NHẬN ĐỊNH VỀ GIÁO HOÀNG BIỂN ĐỨC XVI

Đức Biển Đức XVI

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI: 100 Ngày Làm Giáo Hoàng 

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, Công Đồng Chung Vaticanô II và Tính Chất Tân Tiến

Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI là “Một Đối Phó của Thiên Chúa với Khuynh Hướng Tục Hóa”

ĐTC BĐXVI với Bí Tích Thánh Thể

Khoa Giáo Hội Học Hiêp Thông của Hồng Y Joseph Ratzinger

Theo Tiểu Sử Gia về Hồng Y Joseph Ratzinger thì ĐTC BĐXVI chỉ ước vọng một điều duy nhất đó là “thực hiện Thánh ý Chúa”

NGUỒN GỐC NHÂN CHỦNG HỌC CỦA GIA ĐÌNH

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI: Ý Hướng Hiệp Nhất của ngài theo nhận định của một linh mục thân quen

ĐTC Biển Đức XVI với Luật Thánh Biển Đức

“Vị GH của Bữa Tiệc Ly … liên quan đến Hiệp Nhất Kitô Giáo”: Hy vọng bừng lên từ chân trời đại kết

ĐTC Biển Đức XVI với ý nghĩa Lễ Mình Máu Thánh Chúa

Các Nữ Tu Dòng Kín Thánh Clara ở Hòa Lan cầu cho ĐHY Ratzinger được làm Giáo Hoàng

GH Biển Đức: Vị Giáo Hoàng của Hiệp Nhất Kitô Giáo: "Những cử chỉ cụ thể"

ĐTC Biển Đức XVI là Vị Thông Hiểu về ông tổ Thệ Phản Martin Lutherô

Tân Giáo Hoàng Biển Đức: Vị GH của Bữa Tiệc Ly . ... của Hiệp Thông Giáo Hội

Khoa Giáo Hội Học Hiệp Thông: Thao Thức Thần Học của HY Thần Học Gia Joseph Ratzinger

Giáo Hoàng Biển Đức XVI là một Đại Thần Học Gia Thời Hiện Đại

Một Nữ Đan Viện Biển Đức ở Tuscany vốn là Nhà Bêtania của Hồng Y Joseph Ratzinger

Một cặp vợ chồng trẻ mới được Hồng Y Ratzinger làm phép cưới cho cảm nhận về vị tân giáo hoàng

Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI là một con người yêu thích thiên nhiên và thể thao

Vị chủ tịch Liên Hiệp Thế Giới Lutherô hào hứng nơi tân giáo triều của GH Biển Đức XVI

Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Quê Hương, Thiên Tài và Danh Nghiệp

Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Một con người khổ hạnh mà vui tính

 Tân GH Biển Đức XVI: Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội hưởng ứng ý hướng đại kết Kitô giáo của ngài

 Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Chúc Mừng của Các Nhà Lãnh Đạo Chính Trị

Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Cảm Nhận của Chư Vị Giáo Phẩm trong Giáo Hội

Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Nhận Định của Chư Giới Kitô Giáo

 

 

Đức Biển Đức XVI

 

Một học giả lỗi lạc

Thao thao giảng uyên bác

Ngày đăng quang Giáo hoàng

Giòng tư duy như thác

 

Đất liền người chăn chiên

Xuống thuyền thành đánh cá

Xin vâng lời tất cả

Thầy Kitô nhân hiền

 

Lễ đăng quang ý nghĩa

Aó hoàng bào hình sò

Đồng cỏ xanh nhung tơ

Để đàn chiên nằm nghỉ

 

Giữ lửa tim nhiệt tình

Không thiết lập chương trình

Xin vâng nên đầy cá

Theo Thầy như bońg hình

 

Ra tay chống tay chèo

Lái con thuyền Giáo hội

Nghiêng ngả vẫn cố theo

Mong đàn chiên một mối

 

Chân lý trong bác ái

Trưởng thành trong đức tin

Kim chỉ nam Giáo hội

Ngài cố công giữ gìn

 

Luôn tác phong khiêm nhường

Tính tình thật dễ thương

Kinh Tin Kính giáo lý

Quyết bảo tồn kỷ cương

 

Thông thạo nhiều ngoại ngữ

Tín thác và chính truyền

Kinh nghiệm thật dư đủ

Mục vụ và giáo truyền

 

“Cầm cân nảy mực” tài

Một vấn ̣ḍề cho ngài

Có nhiều người dân ̣Đức

Đòi tự do quá mức

 

Hai anh em đi tu

Cả hai cùng linh mục

Anh cha xứ hiền từ

Còn em thành giám mục

 

Một giáo sư đại học

Mới ba chục tuổi đời

Nổi danh nhà thần học

Dạy tín lý nhiều nơi

 

Vị Chính Thống gọi ngài

Thần học gia vĩ đại

Của thời ̣đại hiện tại

Sách trước tác miệt mài

 

Ngợi ca Chuá Thánh Linh

Ban chủ chăn nhiệt tình

Đúng nhu cầu giáo hội

Hi sinh và thông minh

 

Lê ngọc Hồ

 

TOP

 

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI: 100 Ngày Làm Giáo Hoàng 

 

Vào ngày áp 100 ngày (19/4-28/7/2005) làm giáo hoàng của ĐTC Biển Đức XVI, phóng viên Tosatti chuyên viên về Vatican của tờ La Stampa đã bày tỏ nhận định của mình về vị tân giáo hoàng, vị ký giả cũng là tác giả cuốn sách bằng Ý ngữ đó là “Cuốn Tự Điển về Giáo Hoàng Ratzinger: Bản Hướng Dẫn cho Giáo Triều Ngài”.

 

Vấn:     Đâu là ý tưởng nổi bật nhất, nguyên khôi nhất và quan trọng nhất về cuốn “Tự Điển Giáo Hoàng Ratzinger”?

 

Đáp:    Tôi rất thích việc ngài suy tư về Ngai Tòa Thánh Phêrô – khó khăn và khó nuốt – cũng như về Do Thái Giáo vào thời của Chúa Giêsu. Tân Ước chẳng là gì khác ngoài việc dẫn giải về Do Thái Giáo, bắt đầu từ lịch sử của “lề luật, tiên tri và các bản văn” về Chúa Giêsu mà vào thời của Chúa Giêsu chưa đạt được hình thức trọn vẹn của mình như một sổ bộ dứt khoát cuối cùng, thế nhưng vẫn còn bỏ ngỏ và vì thế được trình bày cho thành phần môn đệ như một chứng từ về chính Chúa Giêsu, như các cuốn Sách Thánh mạc khải về mầu nhiệm của Người.


Vấn:     Hình như một phần của Âu Châu và thế giới Tây Phương hướng chiều về việc hợp pháp hóa nghịch lại với luật tự nhiên và các giáo huấn của Kitô giáo. Một cuộc đối chọi về các đề tài luân lý cũng như về mối liên hệ giữa Giáo Hội và quốc gia dường như khó có thể tránh được. Theo ý của ông thì sao?

 

Đáp:    Chắc chắn là có mối nguy hiểm này. Luật tự nhiên và quyền tự nhiên dường như đang gặp nguy hiểm ở thế giới Tây phương. Thế nhưng, một số trường hợp, tôi đang cố ý nói tới chủ trương của nhiều nhà tư tưởng “trần thế” quan trọng ở Ý trong những tháng vừa rồi, khiến cho người ta hy vọng rằng ít là một phần thế giới cho mình là Kitô giáo sẽ hiểu được những nguy cơ xuất phát từ cá nhân chủ nghĩa, từ cái châm ngôn “mọi ước muốn đều là quyền lợi”.
 

Vấn:     Ông có nghĩ rằng giáo triều Biển Đức XVI, Vị Giáo Hoàng Đức quốc đầu tiên qua nhiều thế kỷ, có thể ảnh hưởng đến những đổi thay về chính trị và văn hóa của quê hương đất nước ngài hay chăng?

 

Đáp:    Tôi không nghĩ thế. Tôi không nghĩ xứ sở sinh trưởng của ngài là mối quan tâm chính yếu của ngài. Tôi lấy làm lạ vì thấy ngài coi nó như là một phần của thế giới Tây phương, trong đó những hình thức mới của chủ nghĩa dân ngoại đang chiếm ưu thế, và trong đó đang tái hiện tình trạng mê tín dị đoan gây ra bởi thiếu hụt đức tin. Tuy nhiên, tôi nghĩ việc tuyển chọn một vị Giáo Hoàng Đức quốc có thể làm gia tăng sự hứng thú của đồng bào ngài vào hình ảnh và sứ điệp của ngài, như là một tác hiệu về lâu về dài.


Vấn:     Là tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin, và là một nhà trí thức, Đức Joseph Ratzinger đã nhúng tay một cách rõ ràng vào việc chống lại chủ nghĩa tương đối về luân lý và đạo nghĩa. Ông đã khám phá ra những gì nơi mối liên hệ này khi viết cuốn sách của ông?

 

Đáp:    Tôi đã giành hai đoạn dài cho đề tài về chủ nghĩa tương đối. Tôi đã trích dẫn ngay từ đầu là “Chủ nghĩa tương đối đã trở thành… vấn đề chính yếu của thời đại chúng ta”. Ở một đoạn khác ngài viết rằng tin tưởng vào Chúa Giêsu Kitô “được coi như một thứ bảo thủ xuất hiện như là một cuộc thực sự tấn công tinh thần tân tiến”.


Vấn:     Là chuyên viên Vatican, ông có thể cho biết nhận định tổng hợp về những ngày đầu tiên này của giáo triều Đức Biển Đức XVI hay chăng?

 

Đáp:    Tôi không dám nêu lên nhận định, cho bằng chia sẻ những cảm tưởng của mình. Ngài tiến hành một cách nhẫn nại, khôn ngoan và tế nhị, thế nhưng ngài tiến hành và thực hiện nhiều hơn là chúng ta nhận thấy. Ngài không sợ nhã nhặn nhưng hết sức rõ ràng minh bạch để nói lên những điều nào đó.

 

Từ từ ngài để cho thấy chiều kích nhân bản của ngài, một chiều kích hết sức phong phú, và là một chiều kích không phải bao giờ cũng dễ dàng đối với một con người bẽn lẽn. Ngài biết cách nói với thành phần đơn thành cũng như với thành phần triết gia, và làm cho người ta hiểu biết về ngài, và đó là một khả năng không phải là thông dụng. Tôi nghĩ rằng ngài sẽ làm nhiều điều tốt đẹp cho Giáo Hội và cho thế giới.


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit ngày 27/7/2005

 

TOP

 

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, Công Đồng Chung Vaticanô II và Tính Chất Tân Tiến

Bà Rowland ở Melbourne, Úc Đại Lợi, tác giả cuốn “Văn Hóa và Truyền Thống Thánh Tôma: Sau Công Đồng Chung Vaticanô II” (Routledge xuất bản), đã chia sẻ với mạng điện toán Zenit về lý do tại sao việc tái cứu xét và tái giải thích Hiến Chế “Vui Mừng và Hy Vọng”, một đề tài nổi bật trong công cuộc thần học của Đức Joseph Ratzinger, là những gì cần thiết để tái hướng dẫn việc Giáo Hội đương đầu với tính chất tân tiến phóng khoáng.

Theo bà, nhiều người tin rằng hiến chế “Vui Mừng và Hy Vọng” là văn kiện chính yếu làm nên đời sống của Giáo Hội những năm ngay sau Công Đồng Chung Vaticanô II. Tuy nhiên, sau 40 năm của công đồng này, văn kiện mục vụ ấy đã khiến cho nhiều người kết luận rằng văn kiện ấy không hiểu biết đầy đủ về văn hóa, nhâá là thứ văn hóa của nền văn hóa tân tiến phóng khoáng. Kết quả là, theo bà này, mới bùng lên những trào lưu trong Giáo Hội làm hư hại trầm trọng đến phụng vụ và gây ra một thứ nhân bản chủ nghĩa sai lầm mà cuối cùng đã đi đến chỗ hủy hoại việc chăm sóc mục vụ cho các linh hồn.

Vấn:     Vai trò của Đức Joseph Ratzinger tại Công Đồng Chung Vaticanô II ra sao và làm thế nào công đồng đã hình thành nên các quan điểm thần học của ngài?

Đáp:    Ngài đã tham dự Công Đồng này như là một cố vấn cho ĐHY Joseph Frings TGP Cologne. Trong một bài nói nổi tiếng, vị hồng y Frings đã khai chiến về vấn đề Tòa Thánh, và việc trao đổi giữa ngài và ĐHY Alfredo Ottaviani thường được coi là một cuộc tranh luận sôi nổi nhất Công Đồng. Người ta cho rằng vị linh mục trẻ Ratzinger đã đóng góp tư tưởng vào việc nhận định này của hồng y Frings.

Về vấn đề Công Đồng này tác dụng trên Đức Ratzinger thì việc ngài tham dự với tư cách là cố vấn đã cống hiến cho ngài một quan niệm bao rộng đáng kể thuộc lãnh vực tri thức Công giáo, một kiến thức về những vấn đề Giáo Hội phải đương đầu ở những phần đất khác nhau trên thế giới cùng với một số kinh nghiệm về việc hoạt động ở Tòa Thánh.

Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng Công Đồng đã thay đổi quan niệm của ngài cũng như các quan niệm của ngài đã làm nên Công Đồng.

Vấn:     Vị tân Giáo Hoàng này quan niệm thế nào về vai trò của Giáo Hội và mối liên hệ giữa Giáo Hội với “thế giới” như được quan niệm bởi Công Đồng Chung Vaticanô?

Đáp:    Công Đồng Chung Vaticanô II đã diễn tả Giáo Hội như là một bí tích cứu độ phổ quát. Theo đó, Giáo Hội không phải là một thực thể tách biệt khỏi thế giới mà thế giới được hòa giải với Giáo Hội và với Thiên Chúa. Đó là một thứ quan niệm người ta cho rằng do Đức Biển Đức phát động.

Trái với những nhận định phổ thông, linh đạo Âu Quốc Tinh của ngài không có nghĩa là ngài chống lại thế giới, hay là ngài tin rằng người Công giáo cần phải lần mò vào những khu ổ chuột bần cùng.

Linh đạo của ngài cho thấy ngài không phải là thành phần Pelagian. Ngài không nghĩ rằng được đầy đủ giáo dục thì Tân Gia Liêm có thể được xây dựng trên trái đất này. Nguyên việc giáo dục về quyền lợi và nghĩa vụ, những bài giảng về nhân quyền, những huấn dụ về tình yêu thương huynh đệ và công ích, sẽ chẳng đi đến đâu trừ phi con người cởi mở trước công việc của ân sủng và việc hướng dẫn của Thánh Linh.

Một thứ nhân bản không phải Kitô giáo không thể cứu thế giới. Đây là lời kết luận của vị đồng cố vấn của ngài là Hồng Y Henri de Lubac, và Đức Biển Đức đã nói một số câu rất mạnh chống lại những thứ huyênh hoang của một thứ nhân bản thuần thế tục.

Ngoài ra, trong khi ngài không biện hộ cho việc rút lui ra khỏi thế gian thì ngài đã khuyến dụ người Công giáo hãy tái phục hồi, một cách nghiêm chỉnh về phúc âm, cái can đảm không chiều theo các hướng chiều về xã hội của thế giới thịnh đạt.

Ngài đã nói rằng chúng ta cần phải can đảm để vượt lên trên những gì được coi là “bình thường” đối với một con người ở cuối thế kỷ 20, và tái khám phá ra tính cách đơn giản của đức tin. Nói cách khác, người ta có thể giao tiếp với thế giới, và ở trong thế giới, song không thuộc về thế giới.

Vấn:     Dự phóng này, một dự phóng được các Nghị Phụ Công Đồng ấy đặt để trong hieên chế “Vui Mừng và Hy Vọng”, thành công hay thất bại?

Đáp:    Trước bối cảnh của việc đọc một cách tụa hóa hiến chế “Vui Mừng và Hy Vọng”, Đức Gioan Phaolô II lập luận rằng văn kiện này cần phải được đọc theo quan điểm của Khoản 22. Tóm tắt thì khoản này nói rằng con người cần nhận biết Chúa Kitô để biết bản thân mình.

Chắc chắn là Đức Giáo Hoàng Biển Đức đồng ý rằng khoản này làm giảm đi những chữ nghĩa mâu thuẫn nếu nó được coi như cái lăng kính để đọc các phần khác của văn kiện này. Thế nhưng có bao nhiêu người Công Giáo trên thế giới, kể cả thành phần giáo sĩ, biết được tầm quan trọng của Khoản 22 ấy?

Việc giải thích phổ thông bản văn kiện này đó là nó cho thấy việc Giáo Hội công nhận tính chất tân tiến là những gì có thể chấp nhận được, và vì đó là ý muốn của Thần Linh mà người Công giáo thích ứng các việc thực hành và văn hóa của mình, kể cả văn hóa phụng vụ, với tinh thần tân tiến sớm bao nhiêu có thể.

Điều này đã gây ra việc xuất phát một thứ cách mạng về văn hóa trong Giáo Hội đến nỗi bất cứ những gì có tính cách tiền công đồng đều được đặt lại vấn đề.

Những kiểu trang phục phụng vụ, những hình thức kinh nguyện, những việc tôn sùng khác nhau, những bản thánh ca từng là một phần thuộc kho tàng văn hóa của Giáo Hội qua nhiều thế kỷ, đều chẳng những bị vứt bỏ mà còn chủ động dẹp đi nữa. Để làm một người Công Giáo hành đạo ở nhiều giáo xứ, người ta cần phải chia sẻ với nền văn hóa nhân gian thuộc thập niên 1960 và 1970.

Chống lại tình trạng này, Đức Ratzinger đã từng bị phê phán về những gì ngài gọi là “tính cách pho trương lòe loẹt và tính cách non nớt về mục vụ” – “việc hạ thấp phụng vụ xuống mức độ của một bữa tiệc trà giáo xứ và mức độ dễ hiểu của một tờ nhật báo thông dụng”.

Nếu dự phóng của hiến chế “Vui Mừng và Hy Vọng” được hiểu là “việc dàn xếp vấn đề thực hành đức tin theo văn hóa tân tiến” thì tôi nghĩ rằng dự phóng này có vấn đề về phương diện mục vụ.

Tuy nhiên, nếu nó được đọc bằng lăng kính “Thảm Kịch của Chủ Nghĩa Nhân Bản Vô Thần” của thần học gia de Lubac thì tôi nghĩ rằng dự phóng ấy đang vươn tới con người được gọi là tân tiến và giúp họ tìm thấy bản thân họ, bằng cách phổ biến thần học về thân thể của Đức Gioan Phaolô II, khoa nhân loại học Ba Ngôi của bộ thông điệp “Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần”, “Giầu Lòng Thương Xót” và “Là Chúa và Là Đấng Ban Sự Sống”, cùng với những giá trị của Phúc Âm Sự Sống nơi Thông Điệp “Phúc Âm Sự Sống” và “Rạng Ngời Chân Lý” – một dự phóng như thế thực sự mới chỉ là những gì bắt đầu và còn lâu mới khởi sự sinh hoa kết trái.

Vấn:     Về vấn đề giao tiếp của Giáo Hội với “thế giới” có vấn đề liên tục hay ngắt quãng nơi quan điểm của Giáo Hoàng Biển Đức và Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, vị góp phần chính yếu vào hiến chế “Vui Mừng và Hy Vọng” như thế nào?

Đáp:    Tôi nghĩ rằng sẽ có một sự liên tục ở chỗ Đức Biển Đức chắc chắn đồng ý là cần phải đọc hiến chế “Vui Mừng và Hy Vọng” theo kiểu của thần học gia de Lubac, là văn hóa không phải là những gì trung dung về thần học, là chúng ta phải chọn lựa giữa văn minh yêu thương và văn hóa sự chết, là Chúa Kitô và khoa nhân loại Kitô giáo cần thiết để giải cứu chúng ta khỏi mạng lưới của những thực hành văn hóa và luân lý làm hủy hoại tính cách nguyên vẹn của con người và nuôi dưỡng chủ nghĩa buông thả.

Tuy nhiên, một điểm khác biệt duy nhất về sắc thái đó là Đức Biển Đức ít có khuynh hướng sử dụng ngữ pháp đặc biệt là những gì được Đức Gioan Phaolô II ưa chuộng.

Chẳng hạn như Đức Gioan Phaolô II có lần nói rằng Giáo Hội của Công Đồng này “thấy mình như là hồn sống của tính chất tân tiến”. Rồi ngài định nghĩa tính chất tân tiến như là “một tụ điểm của những điều kiện giúp cho con người thể hiện tốt đẹp hơn tính chất trưởng thành của mình về tinh thần, luân lý và văn hóa”. Vấn đề ở đây là đó không phải là những gì được hầu hết con người ta nghĩ tới khi họ nghe thấy từ ngữ diễn tả “tính chất tân tiến”; và chắc chắn đó không phải là cách hiểu biết như người ta thấy xẩy ra nơi nhiều lập luận thức giả của thứ hiện tượng văn hóa ấy.

Từ những gì tôi đã đọc, Đức Biển Đức không theo sách lược tri thức này. Khi ngài nói về tính chất tân tiến ngài không cố gắng để tái định nghĩa lại ý nghĩa chung. Điều này có lẽ là vì ngài nghĩ rằng về ngữ pháp không có gì là lợi cho lắm khi trình bày Giáo Hội như tân tiến khi mà thành phần hậu tân tiến lại quá bận bịu với việc phê phán tính chất tân tiến. Nó chỉ làm cho người Công giáo lấy lại cho thăng bằng một thứ chủ trương đang bị lu mờ đi tính cách phổ thông của nó.

Cách thứ hai tôi nghĩ vai trò giáo hoàng của hai vị có thể khác nhau đó là trong khi Đức Gioan Phaolô II chú trọng tới đạo đức học và nhân loại học – và bởi vì đó là những đề tài chính yếu của hiến chế “Vui Mừng và Hy Vọng” – thì Đức Biển Đức có thể sẽ chú trọng nhiều hơn đến giáo hội học, tập trung vào các đề tài trong hiến chế “Ánh Sáng Muôn Dân” và sắc lệnh về đại kết cũng như với tất cả những gì về phụng vụ.

Trong cuốn “Thần Đô”, Thánh Âu Quốc Tinh viết rằng trong việc viết lên lịch sử thế giới theo sự quan phòng thần linh có một nét đẹp nào đó xuất phát từ cái tương phản của những thứ nghịch đảo, một tính chất hùng hồn nơi các biến cố thay vì nơi ngôn từ.

Khi so sánh giữa hai vai trò làm giáo hoàng này có một thứ tính cách hùng hồn về lịch sử nơi việc Đức Wojtyla, một người Balan được tuyển chọn để làm cho chủ nghĩa Marxít sụp đổ và chú trọng tới việc cổ võ một khoa nhân loại học Kitô giáo thay thế, trong khi Đức Ratzinger người Đức được tuyển chọn để đối đầu với các vấn đề gây ra bởi những thành phần mà trong đó có Lutherô và Nietzche.

Vai trò giáo hoàng này có thể chú trọng nhiều đến việc chữa lành các vết thương của Phong Trào Cải Cách được bắt đầu ở Đức, và chiến đấu với những gì được ngài gọi là “cái độc đoán của chủ nghĩa tương đối” mà giòng dõi tri thức của chủ nghĩa này cũng mang tính chất Đức quốc rất ư là mãnh liệt.

Việc này cho thấy vẻ đẹp và bàn tay can thiệp tối hậu của thần linh.

Vấn: Bà đã nói rằng trận chiến chính yếu về tri thức và thần học trong Giáo Hội là trận chiến xẩy ra giữa “thành phần theo chủ thuyết Tôma thiên Âu Quốc Tinh” và “thành phần theo chủ nghĩa Tôma thiên Whig”. Như thế có nghĩa là gì?

Đáp: Trước hết, để tôi định nghĩa về “Whig” cái đã.

Thành ngữ “Whig Thomist” được Michael Novak tạo ra để diễn tả dự án về tri thức của ông ta. Tứ ban đầu chữ “Whig” xuất phát từ từ ngữ Tô Cách Lan “Whiggamor” về một tay lùa gia xúc – mặc dù có chỗ nói là tên trộm gia cầm hay chỗ khác cho là tên trộm ngựa. Ban đầu chữ này được áp dụng cho thành phần Tín Đồ Tô Cách Lan, hầu hết ở phía tây ngạn Tô Cách Lan, thành phần chống lại động cơ của Stuart trong những trận chiến tranh thời thế kỷ 17.

Đối phương của họ là Tories – một chữ bắt nguồn từ Gaelic ám chỉ “ngoài vòng pháp luật” – bao gồm một số quí tộc, nhiều điềm chủ và nông dân. Họ là thành phần thương mại về chính sách kinh tế, thành phần trung thành về chính trị và có khuynh hướng ủng hộ việc nối ngôi của James II (1633-1701).

Qua giòng thời gian, chữ này được sử dụng để nói đến một bè phái thuộc chính trị Hiệp Vương Quốc (British). Mặc dù không bao giờ có một định nghĩa theo ý nghĩa về từ ngữ này, nhưng vì được tổng quát hóa theo xã hội học, có thể nói rằng thành phần Whigs là miêu duệ của Chủ Nghĩa Minh Tri Tô Cách lan, một chủ nghĩa chú trọng tới quyền tự do về kinh tế và chính trị, hay một thứ triết lý mới được gọi là tự do chủ nghĩa, một chủ nghĩa thường được đồng hóa với một hình thức Thanh giáo của Phong Trào Thệ Phản.

Vào thế kỷ 19, Lord Acton đã làm phổ thông hóa ý nghĩ là Thánh Tôma Aquinas là nhân vật Whig tiên khởi, tức là một nhân vật xướng xuất tiên khởi của một thứ quan niệm chính trị tân tiến, hậu Minh Tri. Bởi thế “Whig Thomism” là thành ngữ nói về một dự án tri thức tìm cách để định vị nguồn gốc về truyền thống tự do nơi tư tưởng của Thánh Tôma Aquinas cũng như để tổng hợp những yếu tố nơi truyền thống Tự Do, đặc biệt những yếu tố được cung cấp bởi Chủ Nghĩa Minh Tri Tô Cách Lan, đối với Chủ Nghĩa Tôma kinh điển.

Dự án muốn đọc Thánh Tôma Aquinas như là một nhân vật tiên khởi Whig hay Cấp Tiến đã bị một số học giả lên tiếng chỉ trích.

Chẳng hạn như Robert Kraynak, trong cuốn “Đức Tin Kitô Giáo và Dân Chủ Tân Thời”, đã viết rằng “cho dù là hấp dẫn, việc giải thích của Acton đang là những gì lừa đảo, vì Thánh Tôma bênh vực việc chia sẻ quyền lực và việc tham gia vào chính trị, chứ không phải như một thứ quyền của dân chúng đối với việc đồng ý của nghị viện, cũng không phải là phương tiện để bảo vệ các quyền lợi và quyền tự do cá nhân, mà là việc khôn khéo áp dụng lề luật tự nhiên là những gì có mục đích hiện thực hóa một cách tốt nhất ở một cấp độ vững chắc theo hiến định hướng về hòa bình, đức độ và lòng đạo hành Kitô hữu. Đó là chủ nghĩa tổ hợp của thời trung cổ được áp dụng trong khuôn khổ giáo thuyết của Thánh Âu Quốc Tinh về Hai Thành Đô, hơn là việc giải thích đầu tiên gây nên vấn đề tự do tân tiến”.

Những ai có thể được xếp một cách rộng rãi vào “thành phần theo chủ nghĩa Thánh Tôma thiên Âu Quốc Tinh” thì theo cách đọc về Thánh Tôma kiểu của Kraynak, hơn là kiểu của Acton.

Những gì tôi đã lập luận trong cuộc sách của tôi “Văn Hóa và Truyền Thống Thánh Tôma: sau Công Đồng Vatican II” đó là có một sự phân rẽ giữa những ai nghĩ rằng truyền thống Thánh Tôma cần phải thích ứng với nền văn hóa tân tiến, nhất là với những khía cạnh về kinh tế của nền văn hóa này – đó là thành phần cho mình là “Whig Thomist” – với những ai tin rằng tính chất tân tiến và truyền thống tư do của nó thực sự là độc hại cho việc phát triển đức tin.

Những ai chấp nhận chủ trương cuối cùng này không muốn bổ khuyết truyền thống Thánh Tôma bằng những liều lượng của các thứ giá trị thuộc Chủ Nghĩa Minh Tri. Họ được diễn tả một cách rất rộng, vì nhu cầu không còn danh xưng nào hay hơn, như là thành phần theo chủ nghĩa Thánh Tôma thiên Âu Quốc Tinh, ở chỗ nhất trí với ý nghĩ của Thánh Âu Quốc Tinh về hai thành đô, họ bác bỏ cái đòi hỏi của truyền thống tự do tỏ ra trung lập đối với những viễn tượng đối chọi về sự thiện và những đòi hỏi đối chọi về thần học.

Trong khi thành phần Whigs lập luận là chủ nghĩa tự do là cái bừng phát hợp lý của cuộc tổng hợp kinh điển hữu thần, thì thành phần theo chủ nghĩa Tôma thiên Âu Quốc Tinh lại cho rằng truyền thống tự do là tiêu biểu cho việc nó muốn tái kiến trúc cái biến đổi và dị giáo của nó, và họ có khuynh hướng đồng ý với Samuel Johnson rằng ma quỉ, chứ không phải Thánh Tôma Aquinas, là nhân vật Whig tiên khởi.

Bởi thế mới có hai thứ nhận định khác nhau về tính chất tân tiến, từ đó, mới có hai cách nhận định về Giáo Hội liên quan tới thế giới đương đại. Trong khi thành phần Whigs muốn Giáo Hội thích ứng với nền văn hóa hiện đại thì thành phần thiên Âu Quốc Tinh lại thích chủ trương cẩn trọng hơn nhiều.

Một vấn đề khác được tôi đề cập tới trong cuốn sách của tôi đó là những ai nghĩ rằng truyền thống tự do là một avant-garde thì sống khoảng 40 năm thụt lùi về thời gian. Chủ nghĩa tự do đã không còn là thứ truyền thống tri thức bá chủ ở thế giới Tây phương nữa vào năm 1968. Ít là vì bấy giờ trận chiến đụng độ về tri thức này đã trở thành tay ba.

Thành phần thứ nhất đều là hữu thần, đó là Công giáo, Hồi giáo, Thệ Phản v.v.; thành phần thứ hai, đó là những kẻ tin vào lý lẽ kiểu Chủ Nghĩa Minh Tri, tức là những kẻ khác nhau thuộc thành phần cấp tiến muốn cắt lìa lý trí khỏi đức tin; và thành phần thứ ba đó là thành phần hậu tân tiến, những kẻ nghĩ rằng Chủ Nghĩa Minh Tri là một kinh nghiệm rất áp bức về xã hội và tất cả mọi lối giải thích về lý lẽ một cách nào đó đều liên hệ tới những giả thuyết về thần học hay hoang đường học, nhưng họ không chấp nhận là chúng ta có thể sử dụng lý trí của chúng ta để phán đoán giữa những thứ giả thuyết đối chọi nhau về thần học ấy.

Về một số phương diện, các học giả Công giáo có thể khá hơn khi giao tiếp với thành phần hậu tân tiến này hơn là những ai cứ nhấn mạnh đến cái tách lìa triệt để giữa đức tin và lý trí, hay ít là họ không đóng đinh những sắc thái của mình một cách bất khả vãn hồi vào cây trụ tự do.

Vấn đề mà thành phần Whigs và Âu Quốc Tinh xung khắc với nhau đã qua là những gì bao gồm cả vấn đề về tính chất luân lý của những gì được gọi là “văn hóa Mỹ”, một thứ văn hóa dĩ nhiên không thu hẹp vào lãnh địa của Hiệp Chủng Quốc. Như Alasdair Maclnture nói, nó là một thứ cấu trúc về lý thuyết.

Thành phần Whigs muốn công nhận lãnh vực kinh tế quốc tế hiện nay, trong khi đó thành phần thiên Âu Quốc Tinh muốn thực hiện một biện pháp cẩn trọng hơn, lập luận rằng có những thực hiện về kinh tế mang tính chấp không hợp với giáo huấn về xã hội của Giáo Hội.

Ngoài ra, thành phần thiên Âu Quốc Tinh dường như muốn cho thấy rằng hầu hết người ta không chịu ngồi xuống để khai triển một vũ trụ quan cho mình theo những thời điểm của việc suy tư về triết học và thần học. Họ khéo léo lấy những giá trị và tư tưởng của những cơ cấu họ có liên hệ.

Thành phần thiên Âu Quốc Tinh này lập luận rằng có những khía cạnh về nền văn hóa tân tiến tỏ ra gây trở ngại cho việc triển nở vấn đề sống đạo và tin tưởng của Kitô hữu, và trừ phi nền văn hóa này được thay đổi, thì không có một thức thao luyện về tri thức nào của thành phần học giả Giáo Hội sẽ giúp ích cho hằng tỉ người Công giáo cần phải sinh sống trong thế giới này.

Noí cách khác, nếu người ta phải là một vị thánh mới không bị nhập nhiễm về luân lý bởi thứ văn hóa họ có liên hệ thì có một cái gì đó sai trái nơi nền văn hóa đó.

Tôi không nghĩ rằng đây là trận chiến chính yếu về tri thức trong Giáo Hội là mà một trận chiến quan trọng.

Vấn:     Giáo Hoàng Biển Đức XVI là một thành phần Âu Quốc Tinh ở chỗ nào? Ngài là thành phần theo chủ trương của Thánh Tôma ở chỗ nào?

 

Đáp:    Tôi có thể nói là Giáo Hoàng Biển Đức XVI là một phần tử Tôma ở chỗ ngài có lẽ hợp với hầu hết những gì Thánh Tôma viết. Tuy nhiên, ngài không phải là phần tử theo Thánh Tôma ở chỗ nại vào thẩm quyền của Thánh Tôma trong việc bênh vực đức tin, căn cứ các nỗ lực về trí thức của mình vào những tác phẩm của Thánh Tôma hay ở chỗ sử dụng phương pháp học kiểu kinh viện.

 

Trái lại, Giáo Hoàng Biển Đức là một trong nhiều phần tử thuộc thế hệ của ngài, thành phần, trong khi bất đồng ý với nội dung tư tưởng của Thánh Tôma, vẫn tin rằng việc trình bày đức tin theo kiểu kinh viện không thực sự làm cho linh hồn sinh động ngoại trừ chúng trở thành một loại linh hồn đặc biệt ham tranh luận về tri thức. Ngài đã nói rằng “triết học kinh viện có cái cao cả của nó nhưng mọi sự đều là những gì vô cảm thức”.

 

Trái lại, với Thánh Âu Quốc Tinh, “con người cảm thương, sầu đau, vấn nạn bao giờ cũng có đó, và quí vị có thể cảm thấy như thánh nhân”.

 

Đức Biển Đức cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều cái nguyên tắc về đức tin của Thánh Âu Quốc Tinh ở chỗ đức tin là cửa mở ra kiến thức. Ngài đã nói rằng ngài tin rằng nơi con người đã được ghi khắc một loại ký ức về Thiên Chúa, một loại tưởng nhớ đến Thiên Chúa, nhưng nó cần phải được làm bừng tỉnh.

 

Mầm mống Âu Quốc Tinh của ngài cũng được tỏ lộ ra nơi việc chú trọng đến siêu việt tính của vẻ đẹp và việc ngài hiểu biết được tầm quan trọng về giáo lý của ngôn ngữ cũng như của những biểu hiệu, và về mối liên hệ giữa chất thể của mô thể với bản thể.

 

Tình trạng lộn xộn về phụng vụ rất nhiều trong 30 năm qua đã được thành phần ít hiểu biết muốn đổ dồn cho thứ ngôn ngữ của phụng vụ, muốn thay thế những cử chỉ biểu hiệu bằng việc thành phần giáo dân giải thích những gì Cha đang làm – như thể tất cả chúng ta là những tay Martian không được giáo lý hóa – và rút ruột ngôn ngữ phụng vụ nơi chiều kích thi văn của nó.

 

Cho dù có những triết gia về ngữ học trần tục lập luận rằng mô thể và bản thể là những gì bất khả phân ly – tức là nếu chúng ta thay đổi ngôn ngữ, thì ở một nghĩa nào đó, chúng ta có thể thay đổi cách thức con người suy nghĩ. Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI thuộc về thành phần này, cùng với ĐHY Francis George ở Chicago, cũng như các học giả về phụng vụ chẳng hạn Aidan Nichols, OP, Đức Ông Peter Elliott, Stratfort Caldecott thuộc Trung Tâm về Đức Tin và Văn Hóa ở Oxford, và Alcuin Reid, OSB.

 

Vấn:     “Khuynh hướng Tôma thiên Âu Quốc Tinh” của Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã hình thành ra sao cách thức ngài nhận định về hiện tượng dân chủ phóng khoáng?

 

Đáp:    Theo quan điểm thiên Âu Quốc Tinh thì vấn đề lớn nhất đối với chủ nghĩa tự do đó là vấn đề nó muốn trở thành trung lập hay dửng dưng về thần học đối với các truyền thống tôn giáo. Có một danh sách dài các nhà học giả thấy rằng chủ trương tự do cấp tiến về tính cách trung lập thần học này là những gì hư tạo. Bảng liệt kê này bao gồm các Kitô hữu Anh giáo gắn bó với thành phần chính thống bảo thủ cũng như các học giả có kiến thức thần học thiên giáo phái Baptist hơn.

 

Nó không phải là một chủ trương chỉ áp dụng vào thành phần Công giáo được gọi là bảo thủ hay kiểu cực lạc giáo Montanus (thế kỷ 2). Thật vậy hầu hết thành phần hậu tân tiến đều đồng ý với lời bình phẩm này về truyền thống tự do cấp tiến. Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã làm sáng tỏ là thành phần Công giáo không được theo thứ ngữ thuật tự do trong việc tin tưởng rằng để là những người công dân tốt họ cần phải chia mình ra thành hai thứ phân nửa vừa công cộng vừa tư riêng.

 

Ngài nhận định rằng chủ nghĩa trần tục tự nó là một thứ ý hệ, một loại chủ trương về tôn giáo cho mình như là tiếng nói duy nhất của lý lẽ. Ngài thấy những quan điểm này gây ra một thách đố cho những thứ văn hóa chính trị chủ chốt của các thể chế dân chủ tự do cấp tuến hiện đại.

 

Tuy nhiên, nói như thế là nói rằng ngài chống lại chủ trương hiến định. Ngài không nói rằng Giáo Hội cần phải điều hành quốc gia. Ngài có lẽ đồng ý với câu nói của Martin Luther King rằng Giáo Hội không phải là chủ của quốc gia mà cũng chẳng phải là tôi tớ của quốc gia mà là lương tâm của quốc gia.

 

Vấn:     Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã được cho rằng là một “con người của văn hóa”, nhưng các thần học gia không biết cảm thức về đại nghệ thuật, ca nhạc hay sự mỹ dường như tỏ ra không chấp nhận như vậy. Văn hóa đóng vai trò ra sao nơi thần học và sinh hoạt chính trị?

 

Đáp:    Một trong những câu của Đức Ratzinger được tôi yêu chuộng trích dẫn đó là câu “Một thần học gia không yêu thích nghệ thuật, thi phú, ca nhạc và thiên nhiên là một con người có thể nguy hiểm!” Theo nhận định của ngài thì một cách nào đó ngài thích tinh thần người Ý hơn là người Đức, vì các thánh nhân là tất cả những người biết mường tượng – không phải là những viên chức của các bộ máy.

 

Nói cách khác, hãy coi chừng con người không yêu thích văn chương, ca nhạc, nghệ thuật, thi phú và thiên nhiên nhưng lại là thành phần rất thích trông coi việc điều khiển máy móc. Tôi chưa từng nghe những gì ngài đã nói với thành phần quan lại ở Vatican, những người được cho biết là muốn tống khứ các con mèo của ngài ra khỏi các tông phòng của ĐTC, thế nhưng họ cũng có vẻ nguy hiểm nữa – tức là thành phần quan lại này.

 

Để trả lời cho câu hỏi của quí vị về văn hóa và thần học, lãnh vực của thần học về văn hóa thì rất bao rộng. Nó đi từ luân lý của các việc thực hành khác nhau về cơ cấu và xã hội, bao gồm cả những việc thực hành thuộc các cơ cấu chính trị nữa, đến những vấn đề về khuôn phép của những loại nhạc khác nhau được sử dụng cho phụng vụ, cũng như đến những vấn đề về vai trò của ngôn ngữ trong tiến trình của việc truyền bá phúc âm hóa.

 

Chẳng hạn việc chúng ta có cần phải chấp thuận ngôn ngữ thuộc các truyền thống tri thức hận thù khi trình bày các giáo huấn của Giáo Hội hay chăng? Và cần phải áp dụng những nguyên tắc nào khi nhận thấy những gì thuộc về “các chiến lợi phẩm của người Ai Cập” cướp đoạt?

 

Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã nhận định rằng Giáo Hội là chủ thể về văn hóa của riêng Giáo Hội đối với tín hữu, thành phần còn tỏ ra rằng họ không có khuynh hướng theo chính sách mục vụ thích ứng văn hóa của Giáo Hội với bất cứ những gì xẩy ra để trở thành thời trang trong thế giới Tây Phương hiện đại.

 

Trong một bài nói với tổ chức Hiệp Sĩ Columbus, ĐHY Stafford đã nói rằng hết mọi tôn giáo trên thế giới đang rung mình trước bước tiến của nền văn hóa lồi lõm Hoa Kỳ. Tôi nghĩ rằng Giáo Hoàng Biển Đức đồng ý với nhận định này, và ngài hiểu rằng Giáo Hội, theo một nghĩa nào đó, cần phải là mẹ của văn hóa. Giáo Hội cần làm mẹ của văn hóa. Giáo Hội cần đưa sự sống về lại cho văn hóa, nhờ đó dân chúng mới có thể được dựng xây và cảm nghiệm thấy cái siêu việt tính bản thân.


Vấn:   Theo Giáo Hoàng Biển Đức thì cái lành mạnh của một nền văn hóa được đo lường bằng những chuẩn mực nào?

 

Đáp:    Trong cuốn sách của mình là “Tinh Thần Phụng Vụ”, Đức Biển Đức XVI đã đặt vấn đề là mục đích duy nhất – không phải là mục đích chính yếu mà là mục đích duy nhất – của việc giải phóng dân Do Thái khỏi vua Pharao đó là vì Thiên Chúa muốn họ có thể tôn thờ theo các qui định của Ngài.

 

Bởi thế, tôi có thể nói rằng, đối với Đức Biển Đức XVI, vấn đề quan trọng nhất về bất cứ nền văn hóa nào đó là vấn đề vị trí ra sao của phụng vụ nơi nền văn hóa đó? Phải chăng nó là sự thiện cao cả nhất? Phải chăng chúng ta đang quan tâm tới một thành đô phụng vụ? Hay phải chăng chúng ta đang quan tâm tới một thứ văn hóa bị chi phối bởi các yếu tố về kinh tế? Ai là thần linh của nền văn hóa ấy? Cái nhãn quan chủ yếu của con người là gì? Thành phần yếu bệnh và mỏng dòn được đối xử ra sao?

 

Thực tế mà nói thì có ít lợi lộc đối với Kitô hữu sống trong một thứ văn hóa cần phải được phép thi hành baât cứ loại diễn đạt phụng vụ nào, nếu, như những người Do Thái dưới thời Pharao, họ bị bắt buộc phải làm việc như thành phần nô lệ chỉ để có được nơi ở và của ăn cho gia đình mình, không có thời giờ để nguyện cầu và giải trí, tức là không có giờ cho Thiên Chúa, trong một cuộc đời bị chi phối bởi việc sống còn về thể lý.

 

Trong cùng tác phẩm ấy, Đức Biển Đức nói rằng lề luật và đạo đức học không đi đôi với nhau nếu chúng không gắn liền với với trọng tâm của phụng vụ và được phụng vụ khởi hứng tác động.

 

Ngài cũng nêu lên vấn đề là hết mọi xã hội đều có những thứ sùng bái của mình; thậm chí có những thể chế hoàn toàn vô thần duy vật cũng kiến tạo nên những hình thức sùng bái riêng. Ngài rất gần gũi với chủ trương của các học giả như Catherine Pickstock và William T. Cavanaugh, người đã lập luận rằng trong xã hội Tây Phương hiện đại, thị trường đã thay thế cho Thánh Thể như đối tượng tôn thờ của chúng ta.

 

Nói thế không có ý nói rằng ngài chống lại tư tưởng về thị trường theo bản chất của nó, thế nhưng, theo tôi nghĩ thì ngài chống lại việc làm cho việc tranh giành của thị trường thành thứ năng lực căn bản cấu đúc của một nền văn hóa.

 

Karl Polanyi đã bày tỏ chủ trương một cách khéo léo khi viết rằng một “lãnh vực tự nhiên” là một lãnh vực mà trong đó kinh tế được gắn liền với các mối liên hệ về xã hội, hơn là một thứ kinh tế mà trong đó các mối liên hệ về xã hội gắn bó với guồng máy kinh tế, làm cho xã hội trở thành một thứ đồ phụ thuộc thuần túy của thị trường.

 

Bằng việc thực hiện cuộc thử nghiệm về vị thế và bản chất của phụng vụ trong một nền văn hóa nào đó, Đức Biển Đức cũng thực hiện chủ trương rất Âu Quốc Tinh. Thánh Âu Quốc Tinh có thể nói rằng những gì chúng ta tôn thờ là dấu hiệu của những gì chúng ta yêu mến, và những gì chúng ta yêu mến là việc công bố về tấm thẻ công dân của chúng ta của Đấng làm chủ hai thành đô – thành đô của Thiên Chúa hay thành đô của con người.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit ngày 24-25/7/2005

TOP

 

Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI là “Một Đối Phó của Thiên Chúa với Khuynh Hướng Tục Hóa”

 

ĐTGM Paul Cordes, một người bạn lâu đời của ĐHY Joseph Ratzinger tin rằng vị tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI là “Một Đối Phó của Thiên Chúa” đối với tình trạng tràn lan chủ nghĩa trần tục. Trong cuộc phỏng vấn với mạng lưới điện toán toàn cầu Zenit, vị chủ tịch 70 tuổi của Hội Đồng Tòa Thánh “Đồng Tâm” Cor Unum, đã diễn tả một số đặc tính chính yếu của Đức Thánh Cha Biển Đức như sau:  

 

Vấn:     Theo một số quan sát viên thì Đức Gioan Phaolô II đã là vị giáo hoàng đối phó với chủ nghĩa hưởng thụ và Đức Thánh Cha Biển Đức XVI sẽ là vị giáo hoàng đối phó với chủ nghĩa tương đối về luân lý và tôn giáo. Theo ý của ĐTGM thì chủ trương này xác thực tới đâu?

 

Đáp:    Với những chọn tuyển của mình, chắc chắn Thiên Chúa đã có trong trí của mình về tiểu sử từng trải và khả năng chuyên biệt của thành phần sứ giả được Ngài sai đến.

 

Vào thời trẻ của mình và với vai trò làm giám mục ở Krakow, cuộc sống của Đức cố Giáo Hoàng đã trải qua kinh nghiệm cộng sản đau thương. Và vì lý do đó, ngài đã chiến đấu một cách nhiệt liệt các lực lượng vô thần của chế độ này…

 

Với tư cách là Giám Mục Rôma, ngài không thôi tranh đấu trước các vị hoàng vương và tổng thống cho tự do và phẩm giá con người. Tiếc thay, ước vọng muốn viếng thăm Nga Sô và Trung Quốc của ngài không được đáp ứng.

 

Là một giáo sư thần học, ĐGH Biển Đức XVI bao giờ cũng truyền đạt chân lý đức tin và Truyền Thống một cách minh bạch và trọn vẹn. Ngài đã hình thành các vị linh mục và giáo lý viên tương lai ở đại học đường. Ngài đã cố gắng nhận định và truyền bá trong giới trí thức những luận cứ để hiểu biết Mạc Khải.

 

Là tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin, ngài đã giúp Đức Gioan Phaolô II trong việc hình thành những chỉ dẫn về thần học cho dân Chúa; chỉ cần nghĩ đến việc soạn thảo cuốn Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo là đủ.

 

Bởi thế, là Giáo Hoàng, ngài sẽ không thôi đương đầu với chủ nghĩa tương đối về luân lý và đạo nghĩa.


Vấn:     Có một ký giả đã nói rằng Đức Gioan Phaolô II là vị làm đầy những quảng trường, còn Đức Biển Đức XVI là vị làm đầy những nhà thờ. Căn cứ vào nhiệt tình diễn ra trong những tháng đều tiên này thì dường như Đức Biển Đức XVI sẽ làm đầy cả các quảng trường lẫn các nhà thờ. ĐTGM nghĩ sao?

 

Đáp:    Tôi hoàn toàn đồng ý với quí vị. Đoàn lũ hành hương tuốn đến Rôma là những gì đủ cho thấy rằng nhận định này của người phóng viên ấy thật là vững chắc.

 

Chắc chắn Đức Gioan Phaolô II từ trời cao đã giúp và tiếp tục giúp vào việc làm cho việc mộ mến con người và thừa tác vụ của Đức Giáo Hoàng Joseph Ratzinger có một âm hưởng lạ lùng như thế…
 
Vấn:     Một yếu tố quan trọng khác nữa đó là tính cách mới mẻ của vị Giáo Hoàng người Đức sau gần 1000 năm. Sự kiện này lại càng quan trọng hơn khi nó xẩy ra sau biến cố sụp đổ Bức Tường Bá Linh. Thánh Biển Đức đã cứu văn minh khỏi bị tàn rụi bởi Đế Quốc Rôma; Đức Biển Đức XVI đã được trao phó cho công việc làm tái sinh động truyền thống Kitô Giáo và Do Thái Giáo ở Âu Châu và Tây Phương trước tình trạng thoái hóa về luân lý và đạo nghĩa. Đức quốc là một quốc gia quyết định cho tương lai của Âu Châu, và vì thế, vị Giáo Hoàng Đức Quốc mới là những gì được quan phòng. ĐTGM nghĩ sao?

 

Đáp:    Chủ nghĩa tục hóa của thế giới được gọi là Thế Giới Đệ Nhất đã từng là những gì hết sức quan tâm của Đức Gioan Phaolô II.

 

Mặc dù ngài đã xuất thân từ một miền đất sâu xa theo truyền thống Kitô giáo, một truyền thống nhờ những thách đố về chính trị đã thành đạt trong việc làm cho nó trở thành năng động về đạo nghĩa hơn, song ngài vẫn thấy rõ những dấu hiệu suy thoái của nó.

 

Đó là lý do, vào dịp viếng thăm Áo quốc năm 1983, bất chấp sự kiện được khuyên can bởi thành phần ngoại giao viên của giáo hội, ngài đã muốn đến viếng thăm Kahlenberg ở khu vực ngoại ô Vienna, để tưởng niệm đệ tam bách chu niên “cuộc chiến thắng may mắn” là cuộc chiến thắng đã bảo vệ Âu Châu khỏi bị xâm chiếm bởi Người Thổ Nhĩ Kỳ và tôn giáo của họ.

 

Khi gặp gỡ các vị giám mục Áo quốc vào dịp ấy, ngài đã bày tỏ những tư tưởng sắc bén về tình trạng bệnh hoạn của Âu Châu thế này: “Kinh nghiệm về tình trạng rõ ràng thiếu vắng Thiên Chúa đè nặng chẳng những trên những ai vắng mặt hay những ai xa cách nhất mà còn trên đại chúng nữa. Bởi thế Vị Mục Tử Nhân Lành cảm thấy cần phải giành chỗ trên thế giới, nhất là trong Giáo Hội, cho ánh sáng xuất phát từ đức tin trước sự hiện diện sống động của Thiên Chúa”.

 

Vị tân Giáo Hoàng này chắc chắn là một đối phó của Thiên Chúa với tình trạng hiểm nghèo về chủ nghĩa tục hóa. Không phải chỉ có danh xưng được ngài chọn có liên quan đến vấn đề này đâu. Giáo Hoàng Biển Đức đã rõ ràng bày tỏ niềm tiếc xót của ngài về tình trạng thiếu tôn kính Thiên Chúa trong lời mở đầu của Bản Hiệp Định Hiến Pháp Âu Châu.

 

Tuy nhiên, vì một số lý do, tôi nghĩ rằng không được quá nhấn mạnh đến việc Đức quốc góp phần vào việc đứng đắn thiết dựng Kitô giáo ở Âu Châu.

 

Trái lại, tôi căn cứ vào việc tái sinh động đức tin nơi châu lục của chúng ta đây là nhờ các phong trào mới về tu đức xuất phát ở Ý, Tây Ban Nha và Pháp, và là những gì thấy được nơi nguồn gốc của Ngày Giới Trẻ Thế Giới.

 

ĐGH Biển Đức XVI cũng thấy rằng cần phải mời họ đến Rôma một lần nữa vào dịp Lễ Hiện Xuống 2006 để thực hiện một cuộc đại hội.
 
Vấn:     Nhiều quan sát viên đã diễn tả ĐHY Joseph Ratzinger như vị nghiêm bảo quản tính cách chính thống. Là người có cơ hội biết vị Giáo Hoàng này, ĐTGM có thể nhận định về người đã diễn tả về chính mình như là “một lao công đơn thành khiêm hạ trong vườn nho Chúa” hay chăng?

Đáp:    Chắc chắc rồi, chỉ cần ít tuần lễ trong giáo triều của mình đã đủ để loại trừ đi thành kiến này. Những ai biết Hồng Y Ratzinger chưa bao giờ đồng ý với ý nghĩ đó cả. Những ai không biết ngài, giờ đây đã có cơ hội để thay đổi ý nghĩ của họ.

Lý do tại sao ngài đã bị tai tiếng như thế là vì sự kiện ngài luôn luôn phải nhắc nhở về các thứ chân lý bất hợp với đức tin và Truyền Thống. Thế nhưng, làm thế nào để những ai truyền đạt những vấn đề ấy có thể tránh khỏi tâm trạng bất mãn đây? Trong lúc họ lại làm giảm thiểu đi vấn đề này hay khó lòng nhìn nhận những gì tích cực của vấn đề.

Thế giới đầy thông tin tín liệu này bao giờ cũng mang đặc tính hung hăng của một số phóng viên ký giả. Thế nhưng họ đã lạ lùng bỡ ngỡ trước muôn vàn giáo lữ đến để nhìn Đức Gioan Phaolô II hay trước những ai không ngờ lại muốn đến thấy và nghe Đức Biển Đức XVI.
 
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit ngày 21/7/2005

  

TOP

 

 

ĐTC BĐXVI với Bí Tích Thánh Thể

 

Trong cuộc phỏng vấn với mạng điện toán toàn cầu Zenit, linh mục John Corapi đã cho biết ưu tiên lớn của vị tân giáo hoàng Biên Đức XVI này là vấn đề phục hồi chức linh mục và phụng vụ thánh.

 

Vị linh mục này trước đây là một thương gia, bị nghiện ngập và trở thành vô gia cư trước khi trải qua một cuộc hoán cải tâm linh mãnh liệt. Sauk hi học ở Hoa Kỳ và ở Đại Học Navarre ở Tây Ban Nha, ngài đã chịu chức vào năm 1991, lúc ngài 44 tuổi.

 

Ngài là một phần tử của Hội Dòng Đức Bà Chúa Ba Ngôi và hiện nay là một nhà giảng thuyết cho các tuần phòng, các buổi tĩnh tâm và các cuộc nghị hội khắp Hoa Kỳ. Ngài thường có mặt trên truyền hình IWTN.

 

Vấn:     Thánh Thể đã đóng vai trò ra sao trong việc hoán cải con người của cha?

 

Đáp:    “Cuộc trở lại” nguyên khởi làm tôi trở về với việc sống đức tin Công giáo, một đức tin tôi đã được tái sinh, đã diễn tiến một cách cổ xưa.

 

Việc tiến triển xẩy ra từ tình trạng thành công và phúc lợi trần thế đến tình trạng mất mát, bị bỏ rơi và hoàn toàn cơ cực; từ tình trạng của một triệu phú đến kẻ vô gia cư. Sự kiện bị rơi xuống cảnh cùng tận đã xẩy ra trong vòng 5 năm.

 

Có một chiều kích giáo dục nơi việc chịu đựng khổ đau, như người con phung phí của Phúc Âm đã cho thấy. Thế rồi, tôi đi từ việc đọc 1 Kinh Kính Mừng mỗi ngày tới việc lần hạt mân côi hằng ngày. Việc này đã dẫn tôi đến bí tích thống hối hay đến việc xưng tội, rồi đến Thánh Thể.

 

Tôi liền đi lễ hằng ngày. Điều ấy đã đưa tôi đến chỗ khát khao hơn nữa trong việc nhận biết Thiên Chúa, yêu mến Thiên Chúa và phụng sự Thiên Chúa. Việc tôn thờ Thánh Thể đã trở nên phần đời của tôi. Việc ấy đưa tôi đến đời tập sinh tu sĩ, đoạn tới chủng viện, và tới vấn đề học thần học ở Âu Châu với cấp bằng tiến sĩ.

 

Tôi được thụ phong bởi Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II vào Chúa Nhật Lễ Chúa Ba Ngôi năm 1991. Đêm hôm trước, bề trên của tôi và tôi cầu nguyện trước Thánh Thể thâu đêm để sửa soạn cho việc chịu chức. Tôi vẫn cảm nghiệm được việc hoán cải hằng ngày khi tôi cử hành Thánh Lễ thường nhật và nguyện cầu trước Thánh Thể mỗi ngày.

 

Mạch nguồn của bất cứ mãnh lực nào có được nơi việc giảng giải của tôi, việc giảng giải giờ đây đã lên tới cả hằng triệu người, cả Công Giáo lẫn không, đều xuất phát từ Thánh Thể. Chúa Giêsu Thánh Thể là Cây Nho. Chúng ta là cành nho. Không có Người chúng ta chẳng làm gì nổi.


Vấn:     Đức Biển Đức XVI, tại Hội Nghị Thánh Thể mới đây ở Ý, đã đề cập tới “Thánh Thể như là bí tích hiệp nhất”. Làm sao chúng ta có thể tìm cách hiệp nhất với các giáo phái Kitô hữu khác bằng Thánh Thể?

 

Đáp:    Đức Biển Đức XVI, cũng như tất cả mọi vị giáo hoàng gần đây, sẽ tiếp tục nhấn mạnh đến Thánh Thể như là một bí tích hiệp nhất. Là “Bánh Sự Sống” bao gồm nhiều hạt lúa để làm thành một Tấm Bánh duy nhất, Thánh Thể cuối cùng cũng sẽ tác dụng mối hiệp nhất nơi nhiều cá nhân, nhiều tôn giáo v.v.

 

Thánh Thể là chìa khóa để hiện thực hóa vấn đề “một Chủ Chiên và một đàn chiên” là tình trạng chúng ta tất cả cần phải nguyện cầu. Tuy nhiên, giữa bây giờ và bấy giờ, có một vực thẳm chỉ có thể được lấp đầy bằng Thánh Linh mà thôi. Chúng tat hi hành phần của mình, nhưng thời giờ thuộc về Thiên Chúa.

 

Chúa Giêsu đã rõ ràng nhắc nhở chúng ta rằng “Thày đến không phải để đem bình an mà là chia rẽ… để nhà có 5 thì ba chống lại hai và hai chống lại ba, cha chống lại con và con chống lại cha…” Nói thế Vị Hoàng Tử Hòa Bình này cố ý nói gì? Thực sự là việc hiên ngang và minh nhiên loan truyền chân lý là những gì sẽ gây ra phân rẽ trước hết. Chúng ta biết được điều này bởi kinh nghiệm chung. Có một số người công nhận, một số không.

 

Để Thánh Thể tác dụng vào mối hiệp nhất, người Công giáo cần phải thực sự là dân Thánh Thể, chứ không phải chỉ bằng lời nói suông. Cái lỗ hổng giữa những gì chúng ta tuyên xưng và những gì chúng ta sống cần phải được hẹp lại cho đến khi Thánh Thể thực sự là nguồn mạch chân thực, là tâm điểm và là tổt đỉnh của đời sống Kitô hữu.

 

Chúng ta cần phải dạy tín lý về Thánh Thể một cách rõ ràng minh bạch và một cách trung thực, rồi chúng ta sống tín lý ấy một cách mạnh mẽ và trọn vẹn. Để rồi, khi thế giới nhìn thấy cách chúng ta tin tưởng, sống động và yêu thương họ sẽ bị thu hút như một cục nam châm.


Vấn:     Cho tới nay cha nhận thấy ra sao về Đức Biển Đức XVI và việc ngài chú tâm tôn sùng Thánh Thể, và cha nghĩ gì về chiều hướng này của giáo triều ngài?

 

Đáp:    Khi Hồng Y Ratzinger chọn danh hiệu Biển Đức XVI, tôi liền thực hiện một vài nghiên cứu để hiểu tại sao ngài lại chọn danh hiệu này, một danh hiệu thường cho thấy chiều hướng của vị tân giáo hoàng.

 

Tôi tin rằng tôi đã tìm thấy một cái mấu chốt thực sự những gì Đức Biển Đức XV chú trọng nhất. Chắc chắc là ngài chú trọng tới việc bảo trì và/hay phục hồi hòa bình ở những ngày tao loạn liên quan tới Thế Chiến I.

 

Tuy nhiên, đối với tôi, ngài cũng rất chú trọng tới việc phục hồi chức linh mục và phụng vụ thánh. Dĩ nhiên, về phụng vụ thánh, theo lịch sử, cũng đóng vai trò thật quan trọng đối với chính đặc sủng của dòng Biển Đức.

 

Thế nhưng, vấn đề cần chú ý tới nhất có thể ở Thông Điệp đáng kể nhất của ngài “Humani Generis Redemptionem”, một thông điệp chúng ta tìm được cái mấu chốt cho giáo triều của Đức Biển Đức XVI.

 

Văn kiện ấy quan tâm tới việc phục hồi thiên chức linh mục và sửa soạn cho những nhà rao giảng Phúc Âm lành nghề. Người ta không thể nào xứng hợp đến với Năm Thánh Thể mà lại không để ý tới chức linh mục thừa tác. Vấn đề dễ hiểu thôi, vì không có linh mục cũng không có Thánh Thể. Chúa Giêsu thiết lập hai bí tích này chung với nhau và cả hai liên kết với nhau một cách bất khả phân ly.

 

Tôi tin rằng việc giáo dục và thánh đức xứng hợp cho các linh mục là vấn đề quan trọng nhất đối với Đức Thánh Cha mới này. Dĩ nhiên, vấn đề này đã được gồm tóm rất nhiều nơi khuynh hướng tỏ tường của ngài về việc “cải tổ việc canh tân” về phụng vụ thánh. Không phải là vấn đề trở lại với những ngày trước Công Đồng Chung Vaticanô II, mà là hiểu cùng thực hành đúng đắn và xứng hợp với những gì Công Đồng Chung Vaticanô II thực sự mong muốn.

 

Tôi tin rằng đó là một trong những quan tâm chính nơi nhãn quan của vị tân Giáo Hoàng về Giáo Hội: đó là những vị linh mục thánh thiện và được huấn luyện đàng hoàng, cũng như việc tôn kính và mến yêu đối với Chúa Giêsu Kitô trong Bí Tích Thánh Thể.

 

Điều này sẽ tự nhiên đưa đến chỗ hết sức chú trọng và yêu thích việc tôn thờ Bí Tích Thánh. Đức Biển Đức XV muốn giáo dục một cách xứng hợp các vị giảng thuyết – vế tín lý chân thực – nhất là những vị giảng thuyết thánh đức. Quí vị không thể cho những gì quí vị không có, và Chúa Giêsu Kitô là tất cả những gì chúng ta cần phải trao ban.

 

Vấn:     Cha có những dự án nào cho năm được giành để tôn kính Thánh Thể để cổ động việc tôn sùng Thánh Thể hay chăng?

 

Đáp:    Tôi đã thực hiện một loạt bài mới mang tựa đề là “Quyền Lực của Thánh Thể”, một tựa đề là đề tài của tất cả mọi cuộc giảng phòng của tôi khắp xứ sở này trong năm Thánh Thể đây.

 

Tôi đang cố gắng tập trung vào đề tài này, cố gắng vừa giáo dục vừa phấn chấn tín hữu trong việc hiểu biết hơn nữa về tín lý Thánh Thể cũng như về việc yêu chuộng thực hành đưa đến chỗ tôn kính trong Thánh Lễ và thực hiện Giờ Thánh, hay một “phút thánh”, như tôi nói với dân chúng.

 

Nếu quí vị không thể làm được một giờ thánh, thì hãy làm một phút thánh. Quí vị không thể qua mặt Thiên Chúa về lòng quảng đại được. Nếu chúng ta hiến dâng cho Ngài một ít thời gian của mình, Ngài sẽ trả lại cho chúng ta rất nhiều hơn nữa.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit ngày 3/7/2005

 

TOP

 

Khoa Giáo Hội Học Hiêp Thông của Hồng Y Joseph Ratzinger

 

Theo tôi, kể cả tác phẩm vừa được xuất bản hôm 21/6/2005, ĐHY Joseph Ratzinger đã viết tới 54 tác phẩm về nhiều lãnh vực, nhưng có thể tóm lại trong 2 đề tài chính yếu, đó là đề tài về văn hóa thời đại nói chung và Âu Châu nói riêng, và đề tài về giáo hội học liên quan đến cả phụng vụ lẫn thần học và đại kết.

 

Đó là lý do, ngay khi ngài vừa lên làm Giáo Hoàng, tôi đã cảm thấy được khoa thần học về giáo hội hiệp thông của ngài, để rồi sau đó tôi đã soạn thảo và cho xuất bản tác phẩm bao gồm cả hai phương diện văn hóa thời đại (liên quan đến Âu Châu) và Giáo Hội (liên quan đến hiệp nhất Kitô giáo), một tác phẩm mang tựa đề: “Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Vị Giáo Hoàng của Hiệp Nhất Kitô Giáo và cho Một Tân Âu Châu”, phát hành vào ngày 13/5/2005, sau ngày (19/4/2005) ngài được bầu giáo hoàng gần 1 tháng.

 

Trong tác phẩm về ngài này, tôi đã phổ biến bài diễn giải rất hay của ngài về Khoa Giáo Hội Học của Công Đồng Chung Vaticanô II (Khoa Giáo Hội Học của Công Ðồng Chung Vaticanô II).

 

Trong cuốn “Được Kêu Gọi Hiệp Thông: Hiểu Biết Giáo Hội Ngày Nay”, hồng y Ratzinger đã nói tới nguồn gốc và yếu tính của Giáo Hội, vai trò giáo hoàng và quyền bính Thánh Phêrô, mối hiệp nhất và ‘hiệp thông’ của Thân Thể Chúa Kitô. 

 

Để hiểu rõ hơn về khoa giáo hội học này của vị tân giáo hoàng của chúng ta, cha Matthew Lamb, giám đốc trường thần học và giáo sư thần học ở Đại Học Ave Maria đã chia sẻ với mạng điện toán toàn cầu Zenit tổng quan về một số đề tài được đề cập tới trong tác phẩm trên của vị hồng y thần học gia vừa trổ thành giáo hoàng này.

 

Vấn:     Kiến thức của Hồng Y Ratzinger ra sao về nguồn gốc và yếu tính của Giáo Hội, như được phác họa trong tác phẩm của ngài?

 

Đáp:    Đọc cuốn “Được kêu gọi Hiệp Thông” là một niềm vui cho tâm trí.

 

Vào lúc phát hành cuốn sách này, ĐHY Ratzinger đã gọi nó là “cơ bản cho khoa giáo hội học Công Giáo”. Như những cuốn sách về thần học khác của mình, cuốn sách này đã tuyệt vời phục hồi cho thời đại của chúng ta truyền thống cao cả của Công Giáo về sự khôn ngoan, về mối hòa hợp với “toàn thể” sự hiện diện sáng tạo và cứu chuộc của Thiên Chúa Ba Ngôi.

 

“Công giáo” có nghĩa là sống “trọn vẹn” sự hiện diện thần linh này. Đường lối khôn ngoan ấy cho thấy Tân Ước đã kín múc từ và làm hoàn trọn giao ước với dân Do Thái ra sao. Dân Do Thái đã được chọn tuyển và được dẫn ra khỏi Ai Cập để tôn thờ Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất, nhờ đó, làm chứng cho tất cả mọi dân nước.

 

Trong việc rao giảng, truyền dạy và hành động của mình, Chúa Giêsu Kitô đã làm hoàn tất những lời hứa thiên sai. Trong bữa tiệc ly, Chúa đã khởi xướng Tân Ước bằng mình máu chí thánh của mình. Đức Ratzinger đã viết trong tác phẩm “Được Kêu Gọi Hiệp Thông” rằng: “Chúa Giêsu loan báo việc sụp đổ của nghi lễ cũ và …. Hứa hẹn một việc tôn thờ mới cao cả hơn được tập trung nơi thân xác hiển vinh của Người”. 

 

Chúa Giêsu loan báo Vương Quốc Thiên Chúa hằng hữu như “hoạt động hiện tại của Thiên Chúa” nơi ngôi vị thần linh nhập thể của Người. Như Cha sai Chúa Giêsu Kitô thế nào, về phần mình, Chúa Giêsu cũng sai các tông đồ và môn đệ của Người như vậy.

 

Nguồn gốc của Giáo Hội là Chúa Giêsu Kitô, Đấng sai Giáo Hội đi như Cha đã sai Người. Các vị tông đồ và môn đệ, cùng với thành phần thừa kế của các vị qua giòng thời gian, làm nên Giáo Hội như một “ecclesia”, một cuộc qui tụ “dân Chúa”.

 

Trích dẫn từ luận án tiến sĩ của mình về Giáo Hội theo thần học của Thánh Âu Quốc Tinh, Đức Ratzinger cho thấy rằng dân Chúa là những gì được Thánh Phaolô gọi là “thân thể của Chúa Kitô”. Yếu tính của Giáo Hội là dân của Thiên Chúa như Thân Thể của Chúa Kitô, một Thân Thể gồm có đầu và các chi thể, nhờ Thánh Thần, hiệp nhất trong mối hiệp thông hữu hình với các vị thừa kế các Tông Đồ, hiệp nhất với Giáo Hoàng là vị thừa kế Thánh Phêrô.

 

Qua các thế hệ, Giáo Hội tiếp tục các sứ vụ hữu hình và vô hình của Con và Thánh Linh qua việc rao giảng và giảng dạy về Con và về Thánh Thần, bằng việc rao truyền và giảng dạy, bằng các bí tích thánh hóa và bằng việc quản trị thống nhất bởi mối hiệp thông của mình với vị thừa kế Thánh Phêrô.

 

Vấn:     Trong cuốn “Được Kêu Gọi Hiệp Thông”, ngài đã nghĩ gì về vai trò của Giáo Hoàng trong Giáo Hội?

 

Đáp:    “Còn là Đá và trên đá này Thày sẽ xây Giáo Hội của Thày… Thày sẽ trao cho con chìa khóa nước trời”. Trong Phúc Âm Mathêu đoạn 16:17-19, những lời chân thật này của Chúa Giêsu đã vượt lên trên những cuộc luận chiến theo niềm tin giáo phái. Từ những lời ấy Đức Ratzinger đã nêu lên vai trò của vị Giáo Hoàng.

 

Căn cứ vào sứ vụ Thánh Phêrô được ủy thác ngài thấy rằng thánh Phêrô được ủy thác cho sứ vụ thứ tha tội lỗi. Như ngài đã viết trong cuốn “Được Kêu Gọi Hiệp Thông”, nó là một sứ vụ ban phát “ơn tha thứ. Nó tạo nên Giáo Hội. Giáo Hội được xây dựng trên sự thứ tha. Chính bản thân Thánh Phêrô là biểu hiện cho sự thật này, vì ngài được phép trở thành người cầm giữ chìa khóa sau khi đã sa ngã, đã thú tội và đã lãnh nhận ơn tha thứ”.

 

Vấn:     ĐHY Ratzinger đã nhận định về tối thượng quyền Phêrô và mối hiệp nhất của Giáo Hội ra sao?

 

Đáp:    Trước hết ngài chứng tỏ cho thấy sứ vụ Phêrô trong toàn thể truyền thống Tân Ước. Yếu tính của vai trò làm môn đệ là ở việc làm chứng cho Chúa Giêsu phục sinh. Đức Ratzinger đã cho thấy thượng quyền Phêrô ở ngay vai trò này, như được chứng thực bởi Thánh Phaolô, vị thậm chí có lúc đối đầu với tông đồ Phêrô, cũng nhìn nhận trong Thư Thứ Nhất gửi giáo đoàn Côrintô 15:5 rằng Phêrô là ‘Cephas’ – tiếng Aramaic nghĩa là ‘đá’ – nơi việc tông đồ Phêrô làm chứng cho Chúa Kitô phục sinh.

 

Bởi thế tông đồ Phêrô là bảo viên của một Phúc Âm chung duy nhất. Tất cả các Phúc Âm nhất lãm đều đồng ý việc trao cho tông đồ Phêrô thượng quyền trong danh sách các vị tông đồ. Sứ vụ của Thánh Phêrô trước hết là hiện thực mối hiệp nhất nơi các vị tông đồ trong việc các vị làm chứng cho Chúa Kitô phục sinh cũng như trong sứ vụ của các vị được Người ủy thác cho.

 

Như Đức Ratzinger đã viết trong cuốn “Được Kêu Gọi Hiệp Thông”, sau đó những giáo phận hay tòa giám mục được đồng hóa với các vị tông đồ đã trở thành những gì nổi bật, và, như Thánh Irenaues đã chứng thực ở thế kỷ thứ hai, những giáo tòa này đã nhìn nhận tiêu chuẩn quyết liệt được thi hành bởi “Giáo Hội Rôma là nơi Thánh Phêrô và Phaolô tử đạo. Chính nhờ Giáo Hội này mà hết mọi cộng đồng đã đồng nhất; Rôma là tiểu chuẩn cho tất cả truyền thống tông đồ đích thực”.


Vấn:     Vai trò giáo hoàng làm thế nào để có thể dễ dàng hóa mối hiệp thông hay ‘communio’ trong Giáo Hội?

 

Đáp:    Vai trò giáo hoàng dễ dàng hóa ‘mối hiệp thông’ chính là nhờ ở việc làm chứng cho một thực tại siêu việt về Chúa Kitô phục sinh. Điều này là những gì hiển nhiên nơi các vị thừa kế tiên khởi của Thánh Phêrô. Như Thánh Phêrô, các vị cũng làm chứng cho sứ vụ Thánh Phêrô đã lãnh nhận – nhiều vị giáo hoàng thời Giáo Hội sơ khai đã chịu tử đạo.

 

Chìa khóa Nước Trời chính là những lời thứ tha mà chỉ có duy một mình Thiên Chúa mới có thể thực sự trao quyền cho thôi. Vai trò giáo hoàng cổ võ mối hiệp thông bằng việc trung thành với sự thật của phúc âm cũng như của sứ vụ cứu độ thứ tha theo bí tích. Trong cuốn “Được Kêu Gọi Hiệp Thông”, Đức Ratzinger đã viết: “Bằng việc tử nạn của mình, Chúa Giêsu đã đẩy tảng đá lấp miệng tử thần, tức là lấp đi quyền lực hỏa ngục, nhờ đó, từ cuộc tử nạn của Người, quyền năng tha tội không ngừng trào ban”.

 

Sau đó, Đức Ratzinger đã trở lại đề tài này về việc các vị tông đồ và thành phần thừa kế của các vị cần phải thực hiện sứ vụ thứ tha vì các vị được ủy thác cho một sứ vụ mà chỉ có Thiên Chúa Ba Ngôi mới có thể hoàn thành.

 

Bởi thế, những lời lẽ của ngài trong cuốn “Được Kêu Gọi Hiệp Thông”, đã âm vang sau khi ngài được chọn làm Đức Biển Đức XVI: “Những con người có vấn đề này” – tức các vị tông đồ – “quá ư là bất xứng một cách tỏ tường và hiển nhiên với phận sự ấy” – phận sự làm tảng đá vững chắc nơi niềm tin và cuộc sống của mình – “mà chính việc ban quyền để con người thành tảng đá ấy cho thấy rõ ràng là không phải các vị bảo trì Giáo Hội cho bằng chính duy một mình Thiên Chúa làm điều này, Đấng làm điều này còn hơn  là họ làm nữa cho dù họ là loài người”. 

 

Chỉ nhờ việc tha thứ như thế hoàn toàn trung thành với Chúa Giêsu Kitô và dưới sự hướng dẫn của Thánh Linh mà mối hiệp thông trọn vẹn nơi Thân Thể Chúa Kitô mới được thực hiện. “Khoa giáo hội học Thánh Thể” của Đức Ratzinger là khoa theo chiều hướng của các Vị Giáo Phụ trong việc liên kết chiều tung kích của mình máu phục sinh, linh hồn và thiên tính Chúa Kitô trong Bí Tích Thánh Thể với chiều hoành kích của việc qui tụ thành phần môn đệ Chúa Kitô.

 

Đức Ratzinger viết: “Các Vị Giáo Phụ đã tóm gọn hai khía cạnh này – khía cạnh Thánh Thể và qui tụ – vào một chữ ‘hiệp thông’, mối hiệp thông một lần nữa trở thành những gì được chú trọng hôm nay đây”.

 

Vấn:     Trong bài phát biểu đầu tiên của mình, Giáo Hoàng Biển Đức nói rằng ngài muốn theo đuổi việc dấn thân thực hiện Công Đồng Chung Vaticanô II. Điều này nghĩa là gì?

 

Đáp:    Nghĩa là ngài thực sự quyết tâm theo bước của các vị tiền nhiệm trong việc áp dụng những giáo huấn của Công Đồng Chung Vaticanô II. Ngài thấy Công Đồng này như một chiếc “địa bàn” để nhờ đó khai mào cho ngàn năm thứ ba của thế giới Công giáo. Chúng ta không cần đến một Công Đồng khác – Giáo Hội vẫn kín múc những kho táng của Công Đồng Chung Vaticanô II.

 

Ngài cũng cho thấy rằng việc áp dụng này thực sự là “Công giáo”, hay theo “toàn diện”. Đối với một việc áp dụng thi hành như thế chỉ có thể xẩy ra “trong việc liên tục trung thành với hai ngàn năm truyền thống của Giáo Hội”. Chỉ hiệp thông với toàn thể Giáo Hội là thân thể của Chúa Kitô qua các thời đại “chúng ta mới gặp gỡ Chúa Kitô thực sự”.

 

ĐHY Ratzinger cương quyết đối đầu với những thần học gia và với những ai lầm lẫn cho rằng Công Đồng Chung Vaticanô II là như là một cái gì tách khỏi quá khứ của Giáo Hội. Không thể nào viện lý lẽ cho quan niệm lầm lẫn này nơi các văn kiện của chính Công Đồng ấy, họ thường sử dụng những từ ngữ như “tinh thần” hay “đường lối” của Công Đồng này. Vị Giáo Hoàng này đã hứa là ngài sẽ đi theo các vị tiền nhiệm của mình trong việc cổ võ vấn đề canh tân đích thực của Công Đồng trong toàn thể truyền thống Công giáo.


Vấn:     Trong cùng bài phát biểu trên đây, ĐGH Biển Đức đã vang lên hợp âm đoàn tính. Ngài hiểu thế nào về vai trò của giáo hoàng với vai trò của đoàn tính liên quan đến vai trò giáo hoàng?

 

Đáp:    Mối liên hệ giữa giáo hoàng và giám mục đoàn là những gì tiếp tục của thượng quyền Phêrô nơi 12 Tông Đồ.

 

Như ngài đã nói: “Như Thánh Phêrô và các vị tông đồ khác, theo ý muốn của Chúa Kitô, là một tông đồ đoàn duy nhất thế nào, cũng thế, Vị Thừa Kế Thánh Phêrô và các vị giám mục thừa kế các tông đồ – Công Đồng Chung Vaticanô II đã mãnh liệt lập lại điều này – cũng cần phải liên kết chặt chẽ với nhau”.

 

Như ĐGH nhận định, mối hiệp nhất và đoàn tính này là những gì “hoàn toàn liên quan đến việc loan báo cho thế giới biết về sự hiện diện sống động của Chúa Kitô”. Bài phát biểu đầu tiên này của ĐTC chứng tỏ cho thấy thần học của ngài được xuất phát ra sao từ mối thân tình sâu xa của ngài với Chúa Giêsu Kitô trong việc ngài hoàn toàn dấn thân cho sứ vụ được Chúa Kitô ủy thác cho Giáo Hội.


Vấn:     ĐHY Ratzinger đã trình bày ra sao về bản chất của giám mục và linh mục trong cuốn “Được Kêu Gọi Hiệp Thông”?

 

Đáp:    Thánh Thể và các bí tích khác không phải là một điều gì đó mà bất cứ ai, theo quyền năng riêng của mình, cũng có thể thực sự làm nổi. Lời Nhập Thể nơi Chúa Giêsu Kitô là Đấng duy nhất có thể thực sự nói rằng “Này là mình Thày” hay “tội lỗi của con đã được thứ tha”. Chỉ vì Chúa Giêsu đã sai các tông đồ ra đi như Người đã được Cha sai mà chúng ta mới có một Giáo Hội với những bí tích của Giáo Hội.

 

Giáo Hội như Thánh Thể chỉ có thể tìm thấy nơi mối hiệp thông với các vị giám mục là thành phần thừa kế các tông đồ. Qui tụ lại quanh bàn thờ, Giáo Hội là Thánh Thể. Giáo Hội bao giờ cũng bao gồm cả địa phương lẫn hoàn vũ, như Giáo Hội liên kết cả chiều kích tung và hoành vậy.

 

ĐHY Ratzinger đã nhấn mạnh rằng tính cách phổ quát của Giáo Hội là những gì có ở nơi Chúa Giêsu Kitô Lời Nhập Thể. Giáo Hội là Thánh Thể – mỗi một cộng đồng địa phương cử hành Hiến Tế Thánh Lễ đều được liên kết với toàn thể Chúa Kitô bao gồm tất cả mọi tín hữu khắp các thời đại. Trong Thánh Lễ, chúng ta kêu cầu các thần trời cũng như Đức Mẹ, toàn thể các thánh và cầu cho kẻ chết nữa.

 

Không có một cộng đồng địa phương nào tự mình cấp cho mình một vị giám mục thế nào thì nó lại càng không phải chỉ là một cử hành tự mình không liên hệ gì tới toàn thể Giáo Hội Công Giáo. Việc thánh hiến các vị giám mục là những gì tỏ tường cho thấy những vị giám mục hiệp thông với vị thừa kế Thánh Phêrô và lãnh nhận sứ vụ của mình từ chính Chúa Kitô được môi giới qua các thời đại trong mối hiệp thông với chính các vị tông đồ đã được Chúa Giêsu kêu gọi.

 

ĐTC Biển Đức XVI nói đến điều này trong bài phát biểu đầu tiên làm giáo hoàng của ngài khi chia sẻ về việc ngài được chọn làm vị thừa kế Thánh Phêrô: “Chúng ta nghĩ đến vào những giờ khắc này về những gì xẩy ra ở Caesarea Philippi 2 ngàn năm về trước: ‘Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống’, và lời trịnh trọng xác nhận của Chúa: ‘Con là Đá và trên đá này Thày sẽ xây Giáo Hội của Thày…. Thày sẽ trao cho con chìa khóa nước trời’”.

 

Như Đức Thánh Cha, mỗi vị giám mục cũng đã được ủy thác cho sứ vụ duy trì mối hiệp nhất và công giáo tính của Giáo Hội thuộc thẩm quyền của các vị. Không hiệp nhất, theo ĐHY Ratzinger nhận định, sẽ không có thánh thiện thật, vì thánh thiện đòi một tình yêu được trao ban là mối liên hệ hiệp nhất vậy.

 

Vị giám mục cần phải vun trồng mối hiệp nhất mỗi ngày một sâu xa hơn với Chúa Kitô – như các vị tông đồ, ngài phải là ‘con người hiện đại của Chúa Kitô’ – bằng không, ngài sẽ chỉ là một viên chức của giáo hội vậy thôi.

 

Cũng thế, các vị linh mục thánh chức thông phần vào sứ vụ của các vị giám mục như thánh phần môn đệ được tuyển chọn thông phần vào sứ vụ của các vị tông đồ. Vì hoạt động tông đồ chân thực không phải là sản phẩm của khả năng riêng các vị ấy thế nào thì đối với các vị giám mục và linh mục thánh chức cũng thế.

 

Chính Chúa Kitô nói năng và hành động qua họ như là những dụng cụ khi các vị dạy tín lý chân thực, cử hành các bí tích, và quản trị một cách xứng hợp. Họ có thể nói chỉ là “không”. Nó là tất cả sự hiện diện và hoạt động của Chúa Kitô, như tất cả những gì Người làm đều từ Cha trong Thánh Linh vậy.

 

Hồng Y Ratzinger khéo tóm tắt điều này là “Được Kêu Gọi Hiệp Thông”: “Đó chính là những gì chúng ta muốn nói khi chúng ta gọi việc truyền chức linh mục là bí tích: việc truyền chức không phải là những gì về việc phát triển khả năng và tặng ân riêng của con người. Nó không phải là việc bổ nhiệm một con người làm một viên chức vì họ đặc biệt giỏi về nó, hay vì nó hợp với họ, hoặc chỉ vì nó trở thành cách thức ngon lành cho họ kiếm sống….

 

“Bí tích nghĩa là tôi cho đi những gì chính tôi không thể cho; tôi làm những gì không phải là việc của tôi; tôi thực hiện một sứ vụ và trở thành một người ôm ấp những gì được người khác úy thác cho thực hiện”.

 

Cũng như với vị giám mục, “nền tảng của thừa tác vụ linh mục là mối liên hệ sâu xa tư riêng với Chúa Giêsu Kitô”. 

 

Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit ngày 23-24/6/2005

 

TOP

 

 

Theo Tiểu Sử Gia về Hồng Y Joseph Ratzinger thì ĐTC BĐXVI chỉ ước vọng một điều duy nhất đó là “thực hiện Thánh ý Chúa”

 

Tác phẩm “Joseph Ratzinger. Una biografía – Joseph Ratzinger: Tiểu Sử” được Eunsa xuất bản là của soạn giả Pablo Blanco, tiến sĩ triết học và là người đã nghiên cứu về đời sống và các bút tích của ĐTC BĐXVI nhiều năm. Qua cuộc phỏng vấn với Zenit, ông đã cho biết về vị giáo hoàng này như sau:

 

Vấn:     Khi ông viết cuốn sách này ông có nghĩ rằng ĐHY Ratzinger một ngày kia trở thành Giáo Hoàng hay chăng?

 

Đáp:    Dĩ nhiên là không. Tôi chú ý tới hồng y Joseph Ratzinger như là một thần học gia và là một con người của Giáo Hội, chứ không phải như một vị Giáo Hoàng. Dù sao, giờ đây, qua thời gian, tôi đã nhận thấy rằng các vị hồng y, nhờ sự trợ giúp khôn lường của Thánh Linh, đã biết phải chọn lựa ra sao.

 

Vị Giáo Hoàng này xứng đáng nhất ở một số điều trổi vượt, và theo tôi, chỉ cần đề cập tới 3 điều chính yếu là việc ngài hoàn toàn có thể giải bày những thứ thách lớn lao của thời đại hiện tại, như  việc giải bày vấn đề tục hóa, việc cổ võ vấn đề đại kết, cũng như việc phấn khích vấn đề cương quyết và chân thành truyền bá phúc âm hóa.


Vấn:     Ông đã viết rằng ĐHY Ratzinger và ĐGH GPII đã hợp tác với nhau rất chặt chẽ, chẳng những vào các chiều Thứ Sáu và riêng tư, mà còn cả vào các ngày Thứ Ba, ngày trước các buổi triều kiến chung hằng tuần. Từ những cuộc gặp gỡ này đã xuất phát ra một số bài giáo lý cho ngày Thứ Tư và những bản văn kiện. Giờ đây đức Ratzinger là Giáo Hoàng, ông có nghĩ rằng sẽ có một ai đó giúp ngài về các bài giáo lý hay chăng?

 

Đáp:    Thẳng thắn mà nói thì tôi không biết. Đức Ratzinger đã nổi tiếng về việc viết ra hết những gì (Đức GPII) đọc. Tôi nghĩ rằng ngài sẽ có các cộng sự viên đáng kể nhưng ngài sẽ chịu trách nhiệm một cách rất riêng tư về tất cả những gì ngài nói hay viết.


Vấn:     Có những khía cạnh nào của Đức Biển Đức XVI, theo ông, chưa được truyền thông nhấn mạnh đến hay chăng?

 

Đáp:    Tôi nghĩ rằng điều rất quan trọng nơi đời sống của ngài là những gì ngài đã nói trong bài giảng khai triều của mình: chương trình duy nhất của ngài đó là thực hiện ý muốn của Thiên Chúa.

 

Suốt cuộc sống của mình, người ta có thể thấy cách thức ngài để mình được dẫn dắt bởi bàn tay vô hình của Thiên Chúa, Đấng đưa ngài đến những nơi ngài không muốn tới: chẳng hạn ngài thôi làm giáo sư để trở thành TGM Munich, ngài đi Rôma để đảm nhiệm một vai trò khó khăn nhất trong Giáo Hội là vai trò làm tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin, và đã chấp nhận việc được bầu làm Giáo Hoàng… với danh hiệu Biển Đức XVI.

 

Đối với tôi, tất cả những điều ấy ngài chẳng những tỏ ra can đảm ngài còn cho thấy ngài có một khả năng cao cả trong việc để cho Thiên Chúa hành động nữa.


Vấn:     Ông đã viết rằng ĐHY Ratzinger là một trong những kiến trúc sư chính yếu của Công Đồng Chung Vaticanô II cũng như của giai đoạn hậu công đồng trong toàn thể Giáo Hội. Ngài đã tỏ ra bênh vực Công Đồng ở những lãnh vực nào nhất?

 

Đáp:    Tôi nghĩ rằng ngài có một nhãn quan đặc biệt về toàn diện tất cả mọi thứ trục trặc về đức tin hiện nay.

 

Trong số nhiều vấn đề khác nhau, người ta có thể thấy được vai trò chính yếu của Chúa Giêsu Kitô và tầm quan trọng của phụng vụ, của luân lý, của nữ giới trong Giáo Hội, của vai trò linh mục là để phục vụ, của vấn đề đại kết như công việc chính yếu của ngài, và sau hết của tính chất quyết liệt nơi Việc Tuyên Xưng Đức Tin trong đời sống Kitô hữu.

 

Chứng cớ của việc này chẳng hạn như Cuốn Giáo Lý của Công Đồng Chung Vaticanô II, một cuốn sách chính ngài chịu trách nhiệm và điều hợp.

 

Dù sao đi nữa vấn đề rõ ràng là, với tư cách chủ yếu ngài đã đóng trong Công Đồng ấy, ngài biết Giáo Hội cần phải đi về đâu; tất cả những gì cần đó là tiếp tục lắng nghe tiếng Thiên Chúa trong Lễ Hiện Xuống liên tục này.


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit ngày 28/6/2005

 

 

TOP

 

 

NGUỒN GỐC NHÂN CHỦNG HỌC CỦA GIA ĐÌNH

 

(Tóm lược và diễn ý bài huấn từ của Đức Bênêđíctô XVI nói trong Đại Hội Giáo Phận Rôma)

 

Đúng vậy, gia đình không những là nền tảng xã hội, mà còn là tương lai của Giáo Hội nữa. Vì gia đình là cái nôi, là vườn ươm sự thánh thiện cho Giáo Hội. Gương sáng của cha mẹ, anh chị em. Đời sống chia sẻ, thương yêu của gia đình là những bài học về đời sống thánh thiện của người Kitô hữu sau này, và cũng là một trường đào luyện những nhân đức xã hội. Trong ý nghĩa giáo dục, gia đình là một học đường tốt nhất, và cha mẹ là những thầy dậy có tác dụng và ảnh hưởng nhất. Ở đây, câu nói của thánh Anphongxô, sáng lập dòng Chúa Cứu Thế vẫn còn có ý nghĩa: “Tất cả những gì tôi có được hôm nay đều do mẹ tôi ban cho”.

 

Nhưng rất tiếc, gia đình hiện nay và ơn gọi hôn nhân hiện nay đang bị trào lưu hưởng thụ, lối sống buông thả hủ hóa. Chính vì thế, Giáo Hội, đặc biệt là Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã không ngừng cổ võ, và đề cao đời sống và ơn gọi hôn nhân gia đình. Đức Bênêđíctô XVI, đấng kế vị Đức Gioan Phaolô II cũng không đi ngoài con đường này. Ngài cổ võ và đề cao ơn gọi hôn nhân gia đình.

 

Ngày 9 và 10 tháng 6 vừa qua, màn điện toán toàn cầu Zenit đã phổ biến bài huấn từ của Đức Bênêđíctô XVI nói trong Đại Hội Giáo Phận Rôma với tư cách là Giám mục Rôma, cũng như Giám Mục toàn thế giới. Trong vai trò thừa kế Thánh Phêrô, ngài đã huấn dụ mọi người với đề tài “Nguồn Gốc Nhân Chủng Học của Gia Đình”. Bằng với những suy tư thần học, triết học, xã hội học và giáo dục, Đức Thánh Cha đã làm nổi bật vai trò và ơn gọi hôn nhân gia đình, đặc biệt, gia đình Kitô giáo trong bối cảnh sống của con người hiện nay. Một bối cảnh mà gia đình và ơn gọi hôn nhân của Kitô giáo đang gặp rất nhiều thử thách, trong đó Ngài đề cập đến một lối sống theo thời, lối sống bất cần đời, mà ngài gọi là chủ thuyết nửa vời.

 

Lối sống và triết lý sống nửa vời ấy, phản ảnh những suy tư con người thời nay, khi cố tình loại bỏ những gì là thiện hảo, là đạo đức, là lành mạnh ra khỏi tầm nhìn và trái tim con người. Bằng lối sống như hiện nay, con người đang cố tình tạo cho mình một mẫu sống khác, một hôn nhân theo kiểu đồng tính luyến ái. Một hôn nhân mà cha mẹ không màng đến việc sinh sản, và giáo dục con cái. Coi con cái như một gánh nặng, hoặc thờ ơ để mặc cho xã hội và bạn bè xấu ảnh hưởng. Lối sống này, theo Đức Thánh Cha, là một lối sống cố tình loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống gia đình. Mà hậu quả là con người ngày nay đang gặp phải những khủng hoảng lớn lao.

 

Ngay trong cái nhìn về nhân chủng học, đời sống và hình thức gia đình như hiện nay đã không giải thích và nói lên được những giá trị thật của nó. Ngược lại, còn làm cho méo mó, và lỏng lẻo mọi liên hệ tốt của một con người với con người, và một con người trong đời sống và lời thệ hôn của họ. Đánh mất đi những giá trị và sự cao cả của hôn nhân như tự nó đã có, con người sẽ không tìm được ý nghĩa của cuộc đời mình. Họ không biết mình ở đâu mà ra, và cũng không biết họ sẽ đi về đâu và làm gì? Liệu con người có thể sao bản chính mình? Làm sao những cặp đồng tính có thể có con? Và nếu không có con thì lấy ai đẻ con để họ nhận làm con nuôi? Hoặc ai là những cha mẹ tử tế lại dám để cho những cặp vợ chồng đồng tính ấy nuôi dưỡng và giáo dục con mình? Con người ngày nay, qua lối sống ấy, thật sự đang làm mất đi cái cội nguồn, và ý niệm về chính mình.

 

Với lối sống hưởng thụ hiện nay, những giá trị của đời sống hôn nhân gia đình như việc sinh sản, giáo dục con cái cũng được hiểu theo một chiều hướng mới, có tiềm ẩn những nhu cầu hưởng thụ và ích kỷ. Cha mẹ sợ không có con. Và khi cần thiết, chỉ giới hạn trong một số ít con cái. Họ coi con cái không phải là quà tặng của Thiên Chúa, là kết quả của tình yêu mà họ dành cho nhau, nhưng là một sở hữu và một cái gì mà họ thích thú, hoặc đem lại cho họ niềm vui. Với nhiều lý do biện minh, nhưng có thể nói, cái ích kỷ hẹp hòi được ngụy trang trong những lý do này khác là một điều đang làm ung nhọt đời sống gia đình và ảnh hưởng đến quyết định sinh con của nhiều cặp vợ chồng. Hậu quả của nó là ngừa thai. Và nếu không ngừa được thì phá thai. Mỗi năm, theo thống kê, chúng ta thấy có hằng mấy chục triệu thai nhi bị giết chết trong lòng mẹ mình vì cái ích kỷ và lối sống hưởng thụ ấy.

 

Tóm lại, những tư tưởng được Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI trình bày bao gồm những nhận định về nguồn gốc nhân chủng của gia đình, tiếp đến là hôn nhân và gia đình trong lịch sử cứu độ, việc sinh sản con cái, gia đình và Giáo Hội, những đe dọa của lý thuyết nửa vời, và sau cùng là linh mục và đời sống tận hiến.

 

Chương trình Phát Thanh Tin Mừng Sự Sống trên làn sóng (106.3 FM Nam California. Phát thanh vào mỗi tối thứ Sáu từ 9 giờ đến 9:30, sẽ lần lượt trình bày sâu hơn về huấn từ này vào những buối phát thanh kế tiếp. Tài liệu này đã được nhóm Vào Đời chuyển ngữ và hiện có trên màn điện toán của Chương Trình: WWW. Thoidiemmaria.net hoặc Tinmungsusong.org. Độc gỉa ở xa có thể nghe chương trình này qua màn điện toán.

 

Trần Mỹ Duyệt

 

TOP

 

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI: Ý Hướng Hiệp Nhất của ngài theo nhận định của một linh mục thân quen

 

Vị linh mục chủ bút tờ First Things là cha Richard John Neuhaus đã chia sẻ với Zenit những cảm nhận của mình về Đức tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI khi còn là hồng y Joseph Ratzinger.

 

Vấn:     Xin cha làm ơn chia sẻ những cảm nghiệm riêng tư của cha với ĐHY Ratzinger, và đâu là những tặng ân đặc biệt theo cha ngài mang theo vai trò lkàm giáo hoàng của ngài?

 

Đáp:    Tôi đã quen biết ĐHY Ratzinger nay là Giáo Hoàng Biển Đức trên 20 năm nay, và chúng tôi đã từng đối thoại với nhau về nhiều vấn đề.

 

Như mọi người đều biết rằng ngài là một thần học gia tổ sư, và theo tôi, ngài đã được công nhận là một trong những đại thụ về thần học trong vòng 100 năm qua nếu ngài không cống hiến phần đời chính yếu của mình để phục vụ Đức Gioan Phaolô Cả với vai trò là tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin.

 

Như mọi người cũng đều biết, ngài là một con người dịu dàng và bình thản đặc biệt, với một bộ óc ham hiểu biết về tri thức một cách sắc bén liên quan đến các quan điểm khác nhau.

 

Tôi còn nhớ là vào năm 1988, tôi đã mời ngài đến để chia sẻ Bài Thuyết Trình Erasmus hằng năm của chúng tôi ở Nữu Ước đây, một bài nói mở màn cho một hội nghị kéo dài vài ngày giữa các thần học gia Công giáo, Tin Lành và Chính Thống giáo.

 

Bài thuyết trình công khai này được tổ chức ở giữa phố Manhattan đã bị gây lũng đoạn một cách thô bạo bởi những tay náo hoạt viên đồng tính, thành phần vừa vẫy những hình tam giác mầu hồng của họ vừa la hò những lời hài hước như ‘Sieg Heil!”, “Nazi Ratzy!” và “Tên Quan Tòa Điều Tra Cút Về Đi!” Cuối cùng tôi đã phải gọi cảnh sát tới để dạp thành phần chống đối và phục hồi trật tự. 

 

Trước cảnh tượng ấy, vị hồng y này rất ư là thản nhiên. Khi ngài có cơ hội nói, ngài đã mở đầu bài thuyết trình của ngài, một bài thuyết trình về vấn đề dẫn giải Thánh Kinh, bằng việc gợi lại một cách cảm động về việc phản loạn của sinh viên năm 1968 ở Âu Châu, một biến cố đã giúp ngài hiểu sâu xa hơn tính cách bất khả thiếu về phép lịch sự nơi các mối liên hệ của loài người.

 

Vào trường hợp này hay ở những trường hợp khác, đối với tôi, hiển nhiên là tính cách trầm lặng của ngài là những gì đã được bắt nguồn sâu xa từ một đức tin bị thử thách và thao luyện. Ngày hôm sau, những đầu đề của tờ báo khổ nhỏ tuyên bố rằng “Thành Phần Đồng Tính Chống Đối Tay Tổ Vatican”. Ngài đã khúc khích cười với cái danh hiệu với ‘Tay Tổ Vatican’ này. 

 

Vấn:     Đức Biển Đức XVI đã chú trọng đến vấn đề đại kết như là một việc ưu tiên của ngài. Cha có lấy làm lạ về việc này chăng?

 

Đáp:    Không, không lạ tí nào hết. Điều này đã từng là mối quan tâm và chú trọng liên lỉ của ngài, và ngài đã viết nhiều về đề tài đại kết này. Là một người Đức, ngài có đầy kinh nghiệm với các truyền thống xuất phát từ những cuộc phân ly hồi thế kỷ 16, nhất là với Kitô giáo theo phong trào Luthêrô và Cải Cách, hay theo phong trào Calvin.

 

Ngài có một nhận thức thiện cảm về những gì đúng của Martin Luther, và cũng phân tích một cách xác đáng những không khiêu khích về những gì sai của vị này. Là đầu của Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin, ngài có trách nhiệm về các khía cạnh tín lý đối với tất cả mọi cuộc đối thoại đại kết được Giáo Hội tham gia, và sẽ tiếp tục thi hành trách nhiệm này.

 

Mặc dù ngài dĩ nhiên không xác nhận, tôi cũng thấy được chứng cớ rõ ràng có bàn tay của ngài nhúng vào những đoạn chính yếu của bức thông điệp về mối hiệp nhất Kitô giáo “Xin cho chúng được nên một” được ban hành vào năm 1995. Chúng ta sẽ thấy, trong giáo triều này của ngài, tôi cho rằng, một lằn mức rất rõ ràng về thẩm quyền, khi vị Giáo Hoàng là viên chức tín lý chính yếu của Giáo Hội sử dụng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin trong việc điều hợp các văn phòng khác để giải quyết những vấn đề về tín lý. Chẳng hạn như Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin đã tham gia một cách sâu xa vào bản tuyên ngôn về tín lý công chính hóa giữa Luthêrô và Công 


Vấn:     Việc chú trọng đến vấn đề đại kết nói gì ở vào lúc có rất nhiều quan tâm đến những vấn đề phò sự sống?

 

Đáp:    Đang có một mối liên hệ chặt chẽ. Thần học gia phái Baptist là Timothy George nói về “vấn đề đại kết về những đường mương rãnh”, tức nói đến những đường lối mà những người Công giáo và Tin lành ở xứ sở này cần phải đi đến chỗ hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau vì vấn đề phò sự sống.

 

Đây cũng là điều hết sức quan trọng cho dự án liên tục được gọi là Cùng Nhau Tin Lành và Công Giáo (Evangelicals and Catholics Together, ECT), một dự án được Charles Colson và tôi khai mào vào năm 1994. Tôi đã nhiều năm liên lạc với ĐHY Ratzinger về những phát triển của dự án này, và ngài hoàn toàn ủng hộ. Chắc chắn, là một người Âu Châu, ngài tương đối ít có kinh nghiệm thực sự về phong trào tin lành ở Hoa Kỳ, một phong trào rất khác với những gì là “tin lành” ở Đức quốc.

 

Thế nhưng ngài biết rất rõ mức phát triển nhẩy vọt của Kitô giáo tin lành và Thánh Linh ở Nam Bán Cầu, và điều này chắc chắn được nhãn quan về đại kết của ngài nhận thức. Việc nhận thức của Giáo Hội thường được lập đi lập lại đó là vấn đề dấn thân cho việc đại kết là những gì ‘bất khả vãn hồi’, và mục tiêu của vấn đề đại kết đó là thiết lập ‘mối hiệp thông trọn vẹn’.

 

Về vấn đề hiệp thông trọn vẹn, những mong đợi của ĐGH Biển Đức là những gì đặc biệt điềm đạm. Trong những bài viết của ngài, ngài đã nhấn mạnh rằng mối hiệp nhất duy nhất chúng ta có thể tìm kiếm, mối hiệp nhất duy nhất làm hài lòng Thiên Chúa, đó là hiệp nhất trong sự toàn chân. Ngài đã nói rằng thành phần Công giáo và Thệ phản đã từng chịu đựng lẫn nhau hồi thế kỷ 16 đặc biệt lại gần nhau hơn là đôi khi ở trường hợp của các cuộc đối thoại thần học hiện đại, vì cả hai thành phần trên đều hiểu được rằng cái nguy hại đó là chân lý Thiên Chúa muốn cho tất cả mọi người nhận biết.

 

Ngài cũng nhấn mạnh rằng con đường tiến đến mối hiệp nhất không phải là vấn đề chương trình và kế hoạch của chúng ta mà là việc trung thành chờ đợi tác động mới của Thánh Thần là những gì chúng ta không thể nắm trong tay hay dự tưởng. Điều này không có nghĩa là việc dấn thân đại kết của ngài ít khẩn trương hơn là nơi trường hợp hiển nhiên với Đại Giáo Hoàng Gioan Phaolô. Việc dấn thân đại kết là những gì bất khả vãn hồi và cần phải cẩn thận nuôi dưỡng những gì có thể thực hiện, bao gồm cả việc gia tăng hợp tác với các Kitô hữu khác để chiến đấu cho văn hóa sự sống chống văn hóa sự chết.


Vấn:     Phải chăng xuất thân từ Đức ngài có một quan điểm đặc biệt về vấn đề đại kết?

 

Đáp:    Như tôi vừa mới nói đến một phần về điều này, ở đây cần phải để ý rằng ĐGH Biển Đức đã có một số lời phát biểu đầu tiên mãnh liệt xác nhận việc tìm cầu hòa giải với Chính Thống giáo.

 

Đối với Đức Gioan Phaolô, là một người Balan, thực thể Chính Thống giáo là những gì trực tiếp thôi thúc hơn, nhưng tôi cũng chắc chắn là ĐGH Biển Đức có cùng một ước vọng về lúc mà Giáo Hội tái “hít thở banèg hai buồng phổi, Đông và Tây”.

 

Tôi đã nói những gì chúng ta chia sẻ với Chính Thống giáo đó là chỉ một điều thiếu để tiến đến chỗ hoàn toàn hiệp thông đó là việc hoàn toàn hiệp thông, và tôi không nghĩ rằng ĐGH Biển Đức không đồng ý với ý nghĩ này. Đôi khi vì là cận thân gần gũi lại gây thêm khó khăn hơn. Theo chiều hướng này thì có thể là người Chính Thống giáo ít gặp trục trặc nơi mối liên hệ với một người Đức hơn là với một người Balan. Phải công nhận là đây chỉ là một ‘yếu tố phi thần học’, thế nhưng Thiên Chúa vẫn có thể sử dụng những yếu tố phi thần học để đạt mục đích của Ngài.


Vấn:     Những gì làm cho cha cho tới nay cảm thấy cảm kích về vị tân Giáo Hoàng này?

 

Đáp:    Có một số điều, nhưng có lẽ trước hết tôi phải đề cập tới tính cách điềm đạm của ngài. Ngài đã nói bằng nhiều cách thức khác nhau là ngài không muốn áp đặt con người của ngài hay các quan điểm riêng tư của ngài, mà chỉ muốn trở thành một người tôi tớ trung thành của truyền thống được lưu lại.

 

Giờ đây chúng ta có được một vị giáo hoàng khác, vị là một nhà trí thức rất có thế lực. Dưới thời Đức Gioan Phaolô có một số người đã lo âu rằng quan điểm triết thần chuyên biệt của vị giáo hoàng này đang có một ảnh hưởng quá sâu đậm trên giáo huấn của huấn quyền.

 

Đức Biển Đức dường như dự đoán trước được mối quan tâm tương tự này trong trường hợp của ngài. Dù sao ngài có cả một “triền giấy” rộng một dặm và dài nhiều dặm, vì đã ghi nhận những quan điểm của ngài về rất nhiều vấn đề. Ngài hình như đang muốn nói rằng ngài đã quá biết rằng trách nhiệm của thần học gia Joseph Ratzinger và tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin Joseph Ratzinger khắc hẳn với các trách nhiệm là Giáo Hoàng Biển Đức, và điều ấy là điều xác thực.

 

Còn một dấu hiệu tinh vi nữa từ khi ngài được tuyển chọn, một dấu hiệu tôi nghĩ rằng càng ngày sẽ càng hiện lộ hơn, đó là ngài muốn hiểu rằng ngài là vị Giáo Hoàng ‘tôi tớ của mọi tôi tớ Chúa’, nhất là của thành phần đồng giám mục của ngài.

 

Những phên phán nghiêm nghị của ngài trước đây về các hội đồng giám mục chư quốc, theo tôi, đã bị hiểu lầm một cách trầm trọng. Thực ra ngài là một tay tranh đấu nhiều cho đoàn tính giáo phẩm và không muốn những hội đồng giám mục quốc gia hay những cơ cấu khác pha mình vào việc làm của các vị giám mục vì các vị là giám mục, tức là, trước hết, là những bậc thày đức tin chân thực tại giáo hội địa phương của các vị.


Vấn:     Thánh phần Kitô hữu không phải Công giáo nói chung đã quan niệm về ĐHY Ratzinger ra sao?

 

Đáp:    Những dấu hiệu cho thấy là ngài được nhiệt tình đón nhận bởi cả người Công giáo lẫn không Công giáo như nhau. Ngài không có, theo tôi cũng có thể không xẩy ra, những gì được gọi là “tính chất minh tinh” bao quanh Đức Gioan Phaolô. Có nhiều cá biệt khác nhau giữa hai vị. Nó liên quan tới truyện sống đời cũng rất khác biệt giữa hai vị.

 

Truyện đời của Đức Gioan Phaolô phải nói là thê thảm hơn, một cuộc sống dưới chế độ Đức Quốc và Cộng Sản, sớm mất mẹ và anh, cuộc thách đố thành công đối với ‘đế quốc độc dữ’ Nga Sô v.v. Đời sống của ngài có những chất liệu rất hay đối với thành phần sản xuất các thứ sách vở hài hước ca tụng.

 

Tôi cho rằng cũng sẽ có những cuốn sách hài hước về giáo hoàng Biển Đức, thế nhưng chúng sẽ không hào hứng bằng. So với Đức Gioan Phaolô thì cuộc đời của ngài là một cuộc đời có tính cách liên tục tuần tự đặc biệt.

 

Ngoại trừ những năm tháng dưới thời Hít Le, cuộc sống của ngài trải qua thời thơ bé vui tươi ở Bavaria, một nhận thức và hoàn tất sớm ơn gọi làm linh mục, một việc làm rất thành công như môä thần học gia, sau đó được thăng phẩm TGM hồng y, rồi qua Rôma. Giờ đây làm giáo hoàng. Đó là một cuộc đời ở trong Giáo Hội và cho Giáo Hội.

 

Với tính cách êm thắm của cá tính mình, cái nổi bật đó là tính cách sinh động nơi đức tin của ngài cũng như cái phong phú nơi tư tưởng của ngài. Tôi đã đề cập đến ngay từ đầu cái dịu dàng nơi cung cách và bình lặng nơi tâm hồn của ngài. Đó không phải là những tính chất xấu để chiếm được một vị thế chính yếu ở một lúc mà đức hiền lành và sự bình tâm bị hụt hẫng này.

 

Tôi chỉ xin thêm một chút nữa là thật là sai lầm khi nghĩ rằng đức hiền lành và sự bình tâm có nghĩa là yếu kém hay không biết mạnh mẽ dứt khoát.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL chuyển dịch từ tài liệu được Zenit phổ biến hôm Thứ Hai 6/6/2005.

 TOP

 

ĐTC Biển Đức XVI với Luật Thánh Biển Đức

Dòng Biển Đức được thành lập từ thế kỷ thứ 6 và là dòng chú trọng tới việc cử hành phụng vụ, chăm sóc cho các linh hồn, truyền giáo, nghiên cứu, nghệ thuật, giáo dục giới trẻ và truyền thông xứng hợp với đời sống đan viện. Dòng này hiện nay có 7.860 đan sĩ, trong đó có 4.139 linh mục.

Cha Notker Wolf, viện phụ của Liên Hiệp Đan Sĩ Biển Đức đã cho biết về vị tân giáo hoàng qua cuộc phỏng vấn với Zenit, một cuộc phỏng vấn được Zenit phổ biến ngày 31/5/2005, như sau:

Vấn:     Cha cảm thấy thế nào khi cha nghe thấy vị tân Giáo Hoàng nhân danh hiệu là Biển Đức XVI?

Đáp:     Bấy giờ tôi đang ở Đan Viện Tepeyac Mễ Tây Cơ, và tôi đã theo dõi các biến cố trên truyền hình. Chúng tôi rất bỡ ngỡ và vui mừng khi nghe thấy danh hiệu của ngài.

Vấn:     Làm thế nào việc hiện diện của các đan sĩ Biển Đức ở Bavaria đã ảnh hưởng tới vị tân Giáo Hoàng này, hoặc về lãnh vực thần học hay về việc chọn danh hiệu của ngài?

Đáp:     Kinh nghiệm ngài đã có được từ các đan sĩ Biển Đức ở Bavaria dường như có một ảnh hưởng thực sự. Chính ngài đã nghĩ đến việc gia nhập một đan viện Biển Đức. Có tất cả 17 đan viện Biển Đức ở Bavaria.

Tâm thức của người Bavaria bị ảnh hưởng rất nhiều của các đan sĩ Biển Đức. Những năm gần đây Vị Giáo Hoàng này đã Tĩnh Tâm hằng năm ở Đan Viện Biển Đức ở Scheyern.

Thật vậy, trong một số dịp ngài đã trích dẫn một đoạn của Luật Dòng Biển Đức: “Christo omnino nihil prepanant – tuyệt đối không coi gì hơn Chúa Kitô – Chúa Kitô là tâm điểm đời sống của chúng ta. Chúa Kitô là ơn cứu độ của thế giới.

Vấn:     Các vị đan sĩ Biển Đức là một tổ chức năng động. Họ không tập trung nhưng để mỗi đan việc được nhiều tự do hơn. Cha có nghĩ rằng vị Giáo Hoàng này sẽ được tác động bởi mẫu thức Giáo Hội phân quyền này hay chăng?

Đáp:     Thánh Biển Đức yêu cầu vị viện phụ phải thi hành quyền bính, nhưng ngài không chấp nhận vấn đề độc quyền. Khi cần phải giải quyết một vấn đề quan trọng thì tất cả đều được góp ý kiến. Vị viện phụ chỉ quyết định sau đó mà thôi.

Chúng ta biết rằng, ở các cuộc họp, ĐHY Joseph Ratzinger muốn để cho mọi người nói và ngài biết cách lắng nghe. Tôi không lấy làm lạ nếu ngài thực hiện nhiều việc ủy quyền và nếu ngài phát động nguyên tắc trợ thuộc.

Chính ngài đã nói rằng Giáo Hội hoàn vũ không được theo chiều hướng tập quyền. Ngài sẽ tôn trọng các Giáo Hội địa phương mà không gây hại đến mối hiệp nhất của Giáo Hội.

Vấn:     Làm thế nào Thánh Biển Đức tác động Âu Châu ngày nay?

Đáp:     Qua luật dòng của ngài và các đan sĩ của ngài, Thánh Biển Đức đã truyền đạt cho Tây phương tình trạng ổn định và một thứ văn hóa mới ở vào một thời điểm có những thay đổi cả thể.

Trong một thời đại như của chúng ta đây, một thời đại cũng được đánh dấu bằng những đổi thay lớn lao, các nguyên tắc của ngài cũng cần phải cho thấy con đường tiến đến tương lai là con đường cần phải có, trong những điều khác, trách nhiệm chung đối với Thiên Chúa, tôn trọng phẩm vị con người, tôn trọng việc cá nhân con người hội nhập vào cộng đồng, và tôn trọng phương thức chân chính nơi tác hành ở lãnh vực luật lệ và việc áp dụng luật lệ này.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch theo Zenit ngày 31/5/2005

 

 

TOP

 

 

“Vị Giáo Hoàng của Bữa Tiệc Ly … liên quan đến Hiệp Nhất Kitô Giáo”: Hy vọng bừng lên từ chân trời đại kết

 

Đúng như đã dự đoán trên chương trình phát thanh Tin Mừng Sự Sống ngày Thứ Sáu 15/4/2005 (106.3 FM từ 9 đến 9 giờ 30 Thứ Sáu hằng tuần) về vị tân giáo hoàng, khi mật nghị hồng y bầu tân giáo hoàng vào ngày Thứ Hai 18/4/2005 chưa xẩy ra, đó là vị tân giáo hoàng sẽ là “vị giáo hoàng của bữa tiệc ly… liên quan đến hiệp nhất Kitô giáo” (Nguyệt San Hiệp Nhất số 150, 6/2005, trang 38).

 

Vị Giáo Hoàng của Bữa Tiệc Ly về lòng tôn sùng Thánh Thể

 

Thứ nhất, là vì giáo triều của ngài mở màn vào ngay giữa Năm Thánh Thể, như chính ngài đã minh nhiên khẳng định trong sứ điệp gửi hồng y đoàn vào cuối thánh lễ tại nguyện đường Sistine hôm Thứ Tư 20/4, tức sau ngày được bầu làm vị giáo hoàng thứ 265 của Giáo Hộị Ngài nói:

 

·        Giáo triều của tôi, một cách hết sức ý nghĩa, được mở màn vào lúc Giáo Hội đang sống một năm đặc biệt giành cho Thánh Thể. Làm sao tôi lại không thấy được cái trùng hợp được quan phòng này một yếu tố cần phải đánh dấu thừa tác vụ tôi đã được kêu gọi thi hành đâỷ Thánh Thể, tâm điểm của đời sống Kitô hữu và là nguồn mạch của sứ vụ truyền bá phúc âm hóa của Giáo Hội, chắc chắn bao giờ cũng phải là tâm điểm và là nguồn mạch cho sứ vụ thừa kế Thánh Phêrô đã được trao phó cho tôi”.

 

Thứ hai, là vì ngài chủ trương ưu tiên đệ nhất của giáo triều ngài là vấn đề hiệp nhất Kitô giáo, vấn đề được Chúa Giêsu nguyện ước ở cuối Bữa Tiệc Lý, cũng là vấn đề được chính ngài đã minh định trong cùng một sứ điệp trên đâỵ Ngài nói:

 

·        “Bởi vậy, bằng tất cả ý thức và vào lúc mở đầu cho thừa tác vụ của mình ở Giáo Hội Rôma là nơi Thánh Phêrô đã tắm máu, vị Thừa Kế này lãnh nhận, như là quyết tâm chính yếu của mình, quyết tâm không ngừng hoạt động hướng đến việc tái thiết mối hiệp nhất trọn vẹn và hữu hình của tất cả mọi thành phần môn đệ của Chúa Kitô. Đó là tham vọng của ngài, đó là nhiệm vụ bó buộc của ngàị Ngài biết rằng, để làm điều này, những bày tỏ về cảm tình thiện cảm mà thôi chưa đủ. Cần phải có những cử chỉ cụ thể để thấm nhập các tâm hồn và đánh động lương tâm, phấn khích mọi người tiến đến chỗ hoán cải nội tâm là điều căn bản cho tất cả mọi thứ tiến bộ trên con đường đại kết”.

 

Thứ ba, là vì, trong khi Đức Gioan Phaolô II, vị giáo hoàng “vui mừng và hy vọng” của Giáo Hội trong thế  giới tân tiến thực hiện chuyến tông du đầu tiên ngoài Rôma trong Nước Ý là Đền Thánh Phanxicô ở Assisi ngày 5/11/1978, thì chuyến tông du đầu tiên ngoài thành Rôma trong Ý quốc của vị tân giáo hoàng Biển Đức XVI của chúng ta đây là chuyến đi Bari để bế mạc Hội Nghị Thánh Thể ở Ý vào Chúa Nhật 29/5/2005, như ngài đã đề cập tới trong Huấn Từ Truyền Tin Chúa Nhật Chúa Ba Ngôi 22/5/2005 tại Quảng Trường Thánh Phêrô. Ngài nói:

 

·        “Với niềm hy vọng sẽ đích thân đến Bari vào Chúa Nhật tới đây để cử hành Thánh Thể, giờ đây tôi xin liên kết bản thân mình một cách thiêng liêng với biến cố quan trọng này của giáo hội”.

 

Thứ bốn, là vì, trong những ngày đầu tiên của giáo triều mình, ngài đã thúc giục hết mọi người, nhất là giáo sĩ hãy sốt sắng cử hành mầu nhiệm Thánh Thể.

 

Trước hết, đối với hết mọi người, trong sứ điệp ngỏ cùng hồng y đoàn ngày 20/4/2005, ngài đã kêu gọi:

 

“Bởi thế, trong năm nay, Lễ Trọng Kính Mình Thánh Chúa Kitô cần phải được cử hành một cách hết sức đặc biệt. Thánh Thể sẽ là trọng tâm của Ngày Giới Trẻ Thế Giới ở Cologne vào Tháng Tám, và của Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới thường lệ vào Tháng Mười, một thượng nghị sẽ bàn đến đề tài ‘Thánh Thể là Nguồn Mạch và là Tuyệt Đỉnh của Đời Sống và Sứ Vụ của Giáo Hộí. Tôi xin hết mọi người hãy gia tăng vào những tháng tới đây lòng yêu mến và việc sùng kính đối với Chúa Giêsu Thánh Thể và thể hiện một cách can đảm tỏ tường sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô, trước hết, qua những việc cử hành một cách long trọng và đúng đắn”.

 

Trong Huấn Từ Truyền Tin Chúa Nhật Lễ Chúa Ba Ngôi 22/5/2005, ngài cũng đã kêu gọi mọi người rằng:

 

·        Chúng ta chiêm ngưỡng mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa bằng việc long trọng tham dự Thánh Thể chí thánh, bí tích Mình Máu Chúa Kitô là hiện thực hiến tế cứu chuộc của Ngườị Bởi thế, hôm nay, lễ Ba Ngôi Chí Thánh, tôi hân hoan gửi lời chào đến thành phần tham dự viên hội nghị Thánh Thể của Giáo Hội Ý được khai mạc từ hôm qua ở Barị Ở tâm điểm của năm giành kính Thánh Thể này, dân Kitô giáo qui tụ lại quanh Chúa Kitô hiện diện nơi Bí Tích Cực Thánh là nguồn mạch và là tột đỉnh của đời sống và sứ vụ của mình. Đặc biệt là mỗi giáo xứ được kêu gọi để tái khám phá ra cái vẻ đẹp của Chúa Nhật là ngày của Chúa, ngày mà thành phần môn đệ của Chúa Kitô lập lại nơi Thánh Thể mối hiệp thông với Đấng ban ý nghĩa cho niềm vui và sự kiệt lực của họ mỗi ngàỵ ‘Chúng ta không thể sống nếu không có Chúa Nhật’, các Kitô hữu tiên khởi đã tuyên bố như thế, cho dù họ có bị thiệt mạng sống, và đây là những gì ngày nay chúng ta được kêu gọi để lập lại”.

 

Sau nữa, đối với riêng giáo sĩ, ngài đã kêu gọi các vị khi gặp gỡ hàng giáo sĩ thuộc giáo phận Rôma vào ngày Thứ Sáu 13/5/2005 tại Đền Thờ Latêranô

 

·        Tôi đặc biệt xin các vị linh mục thực hiện điều ấy, những vị giờ đây tôi đang hết lòng quí mến nghĩ đến vào lúc này đâỵ Thừa tác vụ linh mục được phát sinh từ Nhà Tiệc Ly, cùng với Thánh Thể, như vị tiền nhiệm đáng kính Gioan Phaolô II của tôi đã nhiều lần nhấn mạnh đến. ‘Đời sống linh mục cần phải đặc biệt có một ‘dạng thức Thánh Thể’, ngài đã viết như thế trong Bức Thư cuối cùng của ngài cho Ngày Thứ Năm Tuần Thánh. Việc sốt sắng cử hành hằng ngày Thánh Lễ, tâm điểm của đời sống và sứ vụ của hết mọi vị linh mục, là những gì góp phần vào việc đạt được mục đích ấy”.

 

Thế rồi, trong huấn từ ngỏ cùng hàng giáo sĩ Rôma vào ngày Thứ Sáu 13/5/2005 tại Đền Thờ Latêranô, ngài đã khuyên giục các vị theo gương sống Thánh Thể của Đức Gioan Phaolô II như sau:

 

·        Do đó, tôi muốn lập lại cùng quí huynh trong hàng giáo sĩ thân mến những lời không thể quên được của Đức Gioan Phaolô II: ‘Thánh Lễ là tâm điểm trên hết của đời sống tôi và của mỗi ngày tôi sống’ (Ađress at a Symposium in honor of the 30th anniversary of the Decree "Presbyterorum Ordinis," Oct. 27, 1995, n. 4; L'Osservatore Romano English edition, Nov. 15, 1995, p. 7). Mỗi một người trong chúng ta làm sao để có thể nói những lời ấy như là những lời của mình: Thánh Lễ là tâm điểm trên hết của đời sống tôi và của mỗi ngày tôi sống…

 

Như thế, vấn đề bỏ giờ ra sống trước nhan Chúa bằng việc nguyện cầu là một ưu tiên mục vụ thực sự; nó không phải là một thứ thêm thắt vào hoạt động mục vụ: ở trước nhan Chúa là một ưu tiên mục vụ và phải nói là một ưu tiên quan trọng nhất. Đức Gioan Phaolô II đã cho chúng ta thấy điều này một cách cụ thể và rạng ngời nhất qua tất cả mọi hoàn cảnh sống và thi hành thừa tác vụ của ngài”.

 

Vị Giáo Hoàng của Hiệp Nhất Kitô Giáo với “những cử chỉ cụ thể”

 

Như chúng ta đã biết, vị tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI của chúng ta, ngay sau ngày được bầu làm giáo hoàng, tức vào cuối Thánh Lễ Thứ Tư 20/4/2005, trong sứ điệp ngỏ cùng hồng y đoàn bấy giờ, ngài đã chính thức công khai tuyên bố vấn đề đại kết Kitô giáo là mối quan tâm đệ nhất của ngài (như trên đã trích dẫn), trong đó ngài nhấn mạnh đến “những cử chỉ cụ thể” về vấn đề hết sức quan trọng và khẩn trương này nữạ Ngài nói:

 

·        “… Vị Thừa Kế này, lấy làm quyết tâm chính yếu của mình, cương quyết không ngừng hoạt động để hướng đến việc tái thiết mối hiệp nhất trọn vẹn và hữu hình của tất cả mọi thành phần môn đệ của Chúa Kitô. Đó là tham vọng của ngài, đó là nhiệm vụ bó buộc của ngàị Ngài biết rằng, để làm điều này, những bày tỏ về cảm tình thiện cảm mà thôi chưa đủ. Cần phải có những cử chỉ cụ thể để thấm nhập các tâm hồn và đánh động lương tâm, phấn khích mọi người tiến đến chỗ hoán cải nội tâm là điều căn bản cho tất cả mọi thứ tiến bộ trên con đường đại kết”.

 

Vậy, từ sau khi ngài tuyên bố những lời làm nên sứ vụ giáo triều của ngài này, ngài đã thực hiện “những cử chỉ cụ thể” này ra sao, và thành phần có liên quan đến hoạt động đại kết Kitô giáo đã nhận định về ngài như thế nàỏ

 

Trước hết, về “những cử chỉ cụ thể để thấm nhập các tâm hồn và đánh động lương tâm, phấn khích mọi người tiến đến chỗ hoán cải nội tâm là điều căn bản cho tất cả mọi thứ tiến bộ trên con đường đại kết”, vị tân Giáo Hoàng Biển Đức của chúng ta quả thực đã bắt đầu thực hiện.

 

Thật vậy, ĐTGM Claude Feidt of Aix en Provende, đại diện Giáo Hội Công Giáo có mặt tại hội nghị Giáo Hội Cải Cách Pháp Quốc ở thành phố này đã đọc bản văn được văn phòng quốc vụ khanh của Tòa Thánh thay cho Đức Thánh Cha gửi đến hội nghị được chấm dứt hôm Chúa Nhật 8/5/2005 nàỵ

 

Trong sứ điệp của mình, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã gửi lời chào “thân ái đến tất cả mọi tham dự viên, ngài hứa sẽ cầu nguyện cho họ”, vị chủ tịch của hội nghị này là Marcel Manoel đã cho biết như thế. Ông nói tiếp: “Đây là lần đầu tiên hội nghị của chúng tôi đã nhận được một sứ điệp như vậỵ Chúng tôi nhận được sứ điệp này như là một cử chỉ của sự quan tâm”.

 

Giáo Hội Cải Cách Pháp Quốc có tất cả 350 phần tử. Chủ đề cho hội nghị lần này là “Tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô trong một Xã Hội Trần Thế”. Giáo Hội Cải Cách Pháp Quốc là giáo hội chính trong Liên Hiệp Thệ Phản Pháp Quốc, một tổ chức có chừng 900 ngàn ngườị

 

Chúng ta cũng nên biết là, trong thời gian còn giữ vai trò Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin, ngài đã thực hiện “những cử chỉ cụ thể” đối với vấn đề đại kết Kitô giáo này rồị Chắc chúng ta còn nhớ bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Lý Công Chính Hóa ký kết giữa Giáo Hội Công Giáo với Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới ở Đức ngày 30/10/1999 tại Augsburg, một thành quả tốt đẹp sau hơn 30 năm đối thoại đại kết. Thế nhưng, thành quả đại kết đầu tiên này không thể có nếu không thiếu “những cử chỉ cụ thể” do đích thân vị hồng y tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin Joseph Ratzinger thực hiện.

 

Thật vậy, trong cuộc tranh luận về thông điệp “Đức Tin và Lý Trí” của ĐTC Gioan Phaolô II xẩy ra tại Rôma vào Tháng 10/1998, vị hồng y nay làm giáo hoàng Biển Đức XVI của chúng ta đây đã cho biết rằng trước khi ngài lên đại học, ngài đã đọc tất cả các tác phẩm của Luthêrô được viết trước thời Cải Cách, tức là ngài đã hiểu được những suy nghĩ của một nhân vật Luthêrô khi còn là linh mục Công giáọ

 

ĐHY Ratzinger bấy giờ đã kêu gọi những ai hiện diện hãy đọc lại những bản văn đó, vì chúng cho thấy cuộc chiến đấu cả thể Luthêrô đã trải qua khi phải đương đầu với bản thân mình để sống và chấp nhận những giáo huấn của Vị Thiên Chúa công minh và thiện hảọ Cuộc tranh luận về thông điệp “Đức Tin và Lý Trí” nầ đã kéo dài mấy tiếng đồng hồ. Vị nguyên Giám Mục Tin Lành Luthêrô Wolfgang Huber ở Bálinh (bấy giờ, nay làm chủ tịch Hội Đồng Giáo Hội Tin Lành Đức Quốc) lấy làm cảm phục trước sự ứng đáp của vị tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin và khen Đức Ratzinger là một trong ít người thực sự hiểu được Luthêrô. Và chính kiến thức của ĐHY Joseph Ratzinger về ông tổ Thệ Phản Luthêrô đã giúp phần làm hiện thực việc ký kết lịch sử Bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Lý Công Chính Hóạ

 

Tuy nhiên, có một số điểm trong bản dự thảo của bản tuyên ngôn này được trình bày trong năm 1998 đã bị cả Tòa Thánh lẫn hiệp hội loại bỏ. Khi tình hình cho thấy dự án có thể bị hỏng cuộc, thì những khó khăn ấy đã được thắng vượt bởi Giám Mục Johannes Hanselmann, nguyên chỉ tịch Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới, và ĐHY Ratzinger, nhờ tình thân hữu lâu đời của hai vị này, mối thân hữu đã đưa đến việc thực hiện một cuộc họp riêng giữa hai người với nhau vào Tháng 11/1998.

 

Sau khi vị Giám Mục Tiến Sĩ Hanselmann này chết vào ngày 2/10/1999, ĐHY Ratzinger đã tiết lộ trong một bài diễn thuyết là: “Chúng tôi đã thực hiện một cuộc gặp gỡ ở nhà của người anh em của tôi, tại Đức quốc, khi mà dường như việc thỏa thuận về Tín Lý Công Chính Hóa đã bất thành. Nhờ đó, trong diễn trình của một cuộc tranh luận kéo dài cả một ngày trời, chúng tôi đã tìm thấy được những công thức làm sáng tỏ những điểm vẫn còn gặp trục trặc… Với công thức được dẫn giải vào những ngày ấy, theo cả Liên Hiệp Luthêrô lẫn giáo huấn của Công Giáo, họ đã có thể công nhận rằng họ đi đến việc thỏa thuận về một số điển nồng cốt của Tín Lý Công Chính Hóạ Nó không phải là một việc thỏa thuận có tính cách toàn cầu, thế nhưng, với công thức này mới có thể tiến đến chỗ ký vào một văn bản thỏa thuận ở những gì căn bản”. 

 

Sau nữa, thành phần có liên quan đến hoạt động đại kết Kitô giáo đã nhận định về ngài như thế nàỏ Trước quyết tâm cương quyết đi cho đến cùng con đường hiệp nhất Kitô giáo này của vị tân Giáo Hoàng 265 của Giáo Hội Công Giáo như thế, các nhân vật cao cấp thuộc Phong Trào Thệ Phản Tây Phương là phong trào được bắt đầu từ linh mục dòng Âu Quốc Tinh Martin Lutherô vào tiền bán thế kỷ 16 đã nhận định về ngài như thế nàỵ

 

Đối với Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội (the World Council of Churches), một tổ chức bao gồm 347 giáo hệ phái và cộng đồng giáo hội trên 100 quốc gia và lãnh thổ, với hơn 400 triệu Kitô hữu, mục sư Samuel Kobia, tổng thư ký của tổ chức này và là mục sư của Giáo Hội Methodist ở Kenya, trong cuộc phỏng vấn với mạng điện toán toàn cầu Zenit (được phổ biến ngày Thứ Sáu 22/4/2005), đã nhận định về ý hướng quyết tâm đẩy mạnh cuộc đối thoại hiệp nhất Kitô giáo của vị tân Giáo Hoàng.

 

·        Quả thực tôi rất sung sướng thấy rằng Vị Biển Đức XVI đã coi rất trọng hoạch định này trong các ưu tiên của ngài ‘mối hiệp nhất trọn vẹn và hữu hình của Kitô hữú, là mục tiêu tối hậu của phong trào đại kết và là lý do hiện hữu của Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hộị Nếu Vị Biển Đức XVI muốn tiến sâu vào những mối liên hệ và hợp tác với các Giáo Hội Kitô Giáo khác, và mạo hiểm đi vào các con đường mới để có thể mang chúng ta lại gần nhau hơn với mối hiệp thông trọn vẹn hơn bao giờ hết thì ngài sẽ thấy nơi Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội này một đồng bạn sẵn sàng đi với ngài tới đâu ngài muốn”.

 

Trong buổi triều kiến chung của thành phần Đại Kết và Liên Tôn trưa Thứ Hai 25/4, vị Giáo Chủ Anh Giáo là Rowan Williams, TGM Canterbury, đã được nói chuyện một chút với ĐTC Biển Đức XVI, sau đó, trong một cuộc họp báo ở Đại Học Anh Quốc ở Rôma, với sự hiện diện của cả ĐTGM Westminster là hồng y Cormac Murphy-ĨConnor, đã cho biết nhận định của mình về vấn đề đại kết nơi vị tân giáo hoàng này như sau:

 

·        Những gì đã làm cho chúng tôi cảm thấy phấn khởi trong cuộc viếng thăm này đó là hai điềụ Dĩ nhiên một điều là Giáo Hoàng Biển Đức đã nhấn mạnh đến việc lấy làm ưu tiên hoạt động đại kết. Ngài đã nói về việc làm tôi tớ cho mối hiệp nhất, và chúng tôi đã cảm thấy thấm thía khi chúng tôi nghe thấy thế”.

 

Vị chủ tịch hiện nay của tổ chức Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới là Mục Sư Mark Hanson, lập gia đình và có 6 người con, đồng thời cũng là vị giám mục chủ tịch ở Chicago của Evangelical Lutheran Church tại Hoa Kỳ, đã khen kiến thức sâu rộng của Vị Giáo Hoàng về Martin Luther và mong muốn củng cố vấn đề hiểu biết nhau hơn giữa người Công Giáo và Luthêrô. Mạng điện toán toàn cầu Zenit hôm 25/4/2005 đã phổ biến cuộc phỏng vấn giữa họ với vị mục sư chủ tịch này, một người đã nhận định về vị tân giáo hoàng Biển Đức XVI với vấn đề đại kết Kitô giáo như sau:

 

·        Chúng tôi có đủ lý do để hy vọng thấy được những phát triển đại kết tốt đẹp và việc hiểu biết nhau hơn nơi những người Luthêrô và những người Công giáo Rôma trong giáo triều của vị Giáo Hoàng nàỵ Trong vai trò lãnh đạo Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin, ĐHY Ratzinger đã mang lại cho vai trò lãnh đạo đại kết quan trọng, bao gồm cả việc ủng hộ việc chính thức chấp nhận một văn kiện rất lịch sử, đó là Bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Điều Công Chính Hóạ Bản văn kiện này được ký ở Augsburg, Đức quốc, quê hương xứ sở của Đưc Giáo Hoàng, vào ngày 31/10/1999. Đó là ngày theo truyền thống những người Luthêrô cử hành Cuộc Cải Cách”.

 

Hy vọng bừng lên từ chân trời đại kết

 

Mới đây, vào lúc mở màn cho giáo triều của vị giáo hoàng chủ trương ưu tiên đệ nhất vấn đề hiệp nhất Kitô giáo này, chúng ta quả thực đã thấy hiện lên một cách bất ngờ ở chân trời những dấu hiệu hướng về hiệp nhất hết sức phấn khởi như sau, một đối với Kitô Giáo Anh Quốc và một đối với Kitô Giáo Luthêrô.

 

Trước hết, dấu hiệu hướng về hiệp nhất phát hiện từ Kitô Giáo Anh Quốc, một Giáo Hội đã tác khỏi Giáo Hội Công Giáo Rôma từ năm 1535, và là một Giáo Hội vẫn bất đồng với Giáo Hội Công Giáo về hai tín điều Thánh Mẫu là Tín Điều Vô Nhiệm Nguyên Tội và Tín Điều Mông Triệu, cũng như về việc tôn sùng Thánh Mẫu của những người Công giáọ Thế mà, Ủy Ban Quốc Tế Anh Giáo và Công Giáo Rôma (ARCIC: Anglican Roman Catholic International Commission), bao gồm 18 thần học gia thuộc 10 quốc gia của cả hai bên, hôm Thứ Hai 16/5/2005, đã phổ biến văn kiện đúc kết 6 năm bàn luận về hình ảnh Đức Maria, với tựa đề “Đức Maria: Ân Sủng và Hy Vọng trong Chúa Kitô”.

 

Bản văn kiện này được phổ biến trong một cuộc cử hành tại vương cung Thánh Đường Công Giáo ở TGP Seattle, với sự hiện diện của cả 2 vị đồng chủ tịch là TGM Công Giáo Alexander Brunett và TGM Anh Giáo Peter Carnley, giáo chủ Úc Châụ Bản văn này còn được gọi là “Bản Tuyên Cáo Seattle” không phải là một bản tuyên ngôn có thẩm quyền hoặc bởi Công giáo hay Anh giáo nhưng có mục đích để đôi bên bàn luận hơn nữạ

 

ĐHY Cormac Murphy-ĨConnor, TGM Công Giáo ở Westminster, đã nhận định là bản văn kiện này “là một thành đạt chính yếu trong cuộc đối thoại đang diễn tiến giữa người Công giáo và Anh giáo hoàn vũ. Nó là một thành đạt trong việc gia tăng vấn đề hiểu biết sâu xa nơi chủ trương của mỗi giáo hội”.

 

ĐGM McMahon Công giáo ở Nottingham nói rằng: “Việc hiểu biết của người Anh giáo và Công giáo đã được củng cố rất nhiều bởi cuộc đối thoại nàỵ Những gì chúng ta đã thực hiện đó là dọn đường dẫn đến vấn đề hiệp nhất Kitô giáo”.

 

Ủy ban này đã được bắt đầu từ năm 1970 và đã viết những văn kiện về Thánh Thể, thẩm quyền thừa tác vụ trong Giáo Hội, ơn cứu độ và công chính hóa cùng bản chất của Giáo Hộị

 

Cha Donald Bolen, linh mục Công giáo đồng thư ký của ủy ban này và là trợ tá cho ngành Tây Phương của Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Hiệp Nhất Kitô Giáo, trong cuộc phỏng vấn với mạng điện toán toàn cầu Zenit (và bài phỏng vấn đã được Zenit phổ biến ngày 18-19/5/2005), đã cho biết các nhà thần học Anh Giáo đã công nhận hai tín điều Thánh Mẫu và việc tôn sùng Thánh Mẫu của Giáo Hội Công Giáo là những gì hợp với Thánh Kinh.

 

Trước hết, về tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội, vị linh mục này cho biết khoản số 59 viết rằng:

 

·        Theo ơn gọi là Mẹ Đấng Thánh của Người (x Lk 1:35), chúng ta có thể cùng nhau xác nhận là công cuộc cứu chuộc của Chúa Kitô đã đạt đến ở nơi Đức Maria tầm mức sâu thẳm hữu thể của Người cũng như vào những giây phút ban đầu của Ngườị Điều này không ngược với giáo huấn của Thánh Kinh, và chỉ có thể hiểu được theo chiều hướng Thánh Kinh. Những người Công giáo Rôma có thể nhìn nhận nơi điều này những gì đã được tín điều ấy xác nhận – tức là vấn đề ‘được gìn giữ khỏi tất cả mọi tì vết nguyên tộí và ‘từ giây phút đầu tiên khi Người được hoài thaí”.

 

Sau nữa, về tín điều Mông Triệu, vị linh mục này cũng cho biết những chi tiết liên quan đến khoản số 56 và 58 như thế này:

 

·        Dù ‘không có chứng cớ trực tiếp trong Thánh Kinh liên quan đến việc kết thúc cuộc sống của Đức Mariá (56), ‘Kitô hữu Đông Tây từ đời nọ đến đời kia vẫn nghĩ về công cuộc của Thiên Chúa nơi Đức Maria, họ đều ý thức một cách tin tưởng rằng… thật là xứng hợp việc Chúa đã triệu Người về với Ngài một cách trọn vẹn: trong Chúa Kitô, Người đã là một tạo vật mới…’ (58). Một lần nữa, khi liên kết ý thức về ân sủng và niềm hy vọng này nơi đời sống của Đức Maria với tín điều Mông Triệu của Đức Maria, bản văn nhận định là: ‘chúng ta có thể cùng nhau xác nhận giáo huấn Thiên Chúa đã mang Đức Trinh Nữ Maria vào vinh quang tất cả con người của Người là những gì hợp với Thánh Kinh, và giáo huấn ấy thực sự chỉ hiểu được theo chiều hướng Thánh Kinh như thế mà thôị Những người Công Giáo Rôma có thể nhìn nhận rằng giáo huấn này về Đức Maria được tuyên bố bằng một tín điềú” (58).

 

Sau hết, về việc tôn sùng Thánh Mẫu của Giáo Hội Công Giáo, vị linh mục này tiết lộ như sau:

 

·        Phần chính yếu cuối cùng của bản văn (64-75) nói đến vị trí của Đức Maria trong đời sống Giáo Hội, vấn đề liên quan tới việc tôn sùng Thánh Mẫụ Phần này được bắt đầu bằng việc mạnh mẽ xác nhận là: ‘Chúng ta cùng nhau đồng ý rằng với ý thức Đức Maria là mẫu gương trọn vẹn nhất của con người về đời sống ân sủng, chúng ta được kêu gọi để suy nghĩ đến những bài học về đời sống của Người được ghi nhận trong Thánh Kinh và liên kết với Người như một vị thực sự chưa qua đi song vẫn thực sự sống trong Chúa Kitô’ (65). Bản văn này nhấn mạnh là việc tôn sùng Thánh Mẫu và việc kêu cầu Đức Maria không thể nào làm lu mờ hay suy giảm vai trò trung gian duy nhất của Chúa Kitô. Bản văn kết luận: ‘Cùng nhau xác nhận một cách ý thức vai trò trung gian duy nhất của Đức Kitô, một vai trò mang lại hoa trái trong đời sống của Giáo Hội, chúng ta không coi việc kêu xin Đức Maria và các thánh nguyện cầu cho chúng ta như là một việc chia rẽ mối hiệp thông của chúng ta… chúng ta tin rằng không có lý do về thần học nào nữa về việc chia rẽ giáo hội liên quan tới các vấn đề nàý”.

 

Chưa hết, dấu hiệu hướng về hiệp nhất thứ hai phát hiện (còn rạng ngời hơn nữa) từ Kitô Giáo Luthêrô. Thật vậy, trong Hội Nghị Thánh Thể Ý Quốc ở Bari, nơi Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đến để bế mạc hội nghị này vào Chúa Nhật 29/5/2005, thì hôm Thứ Tư, 25/5/2005, ngày hội nghị giành để bàn về vấn đề đại kết Kitô giáo, có một vị Giám Mục Luthêrô ở Helsinki là Eoro Huovinen đã bày tỏ trong hội nghị này là các người Luthêrô Phần Lan muốn trở thành phần tử thuộc Giáo Hội Công Giáo của Chúa Kitô.

 

Sau khi giải thích rằng Martin Luthêrô không muốn thành lập một giáo hội mới mà chỉ muốn canh tân giáo hội thôi, vì giám mục này nói:

 

·        Những người Luthêrô Phần Lan chúng tôi muốn trở thành phần tử thuộc Giáo Hội Công Giáo của Chúa Kitô”.

 

Vị giám mục này đã cắt nghĩa rằng trong năm 2005, cùng với những người Công giáo và các Kitô hữu khác, những người Luthêrô cử hành 850 năm Giáo Hội ở Phần Lan. Những người Luthêrô chiếm 85% trong tổng số 5.2 triệu dân ở nước nàỵ

 

Cùng với anh chị em Công Giáo, chúng ta hãy cầu nguyện để có thể là một trong Chúa Kitô”. Đối với đề tài về Chúa Nhật của Hội Nghị Thánh Thể này, vị giám mục Luthêrô nói rằng người ta không thể nào sống “không có bí tích Thánh Thể, không có Chúa Kitô và không có Thiên Chúạ Chúa Nhật là ngày Chúa Kitô phục sinh. Thánh Thể là bí tích của việc Chúa Kitô thực sự hiện diện. Hiệp nhất không có hiệu lực khi thiếu sự thật… Tận đáy lòng của mình, tôi muốn tham dự vào ngày mà người Luthêrô và Công giáo cùng nhau hiệp nhất một cách hữu hình”.

 

Trong bài giảng Bế Mạc Hội Nghị Thánh Thể Ý Quốc XXIV ở Bari hôm Chúa Nhật 29/5/2005, ĐTC Biển Đức XVI còn nói đến Bí Tích Thánh Thể là Bí Tích Hiệp Nhất và lập lại quyết tâm hiệp nhất Kitô giáo của ngài như sau:

 

“Đến đây chúng ta đối diện với một chiều kích sâu xa hơn nữa của Thánh Thể là chiều kích tôi muốn bàn đến trước khi kết thúc bài giảng. Chúa Kitô là Đấng chúng ta gặp gỡ trong bí tích này cũng chỉ là một ở Bari đây, như ở Rôma, ở Âu Châu, Mỹ Châu, Phi Châu, Á Châu, Đại Dương Châu. Người là Chúa Kitô duy nhất hiện diện nơi bánh Thánh Thể ở khắp mọi nơi trên trái đất này. Điều này có nghĩa là chúng ta chỉ có thể hội ngộ với Người cùng với tất cả những người khác. Chúng ta chỉ có thể nhận lấy Người trong hiệp nhất mà thôi.

 

“Đó không phải là những gì đã được Thánh Tông Đồ Phaolô nói với chúng ta trong bài đọc chúng ta vừa nghe hay sao? Khi viết cho Kitô hữu Côrintô, ngài đã khẳng định rằng: “Vì chỉ có một tấm bánh duy nhất mà chúng ta tuy nhiều chỉ là một thân thể duy nhất, vì tất cả chúng ta đều tham dự vào một tấm bánh duy nhất” (1Cor 10:17). Kết quả rõ ràng là: Chúng ta không thể hiệp thông với Chúa Kitô nếu chúng ta không hiệp thông với chính chúng ta. Nếu chúng ta muốn ra trước nhan Người, chúng ta cần phải tiến đến chỗ gặp gỡ nhau. Để làm được điều này cần phải biết hết sức thứ tha. Chúng ta không được để cho những con ấu trùng sát hại của tâm trạng bất mãn cầm buộc tinh thần của chúng ta, nhưng hãy mở lòng mình ra một cách rộng lượng, để lắng nghe người khác, để cảm thông, để có thể chấp nhận những lời xin lỗi của nhau, để quảng đại ban phát những gì của chúng ta.

 

“Chúng ta hãy lập lại Thánh Thể là bí tích của hiệp nhất. Thế nhưng, tiếc thay, Kitô hữu lại chia rẽ nhau chính vì bí tích hiệp nhất này. Bởi thế, đó lại càng là lý do, được Thánh Thể nâng đỡ, chúng ta cần phải cảm thấy được phấn khích hết sức hường đến mối hiệp nhất trọn vẹn như Chúa Kitô thiết tha mong muốn ở nhà tiệc ly. Chính ở Baria này đây, thành phố đang giữ những xương cốt của Thánh Nicholas, mảnh đất của gặp gỡ và đối thoại với những người anh em Kitô hữu Đông phương mà tôi xin khẳng định ý muốn của tôi trong vấn đề thực hiện hết sức mình, như là một cuộc dấn thân chính yếu, trong việc tái thiết mối hiệp nhất tất cả mọi thành phần môn đệ Chúa Kitô một cách trọn vẹn và hữu hình.

 

“Tôi biết rằng, để làm như thế, những việc bày tỏ thiện cảm vẫn chưa đủ. Cần phải có những cử chỉ cụ thể là những gì thẩm thấu tâm linh và khuấy động lương tri, mời gọi từng người tiến đến chỗ hoán cải nội tâm là điều kiện tiên quyết cho tất cả mọi sự tiến bộ trên con đường đại kết (cf. Benedict XVI's Address to Representatives of Christian Churches and Communities and of Other Non-Christian Religions, April 25, 2005). Tôi xin tất cả anh chị em hãy cương quyết thực hiện con đường đại kết thiêng liêng này, con đường bằng việc nguyện cầu mở cửa cho Thánh Linh là Đấng duy nhất có thể kiến tạo hiệp nhất mà thôi”.

 

Riêng tôi, trong bài chia sẻ “Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Vị Giáo Hoàng của Một Tân Âu Châu” trong buổi phát thanh Tin Mừng Sự Sống 242 ngày 1/5/2005 (www.tinmungsuong.org) , một bài cũng được phổ biến trên mạng điện toán toàn cầu www.thoidiemmariạnet www.dongcong.net cùng ngày phát thanh, đã cảm thấy dường như Thiên Chúa đã dọn đường trước cho vị giáo hoàng người Đức xuất thân từ một quốc gia xuất phát Phong Trào Thệ Phản này, để giúp ngài có thể hoàn tất sứ vụ hiệp nhất Kitô giáo của ngài, khi Thiên Chúa đã cho hoàn tất Bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Lý Công Chính Hóa giữa Giáo Hội Công Giáo với Liên Hiệp Lutherô Thế Giới gần 6 năm trước đây, để rồi, qua tổ chức Liên Hiệp Thế Giới Luthêrô này, như qua Công Đoàn Liên Đới ở Balan đã được Thiên Chúa sử dụng nhờ ảnh hưởng của Đức Gioan Phaolô II trong biến cố làm sụp đổ Khối Cộng Sản Đông Âu vào cuối năm 1989 thế nào, tổ chức Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới cũng có thể được Vị Chủ Tể Lịch Sử loại người sử dụng, nhờ ảnh hưởng của vị tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI, với “những cử chỉ cụ thể” đại kết Kitô giáo của ngài, để làm cho Âu Châu là châu lục Kitô giáo được thực sự trở thành một Khối Hiệp Nhất, để chẳng những Kitô giáo có thể đứng vững trước cuộc tấn công của tân ý hệ duy nhân bản hiện nay của thế giới, mà còn trở thành một thần lực truyền bá phúc âm hóa trong ngàn năm thứ ba Kitô giáo nữạ

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 

 TOP

 

ĐTC Biển Đức XVI với ý nghĩa Lễ Mình Máu Thánh Chúa 

 

Về Lễ Trọng Kính Mình Máu Thánh Chúa đầu giáo triều của mình Thứ Năm 26/5/2005 tại Vatican cũng như vào Chúa Nhật 29/5/2005 tại Hội Nghị Thánh Thể Bari, chắc chắn ngài sẽ chia sẻ với chúng ta nhiều cảm nghiệm Thánh Thể của ngài.

 

Trong khi chờ đợi để được nghe thấy cảm nghiệm của vị chủ chiên tối cao này, chúng ta hãy cùng nhau ôn lại một số tư tưởng rất đặc biệt của ngài về Lễ Mình Máu Thánh Chúa đã được ngài chia sẻ qua cuốn “Thiên Chúa gần gũi chúng ta”, một tác phẩm được ngài xuất bản vào năm 2003, cùng năm với Thông Điệp “Giáo Hội Sống Bởi Thánh Thể” được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ban hành vào Thứ Năm Tuần Thánh 17/4/2003, vị tân giáo hoàng Biển Đức XVI của chúng ta, bấy giờ còn là Hồng Y Joseph Ratzinger, Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin, ở chương có nhan đề “Đứng Trước Nhan Chúa, Bước Đi Với Chúa, Quì Trước Nhan Chúa”. Theo ngài, 3 tác động đứng, đi và quì này là tất cả ý nghĩa của Lễ Mình Máu Thánh Chúa được Giáo Hội cử hành hằng năm. Ngài đã viết ở đoạn mở đầu của chương này như sau:

 

“Nếu chúng ta muốn hiểu được ý nghĩa của Lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô, điều hay nhất cần phải làm đó là chỉ cần nhìn vào hình thức phụng vụ được Giáo Hội cử hành và dẫn giải tầm quan trọng của lễ này. Vượt trên những yếu tố chung đối với tất cả mọi lễ khác của Kitô giáo, có 3 yếu tố đặc biệt làm nên hình dạng chuyên biệt nơi cách thức chúng ta cử hành lễ này.

 

“Trước hết là những gì chúng ta đang làm bây giờ, đó là việc chúng ta đang gặp gỡ nhau chung quanh Chúa, việc chúng ta đứng trước nhan Chúa, đứng ở bên Chúa, nhờ đó, chúng ta cũng cùng đứng bên nhau. Tiếp theo là việc chúng ta bước đi với Chúa, đó là việc rước kiệu Thánh Thể. Và sau hết là tâm điểm và là tột đỉnh của việc bước đi với Chúa ấy đó là việc chúng ta quì trước nhan Chúa. Đứng trước nhan Chúa, bước đi với Chúa, và quí trước nhan Chúa, bởi thế, là ba yếu tố cấu tạo nên ngày lễ này, và giờ đây chúng ta suy nghĩ về chúng một chút.

 

Về yếu tố thứ nhất của Lễ Mình Máu Thánh Chúa là “đứng trước nhan Chúa”, tức là yếu tố hiệp nhất trong Chúa. Ngài đã nói đến diễn tiến lịch sử của việc cử hành Thánh Thể vào thời Giáo Hội còn sơ khai, như ở vùng Địa Trung Hải, nơi qui tụ mọi giai cấp trong xã hội lại với nhau trước bàn thờ Chúa, hay ở chính Rôma, nơi vị Giám Mục Rôma là Đức Giáo Hoàng, đặc biệt trong Mùa Chay, đi từ nhà thờ này đến nhà thờ khác để cử hành Thánh Thể, làm cho Kitô hữu thuộc các nhà thờ khác nhau có thể gặp gỡ nhau. Cuối cùng ngài đã đúc kết như sau:

 

“Chúng ta càng đứng ở bên Chúa và trước nhan Chúa thì chúng ta càng đứng với nhau, và khả năng hiểu biết nhau càng lớn lên, khả năng nhận biết nhau là con người, là anh chị em với nhau, như thế, khi ở với nhau là xây dựng nền tảng và tạo cơ hội cho nhân loại và cho sự sống”.

 

Về yếu tố thứ hai của Lễ Mình Máu Thánh Chúa là “bước đi với Chúa”, ngài trước hết đã liên kết với yếu tố “đứng trước nhan Chúa” rồi sau đó suy diễn như sau:

 

“Việc cùng nhau đứng trước nhan Chúa và với Chúa đây đã đưa tới chỗ thực sự là những gì thuộc về tâm điểm của việc đứng từ đầu này, đó là việc bước đi tới Chúa. Vì chúng ta không tự nhiên có thể đứng bên nhau được. Đó là lý do tại sao việc đứng tại chỗ (station) có thể xẩy ra chỉ khi nào con người ta trước đó đã qui tụ lại và đi đến với nhau từng đoàn lũ (procession). Đây là lời kêu gọi thứ hai của Lễ Mình Máu Thánh Chúa. Chúng ta chỉ có thể đứng bên nhau chỉ khi nào, trước hết, theo sự hướng dẫn của Chúa, chúng ta đi đến với nhau. Chúng ta có thể đến với Chúa chỉ bằng việc tiến hành (procedure) này mà thôi, bằng việc vươn mình ra và vươn mình tới ấy, bằng việc vượt lên trên những thành kiến riêng tư của chúng ta, trên những giới hạn của chúng ta và trên những ngãng trở của chúng ta mà thôi, để đi đến với Người, và tiến đến điểm chúng ta có thể gặp gỡ nhau”.

 

Căn cứ vào ý nghĩa thứ hai của Lễ Mình Máu Thánh Chúa là “bước đi với Chúa” để có thể tiến đến với nhau như thế, ngài đã nói đến ý nghĩa của việc Rước Kiệu Thánh Thể như sau:

 

“Việc rước kiệu này, việc rước kiệu mà từ giai đoạn đầu đã là một phần của việc thờ phượng tại chỗ ở Rôma, chắc chắn đã có một chiều kích mới, một ý nghĩa mới, nơi Lễ Mình Máu Thánh Chúa. Vì việc rước kiệu Thánh Thể không còn chỉ là việc bước đi tới Chúa, tới việc cử hành Thánh Thể nữa; mà là bước đi với Chúa; tự mình nó là yếu tố của việc cử hành Thánh Thể, một chiều kích của biến cố Thánh Thể…

 

“Chỉ bước đi với Chúa chúng ta mới có thể tồn tại với cuộc hành trình lịch sử của chúng ta mà thôi. Như thế, Lễ Mình máu Thánh Chúa Kitô cho thấy ý nghĩa của cả đời sống chúng ta, của toàn thể lịch sử thế giới: đó là việc chúng ta tiến về đất hứa, một cuộc tiến bước có thể tiếp tục theo đúng hướng chỉ khi nào chúng ta bước đi với Người là Đấng đã đến giữa chúng ta như bánh và là Lời Chúa”.

 

Về yếu tố thứ ba của Lễ Mình Máu Thánh Chúa là “quì trước nhan Chúa” có ý nghĩa là “tôn thờ”, ngài đã nói đến tác động rất quan trọng này liên quan tới con người cao ngạo của thời đại văn minh như sau:

 

“Nếu Chúa ban mình cho chúng ta thì việc lãnh nhận Người có nghĩa là cúi mình trước nhan Người, là tôn vinh Người, là thờ lạy Người. Ngay cả ngày nay việc này cũng không phản lại với phẩm giá, tự do và thân phận của con người trong việc họ quì gối xuống, trong việc vâng phục Người, trong việc thờ phượng Người và trong việc tôn vinh Người….

 

“Đấng chúng ta tôn thờ không phải là một quyền lực cách biệt nào đó. Chính Người đã quì xuống trước chúng ta để rửa chân cho chúng ta. Việc ấy đã cống hiến cho việc tôn thờ của chúng ta tính chất của một việc tôn thờ không bị bó buộc, một việc tôn thờ trong hân hoan và niềm hy vọng, vì chúng ta đang cuí mình trước Đấng đã đích thân cúi mình xuống, vì chúng ta cuí mình xuống để được tham dự vào một tình yêu không biến chúng ta thành những kẻ nô lệ mà biến đổi chúng ta”. 

 

Sau bài giáo lý cho buổi triều kiến chung hằng tuần, Thứ Tư 25/5/2005, ĐTC Biển Đức XVI đã ngỏ lời mời tất cả mọi người hãy đến tham dự Lễ Trọng Kính Mình Máu Thánh Chúa do ngài chủ tế như sau:

 

“Ngày mai là Lễ Trọng Kính Mình Máu Thánh Chúa Kitô, tôi sẽ chủ tế Thánh Lễ vào lúc 7 giờ tối ở quảng trường Đền Thờ Gioan Latêranô. Sau đó là cuộc Kiệu Thánh Thể theo truyền thống đến Đền Thờ Đức Bà Cả. Tôi thân ái mời tất cả anh chị em hãy tham dự vào cuộc cử hành này để cùng nhau chúng ta làm chứng cho đức tin của chúng ta nơi Chúa Kitô hiện diện trong Thánh Thể”.

 

 Bài phát thanh Tin Mừng Sự Sống 246 ngày Thứ Sáu 27/5/2005 www.tinmungsusong.org 

Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL

 

TOP

 

Các Nữ Tu Dòng Kín Thánh Clara ở Hòa Lan cầu cho ĐHY Ratzinger được làm Giáo Hoàng

Một tờ nội san số tháng 4/2005 của các nữ tu kín Dòng Thánh Clara ở Eindhoven Hòa Lan đã viết như sau:


“Đêm vọng ở Quảng Trường Thánh Phêrô được chấm dứt vào lúc 8 giờ 37 phút ngày 2/4/2005 đã được tiếp tục cho tới khuya ở nơi đây, nơi chẳng có truyền thanh hay truyền hình gì cả để có thể nói cho chúng tôi biết về vị cha của chúng ta đã thực sự bước qua ngưỡng cửa hy vọng”.

Những vị nữ tu kín này, thành phần chỉ biết tin tức bên ngoài nhờ mạng điện toán Zenit và bạn bè, chỉ biết được tin ĐTC GPII qua đời nhờ chuông đổ ở nhà thờ gần đó.

Khi đến tiếng chuông nhà thờ này đổ vào giữa đêm hôm như thế đến hồi thứ 15, các nữ tu cho rằng: “chỉ có một lý do duy nhất khiến chuông đổ vào nửa đêm như vậy”.

Và trong khi cả thế giới đang xem lễ an táng của Đức Gioan Phaolô II thì các nữ tu này giành cả ngày cầu nguyện thiết tha cho ngài.

“Việc làm này ít là đã làm cho một nam nhân lấy làm bàng hoàng”. Số là có một phóng viên của tờ nhật báo địa phương Eindhoven muốn chụp một tấm ảnh về việc các nữ tu này đang xem lễ an táng của ĐTC GPII, các nữ tu cho ông ta biết rằng các sơ không có truyền hình. “Bấy giờ ông ta bật ngửa người ra: Các sơ không có lấy được một cái truyền hình à? Không có truyền hình hay sao? Không có truyền hình hả? Không có thực à?”

Các nữ tu này nói rằng các sơ cầu nguyện thiết tha cho ĐHY Ratzinger được làm giáo hoàng, và các sơ muốn biết ngay vị nào là tân giáo hoàng. Các sơ đã liên lạc với hai người bạn trong cộng đồng được trao cho số điện thoại riêng của mẹ bề trên, và họ phải gọi các sơ khi thấy khói trắng bay lên từ ống khói của nguyện đường Sistine.

Điện thoại đã reo vào chiều ngày 19/4 và báo tin rằng khói đen lại bốc lên, nhưng mẹ bề trên không tin lời trình báo này vì nó cho rằng quá sớm để kết thúc việc bầu phiếu.

Các sơ đã vào tìm trong mạng điện toán toàn cầu, và mẹ bề trên liền gọi các sơ đến ngay văn phòng của mẹ.

Theo dõi các biến cố trên màn ảnh nhỏ của máy điện toán trên bàn của mẹ bề trên, các sơ, tất cả chen chúc trong một văn phòng nhỏ, bật lên cảm xúc khi nghe thấy tên “Ratzinger”: “Chúng tôi đã hô lên, nhẩy lên, chúng tôi đã ôm lấy nhau…”

 

 

TOP

 

 

Tân Giáo Hoàng Biển Đức: Vị Giáo Hoàng của Hiệp Nhất Kitô Giáo: "Những cử chỉ cụ thể"

Như chúng ta đã biết, vị tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI của chúng ta, ngay sau ngày được bầu làm giáo hoàng, tức vào cuối Thánh Lễ Thứ Tư 20/4/2005, trong sứ điệp ngỏ cùng hồng y đoàn bấy giờ, ngài đã chính thức công khai tuyên bố vấn đề đại kết Kitô giáo là mối quan tâm đệ nhất của ngài. Ngài nói:

• “Bởi vậy, bằng tất cả ý thức và vào lúc mở đầu cho thừa tác vụ của mình ở Giáo Hội Rôma là nơi Thánh Phêrô đã tắm máu, vị Thừa Kế này, lấy làm quyết tâm chính yếu của mình, cương quyết không ngừng hoạt động để hướng đến việc tái thiết mối hiệp nhất trọn vẹn và hữu hình của tất cả mọi thành phần môn đệ của Chúa Kitô. Đó là tham vọng của ngài, đó là nhiệm vụ bó buộc của ngài. Ngài biết rằng, để làm điều này, những bày tỏ về cảm tình thiện cảm mà thôi chưa đủ. Cần phải có những cử chỉ cụ thể để thấm nhập các tâm hồn và đánh động lương tâm, phấn khích mọi người tiến đến chỗ hoán cải nội tâm là điều căn bản cho tất cả mọi thứ tiến bộ trên con đường đại kết”.

Vậy, từ sau khi ngài tuyên bố những lời làm nên sứ vụ giáo triều của ngài này, ngài đã thực hiện “những cử chỉ cụ thể” này ra sao, và thành phần có liên quan đến hoạt động đại kết Kitô giáo đã nhận định về ngài như thế nào?

Trước hết, về “những cử chỉ cụ thể để thấm nhập các tâm hồn và đánh động lương tâm, phấn khích mọi người tiến đến chỗ hoán cải nội tâm là điều căn bản cho tất cả mọi thứ tiến bộ trên con đường đại kết”, vị tân Giáo Hoàng Biển Đức của chúng ta quả thực đã bắt đầu thực hiện.

Thật vậy, ĐTGM Claude Feidt of Aix en Provende, đại diện Giáo Hội Công Giáo có mặt tại hội nghị Giáo Hội Cải Cách Pháp Quốc ở thành phố này đã đọc bản văn được văn phòng quốc vụ khanh của Tòa Thánh thay cho Đức Thánh Cha gửi đến hội nghị được chấm dứt hôm Chúa Nhật 8/5/2005 này.

Trong sứ điệp của mình, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã gửi lời chào “thân ái đến tất cả mọi tham dự viên, ngài hứa sẽ cầu nguyện cho họ”, vị chủ tịch của hội nghị này là Marcel Manoel đã cho biết như thế. Ông nói tiếp: “Đây là lần đầu tiên hội nghị của chúng tôi đã nhận được một sứ điệp như vậy. Chúng tôi nhận được sứ điệp này như là một cử chỉ của sự quan tâm”.

Giáo Hội Cải Cách Pháp Quốc có tất cả 350 phần tử. Chủ đề cho hội nghị lần này là “Tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô trong một Xã Hội Trần Thế”. Giáo Hội Cải Cách Pháp Quốc là giáo hội chính trong Liên Hiệp Thệ Phản Pháp Quốc, một tổ chức có chừng 900 ngàn người.

Chúng ta cũng nên biết là, trong thời gian còn giữ vai trò Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin, ngài đã thực hiện “những cử chỉ cụ thể” đối với vấn đề đại kết Kitô giáo này rồi. Chắc chúng ta còn nhớ bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Lý Công Chính Hóa ký kết giữa Giáo Hội Công Giáo với Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới ở Đức ngày 30/10/1999 tại Augsburg, một thành quả tốt đẹp sau hơn 30 năm đối thoại đại kết. Thế nhưng, thành quả đại kết đầu tiên này không thể có nếu không thiếu “những cử chỉ cụ thể” do đích thân vị hồng y tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin Joseph Ratzinger thực hiện.


Thật vậy, trong cuộc tranh luận về thông điệp “Đức Tin và Lý Trí” của ĐTC Gioan Phaolô II xẩy ra tại Rôma vào Tháng 10/1998, vị hồng y nay làm giáo hoàng Biển Đức XVI của chúng ta đây đã cho biết rằng trước khi ngài lên đại học, ngài đã đọc tất cả các tác phẩm của Luthêrô được viết trước thời Cải Cách, tức là ngài đã hiểu được những suy nghĩ của một nhân vật Luthêrô khi còn là linh mục Công giáo.


ĐHY Ratzinger bấy giờ đã kêu gọi những ai hiện diện hãy đọc lại những bản văn đó, vì chúng cho thấy cuộc chiến đấu cả thể Luthêrô đã trải qua khi phải đương đầu với bản thân mình để sống và chấp nhận những giáo huấn của Vị Thiên Chúa công minh và thiện hảo. Cuộc tranh luận về thông điệp “Đức Tin và Lý Trí” naà đã kéo dài mấy tiếng đồng hồ. Vị nguyên Giám Mục Tin Lành Luthêrô Wolfgang Huber ở Bálinh (bấy giờ, nay làm chủ tịch Hội Đồng Giáo Hội Tin Lành Đức Quốc) lấy làm cảm phục trước sự ứng đáp của vị tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin và khen Đức Ratzinger là một trong ít người thực sự hiểu được Luthêrô. Và chính kiến thức của ĐHY Joseph Ratzinger về ông tổ Thệ Phản Luthêrô đã giúp phần làm hiện thực việc ký kết lịch sử Bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Lý Công Chính Hóa.


Tuy nhiên, có một số điểm trong bản dự thảo của bản tuyên ngôn này được trình bày trong năm 1998 đã bị cả Tòa Thánh lẫn hiệp hội loại bỏ. Khi tình hình cho thấy dự án có thể bị hỏng cuộc, thì những khó khăn ấy đã được thắng vượt bởi Giám Mục Johannes Hanselmann, nguyên chỉ tịch Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới, và ĐHY Ratzinger, nhờ tình thân hữu lâu đời của hai vị này, mối thân hữu đã đưa đến việc thực hiện một cuộc họp riêng giữa hai người với nhau vào Tháng 11/1998.


Sau khi vị Giám Mục Tiến Sĩ Hanselmann này chết vào ngày 2/10/1999, ĐHY Ratzinger đã tiết lộ trong một bài diễn thuyết là: “Chúng tôi đã thực hiện một cuộc gặp gỡ ở nhà của người anh em của tôi, tại Đức quốc, khi mà dường như việc thỏa thuận về Tín Lý Công Chính Hóa đã bất thành. Nhờ đó, trong diễn trình của một cuộc tranh luận kéo dài cả một ngày trời, chúng tôi đã tìm thấy được những công thức làm sáng tỏ những điểm vẫn còn gặp trục trặc… Với công thức được dẫn giải vào những ngày ấy, theo cả Liên Hiệp Luthêrô lẫn giáo huấn của Công Giáo, họ đã có thể công nhận rằng họ đi đến việc thỏa thuận về một số điển nồng cốt của Tín Lý Công Chính Hóa. Nó không phải là một việc thỏa thuận có tính cách toàn cầu, thế nhưng, với công thức này mới có thể tiến đến chỗ ký vào một văn bản thỏa thuận ở những gì căn bản”.


Sau nữa, thành phần có liên quan đến hoạt động đại kết Kitô giáo đã nhận định về ngài như thế nào? Trước quyết tâm cương quyết đi cho đến cùng con đường hiệp nhất Kitô giáo này của vị tân Giáo Hoàng 265 của Giáo Hội Công Giáo như thế, các nhân vật cao cấp thuộc Phong Trào Thệ Phản Tây Phương là phong trào được bắt đầu từ linh mục dòng Âu Quốc Tinh Martin Lutherô vào tiền bán thế kỷ 16 đã nhận định về ngài như thế này.

Đối với Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội (the World Council of Churches), một tổ chức bao gồm 347 giáo hệ phái và cộng đồng giáo hội trên 100 quốc gia và lãnh thổ, với hơn 400 triệu Kitô hữu, mục sư Samuel Kobia, tổng thư ký của tổ chức này và là mục sư của Giáo Hội Methodist ở Kenya, trong cuộc phỏng vấn với mạng điện toán toàn cầu Zenit (được phổ biến ngày Thứ Sáu 22/4/2005), đã nhận định về ý hướng quyết tâm đẩy mạnh cuộc đối thoại hiệp nhất Kitô giáo của vị tân Giáo Hoàng.

“Quả thực tôi rất sung sướng thấy rằng Vị Biển Đức XVI đã coi rất trọng hoạch định này trong các ưu tiên của ngài ‘mối hiệp nhất trọn vẹn và hữu hình của Kitô hữu’, là mục tiêu tối hậu của phong trào đại kết và là lý do hiện hữu của Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội. Nếu Vị Biển Đức XVI muốn tiến sâu vào những mối liên hệ và hợp tác với các Giáo Hội Kitô Giáo khác, và mạo hiểm đi vào các con đường mới để có thể mang chúng ta lại gần nhau hơn với mối hiệp thông trọn vẹn hơn bao giờ hết thì ngài sẽ thấy nơi Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội này một đồng bạn sẵn sàng đi với ngài tới đâu ngài muốn”.

Trong buổi triều kiến chung của thành phần Đại Kết và Liên Tôn trưa Thứ Hai 25/4, vị Giáo Chủ Anh Giáo là Rowan Williams, TGM Canterbury, đã được nói chuyện một chút với ĐTC Biển Đức XVI, sau đó, trong một cuộc họp báo ở Đại Học Anh Quốc ở Rôma, với sự hiện diện của cả ĐTGM Westminster là hồng y Cormac Murphy-O’Connor, đã cho biết nhận định của mình về vấn đề đại kết nơi vị tân giáo hoàng này như sau:

“Những gì đã làm cho chúng tôi cảm thấy phấn khởi trong cuộc viếng thăm này đó là hai điều. Dĩ nhiên một điều là Giáo Hoàng Biển Đức đã nhấn mạnh đến việc lấy làm ưu tiên hoạt động đại kết. Ngài đã nói về việc làm tôi tớ cho mối hiệp nhất, và chúng tôi đã cảm thấy thấm thía khi chúng tôi nghe thấy thế”.

Vị chủ tịch hiện nay của tổ chức Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới là Mục Sư Mark Hanson, lập gia đình và có 6 người con, đồng thời cũng là vị giám mục chủ tịch ở Chicago của Evangelical Lutheran Church tại Hoa Kỳ, đã khen kiến thức sâu rộng của Vị Giáo Hoàng về Martin Luther và mong muốn củng cố vấn đề hiểu biết nhau hơn giữa người Công Giáo và Luthêrô. Mạng điện toán toàn cầu Zenit hôm 25/4/2005 đã phổ biến cuộc phỏng vấn giữa họ với vị mục sư chủ tịch này, một người đã nhận định về vị tân giáo hoàng Biển Đức XVI với vấn đề đại kết Kitô giáo như sau:

“Chúng tôi có đủ lý do để hy vọng thấy được những phát triển đại kết tốt đẹp và việc hiểu biết nhau hơn nơi những người Luthêrô và những người Công giáo Rôma trong giáo triều của vị Giáo Hoàng này. Trong vai trò lãnh đạo Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin, ĐHY Ratzinger đã mang lại cho vai trò lãnh đạo đại kết quan trọng, bao gồm cả việc ủng hộ việc chính thức chấp nhận một văn kiện rất lịch sử, đó là Bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Điều Công Chính Hóa. Bản văn kiện này được ký ở Augsburg, Đức quốc, quê hương xứ sở của Đưc Giáo Hoàng, vào ngày 31/10/1999. Đó là ngày theo truyền thống những người Luthêrô cử hành Cuộc Cải Cách”.

Riêng tôi, trong bài chia sẻ “Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Vị Giáo Hoàng của Một Tân Âu Châu” trong buổi phát thanh Tin Mừng Sự Sống 242 ngày 1/5/2005 (www.tinmungsuong.org) , một bài cũng được phổ biến trên mạng điện toán toàn cầu www.thoidiemmaria.net và www.dongcong.net cùng ngày phát thanh, đã cảm thấy dường như Thiên Chúa đã dọn đường trước cho vị giáo hoàng người Đức xuất thân từ một quốc gia xuất phát Phong Trào Thệ Phản này, để giúp ngài có thể hoàn tất sứ vụ hiệp nhất Kitô giáo của ngài, khi Thiên Chúa đã cho hoàn tất Bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Lý Công Chính Hóa giữa Giáo Hội Công Giáo với Liên Hiệp Lutherô Thế Giới gần 6 năm trước đây, để rồi, qua tổ chức Liên Hiệp Thế Giới Luthêrô này, như qua Công Đoàn Liên Đới ở Balan đã được Thiên Chúa sử dụng nhờ ảnh hưởng của Đức Gioan Phaolô II trong biến cố làm sụp đổ Khối Cộng Sản Đông Âu vào cuối năm 1989 thế nào, tổ chức Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới cũng có thể được Vị Chủ Tể Lịch Sử loại người sử dụng, nhờ ảnh hưởng của vị tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI, với “những cử chỉ cụ thể” đại kết Kitô giáo của ngài, để làm cho Âu Châu là châu lục Kitô giáo được thực sự trở thành một Khối Hiệp Nhất, để chẳng những Kitô giáo có thể đứng vững trước cuộc tấn công của tân ý hệ duy nhân bản hiện nay của thế giới, mà còn trở thành một thần lực truyền bá phúc âm hóa trong ngàn năm thứ ba Kitô giáo nữa.

 

Bài phát thanh Tin Mừng Sự Sống 244 ngày Thứ Sáu 13/5/2005 www.tinmungsusong.org 

Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL

 

TOP

 

ĐTC Biển Đức XVI là Vị Thông Hiểu về ông tổ Thệ Phản Martin Lutherô


Một Kitô hữu Luthêrô Đức quốc là Sigrid Spath, người nữ làm việc trên 30 năm ở hội đồng tổng quản Dòng Tên và cộng tác với Tòa Thánh, có những lúc đã là dẫn giải viên của Đức Hồng Y Ratzinger. Trong một cuộc họp chung năm 1998, có bà chứng kiến, giữa vị Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin và nguyên Giám Mục Tin Lành Luthêrô Wolfgang Huber ở Bálinh nay làm chủ tịch Hội Đồng Giáo Hội Tin Lành Đức Quốc, Bà cho biết, vị giám mục này đã nói rằng ĐHY là một trong ít người thực sự hiểu được Martin Luthêrô.


Trong cuộc tranh luận về thông điệp “Đức Tin và Lý Trí” xẩy ra tại Rôma vào Tháng 10/1998, vị hồng y này đã cho biết rằng trước khi ngài lên đại học, ngài đã đọc tất cả các tác phẩm của Luthêrô được viết trước thời Cải Cách.


Bà này nói với mạng điện toán toàn cầu Zenit rằng: “Tức là những suy nghĩ của một Luthêrô Công giáo. ĐHY Ratzinger đã kêu gọi những ai hiện diện hãy đọc lại những bản văn đó, vì chúng cho thấy cuộc chiến đấu cả thể Luthêrô đã phải đương đầu với bản thân mình để sống và chấp nhận những giáo huấn của Vị Thiên Chúa công minh và thiện hảo. ‘Các bạn Thệ Phản thân mến, (vị hồng y kêu gọi), hãy tái khám phá ra Luthêrô vào những năm ấy’. Cuộc tranh luận kéo dài mấy tiếng đồng hồ. Giám Mục Huber lấy làm cảm phục trước sự ứng đáp của vị tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin và khen Đức Ratzinger là một trong ít người thực sự hiểu được Luthêrô”.


Kiến thức của ĐHY Ratzinger về Luthêrô đã làm hiện thực việc ký kết lịch sử Bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Lý Công Chính Hóa, một bản tuyên ngôn chung được chấp thuận bởi cả Giáo Hội Công Giáo lẫn Liên Hiệp Thế Giới Luthêrô.


Có một số điểm trong bản dự thảo của bản tuyên ngôn này được trình bày trong năm 1998 đã bị cả Tòa Thánh lẫn hiệp hội loại bỏ. Khi tình hình cho thấy dự án có thể hỏng cuộc, thì những khó khăn ấy đã được thắng vượt bởi Giám Mục Johannes Hanselmann, nguyên chỉ tịch Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới, và ĐHY Ratzinger, nhờ tình thân hữu lâu đời của hai vị này, tình thân hữu đã thực hiện một cuộc họp riêng giữa hai người vào Tháng 11/1998.


Sauk hi Tiến Sĩ Hanselmann chết vào ngày 2/10/1999, ĐHY Ratzinger đã tiết lộ trong một bài diễn thuyết là: “Chúng tôi đã thực hiện một cuộc gặp gỡ ở nhà của người anh em của tôi, tại Đức quốc, khi mà dường như việc thỏa thuận về Tín Lý Công Chính Hóa đã bất thành. Nhờ đó, trong diễn trình của một cuộc tranh luận kéo dài cả một ngày, chúng tôi đã tìm thấy được những công thức làm sáng tỏ những điểm vẫn còn gặp trục trặc…


“Với công thức được dẫn giải vào những ngày ấy, theo cả Liên Hiệp Luthêrô lẫn giáo huấn của Công Giáo, họ đã có thể công nhận rằng họ đi đến việc thỏa thuận về một số điển nồng cốt của Tín Lý Công Chính Hóa. Nó không phải là một việc thỏa thuận có tính cách toàn cầu, thế nhưng, với công thức này mới có thể tiến đến chỗ ký vào một văn bản thỏa thuận ở những gì căn bản”.
 

 

TOP

 

Tân Giáo Hoàng Biển Đức: Vị Giáo Hoàng của Bữa Tiệc Ly . ... của Hiệp Thông Giáo Hội

Trước hết, chúng ta nên biết, khi còn là giáo sư khoa tín lý thần học, là một Thần Học Gia và là Hồng Y tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin, Đức Joseph Ratzinger đã xuất bản rất nhiều tác phẩm về thần học, nhất là thần học liên quan đến khoa giáo hội học hiệp thông là những gì trực tiếp liên quan đến Bữa Tiệc Ly, đến Thánh Thể. Có thể kể đến những tác phẩm sau đây:

Tác phẩm đầu tiên cho thấy khuynh hướng chủ yếu liên quan đến thao thức thần học về một khoa giáo hội học hiệp thông của nhân vật mang tên Joseph Ratzinger được Thiên Chúa tuyển chọn làm giáo hoàng 265 của Giáo Hội Công Giáo, đó là luận án tiến sĩ thần học năm 1953 mang tựa đề “Dân Chúa và Nhà Chúa nơi giáo huấn của Thánh Âu Quốc Tinh về Giáo Hội”.

Ông David Schindler, chủ nhiệm tạp chí thần học Hiệp Thông và là khoa trưởng hàn lâm Viện Gioan Phaolô II, trong cuộc chia sẻ với mạng điện toán toàn cầu Zenit (bài chia sẻ được Zenit phổ biến hôm Chúa Nhật 1/5/2005) đã cho biết như sau:

“Hiệp Thông là tờ tam cá nguyệt san Điểm Báo Thần Học Quốc Tế được thành lập từ năm 1972 bởi các thần học gia Hans Urs von Balthasar, Henri de Lubac và Joseph Ratzinger. Từ khi thực hiện ấn bản bằng Đức ngữ, có thêm 13 ấn bản khác nữa, trong đó có cả ấn bản Balan do Hồng Y Karol Wojtyla thực hiện. Ngài Ratzinger vẫn là một tay chủ động điều hành tờ tập san này, viết và duyệt bài vở cho tới khi ngài được bổ nhiệm làm tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin 1981. Mặc dù vào lúc ấy, trách nhiệm của ngài không cho phép ngài chính thức tham gia vào tờ Hiệp Thông nữa, ngài vẫn thiết tha quan tâm tới hoạt động của tờ tập san này”.

Ngoài ra, ngài còn viết bộ hồi niệm đầu tiên về mình, được biết đến như là “Những Đoạn Đường Đời”, đã cho thấy đức tin sâu xa và kiến thức của con người cao cả này. Rồi sau đó là taá phẩm “Nhập Môn Kitô Giáo”, một tổng hợp các bài dạy ở đại học về việc tuyên xưng đức tin, được xuất bản năm 1968, và cuốn “Tín Điều và Mạc Khải”. Những tác phẩm của ngài bao gồm một lãnh vực rộng lớn, về thần học có những cuốn như “Những Nguyên Tắc Thần Học Công Giáo”; về những suy tư mục vụ như cuốn “Đồng Cán Sự Viên Chân Lý”; về những phân tách sâu xa liên quan đến các thứ ý hệ tân tiến khác nhau cũng như về cuộc nói chuyện thẳng với các ký giả về đời sống lẫn đức tin của mình cùng tình trạng Giáo Hội được ghi lại trong ba cuốn “Muối Đất”, “Tường Trình Ratzinger”, “Thiên Chúa và Thế Giới”.

Trong số các tác phẩm khác có tác phẩm ngài viết về “Bản Chất và Sứ Vụ của Khoa Thần Học” là tác phẩm liên quan tới văn kiện của Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin dưới nhan đề “Ơn Gọi Giáo Hội của Thần Học Gia”. Tác phẩm “Được Kêu Gọi Hiệp Thông” chất chứa những cuộc bàn luận thần học về bản chất của Giáo Hội, về vai trò giáo hoàng cũng như về vấn đề thần học đang được tranh cãi sôi nổi nơi vấn đề liên hệ giữa Giáo Hội địa phương và Giáo Hội hoàn vũ. Cũng thế, cuốn “Chân Lý và Dung Nhượng”, một tác phẩm bàn đến Kitô giáo và các tôn giáo không phải Kitô giáo, đã cho thấy những ý nghĩ của thần học gia Ratzinger về giáo huấn của Giáo Hội trong văn kiện “Chúa Giêsu” được tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin Ratzinger ban hành.

Ngoài ra, còn có hai tác phẩm liên quan đến Chúa Giêsu Thánh Thể, đó là cuốn “Tinh Thần Phụng Vụ - The Spirit of The Liturgy” xuất bản trong Đại Năm Thánh 2000, và cuốn “Thiên Chúa Gần Gũi Chúng Ta - God is Near Us” xuất bản năm 2003, năm ĐTC GPII ban hành Thông Điệp Giáo Hội Sống Bởi Thánh Thể. Cả hai tác phẩm này đều được Ignatius Press xuất bản cho thế giới Anh ngữ. Riêng trong cuốn Tinh Thần Phụng Vụ, ngài đã bàn đến những điều hiểu lầm chiều hướng canh tân phụng vụ của Công Đồng Chung Vaticanô II, cách riêng liên quan tới vị trí của nhà tạm và cử chỉ bái gối. Trong lời dẫn nhập, ngài đã minh định ý hướng viết cuốn sách Tinh Thần Phụng Vụ này như sau:

“Tôi chỉ muốn giúp vào việc ý thức đức tin cũng như vào cách thức xứng đáng để đức tin trở thành một hình thức chính yếu trong việc thể hiện nơi phụng vụ. Nếu cuốn sách này là một cái gì gợi hứng, một cách mới mẻ nào đó, như một thứ ‘phong trào phụng vụ’, một phong trào hướng về phụng vụ cũng như hướng về cách thức thích đáng để cử hành phụng vụ, cả bên trong lẫn bên ngoài, thì ý hướng tác động viết thành cuốn sách này hoàn toàn được mãn nguyện rồi vậy”.

Trong cuộc phỏng vấn với tờ tuần san Ý Famiglia Cristiana, một cuộc phỏng vấn được mạng điện toán toàn cầu Zenit phổ biến ngày 23/2/2004, ĐHY Joseph Ratzinger bấy giờ là Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin, vị vừa xuất bản cuốn sách mang tựa đề "La Communione nella Chiesa" (Mối Hiệp Thông Trong Giáo Hội), đã cho biết nhận định của mình về việc cử hành phụng vụ hiện nay trong Giáo Hội như sau. Ngài nói:

“Tôi thấy rằng có nhiều lần, trong các lễ mồ, lễ cưới cũng như nhiều trường hợp khác, người ta lên Rước Lễ như thể đó là một phần của lễ nghi vậy, tức nó là một bữa tối mà người ta cần phải ăn. Thế nhưng, làm như thế là người ta không còn sống tính cách sâu xa thiêng liêng của biến cố này nữa, một biến cố bao giờ cũng là một thách đố lớn lao cho mỗi một người trong chúng ta. Tôi thực sự đồng ý với các vị đại giáo hoàng khi các ngài nói rằng chúng ta cần Hiệp Lễ vì chỉ có Chúa mới là Đấng có thể ban cho chúng ta những gì chúng ta không thể tự mình chiếm hữu. Chính vì chúng ta thiếu thốn mà chúng ta mới cần đến sự hiện diện của Người. Tuy nhiên, chúng ta cần phải tránh đi một thứ nghi thức hời hợt làm hạ giá tác động này, và hãy cố gắng đi sâu vào tính cách cao cả của nó.

Giờ đây, với tư cách là một tân giáo hoàng, tân giáo hoàng của Bữa Tiệc Ly, ngài đã thực sự và chính thức công khai liên kết Thánh Thể với giáo triều của ngài, như chính ngài đã minh định trong sứ điệp ngỏ cùng hồng y đoàn cuối Thánh Lễ ngày Thứ Tư 20/4/2005, tức ngay sau ngày ngài được bầu làm giáo hoàng như sau:

“Giáo triều của tôi, một cách hết sức ý nghĩa, được mở màn vào lúc Giáo Hội đang sống một năm đặc biệt giành cho Thánh Thể. Làm sao tôi lại không thấy được cái trùng hợp được quan phòng này một yếu tố cần phải đánh dấu thừa tác vụ tôi đã được kêu gọi thi hành đây? Thánh Thể, tâm điểm của đời sống Kitô hữu và là nguồn mạch của sứ vụ truyền bá phúc âm hóa của Giáo Hội, chắc chắn bao giờ cũng phải là tâm điểm và là nguồn mạch cho sứ vụ thừa kế Thánh Phêrô đã được trao phó cho tôi.

“Thánh Thể làm cho Chúa Kitô Phục Sinh liên lỉ hiện diện, một Chúa Kitô là Đấng tiếp tục hiến Mình cho chúng ta, kêu gọi chúng ta hãy tham dự vào bàn tiệc Mình Máu của Người. Từ mối hiệp thông trọn vẹn này với Người mới xuất phát ra hết mọi yếu tố khác của đời sống Giáo Hội, trước hết là mối hiệp thông giữa tín hữu, việc dấn thân loan truyền và làm chứng cho Phúc Âm, nhiệt tình bác ái đối với tất cả mọi người, nhất là với thành phần nghèo khổ và hèn mọn nhất.

“Bởi thế, trong năm nay, Lễ Trọng Kính Mình Thánh Chúa Kitô cần phải được cử hành một cách hết sức đặc biệt. Thánh Thể sẽ là trọng tâm của Ngày Giới Trẻ Thế Giới ở Cologne vào Tháng Tám, và của Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới thường lệ vào Tháng Mười, một thượng nghị sẽ bàn đến đề tài ‘Thánh Thể là Nguồn Mạch và là Tuyệt Đỉnh của Đời Sống và Sứ Vụ của Giáo Hội’. Tôi xin hết mọi người hãy gia tăng vào những tháng tới đây lòng yêu mến và việc sùng kính đối với Chúa Giêsu Thánh Thể và thể hiện một cách can đảm tỏ tường sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô, trước hết, qua những việc cử hành một cách long trọng và đúng đắn.

“Tôi đặc biệt xin các vị linh mục thực hiện điều ấy, những vị giờ đây tôi đang hết lòng quí mến nghĩ đến vào lúc này đây. Thừa tác vụ linh mục được phát sinh từ Nhà Tiệc Ly, cùng với Thánh Thể, như vị tiền nhiệm đáng kính Gioan Phaolô II của tôi đã nhiều lần nhấn mạnh đến. ‘Đời sống linh mục cần phải đặc biệt có một ‘dạng thức Thánh Thể’, ngài đã viết như thế trong Bức Thư cuối cùng của ngài cho Ngày Thứ Năm Tuần Thánh. Việc sốt sắng cử hành hằng ngày Thánh Lễ, tâm điểm của đời sống và sứ vụ của hết mọi vị linh mục, là những gì góp phần vào việc đạt được mục đích ấy”.

Theo tôi, nếu mỗi vị giáo hoàng đều ban hành một bức thông điệp khai triều, một thông điệp gói ghém tất cả tinh thần và đường hướng mục vụ của giáo triều mình, như Đức Phaolô VI, với Thông Điệp “Ecclesiam Suam - Giáo Hội của Người”, ban hành ngày 6/8/1964, liên quan đến Hiến Chế tín lý về Giáo Hội “Lumen Gentium – Ánh Sáng Muôn Dân” của Công Đồng Vaticanô II, và như Đức Gioan Phaolô II với Thông Điệp “Redemptor Hominis – Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần”, ban hành ngày 4/3/1979, liên quan đến Hiến Chế mục vụ về Giáo Hội “Gaudium et Spes – Vui Mừng và Hy Vọng”, thì vị tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI cũng sẽ ban hành một bức thông điệp, theo dự đoán, có thể sẽ liên quan đến Giáo Hội Hiệp Thông hay Hiệp Thông Giáo Hội, một văn kiện liên quan tới hai hiến chế còn lại đi đôi với nhau của Công Đồng Chung Vaticanô II, đó là Hiến Chế về Mạc Khải Thần Linh “Dei Verbum - Lời Chúa” và Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh “Sacrosanctum Concilium – Cộng Đồng Thánh”. Bởi vì, muốn hiệp thông Giáo Hội hay muốn Giáo Hội hiệp thông, trước hết và trên hết, Kitô hữu Công giáo cần phải sống hiệp thông với Chúa Kitô nơi Phụng Vụ Thánh. Và chỉ khi nào Chúa Kitô sống trong chúng ta, Người mới làm cho chúng ta được “Ut Unum Sint hiệp nhất nên một” mà thôi.

 

Bài viết cho Chương Trình Phát Thanh Tin Mừng Sự Sống FM 106.3 Nam California ngày Thứ Sáu 6/5/2005

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 

TOP

 

Khoa Giáo Hội Học Hiệp Thông: Thao Thức Thần Học của HY Thần Học Gia Joseph Ratzinger

 

Theo người dịch bài phỏng vấn này thì nếu Đức Gioan Phaolô II là một triết gia về nhân bản Kitô giáo, với một học thuyết “thần học về thân thể”, thì Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI là một thần học gia về khoa giáo hội học hiệp thông. Phải chăng, chính vì thế, vì khả năng riêng của mình, một khả năng như mầm mống ơn gọi nơi bản thân mình, mỗi vị đã được Thiên Chúa kêu gọi đến để thực hiện sứ vụ hợp với khả năng của từng vị: Nếu Đức Gioan Phaolô II là vị giáo hoàng “vui mừng và hy vọng” của “Giáo Hội trong Thế Giới Hiện Đại, thì Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI là vị giáo hoàng của một Hiệp Nhất Kitô Giáo và cho một Tân Âu Châu.

 

Thật vậy, ông David Schindler, chủ nhiệm tạp chí thần học Hiệp Thông và là khoa trưởng hàn lâm Viện Gioan Phaolô II, đã nhận định về vị hồng y nay làm Giáo Hoàng Biển Đích XVI. Ông này đã chia sẻ với mạng điện toán toàn cầu Zenit (được phổ biến hôm Chúa Nhật 1/5/2005) trong một cuộc phỏng vấn về khoa giáo hội vốn là tâm điểm của những thao thức thần học nơi vị thần học gia kiêm tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin này từ khi còn là một linh mục trẻ ở Công Đồng Chung Vaticanô II, một cuộc phỏng vấn đã được Zenit phổ biến ngày 1/5/2005.

 

Vấn:     Mối liên hệ của ĐHY Ratzinger với tập san Hiệp Thông này ra sao? Ông đã có cảm nghiệm như thế nào khi hoạt động với ngài về tờ tập san này?

 

Đáp:    Hiệp Thông là tờ tam cá nguyệt san Điểm Báo Thần Học Quốc Tế được thành lập từ năm 1972 bởi các thần học gia Hans Urs von Balthasar, Henri de Lubac và Joseph Ratzinger. Từ khi thực hiện ấn bản bằng Đức ngữ, có thêm 13 ấn bản khác nữa, trong đó có cả ấn bản Balan do Hồng Y Karol Wojtyla thực hiện.

 

Ngài Ratzinger vẫn là một tay tổ chức chủ động của tờ tập san này, viết và duyệt bài vở cho tới khi ngài được bổ nhiệm làm tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin 1981. Mặc dù vào lúc ấy, trách nhiệm của ngài cho không phép ngài chính thức tham gia vào tờ Hiệp Thông nữa, ngài vẫn thiết tha quan tâm tới hoạt động của tờ tập san này.

 

Vào năm 1992, ngài đã đọc bài diễn văn chính nhân dịp kỷ niệm 20 năm tờ Hiệp Thông ở Rôma. Bài diễn văn này đã được phổ biến trong ấn bản Hoa Kỳ của tập san và nhiều bài của vị hồng y này tiếp tục được phổ biến trên Hiệp Thông.

 

Đầu tiên tôi được nhà thần học Balthasar giới thiệu với ĐHY Ratzinger ở Rôma vào Tháng 9/1985 trong dịp mừng kỷ niệm 80 tuổi của nhà thần học này do ĐHY Ratzinger tổ chức. Từ đó và trong những cuộc gặp gỡ với vị hồng y này vào những năm sau đó, tôi đã thấy ngài là một con người thật khiêm nhượng và hết sức thông minh, những tặng ân được ngài hết lòng đem ra phục vụ Chúa Kitô và Giáo Hội.

 

Như hết mọi người biết ngài đều cảm thấy ngài có một thái độ nhún nhường và hiền lành, và người ta cảm thấy ngỡ ngàng trước tính cách đơn thành trẻ thơ nơi ngài, về việc hết sức chăm chú nơi vấn đề đang được quan tâm. Ngài là một người hoàn toàn không màng gì tới những lớp vỏ quyền lực, thật vậy, chính nhờ khiêm nhượng mà ngài mới có được một đức can trường như thế để bênh vực sự thật.

 

Những chủ trương của ngài, mặc dù rõ ràng và sắc bén, cũng không phải là những gì được thực hiện vì ngài cho bằng bao giờ cũng để phục vụ cho một cái gì đó lớn lao hơn cả bản thân ngài, đó là cái nguyên vẹn của những gì ngài muốn bảo toàn.


Vấn:     Ý tưởng về “Hiệp thông” hiển nhiên là ý tưởng chính yếu cho tờ tập san của ông. Thế nhưng, ý nghĩa về thần học của từ ngữ này nghĩa là gì? Và theo nhãn quan của Giáo Hoàng Biển Đức XVI thì nó  mang ý nghĩa ra sao?

 

Đáp:    Chữ “hiệp thông”, theo ý nghĩa căn bản của mình, tìm cách tái ý thức bản chất của Giáo Hội như là một cuộc hiệp thông con người. Mối hiệp thông yêu thương này bao gồm cơ cấu giáo phẩm Thánh Phêrô là cơ cấu bảo toàn cho tính cách khách quan của Giáo Hội.

 

Đã có nhiều cuộc bàn luận theo sau Công Đồng Chung Vaticanô II về ý niệm “Dân Chúa” như là ý nghĩa nổi nhất về Giáo Hội.

 

“Hiệp thông” không nghịch với ý niệm này khi nó biến đổi ý niệm ấy, bằng cách nhấn mạnh đến việc khởi xướng của Thiên Chúa, Đấng đã thiết lập và gìn giữ việc hiệp nhất của Giáo Hội nơi Chúa Giêsu Kitô với việc hợp tác của Đức Maria Mẹ Người, vị đã thưa tiếng ‘xin vâng’ để làm cho bản thân Mẹ trở thành ngôi nhà đầu tiên của Thiên Chúa trên thế gian – bởi thế Mẹ là ‘hình ảnh’ căn bản của Giáo Hội.

 

Ý niệm về Giáo Hội như ‘mối hiệp thông’ (communio), như thế, tương phản với ý niệm về Giáo Hội như là ‘cộng đồng’ (congregatio). Vì ‘communio’ nhấn mạnh đến bản chất của Giáo Hội như là tặng ân Chúa ban, những gì được thiết định “từ thượng giới”, trong khi đó ‘congregatio’ nói đến một cộng đồng xuất thân ‘từ hạ giới’ theo quyết định của con người muốn có một cộng đồng theo cách thức của một cơ cấu dân chủ.

 

Nhận thức qui thần này về Giáo Hội như là bí tích của tình yêu Chúa Kitô đã từng là đặc tính được ấp ủ nơi đời sống của Hồng Y Ratzinger. Tôi nghĩ rằng người ta có lý để nói được rằng khoa giáo hội học luôn là tâm điểm nơi những thao thức thần học của ngài, và đã được cho thấy nơi hoạt động quan trọng của ngài ở chính Công Đồng Chung Vaticanô II, mặc dù bấy giờ ngài chỉ mới ở vào lứa tuổi giữa tam thập.


Vấn:     Làm thế để “hiệp thông” trở thành cốt lõi cần được thể hiện nơi đời sống của Giáo Hội, như Hồng Y Ratzinger đã nói?

 

Đáp:    Mối hiệp thông con người làm nên Giáo Hội là hình ảnh của mối hiệp thông Ngôi Vị của Thiên Chúa Ba Ngôi thần linh. Đời sống của Giáo Hội tự bản chất được phát xuất từ từ sự sống của Thiên Chúa, trong Chúa Kitô và nhờ Chúa Kitô cũng như theo lời Người hứa ở cùng Giáo Hội, một hiện diện sống động nơi Giáo Hội.

 

Giáo Hội xuất phát từ cung lòng của Thiên Chúa Ba Ngôi, từ sự sống của tình yêu thần linh, một tình yêu được mạc khải nơi Chúa Kitô và qua Chúa Kitô nhờ đức tuân phục kính mến của lời Mẹ Maria xin vâng.


Vấn:     Mối hiệp thông này có liên hệ ra sao với Công Đồng Chung Vaticanô II?

 

Đáp:    Mối hiệp thông được thiết lập là để giúp vào việc canh tân giáo hội và văn hóa được Công Đồng này kêu gọi. Chủ ý không phải chỉ để nói lên và khai triển ý nghĩa đích thực của Công Đồng này, mà còn để giúp vào việc truyền bá ‘văn minh yêu thương’ được Công Đồng này mong ước nữa.

 

Mục đích căn bản của tờ tập san này, theo chiều hướng ấy, là để chứng tỏ cho thấy những kho tàng về thần học và linh đạo nơi truyền thống giáo huấn của Giáo Hội có thể giúp chúng ta đương đầu thẳng với những vấn đề trầm trọng của nền văn hóa đương đại, cũng như để duy trì niềm hy vọng khi phải đối diện với những vấn đề ấy.

 

 

TOP

 

Giáo Hoàng Biển Đức XVI là một Đại Thần Học Gia Thời Hiện Đại

 

Ông Brumley, vị giám đốc nhà xuất bản Ignatius Press, một nhà xuấn bản chính của thế giới Anh ngữ về các tác phẩm của ĐHY Joseph Ratzinger, trong một cuộc phỏng vấn với mạng điện toán toàn cầu Zenit, và được Zenit phổ biến ngày 26/4/2005, đã cho biết nhận định hân hoan của mình về tặng ân tân Giáo Hoàng là một đại thần học gia đệ nhất thời hiện đại như sau:

 

Vấn:     Đâu là một số những đóng góp quan trọng nhất được ĐHY Ratzinger vào khoa thần học trong giai đoạn 20 năm làm tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin?

 

Đáp:    Cần phải phân biệt giữa công việc của Hồng Y Ratzinger với tư cách là tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin CDF (Congregation for the Doctrine of Faith) với công việc làm với tư cách là một thần học gia.

 

Những đóng góp của ngài với tư cách là tổng trưởng CDF thì khác nhau theo thứ loại được ngài đóng góp với tư cách là một thần học gia, cho dù chúng hiển nhiên đều qui về giáo huấn Công Giáo.

 

Với tư cách là tổng trưởng CDF, ngài đã ban hành các văn kiện thuộc về loại giáo huấn được Thần Linh soi dẫn của Giáo Hội. Những người Công giáo cần phải đón nhận và chấp nhận giáo huấn này như là giáo huấn Công Giáo chuyên chính. Những văn kiện này còn quan trọng hơn là việc đóng góp của một thần học gia thuần túy cho khoa thần học.

 

Vì các thần học gia đồng thời cũng không đến được với Mạc Khải thần linh qua những gì mạc khải này được thể hiện nơi Thánh Kinh được linh ứng cũng như nơi Thánh Truyền được Thần Linh tác động như được huấn quyền dẫn giải, mà văn kiện liên tục của huấn quyền tự bản chất là những gì “góp phần vào khoa thần học”.

 

Các thần học gia hữu trách đều sử dụng giáo huấn của giáo hội để luận suy một cách hợp lý và theo hệ thống về những gì được Thiên Chúa mạc khải. Bởi thế văn kiện của vị tổng trưởng CDF thực sự là những gì “đóng góp cho khoa thần học”.

 

ĐHY Ratzinger đã tiếp tục phát hành các tác phẩm thần học ngoài việc ngài thi hành thẩm quyền thuộc vai trò CDF của mình. Một số tác phẩm có liên hệ chặt chẽ với một vài văn kiện và liên quan tới CDF.

 

Chẳng hạn, trong số các tác phẩm khác có tác phẩm ngài viết về “Bản Chất và Sứ Vụ của Khoa Thần Học” là tác phẩm liên quan tới văn kiện CDF “Ơn Gọi Giáo Hội của Thần Học Gia”. Tác phẩm “Được Kêu Gọi Hiệp Thông” chất chứa những cuộc bàn luận thần học về bản chất của Giáo Hội, về vai trò giáo hoàng cũng như về vấn đề thần học đang được tranh cãi sôi nổi nơi vấn đề liên hệ giữa Giáo Hội địa phương và Giáo Hội hoàn vũ.

 

Cũng thế, cuốn “Chân Lý và Dung Nhượng”, một tác phẩm bàn đến Kitô giáo và các tôn giáo không phải Kitô giáo, đã cho thấy những ý nghĩ của thần học gia Ratzinger về giáo huấn của Giáo Hội trong văn kiện “Chúa Giêsu” được tổng trưởng CDF Ratzinger ban hành.

 

Về tính cách xứng hợp đối với tác phẩm của một thần học gia thì cuốn “Chân Lý và Dung Nhượng” là tác phẩm làm khuyếch đại và đào sâu hơn những gì được chứa đựng nơi văn kiện “Chúa Giêsu”, một văn kiện chỉ lập lại giáo huấn của Giáo Hội buộc những người Công giáo phải tuân tín.

Vấn:     Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI sẽ mang lại cho giáo triều của ngài những gì từ chính bản thân ngài cùng với các thứ hay ho về thần học của ngài?

 

Đáp:    Mặc dù vị tổng trưởng Ratzinger nổi bật hơn thần học gia Ratzinger, chúng ta đều có phúc có được, nơi Giáo Hoàng Biển Đức XVI, một thần học gia và là một vị mục tử đã từng suy tư và nguyện cầu lâu dài tha thiết về Chúa Giêsu Kitô, về Giáo Hội cũng như về sứ vụ của Giáo Hội đối với thế giới.

 

Tôi tin rằng ngài sẽ tiếp tục công việc lưỡng diện của Công Đồng Chung Vaticanô II, đó là việc canh tân đời sống nội tâm của Giáo Hội và việc đẩy mạnh sứ vụ truyền giáo của Giáo Hội trên thế giới này. Ngài đang quyết tâm cải tiến những nghiên cứu về thánh kinh cũng như canh cải việc người Công giáo cảm nhận sâu xa cùng tham dự vào phụng vụ thánh.

 

Ngài đang mạnh mẽ công bố về ơn gọi phổ quát nên thánh của Công Đồng Chung Vaticanô II. Ngài hiểu được tầm quan trọng của vấn đề đối thoại nơi Kitô hữu cũng như của việc đối thoại với các tôn giáo cùng các người tìm kiếm chân lý trên thế giới, trong khi đó ngài vẫn chủ trương tính cách thuần khiết của đức tin Công giáo và nhấn mạnh đến động lực tái truyền giáo để lan truyền phúc âm Chúa Giêsu Kitô cho thế giới.

 

Và ngài biết rằng nơi những lãnh vực về luân lý cũng như về vấn đề công bằng xã hội, sứ điệp Kitô giáo vẫn chưa được thử nghiệm và chưa thấy cần thiết, như G.K. Chesterton ghi nhận, nhưng đã từng gặp phải khó khăn mà vẫn chưa được thử nghiệm. Ngoài ra, ngài còn thấy cả mối đe dọa của tương đối thuyết cực đoan và nhiều thứ “chủ nghĩa” khác nữa.


Vấn:     Ông nghĩ gì về những văn phẩm của Hồng Y Ratzinger trong những năm qua?

 

Đáp:    Việc tôi đọc những tác phẩm của ngài khiến tôi nghĩ rằng ngài là một trong những đại thần học gia đệ nhất của thời đại chúng ta đây. Những tác phẩm của ngài cho thấy việc ngài trung thành với truyền thống Công giáo, một kiến thức về đức tin không già mà luôn mới.

 

Thật là tuyệt vời khi chúng ta có một vị Giáo Hoàng đã từng viết rất nhiều trước khi trở thành Giáo Hoàng. Cũng tuyệt vời nữa ở sự kiện là trong khi ngài giữ một vai trò cao cấp trong giáo hội thì đồng thời ngài lại dấn thân vào hoạt động trí thức khôn ngoan của một thần học gia.

 

Những tác phẩm của ngài bao gồm một lãnh vực rộng lớn, về thần học có những cuốn như “Những Nguyên Tắc Thần Học Công Giáo” và “Chân Lý và Dung Nhượng”, về những suy tư mục vụ ở cuốn “Đồng Cán Sự Viên Chân Lý”, và về những phân tách sâu xa liên quan đến các thứ ý hệ tân tiến khác nhau và cuộc nói chuyện thẳng với các ký giả về đời sống lẫn đức tin của mình và tình trạng Giáo Hội trong cuốn “Muối Đất”, “Thiên Chúa và Thế Giới” và “Tường Trình Ratzinger”.

 

Những ai yên trí ngài là một tư tưởng gia cứng cỏi thụt lùi là thành phần không hề đọc những gì ngài viết hay đọc vừa phải thôi. Cuốn mới đây của ngài về Thánh Thể là cuốn “Thiên Chúa Gần Gũi Chúng Ta” là một đóng góp tuyệt vời cho Năm Thánh Thể của Đức Gioan Phaolô II, và cuốn “Nhập Môn Kitô Giáo” là một tác phẩm thuộc loại kinh điển. Bộ hồi niệm đầu tiên của ngài, được biết đến như là “Những Đoạn Đường Đời”, đã cho thấy đức tin sâu xa và kiến thức của con người cao cả này.


Vấn:     Ông nghĩ thế nào về di sản về thần học của Giáo Hoàng Gioan Phaolô II?

 

Đáp:    Thật là khó lòng mà tóm tắt di sản về thần học của ngài một cách ngắn gọn. Việc áp dụng mục vụ liên tục của Công Đồng Chung Vaticanô II đối với những vấn đề thách đố Giáo Hội và thế giới có lẽ là di sản chính yếu của ngài. Vấn đề thăng tiến đức tin cá nhân và ơn gọi nên thánh phổ quát là hai đề tài quan trọng về khía cạnh này.

 

Việc Đức Gioan Phaolô II nhấn mạnh đến khoa giáo hội học hiệp thông của Công Đồng Chung Vaticanô II cũng là những gì quan trọng nữa. Ngài đã thấy mối hiệp thông này như là một dự phần trần thế vào mối hiệp thông thần linh của Chúa Ba Ngôi được Chúa Kitô hiện thực và được Giáo Hội phổ biến trên thế giới. Biểu hiện trực tiếp của sứ vụ này đó là việc kêu gọi thực hiện một cuộc tân truyền bá phúc âm hóa.

 

Về khía cạnh luân lý thần học của ngài thì chính yếu là khoa nhân bản Kitô giáo của ngài và “thần học về thân thể” của ngài. Tình đoàn kết và sự hỗ trợ là những gì được nhấn mạnh đến trong giáo huấn về xã hội của ngài, một giáo huấn bắt nguồn từ việc nhấn mạnh đến phẩm vị của con người và những trách nhiệm hỗ tương loài người phải có đối với nhau bởi họ được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa và được kêu gọi sống cùng một định mệnh trong Chúa Giêsu Kitô.

 

Sau hết, giáo huấn về Thánh Mẫu của ngài đề cao vai trò chính yếu của Chúa Giêsu Kitô – chúng ta nói rằng tất cả những gì chúng ta làm liên quan đến Đức Trinh Nữ đều bởi vì Mẹ có liên hệ với Chúa Kitô và với Giáo Hội của Người. Mẹ Maria là mô phạm sống đức tin, một đức tin nhờ ơn Chúa ‘xin vâng’ phó mình cho Thiên Chúa nhờ đó đạt được ơn hiệp thông thần linh.


Vấn:     Ông nghĩ Giáo Hoàng Biển Đức XVI sẽ xâu đắp cho di sản của Đức Gioan Phaolô ra sao?

 

Đáp:    Là cánh tay phải của Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, nói theo thần học, ngài đã đóng góp cho việc phát triển cái di sản ấy từ đầu. Vả lại, cả Đức Gioan Phaolô II lẫn Biển Đức XVI đều chịu ảnh hưởng của Công Đồng Chung Vaticanô II và có những quan điểm về sứ vụ của Giáo Hội ngày nay được khuôn đúc bởi công đồng này.

 

Tôi nghĩ rằng Đức Biển Đức XVI sẽ tiếp tục ý hướng của Đức Gioan Phaolô kêu gọi thực hiện một cuộc tân truyền bá phúc âm hóa – việc chọn danh hiệu Biển Đức của Hồng Y Ratzinger cho thấy điều này rất rõ.

 

Tôi cho rằng Đức Gioan Phaolô II đã bắt đầu chuyển cầu cho vị kế vị của mình rồi đó vậy.

  

 

TOP

 

 

Một Nữ Đan Viện Biển Đức ở Tuscany vốn là Nhà Bêtania của Hồng Y Joseph Ratzinger

 

Đức Hồng Y Joseph Ratzinger đã chọn danh hiệu giáo hoàng của mình là Biển Đức. Trong bài giảng của mình tại Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoại Thành hôm Thứ Hai 25/4/2005, ngài cũng đề cập tới câu tâm niệm được Thánh Biển Đức Tổ Phụ Đan Viện Tây Phương viết trong luật dòng cho những ai làm môn đệ của thánh nhân là “đừng coi gì hơn tình yêu Chúa Kitô”. Hôm Lễ Đăng Quang của mình hôm Chúa Nhật 24/4, ngài đã mặc áo lễ do các đan nữ Biển Đức ở Rosano làm cho Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.

 

Hiện nay các nữ đan tu Biển Đức này đang tới phiên ngũ niên, từ Tháng 10/2004, đến ở tại nữ tu viện Mẹ Thiên Chúa Mater Ecclesiae trong thành Vatican, như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô đã thiết lập lệ này cho các dòng nữ tu kín, đầu tiên là dòng Carmêlô, vì sự hiện diện của các chị dòng kín tu này là tiêu biểu cho đời sống nội tâm của Giáo Hội, như Nữ Tiến Sĩ Thiên Sa Hài Đồng Giêsu đã tự nhận ơn gọi của chị là yêu mến, là con tim của Giáo Hội vậy.

 

Các nữ tu kín dòng Biển Đức này, qua một bản văn, được Zenit phổ biến ngày 26/4/2005, cho biết về vị tân giáo hoàng ngày xưa còn là hồng y Ratzinger “đã thường đến đan viện của chúng tôi”, một đan viện ở Tuscany miền trung Ý quốc, như sau:

 

“Lần đầu tiên vào năm 1985, dịp các chị em tập sinh tuyên khấn lần đầu. Trước khi rời đan viện, khi nói với mẹ giám tập rằng hãy vui mừng vì con cái của mẹ đã được ở một nơi an toàn, một nơi sống theo Luật Thánh Biển Đức một cách đặc biệt bình thản, vững vàng và hân hoan.

 

“Từ đó, ngài còn trở lại một số lần nữa, nhất là vào dịp Lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô. Vào ngày hôm ấy, nhà thờ của chúng tôi đầy chật người tham dự và ngài đã thu hút mọi người bằng bài giảng rất sâu xa của ngài cũng như bằng tính cách giản dị thân tình bỏ giờ ra với từng người ở ngoài vườn sau Thánh Lễ. Ngài thường thích Kiệu Mình Thánh đi trong đan viện và ra cả ngoài vườn.

 

“Ngài đã đến Rosano vào Tháng 6/2001 với người anh linh mục của ngài để cử hành kim khánh 50 năm linh mục của ngài.

 

“Ngài thường đến với vị thư ký của ngài, giờ đây đã làm giám mục và là thư ký của Hội Đồng Giáo Hoàng Đặc Trách Giáo Dân, đó là Đức Ông Josef Clemens, cũng như với người tài xế tín cẩn của ngài là Alfredo. Ngài đến vào chiều Thứ Bảy và rời vào chiều Chúa Nhật. Ngài thích đi bách bộ lâu giờ vào buổi chiều ở trên đồi hay ngoài đồng.

 

“Trong cuộc viếng thăm của mình, ngài hầu như bao giờ cũng gặp tất cả cộng đồng chúng tôi, làm ai cũng cảm thấy dễ giao tiếp với ngài ngay, vì ngài là một con người rất giản dị, thân tình, trầm tĩnh, khiêm tốn, có khả năng khéo trêu chọc và thật sự là khôi hài.

 

“Khi chúng tôi xin ngài nói với chúng tôi về những vấn đề trực trặc đặc biệt liên quan tới Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin, đến Đức Thánh Cha và Giáo Hội, ngài bao giờ cũng nói hết sức rõ ràng, nhất là có một khả năng hiểu được yếu tính của mỗi vấn đề và trình bày vấn đề một cách giản dị, chính xác đồng thời cũng tường tận, bằng việc cắt nghĩa nhanh chóng và trôi chảy.

 

“Trước hết, ngài không bao giờ tỏ ra thái độ thảm thiết, trái lại, ngài có thể giải quyết tất cả mọi khó khăn một cách mạnh mẽ, kiên trì, tin tưởng và hy vọng theo đức tin và lời cầu nguyện.

 

“Đó là lý do chúng ta tạ ơn Chúa về tặng ân ban cho chúng ta vị tân giáo hoàng này, vị giáo hoàng mang danh hiệu và thực sự là Biển Đức (một danh hiệu có nghĩa là được chúc phúc)”.

 

 

TOP

 

 

Một cặp vợ chồng trẻ mới được Hồng Y Ratzinger làm phép cưới cho cảm nhận về vị tân giáo hoàng

 

Tháng 6/2004, Marta và Anthony Valle được Đức Hồng Y Joseph Ratzinger làm phép hôn hối cho tại Đền Thờ Thánh Phêrô. Lúc bấy giờ họ đã cảm thấy hân hạnh lắm rồi, vì vị chủ tế Thánh Lễ Hôn Phối của họ là vị hồng y Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin, một nhân vật quan trọng bậc nhất về giáo huấn của Giáo Hội sau ĐTC. Thế nhưng, giờ đây, họ lại càng cảm thấy hãnh diện hơn nữa, vì vị chủ tế lễ hôn phối của họ ấy giờ đây đã là Giáo Hoàng Biển Đức XVI.

 

Cả hai anh chị vợ chồng mới này đều là sinh viên của Regina Apostolorum Pontifical University, Marta là người Đức theo học ngành đạo lý sinh học, còn Anthony là người Mỹ ở Nữu Ước theo khoa thần học. Trong cuộc phỏng vấn với mạng điện toán toàn cầu Zenit và được Zenit phổ biến ngày 25/4/2005, cả hai anh chị này đã cho biết cảm nhận của mình về con người của hồng y Ratzinger đã được Thiên Chúa chọn làm vị giáo hoàng thứ 265 của Giáo Hội như sau.

 

Vấn:        Làm sao hai anh chị lại được ĐHY Ratzinger làm phép hôn phối cho vậy?

 

Đáp:        (Anthony:) Chúng tôi thật là may mắn, đúng hơn, may mắn một cách thiên định. Chúng tôi đã xin ngài sau một trong những Thánh Lễ chung của ngài và được ngài cho biết ‘Được, để xem đã. Hãy viết ra cho tôi biết một ít ngày và giờ đi’.

 

Là những sinh viên tốt, chúng tôi đã làm bài của mình và nộp cho đức hồng y một lá thư được chúng tôi soạn đêm hôm trước với tất cả những chi tiết cần thiết. Trong vòng một tuần lễ, Marta đã nhận được hồi âm là được!

 

Chúng tôi đã được ngài làm phép cưới cho ở Đền Thờ Thánh Phêrô ngày 24/6/2004. Ngài thực sự là một con người của dân chúng. Mặc dù ngài là con người quan trọng thứ hai trong Giáo Hội, ngài cũng bỏ giờ ra cho chúng tôi váo buổi sáng Thứ Năm ấy một tiếng rưỡi đồng hồ để chúng tôi có thể lãnh nhận bí tích hôn phối. Đó là những gì chính yếu nơi đặc sủng của vị linh mục, đó là ban các phép bí tích cho dân chúng, vì các phép bí tích là phương tiện cứu độ Chúa Kitô ban cho chúng ta. 

 

Vấn:        Anh chị đã cảm thấy gì khi tên của ngài được loan báo là vị tân Giáo Hoàng?

 

Đáp:        (Anthony:) Chúng tôi rung động và mừng đến nỗi chảy cả nước mắt ra.

 

(Marta:) Chúng tôi đã la lên thật là to!

 

(Anthony:) Thật là lạ lùng ngài đã được tuyển bầu chỉ trong vòng bốn lần bỏ phiếu và chưa đầy 24 tiếng đồng hồ. Như thế chứng tỏ là đã có một mối hiệp nhất hết sức nơi các vị hồng y. Các vị biết rằng ngài là một con người đáng chọn. Chúng ta thật là hạnh phúc vì chúng ta có một con người thánh thiện và khiêm nhượng như vị tân Giáo Hoàng của chúng ta đây.

 

Như Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã làm rất hay, vị Giáo Hoàng Biển Đức XVI cũng sẽ tiếp tục dẫn dắt Giáo Hội, bảo trì truyền thống của Giáo Hội và mang Giáo Hội tiến vào ngàn năm thứ ba bằng một cuộc Tân Truyền Bá Phúc Âm Hóa, Phải, ngài già đời, nhưng Thiên Chúa ban cho ngài những ơn cần thiết. Chắc quí vị còn nhớ, điều đầu tiên khi xuất hiện ở lan can là ‘Chúa biết cách hoạt động và tác hành thậm chí với cả những dụng cụ thiếu thốn, và tôi đặc biết trao phó bản thân mình cho lời cầu nguyện của anh chị em”. Ngài rất khiêm nhượng. Tôi không thể nhấn mạnh điều này cho đủ được.

 

Tuy nhiên, ngài thường bị yên trí một cách bất công là rất nghiệm ngặt và là người áp buộc khắc nghiệt. Thật là sai hẳn sự thật. Những thứ yên trí đó là những gì lố bịch và buồn cười. Ngài là một con người dịu dàng và khiêm tốn, thậm chí có lẽ còn hơi e thẹn nữa là đằng khác.

 

Như chúng ta đều biết, việc làm trước kia của ngài với tư cách là tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin là việc đòi ngài phải bảo trì các giáo huấn hai ngàn năm của Giáo Hội Công Giáo. Bởi thế, ai đã hay đang thi hành nhiệm vụ này đều mang một hình ảnh tiêu cực chính vì rất nhiều giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo không thể hòa hợp với chiều hướng ý hệ của thứ nhân bản tân tiến trần tục cũng như với rất nhiều cái “chủ nghĩa” thời trang và sai lầm khác của thời đại lịch sử chúng ta đây.


Vấn:        Một số người nói rằng ngài có một bộ mặt rất nghiêm nghị.

 

Đáp:        (Anthony:) Nếu quí vị có cơ hội gặp ngài, như chúng tôi đã có được một số lần, quí vị liền thấy rằng ngài dịu dàng, nhân ái và quan tâm mục vụ ra sao. Thật vậy, ngài đã từng là vị hồng y dễ giao tiếp nhất trong Giáo Hội. Chẳng hạn, ngài đã cử hành Lễ ở một nhà nguyện nhỏ công cộng mỗi Thứ Năm hằng tuần trong khoảng thời gian 20 năm qua.

 

Ngoài ra, ngài cử hành Thánh Lễ một cách rất ư là sốt sắng và cung kính, thực sự là đi vào mầu nhiệm cứu độ của việc cử hành này. Chưa hết, sau Lễ, ngài cởi áo lễ ra một cách rất trầm tưởng trong buồng áo, như thể vẫn còn chiêm ngắm mầu nhiệm siêu việt vừa diễn ra.

 

Đoạn ngài ra khỏi phòng áo để chào hỏi dân chúng đến gặp ngài. Đó là lúc quí vị thấy được con người thực sự của ngài, ngài thực sự là người như thế nào. Ngài bỏ giờ ra để chào hỏi từng người, nhìn vào mắt họ, bắt tay họ, hỏi tên tuổi của họ, làm sao họ lại đến đấy, họ thuộc về giáo phận nào, ngài ký tên của ngài, chụp hình với họ, v.v. Ngài thực sự lưu ý đến tất cả quí vị và nói với quí vị từng người một. Đây là những gì vị linh mục cần phải là, đây là những gì vị Giáo Hoàng phải là, đó là trở thành một vị chủ chăn, một mục tử của dân chúng, và đó chính là những gì Giáo Hoàng Biển Đức là, và đó là những gì thế giới cần biết và sẽ biết.


Vấn:        Ngài đã khuyên anh chị những gì trong Lễ cưới của anh chị?

 

Đáp:        (Anthony:) Marta biết rõ hơn vì bài giảng hầu hết bằng Đức ngữ.

 

(Marta:) Chúng tôi lập gia đình vào ngày lễ Thánh Gioan Tẩy Giả, bởi thế chỉ có bài đọc thứ hai là đặc biệt đối với lễ cưới của chúng tôi mà thôi. Chúng tôi đã chọn chương thứ 5 Thư Thánh Phaolô gửi tín hữu Êphêsô, là đoạn nói về cách thức vợ chồng phải sống với nhau. ĐHY Ratzinger nói rằng chúng tôi cần soi gương bắt chước lòng yêu thương của Chúa Kitô, đó là một tình yêu được thể hiện một cách rất cụ thể nơi những tác động phục vụ và hy sinh.

 

(Anthony:) Vị hồng y này bấy giờ đã nhấn mạnh đến cách thức làm sao để vợ chồng hỗ trợ lẫn nhau. Tuy nhiên, ngày nay, mọi người quá chú ý tới một câu nói về cách thức người vợ phải phục tùng chồng. Thế nhưng, đừng quên rằng sau đó Thánh Phaolô nhấn mạnh – và đây là một trong những điểm chính của đức hồng y – là người chồng phải yêu thương vợ mình như Chúa Kitô yêu thương Giáo Hội, cho đến độ hiến mạng sống mình cho Giáo Hội. Đó là những gì nói về người chồng cần phải làm đầu trong gia đình: ở chỗ bắt chước Chúa Giêsu Kitô làm đầu Giáo Hội.

 

Mặc dù là Chúa, là đấng tiên khởi, ngài đã tỏ vai trò làm chúa của mình bằng việc trở nên cuối rốt, bằng việc đặt mình ở vào chỗ cuối bét, bằng việc trở nên tôi tớ của tất cả mọi người, bằng việc rửa chân cho các môn đệ của Người.

 

 

TOP

 

 

Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI tiết lộ: Ngài đã cầu Chúa đừng để ngài làm giáo hoàng

Theo CNN hôm Thứ Hai 25/4/2005 và Zenit Thứ Hai cùng ngày, thì chính vào ngày này, trong cuộc gặp gỡ phái đoàn hành hương Đức quốc 5.000 người (trong số 100.000 giữa 500.000 người) đến tham dự lễ đăng quang của ngài hôm qua, vị tân Giáo Hoàng đã tiết lộ cho họ là thành phần bản xứ rất hãnh diện vì có được một 1 giáo hoàng từ cả một thiên kỷ đến nay (vị đầu tiên là Đức Victor II – 1055-1057), biết là trong cuộc mật nghị hồng y bầu giáo hoàng vừa rồi, khi thấy mình càng lúc càng được nhiều phiếu, có 1 vị hồng y đã chuyền cho ngài mấy chữ nhắc lại những gì ngài đã giảng về Chúa Kitô kêu gọi Thánh Phêrô theo Người cho dù thánh nhân đã tỏ ra lưỡng lự.

Vị tân giáo hoàng cho biết: “Có lúc tôi đã cầu cùng Chúa rằng ‘xin đừng làm điều này cho con nghe’. Rõ ràng là lần này Ngài đã không nhận lời tôi”.
 

Cũng vào buổi gặp gỡ đồng hương của mình này, trong số đó có Đức Ông anh của ngài, ngài đã tiến vào nơi gặp gỡ với nụ cười trên môi, tất cả đều hô lên, bằng tiếng Ý trước tiếng Đức sau: “Viva il Papa! Hoan hô Đức Giáo Hoàng”.

Vừa theo bài dọn sẵn vừa nói buông, ngài đã xin lỗi đồng hương của ngài về sự chậm trễ, mà rằng ngài biết vấn đề đúng giờ của người Đức, nhưng ngài đã sống ở Ý 23 năm và có lẽ đã bị “Ý hóa”. Tuy nhiên, tận đáy lòng ngài vẫn là “một người xứ Bavaria”, rồi ngài nói đến những liên hệ giữa xứ Bavaria và Rôma.

Rồi ngài nói đến cuộc mật nghị hồng y bầu giáo hoàng vừa rồi, ngài cho biết: “Không phạm gì tới lời thề giữ bí mật, ngài không bao giờ nghĩ rằng ngài được chọn bầu, cũng chẳng làm gì để cổ võ bầu cho mình cả… Khi Chúa gọi chúng ta phải đáp lại. Những đường lối của Chúa thì không dễ đi, nhưng chúng ta không được dựng nên để sống thoải mái nên tôi chỉ có thể thưa ‘vâng’ mà thôi”.

Cuối bài diễn từ ngài kêu gọi đồng hương hãy đồng hành với ngài, nguyện cầu cho ngài và tin tưởng nơi ngài.

 

Ngài đã được tuyển bầu sau 4 lần bỏ phiếu trong vòng 24 tiếng đồng hồ, một trong những cuộc bỏ phiếu nhanh nhất thế kỷ. Ngài nhiều lần bị ngắt lời bởi những lần vỗ tay. Ngài nhoẻn cười nhiều lần khi thấy được đồng hương ủng hộ. Họ đã hát lên bằng tiếng bản quốc rằng “Benedict Gott Geschickt – Biển Đức là người được Chúa sai đến”.

Cuộc gặp gỡ đồng hương này đã diễn ra sau khi ĐTC gặp gỡ phái đoàn Liên Tôn và Đại Kết vào giữa trưa.
 

TOP

 

 

Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI là một con người yêu thích thiên nhiên và thể thao

ĐTGM đã từng làm việc với ĐHY Joseph Ratzinger nhiều năm trong Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin là Tarcisio Bertone, nay làm hồng y TGM Genoa, đã cho biết ĐHY Tổng Trưởng của ngài bấy giờ là “một con người dừng lại trên đường đi để lắng nghe và trả lời dân chúng. Những thứ kiểu người được vẽ vời bởi một số truyền thông hoàn toàn sai lầm”.

Trong một cuộc phỏng vấn trên chương trình “One-O-Five Live” của Đài Phát Thanh Vatican, vị giáo chủ Genoa này đã chia sẻ cảm nghiệm sống của mình với đức tân Giáo Hoàng người Đức ấy.

“Ngài là một người nhậy cảm với nhạc và nhậy cảm với thiên nhiên, một con người trong cuộc đi bộ đến Borgo Pio và Khu Vườn Vatican thậm chí nói chuyện cả với những con mèo. Tôi đã cố gắng để hiểu được ngôn từ ngài nói với các con mèo thường vui thú khi gặp ngài.

“Vị Giáo Hoàng này thích đồi núi, thích cảnh thiên nhiên um tùm cây cỏ. Ngài đã sống những ngày nghỉ của mình ở đồi núi Bavaria và ở Ý gần Bressanone. Ngài hằng ngày đi bộ đến Borgo Pio và Khu Vườn Vatican vào khoảng độ 3 giờ 30 chiều.

“Thế nhưng vị Giáo Hoàng này cũng là một con người yêu thích thể thao nữa. Chúng ta đừng quên rằng ngài là người ham mộ cầu thủ Bayern của đội tuyển Monaco, khi huấn luyện viên của Bayern vào cuối thập niên 1990 là Giovanni Trapattoni, một huấn luyện viên Juventus nổi tiếng. Tôi thường nói chuyện với ngài về thể thao, tôi là một tay mê túc cầu, và vị Giáo Hoàng này đã viết những cuốn sách bằng tiếng Đức về Trapottoni.

“Trapattoni đọc các cuốn sách của ĐHY Ratzinger bằng Đức ngữ. Đó là một liên hệ tốt đẹp, với một đại huấn luyện viên đích thân ngài biết đến và nói chuyện với. Đức Biển Đức XVI cảm phục Giovanni Trapattoni và ngài có một liên hệ tốt đẹp với thể thao.

“Ngài là một con người biết nói những lời dí dỏm, người biết cách làm bạn và vun trồng những mối thân tình bền bỉ. Ngài là một con người của thiết nghĩa….

“Chúng tôi biết rằng ngài luôn có một liên hệ tốt đẹp với các phong trào (mới trong giáo hội). Ngài cảm nhận những phong trào ấy, nhìn nhận nơi những phong trào này tặng ân của Thần Linh trong mùa xuân sau Công Đồng Chung Vaticanô II.

“Thách đố trước hết của Đức Biển Đức XVI đó là việc loan báo Phúc Âm, là việc Tân Truyền Bá Phúc Âm Hóa. Đức Giáo Hoàng đã xin hồng y chúng tôi đặc biệt giúp ngài trong công việc lớn lao này, trong việc cho con người của thời đại chúng ta biết lý do chúng ta tin tưởng. ĐHY Ratzinger đã làm cho chúng ta làm quen với, dạy cho chúng ta biết cống hiến những lý do chúng ta tin tưởng; một căn tính Kitô giáo rõ ràng để đối thoại với hết mọi người. Cần bắt đầu từ kiến thức và chứng từ căn tính đức tin riêng củamình, tỏ ra tôn trọng tất cả mọi người, bằng việc trình bày chứ không áp đặt, như ngài đã luôn làm trong việc ngài đối thoại với thành phần bất đồng.

“Cái thách đố thứ hai đó là áp dụng Công Đồng Chung Vaticanô II, tiếp tục trung thành với truyền thống 2000 năm của Giáo Hội.

Được hỏi có tái diễn việc tranh luận về những căn gốc DoThái và Kitô Giáo của Âu Châu hay chăng, vị hồng y này trả lời rằng:

“Tôi tin rằng chúng ta không được bỏ cuộc và Đức Biển Đức XVI sẽ dẫn chúng ta trong công cuộc tái thiết lịch sử của chúng ta, đời sống xã hội của chúng ta, của các quốc gia chúng ta, về những căn gốc Do Thái và Kitô Giáo, và bởi thế, chúng ta cũng sẽ có thể thấy được một mùa hoa chứng từ, tức là một mùa phát triển những ai cho thấy sống theo căn gốc Kitô là điều khả dĩ. Có nhiều người muốn điều này. Rất nhiều người theo Đức Giáo Hoàng”.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit ngày 25/4/2005


 

TOP


Vị chủ tịch Liên Hiệp Thế Giới Lutherô hào hứng nơi tân giáo triều của Giáo Hoàng Biển Đức XVI

Vị chủ tịch của tổ chức Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới là Mục Sư Mark Hanson, lập gia đình và có 6 người con, đồng thời cũng là vị giám mục chủ tịch ở Chicago của Evangelical Lutheran Church tại Hoa Kỳ, đã khen kiến thức sâu rộng của Vị Giáo Hoàng về Martin Luther và mong muốn củng cố vấn đề hiểu biết nhau hơn giữa người Công Giáo và Luthêrô.

Vấn: Giáo Hoàng Biển Đức XVI xuất thân từ Đức, quê hương của Luthêrô. Mục sư có nghĩ rằng điều này có thể giúp vào việc hiểu biết về tổ chức Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới hay chăng?

Đáp: Từ việc phục vụ của ngài với vai trò là linh mục, giáo sư và giám mục ở quê hương Đức quốc của ngài, chúng tôi biết rằng Giáo Hoàng Biển Đức XVI rất quen thuộc với những người Luthêrô.

Chúng tôi có đủ lý do để hy vọng thấy được những phát triển đại kết tốt đẹp và việc hiểu biết nhau hơn nơi những người Luthêrô và những người Công giáo Rôma trong giáo triều của vị Giáo Hoàng này.

Trong vai trò lãnh đạo Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin, ĐHY Ratzinger đã mang lại cho vai trò lãnh đạo đại kết quan trọng, bao gồm cả việc ủng hộ việc chính thức chấp nhận một văn kiện rất lịch sử, đó là Bản Tuyên Ngôn Chung về Tín Điều Công Chính Hóa. Bản văn kiện này được ký ở Augsburg, Đức quốc, quê hương xứ sở của Đưc Giáo Hoàng, vào ngày 31/10/1999. Đó là ngày theo truyền thống những người Luthêrô cử hành Cuộc Cải cách.


Vấn: Vị tân Giáo Hoàng coi việc đại kết là một ưu tiên cần đến những cử chỉ chứ không phảo chỉ bằng lời nói. Mục sư cho rằng ngài nói gì đây.

Đáp: Trong Thánh Lễ đầu tiên sau khi được bầu làm giáo hoàng, Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã cho thấy rằng ngài sẽ theo đuổi thực hiện mối hiệp nhất Kitô giáo, tiếp tục vấn đề canh tân của Công Đồng Chung Vaticanô II, và nỗ lực đối thoại liên tôn như là những vấn đề quan trong của vai trò làm giáo hoàng của ngài.

Tôi có lý hy vọng điều này vì danh hiệu được Hồng Y Joseph Ratzinger chọn là Biển Đức XVI. Việc chọn lựa danh hiệu giáo hoàng này nhắc đến hoạt động của Giáo Hoàng Biển Đức XV, vị đã phục vụ trong thời điểm Thế Chiến Thứ I và được tiếng là một người bắc cầu liên kết và là hòa giải viên.

Danh hiệu giáo hoàng này hướng về Thánh Biển Đức, vị sáng lập nên phong trào đan viện tu Kitô giáo, vị được ghi công về việc đã bảo trì và tìm cách canh tân Kitô giáo ở Tây Âu.

Tất cả những điều này là các ấu hiệu thực sự cho thấy rằng Giáo Hoàng Biển Đức XVI coi việc đại kết là vấn đề tối ưu tiên, và những gì ngài nói sau khi được bầu làm giáo hoàng đã xác nhận như thế.

Vấn: Giáo Hội Công Giáo có một vị tân Giáo Hoàng là một thần học gia hàng đầu. Mục sư có thấy được rằng sẽ có một cuộc đối thoại đại kết về thần học tốt đẹp hơn hay chăng?

Đáp: Chúng tôi đã có được một cuộc đối thoại hào hứng và mật thiết với Tòa Thánh Vatican.

Thật sự Giáo Hoàng Biển Đức XVI rât ư là giỏi về thần học. Qua nhiều năm, ngài là vị cố vấn thân cận nhất của Đức Gioan Phaolô II, và với vai trò lành đạo Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin, ngài đã thực hiện vai trò lãnh đạo quan trọng về đại kết.

Trong mấy ngày đầu của mình làm Giáo Hoàng, ngài tỏ ra muốn tiếp tục những cuộc đối thoại quan trọng về thần học này.

Vấn: Mục sư đã tiếp nhận lời kêu gọi của ngài trong vấn đề cổ võ những liên hệ và hiểu biết với một số giáo hội và hệ giáo phái?”

Đáp: Tôi tiếp nhận lời kêu gọi của ngài một cách hết sức hy vọng. Trong Thánh Lễ đầu tiên của ngài sau khi được chọn bầu làm giáo hoàng, Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã nói rằng công việc “hoạt động để tái thiết mối hiệp nhất trọn vẹn và hữu hình của tất cả mọi thành phần môn đệ Chúa Kitô” là một công việc quan trọng.

Về phần mình, ngài đã cho biết là “Vị tân Giáo Hoàng này biết rằng công việc của ngài đó là mang ánh sáng của Chúa Kitô chiếu soi trước con người nam nữ của thế giới này; không phải là ánh sáng của mình mà là của Chúa Kitô”.

Đó là một nhắc nhở quan trọng cho tất cả chúng ta là thành phần được kêu gọi để đóng vai trò lãnh đạo trong Giáo Hội vậy.


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit ngày 25/4/2005

 

TOP

 


Giáo Chủ Anh Giáo về vấn đề đại kết của ĐTC Biển Đức XVI


Trong buổi triều kiến chung của thành phần Đại Kết và Liên Tôn trưa Thứ Hai 25/4, có cả sự hiện diện của ĐHY Walter Kasper và Cha Don Bolen thuộc Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Việc Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo, vị Giáo Chủ Anh Giáo là Rowan Williams, TGM Canterbury, đã được nói chuyện một chút với ĐTC Biển Đức XVI và đã cho biết nhận định của mình như sau trong một cuộc họp báo ở Đại Học Anh Quốc ở Rôma, với sự hiện diện của cả ĐTGM Westminster là hồng y Cormac Murphy-O’Connor, về vấn đề đại kết nơi vị tân giáo hoàng này, kể cả việc vị này ngỏ mời ngài sang thăm Anh Quốc.


“Những gì đã làm cho chúng tôi cảm thấy phấn khởi trong cuộc viếng thăm này đó là hai điều. Dĩ nhiên một điều là Giáo Hoàng Biển Đức đã tỏ ra nhấn mạnh đến việc lấy làm ưu tiên hoạt động đại kết. Ngài đã nói về việc làm tôi tớ cho mối hiệp nhất, và chúng ta đã cảm thấy thấm thía khi chúng tôi nghe thấy thế.


“Còn vấn đề thứ hai mà tôi nghĩ là rất rõ ràng qua bài giảng tuyệt vời ngài đã nói trong Lễ đăng quang đó là vấn đề chứng từ Kitô giáo hiệp nhất, một chứng từ cho sự kiện là, như ngài đã nói trong bài giảng, ‘Phúc Âm không đòi chúng ta trở nên kém nhân bản hơn mà là càng nhân bản hơn’”.


Về cuộc gặp gỡ liên tôn và đại kết với Giáo Hoàng Biển Đức XVI, vị giáo chủ Anh Giáo cho biết:


“Đây là một cuộc gặp gỡ có nhiều nhân vật đại biểu đại kết hiện diện, bởi thế ngài không thể nói dài được. Thế nhưng, Đức Giáo Hoàng và tôi đã nói chuyện với nhau mấy lời, và hứa cầu nguyện lẫn cho nhau như ngài đề nghị, khi chúng tôi dấn thân thi hành thừa tác vụ của mình.


“Tôi rất hân hạnh đã có thể ngỏ lời mời vị tân Giáo Hoàng này đến Anh Quốc để biết đến Giáo Hội Anh Quốc bao nhiêu có thể, mặc dù tất cả chúng ta đều biết rằng lời mời này không phải là lời mời duy nhất ngài nhận được trong 24 tiếng đồ hồ như thế”.


Vị giáo chủ Anh Giáo này còn nhận định về cuộc đời của vị tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI như sau:


“Tôi thấy rằng có ba giai đoạn trong cuộc đời của con người giờ đây là Giáo Hoàng Biển Đức. Là một thần học gia, bắt đầu ở Đức quốc, ngài đã viết một số điều hết sức tốt đẹp và vẫn còn hiệu quả về bản chất của Giáo Hội cũng như về bản chất của đức tin Kitô giáo. Một số bản văn khá phổ thông ngài đã viết đặc biệt trong thập niên 1970 tôi vẫn còn thấy đặc biệt sinh hoa kết trái.


“Giai đoạn thứ hai đó là giai đoạn ngài đặc trách chuyên môn trong công việc của mình ở Vatican về vấn đề nắm vững tín lý. Và ngài đã liên lỉ tranh đấu, bằng những cách thức dĩ nhiên làm cho người ta cảm thấy có những lúc trở ngại, về vấn đề làm sáng tỏ ý nghĩa vấn đề.


“Giờ đây ngài đã lãnh nhận một công việc thứ ba. Ngài sẽ thi hành công việc này ra sao chúng ta không biết, thế nhưng ngài đã tỏ dấu thật sự muốn phát triển mối thân hữu với những người khác theo tinh thần của vị cố Giáo Hoàng của ‘Ut Unum Sint – Xin cho họ được hiệp nhất nên một’, bằng cách lôi kéo người khác tham gia vào cuộc đối thoại về thừa tác vụ Thánh Phêrô cần phải được hành sự.


“Đối với tôi dường như trong mấy tuần qua, cái chết và lễ an táng của Đức Gioan Phaolô II cũng như những biến cố chung quanh lễ đăng quang của cuối tuần lễ này, đã cho thấy một thứ tiên hưởng của một mối thân hiệp toàn cầu của dân chúng qui tụ lại tôn thờ một cách nào đó đã vượt ra ngoài những khó khăn về những thứ ý nghĩa liên quan đến tín lý. Chúng ta như thế thoáng nhìn thấy những lãnh vực khác của mối hiệp nhất mà riêng tôi cảm thấy rằng đó là lãnh vực chúng ta đang tìm cách thực hiện. Đó thực sự là niềm nguyện cầu của tôi vậy”.


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit ngày 25/4/2005

 

 

TOP

 

 

Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Quê Hương, Thiên Tài và Danh Nghiệp

 

ĐTGM Edwin Josef Ender, vị đại diện người Đức của Giáo Hoàng ở thủ đô Bá Linh Đức quốc, đã chia sẻ với mạng điện toán toàn cầu Zenit, như được Zenit phổ biến ngày 21/4/2005, về nhận định của mình về thái độ chung chung của dân chúng trong việc chấp nhận vị tân giáo hoàng và việc dấn thân đại kết Kitô giáo của vị tân giáo hoàng, như sau.

 

Trước hết, về thái độ của dân chúng trước vị tân giáo hoàng, vị TGM này cho biết: “Việc chấp nhận ngài dĩ nhiên không hào hứng bằng cuộc tuyển chọn Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, vì vào bấy giờ hoàn cảnh lịch sử ở Balan rất khác biệt. Chúng ta hãy nhìn về tương lai và hãy gạt sang một bên các cuộc tranh luận”.

 

Sau nữa, về việc dấn thân đại kết, vị TGM này cho biết: “Tôi lạc quan về các thứ liên hệ đại kết; dĩ nhiên là vấn đề này lệ thuộc vào cả đôi bên, thế nhưng ngài sẽ dấn thân như vị tiền nhiệm của ngài. ĐHY Ratzinger chắc chắn là không cần biết hay học về vấn đề đại kết; ngài xuất thân từ một mảnh đất không phải là nơi có người Công Giáo và Tin Lành mà là nơi của những người có tín ngưỡng và vô tín ngưỡng.

 

“Cuộc cải cách đại thể bao giờ cũng cần phải trở về với nguồn mạch của mình, với Phúc Âm, và ngài sẽ làm như vậy. Tôi đã gặp ngài vào năm 1981 khi ngài còn làm việc ở Văn Phòng Quốc Vụ Khanh, và tôi có thể nói cùng quí vị là ngài là con người đầy hứa hẹn, ngài có cả một tầm vóc tâm linh.

 

“Hôm qua, trên truyền hình, người anh của Vị Giáo Hoàng đã nhắc lại là một hôm, vào những năm trước đây, (Joseph Ratzinger) đã nói rằng ngài thích danh xưng ‘Biển Đức’ đối với các vị giáo hoàng. Tôi nghĩ rằng khi quyết định lấy danh hiệu này ngài cũng đã chịu ảnh hưởng bởi mảnh đất sinh trưởng Bavaria của ngài là nơi có đầy những đan viện Biển Đức”.

 

Còn ĐHY Karl Lehmann, TGM giáo phận Mainz kiêm chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Đức, lại thấy rằng việc bầu chọn tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI này “như là một dấu hiệu quan trọng cho việc Đức Quốc hoàn toàn với cộng đồng chư quốc của thế giới”, sau Thế Chiến Thứ Hai 6 thập niên.

 

Vị hồng y này là 1 trong những vị đã bỏ phiếu bầu đức tân giáo hoàng còn cho biết việc ngài chọn danh hiệu giáo hoàng “thực sự là lạ lùng”.

 

Giáo Hoàng Biển Đức là vị giáo hoàng trong thời Thế Chiến Thứ I, ngoài việc ban hành Thông Điệp “Ad Beatissimi Apostolorum” để kêu gọi hòa bình và phân tích các nguyên nhân gây ra chiến tranh, ngài còn thiết lập Tuần Bát Nhật Hiệp Nhất Kitô Giáo (từ 18 đến 25/1 lễ Thánh Phaolô Tông Đồ như Tòa Thánh vẫn cử hành hằng năm cho tới nay) vào năm 1916. 

 

Vị Hồng Y chủ tịch hội đồng giám mục Đức quốc này cho biết:

 

“Thật là may mắn thay gần 60 năm sau khi kết thúc Thế Chiến Thứ Hai, chúng ta hãy nghĩ riêng đến ngày Đức quốc đầu hàng, thì có một vị hồng y người Đức đã được chọn bầu vào vị thế cao nhất của Giáo Hội. Nhiều người không nghĩ rằng điều này có thể xẩy ra sau những biến cố kinh hoàng ấy, những biến cố vẫn còn trước mắt, đã xẩy ra trong thế kỷ 20 tại Đức. Vì thế, đó cũng là một dấu hiệu quan trọng cho thấy việc Đức Quốc hoàn toàn quay về với cộng đồng thế giới chư quốc, một cộng đồng cũng được phản ảnh nơi Giáo Hội Công giáo. Tận đáy lòng mình, chúng tôi xin cám ơn các vị hồng y tuyển bầu về dấu hiệu quan trọng này. Nó là những gì phấn khởi cho quốc gia của chúng tôi ở nhiều khía cạnh…

 

“Phần tử của cuộc mật nghị hồng y bầu tân giáo hoàng này, thành phần đến từ các lục địa, đã chọn vị trưởng hồng y đoàn là hồng y Joseph Ratzinger, một con người của Giáo Hội, con người mà đối với các vị là biểu hiệu sống động của chứng từ liên tục nơi Giáo Hội, chứng từ được nâng đỡ bởi Thánh Kinh và Truyền Thống giáo hội qua mọi thế kỷ, một con người can trường bảo toàn tính chất vững chắc của đức tin bất chấp tất cả mọi đổi thay, một thần học gia thiên phú nổi tiếng khắp thế giới trong nhiều thập niên và là một trong những phụ tá viên thân cận nhất của Đức Gioan Phaolô II, vị mà mấy ngày trước khi chết, trong những gì đàm thoại giữa hai người với nhau, đã ngỏ lời cám ơn ngài về việc đóng góp quí báu của ngài”.

 

Vị hồng y giáo phận Mainz này còn nhận định hoạt động của Đức Hồng Y Joseph Ratzinger với vai trò là Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin như sau: “Ngài đã chu toàn một trong những việc tinh tế nhất, tức là bảo tồn yếu tính của đức tin Công giáo nguyên vẹn giữa tất cả mọi đổi thay về tâm linh, xã hội và thần học…. Hầu như hiển nhiên là, bất chấp những ý kiến khác nhau, kể cả trong chính Giáo Hội, không phải là tất cả mọi người đều có thể hay muốn theo ngài,… ngài vẫn, ở các nơi, kể cả nơi thành phần chống đối, được tôn kính về những công nghiệp thần học của ngài và được nhìn nhận về lòng can đảm chống thỏa hiệp của ngài nơi cuộc đối thoại và tranh luận với các lực lượng hiện đại”.

 

Cuối cùng, vị hồng y chia sẻ này còn nói đến “vai trò quan trọng” của ngài “đối với việc canh tân Giáo Hội trong Công Đồng Chung Vaticanô II”: “Chắc chắn một điều về nguyên tắc ngài chủ trương liên quan tới những nỗ lực và đối thoại đại kết với các Giáo Hội Cải Cách và Đông Phương. Nó đã thể hiện ở nhiều sách vở đã được phổ biến của ngài trên 50 năm qua”.

 

 

TOP

 

Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Một con người khổ hạnh mà vui tính

 

Trong bài viết được tờ nhật trình Corriere della Sera phổ biến hôm Thứ Tư 20/4/2005, ký giả Ý Vittorio Messori, người là đồng tác giả tác phẩm “Ratzinger Report” xuất bản năm 1984, đã nói rằng hình ảnh “Panzer-Kardinal” về ngài là sai. Trái lại, ngài là một con người “khiêm tốn”, “thân ái” và “thông cảm”. Vị ký giả này cho biết tại sao ông đã viết bài báo này là vì ông nhận thấy rằng ông “là đồng tác giả về một cuốn sách với Đức cố Giáo Hoàng và một cuốn sách khác với vị vừa được tuyển bầu”.

 

Thật vậy, vào năm 1994, ký giả này đã cộng tác vào việc xuất bản cuốn “Vượt Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng” của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II. Vị ký giả này cũng gặp ĐHY Ratzinger để thực hiện một loạt phỏng vấn vào mùa hè năm 1984 ở Tyrolean Alps.

 

Vị hồng y người Bavarian, vị mới nhận vai trò làm tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin chưa đầy ba năm trước, đã sống mấy ngày nghỉ ngơi ở một chủng viện thuộc một tỉnh nhở vùng Bressanone. Ngài đã trả lời thẳng thắn nhiều câu hỏi của vị ký giả này. 

 

“Cái huyền thoại, và, đáng buồn nữa là, cái hận thù về ý hệ của nhiều người, ở giới giáo sĩ chẳng hạn, đã cho rằng ngài là một Panzer-Kardinal, một con người chính thống cuồng tín phi nhân, một hậu duệ thực sự của những vị đại Thẩm Phán thuộc pháp đình xử những vụ lạc đạo. Ratzinger thực sự, chứ không phải là một thứ hoang đường, là một trong những con người có một tấm lòng nhân từ, thông cảm, thân tình, thậm chí e dè tôi chưa từng thấy”.

 

Vị ký giả này còn cho biết thêm về đời tư của vị tân giáo hoàng như thế này. Ngài là một “con người khổ hạnh”. Vào “buổi chiều, các nữ tu ở chủng viện Bressanone mang một khay đựng nào là sôcôla và trà nóng cùng với các thứ bánh mặn và bánh ngọt do các nữ tu làm. Tôi, và chỉ có một mình tôi, ăn mà thôi. Còn Ngài Hồng Y thì chỉ có một ly nước lạnh nhấp từ từ mà thôi”.

 

Thế nhưng, vị ký giả này còn nói thêm là vấn đề Đức Hồng Y này sống “một thứ khổ hạnh (ngược lại với thứ khổ hạnh của rất nhiều người cuồng tín về luân lý) ngài chỉ áp dụng cho ngài mà không đòi kẻ khác phải làm theo”.

 

Ngài còn là một “con người, trong số những điều khác, có máu khéo khôi hài, dễ mỉm cười. Tôi nhớ có một buổi chiều khi chúng tôi đang ngồi ở bàn với nhau, sau khi ngài đã nhận được một phần thưởng, ngài muốn tôi nói cho ngài nghe một chuyện diễu nào đó được đồn đại về ngài ở các giáo xứ. Tôi đã nói với ngài một số truyện như thế và tôi thấy rằng ngài thực sự là vui tính”.

 

 

TOP

 

Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội hưởng ứng trước ý hướng đại kết Kitô giáo của ngài

 

Trước hết, để đáp lại mấy lời chúc mừng của tôn sư trưởng Do Thái ở Rôma Riccardo di Segni, hôm Thứ Tư 20/4, đức tân Giáo Hoàng đã gửi một sứ điệp ngắn hồi âm ngỏ ý muốn tiếp tục đối thoại với dân Do Thái. Sứ điệp của ĐTC ngắn gọn như sau:

 

“Xin Chúa xót thương và chúc lành cho chúng ta; xin ánh sáng của Ngài chiếu trên chúng ta. Vào ngày 19/4/2005, các vị hồng y của Hội Thánh Rôma đã chọn tôi làm Giám Mục Rôma và Mục Tử của Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ. Để loan báo việc tôi được chọn bầu và long trọng đăng quang cho giáo triều của mình vào Chúa Nhật 24/4, lúc 10 giờ sáng, tôi tin tưởng vào ơn trợ giúp của Đấng Toàn Năng để tiếp tục đối thoại và củng cố vấn đề hợp tác với những người con cái của nhân dân Do Thái. Vatican ngày 20/4/2005. Biển Đức XVI”.

 

Sau khi nhận được sứ điệp hồi âm của ngài, vị tôn sư trưởng này đã cho biết: “Tôi hài lòng và biết ơn về sứ điệp hợp thời, quan trọng và ý nghĩa này”.

 

Đối với Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội (the World Council of Churches), một tổ chức bao gồm 347 giáo hệ phái và cộng đồng giáo hội trên 100 quốc gia và lãnh thổ, với hơn 400 triệu Kitô hữu, mục sư Samuel Kobia, tổng thư ký của tổ chức này và là mục sư của Giáo Hội Methodist ở Kenya, trong cuộc phỏng vấn với mạng điện toán toàn cầu Zenit (được phổ biến ngày Thứ Sáu 22/4/2005), đã nhận định về ý hướng quyết tâm đẩy mạnh cuộc đối thoại hiệp nhất Kitô giáo của vị tân Giáo Hoàng.

 

Vấn:        Vị Giáo Hoàng này đã lấy “việc dấn thân chính” của ngài là hoạt động để tái thiết “vấn đề hiệp nhất trọn vẹn và hữu hình của Kitô hữu”. Tôi cho rằng điều này chắc hẳn làm cho ông vui mừng.

 

Đáp:        Quả thực tôi rất sung sướng thấy rằng Vị Biển Đức XVI đã coi rất trọng hoạch định này trong các ưu tiên của ngài “mối hiệp nhất trọn vẹn và hữu hình của Kitô hữu”, là mục tiêu tối hậu của phong trào đại kết và là lý do hiện hữu của Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội. 

 

Nếu tôi phác họa “bản liệt kê những điều ước muốn” của riêng mình đối với giáo triều này thì đầu bản liệt kê ấy sẽ là việc tái dấn thân về phần Giáo Hội Công Giáo Rôma đối với việc cởi mở đại kết của Công Đồng Chung Vaticanô II, một công đồng có quan niệm về một Giáo Hội cởi mở với các giá trị giáo hội hiện hữu nơi các Kitô hữu thuộc những truyền thống khác.

 

Nếu Vị Biển Đức XVI muốn tiến sâu vào những mối liên hệ và hợp tác với các Giáo Hội Kitô Giáo khác, và mạo hiểm đi vào các con đường mới để có thể mang chúng ta lại gần nhau hơn với mối hiệp thông trọn vẹn hơn bao giờ hết thì ngài sẽ thấy nơi Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội này một đồng bạn sẵn sàng đi với ngài tới đâu ngài muốn.

 

Vấn:        Giáo Hoàng Biển Đức XVI ý thức được sự kiện là “những cảm tình tốt lành cũng chưa đủ mà còn cần phải có những cử chỉ cụ thể nữa”. Cử chỉ cụ thể nào ông trông đợi nơi vị Giáo Hoàng này về lãnh vực đại kết?

 

Đáp:        Có những giáo hội cần phải được nhìn nhận một cách minh tường là những cộng đồng được gọi là giáo hội. Đây là một cử chỉ cụ thể theo chiều hướng tôi vừa đề cập tới.

 

Điều này cần phải đi liền với việc nhìn nhận các thực tại giáo hội địa phương khác nhau. Trong chính cộng đồng Công Giáo Rôma, có những Giáo Hội địa phương sẵn sàng thực hiện những bước cụ thể về những vấn đề như hôn nhân hỗn hợp và hiếu khách thánh thể. Chúng tôi rất hoan nghênh nếu vị Giáo Hoàng này tăng thêm quyền hạn và khuyến khích các Giáo Hội địa phương tiến triển về mặt đại kết theo những thực tại riêng của họ.

 

Một cử chỉ cụ thể khác cũng quan trọng không kém đó là tái sẵn sàng cùng nhau tìm kiếm những câu giải đáp cho những vấn đề nóng bỏng nhất trong thời đại chúng ta, như vấn đề bạo lực, bất công, nghèo khổ và nạn dịch vi khuẩn hay hội chứng liệt kháng là nạn dịch tàn phá rất nhiều mạng sống con người. Đặc biệt là vấn đề liệt kháng là một thảm trạng của con người, hệ trọng đến độ các giáo hội không thể nào bỏ qua việc cùng nhau hoạt động để tìm cách giải quyết nó theo quan điểm luân lý.

 

Việc truyền đạt các nguồn thiêng liêng của Chư Giáo Hội cho một thế giới đổ vỡ phải là một ưu tiên của vấn đề đại kết và mục vụ.


Vấn:        “Vấn đề đối thoại về thần học là điều cần thiết, thế nhưng, trước hết cần phải thanh tẩy ký ức”, Đức Biển Đức XVI đã nói thế. Ông nghĩ vị Giáo Hoàng này muốn nói gì đây?

 

Đáp:        Dĩ nhiên là tôi không thể nói thay cho ngài, thế nhưng tôi nghĩ rằng việc chữa lành các thương tích vẫn còn hằn trong ký ức, của một quá khứ được đánh dấu bằng những việc lên án lẫn nhau và nghi ngờ nhau, là những gì thiết yếu cho một cuộc gặp gỡ giữa thành phần anh chị em trong Chúa Kitô.

 

Điều này chỉ có thể xẩy ra khi các Giáo Hội dấn thân vào một cuộc đối thoại thực sự, trong tinh thần khiêm tốn và hoán cải, bằng việc trao đổi trong chân lý và yêu thương, một tình yêu khiến chúng ta chia sẻ với nhau các tặng ân được Chúa Giêsu Kitô chung của chúng ta đã trao phó cho chúng ta.


Vấn:        Giáo Hoàng Joseph Ratzinger muốn phát động những liên hệ và hiểu biết với các vị đại diện của các giáo hội cùng các cộng đồng giáo hội khác nhau. Ông đã nghĩ đến việc mời ngài tới Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội, hay đến việc thực hiện một cuộc phỏng vấn với ngài ở Rôma chẳng hạn?

 

Đáp:        Thật vậy, chuyến viếng thăm Vatican lần đầu tiên của tôi, với tư cách là tổng thư ký của Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội, đã được hoạch định vào giữa năm nay, thế nhưng, thường thì bị hoãn lại.

 

Tôi tin tưởng rằng nó sẽ được thực hiện rất sớm, và tôi hết sức mong muốn chờ được gặp vị Giáo Hoàng này.

 

Về vấn đề mời ngài tới trung tâm của Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội ở Geneve, đã có hai vị tiền nhiệm của ngài đã đến thăm chúng tôi, đó là Đức Phaolô VI vào năm 1969 và Đức Gioan Phaolô II vào năm 1984. Bởi thế, chắc chắn chúng tôi sẵn sàng đón mừng ngài mộït cách hết sức thân ái nơi ngôi nhà của chúng tôi khi tới thời điểm thích hợp, nếu ngài muốn ban cho chúng tôi được vinh dự có ngài đến viếng thăm.

 TOP

Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Chúc Mừng của Các Nhà Lãnh Đạo Chính Trị

Thủ Tướng Đức Gerhard Schroeder, theo thông tấn Reuters, đã gọi việc vị giáo hoàng người Đức được chọn bầu này là “một đại vinh dự cho toàn quốc của chúng ta:

“Nơi Giáo Hoàng Biển Đức XVI, một vị giáo hoàng đã được chọn bầu này biết được Giáo Hội hoàn vũ không như bất cứ một ai khác. Ngài là một đại thần học gia nổi tiếng trên thế giới. Giáo Hoàng Biển Đức XVI là một vị thừa kế xứng đáng thay thế cho Giáo Hoàng Gioan Phaolô II”

Tổng Thống Goerge Bush Hoa Kỳ (đã nói với phóng viên báo chí ở Washington DC rằng)

“Tôi muốn gửi lời chúc mừng đến Giáo Hoàng Biển Đức XVI, một con người rất khôn ngoan và hiểu biết. Ngài là một con người phục vụ Chúa. Chúng tôi còn nhớ rõ bài giảng trong lễ an táng của đức cố giáo hoàng ở Rôma, những lời của ngài đã đánh động tâm can chúng ta cũng như tâm can của hằng triệu triệu con người ta. Chúng ta hợp với đồng bào của chúng ta và hằng triệu triệu người trên thế giới đang nguyện cầu xin ơn cho ngài được tiếp tục mạnh mẽ và khôn ngoan khi ngài dẫn dắt Giáo Hội Công Giáo”.

Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan:

“Liên Hiệp Quốc và Tòa Thánh chia sẻ một cuộc dấn thân mạnh mẽ cho hòa bình, cho công bằng xã hội, cho phẩm giá con người, cho tự do tôn giáo và cho việc tương kính giữa các quốc gia trên thế giới. Văn phòng tổng thư ký này mong đợi những đóng góp sẽ được Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI thực hiện để củng cố những giá trị ấy”.

Thủ Tướng Tây Ban Nha Jose Luis Rodriguez Zapatero:

“Tôi… xin nói rằng chính phủ Tây Ban Nha mong muốn bảo trì mối liên hệ lịch sử giữa Tây Ban Nha và Tòa Thánh và hợp tác với Đức Giáo Hoàng trong sứ vụ của ngài. Trọng Kính Đức Thánh Cha, tôi xin lợi dụng cơ hội này, để gửi đến ngài chứng từ của lòng tôi hết sức mến trọng ngài”.

Tổng Thống Pháp Jacques Chirac (gửi cho Reuters):

“Tôi xin gửi lời chúc mừng nồng nhiệt nhất và những lời nguyện chúc tốt đẹp chân thành của tôi đến sứ vụ cao cả vừa được trao phó cho vị lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo…. Pháp quốc, trung thành với lịch sử của mình cũng như với những nguyên tắc hướng dẫn hành động của nó, sẽ theo đuổi cuộc đối thoại tin tưởng Pháp luôn có với Tòa Thánh, nhất là trong những cuộc chiến chung cho hòa bình, công lý, đoàn kết và phẩm giá của con người”.

Thủ Tướng Ý Silvio Berlusconi (được Reuters tường trình):

“Tôi thực sự muốn bày tỏ cảm tình của tất cả mọi người dân Ý Đại Lợi, và đặc biệt hân hoan để gửi đến Đức Giáo Hoàng niềm kính tôn thiết tha của chính phủ Ý quốc”.

Tổng Thống Ái Nhĩ Lan Mary McAleese:

“Thế giới đã cảm thấy buồn thương và ngỡ ngàng về việc ra đi của Đức Gioan Phaolô II. Việc tuyển bầu người kế vị ngài đã là mối quan tâm của rất nhiều người trên thế giới. Ngài đã làm hiện thực niềm hy vọng cho một cuộc hiệp nhất hơn nữa nơi các dân tộc cũng như cho một gia đình nhân loại chân chính và yêu thương chăm sóc nhau hơn. Việc ngài hướng dẫn và lãnh đạo giữa những phức tạp rắc rối của cuộc sống tân tiến này sẽ là những gì trọng yếu”.

Tôn Sư Israel Singer, chủ tịch Hội Nghị Thế Giới Do Thái:

Chúng tôi đã làm việc gần gũi với ĐHY Ratzinger về nhiều vấn đề, bao gồm cả mối liên hệ của Tòa Thánh với dân Do Thái, cũng như việc giáo hội lên án nạn bài Do Thái. ĐHY Ratzinger đã cung cấp những nền tảng về thần học cho nhiều thứ tiến bộ nơi mối liên hệ Công Giáo với Do Thái trong một phần tư thế kỷ vừa qua”.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo CNN 23/4/2005

Tổng Thống Nam Phi Thabo Mbeki:

“Giáo Hoàng Biển Đức XVI lãnh nhận vai trò lãnh đạo vào một thời điểm quan trọng, một thời điểm rất cần phải có một đức khôn ngoan và vai trò lãnh đạo chung thế giới và cộng đồng tôn giáo để đối đầu với những thách đố về tình trạng nghèo khổ và kém phát triển trầm trọng đang đọa đầy nhiều người trên thế giới”.

Tổng Thống Thẩm Quyền Palestine Mahmoud Abbas:

“Chúng tôi chúc mừng Ngài và chúc ngài mọi thành đạt. Chúng tôi hy vọng những mối liên hệ mạnh mẽ và lịch sử giữa Palestine và Vatican sẽ mãi vững mạnh và việc Vatican hỗ trợ cho một nền hòa bình chân chính ở Thánh Địa sẽ vẫn tiếp tục”.

Thủ Tướng Jan Peter Balkenende của Netherlands:

“Tôi hy vọng vị giáo hoàng này sẽ tiếp tục theo cùng đường lối như Đức Gioan Phaolô II, để ngài tìm cách đối thoại với người khác, chiến đấu cho hòa bình và dân chủ cùng chống lại tình trạng nghèo khổ”.

Thủ Tướng Bồ Đào Nha Jose Socrates:

”Tôi xin bày tỏ niềm hân hoan chân thành của tôi với Giáo Hội Công Giáo về việc chọn được một vị tân giáo hoàng. Hy vọng vị Giáo Hoàng này tiếp tục tinh thần đại kết của vị tiền nhiệm, chú ý tới việc đối thoại với các tôn giáo quan trọng về nền hòa bình thế giới”.

Thủ Tướng Hiệp Vương Quốc Tony Blair:

“Tôi xin gửi đến Ngài Giáo Hoàng, trong dịp ngài lãnh nhận vai trò cao cả của mình, những lời chúc mừng và những lời cầu chúc tốt đẹp nhất cho sự thành đạt của giáo triều của ngài. Tôi mong được tiếp tục việc hợp tác của chúng tôi với Tòa Thánh về những vấn đề có tầm vóc quốc tế quan trọng như Phi Châu và phát triển”.

Tổng Thống Pervez Musharraf nước Pakistan:

“Tôi hy vọng vị Giáo Hoàng này sẽ giúp mang lại hòa hợp giữa hai thế giới (Hồi giáo và Kitô giáo). Vị Giáo Hoàng này có thể mang lại thuận hòa cho cách thức con người nghĩ tưởng và có thể tạo nên một môi trường tốt đẹp hơn để giải quyết những cuộc tranh cãi giữa các dân tộc”.

Tổng Thống Nga Vladimir Putin:

”Nga quyết tâm tiếp tục cuộc đối thoại xây dựng về chính trị và việc giao tiếp với Tòa Thánh để giải quyết các vấn đề hoàn vũ, củng cố các giá trị thiện hảo, công lý và nhân bản”.

Tổng Thống Ba Tây Luiz Inácio Lula da Silva:

Hy vọng rằng vị tân giáo hoàng sẽ cổ võ “hòa bình và công lý xã hội cũng như làm sống lại những giá trị về tinh thần và luân lý của Giáo Hội”.


Tổng Thống Mễ Tây Cơ Vicente Fox:

“Tôi xin nói với ngài là chúng tôi ở bên phía của ngài, là chúng tôi muốn xây dựng và phát triển mối liên hệ cao cả phi thường đã từng được thiết lập giữa quốc gia chúng tôi và Vatican”.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit 23/4/2005, Zenit cũng phổ biến những lời đã được CNN phổ biến trước đây về thành phần lãnh đạo chính trị này, như đã được chuyển dịch trên đây.


Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Cảm Nhận của Chư Vị Giáo Phẩm trong Giáo Hội

ĐTGM Mario Conti ở Glasgow, Tô Cách Lan

Bản thân tôi biết vị tân Giáo Hoàng này. Tôi đã được hân hạnh gặp ngài mấy lần qua những năm ở Rôma. Ngài là một con người rất khiêm tốn, dễ thương, hoàn toàn khác với “hình ảnh” nghiêm khắc thường mô tả về ngài.

Ngài là một con người có đại khiếu về thần học, có khiếu về ngôn ngữ học, nhân ái về phong cách cũng như phong phú về kinh nghiệm mục vụ và quản trị. Dĩ nhiên là ngài rất gần gũi với Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, biết được tâm tưởng của vị giáo hoàng này, và hợp tác chặt chẽ với vị giáo hoàng ấy. Thế nhưng, ngài vẫn là một con người khác, và sẽ mang lại cho vai trò làm giáo hoàng của mình, cho Giáo Hội và cho thế giới những tặng ân riêng của ngài.

Ngài sẽ nói và viết một cách tỏ tường. Ngài đã tỏ ra qua bài giảng của mình trong lễ an táng của đức cố Giáo Hoàng là ngài được ơn truyền đạt với vô vàn con người ta. Ngài đã nói một cách giản dị, đi thẳng vào vấn đề và có sức tác động. Nhiều người chỉ biết được ngài là một vị kềm kẹp gắt gao đã lấy làm lạ lùng bỡ ngỡ trước những lời từ tốn, dịu dàng, thân ái của ngài ngày hôm đó.

Việc chọn danh hiệu giáo hoàng của ngài là một điều hay hay, tôi có thể nói là một điều linh ứng. Vị cố Giáo Hoàng mang danh hiệu này là Đức Biển Đức XV, là một con người hết sức khiêm tốn, vì đã dấn thân cho hòa bình. Tôi nghĩ chúng ta có thể thấy được cái gợi ý cho thấy một mẫu giáo triều ở việc chọn danh hiệu ấy.

ĐHY Keith O’Brien, TGM giáo phận Thánh Anrê và Edinburgh, Tô Cách Lan

Thật là một niềm vui lớn lao cho tôi được chia sẻ với anh em hồng y của mình trong cuộc bầu ĐHY Ratzinger làm Giáo Hoàng Biển Đức XVI, ngài là một con người có một nền tu đức sâu xa, là một thần học gia nổi tiếng và có một chọn lựa tuyệt vời với tư cách là Giáo Hoàng của Giáo Hội Công Giáo.

Việc tuyển chọn một vị Giáo Hoàng là thời gian hân hoan và hy vọng cho những người Công giáo ở Tô Cách Lan cũng như trên khắp thế giới. Tôi tin rằng những người Công Giáo Tô Cách Lan và tất cả những ai thành tâm thiện chí nơi xứ sở của chúng ta đây đều sẽ cùng tôi nguyện xin Thiên Chúa đổ tràn đầy phúc lành xuống trên vị tân Giáo Hoàng của chúng ta, tước hiệu cao cả nhất của ngài có lẽ là một tước hiệu giản dị nhất, ‘Tôi tớ của mọi tôi tớ Thiên Chúa’; chớ gì ngài thực sự phục vụ tất cả mọi dân tộc như Chúa Kitô đã phục vụ và như vị tiền nhiệm thánh đức Gioan Phaolô II của ngài đã làm.

Chớ gì vị tân Giáo Hoàng của chúng ta hoạt động cho hòa bình trên khắp thế giới theo gương của vị tiền nhiệm trước kia của ngài là Giáo Hoàng Biển Đức XV, vị đã chết vào thời điểm Thế Chiến Thứ Nhất.

Thánh Biển Đức là một trong các vị thánh quan thày của Âu Châu; chớ gì ngài tác động chúng ta để chúng ta nhớ đến các căn gốc Kitô giáo của Âu Châu và chớ gì vị tân Giáo Hoàng của chúng ta cũng luôn luôn nhắc nhở mình và chúng ta những lời cuối cùng trong luật của Thánh Biển Đức đó là ‘Đừng coi ai hơn Chúa Kitô’.

Giám Mục Peter Moran ở Aberdeen, Tô Cách Lan

Những vị tuyển bầu, thành phần chọn một vị Giáo Hoàng, đã căn cứ vào sự khôn ngoan và kinh nghiệm của các vị: thế nhưng, còn hơn thế nữa, các vị đã thực hiện việc chọn lựa này sau khi đã cầu nguyện nhiều. Chúng ta tin rằng việc chọn bầu của các vị được Thánh Thần Thiên Chúa hướng dẫn. Chúng ta tin rằng Giáo Hoàng Biển Đức XVI là việc chọn lựa của Thiên Chúa.

Về lãnh vực nhân loại cũng như về phương diện chính trị thì việc chọn bầu này rất ư là hay ho.

Trước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, việc tuyển chọn một người Đức làm Giáo Hoàng sẽ là một chuyện kinh hoàng, hầu như không thể tưởng tượng nổi; hôm nay đây, chúng ta coi khía cạnh đặc biệt này hầu như là được phép. Thế nhưng, một lần nữa, chúng ta lại thấy xuất hiện một vị Giáo Hoàng sinh trưởng ở một thời điểm khốn khó, dưới một chế độ hà khắc, và trong thời thanh niên của mình đã thấy xứ sở của mình bị cắt chia.

Còn về tuổi tác của Giáo Hoàng Biển Đức thì sao? Ngài đã 78 tuổi rồi. Tôi đã sống ở Rôma gần 50 năm khi Đức Giovanni Roncalli là Giáo Hoàng Gioan XXIII được bầu năm 78 tuổi, và dân chúng gật gù nói rằng: ‘Ôi chao ơi, chỉ là một vị Giáo Hoàng tạm thời thôi mà’. Ngài đã làm cho tất cả chúng ta phải lạ lùng. Đức Joseph Ratzinger cũng có thể làm cho chúng ta lạ lùng nữa. Ngài có thể là già đời về năm tháng, nhưng ngài lại cường tráng, sáng suốt, đọc rộng hiểu nhiều, học thức và rất ư là nhiều kinh nghiệm.

Tôi mong thấy được một giáo triều vững chắc nhưng đầy sinh động.

TGM Brendan O’Brien, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Canada

Trọng Kính Đức Thánh Cha …

Thừa tác vụ được ĐTC bắt đầu có một tầm quan trọng hơn bao giờ hết đối với một thế giới đang thực sự trở thành một ‘ngôi làng hoàn vũ’ qua những việc truyền đạt chớp nhoáng của Mạng Điện Toán Toàn Cầu và của các phương tiện truyền thông đại chúng. Ý thức được những chiều kích toàn cầu nơi các thách đố và trục trặc của mình, xã hội hiện đại đang tìm kiếm một vị chủ chăn và một vị thày hoàn vũ để loan truyền tin mừng cứu độ, vị nói lên được niềm vui và hy vọng, nỗi buồn và âu lo của thời đại này, và là vị nhắc nhở thành phần môn đệ của Chúa Kitô rằng tất cả những gì là nhân bản đích thực đều vang vọng nơi tâm trí của cộng đồng đức tin này.

Với những lời của Thánh Phaolô gửi tín hữu Rôma, kêu cầu nhờ Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta và theo tình yêu của Thánh Thần, anh chị em trong đức tin của con hợp cùng con để hết sức thiết tha nguyện cầu cùng Cha chúng ta để xin Thiên Chúa của niềm hy vọng ban cho ĐTC tràn đầy niềm vui và an bình.

ĐTGM Sean Brady ở Armagh và là giáo chủ Toàn Ái Nhĩ Lan

Việc tuyển bầu vị tân Giáo Hoàng của chúng ta chẳng những là nguồn vui và hy vọng lớn lao cho những người Công giáo khắp thế giới, mà còn là một biến cố quan trọng cho toàn thể gia đình nhân loại nữa. Vàoi lúc mở màn cho đệ tam thiên kỷ, chúng ta được ơn cảm thấu hơn nữa nhân loại chung của mình và ơn cảm nhận được trách nhiệm chung để tranh đấu cho một thế giới chân chính và an bình hơn.

Giáo Hoàng Biển Đức XVI sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc gia tăng việc tìm kiếm này, bằng việc gắn bó với con người thuộc tất cả mọi niềm tin và vô tín ngưỡng để thực hiện một cuộc đối thoại xây dựng về niềm vui và hy vọng, về những thách đố và lo âu của thế giới. Đó là một viễn tượng ngất ngưởng.

Bởi thế tôi xin những người Công giáo khắp Ái Nhĩ Lan cũng như tất cả mọi người thành tâm thiện chí hãy nguyện cầu cho Giáo Hoàng Biển Đức XVI, vị thừa kế thứ 264 của Thánh Phêrô, khi ngài bắt đầu giáo triều của ngài.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit 19/4/2005



Tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Nhận Định của Chư Giới Kitô Giáo

Âu Châu

Thượng Phụ Giáo Chủ Giáo Hội Chính Thống Nga Alexiy II:

“Tôi xin gửi lời chúc mừng về việc Ngài được chọn vào sứ vụ Rôma xưa. Tôi chúc Ngài đưoơc Chúa giúp đỡ trong việc phục vụ cao cả để dẫn dắt Giáo Hội Công Giáo Rôma. Giáo Hội của chúng ta, những giáo hội có thẩm quyền và ảnh hưởng, cần phải liên kết nổ lực của mình lại để truyền bá những giá trị Kitô giáo cho nhân loại tân tiến. Thế giới trần thế này đang lạc mất linh đạo của nó và cần chứng từ chung của chúng ta hơn bao giờ hết”.

ĐTGM Giáo Chủ Giáo Hội Anh Giáo Rowan Williams:

“Chúng tôi xin chúc Giáo Hoàng Biển Đức XVI mọi phúc lành để thi hành nhiều trách nhiệm lớn lao ngài sắp sửa đảm nhận cho những người Công Giáo Rôma khắp thế giới. Tôi mong được gặp ngài và cùng làm việc với nhau để xây dựng trên di sản được vị tiền nhiệm của ngài để lại, khi chúng ta tìm cách phát động việc hiểu biết nhau giữa các Giáo Hội của chúng ta để phục vụ Phúc Âm cũng như cho mối hiệp nhất Kitô giáo”.

Stanislas Lalanne, phát ngôn viên của HĐGM Pháp quốc và là cựu học sinh của HY Ratzinger:

“Khi tôi gặp ngài, tôi thích cái rõ ràng nơi việc diễn tả của ngài, cái thông minh hiếm có của ngài, cái hiểu biết sâu xa ngoại thường của ngài, đức tin hết sức sâu xa của ngài, và ngài đồng thời cũng có cách nói chuyện với quí vị bằng một thứ ngôn từ bình dị”.

Javier Echevarria, Chủ Hội Opus Dei, Tây Ban Nha:

“Đầy là giây phút rất vui mừng cho toàn thể Giáo Hội. Người Công giáo trên khắp thế giới tạ ơn Thiên Chúa về tặng ân tân giáo hoàng Biển Đức XVI”.

ĐTGM Ba Lê Andre Vingt-Trois:

“Điều này cho thấy rằng những chia rẽ bất khả giải hòa chúng ta đã diễn tả trong mấy ngày vừa qua không phải là tất cả những gì bất khả giải hòa nữa”.

Cha Juan Antonio Martinez Camino, Hội Đồng Giám Mục Tây Ban Nha:

“Giáo Hoàng Biển Đức XVI là một con người có một tầm cỡ thần học lớn lao, có một tầm vóc mục vụ cao cả, người hiểu được suy tư tân thời với tư cách là một thần học gia và một triết gia như ít người hiểu được”.

Giám Mục Wolfgang Huber, Chủ Tịch Giáo Hội Thệ Phản Đức Quốc:

“Một mặt thì đây là một quà tặng lớn lao cho thành phần đại kết khi có một con người đầy kinh nghiệm về thần học, kiến thức và khôn ngoan như Joseph Ratzinger lãnh nhận sứ vụ này. Đồng thời, người ta phải nói rằng trong những năm gần đây ngài đã đối xử với thành phần đại kết ở một mức độ khá tẩy chay và thành kiến… và đó chính là điểm tôi hy vọng vai trò mới này sẽ mang lại cho ngài một tinh thần bao rộng mới mẻ”.

Bernd Goegring, Nhóm Đại Kết Đức Quốc Kirche Von Unten:

“Chúng tôi coi việc chọn bầu Ratzinger như là một thứ tai họa. Thật là thất vọng, cho dù đã được tin đoán trước. Chúng tôi có thể cho rằng không có vấn đề cải tỏ nào từ ngài trong những năm tới đây… Tôi nghĩ rằng càng có nhiều người quay lưng lại với giáo hội”.

Mỹ Châu Latinh:


Thần học gia Ruben Dri người Á Căn Đình và là giáo sư Đại Học Buenos Aires:


“Đây là một chiến thắng cho thành phần thiên hữu tín điều và tư bản. Đối với tôi, đây là một việc chọn lựa tầm bậy nhất họ có thể thực hiện. Nó bao gồm cả cái xấu xa nhất của vai trò làm giáo hoàng của Gioan Phaolô II, một vai trò không mang lại những tính chất khá hơn vốn là đặc sủng và là khả năng chính trị của vị này”.


Leonardo Boff, thần học gia chủ trương thần học giải phóng người Ba Tây đã bỏ làm linh mục ra lấy vợ năm 1992:


“Đối với vị này (Mỹ Châu Latinh)… vẫn sẽ là mối âu lo, vì tương lai của giáo hội lệ thuộc vào Mỹ Châu Latinh”.


Jurandir Arauj, Ban Đặc Trách về Người Ba Tây Phi Châu của HĐGM Ba Tây:


“Dường như là ngài quá bảo thủ. Hy vọng rằng Thánh Linh sẽ giúp ngài đổi thay. Chúng tôi mong thấy một con người như Gioan Phaolô”.


Alfredo Petit, Giám Mục Phụ Tá giáo phận Havana, Cuba:


“Tên tuổi được chọn thật là thích hợp cho những lúc này đây, vì Biển Đức XV là một con người chiến đấu để thiết lập công lý và hòa bình sau Thế Chiến I. Tôi nghĩ rằng đó cũng sẽ là chương trình của vị tân giáo hoàng này nữa’.


Linh mục dòng Tên ở Chí Lợi Antonio Delfau:


“Kiểu cách của ngài khác với của Đức Gioan Phaolô II… (Ratzinger) là kiến trúc sư của các văn kiện lớn liên quan đến thần học giải phóng. Văn kiện đầu tiên là một văn kiện lên án gắt gao thần học giải phóng và văn kiện sau đó phục hồi những điều tốt của thần học giải phóng này. Chắc chắn hồng y Ratzinger ở hậu trường của nhiều bản tuyên ngôn về tín điều khác nữa của Đức Gioan Phaolô II, mặc dù Đức Gioan Phaolô II là một con người có lối suy tư riêng của mình”.


Chủ Bút tờ Nguyệt San Công Giáo Criterio Á Căn Đình Jose Maria Poirier:


“Ngài có thể là người Âu Châu thế nhưng những người Âu Châu thường có một nhãn quan bao rộng hơn những người Mỹ Châu Latinh. Ngài biết vấn đề của Mỹ Châu Latinh rất rõ. Chúng tôi không mong là sẽ có những gì lạ lùng xẩy ra ngay. Ngài là một con người khôn ngoan mà tôi đã có dịp gặp gỡ. Ngài là một con người thinh lặng lâu dài và có những lời từ ái, một con người suy tư và có tư tưởng”.


Trung Đông


Trưởng Tôn Sư Israel Meir Lau ở thủ đô Tel Aviv:


“Ngài được biết đến như là một người bạn của nhân dân Do Thái. Và tôi hy vọng, nguyện cầu và ước mong ngài theo bước chân của Đức Gioan Phaolô II… nơi việc ngài tiến đến và thân tình một cách tốt đẹp với nhân dân Do Thái trên thế giới cũng như với riêng nước Do Thái”.


Bắc Mỹ:


Tôn Sư David Rosen, Tiểu Ban Do Thái Hoa Kỳ:


“Hồng y Ratzinger đã tỏ ra cho thấy một quyết tâm sâu xa trong việc tiến triển mối liên hệ Công Giáo và Do Thái và chúng tôi mong tiếp tục mối liên hệ hoạt động sát cánh với Giáo Hội”.
Á Châu:


TGM Ramon Arguelles ở Lipa City, Nam Manila, Phi Luật Tân:


“Ngài là kết quả của một cuộc chọn bầu tốt đẹp. Chúng ta hãy nguyện cầu Chúa ban cho ngài sức mạnh và khôn ngoan để dẫn dắt một giáo hội sinh động”.


Cha Henry D’souza, Thư Ký Điều Hành của Uỷ Ban truyền thông xã hội của Hội Đồng Giám Mục Ấn Độ:


“Chúng ta trông đợi hòa bình và hòa giải giữa các nền văn hóa và tôn giáo dưới thời của vị tân giáo hoàng này. Tôi nghĩ ngài có một cá thể xuất chúng, ngài là một nhà trí thức, sâu xa tu đức và rất là từ ái. Tôi nghĩ ngài sẽ thi hành di sản của Giáo Hoàng Gioan Phaolô II”.


Thày Mani Mekkunnel, Thư Ký Hội Đồng Tu Sĩ Toàn Quốc Ấn Độ:


“Sẽ có những cuộc bàn tán phòng trà riêng tư về việc chọn bầu ĐHY Ratzinger có tốt cho Ấn Độ hay chăng. Đa số có lẽ không thoải mái, thế nhưng cũng có những người nói rằng: ‘Tạ ơn Chúa giờ đây Giáo Hội được cứu rồi”.


Masduki Maidlowi, nhân vật cao cấp của nhóm Hồi Giáo lớn nhất ở Nam Dương:


“Tôi hy vọng vị tân giáo hoàng sẽ thực thi cùng một tinh thần hòa bình và hòa hợp liên tôn như Giáo Hoàng Gioan Phaolô II”.


Phi Châu

 

TGM Anh Giáo Nam Phi Desmond Tutu:


“Chúng tôi hy vọng một người cởi mở hơn với những phát triển gần đây hơn trên thế giới, với tất cả vấn đề về thừa tác vụ của nữ giới cũng như với một chủ trương hợp lý hơn về vấn đề bọc cao su và hội chứng liệt kháng và vi khuẩn liệt kháng”.


Cha Michel Kama ở vương cung thánh đường ở Dakar, Senegal là nơi có 95% Hồi giáo:


“Ngài là một người bảo thủ theo ý nghĩa cao quí của chữ nghĩa. Tôi tin rằng ngài sẽ tiếp tục công cuộc của Đức Gioan Phaolô II, nhất là vấn đề đối thoại giữa Kitô hữu với tín đồ Hồi giáo. Tôi cầu xin Chúa ban cho chúng ta một vị giáo hoàng. Giờ đây chúng ta đã có một vị mà chúng ta không được quên rằng các vị hồng y da đen cũng đã bầu cho ngài”.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo CNN 20/4/2005

Chủ Tịch hiệp hội Do Thái ở Đức Paul Spiegel:

“Tôi tin rằng ngài sẽ tiến triển hơn trên con đường thành đạt hướng tới việc hiểu biết giữa Kitô hữu và người Do Thái để mang lại thiện ích cho cả hai tôn giáo”.

Chủ Tịch Hội Đồng Trung Ương Người Hồi Giáo ở Đức Nadeem Elyas:

“Vị hồng y này luôn là bàn tay phải của Đức Gioan Phaolô II và chắc chắn đã góp phần nhiều vào việc cởi mở chiếm được điều ưu tiên này (đối thoại giữa Công giáo và Hồi giáo)”.

Liên Hiệp Thế Giới Tin Lành:

“Khi Giáo Hoàng Biển Đức XVI sửa soạn đảm nhận những trách nhiệm cao cả về thiêng liêng và trần thế của ngài, tổ chức Liên Hiệp Thế Giới Tin Lành hỗ trợ ngài bằng lời nguyện cầu để ngài được ân sủng tiếp tục thừa tác vụ của các vị tiền nhiệm trong một tiến trình luôn canh tân cho lợi ích của giáo hội toàn cầu cũng như nhân loại”.

Tổng Thư Ký của Hội Đồng Thế Giới Chư Giáo Hội Samuel Kobia:

”Chúng ta dâng lời tạ ơn Vị Chúa chung của chúng ta là Đức Giêsu Kitô vì đã ban cho Giáo Hội Công Giáo Rôma một vị tân Giám Mục Rôma, một vị nổi tiếng về tính cách nguyên tuyền về thần học và lòng trung thành theo giáo hội, về tính cách đơn thành theo phúc âm và cảm quan về mục vụ, một vị thừa kế Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và Giáo Hoàng Biển Đức XV, cả hai vị đều được nổi tiếng là ‘các vị Giáo Chủ của hòa bình’.

“Việc ngài được tuyển chọn trùng hợp với biến cố kỷ niệm 40 40 năm Công Đồng Chung Vaticanô II, một cuộc mở màn cả thể cho cuộc hành trình đại kết trong Giáo Hội Công Giáo Rôma.

“Chúng ta hãy nguyện cầu cùng Chúa Giêsu Kitô của chúng ta, xin Người ban cho Giáo Triều của ngài biến Giáo Triều của ngài thành một thời điểm cho Giáo Hội Công Giáo Rôma áp dụng , bằng một quyết tâm mới, các giáo huấn và tinh thần cởi mở đại kết được gia tăng từ Công Đồng Chung Vaticanô II cho đời sống tín hữu của Giáo Hội cũng như đời sống của toàn Giáo Hội”.

ĐGM Hilarion Alfeyev ở Vienna và Áo, đại diện cho Giáo Hội Chính Thống Nga cho các tổ chức Âu Châu:

”Là một vị giám mục Chính Thống sống và làm việc ở Âu Châu, tôi mong đợi gì nơi tân giáo triều này?

“Trước hết, mong rằng Giáo Hội Công Giáo tiếp tục bảo trì giáo huấn về tín lý và luân lý tông truyền của mình, không nhượng bộ trước những áp lực từ các nhóm ‘cấp tiến’ đòi hỏi cho phụ nữ được truyền chức, chấp thuận thứ hôn nhân ‘được gọi là đồng tính’, phá thai, ngừa thai, triệt sinh an tử, v.v. Chắc chắn giáo hoàng Biển Đức XVI, người đã cho thấy rõ chủ trương của mình về các vấn đề ấy, sẽ tiếp tục chống lại các nhóm ấy, những nhóm hiện hữu cả trong lẫn ngoài Giáo Hội Công Giáo.

“Sau nữa, tôi hy vọng rằng tân giáo triều này được đánh dấu bằng một cuộc mở ra những mối liên hệ giữa Giáo Hội Công Giáo Rôma và Chính Thống Nga, và sẽ có một cuộc gặp gỡ giữa vị Giáo Hoàng Rôma và Thượng Phụ Moscow. Cuộc gặp gỡ này cần phải được mở đầu bằng những bước cụ thể theo chiều hướng hiểu biết nhau hơn, cũng như bằng bàn thảo kỹ lưỡng về một chủ trương chung đối với các vấn đề chia rẽ chính.

“Rồi tôi hy vọng rằng sẽ có một sự cải thiện chung nơi mối liên hệ giữa Giáo Hội Công Giáo và thế giới Chính Thống. Trong năm 2000, tôi đã đại diện Tòa Thượng Phụ Moscow tham dự cuộc họp của Ủy Ban Thần Học Công Giáo và Chính Thống Chung là phiên họp bàn về vấn đề ‘Giáo Hội Đông Phương hiệp nhất’. Phiên họp không đi đến một thỏa thuận nào về vấn đề này, và việc bàn luận, đầy chán nản, thất vọng và gay go ở cả đôi bên, đã được kết thúc mà không có một quyết định rõ ràng nào về hoạt động của ủy ban này có được tái diễn nữa hay chăng. Tôi hy vọng rằng dưới giáo triều mới ủy ban được bắt đầu lại, hay một ủy ban mới cho việc đối thoại song phương được hình thành để bàn về vấn đề ‘hiệp nhất Giáo Hội Đông Phương’, vấn đề quyền tối thượng và các vấn đề thần học cùng giáo hội học khác là những gì vẫn còn chia rẽ hai giáo hội của chúng ta”.

Tiến Sĩ Jonathan Sacks, tôn sư trưởng ở Hiệp Vương Quốc:

“Chúng tôi chào mừng vị tân Giáo Hoàng và chúc ngài được mọi thành đạt nơi những thách đố lớn lao trước mắt. Là một nhà lãnh đạo toàn cầu trong một thời đại toàn cầu hóa, tiếng nói của ngài là những gì hệ trọng trong việc điều chỉnh một số thách đố lớn lao của thế kỷ 21 này”.

Giám đốc toàn quốc Hiệp Hội Chống Phỉ Báng Abraham Foxman:
“Chúng tôi chào mừng vai trò tân giáo hoàng của Hồng Y Joseph Ratzinger. Theo quan điểm của Do Thái, sự kiện ngài xuất thân từ Âu Châu là những gì quan trọng, vì ngài mang theo ngài một kiến thức và ký ức của một lịch sử Âu Châu đau thương cũng như của một kinh nghiệm Do Thái Âu Châu thế kỷ 20.

“Sống trong Thế Chiến Thứ Hai, Hồng Y Ratzinger có nhiều cảm quan về lịch sử Do Thái cũng như về Cuộc Diệt Chủng Do Thái. Ngài đã tỏ ra cảm tính này vô khối lần, trong những cuộc họp với thành phần lãnh đạo Do Thái cũng như qua những bản văn quan trọng lên án nạn bài Do Thái, và bày tỏ nỗi đau buồn sâu xa đối với nạn Diệt Chủng Do Thái.

“Trong những năm chúng tôi làm việc để cải tiến những mối liên hệ Công Giáo và Do Thái, ADL đã có những cơ hội làm việc với Hồng Y Ratzinger. Chúng tôi mong được tiếp tục mối liên hệ ấy”.

ĐTGM Giáo Chủ Giáo Hội Anh Giáo Rowan Williams:

“Việc ngài được tuyển chọn cũng có mợt tầm vóc quan trọng đối với Kitô hữu khắp nơi. Tôi mong được gặp ngài và cùng làm việc với nhau để xây dựng trên di sản được vị tiền nhiệm của ngài để lại, khi chúng ta tìm cách phát động việc hiểu biết nhau giữa các Giáo Hội của chúng ta để phục vụ Phúc Âm cũng như cho mối hiệp nhất Kitô giáo.

“Ngài là một thần học gia có một tầm vóc lớn, người đã viết một số bài suy niệm sâu xa về bản tính của Thiên Chúa và giáo hội. Việc ngài chọn danh hiệu Biển Đức cho thấy rằng ngài muốn liên kết nhãn quan của mình về Giáo Hội với tinh thần đan viện vừa phục vụ vừa chiêm niệm. Chúng tôi sẽ cầu nguyện nhiều cho ngài trong những ngày tháng tới đây”.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit 23/4/2005

 

Màn trào phúng tin tức Canal Plus đã trình chiếu cảnh “Les Guignols de l’Info” (Những Anh Hề Tin Tức) bằng việc sử dụng những con nộm để nhạo cười những biến cố đang xẩy ra. Hôm 20/4, tức sau ngày đức tân giáo hoàng Biển Đức được bầu chọn, ngài đã bị màn hài hước này hí nhạo như là một “Adolf II” (Hitler đệ nhị).

 

Hội Đồng Thẩm Quyền Thính Thị CSA (Superior Audiovisual Council) hôm Thứ Tư 11/5/2005 đã nhận định rằng màn trình chiếu do Canal Plus thực hiện ấy đã vi phạm nguyên tắc “tôn trọng tính cách tế nhị về chính trị, văn hóa và tôn giáo quần chúng”, và đã cảnh cáo là cơ quan vi phạm này sẽ phải đối diện với một số tiền phạt lớn nếu tái phạm qui tắc ấy một lần nữa.


 

TOP