.
Thật vậy, trong cuộc tranh luận về thông điệp “Đức Tin và Lư Trí” của ĐTC Gioan
Phaolô II xẩy ra tại Rôma vào Tháng 10/1998, vị hồng y nay làm giáo hoàng Biển
Đức XVI của chúng ta đây đă cho biết rằng trước khi ngài lên đại học, ngài đă
đọc tất cả các tác phẩm của Luthêrô được viết trước thời Cải Cách, tức là ngài
đă hiểu được những suy nghĩ của một nhân vật Luthêrô khi c̣n là linh mục Công
giáo.
ĐHY Ratzinger bấy giờ đă kêu gọi những ai hiện diện hăy đọc lại những bản văn đó,
v́ chúng cho thấy cuộc chiến đấu cả thể Luthêrô đă trải qua khi phải đương đầu
với bản thân ḿnh để sống và chấp nhận những giáo huấn của Vị Thiên Chúa công
minh và thiện hảo. Cuộc tranh luận về thông điệp “Đức Tin và Lư Trí” naà đă kéo
dài mấy tiếng đồng hồ. Vị nguyên Giám Mục Tin Lành Luthêrô Wolfgang Huber ở
Bálinh (bấy giờ, nay làm chủ tịch Hội Đồng Giáo Hội Tin Lành Đức Quốc) lấy làm
cảm phục trước sự ứng đáp của vị tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin và khen Đức
Ratzinger là một trong ít người thực sự hiểu được Luthêrô. Và chính kiến thức
của ĐHY Joseph Ratzinger về ông tổ Thệ Phản Luthêrô đă giúp phần làm hiện thực
việc kư kết lịch sử Bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Lư Công Chính Hóa.
Tuy nhiên, có một số điểm trong bản dự thảo của bản tuyên ngôn này được tŕnh
bày trong năm 1998 đă bị cả Ṭa Thánh lẫn hiệp hội loại bỏ. Khi t́nh h́nh cho
thấy dự án có thể bị hỏng cuộc, th́ những khó khăn ấy đă được thắng vượt bởi
Giám Mục Johannes Hanselmann, nguyên chỉ tịch Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới, và ĐHY
Ratzinger, nhờ t́nh thân hữu lâu đời của hai vị này, mối thân hữu đă đưa đến
việc thực hiện một cuộc họp riêng giữa hai người với nhau vào Tháng 11/1998.
Sau khi vị Giám Mục Tiến Sĩ Hanselmann này chết vào ngày 2/10/1999, ĐHY
Ratzinger đă tiết lộ trong một bài diễn thuyết là: “Chúng tôi đă thực hiện một
cuộc gặp gỡ ở nhà của người anh em của tôi, tại Đức quốc, khi mà dường như việc
thỏa thuận về Tín Lư Công Chính Hóa đă bất thành. Nhờ đó, trong diễn tŕnh của
một cuộc tranh luận kéo dài cả một ngày trời, chúng tôi đă t́m thấy được những
công thức làm sáng tỏ những điểm vẫn c̣n gặp trục trặc… Với công thức được dẫn
giải vào những ngày ấy, theo cả Liên Hiệp Luthêrô lẫn giáo huấn của Công Giáo,
họ đă có thể công nhận rằng họ đi đến việc thỏa thuận về một số điển nồng cốt
của Tín Lư Công Chính Hóa. Nó không phải là một việc thỏa thuận có tính cách
toàn cầu, thế nhưng, với công thức này mới có thể tiến đến chỗ kư vào một văn
bản thỏa thuận ở những ǵ căn bản”.
Sau nữa, thành phần có liên quan đến hoạt động đại kết Kitô giáo đă nhận định về
ngài như thế nào? Trước quyết tâm cương quyết đi cho đến cùng con đường hiệp
nhất Kitô giáo này của vị tân Giáo Hoàng 265 của Giáo Hội Công Giáo như thế, các
nhân vật cao cấp thuộc Phong Trào Thệ Phản Tây Phương là phong trào được bắt đầu
từ linh mục ḍng Âu Quốc Tinh Martin Lutherô vào tiền bán thế kỷ 16 đă nhận định
về ngài như thế này.
Đối với Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội (the World Council of Churches), một tổ
chức bao gồm 347 giáo hệ phái và cộng đồng giáo hội trên 100 quốc gia và lănh
thổ, với hơn 400 triệu Kitô hữu, mục sư Samuel Kobia, tổng thư kư của tổ chức
này và là mục sư của Giáo Hội Methodist ở Kenya, trong cuộc phỏng vấn với mạng
điện toán toàn cầu Zenit (được phổ biến ngày Thứ Sáu 22/4/2005), đă nhận định về
ư hướng quyết tâm đẩy mạnh cuộc đối thoại hiệp nhất Kitô giáo của vị tân Giáo
Hoàng.
“Quả thực tôi rất sung sướng thấy rằng Vị Biển Đức XVI đă coi rất trọng hoạch
định này trong các ưu tiên của ngài ‘mối hiệp nhất trọn vẹn và hữu h́nh của Kitô
hữu’, là mục tiêu tối hậu của phong trào đại kết và là lư do hiện hữu của Hội
Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội. Nếu Vị Biển Đức XVI muốn tiến sâu vào những mối liên
hệ và hợp tác với các Giáo Hội Kitô Giáo khác, và mạo hiểm đi vào các con đường
mới để có thể mang chúng ta lại gần nhau hơn với mối hiệp thông trọn vẹn hơn bao
giờ hết th́ ngài sẽ thấy nơi Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội này một đồng bạn sẵn
sàng đi với ngài tới đâu ngài muốn”.
Trong buổi triều kiến chung của thành phần Đại Kết và Liên Tôn trưa Thứ Hai
25/4, vị Giáo Chủ Anh Giáo là Rowan Williams, TGM Canterbury, đă được nói chuyện
một chút với ĐTC Biển Đức XVI, sau đó, trong một cuộc họp báo ở Đại Học Anh Quốc
ở Rôma, với sự hiện diện của cả ĐTGM Westminster là hồng y Cormac
Murphy-O’Connor, đă cho biết nhận định của ḿnh về vấn đề đại kết nơi vị tân
giáo hoàng này như sau:
“Những ǵ đă làm cho chúng tôi cảm thấy phấn khởi trong cuộc viếng thăm này đó
là hai điều. Dĩ nhiên một điều là Giáo Hoàng Biển Đức đă nhấn mạnh đến việc lấy
làm ưu tiên hoạt động đại kết. Ngài đă nói về việc làm tôi tớ cho mối hiệp nhất,
và chúng tôi đă cảm thấy thấm thía khi chúng tôi nghe thấy thế”.
Vị chủ tịch hiện nay của tổ chức Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới là Mục Sư Mark
Hanson, lập gia đ́nh và có 6 người con, đồng thời cũng là vị giám mục chủ tịch ở
Chicago của Evangelical Lutheran Church tại Hoa Kỳ, đă khen kiến thức sâu rộng
của Vị Giáo Hoàng về Martin Luther và mong muốn củng cố vấn đề hiểu biết nhau
hơn giữa người Công Giáo và Luthêrô. Mạng điện toán toàn cầu Zenit hôm 25/4/2005
đă phổ biến cuộc phỏng vấn giữa họ với vị mục sư chủ tịch này, một người đă nhận
định về vị tân giáo hoàng Biển Đức XVI với vấn đề đại kết Kitô giáo như sau:
“Chúng tôi có đủ lư do để hy vọng thấy được những phát triển đại kết tốt đẹp và
việc hiểu biết nhau hơn nơi những người Luthêrô và những người Công giáo Rôma
trong giáo triều của vị Giáo Hoàng này. Trong vai tṛ lănh đạo Thánh Bộ Tín Lư
Đức Tin, ĐHY Ratzinger đă mang lại cho vai tṛ lănh đạo đại kết quan trọng, bao
gồm cả việc ủng hộ việc chính thức chấp nhận một văn kiện rất lịch sử, đó là Bản
Tuyên Ngôn Chung về Tín Điều Công Chính Hóa. Bản văn kiện này được kư ở
Augsburg, Đức quốc, quê hương xứ sở của Đưc Giáo Hoàng, vào ngày 31/10/1999. Đó
là ngày theo truyền thống những người Luthêrô cử hành Cuộc Cải Cách”.
Riêng tôi, trong bài chia sẻ “Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Vị Giáo Hoàng của Một
Tân Âu Châu” trong buổi phát thanh Tin Mừng Sự Sống 242 ngày 1/5/2005 (www.tinmungsuong.org)
, một bài cũng được phổ biến trên mạng điện toán toàn cầu www.thoidiemmaria.net
và www.dongcong.net cùng ngày phát thanh, đă cảm thấy dường như Thiên Chúa đă
dọn đường trước cho vị giáo hoàng người Đức xuất thân từ một quốc gia xuất phát
Phong Trào Thệ Phản này, để giúp ngài có thể hoàn tất sứ vụ hiệp nhất Kitô giáo
của ngài, khi Thiên Chúa đă cho hoàn tất Bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Lư Công
Chính Hóa giữa Giáo Hội Công Giáo với Liên Hiệp Lutherô Thế Giới gần 6 năm trước
đây, để rồi, qua tổ chức Liên Hiệp Thế Giới Luthêrô này, như qua Công Đoàn Liên
Đới ở Balan đă được Thiên Chúa sử dụng nhờ ảnh hưởng của Đức Gioan Phaolô II
trong biến cố làm sụp đổ Khối Cộng Sản Đông Âu vào cuối năm 1989 thế nào, tổ
chức Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới cũng có thể được Vị Chủ Tể Lịch Sử loại người sử
dụng, nhờ ảnh hưởng của vị tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI, với “những cử chỉ cụ thể”
đại kết Kitô giáo của ngài, để làm cho Âu Châu là châu lục Kitô giáo được thực
sự trở thành một Khối Hiệp Nhất, để chẳng những Kitô giáo có thể đứng vững trước
cuộc tấn công của tân ư hệ duy nhân bản hiện nay của thế giới, mà c̣n trở thành
một thần lực truyền bá phúc âm hóa trong ngàn năm thứ ba Kitô giáo nữa.
Bài phát thanh Tin Mừng Sự Sống
244 ngày Thứ
Sáu 13/5/2005 www.tinmungsusong.org
Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL
ĐTC Biển Đức XVI là Vị Thông Hiểu về ông tổ Thệ Phản Martin Lutherô
Một Kitô hữu Luthêrô Đức quốc là Sigrid Spath, người nữ làm việc trên 30 năm ở
hội đồng tổng quản Ḍng Tên và cộng tác với Ṭa Thánh, có những lúc đă là dẫn
giải viên của Đức Hồng Y Ratzinger. Trong một cuộc họp chung năm 1998, có bà
chứng kiến, giữa vị Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin và nguyên Giám Mục Tin
Lành Luthêrô Wolfgang Huber ở Bálinh nay làm chủ tịch Hội Đồng Giáo Hội Tin Lành
Đức Quốc, Bà cho biết, vị giám mục này đă nói rằng ĐHY là một trong ít người
thực sự hiểu được Martin Luthêrô.
Trong cuộc tranh luận về thông điệp “Đức Tin và Lư Trí” xẩy ra tại Rôma vào
Tháng 10/1998, vị hồng y này đă cho biết rằng trước khi ngài lên đại học, ngài
đă đọc tất cả các tác phẩm của Luthêrô được viết trước thời Cải Cách.
Bà này nói với mạng điện toán toàn cầu Zenit rằng: “Tức là những suy nghĩ của
một Luthêrô Công giáo. ĐHY Ratzinger đă kêu gọi những ai hiện diện hăy đọc lại
những bản văn đó, v́ chúng cho thấy cuộc chiến đấu cả thể Luthêrô đă phải đương
đầu với bản thân ḿnh để sống và chấp nhận những giáo huấn của Vị Thiên Chúa
công minh và thiện hảo. ‘Các bạn Thệ Phản thân mến, (vị hồng y kêu gọi), hăy tái
khám phá ra Luthêrô vào những năm ấy’. Cuộc tranh luận kéo dài mấy tiếng đồng hồ.
Giám Mục Huber lấy làm cảm phục trước sự ứng đáp của vị tổng trưởng Thánh Bộ Tín
Lư Đức Tin và khen Đức Ratzinger là một trong ít người thực sự hiểu được Luthêrô”.
Kiến thức của ĐHY Ratzinger về Luthêrô đă làm hiện thực việc kư kết lịch sử Bản
Tuyên Ngôn Chung về Tín Lư Công Chính Hóa, một bản tuyên ngôn chung được chấp
thuận bởi cả Giáo Hội Công Giáo lẫn Liên Hiệp Thế Giới Luthêrô.
Có một số điểm trong bản dự thảo của bản tuyên ngôn này được tŕnh bày trong năm
1998 đă bị cả Ṭa Thánh lẫn hiệp hội loại bỏ. Khi t́nh h́nh cho thấy dự án có
thể hỏng cuộc, th́ những khó khăn ấy đă được thắng vượt bởi Giám Mục Johannes
Hanselmann, nguyên chỉ tịch Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới, và ĐHY Ratzinger, nhờ
t́nh thân hữu lâu đời của hai vị này, t́nh thân hữu đă thực hiện một cuộc họp
riêng giữa hai người vào Tháng 11/1998.
Sauk hi Tiến Sĩ Hanselmann chết vào ngày 2/10/1999, ĐHY Ratzinger đă tiết lộ
trong một bài diễn thuyết là: “Chúng tôi đă thực hiện một cuộc gặp gỡ ở nhà của
người anh em của tôi, tại Đức quốc, khi mà dường như việc thỏa thuận về Tín Lư
Công Chính Hóa đă bất thành. Nhờ đó, trong diễn tŕnh của một cuộc tranh luận
kéo dài cả một ngày, chúng tôi đă t́m thấy được những công thức làm sáng tỏ
những điểm vẫn c̣n gặp trục trặc…
“Với công thức được dẫn giải vào những ngày ấy, theo cả Liên Hiệp Luthêrô lẫn
giáo huấn của Công Giáo, họ đă có thể công nhận rằng họ đi đến việc thỏa thuận
về một số điển nồng cốt của Tín Lư Công Chính Hóa. Nó không phải là một việc
thỏa thuận có tính cách toàn cầu, thế nhưng, với công thức này mới có thể tiến
đến chỗ kư vào một văn bản thỏa thuận ở những ǵ căn bản”.
Tân Giáo Hoàng Biển Đức: Vị
Giáo Hoàng của Bữa Tiệc Ly . ... của Hiệp Thông Giáo Hội
Trước hết, chúng ta nên biết, khi c̣n là giáo sư khoa tín lư thần học, là một
Thần Học Gia và là Hồng Y tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin, Đức Joseph
Ratzinger đă xuất bản rất nhiều tác phẩm về thần học, nhất là thần học liên quan
đến khoa giáo hội học hiệp thông là những ǵ trực tiếp liên quan đến Bữa Tiệc
Ly, đến Thánh Thể. Có thể kể đến những tác phẩm sau đây:
Tác phẩm đầu tiên cho thấy khuynh hướng chủ yếu liên quan đến thao thức thần học
về một khoa giáo hội học hiệp thông của nhân vật mang tên Joseph Ratzinger được
Thiên Chúa tuyển chọn làm giáo hoàng 265 của Giáo Hội Công Giáo, đó là luận án
tiến sĩ thần học năm 1953 mang tựa đề “Dân Chúa và Nhà Chúa nơi giáo huấn của
Thánh Âu Quốc Tinh về Giáo Hội”.
Ông David Schindler, chủ nhiệm tạp chí thần học Hiệp Thông và là khoa trưởng hàn
lâm Viện Gioan Phaolô II, trong cuộc chia sẻ với mạng điện toán toàn cầu Zenit (bài
chia sẻ được Zenit phổ biến hôm Chúa Nhật 1/5/2005) đă cho biết như sau:
“Hiệp Thông là tờ tam cá nguyệt san Điểm Báo Thần Học Quốc Tế được thành lập từ
năm 1972 bởi các thần học gia Hans Urs von Balthasar, Henri de Lubac và Joseph
Ratzinger. Từ khi thực hiện ấn bản bằng Đức ngữ, có thêm 13 ấn bản khác nữa,
trong đó có cả ấn bản Balan do Hồng Y Karol Wojtyla thực hiện. Ngài Ratzinger
vẫn là một tay chủ động điều hành tờ tập san này, viết và duyệt bài vở cho tới
khi ngài được bổ nhiệm làm tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin 1981. Mặc dù vào
lúc ấy, trách nhiệm của ngài không cho phép ngài chính thức tham gia vào tờ Hiệp
Thông nữa, ngài vẫn thiết tha quan tâm tới hoạt động của tờ tập san này”.
Ngoài ra, ngài c̣n viết bộ hồi niệm đầu tiên về ḿnh, được biết đến như là
“Những Đoạn Đường Đời”, đă cho thấy đức tin sâu xa và kiến thức của con người
cao cả này. Rồi sau đó là taá phẩm “Nhập Môn Kitô Giáo”, một tổng hợp các bài
dạy ở đại học về việc tuyên xưng đức tin, được xuất bản năm 1968, và cuốn “Tín
Điều và Mạc Khải”. Những tác phẩm của ngài bao gồm một lănh vực rộng lớn, về
thần học có những cuốn như “Những Nguyên Tắc Thần Học Công Giáo”; về những suy
tư mục vụ như cuốn “Đồng Cán Sự Viên Chân Lư”; về những phân tách sâu xa liên
quan đến các thứ ư hệ tân tiến khác nhau cũng như về cuộc nói chuyện thẳng với
các kư giả về đời sống lẫn đức tin của ḿnh cùng t́nh trạng Giáo Hội được ghi
lại trong ba cuốn “Muối Đất”, “Tường Tŕnh Ratzinger”, “Thiên Chúa và Thế Giới”.
Trong số các tác phẩm khác có tác phẩm ngài viết về “Bản Chất và Sứ Vụ của Khoa
Thần Học” là tác phẩm liên quan tới văn kiện của Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin dưới
nhan đề “Ơn Gọi Giáo Hội của Thần Học Gia”. Tác phẩm “Được Kêu Gọi Hiệp Thông”
chất chứa những cuộc bàn luận thần học về bản chất của Giáo Hội, về vai tṛ giáo
hoàng cũng như về vấn đề thần học đang được tranh căi sôi nổi nơi vấn đề liên hệ
giữa Giáo Hội địa phương và Giáo Hội hoàn vũ. Cũng thế, cuốn “Chân Lư và Dung
Nhượng”, một tác phẩm bàn đến Kitô giáo và các tôn giáo không phải Kitô giáo, đă
cho thấy những ư nghĩ của thần học gia Ratzinger về giáo huấn của Giáo Hội trong
văn kiện “Chúa Giêsu” được tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin Ratzinger ban
hành.
Ngoài ra, c̣n có hai tác phẩm liên quan đến Chúa Giêsu Thánh Thể, đó là cuốn
“Tinh Thần Phụng Vụ - The Spirit of The Liturgy” xuất bản trong Đại Năm Thánh
2000, và cuốn “Thiên Chúa Gần Gũi Chúng Ta - God is Near Us” xuất bản năm 2003,
năm ĐTC GPII ban hành Thông Điệp Giáo Hội Sống Bởi Thánh Thể. Cả hai tác phẩm
này đều được Ignatius Press xuất bản cho thế giới Anh ngữ. Riêng trong cuốn Tinh
Thần Phụng Vụ, ngài đă bàn đến những điều hiểu lầm chiều hướng canh tân phụng vụ
của Công Đồng Chung Vaticanô II, cách riêng liên quan tới vị trí của nhà tạm và
cử chỉ bái gối. Trong lời dẫn nhập, ngài đă minh định ư hướng viết cuốn sách
Tinh Thần Phụng Vụ này như sau:
“Tôi chỉ muốn giúp vào việc ư thức đức tin cũng như vào cách thức xứng đáng để
đức tin trở thành một h́nh thức chính yếu trong việc thể hiện nơi phụng vụ. Nếu
cuốn sách này là một cái ǵ gợi hứng, một cách mới mẻ nào đó, như một thứ ‘phong
trào phụng vụ’, một phong trào hướng về phụng vụ cũng như hướng về cách thức
thích đáng để cử hành phụng vụ, cả bên trong lẫn bên ngoài, th́ ư hướng tác động
viết thành cuốn sách này hoàn toàn được măn nguyện rồi vậy”.
Trong cuộc phỏng vấn với tờ tuần san Ư Famiglia Cristiana, một cuộc phỏng vấn
được mạng điện toán toàn cầu Zenit phổ biến ngày 23/2/2004, ĐHY Joseph Ratzinger
bấy giờ là Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin, vị vừa xuất bản cuốn sách mang
tựa đề "La Communione nella Chiesa" (Mối Hiệp Thông Trong Giáo Hội), đă cho biết
nhận định của ḿnh về việc cử hành phụng vụ hiện nay trong Giáo Hội như sau.
Ngài nói:
“Tôi thấy rằng có nhiều lần, trong các lễ mồ, lễ cưới cũng như nhiều trường hợp
khác, người ta lên Rước Lễ như thể đó là một phần của lễ nghi vậy, tức nó là một
bữa tối mà người ta cần phải ăn. Thế nhưng, làm như thế là người ta không c̣n
sống tính cách sâu xa thiêng liêng của biến cố này nữa, một biến cố bao giờ cũng
là một thách đố lớn lao cho mỗi một người trong chúng ta. Tôi thực sự đồng ư với
các vị đại giáo hoàng khi các ngài nói rằng chúng ta cần Hiệp Lễ v́ chỉ có Chúa
mới là Đấng có thể ban cho chúng ta những ǵ chúng ta không thể tự ḿnh chiếm
hữu. Chính v́ chúng ta thiếu thốn mà chúng ta mới cần đến sự hiện diện của Người.
Tuy nhiên, chúng ta cần phải tránh đi một thứ nghi thức hời hợt làm hạ giá tác
động này, và hăy cố gắng đi sâu vào tính cách cao cả của nó.
Giờ đây, với tư cách là một tân giáo hoàng, tân giáo hoàng của Bữa Tiệc Ly, ngài
đă thực sự và chính thức công khai liên kết Thánh Thể với giáo triều của ngài,
như chính ngài đă minh định trong sứ điệp ngỏ cùng hồng y đoàn cuối Thánh Lễ
ngày Thứ Tư 20/4/2005, tức ngay sau ngày ngài được bầu làm giáo hoàng như sau:
“Giáo triều của tôi, một cách hết sức ư nghĩa, được mở màn vào lúc Giáo Hội đang
sống một năm đặc biệt giành cho Thánh Thể. Làm sao tôi lại không thấy được cái
trùng hợp được quan pḥng này một yếu tố cần phải đánh dấu thừa tác vụ tôi đă
được kêu gọi thi hành đây? Thánh Thể, tâm điểm của đời sống Kitô hữu và là nguồn
mạch của sứ vụ truyền bá phúc âm hóa của Giáo Hội, chắc chắn bao giờ cũng phải
là tâm điểm và là nguồn mạch cho sứ vụ thừa kế Thánh Phêrô đă được trao phó cho
tôi.
“Thánh Thể làm cho Chúa Kitô Phục Sinh liên lỉ hiện diện, một Chúa Kitô là Đấng
tiếp tục hiến Ḿnh cho chúng ta, kêu gọi chúng ta hăy tham dự vào bàn tiệc Ḿnh
Máu của Người. Từ mối hiệp thông trọn vẹn này với Người mới xuất phát ra hết mọi
yếu tố khác của đời sống Giáo Hội, trước hết là mối hiệp thông giữa tín hữu,
việc dấn thân loan truyền và làm chứng cho Phúc Âm, nhiệt t́nh bác ái đối với
tất cả mọi người, nhất là với thành phần nghèo khổ và hèn mọn nhất.
“Bởi thế, trong năm nay, Lễ Trọng Kính Ḿnh Thánh Chúa Kitô cần phải được cử
hành một cách hết sức đặc biệt. Thánh Thể sẽ là trọng tâm của Ngày Giới Trẻ Thế
Giới ở Cologne vào Tháng Tám, và của Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới thường lệ vào
Tháng Mười, một thượng nghị sẽ bàn đến đề tài ‘Thánh Thể là Nguồn Mạch và là
Tuyệt Đỉnh của Đời Sống và Sứ Vụ của Giáo Hội’. Tôi xin hết mọi người hăy gia
tăng vào những tháng tới đây ḷng yêu mến và việc sùng kính đối với Chúa Giêsu
Thánh Thể và thể hiện một cách can đảm tỏ tường sự hiện diện thực sự của Chúa
Kitô, trước hết, qua những việc cử hành một cách long trọng và đúng đắn.
“Tôi đặc biệt xin các vị linh mục thực hiện điều ấy, những vị giờ đây tôi đang
hết ḷng quí mến nghĩ đến vào lúc này đây. Thừa tác vụ linh mục được phát sinh
từ Nhà Tiệc Ly, cùng với Thánh Thể, như vị tiền nhiệm đáng kính Gioan Phaolô II
của tôi đă nhiều lần nhấn mạnh đến. ‘Đời sống linh mục cần phải đặc biệt có một
‘dạng thức Thánh Thể’, ngài đă viết như thế trong Bức Thư cuối cùng của ngài cho
Ngày Thứ Năm Tuần Thánh. Việc sốt sắng cử hành hằng ngày Thánh Lễ, tâm điểm của
đời sống và sứ vụ của hết mọi vị linh mục, là những ǵ góp phần vào việc đạt
được mục đích ấy”.
Theo tôi, nếu mỗi vị giáo hoàng đều ban hành một bức thông điệp khai triều, một
thông điệp gói ghém tất cả tinh thần và đường hướng mục vụ của giáo triều ḿnh,
như Đức Phaolô VI, với Thông Điệp “Ecclesiam Suam - Giáo Hội của Người”, ban
hành ngày 6/8/1964, liên quan đến Hiến Chế tín lư về Giáo Hội “Lumen Gentium –
Ánh Sáng Muôn Dân” của Công Đồng Vaticanô II, và như Đức Gioan Phaolô II với
Thông Điệp “Redemptor Hominis – Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần”, ban hành ngày
4/3/1979, liên quan đến Hiến Chế mục vụ về Giáo Hội “Gaudium et Spes – Vui Mừng
và Hy Vọng”, th́ vị tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI cũng sẽ ban hành một bức thông
điệp, theo dự đoán, có thể sẽ liên quan đến Giáo Hội Hiệp Thông hay Hiệp Thông
Giáo Hội, một văn kiện liên quan tới hai hiến chế c̣n lại đi đôi với nhau của
Công Đồng Chung Vaticanô II, đó là Hiến Chế về Mạc Khải Thần Linh “Dei Verbum -
Lời Chúa” và Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh “Sacrosanctum Concilium – Cộng Đồng
Thánh”. Bởi v́, muốn hiệp thông Giáo Hội hay muốn Giáo Hội hiệp thông, trước hết
và trên hết, Kitô hữu Công giáo cần phải sống hiệp thông với Chúa Kitô nơi Phụng
Vụ Thánh. Và chỉ khi nào Chúa Kitô sống trong chúng ta, Người mới làm cho chúng
ta được “Ut Unum Sint hiệp nhất nên một” mà thôi.
Bài viết cho Chương Tŕnh Phát Thanh Tin Mừng
Sự Sống FM 106.3 Nam California ngày Thứ Sáu 6/5/2005
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
Khoa Giáo Hội Học Hiệp Thông: Thao Thức Thần Học của HY Thần Học Gia Joseph Ratzinger
Theo người dịch bài phỏng vấn này th́ nếu Đức Gioan Phaolô II là một triết gia về nhân bản Kitô giáo, với một học thuyết “thần học về thân thể”, th́ Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI là một thần học gia về khoa giáo hội học hiệp thông. Phải chăng, chính v́ thế, v́ khả năng riêng của ḿnh, một khả năng như mầm mống ơn gọi nơi bản thân ḿnh, mỗi vị đă được Thiên Chúa kêu gọi đến để thực hiện sứ vụ hợp với khả năng của từng vị: Nếu Đức Gioan Phaolô II là vị giáo hoàng “vui mừng và hy vọng” của “Giáo Hội trong Thế Giới Hiện Đại, th́ Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI là vị giáo hoàng của một Hiệp Nhất Kitô Giáo và cho một Tân Âu Châu.
Thật vậy, ông David Schindler, chủ nhiệm tạp chí thần học Hiệp Thông và là khoa trưởng hàn lâm Viện Gioan Phaolô II, đă nhận định về vị hồng y nay làm Giáo Hoàng Biển Đích XVI. Ông này đă chia sẻ với mạng điện toán toàn cầu Zenit (được phổ biến hôm Chúa Nhật 1/5/2005) trong một cuộc phỏng vấn về khoa giáo hội vốn là tâm điểm của những thao thức thần học nơi vị thần học gia kiêm tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin này từ khi c̣n là một linh mục trẻ ở Công Đồng Chung Vaticanô II, một cuộc phỏng vấn đă được Zenit phổ biến ngày 1/5/2005.
Vấn: Mối liên hệ của ĐHY Ratzinger với tập san Hiệp Thông này ra sao? Ông đă có cảm nghiệm như thế nào khi hoạt động với ngài về tờ tập san này?
Đáp: Hiệp Thông là tờ tam cá nguyệt san Điểm Báo Thần Học Quốc Tế được thành lập từ năm 1972 bởi các thần học gia Hans Urs von Balthasar, Henri de Lubac và Joseph Ratzinger. Từ khi thực hiện ấn bản bằng Đức ngữ, có thêm 13 ấn bản khác nữa, trong đó có cả ấn bản Balan do Hồng Y Karol Wojtyla thực hiện.
Ngài Ratzinger vẫn là một tay tổ chức chủ động của tờ tập san này, viết và duyệt bài vở cho tới khi ngài được bổ nhiệm làm tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin 1981. Mặc dù vào lúc ấy, trách nhiệm của ngài cho không phép ngài chính thức tham gia vào tờ Hiệp Thông nữa, ngài vẫn thiết tha quan tâm tới hoạt động của tờ tập san này.
Vào năm 1992, ngài đă đọc bài diễn văn chính nhân dịp kỷ niệm 20 năm tờ Hiệp Thông ở Rôma. Bài diễn văn này đă được phổ biến trong ấn bản Hoa Kỳ của tập san và nhiều bài của vị hồng y này tiếp tục được phổ biến trên Hiệp Thông.
Đầu tiên tôi được nhà thần học Balthasar giới thiệu với ĐHY Ratzinger ở Rôma vào Tháng 9/1985 trong dịp mừng kỷ niệm 80 tuổi của nhà thần học này do ĐHY Ratzinger tổ chức. Từ đó và trong những cuộc gặp gỡ với vị hồng y này vào những năm sau đó, tôi đă thấy ngài là một con người thật khiêm nhượng và hết sức thông minh, những tặng ân được ngài hết ḷng đem ra phục vụ Chúa Kitô và Giáo Hội.
Như hết mọi người biết ngài đều cảm thấy ngài có một thái độ nhún nhường và hiền lành, và người ta cảm thấy ngỡ ngàng trước tính cách đơn thành trẻ thơ nơi ngài, về việc hết sức chăm chú nơi vấn đề đang được quan tâm. Ngài là một người hoàn toàn không màng ǵ tới những lớp vỏ quyền lực, thật vậy, chính nhờ khiêm nhượng mà ngài mới có được một đức can trường như thế để bênh vực sự thật.
Những chủ trương của ngài, mặc dù rơ ràng và sắc bén, cũng không phải là những ǵ được thực hiện v́ ngài cho bằng bao giờ cũng để phục vụ cho một cái ǵ đó lớn lao hơn cả bản thân ngài, đó là cái nguyên vẹn của những ǵ ngài muốn bảo toàn.
Vấn: Ư tưởng về “Hiệp thông” hiển nhiên là ư tưởng chính yếu cho
tờ tập san của ông. Thế nhưng, ư nghĩa về thần học của từ ngữ này nghĩa là ǵ?
Và theo nhăn quan của Giáo Hoàng Biển Đức XVI th́ nó mang ư nghĩa ra sao?
Đáp: Chữ “hiệp thông”, theo ư nghĩa căn bản của ḿnh, t́m cách tái ư thức bản chất của Giáo Hội như là một cuộc hiệp thông con người. Mối hiệp thông yêu thương này bao gồm cơ cấu giáo phẩm Thánh Phêrô là cơ cấu bảo toàn cho tính cách khách quan của Giáo Hội.
Đă có nhiều cuộc bàn luận theo sau Công Đồng Chung Vaticanô II về ư niệm “Dân Chúa” như là ư nghĩa nổi nhất về Giáo Hội.
“Hiệp thông” không nghịch với ư niệm này khi nó biến đổi ư niệm ấy, bằng cách nhấn mạnh đến việc khởi xướng của Thiên Chúa, Đấng đă thiết lập và ǵn giữ việc hiệp nhất của Giáo Hội nơi Chúa Giêsu Kitô với việc hợp tác của Đức Maria Mẹ Người, vị đă thưa tiếng ‘xin vâng’ để làm cho bản thân Mẹ trở thành ngôi nhà đầu tiên của Thiên Chúa trên thế gian – bởi thế Mẹ là ‘h́nh ảnh’ căn bản của Giáo Hội.
Ư niệm về Giáo Hội như ‘mối hiệp thông’ (communio), như thế, tương phản với ư niệm về Giáo Hội như là ‘cộng đồng’ (congregatio). V́ ‘communio’ nhấn mạnh đến bản chất của Giáo Hội như là tặng ân Chúa ban, những ǵ được thiết định “từ thượng giới”, trong khi đó ‘congregatio’ nói đến một cộng đồng xuất thân ‘từ hạ giới’ theo quyết định của con người muốn có một cộng đồng theo cách thức của một cơ cấu dân chủ.
Nhận thức qui thần này về Giáo Hội như là bí tích của t́nh yêu Chúa Kitô đă từng là đặc tính được ấp ủ nơi đời sống của Hồng Y Ratzinger. Tôi nghĩ rằng người ta có lư để nói được rằng khoa giáo hội học luôn là tâm điểm nơi những thao thức thần học của ngài, và đă được cho thấy nơi hoạt động quan trọng của ngài ở chính Công Đồng Chung Vaticanô II, mặc dù bấy giờ ngài chỉ mới ở vào lứa tuổi giữa tam thập.
Vấn: Làm thế để “hiệp thông” trở thành cốt lơi cần được thể hiện
nơi đời sống của Giáo Hội, như Hồng Y Ratzinger đă nói?
Đáp: Mối hiệp thông con người làm nên Giáo Hội là h́nh ảnh của mối hiệp thông Ngôi Vị của Thiên Chúa Ba Ngôi thần linh. Đời sống của Giáo Hội tự bản chất được phát xuất từ từ sự sống của Thiên Chúa, trong Chúa Kitô và nhờ Chúa Kitô cũng như theo lời Người hứa ở cùng Giáo Hội, một hiện diện sống động nơi Giáo Hội.
Giáo Hội xuất phát từ cung ḷng của Thiên Chúa Ba Ngôi, từ sự sống của t́nh yêu thần linh, một t́nh yêu được mạc khải nơi Chúa Kitô và qua Chúa Kitô nhờ đức tuân phục kính mến của lời Mẹ Maria xin vâng.
Vấn: Mối hiệp thông này có liên hệ ra sao với Công Đồng Chung
Vaticanô II?
Đáp: Mối hiệp thông được thiết lập là để giúp vào việc canh tân giáo hội và văn hóa được Công Đồng này kêu gọi. Chủ ư không phải chỉ để nói lên và khai triển ư nghĩa đích thực của Công Đồng này, mà c̣n để giúp vào việc truyền bá ‘văn minh yêu thương’ được Công Đồng này mong ước nữa.
Mục đích căn bản của tờ tập san này, theo chiều hướng ấy, là để chứng tỏ cho thấy những kho tàng về thần học và linh đạo nơi truyền thống giáo huấn của Giáo Hội có thể giúp chúng ta đương đầu thẳng với những vấn đề trầm trọng của nền văn hóa đương đại, cũng như để duy tŕ niềm hy vọng khi phải đối diện với những vấn đề ấy.
Giáo Hoàng Biển Đức XVI là một Đại Thần Học Gia Thời Hiện Đại
Ông Brumley, vị giám đốc nhà xuất bản Ignatius Press, một nhà xuấn bản chính của thế giới Anh ngữ về các tác phẩm của ĐHY Joseph Ratzinger, trong một cuộc phỏng vấn với mạng điện toán toàn cầu Zenit, và được Zenit phổ biến ngày 26/4/2005, đă cho biết nhận định hân hoan của ḿnh về tặng ân tân Giáo Hoàng là một đại thần học gia đệ nhất thời hiện đại như sau:
Vấn: Đâu là một số những đóng góp quan trọng nhất được ĐHY Ratzinger vào khoa thần học trong giai đoạn 20 năm làm tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin?
Đáp: Cần phải phân biệt giữa công việc của Hồng Y Ratzinger với tư cách là tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin CDF (Congregation for the Doctrine of Faith) với công việc làm với tư cách là một thần học gia.
Những đóng góp của ngài với tư cách là tổng trưởng CDF th́ khác nhau theo thứ loại được ngài đóng góp với tư cách là một thần học gia, cho dù chúng hiển nhiên đều qui về giáo huấn Công Giáo.
Với tư cách là tổng trưởng CDF, ngài đă ban hành các văn kiện thuộc về loại giáo huấn được Thần Linh soi dẫn của Giáo Hội. Những người Công giáo cần phải đón nhận và chấp nhận giáo huấn này như là giáo huấn Công Giáo chuyên chính. Những văn kiện này c̣n quan trọng hơn là việc đóng góp của một thần học gia thuần túy cho khoa thần học.
V́ các thần học gia đồng thời cũng không đến được với Mạc Khải thần linh qua những ǵ mạc khải này được thể hiện nơi Thánh Kinh được linh ứng cũng như nơi Thánh Truyền được Thần Linh tác động như được huấn quyền dẫn giải, mà văn kiện liên tục của huấn quyền tự bản chất là những ǵ “góp phần vào khoa thần học”.
Các thần học gia hữu trách đều sử dụng giáo huấn của giáo hội để luận suy một cách hợp lư và theo hệ thống về những ǵ được Thiên Chúa mạc khải. Bởi thế văn kiện của vị tổng trưởng CDF thực sự là những ǵ “đóng góp cho khoa thần học”.
ĐHY Ratzinger đă tiếp tục phát hành các tác phẩm thần học ngoài việc ngài thi hành thẩm quyền thuộc vai tṛ CDF của ḿnh. Một số tác phẩm có liên hệ chặt chẽ với một vài văn kiện và liên quan tới CDF.
Chẳng hạn, trong số các tác phẩm khác có tác phẩm ngài viết về “Bản Chất và Sứ Vụ của Khoa Thần Học” là tác phẩm liên quan tới văn kiện CDF “Ơn Gọi Giáo Hội của Thần Học Gia”. Tác phẩm “Được Kêu Gọi Hiệp Thông” chất chứa những cuộc bàn luận thần học về bản chất của Giáo Hội, về vai tṛ giáo hoàng cũng như về vấn đề thần học đang được tranh căi sôi nổi nơi vấn đề liên hệ giữa Giáo Hội địa phương và Giáo Hội hoàn vũ.
Cũng thế, cuốn “Chân Lư và Dung Nhượng”, một tác phẩm bàn đến Kitô giáo và các tôn giáo không phải Kitô giáo, đă cho thấy những ư nghĩ của thần học gia Ratzinger về giáo huấn của Giáo Hội trong văn kiện “Chúa Giêsu” được tổng trưởng CDF Ratzinger ban hành.
Về tính cách xứng hợp đối với tác phẩm của một thần học
gia th́ cuốn “Chân Lư và Dung Nhượng” là tác phẩm làm khuyếch đại và đào sâu hơn
những ǵ được chứa đựng nơi văn kiện “Chúa Giêsu”, một văn kiện chỉ lập lại giáo
huấn của Giáo Hội buộc những người Công giáo phải tuân tín.
Vấn:
Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI sẽ mang lại cho giáo triều của ngài những ǵ từ
chính bản thân ngài cùng với các thứ hay ho về thần học của ngài?
Đáp: Mặc dù vị tổng trưởng Ratzinger nổi bật hơn thần học gia Ratzinger, chúng ta đều có phúc có được, nơi Giáo Hoàng Biển Đức XVI, một thần học gia và là một vị mục tử đă từng suy tư và nguyện cầu lâu dài tha thiết về Chúa Giêsu Kitô, về Giáo Hội cũng như về sứ vụ của Giáo Hội đối với thế giới.
Tôi tin rằng ngài sẽ tiếp tục công việc lưỡng diện của Công Đồng Chung Vaticanô II, đó là việc canh tân đời sống nội tâm của Giáo Hội và việc đẩy mạnh sứ vụ truyền giáo của Giáo Hội trên thế giới này. Ngài đang quyết tâm cải tiến những nghiên cứu về thánh kinh cũng như canh cải việc người Công giáo cảm nhận sâu xa cùng tham dự vào phụng vụ thánh.
Ngài đang mạnh mẽ công bố về ơn gọi phổ quát nên thánh của Công Đồng Chung Vaticanô II. Ngài hiểu được tầm quan trọng của vấn đề đối thoại nơi Kitô hữu cũng như của việc đối thoại với các tôn giáo cùng các người t́m kiếm chân lư trên thế giới, trong khi đó ngài vẫn chủ trương tính cách thuần khiết của đức tin Công giáo và nhấn mạnh đến động lực tái truyền giáo để lan truyền phúc âm Chúa Giêsu Kitô cho thế giới.
Và ngài biết rằng nơi những lănh vực về luân lư cũng như về vấn đề công bằng xă hội, sứ điệp Kitô giáo vẫn chưa được thử nghiệm và chưa thấy cần thiết, như G.K. Chesterton ghi nhận, nhưng đă từng gặp phải khó khăn mà vẫn chưa được thử nghiệm. Ngoài ra, ngài c̣n thấy cả mối đe dọa của tương đối thuyết cực đoan và nhiều thứ “chủ nghĩa” khác nữa.
Vấn:
Ông nghĩ ǵ về những văn phẩm của Hồng Y Ratzinger trong những năm qua?
Đáp: Việc tôi đọc những tác phẩm của ngài khiến tôi nghĩ rằng ngài là một trong những đại thần học gia đệ nhất của thời đại chúng ta đây. Những tác phẩm của ngài cho thấy việc ngài trung thành với truyền thống Công giáo, một kiến thức về đức tin không già mà luôn mới.
Thật là tuyệt vời khi chúng ta có một vị Giáo Hoàng đă từng viết rất nhiều trước khi trở thành Giáo Hoàng. Cũng tuyệt vời nữa ở sự kiện là trong khi ngài giữ một vai tṛ cao cấp trong giáo hội th́ đồng thời ngài lại dấn thân vào hoạt động trí thức khôn ngoan của một thần học gia.
Những tác phẩm của ngài bao gồm một lănh vực rộng lớn, về thần học có những cuốn như “Những Nguyên Tắc Thần Học Công Giáo” và “Chân Lư và Dung Nhượng”, về những suy tư mục vụ ở cuốn “Đồng Cán Sự Viên Chân Lư”, và về những phân tách sâu xa liên quan đến các thứ ư hệ tân tiến khác nhau và cuộc nói chuyện thẳng với các kư giả về đời sống lẫn đức tin của ḿnh và t́nh trạng Giáo Hội trong cuốn “Muối Đất”, “Thiên Chúa và Thế Giới” và “Tường Tŕnh Ratzinger”.
Những ai yên trí ngài là một tư tưởng gia cứng cỏi thụt lùi là thành phần không hề đọc những ǵ ngài viết hay đọc vừa phải thôi. Cuốn mới đây của ngài về Thánh Thể là cuốn “Thiên Chúa Gần Gũi Chúng Ta” là một đóng góp tuyệt vời cho Năm Thánh Thể của Đức Gioan Phaolô II, và cuốn “Nhập Môn Kitô Giáo” là một tác phẩm thuộc loại kinh điển. Bộ hồi niệm đầu tiên của ngài, được biết đến như là “Những Đoạn Đường Đời”, đă cho thấy đức tin sâu xa và kiến thức của con người cao cả này.
Vấn:
Ông nghĩ thế nào về di sản về thần học của Giáo Hoàng Gioan Phaolô II?
Đáp: Thật là khó ḷng mà tóm tắt di sản về thần học của ngài một cách ngắn gọn. Việc áp dụng mục vụ liên tục của Công Đồng Chung Vaticanô II đối với những vấn đề thách đố Giáo Hội và thế giới có lẽ là di sản chính yếu của ngài. Vấn đề thăng tiến đức tin cá nhân và ơn gọi nên thánh phổ quát là hai đề tài quan trọng về khía cạnh này.
Việc Đức Gioan Phaolô II nhấn mạnh đến khoa giáo hội học hiệp thông của Công Đồng Chung Vaticanô II cũng là những ǵ quan trọng nữa. Ngài đă thấy mối hiệp thông này như là một dự phần trần thế vào mối hiệp thông thần linh của Chúa Ba Ngôi được Chúa Kitô hiện thực và được Giáo Hội phổ biến trên thế giới. Biểu hiện trực tiếp của sứ vụ này đó là việc kêu gọi thực hiện một cuộc tân truyền bá phúc âm hóa.
Về khía cạnh luân lư thần học của ngài th́ chính yếu là khoa nhân bản Kitô giáo của ngài và “thần học về thân thể” của ngài. T́nh đoàn kết và sự hỗ trợ là những ǵ được nhấn mạnh đến trong giáo huấn về xă hội của ngài, một giáo huấn bắt nguồn từ việc nhấn mạnh đến phẩm vị của con người và những trách nhiệm hỗ tương loài người phải có đối với nhau bởi họ được dựng nên theo h́nh ảnh Thiên Chúa và được kêu gọi sống cùng một định mệnh trong Chúa Giêsu Kitô.
Sau hết, giáo huấn về Thánh Mẫu của ngài đề cao vai tṛ chính yếu của Chúa Giêsu Kitô – chúng ta nói rằng tất cả những ǵ chúng ta làm liên quan đến Đức Trinh Nữ đều bởi v́ Mẹ có liên hệ với Chúa Kitô và với Giáo Hội của Người. Mẹ Maria là mô phạm sống đức tin, một đức tin nhờ ơn Chúa ‘xin vâng’ phó ḿnh cho Thiên Chúa nhờ đó đạt được ơn hiệp thông thần linh.
Vấn:
Ông nghĩ Giáo Hoàng Biển Đức XVI sẽ xâu đắp cho di sản của Đức Gioan Phaolô
ra sao?
Đáp: Là cánh tay phải của Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, nói theo thần học, ngài đă đóng góp cho việc phát triển cái di sản ấy từ đầu. Vả lại, cả Đức Gioan Phaolô II lẫn Biển Đức XVI đều chịu ảnh hưởng của Công Đồng Chung Vaticanô II và có những quan điểm về sứ vụ của Giáo Hội ngày nay được khuôn đúc bởi công đồng này.
Tôi nghĩ rằng Đức Biển Đức XVI sẽ tiếp tục ư hướng của Đức Gioan Phaolô kêu gọi thực hiện một cuộc tân truyền bá phúc âm hóa – việc chọn danh hiệu Biển Đức của Hồng Y Ratzinger cho thấy điều này rất rơ.
Tôi cho rằng Đức Gioan Phaolô II đă bắt đầu chuyển cầu cho vị kế vị của ḿnh rồi đó vậy.
Một Nữ Đan Viện Biển Đức ở Tuscany vốn là Nhà Bêtania của Hồng Y Joseph Ratzinger
Đức Hồng Y Joseph Ratzinger đă chọn danh hiệu giáo hoàng của ḿnh là Biển Đức. Trong bài giảng của ḿnh tại Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoại Thành hôm Thứ Hai 25/4/2005, ngài cũng đề cập tới câu tâm niệm được Thánh Biển Đức Tổ Phụ Đan Viện Tây Phương viết trong luật ḍng cho những ai làm môn đệ của thánh nhân là “đừng coi ǵ hơn t́nh yêu Chúa Kitô”. Hôm Lễ Đăng Quang của ḿnh hôm Chúa Nhật 24/4, ngài đă mặc áo lễ do các đan nữ Biển Đức ở Rosano làm cho Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.
Hiện nay các nữ đan tu Biển Đức này đang tới phiên ngũ niên, từ Tháng 10/2004, đến ở tại nữ tu viện Mẹ Thiên Chúa Mater Ecclesiae trong thành Vatican, như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô đă thiết lập lệ này cho các ḍng nữ tu kín, đầu tiên là ḍng Carmêlô, v́ sự hiện diện của các chị ḍng kín tu này là tiêu biểu cho đời sống nội tâm của Giáo Hội, như Nữ Tiến Sĩ Thiên Sa Hài Đồng Giêsu đă tự nhận ơn gọi của chị là yêu mến, là con tim của Giáo Hội vậy.
Các nữ tu kín ḍng Biển Đức này, qua một bản văn, được Zenit phổ biến ngày 26/4/2005, cho biết về vị tân giáo hoàng ngày xưa c̣n là hồng y Ratzinger “đă thường đến đan viện của chúng tôi”, một đan viện ở Tuscany miền trung Ư quốc, như sau:
“Lần đầu tiên vào năm 1985, dịp các chị em tập sinh tuyên khấn lần đầu. Trước khi rời đan viện, khi nói với mẹ giám tập rằng hăy vui mừng v́ con cái của mẹ đă được ở một nơi an toàn, một nơi sống theo Luật Thánh Biển Đức một cách đặc biệt b́nh thản, vững vàng và hân hoan.
“Từ đó, ngài c̣n trở lại một số lần nữa, nhất là vào dịp Lễ Ḿnh Máu Thánh Chúa Kitô. Vào ngày hôm ấy, nhà thờ của chúng tôi đầy chật người tham dự và ngài đă thu hút mọi người bằng bài giảng rất sâu xa của ngài cũng như bằng tính cách giản dị thân t́nh bỏ giờ ra với từng người ở ngoài vườn sau Thánh Lễ. Ngài thường thích Kiệu Ḿnh Thánh đi trong đan viện và ra cả ngoài vườn.
“Ngài đă đến Rosano vào Tháng 6/2001 với người anh linh mục của ngài để cử hành kim khánh 50 năm linh mục của ngài.
“Ngài thường đến với vị thư kư của ngài, giờ đây đă làm giám mục và là thư kư của Hội Đồng Giáo Hoàng Đặc Trách Giáo Dân, đó là Đức Ông Josef Clemens, cũng như với người tài xế tín cẩn của ngài là Alfredo. Ngài đến vào chiều Thứ Bảy và rời vào chiều Chúa Nhật. Ngài thích đi bách bộ lâu giờ vào buổi chiều ở trên đồi hay ngoài đồng.
“Trong cuộc viếng thăm của ḿnh, ngài hầu như bao giờ cũng gặp tất cả cộng đồng chúng tôi, làm ai cũng cảm thấy dễ giao tiếp với ngài ngay, v́ ngài là một con người rất giản dị, thân t́nh, trầm tĩnh, khiêm tốn, có khả năng khéo trêu chọc và thật sự là khôi hài.
“Khi chúng tôi xin ngài nói với chúng tôi về những vấn đề trực trặc đặc biệt liên quan tới Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin, đến Đức Thánh Cha và Giáo Hội, ngài bao giờ cũng nói hết sức rơ ràng, nhất là có một khả năng hiểu được yếu tính của mỗi vấn đề và tŕnh bày vấn đề một cách giản dị, chính xác đồng thời cũng tường tận, bằng việc cắt nghĩa nhanh chóng và trôi chảy.
“Trước hết, ngài không bao giờ tỏ ra thái độ thảm thiết, trái lại, ngài có thể giải quyết tất cả mọi khó khăn một cách mạnh mẽ, kiên tŕ, tin tưởng và hy vọng theo đức tin và lời cầu nguyện.
“Đó là lư do chúng ta tạ ơn Chúa về tặng ân ban cho chúng ta vị tân giáo hoàng này, vị giáo hoàng mang danh hiệu và thực sự là Biển Đức (một danh hiệu có nghĩa là được chúc phúc)”.
Một cặp vợ chồng trẻ mới được Hồng Y Ratzinger làm phép cưới cho cảm nhận về vị tân giáo hoàng
Tháng 6/2004, Marta và Anthony Valle được Đức Hồng Y Joseph Ratzinger làm phép hôn hối cho tại Đền Thờ Thánh Phêrô. Lúc bấy giờ họ đă cảm thấy hân hạnh lắm rồi, v́ vị chủ tế Thánh Lễ Hôn Phối của họ là vị hồng y Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin, một nhân vật quan trọng bậc nhất về giáo huấn của Giáo Hội sau ĐTC. Thế nhưng, giờ đây, họ lại càng cảm thấy hănh diện hơn nữa, v́ vị chủ tế lễ hôn phối của họ ấy giờ đây đă là Giáo Hoàng Biển Đức XVI.
Cả hai anh chị vợ chồng mới này đều là sinh viên của Regina Apostolorum Pontifical University, Marta là người Đức theo học ngành đạo lư sinh học, c̣n Anthony là người Mỹ ở Nữu Ước theo khoa thần học. Trong cuộc phỏng vấn với mạng điện toán toàn cầu Zenit và được Zenit phổ biến ngày 25/4/2005, cả hai anh chị này đă cho biết cảm nhận của ḿnh về con người của hồng y Ratzinger đă được Thiên Chúa chọn làm vị giáo hoàng thứ 265 của Giáo Hội như sau.
Vấn: Làm sao hai anh chị lại được ĐHY Ratzinger làm phép hôn phối cho vậy?
Đáp: (Anthony:) Chúng tôi thật là may mắn, đúng hơn, may mắn một cách thiên định. Chúng tôi đă xin ngài sau một trong những Thánh Lễ chung của ngài và được ngài cho biết ‘Được, để xem đă. Hăy viết ra cho tôi biết một ít ngày và giờ đi’.
Là những sinh viên tốt, chúng tôi đă làm bài của ḿnh và nộp cho đức hồng y một lá thư được chúng tôi soạn đêm hôm trước với tất cả những chi tiết cần thiết. Trong ṿng một tuần lễ, Marta đă nhận được hồi âm là được!
Chúng tôi đă được ngài làm phép cưới cho ở Đền Thờ Thánh Phêrô ngày 24/6/2004. Ngài thực sự là một con người của dân chúng. Mặc dù ngài là con người quan trọng thứ hai trong Giáo Hội, ngài cũng bỏ giờ ra cho chúng tôi váo buổi sáng Thứ Năm ấy một tiếng rưỡi đồng hồ để chúng tôi có thể lănh nhận bí tích hôn phối. Đó là những ǵ chính yếu nơi đặc sủng của vị linh mục, đó là ban các phép bí tích cho dân chúng, v́ các phép bí tích là phương tiện cứu độ Chúa Kitô ban cho chúng ta.
Vấn: Anh chị đă cảm thấy ǵ khi tên của ngài được loan báo là vị tân Giáo Hoàng?
Đáp: (Anthony:) Chúng tôi rung động và mừng đến nỗi chảy cả nước mắt ra.
(Marta:) Chúng tôi đă la lên thật là to!
(Anthony:) Thật là lạ lùng ngài đă được tuyển bầu chỉ trong ṿng bốn lần bỏ phiếu và chưa đầy 24 tiếng đồng hồ. Như thế chứng tỏ là đă có một mối hiệp nhất hết sức nơi các vị hồng y. Các vị biết rằng ngài là một con người đáng chọn. Chúng ta thật là hạnh phúc v́ chúng ta có một con người thánh thiện và khiêm nhượng như vị tân Giáo Hoàng của chúng ta đây.
Như Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă làm rất hay, vị Giáo Hoàng Biển Đức XVI cũng sẽ tiếp tục dẫn dắt Giáo Hội, bảo tŕ truyền thống của Giáo Hội và mang Giáo Hội tiến vào ngàn năm thứ ba bằng một cuộc Tân Truyền Bá Phúc Âm Hóa, Phải, ngài già đời, nhưng Thiên Chúa ban cho ngài những ơn cần thiết. Chắc quí vị c̣n nhớ, điều đầu tiên khi xuất hiện ở lan can là ‘Chúa biết cách hoạt động và tác hành thậm chí với cả những dụng cụ thiếu thốn, và tôi đặc biết trao phó bản thân ḿnh cho lời cầu nguyện của anh chị em”. Ngài rất khiêm nhượng. Tôi không thể nhấn mạnh điều này cho đủ được.
Tuy nhiên, ngài thường bị yên trí một cách bất công là rất nghiệm ngặt và là người áp buộc khắc nghiệt. Thật là sai hẳn sự thật. Những thứ yên trí đó là những ǵ lố bịch và buồn cười. Ngài là một con người dịu dàng và khiêm tốn, thậm chí có lẽ c̣n hơi e thẹn nữa là đằng khác.
Như chúng ta đều biết, việc làm trước kia của ngài với tư cách là tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin là việc đ̣i ngài phải bảo tŕ các giáo huấn hai ngàn năm của Giáo Hội Công Giáo. Bởi thế, ai đă hay đang thi hành nhiệm vụ này đều mang một h́nh ảnh tiêu cực chính v́ rất nhiều giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo không thể ḥa hợp với chiều hướng ư hệ của thứ nhân bản tân tiến trần tục cũng như với rất nhiều cái “chủ nghĩa” thời trang và sai lầm khác của thời đại lịch sử chúng ta đây.
Vấn:
Một số người nói rằng ngài có một bộ mặt rất nghiêm nghị.
Đáp: (Anthony:) Nếu quí vị có cơ hội gặp ngài, như chúng tôi đă có được một số lần, quí vị liền thấy rằng ngài dịu dàng, nhân ái và quan tâm mục vụ ra sao. Thật vậy, ngài đă từng là vị hồng y dễ giao tiếp nhất trong Giáo Hội. Chẳng hạn, ngài đă cử hành Lễ ở một nhà nguyện nhỏ công cộng mỗi Thứ Năm hằng tuần trong khoảng thời gian 20 năm qua.
Ngoài ra, ngài cử hành Thánh Lễ một cách rất ư là sốt sắng và cung kính, thực sự là đi vào mầu nhiệm cứu độ của việc cử hành này. Chưa hết, sau Lễ, ngài cởi áo lễ ra một cách rất trầm tưởng trong buồng áo, như thể vẫn c̣n chiêm ngắm mầu nhiệm siêu việt vừa diễn ra.
Đoạn ngài ra khỏi pḥng áo để chào hỏi dân chúng đến gặp ngài. Đó là lúc quí vị thấy được con người thực sự của ngài, ngài thực sự là người như thế nào. Ngài bỏ giờ ra để chào hỏi từng người, nh́n vào mắt họ, bắt tay họ, hỏi tên tuổi của họ, làm sao họ lại đến đấy, họ thuộc về giáo phận nào, ngài kư tên của ngài, chụp h́nh với họ, v.v. Ngài thực sự lưu ư đến tất cả quí vị và nói với quí vị từng người một. Đây là những ǵ vị linh mục cần phải là, đây là những ǵ vị Giáo Hoàng phải là, đó là trở thành một vị chủ chăn, một mục tử của dân chúng, và đó chính là những ǵ Giáo Hoàng Biển Đức là, và đó là những ǵ thế giới cần biết và sẽ biết.
Vấn:
Ngài đă khuyên anh chị những ǵ trong Lễ cưới của anh chị?
Đáp: (Anthony:) Marta biết rơ hơn v́ bài giảng hầu hết bằng Đức ngữ.
(Marta:) Chúng tôi lập gia đ́nh vào ngày lễ Thánh Gioan Tẩy Giả, bởi thế chỉ có bài đọc thứ hai là đặc biệt đối với lễ cưới của chúng tôi mà thôi. Chúng tôi đă chọn chương thứ 5 Thư Thánh Phaolô gửi tín hữu Êphêsô, là đoạn nói về cách thức vợ chồng phải sống với nhau. ĐHY Ratzinger nói rằng chúng tôi cần soi gương bắt chước ḷng yêu thương của Chúa Kitô, đó là một t́nh yêu được thể hiện một cách rất cụ thể nơi những tác động phục vụ và hy sinh.
(Anthony:) Vị hồng y này bấy giờ đă nhấn mạnh đến cách thức làm sao để vợ chồng hỗ trợ lẫn nhau. Tuy nhiên, ngày nay, mọi người quá chú ư tới một câu nói về cách thức người vợ phải phục tùng chồng. Thế nhưng, đừng quên rằng sau đó Thánh Phaolô nhấn mạnh – và đây là một trong những điểm chính của đức hồng y – là người chồng phải yêu thương vợ ḿnh như Chúa Kitô yêu thương Giáo Hội, cho đến độ hiến mạng sống ḿnh cho Giáo Hội. Đó là những ǵ nói về người chồng cần phải làm đầu trong gia đ́nh: ở chỗ bắt chước Chúa Giêsu Kitô làm đầu Giáo Hội.
Mặc dù là Chúa, là đấng tiên khởi, ngài đă tỏ vai tṛ làm chúa của ḿnh bằng việc trở nên cuối rốt, bằng việc đặt ḿnh ở vào chỗ cuối bét, bằng việc trở nên tôi tớ của tất cả mọi người, bằng việc rửa chân cho các môn đệ của Người.
Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI
tiết lộ: Ngài đă cầu Chúa đừng để ngài làm giáo hoàng
Theo CNN hôm Thứ Hai 25/4/2005 và Zenit Thứ Hai cùng ngày, th́ chính vào ngày này, trong cuộc gặp gỡ phái
đoàn hành hương Đức quốc 5.000 người (trong số
100.000 giữa 500.000 người) đến tham dự
lễ đăng quang của ngài hôm qua, vị tân Giáo Hoàng đă tiết lộ cho họ là thành
phần bản xứ rất hănh diện v́ có được một 1 giáo hoàng từ cả một thiên kỷ đến nay
(vị đầu tiên là Đức Victor II – 1055-1057), biết là trong cuộc mật nghị hồng y
bầu giáo hoàng vừa rồi, khi thấy ḿnh càng lúc càng được nhiều phiếu, có 1 vị
hồng y đă chuyền cho ngài mấy chữ nhắc lại những ǵ ngài đă giảng về Chúa Kitô
kêu gọi Thánh Phêrô theo Người cho dù thánh nhân đă tỏ ra lưỡng lự.
Vị tân giáo hoàng cho biết: “Có lúc tôi đă cầu cùng Chúa rằng ‘xin đừng làm điều
này cho con nghe’. Rơ ràng là lần này Ngài đă không nhận lời tôi”.
Cũng vào buổi gặp gỡ đồng hương của ḿnh này,
trong số đó có Đức Ông anh của ngài, ngài đă tiến vào nơi gặp gỡ với nụ cười
trên môi, tất cả đều hô lên, bằng tiếng Ư trước tiếng Đức sau: “Viva il Papa!
Hoan hô Đức Giáo Hoàng”.
Vừa theo bài dọn sẵn vừa nói buông, ngài đă xin lỗi đồng hương của ngài về sự
chậm trễ, mà rằng ngài biết vấn đề đúng giờ của người Đức, nhưng ngài đă sống ở
Ư 23 năm và có lẽ đă bị “Ư hóa”. Tuy nhiên, tận đáy ḷng ngài vẫn là “một người
xứ Bavaria”, rồi ngài nói đến những liên hệ giữa xứ Bavaria và Rôma.
Rồi ngài nói đến cuộc mật nghị hồng y bầu giáo hoàng vừa rồi, ngài cho biết:
“Không phạm ǵ tới lời thề giữ bí mật, ngài không bao giờ nghĩ rằng ngài được
chọn bầu, cũng chẳng làm ǵ để cổ vơ bầu cho ḿnh cả… Khi Chúa gọi chúng ta phải
đáp lại. Những đường lối của Chúa th́ không dễ đi, nhưng chúng ta không được
dựng nên để sống thoải mái nên tôi chỉ có thể thưa ‘vâng’ mà thôi”.
Cuối bài diễn từ ngài kêu gọi đồng hương hăy đồng hành với ngài, nguyện cầu cho
ngài và tin tưởng nơi ngài.
Ngài đă được tuyển bầu sau 4 lần bỏ phiếu trong ṿng 24 tiếng đồng hồ, một trong
những cuộc bỏ phiếu nhanh nhất thế kỷ. Ngài nhiều lần bị ngắt lời bởi những lần
vỗ tay. Ngài nhoẻn cười nhiều lần khi thấy được đồng hương ủng hộ. Họ đă hát lên
bằng tiếng bản quốc rằng “Benedict Gott Geschickt – Biển Đức là người được Chúa
sai đến”.
Cuộc gặp gỡ đồng hương này đă diễn ra sau khi ĐTC gặp gỡ phái đoàn Liên Tôn và
Đại Kết vào giữa trưa.
Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI là
một con người yêu thích thiên nhiên và thể thao
ĐTGM đă từng làm việc với ĐHY Joseph Ratzinger nhiều năm trong Thánh Bộ Tín Lư
Đức Tin là Tarcisio Bertone, nay làm hồng y TGM Genoa, đă cho biết ĐHY Tổng
Trưởng của ngài bấy giờ là “một con người dừng lại trên đường đi để lắng nghe và
trả lời dân chúng. Những thứ kiểu người được vẽ vời bởi một số truyền thông hoàn
toàn sai lầm”.
Trong một cuộc phỏng vấn trên chương tŕnh “One-O-Five Live” của Đài Phát Thanh
Vatican, vị giáo chủ Genoa này đă chia sẻ cảm nghiệm sống của ḿnh với đức tân
Giáo Hoàng người Đức ấy.
“Ngài là một người nhậy cảm với nhạc và nhậy cảm với thiên nhiên, một con người
trong cuộc đi bộ đến Borgo Pio và Khu Vườn Vatican thậm chí nói chuyện cả với
những con mèo. Tôi đă cố gắng để hiểu được ngôn từ ngài nói với các con mèo
thường vui thú khi gặp ngài.
“Vị Giáo Hoàng này thích đồi núi, thích cảnh thiên nhiên um tùm cây cỏ. Ngài đă
sống những ngày nghỉ của ḿnh ở đồi núi Bavaria và ở Ư gần Bressanone. Ngài hằng
ngày đi bộ đến Borgo Pio và Khu Vườn Vatican vào khoảng độ 3 giờ 30 chiều.
“Thế nhưng vị Giáo Hoàng này cũng là một con người yêu thích thể thao nữa. Chúng
ta đừng quên rằng ngài là người ham mộ cầu thủ Bayern của đội tuyển Monaco, khi
huấn luyện viên của Bayern vào cuối thập niên 1990 là Giovanni Trapattoni, một
huấn luyện viên Juventus nổi tiếng. Tôi thường nói chuyện với ngài về thể thao,
tôi là một tay mê túc cầu, và vị Giáo Hoàng này đă viết những cuốn sách bằng
tiếng Đức về Trapottoni.
“Trapattoni đọc các cuốn sách của ĐHY Ratzinger bằng Đức ngữ. Đó là một liên hệ
tốt đẹp, với một đại huấn luyện viên đích thân ngài biết đến và nói chuyện với.
Đức Biển Đức XVI cảm phục Giovanni Trapattoni và ngài có một liên hệ tốt đẹp với
thể thao.
“Ngài là một con người biết nói những lời dí dỏm, người biết cách làm bạn và vun
trồng những mối thân t́nh bền bỉ. Ngài là một con người của thiết nghĩa….
“Chúng tôi biết rằng ngài luôn có một liên hệ tốt đẹp với các phong trào (mới
trong giáo hội). Ngài cảm nhận những phong trào ấy, nh́n nhận nơi những phong
trào này tặng ân của Thần Linh trong mùa xuân sau Công Đồng Chung Vaticanô II.
“Thách đố trước hết của Đức Biển Đức XVI đó là việc loan báo Phúc Âm, là việc
Tân Truyền Bá Phúc Âm Hóa. Đức Giáo Hoàng đă xin hồng y chúng tôi đặc biệt giúp
ngài trong công việc lớn lao này, trong việc cho con người của thời đại chúng ta
biết lư do chúng ta tin tưởng. ĐHY Ratzinger đă làm cho chúng ta làm quen với,
dạy cho chúng ta biết cống hiến những lư do chúng ta tin tưởng; một căn tính
Kitô giáo rơ ràng để đối thoại với hết mọi người. Cần bắt đầu từ kiến thức và
chứng từ căn tính đức tin riêng củaḿnh, tỏ ra tôn trọng tất cả mọi người, bằng
việc tŕnh bày chứ không áp đặt, như ngài đă luôn làm trong việc ngài đối thoại
với thành phần bất đồng.
“Cái thách đố thứ hai đó là áp dụng Công Đồng Chung Vaticanô II, tiếp tục trung
thành với truyền thống 2000 năm của Giáo Hội.
Được hỏi có tái diễn việc tranh luận về những căn gốc DoThái và Kitô Giáo của Âu
Châu hay chăng, vị hồng y này trả lời rằng:
“Tôi tin rằng chúng ta không được bỏ cuộc và Đức Biển Đức XVI sẽ dẫn chúng ta
trong công cuộc tái thiết lịch sử của chúng ta, đời sống xă hội của chúng ta,
của các quốc gia chúng ta, về những căn gốc Do Thái và Kitô Giáo, và bởi thế,
chúng ta cũng sẽ có thể thấy được một mùa hoa chứng từ, tức là một mùa phát
triển những ai cho thấy sống theo căn gốc Kitô là điều khả dĩ. Có nhiều người
muốn điều này. Rất nhiều người theo Đức Giáo Hoàng”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,
theo Zenit ngày 25/4/2005
Vị chủ tịch Liên Hiệp
Thế Giới Lutherô hào hứng nơi tân giáo triều của Giáo Hoàng Biển Đức XVI
Vị chủ tịch của tổ chức Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới là Mục Sư Mark Hanson, lập
gia đ́nh và có 6 người con, đồng thời cũng là vị giám mục chủ tịch ở Chicago của
Evangelical Lutheran Church tại Hoa Kỳ, đă khen kiến thức sâu rộng của Vị Giáo
Hoàng về Martin Luther và mong muốn củng cố vấn đề hiểu biết nhau hơn giữa người
Công Giáo và Luthêrô.
Vấn: Giáo Hoàng Biển Đức XVI xuất thân từ Đức, quê hương của Luthêrô. Mục
sư có nghĩ rằng điều này có thể giúp vào việc hiểu biết về tổ chức Liên Hiệp
Luthêrô Thế Giới hay chăng?
Đáp: Từ việc phục vụ của ngài với vai tṛ là linh mục, giáo sư và giám
mục ở quê hương Đức quốc của ngài, chúng tôi biết rằng Giáo Hoàng Biển Đức XVI
rất quen thuộc với những người Luthêrô.
Chúng tôi có đủ lư do để hy vọng thấy được những phát triển đại kết tốt đẹp và
việc hiểu biết nhau hơn nơi những người Luthêrô và những người Công giáo Rôma
trong giáo triều của vị Giáo Hoàng này.
Trong vai tṛ lănh đạo Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin, ĐHY Ratzinger đă mang lại cho
vai tṛ lănh đạo đại kết quan trọng, bao gồm cả việc ủng hộ việc chính thức chấp
nhận một văn kiện rất lịch sử, đó là Bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Điều Công Chính
Hóa. Bản văn kiện này được kư ở Augsburg, Đức quốc, quê hương xứ sở của Đưc Giáo
Hoàng, vào ngày 31/10/1999. Đó là ngày theo truyền thống những người Luthêrô cử
hành Cuộc Cải cách.
Vấn: Vị tân Giáo Hoàng coi việc đại kết là một ưu tiên cần đến những cử
chỉ chứ không phảo chỉ bằng lời nói. Mục sư cho rằng ngài nói ǵ đây.
Đáp: Trong Thánh Lễ đầu tiên sau khi được bầu làm giáo hoàng, Giáo Hoàng
Biển Đức XVI đă cho thấy rằng ngài sẽ theo đuổi thực hiện mối hiệp nhất Kitô
giáo, tiếp tục vấn đề canh tân của Công Đồng Chung Vaticanô II, và nỗ lực đối
thoại liên tôn như là những vấn đề quan trong của vai tṛ làm giáo hoàng của
ngài.
Tôi có lư hy vọng điều này v́ danh hiệu được Hồng Y Joseph Ratzinger chọn là
Biển Đức XVI. Việc chọn lựa danh hiệu giáo hoàng này nhắc đến hoạt động của Giáo
Hoàng Biển Đức XV, vị đă phục vụ trong thời điểm Thế Chiến Thứ I và được tiếng
là một người bắc cầu liên kết và là ḥa giải viên.
Danh hiệu giáo hoàng này hướng về Thánh Biển Đức, vị sáng lập nên phong trào đan
viện tu Kitô giáo, vị được ghi công về việc đă bảo tŕ và t́m cách canh tân Kitô
giáo ở Tây Âu.
Tất cả những điều này là các ấu hiệu thực sự cho thấy rằng Giáo Hoàng Biển Đức
XVI coi việc đại kết là vấn đề tối ưu tiên, và những ǵ ngài nói sau khi được
bầu làm giáo hoàng đă xác nhận như thế.
Vấn: Giáo Hội Công Giáo có một vị tân Giáo Hoàng là một thần học gia hàng
đầu. Mục sư có thấy được rằng sẽ có một cuộc đối thoại đại kết về thần học tốt
đẹp hơn hay chăng?
Đáp: Chúng tôi đă có được một cuộc đối thoại hào hứng và mật thiết với
Ṭa Thánh Vatican.
Thật sự Giáo Hoàng Biển Đức XVI rât ư là giỏi về thần học. Qua nhiều năm, ngài
là vị cố vấn thân cận nhất của Đức Gioan Phaolô II, và với vai tṛ lành đạo
Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin, ngài đă thực hiện vai tṛ lănh đạo quan trọng về đại
kết.
Trong mấy ngày đầu của ḿnh làm Giáo Hoàng, ngài tỏ ra muốn tiếp tục những cuộc
đối thoại quan trọng về thần học này.
Vấn: Mục sư đă tiếp nhận lời kêu gọi của ngài trong vấn đề cổ vơ những
liên hệ và hiểu biết với một số giáo hội và hệ giáo phái?”
Đáp: Tôi tiếp nhận lời kêu gọi của ngài một cách hết sức hy vọng. Trong
Thánh Lễ đầu tiên của ngài sau khi được chọn bầu làm giáo hoàng, Giáo Hoàng Biển
Đức XVI đă nói rằng công việc “hoạt động để tái thiết mối hiệp nhất trọn vẹn và
hữu h́nh của tất cả mọi thành phần môn đệ Chúa Kitô” là một công việc quan trọng.
Về phần ḿnh, ngài đă cho biết là “Vị tân Giáo Hoàng này biết rằng công việc của
ngài đó là mang ánh sáng của Chúa Kitô chiếu soi trước con người nam nữ của thế
giới này; không phải là ánh sáng của ḿnh mà là của Chúa Kitô”.
Đó là một nhắc nhở quan trọng cho tất cả chúng ta là thành phần được kêu gọi để
đóng vai tṛ lănh đạo trong Giáo Hội vậy.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,
theo Zenit ngày 25/4/2005
Giáo Chủ Anh Giáo về
vấn đề đại kết của ĐTC Biển Đức XVI
Trong buổi triều kiến chung của thành phần Đại Kết và Liên Tôn trưa Thứ Hai
25/4, có cả sự hiện diện của ĐHY Walter Kasper và Cha Don Bolen thuộc Hội Đồng
Ṭa Thánh Đặc Trách Việc Cổ Vơ Hiệp Nhất Kitô Giáo, vị Giáo Chủ Anh Giáo là
Rowan Williams, TGM Canterbury, đă được nói chuyện một chút với ĐTC Biển Đức XVI
và đă cho biết nhận định của ḿnh như sau trong một cuộc họp báo ở Đại Học Anh
Quốc ở Rôma, với sự hiện diện của cả ĐTGM Westminster là hồng y Cormac
Murphy-O’Connor, về vấn đề đại kết nơi vị tân giáo hoàng này, kể cả việc vị này
ngỏ mời ngài sang thăm Anh Quốc.
“Những ǵ đă làm cho chúng tôi cảm thấy phấn khởi trong cuộc viếng thăm này đó
là hai điều. Dĩ nhiên một điều là Giáo Hoàng Biển Đức đă tỏ ra nhấn mạnh đến
việc lấy làm ưu tiên hoạt động đại kết. Ngài đă nói về việc làm tôi tớ cho mối
hiệp nhất, và chúng ta đă cảm thấy thấm thía khi chúng tôi nghe thấy thế.
“C̣n vấn đề thứ hai mà tôi nghĩ là rất rơ ràng qua bài giảng tuyệt vời ngài đă
nói trong Lễ đăng quang đó là vấn đề chứng từ Kitô giáo hiệp nhất, một chứng từ
cho sự kiện là, như ngài đă nói trong bài giảng, ‘Phúc Âm không đ̣i chúng ta trở
nên kém nhân bản hơn mà là càng nhân bản hơn’”.
Về cuộc gặp gỡ liên tôn và đại kết với Giáo Hoàng Biển Đức XVI, vị giáo chủ Anh
Giáo cho biết:
“Đây là một cuộc gặp gỡ có nhiều nhân vật đại biểu đại kết hiện diện, bởi thế
ngài không thể nói dài được. Thế nhưng, Đức Giáo Hoàng và tôi đă nói chuyện với
nhau mấy lời, và hứa cầu nguyện lẫn cho nhau như ngài đề nghị, khi chúng tôi dấn
thân thi hành thừa tác vụ của ḿnh.
“Tôi rất hân hạnh đă có thể ngỏ lời mời vị tân Giáo Hoàng này đến Anh Quốc để
biết đến Giáo Hội Anh Quốc bao nhiêu có thể, mặc dù tất cả chúng ta đều biết
rằng lời mời này không phải là lời mời duy nhất ngài nhận được trong 24 tiếng đồ
hồ như thế”.
Vị giáo chủ Anh Giáo này c̣n nhận định về cuộc đời của vị tân Giáo Hoàng Biển
Đức XVI như sau:
“Tôi thấy rằng có ba giai đoạn trong cuộc đời của con người giờ đây là Giáo
Hoàng Biển Đức. Là một thần học gia, bắt đầu ở Đức quốc, ngài đă viết một số
điều hết sức tốt đẹp và vẫn c̣n hiệu quả về bản chất của Giáo Hội cũng như về
bản chất của đức tin Kitô giáo. Một số bản văn khá phổ thông ngài đă viết đặc
biệt trong thập niên 1970 tôi vẫn c̣n thấy đặc biệt sinh hoa kết trái.
“Giai đoạn thứ hai đó là giai đoạn ngài đặc trách chuyên môn trong công việc của
ḿnh ở Vatican về vấn đề nắm vững tín lư. Và ngài đă liên lỉ tranh đấu, bằng
những cách thức dĩ nhiên làm cho người ta cảm thấy có những lúc trở ngại, về vấn
đề làm sáng tỏ ư nghĩa vấn đề.
“Giờ đây ngài đă lănh nhận một công việc thứ ba. Ngài sẽ thi hành công việc này
ra sao chúng ta không biết, thế nhưng ngài đă tỏ dấu thật sự muốn phát triển mối
thân hữu với những người khác theo tinh thần của vị cố Giáo Hoàng của ‘Ut Unum
Sint – Xin cho họ được hiệp nhất nên một’, bằng cách lôi kéo người khác tham gia
vào cuộc đối thoại về thừa tác vụ Thánh Phêrô cần phải được hành sự.
“Đối với tôi dường như trong mấy tuần qua, cái chết và lễ an táng của Đức Gioan
Phaolô II cũng như những biến cố chung quanh lễ đăng quang của cuối tuần lễ này,
đă cho thấy một thứ tiên hưởng của một mối thân hiệp toàn cầu của dân chúng qui
tụ lại tôn thờ một cách nào đó đă vượt ra ngoài những khó khăn về những thứ ư
nghĩa liên quan đến tín lư. Chúng ta như thế thoáng nh́n thấy những lănh vực
khác của mối hiệp nhất mà riêng tôi cảm thấy rằng đó là lănh vực chúng ta đang
t́m cách thực hiện. Đó thực sự là niềm nguyện cầu của tôi vậy”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,
theo Zenit ngày 25/4/2005
Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Quê Hương, Thiên Tài và Danh Nghiệp
ĐTGM Edwin Josef Ender, vị đại diện người Đức của Giáo Hoàng ở thủ đô Bá Linh Đức quốc, đă chia sẻ với mạng điện toán toàn cầu Zenit, như được Zenit phổ biến ngày 21/4/2005, về nhận định của ḿnh về thái độ chung chung của dân chúng trong việc chấp nhận vị tân giáo hoàng và việc dấn thân đại kết Kitô giáo của vị tân giáo hoàng, như sau.
Trước hết, về thái độ của dân chúng trước vị tân giáo hoàng, vị TGM này cho biết: “Việc chấp nhận ngài dĩ nhiên không hào hứng bằng cuộc tuyển chọn Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, v́ vào bấy giờ hoàn cảnh lịch sử ở Balan rất khác biệt. Chúng ta hăy nh́n về tương lai và hăy gạt sang một bên các cuộc tranh luận”.
Sau nữa, về việc dấn thân đại kết, vị TGM này cho biết: “Tôi lạc quan về các thứ liên hệ đại kế