SAU NGÀY GIỚI TRẺ THẾ GIỚI XX 21/8/2005
Tái Trưng Bày Cảnh Giáng Sinh tại Đền Thờ Đức Bà Cả ở Rôma
Cuộc Diệt Chủng Người Do Thái của Nazi: Những Mồ Chôn Tập Thể với Cả Triệu Mạng Sống
Hai Nhà Thần Học Giáo Hoàng Gia: Nghinh Tân (Lý Lịch Bổ Nhiệm) và Tống Cựu (Quá Trình Kinh Nghiệm)
Tòa Thánh ban hành Văn Kiện về Việc Truyền Chức Linh Mục với Vấn Đề Đồng Tính Luyến Ái
Tổng Trưởng Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo nhận định về bản Hướng Dẫn Linh Mục với Vấn Đề Đồng Tính Luyến Ái
ĐGH Biển Đức XVI ban Ơn Đại Xá dịp Mừng Lễ Trọng Kính Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội 2005
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II: Tòa Án Phong Thánh cho Ngài được Thiết Lập ở Krakow
ĐTC Biển Đức XVI (và Đức GPII) Viếng Thăm Đền Thánh Mẫu ‘Mẹ Ân Sủng’ ở Mentorella
Tòa Thánh Lên Tiếng Phản Đối Lời Tuyên Bố của TT Iran Muốn Loại Trừ Do Thái
ĐTC Biển Đức XI với Thiếu Nhi Rước Lễ Lần Đầu về bài Giáo Lý “Bánh Bởi Trời”
Cuốn Sách đầu tay với tư cách Giáo Hoàng của ĐTC BĐ XVI: “Cuộc Cách mạng Của Thiên Chúa”
ĐTC Biển Đức XVI viếng thăm một bệnh viện nhi đồng gần Vatican
Cuộc gặp gỡ giữa ĐTC Biển Đức XVI và Giáo Sư Thần Học Gia Hans Kung
Văn Kiện giữa Giáo Hội Công Giáo và Lutherô Thế Giới về Tính Cách Tông Truyền gần hoàn thành
Tòa Thánh Vatican làm sáng tỏ vấn đề bị cáo buộc che chở cho tội phạm chiến tranh
Đặc Sứ của ĐTC Biển Đức XVI viếng thăm Baton Rouge
Chương Trình Mục Vụ của Đức Thánh Cha Biển Đức trong những ngày tháng tới:
Tông du, Thượng Nghị Giám Mục, Mật Nghị Hồng Y, Viết Lách, Phong Thánh, Hiện Xuống 2006
ĐTC Biển Đức XVI gặp Vị Thừa Kế TGM Lefebvre về Việc Tái Hiệp Thông
Giáo Hội Hoa Kỳ: Tòa Thánh Viếng Thăm Các Chủng Viện để thanh tra kiểm điểm
Tiếp nối truyền thống của các vị tiền nhiệm của mình, Giáo Hoàng đương kim Biển Đức cũng ôn lại những biến cố quan trọng trong một năm với Giáo Triều Rôma trong dịp hội ngộ Mừng Giáng Sinh cuối năm hôm Thứ Năm 22/12/2005, tại Sảnh Đường Clementine. Sau khi ngài được chào chúc Giáng Sinh bởi vị đại diện là Đức Hồng Y Angelo Sodano, chủ tịch Hồng Y Đoàn, trong bài đáp từ của mình bằng tiếng Ý, ngài đã đề cập tới các biến cố trong năm thứ tự như sau: Đức Gioan Phaolô II qua đời, bầu tân Giáo Hoàng, Ngày Giới Trẻ Thế Giới, Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới và Kỷ Niệm 40 Năm bế Mạc Công Đồng Chung Vaticanô II.
· Đức Gioan Phaolô II: “Hồi Niệm và Căn Tính”
“Không có vị
Giáo Hoàng nào đã để lại cho chúng ta một số lượng văn kiện như ngài đã lưu lại
cho chúng ta; trước đây, không có một vị Giáo Hoàng nào, như ngài đã làm, đã có
thể đi thăm viếng toàn thế giới và trực tiếp nói với dân chúng thuộc tất cả mọi
lục địa. Thế nhưng, cuối cùng, ngài đã phải đi qua con đường đau khổ và câm lặng…
“Bằng các lời
nói và việc làm của mình, ngài đã cống hiến cho chúng ta nhiều điều cao cả; thế
nhưng bài học không kém phần quan trọng ngài cống hiến cho chúng ta là từ ngai
tòa khổ đau và câm nín của ngài.
“(Ngài) đã để lại cho chúng ta một dẫn giải về khổ đau không phải là một thuyết về thần học hay triết lý mà là một hoa trái chín mùi qua cuộc hành trình khổ đau của bản thân ngài, một cuộc hành trình khổ đau ngài đã quyết chịu bằng niềm tin tưởng vào Vị Chúa tử giá.
“Việc dẫn giải này, một việc dẫn giải được ngài khai triển bởi đức tin và là việc dẫn giải mang lại ý nghĩa cho khổ đau của ngài, một khổ đau được ngài chấp nhận trong mối hiệp thông với nỗi khổ đau của Chúa, là việc dẫn giải đã được vang lên qua thái độ âm thầm chịu đựng của ngài, khi ngài biến việc chịu đựng này thành một đại sứ điệp”.
Nhắc lại tác phẩm “Hồi Niệm và Căn Tính” của vị cố Giáo Hoàng, vị đương kim Giáo Hoàng nói về giới hạn của sự dữ, đức cố Giáo Hoàng “đã cảm thấy hết sức thấm thía trước cảnh tượng diễn ra của quyền lực sự dữ” trong thế kỷ 20, Đức Gioan Phaolô II đã giải đáp vấn đề vồn được loài người tự hỏi rằng: “Có lẽ sự dữ là những gì bất khả thắng? Có chăng một quyền năng tối hậu và đích thực của lịch sử?”
Theo tác phẩm “Hồi Niệm và Căn Tính” thì “Quyền năng của tình thương thần linh là những gì hạn chế sự dữ là... hạn chế bạo lực, hạn chế tình trạng tung hoành của sự dữ.
“Chúng ta có thể nói theo Sách Khải Huyền là Con Chiên mạnh hơn con rồng.
“Sự dữ hiện diện trên thế giới cũng để khơi động yêu thương trong chúng ta, một tình yêu trao hiến bản thân mình.
“Chắc chắn là chúng ta cần phải làm mọi sự có thể để giảm bớt khổ đau và ngăn ngừa tình trạng bất công là những gì gây cho thành phần vô tội khổ đau. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải làm mọi sự có thể để con người có thể khám phá ra ý nghĩa của khổ đau, nhờ đó, có thể chấp nhận khổ đau của họ và liên kết nó với khổ đau của Chúa Kitô.
“Việc đáp ứng xẩy ra khắp thế giới trước cái chết của vị Giáo Hoàng này là một biểu hiện cảm kích về việc nhìn nhận sự kiện ngài đã hoàn toàn hiến thân cho Thiên Chúa cho thế giới khi thi hành thừa tác vụ của ngài”.
Ở vào thời điểm xẩy ra nhiều bạo loạn trên thế giới, Đức Gioan Phaolô II “một lần nữa cho chúng ta thấy yêu thương và chịu khổ là những gì giúp đỡ lẫn nhau. Có thể nói ngài tỏ cho chúng ta thấy Đấng Cứu Chuộc và ơn cứu chuộc ‘sống’, và giúp chúng ta tin tưởng rằng sự dữ không phải là phán quyết cuối cùng trên thế giới này”.
· Bầu Tân Giáo Hoàng: "Tôi đã nói lên tiếng ‘xin vâng’"
Sau phần
về biến cố vị tiền nhiệm của mình qua đời, vị đương kim Giáo Hoàng nói qua đến
việc ngài được bầu làm tân thừa nhiệm hôm Thứ Ba 19/4. Ngài nhìn nhận rằng đó là
“một việc ngoài bất cứ những gì tôi có thể nghĩ ra là ơn gọi của tôi. Bởi thế,
chỉ nhờ tác động tin tưởng nơi Thiên Chúa mà tôi đã nói lên tiếng ‘xin vâng’ cho
việc tuyển bầu tôi. Cũng như bấy giờ,tôi xin tất cả anh chị em hôm nay đây hãy
cầu nguyện cho tôi, vì tôi tin tưởng vào sức mạnh và sự nâng đỡ của những lời
nguyện cầu ấy”.
· Ngày Giới Trẻ Thế Giới: 1 chủ đề 2 hình ảnh
Về chủ đề
“Chúng tôi tới để tôn thờ Người” của Ngày Giới Trẻ Thế Giới 2005 ở Cologne Đức
Quốc, ngài cho biết chứa đựng hai hình ảnh chuyên biệt, đó là hình ảnh của kẻ
hành hương, của một con người “đi tìm kiếm chân lý, tìm kiếm đời sống chân chính,
tìm kiếm Thiên Chúa”, và hình ảnh của việc tôn thờ, một tác động tôn thờ liên
quan tới Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XI về Thánh Thể và Năm được
giành cho Thánh Thể.
· Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới: "Lãnh nhận Thánh Thể là tôn thờ Đấng chúng ta nhận lãnh"
“Tôi cảm
động nhìn thấy vui mừng biết bao về việc tôn thờ Thánh Thể đang gia tăng trong
Giáo Hội, và các hoa trái của việc tôn thờ này đang xuất hiện. Trong giai đoạn
canh tân phụng vụ, Thánh Lễ và việc tôn thờ Thánh Thể ngoài Thánh Lễ thường được
coi như là những gì nghịch nhau. Tuy nhiên, việc lãnh nhận Thánh Thể nghĩa là
tôn thờ Đấng chúng ta nhận lãnh vậy… Nếu mỗi một con người có thể lấy mình làm
qui chuẩn thì thật là cần thiết để nhấn mạnh đến việc tôn thờ”.
Công Đồng Chung Vaticanô II: "những gì tích cực thì to lớn hơn và sống động hơn là những gì..."
Cũng trong cuộc Hội Ngộ Mừng Giáng Sinh của Giáo Triều Rôma hôm Thứ Năm 22/12/2005, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI còn nhấn mạnh nhất là biến cố kỷ niệm 40 năm bế mạc Công Đồng Chung Vaticanô II, được Giáo Hội cử hành vào ngày 8/12/2005.
Theo ngài, việc chấp nhận giáo huấn của Công Đồng này theo hai kiểu cắt nghĩa “đối nghịch nhau và giằng co nhau”. Kiểu thứ nhất là kiểu canh tân, và kiểu thứ hai là kiểu đứt đoạn phân chia trước sau công đồng.
Về “kiểu cắt nghĩa canh tân”, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã nhắc lại “những lời quá quen thuộc của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII… khi ngài nói rằng Công Đồng ‘muốn truyền đạt tín lý một cách nguyên tuyền và trọn vẹn, không bị loãng đi hay sai lệch. Đối với tín lý vững vàng không thay đổi này, tín lý cần trung thành tôn trọng, nó phải được nghiên cứu sâu xa hơn và phải được trình bày một cách thích đáng đối với các nhu cầu của thời điểm chúng ta”.
“Hiển nhiên là việc dấn thân trình bày một sự thật đặc biệt một cách mới mẻ cần phải thực hiện việc suy tư mới và một thứ liên hệ mới mẻ và sống động với sự thật ấy… Theo ý nghĩa ấy thì dự án do Đức Gioan XXIII nêu lên thật là cần thiết, như cái tổng hợp của việc trung thành và năng động đòi hỏi vậy. Thế nhưng bất cứ ở đâu thì việc cắt nghĩa này vẫn là việc hướng dẫn để chấp nhận Công Đồng, với sự sống mới đã tăng phát và những hoa trái đang chín mùi.
“Bốn mươi năm sau Công Đồng, chúng ta có thể khẳng định rằng những gì tích cực thì to lớn hơn và sống động hơn là những gì có vẻ khích động vào những năm ở khoảng 1968. Ngày nay chúng ta thấy rằng hạt giống tốt, mặc dù phát triển chậm, dù sao cũng tăng trưởng làm cho chúng ta hết sức biết ơn về công cuộc Công Đồng thực hiện.
Theo quan điểm này thì mục tiêu của Công Đồng cũng như của mọi cuộc canh tân trong Giáo Hội là để “truyền đạt tín lý một cách tinh tuyền và trọn vẹn, không bị suy giảm hay bị mép mó”, ý thức rằng “nhiệm vụ của chúng ta không phải ở chỗ canh giữ kho tàng quí báu này, như thể chúng ta chỉ quan tâm tới những gì cũ kỹ, mà còn ở chỗ dấn thân mình bằng một ý muốn mạnh mẽ và hiên ngang cho công việc cần cho thời đại của chúng ta”.
“Một đàng là kho tàng đức tin, tức là các sự thật được chất chứa nơi tín lý đáng kính của chúng ta, đàng khác là đường lối phát biểu những sự thật ấy mà vẫn còn giữ được nguyên ý nghĩa và sự trọn vẹn của chúng”.
Về khía cạnh này, Công Đồng đã nêu lên “một định nghĩa mới về mối liên hệ giữa đức tin của Giáo Hội với những yếu tố chính yếu của tư tưởng tân tiến. Giáo Hội, cả trước lẫn sau Công Đồng vẫn là một Giáo Hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền, tiến bước qua giòng thời gian”.
Kiểu cắt nghĩa thứ hai là kiểu được ngài gọi là “những kiểu cắt nghĩa về việc bất liên tục và đứt đoạn” “giữa Giáo Hội trước công đồng và sau công đồng”. Theo quan điểm của kiểu cắt nghĩa này thì những gì quan trọng về Công Đồng không phải là các bản văn kiện mà là tinh thần canh tân mang tới cho Giáo Hội.
Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI bày tỏ nhận định về việc bế mạc Công Đồng của Đức Phaolô VI là “một động lực đặc biệt khiến cho ‘kiểu cắt nghĩa bất liên tục’ được dễ dàng chấp nhận hơn. Trong cuộc đại tranh luận liên quan tới con người làm nên đặc tính của thời tân tiến, Công Đồng phải chú trọng đặc biệt tới chủ đề nhân loại học”, nêu lên các vấn đề “một mặt về mối liên hệ giữa Giáo Hội và đức tin của Giáo Hội, và mặt kia giữa con người và thế giới tân tiến”. Nói cách khác, “Công Đồng phải tìm một định nghĩa mới về mối liên hệ giữa Giáo Hội và thời đại tân tiến”.
Đức Thánh Cha nêu lên những khó khăn đánh dấu mối liên hệ này, bao gồm cả vụ án Galileo, cả cuộc Cách Mạng Pháp, cả cuộc đụng độ với chủ nghĩa tự do, hai cuộc thế chiến và những thứ ý hệ làm phát sinh đảng nazi và cộng sản, hoặc những vấn nạn xuất phát từ việc tiến bộ của khoa học cùng với việc dẫn giải Thánh Kinh theo lịch sử và bình luận.
“Có thể nói rằng có ba lớp vấn đề đã được hình thành giờ đây đang chờ được giải đáp, đó là…. một định nghĩa mới về mối liên hệ giữa đức tin và khoa học tân tiến; … một định nghĩa mới về mối liên hệ giữa Giáo Hội và Quốc Gia tân tiến, …. Một liên hệ liên quan một cách chung chung hơn với vấn đề khoan dung về đạo giáo; …. Và một định nghĩa mới về mối liên hệ giữa Giáo Hội và đức tin của dân Yến Duyên”.
Đức Thánh Cha đề cập tới việc làm thế nào tất cả những lãnh vực liên hệ ấy có cơ nguy tiến đến một hình thức bất liên tục nào đó, nhưng dù sao cũng vẫn còn liên tục trên nguyên tắc. “Chính ở nơi việc liên tục và bất liên tục này với những cấp độ khác nhau chất chứa bản chất thực sự của việc canh tân. Và trong tiến trình canh tân này về việc liên tục chúng ta thấy chúng ta cần phải học hiểu một cách cụ thể hơn trong quá khứ, để những quyết định của Giáo Hội liên quan tới những sự tùy thuộc (chẳng hạn như một số hình thức của chủ nghĩa tự do hay của việc tự do dẫn giải Thánh Kinh) tự chúng cũng phải tùy thuộc, chính vì chúng liên quan tới một tình trạng đặc biệt thực sự đó là tình trạng tự mình khả hoán. Chúng ta cần phải học biết nhìn nhận rằng, nơi những quyết định ấy, yếu tố bền bỉ được thể hiện chỉ bởi các nguyên tắc, những nguyên tắc vẫn là bối cảnh và tác động cho các quyết định từ bên trong”.
Đoàn ngài nói tới vấn đề tự do tôn giáo và nhắc lại rằng Công Đồng Chung Vaticanô II, khi nhìn nhận nguyên tắc thiết yếu của Quốc Gia tân tiến và chấp nhận nó bằng một Sắc Lệnh về quyền tự do tôn giáo, đã trở về với gia sản sâu xa nhất của Giáo Hội… Việc thực hành tự nhiên của Giáo Hội xưa đó là việc cầu nguyện cho các vua chúa và thành phần lãnh đạo chính trị, coi đó là nhiệm vụ của mình nhưng…. Giáo Hội không chịu tôn thờ họ, và vì thế rõ ràng là chống lại tôn giáo của Quốc Gia…. Một Giáo Hội truyền giáo, ý thức rằng Giáo Hội có trách nhiệm loan báo sứ điệp này cho tất cả mọi dân tộc, cần phải dấn thân cho quyền tự do tin tưởng.
“Công Đồng Chung Vaticanô II, với định nghĩa mới về mối liên hệ giữa đức tin của Giáo Hội với một số yếu tố thiết yếu của tư tưởng tân tiến, tái cứu xét và thậm chí sửa lại một số những quyết định về lịch sử. Thế nhưng, nơi tình trạng bất liên tục hiển nhiên ấy, Giáo Hội thực sự bảo tồn và đào sâu bản tính sâu xa của mình và căn tính đích thực của mình”. Tuy nhiên, “những ai mong rằng với ‘cái ưng thuận’ cốt yếu này với thời đại tân tiến thì tất cả mọi căng thẳng sẽ tan biến, và ‘tinh thần cởi mở với thế giới này’ sẽ mang lại hòa hợp cho mọi sự, thì họ đã coi nhẹ những căng thẳng và những tương khắc nội tại của thời đại tân tiến rồi vậy.
“Trong cả thời đại chúng ta nữa, Giáo Hội vẫn là ‘một dấu hiệu phản khắc’…. Công Đồng không thể nào tìm cách hủy bỏ tình trạng tương khắc Phúc Âm này trước những hiểm nguy và những sai lầm của nhân loại. Điều Giáo Hội thực sự tìm cách thực hiện đó là bỏ ra ngoài những thứ tương khắc sai lầm và không cần thiết để trình bày cho thế giới chúng ta thấy những đòi hỏi của Phúc Âm về tất cả những tính cách cao cả và tinh tuyền của Phúc Âm.
“Cái bước tiến được Công Đồng thực hiện hướng tới thời đại tân tiến… là yếu tố của vấn đề tồn tại nơi mối liên hệ giữa đức tin và lý trí, một mối liên hệ được thể hiện nơi các hình thức mới mẻ hơn bao giờ hết…. Bởi vậy, hôm nay đây, chúng ta có thể nhìn lại với niềm tri ân Công Đồng Chung Vaticanô II. Nếu chúng ta đọc và tiếp nhận Công Đồng, được hướng dẫn bởi việc cắt nghĩa thích đáng, thì mới có thể gia tăng hơn nữa một năng lực dồi dào cho việc canh tân luôn cần thiết của Giáo Hội”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được VIS và Zenit phổ biến ngày 22/12/2005
Thứ Năm 15/12/2005, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã tiếp các phần tử thuộc tiểu ban điều hợp chung của Ủy Ban Quốc Tế về Việc Đối Thoại Thần Học giữa Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo. Mở lời bài diễn từ của mình, ngài bày tỏ niềm hân hoan về việc tái diễn cuộc đối thoại sau những năm “gặp các khó khăn trầm trọng về nội bộ và ngoại bộ”.
Vào ngày 12/9/2005, Đức Bartholomew I, vị thượng phụ toàn cầu ở Constantinople, đã cho biết về quyết định của Các Giáo Hội Chính Thống muốn tái hoạt động ủy ban này, và quyết định rằng cuộc họp đầu tiên của giai đoạn mới đối thoại đây sẽ được tổ chức ở Roma từ ngày 13 đến 16 tháng 12 năm 2005.
Đức Thánh Cha đã cho thấy rằng cuộc đối thoại tái diễn này sẽ cứu xét đến hai khía cạnh: “Một mặt loại trừ những khác biệt còn tồn tại, mặt khác gia tăng ước muốn chính yếu trong việc làm mọi sự có thể để tái thiết lập mối hiệp thông trọn vẹn, một mối hiệp thông rất thiết yếu cho cộng đồng môn đệ Chúa Kitô, như bản văn kiện sửa soạn cho hoạt động của quí vị đã cho thấy rõ như vậy.
“Chúng ta cần phải tìm kiếm ý muốn của Thiên Chúa, cho dù ý muốn của Ngài không phù hợp với những dự án thuần túy loại người chúng ta. Chúng ta cần phải đạt tới mối hiệp nhất trọn vẹn của Giáo Hội và tình trạng hòa giải giữa các thành phần Kitô hữu, cho dù có phải trả giá cho việc chúng ta thuận phục ý muốn của Chúa”.
Ngài nhấn mạnh rằng, để tiến triển trên con đường hiệp nhất này, chúng ta cần phải “xin Chúa giúp đỡ… vì hiệp nhất trên hết là một tặng ân Thiên Chúa ban” và “kêu mời tất cả mọi Kitô hữu hiệp lời cầu nguyện”.
Sauk hi nhắc lại về việc Sắc Lệnh của Công Đồng Chung Vaticanô II “Unitatis redintegratio” kêu gọi vấn đề tương kiến và đối thoại, ngài đã nhấn mạnh tới việc làm cách nào để vấn đề ấy “cũng sẽ góp phần vào ‘việc đối thoại gia tăng nơi thế giới Kitô giáo khi thế giới này tìm kiếm mối hiệp nhất của mình’”.
Tiểu ban điều hợp chung này gồm có 21 phần tử: 10 Công Giáo và 11 Chính Thống Giáo. Tiểu ban này được lãnh đạo bởi các vị tổng giám mục ở Pergamo (tòa thượng phụ giáo chủ toàn cầu Constantinople) và Đức Hồng Y Walter Kasper, chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh đặc trách Việc Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo, những vị này cũng là đầu của Ũy Ban Quyốc Tế Về Đối Thoại Thần Học Giữa Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 15/12/2005
? Tái Trưng Bày Cảnh Giáng Sinh tại Đền Thờ Đức Bà Cả ở Rôma
Hôm Thứ Năm 15/12/2005, một trong những công cuộc nghệ thuật nổi tiếng nhất được cất tại Đền Thờ Đức Bà Cả ở Rôma được trưng bày cho công chúng thưởng lãm, sau mấy tháng thực hiện việc phục hồi công cuộc nghệ thuật này.
Cảnh giáng sinh này là công cuộc nghệ thuật được thực hiện bởi điêu khắc gia ở Florentine là Arnolfo di Cambio - người mà cái chết 700 năm trước của ông hiện đang được nhắc lại bằng một loạt trưng bày và biến cố về văn hóa khắp Ý quốc – giữa năm 1290 và 1292 theo chỉ thị của Đức Nicholas IV, vị Giáo Hoàng đầu tiên của Dòng Phanxicô. Vị giáo hoàng này bảo điêu khắc gia Arnolfo di Cambio kiến tạo một cảnh giáng sinh theo hình thức của một nguyện đường, để khuyến khích việc sùng kính di hài máng cỏ là những gì theo truyền thống được cất giữ ở Đền Thờ Đức Bà Cả.
Bộ tượng này đã trải qua những lần sửa sang và đổi thay qua các thế kỷ, và chỉ còn lại một ít bức tượng từ cảnh giáng sinh nguyên thủy mà thôi, đó là bức tượng Thánh Giuse, tượng bò và lừa, cùng với tượng ba vua. Cuộc sửa sang đáng chú ý nhất là cuộc sửa sang được thực hiện bởi kiến trúc gia Domenico Fontana, nhân vật vào năm 1590, theo lệnh của Giáo Hoàng Sixtus V, đã chuyển tất cả bộ tượng này ở dưới bàn thờ Nguyện Đường Sistine của Đền Thờ Đức Bà Cả là nguyện đường bấy giờ đang được xây cất.
Việc phục hồi bộ tượng này, theo ý của Đức Hồng Y Barnard Law, vị chủ trị của Đền Thờ này, đã bao gồm cả những nghiên cứu về môi trường về nghệ thuật và lịch sử của công cuộc này, cùng với kỹ thuật đã kiến tạo nên nó, cũng như những nghiên cứu về nghệ thuật ảnh chụp và một loạt những kiểm xét về những dấu vết còn lại của thuật vẽ nhiều mầu sắc. Trong số những chi tiết khác, việc phục hồi bộ tượng này cho thấy rằng bức tượng Trinh Nữ với Con Trẻ, một bức tượng lâu nay từng được cho là một công cuộc của thời hậu Phục Hưng, thật sự là nguyên bản của điêu khắc gia Arnolfo di Cambio thực hiện cho cảnh giáng sinh ban đầu, chỉ trừ phía trước bức tượng là được khắc lại theo kiểu nghệ thuật thời hậu bán thế kỷ 16 mà thôi.
Công việc phục hồi bộ tương nổi tiếng ấy đã được điều khiển bởi những chuyên gia là Arnold Nesselrath và Luciano Ermo theo chỉ dẫn chung của Các Bảo Tàng Viện Vatican. Cảnh giáng sinh này hiện được trưng bày ở bảo tàng viện của Đền Thờ Đức Bà Cả, trong khi đợi chờ việc hoàn tất của cuộc phục hồi ở Nguyện Đường Sistine trong Đền Thờ này.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 15/12/2005
Cuộc Diệt Chủng Người Do Thái của Nazi: Những Mồ Chôn Tập Thể với Cả Triệu Mạng Sống
Đức Thánh Cha đã viết một bức thư bày tỏ nỗi xúc động sâu xa khi ngài xem trong các văn kiện tài liệu cho thấy rằng số lượng người Do Thái bị Nazi tàn sát ở Ukraine trong Thế Chiến Thứ II. Ngài đã gửi bức thư này cho ĐHY Jean-Marie Lustiger, vị TGM hồi hưu của TGP Paris, nhân dịp Cuộc Hội Ngộ Âu Châu Lần Thứ Ba Giữa Người Do Thái và Công Giáo, một cuộc hội ngộ được Quốc Hội Do Thái Âu Châu phát động.
Biến cố này được tổ chức tại Paris ngày 4/12/2005 với khoảng 700 đại diện Do Thái Giáo và Giáo Hội Công Giáo, trong đó có một vị đại diện của Tòa Thánh Vatican là ĐHY Georges Cottier. Trong cuộc hội ngộ này, Patrick Desbois đã tường trình thành quả của việc ông điều tra ở Ukraine về những ngôi mộ tập thể là nơi có trên 1 triệu người Do Thái bị Nazi chôn vùi sau khi họ xâm chiếm nước này vào năm 1941.
Đức Hồng Y Lustiger đã tường trình cho Đức Thánh Cha Biển Đức XVI về những khám phá này, và đáp lại, ngài đã viết một bức thư cho vị hồng y này, đề ngày 1/12, để bày tỏ việc ngài hỗ trợ cuộc hội ngộ ấy. Sau đây là tiêu biểu một số lời ngài đã viết:
“Khi đọc bức thư của huynh, và những văn kiện nhận được trước đó, tôi cảm thấy nhức nhối khi nhận thấy quyền lực sự dữ đã cầm buộc dân tình của chúng ta đến mức nào, khiến nó xẩy ra một việc quá ư là quái gở, như những gì được tiết lộ trong những văn kiện ấy.
“Cho đến nay tôi chưa bao giờ nghe về âm mưu thảm sát có tổ chức này ở Ukraine là những gì xẩy ra trước cảnh kinh hoàng của những trại diệt chủng Do Thái.
“Chỉ cho tới nay tôi mới có thể tưởng tượng nổi những quyền lực quỉ quái của sự dữ, những quyền lực đã từng cai trị nhân dân của chúng tôi 12 năm trời, đã thể hiện đến mức nào, bằng cách hoàn toàn vứt bỏ tất cả những gì là trách nhiệm về luân lý cùng với việc hủy diệt lương tâm con người, cho tới độ không thể nào tin nổi, nếu nó không được xác định bằng sự chính xác bàng hoàng.
Ngài kêu gọi vị hồng y “hãy đừng bao giờ thôi nguyện cầu cùng Chúa để Ngài bảo vệ chúng ta khỏi những thứ quyền lực này trong tương lai”.
Đồng thời ĐTC cũng nhấn mạnh đến sự kiện “an ủi” là “mẫu quốc Ukraine vào thời ấy đã có một chủ trương rõ ràng chống lại những việc làm này, và ngày nay có những vị linh mục Công Giáo nỗ lực để làm sáng tỏ sự thật ấy”.
Biến cố Hội Ngộ này cống hiến cơ hội để cử hành 40 năm kỷ niệm Công Đồng Chung Vaticanô II công bố tuyên ngôn “Nostra Aetate” là văn kiện đánh dấu một bước quẹo quan troọg nơi mối liên hệ giữa Do Thái và Công Giáo. Biến cố này cũng nhìn nhận công sức của Đức Gioan Phaolô II trong việc nuôi dưỡng mối liên hệ hỗ tương này.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến
ngày 13/12/2005
Hôm Thứ Bảy 3/12/2005, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã tiếp thành phần tham dự viên cuộc họp của các vị chủ tịch Chư Ủy Ban Gia Đình và Sự Sống của Hàng Giáo Phẩm Mỹ Châu Latinh, một cuộc họp được Hội Đồng Tòa Thánh về Gia Đình tổ chức ở Vatican. Sau đây là những ý tưởng tiêu biểu của ngài:
Ngài trước hết nhắc đến mối quan tâm của Đức Gioan Phaolô II đối với gia đình và khẳng định là “về phần mình, tôi cũng có cùng một mối quan tâm này, mối quan tâm liên quan rộng rãi tới tương lai của Giáo Hội cũng như của các dân tộc”.
“Là các vị mục tử, nhiệm vụ của quí huynh là trình bày cho thấy giá trị đặc biệt của hôn nhân với tất cả tính chất phong phú của nó; là một cơ cấu tự nhiên, nó là ‘gia sản của nhân loại’. Đồng thời, cần phải biết ơn và lạ lùng chiêm ngưỡng việc nó được thăng hóa lên phẩm vị cao cả của một Bí Tích, như chính tôi mới đây đã cho thấy khi nói rằng ‘giá trị của Bí Tích được hôn nhân mặc lấy trong Chúa Kitô là ở chỗ tặng ân của việc tạo thành đã được nâng lên bậc ân sủng của việc cứu chuộc. Ân sủng của Chúa Kitô không phải là những gì ngoại tại với bản tính của con người, nó chẳng gây thiệt hại gì cho bản tính này hết, thế nhưng, trong việc thăng hóa nó vượt lên trên giới hạn của nó, ân sủng của Người giải thoát nó và phục hồi nó vậy”.
Việc hoàn toàn dấn thân của vợ chồng, “với những đặc tính đặc biệt của nó là độc nhất, trung thành, bền bỉ qua thời gian và hướng tới sự sống, là nền tảng của hôn nhân, cộng đồng yêu thương và sự sống. Ngày nay, chúng ta cần phải lấy lại lòng nhiệt thành trong việc loan truyền rằng phúc âm về gia đình là con đường dẫn đến chỗ hoàn trọn nhân bản và tâm linh, với niềm xác tín rằng Chúa luôn hiện diện, qua ân sủng của Ngài”.
“Nơi lãnh vực sự sống có những thái độ mới đang đặt lại vấn đề quyền lợi nền tảng này…. Việc loại trừ đi phôi thai bào đang trở nên thuận lợi dễ dàng, khi nó được sử dụng nhân danh tiến bộ khoa học, một tiến bộ không công nhận giới hạn của mình và không chấp nhận tất cả những nguyên tắc về luân lý là những gì giúp bảo vệ phẩm giá con người, một tiến bộ trở thành một mối đe dọa cho chính hữu thể của con người”.
Ở Châu Mỹ Latinh, cũng như ở các nơi khác, trẻ em có quyền được sinh vào đời và lớn lên trong lòng của một gia đình được xây dựng trên hôn nhân. Vì lý do ấy, cần phải giúp cho mọi người nhận thức được cái sự dữ tự bản chất của thứ tội ác phá thai, một thứ tội ác, trong việc tấn công sự sống của con người ngay từ đầu, cũng là một hành động tấn công chính xã hội nữa. Bởi thế mà thành phần chính trị gia và lập pháp gia, với tư cách là những người tôi tớ của thiện ích xã hội, có nhiệm vụ bênh vực quyền sống căn bản là hoa trái của tình yêu Thiên Chúa”.
“Chắc chắn là hoạt động mục vụ trong một lãnh vực tinh tế và phức tạp như thế bao gồm rất nhiều luật phép khác nhau, và việc giải quyết những vấn đề nồng cốt như vậy, đòi phải được kỹ lưỡng huấn luyện” cho những ai hành sự, cũng như cho thành phần giáo dân là những người “hiến nghị lực để phục vụ các gia đình”.
Sau hết, ĐTC cũng nhắc đến Cuộc Họp Thế Giới Các Gia Đình sẽ được tổ chức ở Valencia Tây Ban Nha vào tháng 7/2006 về đề tài “Việc Truyền Đạt Đức Tin Trong Gia Đình”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 5/12/2005
Hai Nhà Thần Học Giáo Hoàng Gia: Nghinh Tân (Lý Lịch Bổ Nhiệm) và Tống Cựu (Quá Trình Kinh Nghiệm)
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo CNS ngày 30/12/2005 và 12/1/2006
Ngày Thứ Ba 29/11/2005 vừa qua đã xẩy ra hai biến cố ở Tòa Thánh Vatican: biến cố thứ nhất là Tông Tòa Ân Giải của Tòa Thánh ban hành một sắc lệnh về việc Đức Thánh Cha ban Ơn Toàn Xá đặc biệt cho dịp Mừng Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm năm 2005 này, và biến cố thứ hai là Thánh Bộ Giáo Dục Kitô Giáo cũng ban hành một bản Hướng Dẫn mang tựa đề “Về các Tiêu Chuẩn để Nhận Thức các Ơn Gọi liên quan tới Những Người có Khuynh Hướng Đồng Tính Luyến Ái đối với Việc Chấp Nhận Họ vào Chủng Viện và truyền Thánh Chức”. Ngoài ra, cũng trong chính ngày Thứ Ba 29/11/2005 đặc biệt này, Giáo Hội Việt Nam được thêm 57 tân linh mục do Vị Tổng Trưởng Thánh Bộ Truyền Bá Phúc Âm Hóa là Đức Hồng Y Crescenzio Sepe truyền chức tại Nhà Thờ Chính Tòa Hà Nội. Là Kitô hữu Công Giáo Việt Nam tha hương, chúng ta cùng nhau chúc mừng Giáo Hội Mẹ và cùng Giáo Hội Me cảm tạ Thiên Chúa và Tòa Thánh.
Trước hết là việc Đức Thánh Cha ban Ơn Toàn Xá đặc biệt cho dịp Mừng Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm năm 2005 này.
Trước hết, chúng ta nên biết lý do tại sao Ngày Lễ Trọng Kính Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội 8/12 năm 2005 này, chứ không phải ngày Đại Lễ Giáng Sinh sắp tới, lại được Đức Thánh Cha ban ơn đại xá. Đó là vì ngày Lễ Mẹ Vô Nhiễm năm nay là ngày kỷ niệm đúng 40 năm bế mạc Công Đồng Chung Vaticanô II, một biến cố như chúng tôi đã nhấn mạnh đến lời của ĐTC GPII là Mùa Vọng dọn mừng Đại Năm Thánh 2000 và Thiên Kỷ Thứ Ba Kitô Giáo. Sắc lệnh đã nói đến lý do này như sau:
“Ngày 8/12 sẽ là ngày đánh dấu 40 năm từ khi Người Tôi Tớ Chúa là Giáo Hoàng Phaolô VI, vị đã công bố Trinh Nữ Maria là Mẹ Giáo Hội, khi bế mạc Công Đồng Chung Vaticanô II đã hết lời chúc tụng Đức Nữ Trinh này, với tư cách là Mẹ Đức Kitô, là Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ thiêng liêng của tất cả chúng ta”.
Về cách thức lãnh nhận Ơn Tòan Xá cũng gọi là Đại Xá này, sắc lệnh cho biết, Đức Thánh Cha “đã nhân từ ban Ơn Tòa Xá là ơn có thể lãnh nhận theo các điều kiện thông thường (xưng tội, hiệp lễ và cầu nguyện theo các ý chỉ của Đức Thánh Cha), bằng một tâm hồn hoàn toàn xa lánh việc gắn bó với bất cứ hình thức tội lỗi nào, trong dịp Lễ Trọng Kính Đức Mẹ Vô Nhiễm, cho tín hữu nào tham dự một việc thánh để tôn kính Đức Nữ Trinh, hay ít là thực hiện cách công khai một việc tôn sùng Thánh Mẫu nào đó trước ảnh tượng Mẹ Vô Nhiễm được trưng bày để tôn kính chung, cùng đọc thêm Kinh Lạy Cha và Kinh Tin Kính, và một lời cầu nào đó với Đức Trinh Nữ”.
Bản sắc lệnh kết thúc bằng việc nhắc nhở là tín hữu “bị bệnh hay có lý do chính đáng khác” không thể tham dự vào một nghi thức công khai hay tôn kính hình ảnh của Đức Trinh Nữ, “có thể được Ơn Đại Xá tại nhà của mình, hay ở bất cứ chỗ nào, nếu, bằng một linh hồn hoàn toàn xa lánh bất cứ một hình thức tội lỗi nào, và có ý giữ những điều kiện đã được nói đến trên đây sớm bao nhiêu có thể, họ liên kết bản thân mình trong tinh thần và ước muốn với các ý chỉ của Đức Giáo Hoàng để cầu cùng Mẹ Maria Vô Nhiễm, và đọc Kinh Lạy Cha và Kinh Tin Kính”.
Sau nữa là việc Thánh Bộ Giáo Dục Kitô Giáo ban hành bản Hướng Dẫn “Về các Tiêu Chuẩn để Nhận Thức các Ơn Gọi liên quan tới Những Người có Khuynh Hướng Đồng Tính Luyến Ái đối với Việc Chấp Nhận Họ vào Chủng Viện và truyền Thánh Chức”.
Bản văn kiện hướng dẫn đề ngày 4/11/2005 và đã được Đức Thánh Cha Biển Đức XVI phê chuẩn hôm 31/8/2005. Bản văn kiện này không có gì là mới mẻ mà chỉ lập lại những gì vẫn được Giáo Hội Công Giáo chủ trương về thiên chức linh mục nói chung và việc truyền chức linh mục nói riêng, cũng như về thành phần mắc chứng đồng tính luyến ái.
Theo Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, Bản văn kiện vẫn tỏ ra tôn trọng những ai mắc chứng đồng tính luyến ái, nhưng phân biệt giữa hành động đồng tính luyến ái (bất khả chấp) và khuynh hướng đồng tính luyến ái (cần thông cảm nhưng phải chế ngự).
Bản văn kiện khẳng định ba hạng người không được nhận vào chủng viện hay được lãnh chức linh mục là những nam nhân đang sống theo khuynh hướng đồng tính luyến ái, có khuynh hướng sâu nặng về vấn đề đồng tính luyến ái hay ủng hộ văn hóa đồng nam tính luyến ái. Còn những ai rõ ràng đã chế ngự được khuynh hướng này ít là 3 năm trước khi lãnh chức phó tế thì được.
Bản văn kiện cũng nhấn mạnh đến trách nhiệm của các vị giám mục, của các vị bề trên các dòng tu, các huấn luyện viên trong các chủng viện và các vị linh hướng trong chủng viện cần phải nhận thức được tính cách xứng đáng của thành phần ứng viên được chọn làm linh mục.
Bản văn kiện cảnh giác là trong trường hợp hồ nghi một cách nghiêm trọng về một ứng viên linh mục nào đó thì không được truyền chức linh mục cho họ hay chính bản thân họ cũng phải ý thức về việc được đào luyện làm linh mục của mình.
Sau hêát là biến cố Giáo Hội Việt Nam được thêm 57 tân linh mục do Vị Tổng Trưởng Thánh Bộ Truyền Bá Phúc Âm Hóa là Đức Hồng Y Crescenzio Sepe người Balan 66 tuổi truyền chức tại Nhà Thờ Chính Tòa Hà Nội.
Vào lúc 9 giờ sáng Thứ Ba 29/11/2005, Thánh lễ bắt đầu được cử hành bằng hai thứ tiếng Latinh và Việt Nam. Tất cả có hai Đức Hồng Y, 9 Giám mục và hơn 300 linh mục hiệp dâng Thánh lễ.
Trong bài giảng của mình, ngỏ lời với các vị phó tế sắp lĩnh chức linh mục, Đức Hồng Y chủ tế nhắn nhủ như sau: “ít phút nữa thôi, các con sẽ được long trọng lặp lại lời truyền phép Thánh Thể của Chúa Giêsu: Này là Mình Ta, Này là Máu Ta. Các con sẽ sống một đời sống mới, sẽ trở nên giống Chúa Kitô, sẽ tiếp tục làm những việc Chúa Giêsu đã làm khi Ngài ở trần gian như chữa lành, tha tội, xức dầu... để cho đòan chiên được sống và sống dồi dào. Các con là những người được kêu mời mạnh mẽ thực thi lệnh truyền của Chúa Giêsu là hãy đi loan báo Tin Mừng cho muôn dân. Các con sẽ làm linh mục cho những người Việt Nam trên đất nước hơn 80 triệu dân này. Rao giảng Tin Mừng bằng đời sống chứng tá linh mục, các con phải có Chúa Giêsu trong lòng. Không có Chúa trong lòng, thì chúng ta không thể trao ban Ngài cho ai được”.
Đức Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt, thay mặt toàn thể dân Chúa, cảm ơn Đức Hồng Y và Đức ông Barnabê Nguyễn văn Phương đã viếng thăm Giáo hội Việt Nam, với những lời lẽ như sau: “Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nói: ‘Việt Nam ở trong trái tim của tôi’. Trong Thánh lễ hôm nay, Đức Hồng Y không chỉ truyền chức linh mục cho 57 Thày Phó tế, mà còn gieo niềm vui và hi vọng vào tâm hồn mọi người. Chúng con xin Đức Hồng Y chuyển tới Đức Thánh Cha niềm tin yêu, tôn kính, vâng ohục của chúng con. Chúng con mong ước một ngày không xa, Đức Thánh Cha sẽ viếng thăm đất nước chúng con. Kính chúc Đức Hồng Y và Đức Ông dồi dào ơn Chúa; chúng con ước mong chuyến đi lần này thu được nhiều kết quả tốt đẹp và mối quan hệ giữa Tòa Thánh và Chính Phủ Việt Nam sẽ tiến triển tốt đẹp”.
Kính thưa quí vị, biến cố 57 tân linh mục Việt Nam ngày 29/11, cũng như biến cố Giáo Hội Việt Nam có thêm giáo phận Bà Rịa hôm 20/11, và cả biến cố giáo phận Bùi Chu có thêm vị giám mục phụ tá là Cha Phêrô Nguyễn Văn Đệ dòng Don Bosco đang dạy ở Đại Chủng Viện Thánh Giuse Hà Nội được ĐTC bổ nhiệm vào chính ngày 29/11/2005, một bổ nhiệm được Đức Hồng Y chủ tế Thánh Lễ truyền chức cho 57 tân linh mục công bố, là những gì liên quan tới “mối quan hệ giữa Tòa Thánh và Chính Phủ Việt Nam”. Thế nhưng, tại sao Tòa Thánh lại bang giao với Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam là một chế độ bình thường cần phải tỏ ra cực lực chống phá hơn là tỏ ra thân thiện, xin chúng ta hãy lắng nghe chính Tòa Thánh nói.
Thật vậy, ĐTGM Giovanni Lajolo, Bí Thư Văn Phòng Liên Hệ Chư Quốc của Tòa Thánh, hôm Thứ Ba 15/11/2005, đã đọc một bài diễn văn ở một hội nghị do tòa lãnh sự Balan ở Tòa Thánh tổ chức về đề tài “Vấn Đề Ngoại Giao của Tòa Thánh trong Thế Kỷ 20: Những Loại Hiệp Ước”, đã làm sáng tỏ vấn đề là:
“Những Hiệp Ước cũng như những thỏa ước khác được ký kết với các quốc gia được cai trị bởi những hình thức chính quyền khác nhau, không trừ một hình thức chính quyền nào. Bởi thế, đôi khi Tòa Thánh bị chỉ trích vì ký kết nhuưng thỏa hiệp ngay cả với các chế độ độc tài chuyên chế, để bằng cách nào đó cung cấp cho các chế độ ấy việc nâng đỡ về luân lý và làm thuận tiện cho việc hiện diện của họ trên khấu trường quốc tế. Tuy nhiên, trước hết, cần phải nhớ rằng, với những thỏa hiệp này, Tòa Thánh không bao giờ nhìn nhận bất cứ chế độ chuyên biệt nào. Theo qui chuẩn của luật lệ quốc tế thì chính Quốc Gia (là những gì tồn tại) ký kết hiệp ước, chứ không phải là những chính quyền hay chế độ (là những gì xuất biến). Cũng đừng quên rằng, trong việc ký kết các hiệp ước của mình, Toò Thánh nhắm đến việc bảo vệ quyền tự do của Giáo Hội ở nước đó, cũng như quyền lợi tự do tôn giáo của từng tín hữu và công dân, và điều này càng tỏ ra thật là cần thiết khi có những thành phần cai trị đất nước mà không hoàn toàn tôn trọng các quyền lợi căn bản”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
Đức Giám Mục William Skylstad, giáo phận Spokane, chủ tịch hội đồng giám mục Hoa Kỳ, đã phổ biến một bản văn liên quan tới việc Tòa Thánh ban hành văn kiện “Về các Tiêu Chuẩn để Nhận Thức các Ơn Gọi liên quan tới Những Người có Khuynh Hướng Đồng Tính Luyến Ái đối với Việc Chấp Nhận Họ vào Chủng Viện và truyền Thánh Chức”. Sau đây là những câu tiêu biểu:
“Chúng ta đang sống trong một kỷ nguyên đang bàn luận rất nhiều về vấn đề chiều hướng tình dục”.
Theo ngài, Giáo Hội xác nhận “phẩm vị của tất cả mọi người và việc tôn trọng cần phải tỏ ra cho tất cả mọi người bất luận xu hướng tính dục”, đồng thời Giáo Hội cũng dạy rằng “Thiên Chúa đã ban tặng ân tính dục cho nhân loại để mang lại mối liên hệ yêu thương giữa một người nam và một người nữ trong cuộc hiệp nhất trọn đời sống hôn nhân hướng về việc tạo nên sự sống mới”.
Vị giám mục chủ tịch này cho biết, trong văn kiện ấy, “Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo đang thi hành một thứ hiện thức hóa Kitô giáo về những gì được mong đợi nơi các ứng viên làm linh mục. Tính cách hiện thực này hiểu được những thách đố của thời đại chúng ta”.
“Nó bày tỏ mối quan tâm vững chắc là tất cả mọi ứng viên đều cần phải tỏ ra một ‘sự trưởng thành về tình cảm’ khiến họ liên hệ một cách thích hợp như là những vị linh mục thanh tịnh, độc thân, vị có thể trung thành tiêu biểu cho giáo huấn của Giáo Hội về tính dục, bao gồm cả tính cách vô luân của sinh hoạt tình dục đồng phái tính”.
“Chắc chắn là bất khả chấp trong trường hợp một ứng viên thực hành tính cách đồng tính luyến ái, hay, cho dù có chủ động hay không, trong trường hợp họ nhận mình thực sự có xu hướng hay hướng chiều về vấn đề đồng tính luyến ái”.
Cũng không thể chấp nhận được một ứng viên “ủng hộ ‘văn hóa đồng nam tính’ và quá chú trọng tới các vấn đề đồng tính luyến ái mà họ không thể nào thực sự tiêu biểu cho giáo huấn của Giáo Hội về dục tính”.
Đức giám mục 71 tuổi này nói rằng cuộc bàn luận của truyền thông về bản văn kiện này nêu lên vấn đề là “một nam nhân có khuynh hướng đồng tính luyến ái có thể là một linh mục tốt hay chăng”, và ngài đã cho biết như sau:
“Câu trả lời nằm ở nơi đời sống của những con người nam này, thành phần, với ơn Chúa, thực sự là một linh mục dấn thân, hằng ngày làm sao đừng để được phục vụ mà là phục vụ dân của mình, trung thành thể hiện bằng ngôn từ và gương sáng giáo huấn của Giáo Hội cách trọn vẹn, kể cả mạc khải của Thiên Chúa là việc bày tỏ về tình dục được ấn định xẩy ra chỉ giữa một người chồng và một người vợ trong một cuộc hôn nhân yêu thương, trung thành và trao ban sự sống”.
Đức Giám Mục Skylstad xin “tất cả mọi vị giám mục cũng như các vị bề trên thẩm quyền hãy lấy Bản Hướng Dẫn này làm cơ hội để bàn luận toàn diện với các vị giám đốc chủng viện cũng như các vị giám đốc ơn gọi về tính cách trưởng thành về tình cảm mà mọi vị ứng viên linh mục cần phải tỏ ra cho thấy”.
Vị giám mục này cũng khuyến khích một “cuộc bàn luận trong nguyện cầu và thành kính về những tiêu chuẩn được trình bày trong Bản Hướng Dẫn, giữa các vị giám mục và các bề trên có thẩm quyền với hàng tư tế của các vị, với các cộng đồng tu trì và với các ứng viên ở chủng viện”.
Để kết thúc, vị giám mục chủ tịch này nói rằng: “các vị giám mục và các vị bề trên thẩm quyền cần phải dễ dàng trực tiếp nói với những người anh em linh mục và chủng sinh bản thân đang phải đương đầu với những xu hướng đồng tính luyến ái”.
“Những cuộc bàn luận này cần phải tỏ ra vừa trung thành với sự thật về thiên chức linh mục được trình bày trong bản Hướng Dẫn này, và vừa tỏ ra tôn trọng, thương cảm, và cảm nhận là những gì Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo nói rằng cần phải được nới rộng cho tất cả những ai đang đương đầu với cuộc đối chọi này”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 29/11/2005
Tòa Thánh ban hành Văn Kiện về Việc Truyền Chức Linh Mục với Vấn Đề Đồng Tính Luyến Ái
Chính vào ngày Thứ Ba 29/11/2005, ngày Giáo Hội Việt Nam được thêm 57 tân linh mục do Vị Tổng Trưởng Thánh Bộ Truyền Bá Phúc Âm Hóa là Đức Hồng Y Crescenzio Sepe truyền chức tại Nhà Thờ Chính Tòa Hà Nội, thì tại Vatican, Tòa Thánh, qua Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo, đã ban bố một bản hướng dẫn mang tựa đề “Về các Tiêu Chuẩn để Nhận Thức các Ơn Gọi liên quan tới Những Người có Khuynh Hướng Đồng Tính Luyến Ái đối với Việc Chấp Nhận Họ vào Chủng Viện và truyền Thánh Chức”.
Bản văn kiện hướng dẫn đề ngày 4/11/2005 mới nhất này của Giáo Hội Công Giáo được ký bởi vị chủ tịch và thư ký của Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo là Đức Hồng Y Zenon Grocholewski và Đức Tổng Giám Mục J. Michael Miller, và đã được Đức Thánh Cha Biển Đức XVI phê chuẩn hôm 31/8/2005.
Bản văn kiện này không có gì là mới mẻ mà chỉ lập lại những gì vẫn được Giáo Hội Công Giáo chủ trương về thiên chức linh mục nói chung và việc truyền chức linh mục nói riêng, cũng như với thành phần mắc chứng đồng tính luyến ái.
Bản văn kiện, theo Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, vẫn tỏ ra tôn trọng những ai mắc chứng đồng tính luyến ái, nhưng phân biệt giữa hành động (bất khả chấp) và khuynh hướng (cần thông cảm nhưng cần chế ngự) đồng tính luyến ái.
Bản văn kiện khẳng định là những nam nhân có khuynh hướng nặng nề về vấn đề đồng tính luyến ái không được lãnh chức linh mục. Còn những ai rõ ràng đã chế ngự được khuynh hướng này ít là 3 năm trước khi lãnh chức phó tế thì được.
Bản văn kiện cũng nhấn mạnh đến trách nhiệm của các vị giám mục, của các vị bề trên các dòng tu, các huấn luyện viên trong các chủng viện và các vị linh hướng trong chủng viện cần phải nhận thức được tính cách xứng đáng của thành phần ứng viên được chọn làm linh mục.
Bản văn kiện cảnh giác là trong trường hợp hồ nghi một cách nghiêm trọng về một ứng viên linh mục nào đó thì không được truyền chức linh mục cho họ hay chính bản thân họ cũng phải ý thức về việc được đào luyện làm linh mục của mình.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo tín liệu được Zenit và VIS phổ biến ngày 29/11/2005
Tổng Trưởng Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo nhận định về bản Hướng Dẫn mới nhất do ngài soạn thảo
Đức Hồng Y Tổng Trưởng Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo là Zenon Grocholewski, vị hồng y người Balan, khi trình bày bản văn này qua Đài Phát Thanh Vatican vào hôm Thứ Ba 29/11/2005, đã cho biết:
“Các tờ nhật báo đã nói về bản văn kiện này như thể là một cái gì ngoại thường. Thế nhưng, không có gì là lạ trong việc thánh bộ của chúng tôi phổ biến những văn kiện đặc biệt liên quan tới việc huấn luyện linh mục, vì chúng tôi đã phổ biến khoảng 20 văn kiện kể từ Công Đồng Chung Vaticanô II liên quan tới các khía cạnh khác nhau của việc huấn luyện trong các chủng viện”.
Vị hồng y 66 tuổi này cho biết thêm chi tiết về các văn kiện được phân bộ giáo dục công giáo của Tòa Thánh này đã từng ban hành như sau:
“Đã có một văn kiện về việc độc thân, về đời sống thanh tịnh linh mục, có những bài nói về các ngăn trở khác nhau đối với thiên chức linh mục. Giờ đây bản văn kiện này không có gì là ngoại thường hết, vì đối với vấn đề đồng tính luyến ái chính Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin đã công bố nhiều lần rồi.
“Chính thánh bộ này đã công bố nhiều lần vì về lãnh vực này trong thế giới ngày nay đang có một khuynh hướng sai lạc. Nhiều người bênh vực chủ trương rằng tình trạng đồng tính luyến ái là một tình trạng bình thường của con người, là một cái gì đó như là một loại giống tính đệ tam; trái lại, điều này hoàn toàn trái ngịch với khoa nhân loại học. Theo chủ trương của Giáo Hội thì nó trái nghịch với luật tự nhiên và những gì Thiên Chúa đã in ấn nơi bản tính của con người”.
Vị hồng y này cũng đề cập tới việc phân biệt rõ ràng nơi cái khác nhau giữa “hành động đồng tính luyến ái” và “khuynh hướng đồng tính luyến ái” như sau:
“Các hành động đồng tính luyến ái, theo các Sách Thánh, cả trong Cựu Ước lẫn Tân Ước, từ Thánh Phaolô và sau đó nơi toàn thể Truyền Thống của Giáo Hội được các Công Đồng, được coi là trọng tội, phản lại với lề luật tự nhiên. Bởi thế, không bao giờ được chấp nhận các hành đồng như thế”.
Còn về “Xu hướng hay những khuynh hướng đồng tính luyến ái sâu đậm”, vị hồng y tổng trưởng này cho biết:
“Khuynh hướng đồng tính luyến ái này theo Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo được coi là một xu hướng lệch lạc khách quan. Tại sao? Vì một xu hướng như thế chưa phải là tội, nhưng nó không nhiều thì ít xu hướng về một hành vi cử chỉ xấu xa tự bản chất theo quan điểm về luân lý. Bởi thế, những con người này đang sống ở trong tình trạng bị thử thách; họ cần được thông cảm mà không bị kỳ thị bất cứ cách nào. Về phần Giáo Hội, cũng như mọi người, họ được kêu gọi để tuân giữ luật lệ thần linh, mặc dù, có lẽ đối với một số người trong họ, nó sẽ là những gì đớn đau”.
Vị hồng ý tổng trưởng còn phân biệt nguyên tắc về 3 hạng người không thể chịu chức linh mục như sau:
“Chúng tôi đã chấp nhận như là một nguyên tắc có 3 hạng người không thể được chấp nhận vào chủng viện hay lãnh chức linh mục, đó là những người sống đời đồng tính luyến ái; những người có chiều hướng sâu nặng về vấn đề đồng tính luyến ái, và những người ủng hộ thứ văn hóa gọi là đồng nam tính luyến ái.
“Đối với hạng người bị sâu nặng theo khuynh hướng đồng tính luyến ái, chúng tôi thật sự thấy rằng đó là một ngãng trở đới với một thứ liên hệ đứng đắn với con người nam nữ, gây ra những hậu quả tiêu cực đối với việc phát triển mục vụ của Giáo Hội.
“Dĩ nhiên, nếu chúng ta nói đến các khuynh hướng đồng tính luyến ái sâu nặng là có ý nói rằng cũng có thể có những khuynh hướng chuyển tiếp là những khuynh hướng không tạo nên ngãng trở. Thế nhưng, trong những trường hớp ấy, chúng cần phải biến mất đi 3 năm trước khi lãnh chức phó tế”.
Về vấn đề các vị linh mục có khuynh hướng đồng tính luyến ái, vị hồng y tổng trưởng cho biết:
“Những cuộc truyền chức linh mục này đều thành hiệu, vì chúng tôi không khẳng định tính cách bất hiệu thành của chúng. Moôt con người khám phá ra tính chất đồng tính luyến ái của mình sau khi lãnh chức linh mục, hiển nhiên là cần phải sống chính thiên chức linh mục, phải sống đức thanh tịnh. Có thể vị linh mục này cần phải được hỗ trợ thiêng liêng hơn những vị khác, thế nhưng, tôi nghĩ rằng vị ấy cần phải thi hành thiên chức linh mục hết sức của mình”.
Đaminh Maria
Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 29/11/2005
ĐGH Biển Đức XVI ban Ơn Đại Xá cho dịp Mừng Lễ Trọng Kính Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội 2005
Theo một sắc lệnh được phổ biến hôm Thứ Ba 29/11/2005 thì Đức Thánh Cha Biển Đức XVI sẽ ban cho tín hữu một Ơn Đại Xá vào dịp Long Trọng Mừng Lễ Mẹ Vô Nhiễm (8/12/2005) tới đây. Sắc lệnh này được ký bởi ĐHY James Francis Stafford và Cha John Francis Girotti, OFM. Conv, là hai vị đương kim chủ tịch và nhiếp chính Tông Tòa Ân Giải. Sau đây là một số câu tiêu biểu quan trọng trong sắc lệnh này:
“Ngày 8/12 sẽ là ngày đánh dấu 40 năm từ khi Người Tôi Tớ Chúa là Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, vị đã công bố Trinh Nữ Maria là Mẹ Giáo Hội, khi bế mạc Công Đồng Chung Vaticanô II đã hết lời chúc tụng Đức Nữ Trinh này, với tư cách là Mẹ Đức Kitô, là Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ thiêng liêng của tất cả chúng ta.
“Vào dịp Lễ Trọng này, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, khi công khai tỏ bày lòng tôn kính chúc tụng Đức Maria Vô Nhiễm, đã thiết tha muốn là toàn thể Giáo Hội phải hợp với ngài, để tất cả mọi tín hữu, hiệp nhất nơi danh của Người Mẹ chung này, trở nên mạnh mẽ hơn trong đức tin, gắn bó thiết tha hơn với Chúa Kitô, và yêu mến anh chị em mình bằng đức ái nhiệt thành hơn. Từ đó, như Công Đồng Chung Vaticanô II đã khôn ngoan dạy, xuất phát các việc xót thương đối với thành phần thiếu thốn, xuất phát việc tuân giữ đức công minh chính trực, và xuất phát việc bênh vực cùng tìm kiếm hòa bình”.
Vì lý do này, sắc lệnh cho biết, Đức Thánh Cha “đã nhân từ ban Ơn Tòa Xá là ơn có thể lãnh nhận theo các điều kiện thông thường (xưng tội, hiệp lễ và cầu nguyện theo các ý chỉ của Đức Thánh Cha), bằng một tâm hồn hoạn toàn xa lánh việc gắn bó với bất cứ hình thức tội lỗi nào, trong dịp Lễ Trọng Kính Đức Mẹ Vô Nhiễm, cho tín hữu nào tham dự một việc thánh để tôn kính Đức Nữ Trinh, hay ít là thực hiện cách công khai một việc tôn sùng Thánh Mẫu nào đó trước ảnh tượng Mẹ Vô Nhiễm được trưng bày để tôn kính chung, cùng đọc thêm Kinh Lạy Cha và Kinh Tin Kính, và một lời cầu nào đó với Đức Trinh Nữ”.
Bản sắc lệnh kết thúc bằng việc nhắc nhở là tín hữu “bị bệnh hay có lý do chính đáng khác” không thể tham dự vào một nghi thức công khai hay tôn kính hình ảnh của Đức Trinh Nữ, “có thể được Ơn Đại Xá tại nhà của mình, hay ở bất cứ chỗ nào, nếu, bằng một linh hồn hoàn toàn xa lánh bất cứ một hình thức tội lỗi nào, và có ý giữ những điều kiện đã được nói đến trên đây sớm bao nhiêu có thể, họ liên kết bản thân mình trong tinh thần và ước muốn với các ý chỉ của Đức Giáo Hoàng để cầu cùng Mẹ Maria Vô Nhiễm, và đọc Kinh Lạy Cha và Kinh Tin Kính”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 29/11/2005
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II: Tòa Án Phong Thánh cho Ngài được Thiết Lập ở Krakow
Một tòa án phong thánh ở Balan đang thu thập các chi tiết về đời sống và nhân đức của Đức Gioan Phaolô II đã tổ chức phiên họp đầu tiên của mình ở Krakow, hôm Thứ Sáu, 4/11/2005, Lễ Thánh Charles Borromeo, quan thày của vị cố giáo hoàng có tên thánh là Karol (theo tiếng Balan).
ĐTGM Stanialaw Dziwisz TGP Krakow, nguyên bí thư của ĐTC, đã chủ tọa Thánh Lễ ở Vương Cung Thánh Đường Wawel trước lễ nghi ra mắt của tóa án phong thánh cũng là phiên họp đầu tiên của tòa án này.
Nghi thức diễn ra cũng tương tự như nghi thức hôm 27/6 tại Đền Thờ Thánh Gioan Lateranô ở Rôma, một nghi thức bắt đầu giai đoạn thuộc cấp giáo phận cho việc phong chân phước vị giáo hoàng này.
Trước kinh phụng vụ tối, Đức Ông Slawomir Oder, cáo thỉnh viên cho tiến trình phong chân phước và hiển thánh của Đức Gioan Phaolô II, đã cho biết việc bổ nhiệm vị phó cáo thỉnh viên là Cha Stefan Rylko. Hai vị linh mục được chỉ định làm phần tử của ủy ban này là Cha Jacek Urban và Cha Grzegorz Rys. ĐTGM Dziwisz, 66 tuổi, trao việc điều hành tòa án này cho Đức Ông Tadeusz Pieronek, nguyên viện trưởng Giáo Hoàng Thần Học Viện Krakow.
Các phần tử của tòa án này, bao gồm cả ĐTGM Dziwisz, với vai trò chủ tịch “theo pháp lý”, phải tuyên thệ “thực hiện điều yêu cầu (phong chân phước và phong thánh này) một cách trung thành và khôn ngoan”, và “bảo mật những khai báo của các chứng nhân”.
Sau lời tuyên thệ là việc đọc nghị định thư thiết lập tòa án này, cùng với bức thư của ĐHY Camillo Ruini, vị đại diện cho Giám Mục Rôma là Giáo Hoàng, bức thư nói đến vấn đề ngài yêu cầu ĐTGM Krakow thiết lập một tòa án để nghe những chứng khai ở Balan. Giáo dân đã đến tham dự biến cố này đầy vương cung thánh đường.
ĐTC Biển Đức XVI (và Đức GPII) Viếng Thăm Đền Thánh Mẫu ‘Mẹ Ân Sủng’ ở Mentorella
Vào chiều Thứ Bảy 29/10/2005, văn phòng báo chí của Tòa Thánh đã loan báo như sau:
“Sáng nay, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã thực hiện một cuộc hành hương riêng tư đến đền Thánh Mẫu ‘Mẹ Ân Sủng’ ở Mentorella (trong giáo phận Tivoli, giáo tỉnh Rôma). Ở đó ngài đã cử hành Thánh Lễ kính Đức Trinh Nữ Maria, rồi trở về Tông Dinh Vatican vào buổi trưa”.
Cũng theo vị giám đốc tòa thánh thì ngài rời Vatican lúc 9 giờ sáng. Đúng thế, vào sáng Thứ Bảy, vị giám đốc đền thánh mẫu này là vị linh mục người Balan Adam Otrebski nhận được điện thoại báo tín ĐTC sẽ tới thăm. Để kỷ niệm cuộc viếng thăm của mình, ĐTC đã tặng cho đền thánh mẫu này một áo lễ và những người hành hương bấy giờ tràng hạt.
Nếu vị tân Giáo Hoàng Biển Đức đã thực hiện cuộc xuất hành đầu tiên trong giáo triều của mình ở ngoài Thành Rôma hướng về Chúa, khi ngài đến Baria để bế mạc Hội Nghị Thánh Thể Ý Quốc, Chúa Nhật 29/5/2005, thì vị tiền nhiệm Gioan Phaolô II của ngài, đúng 27 năm trước, đã thực hiện một cuộc viếng thăm có tính cách Thánh Mẫu.
Thật vậy, đúng 27 năm trước đây, ĐTC Gioan Phaolô II, vị Giáo Hoàng chưa từng có trong lịch sử Giáo Hội đã lấy khẩu hiệu giáo hoàng của mình về Thánh Mẫu “totus tuus”, đã thực hiện cuộc xuất hành đầu tiên ngoài Thành Rôma, khi ngài đến viếng Đền Thánh Mẫu ‘Mẹ Ân Sủng’ Mentorella vào ngày 29/10/1978, (và cuộc xuất hành thứ hai vào ngày 5/11 cùng năm đến kính viếng linh địa Assissi của Vị Thánh Hòa Bình Phanxicô Khó Khăn).
Trước cuộc mật nghị hồng y bầu giáo hoàng thay cho Đức Gioan Phaolô I, Hồng Y Karol Wojtyla đã đến kính viếng Đền Thánh Mẫu này, và sau đó ngài đã được bầu làm vị giáo hoàng không phải Ý quốc sau 455 năm. Ngài còn trở lại đền thánh mẫu này nhiều dịp khác, và dịp cuối cùng vào Đại Năm Thánh 2000. Trong cuộc viếng thăm đầu tiên của mình với tư cách giáo hoàng, ngài đã cho biết “địa điểm này đã giúp tôi rất nhiều trong việc nguyện cầu… Nơi được khuất kín giữa núi rừng này đặc biệt thu hút tôi”.
Đền Thánh Mẫu ‘Mẹ Ân Sủng’ này ở cách Roma 30 dặm hay gần 50 cây số về phía đông. Theo truyền thống thì đền thánh mẫu Mentorella được xây cất từ thế kỷ thứ 4 bởi Hoàng Đế Rôma Constantine, trên Núi Guadagnolo, địa điểm trở lại của một quan chức Rôma là Thánh Eustace. Ngôi thánh đường được cung hiến cho Thánh Eustace và được Giáo Hoàng Sylvester thánh hiến.
Đền Thánh Mẫu này được chăm sóc và quản trị bởi Hội Dòng Phục Sinh, hội dòng mà vào năm 1883, đã mua lại đền này từ Nước Ý sau khi đền bị tước chiếm. Vào năm 1857, Đức Giáo Hoàng Piô IX đã trao phó đền thánh mẫu này cho hội dòng này bảo quản. Bức tượng bằng gỗ “Mẹ Ân Sủng” có từ hồi thế kỷ 12, và được tôn vương vào năm 1901.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được VIS phổ biến ngày 31/10/2005 và Zenit ngày 1/11/2005
Vào chiều ngày Thứ Sáu, 28/10/2005, vị giám đốc văn phòng báo chí của Tòa Thánh là Joaquín Navarro Valls, đã phổ biến một văn bản liên quan tới chung tình hình Thánh Địa, Trung Đông và riêng lời tuyên bố của Tổng Thống Iran về Do Thái, nguyên văn như sau:
«Những biến chuyển trầm trọng ở Thánh Địa trong mấy ngày qua đã khiến Tòa Thánh hết sức quan tâm, để hợp cùng toàn thể cộng đồng quốc tế, bày tỏ việc mạnh mẽ lên án của mình đối với những hành động bạo lực - cuộc khủng bố tấn công ở Hadera cùng việc trả đũa sau đó - bất cứ những hành động bạo lực ấy gây ra bởi phe nào, cũng như đối với những tuyên bố hết sức hệ trọng và bất khả chấp trong việc chối bỏ quyền hiện hữu của Nước Do Thái.
«Nhân dịp này, Tòa Thánh tái khẳng định quyền của cả người Do Thái cũng như Palestine đều được sống trong an bình và an ninh, mỗi bên trong Quốc Gia chủ quyền của mình.
«Tòa Thánh đồng thời cũng cảm thấy có nhiệm vụ lập lại lời kêu gọi của mình với những vị lãnh đạo của tất cả mọi dân tộc ở Trung Đông là hãy lắng nghe nỗi khát vọng hòa bình và công lý xuất phát từ thành phần dân chúng này, hãy tránh đi những hành động cùng với những quyết định gây ra chia rẽ và chết chóc, và hãy can đảm cương quyết dấn thân kiến tạo những điều kiện tối thiểu nhất cho việc tái đối thoại với nhau là đường lối duy nhất để bảo đảm tương lai của hòa bình và thịnh vượng cho con cái của mảnh đất này».
Hôm nay, Chúa Nhật 30/10/2005, Tổng Thống Iran Ahmadinejad nói rằng những lời yêu cầu của ông mới đây đòi xóa tên Do Thái trên bản đồ thế giới là một phần của chính sách ấn định của Iran nhất định không thay đổi.
ĐTC Biển Đức XI với Thiếu Nhi Rước Lễ Lần Đầu về bài Giáo Lý “B
ánh Bởi Trời”
|
|
100 ngàn thiếu nhi trong số 150 ngàn khách hành hương bao gồm cha mẹ và thày cô giáo lý viên của các em, đông chật cả Quảng Trường Thánh Phêrô, lan sang cả một phần của con đường Via della Conciliazione. Trước khi ĐTC tới, các em xem trình diễn ca vũ nhạc.
Phần hào hứng nhất là phần vấn đáp giữa các em với ĐTC, những em ngồi gần ngài. Câu hỏi thứ nhất liên quan tới Cuộc Rước Lễ Lần Đầu của ngài, một câu hỏi từ một bé gái được ngài trả lời như sau:
“Đó là một Ngày Chúa Nhật trong Tháng Ba năm 1936, cách đây 69 năm. Mặt trời sáng lạn, nhà thờ đẹp đẽ, và ca hát rộn ràng… Thế nhưng, kỷ niệm quí hóa nhất của cha đó là kỷ niệm biết được rằng Chúa Giêsu đã đi vào lòng của cha, Người đã đến viếng thăm cha, và cùng với Chúa Giêsu, chính Thiên Chúa đã ở với cha. Đó là món quà của tình yêu thực sự cao quí hơn tất cả những gì khác trong cuộc đời… Trong ngày hôm đó, cha đã hứa rằng: ‘Lạy Chúa, tôi luôn mong ước được ở với Chúa, thế nhưng, trước hết con mong ước được Chúa ở cùng con”.
Một bé gái khác hỏi Ngài là tại sao cần phải xưng tội trước khi Rước Lễ, nếu tôị lỗi của chúng ta lúc nào cũng thế thôi. Mỉm cười khi nghe hỏi như vậy, Ngài đã trả lời em rằng:
“Thật sự là chúng ta bao giờ cũng phạm những tội như thế thôi. Tuy nhiên, chúng ta không thu dọn sạch sẽ nhà cửa của mình, phòng của mình, ít là mỗi tuần một lần, cho dù cái bẩn cũng luôn xẩy ra như thế? Nếu không làm như vậy, chúng ta sẽ làm choi bẩn thỉu gia tăng thêm nữa, mặc dù chúng ta không trông thấy nó. Linh hồn của chúng ta cũng thế. Nếu chúng ta không bao giờ xưng tội là chúng ta lơ là với nó. Tôi có thể mãn nguyện với chính mình, nhưng tôi không hiểu rằng tôi cần phải cải tiến liên lỉ để tiến bộ hơn. Việc xưng tội giúp chúng ta cởi mở lương tâm mình hơn nữa, nhờ đó đi tới chỗ trưởng thành một cách thiêng liêng và nhân loại”.
Một câu hỏi khác được đặt ra bởi một em trai liên quan tới việc Chúa Giêsu hiện diện một cách vô hình trong Thánh Thể…
Một em gái hỏi ngài rằng phải làm sao nếu cha mẹ của em không đi Lễ Chúa Nhật, thì ngài đề nghị với em là hãy nói với cha mẹ em “một cách hết sức kính mến và trọng kính” rằng “má ơi, ba ơi, ba má có biết rằng có một điều gì đó rất hệ trọng đối với tất cả chúng ta hay chăng, với cả ba má nữa? Đó là việc gặp gỡ Chúa Giêsu”.
Cuộc gặp gỡ này đã được kết thúc bằng việc tôn thờ và phép lành Thánh Thể trọng thể. ĐTC đã cắt nghĩa cho các em rằng việc tôn thờ “là việc nhìn nhận Chúa Giêsu là Chúa, là tâm điểm của đời sống chúng ta. Cầu nguyện là nói rằng: Chúa Giêsu ơi, con là của Chúa, con không bao giờ muốn mất đi mối tình bạn hữu này, mối hiệp thông này với Chúa đây…. Việc Thiên Chúa vắng mặt, là một khiếm khuyết tai hại, Ngài là ánh sáng và là hướng đạo của đời sống chúng ta, của những gì chúng ta cần”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo tín liệu của điện thư VIS ngày 17/10/2005 và mạng điện toán toàn cầu Catholic Online ngày 15/10/2005.
Cuốn Sách đầu tay với tư cách Giáo Hoàng của ĐTC Biển Đức XVI: “Cuộc Cách mạng Của Thiên Chúa”
Hôm Thứ Ba 11/10/2005, tại văn phòng Báo Chí của Tòa Thánh, ĐHY Camillo Ruini, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Ý quốc, và ĐTGM Stanislaw Rylko, chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh về Giáo Dân, đã ra mắt cuốn sách mang tựa đề “La Rivoluzione di Dio – Cuộc Cách Mạng của Thiên Chúa”, của ĐTC Biển Đức XVI, do Vatican Publishing House và St. Paul Publishing House phát hành, một cuốn sách tổng hợp những bài diễn từ của ngài hôm Tháng 8/2005 dịp Ngày Giới Trẻ Thế Giới 2005 ở Cologne Đức quốc, chưa kể đến bài diễn từ cho buổi triều kiến chung Thứ Tư 24/8 chất chứa những cảm nghiệm của ngài về Ngày Giới Trẻ Thế Giới đầu tiên của giáo triều ngài.
ĐTGM Rylko cho biết: “Trong các bài diễn từ của mình, ĐGH đã cống hiến những yếu tố quan trọng cho một chương trình mục vụ xác đáng được khơi động bởi cuộc hành trình mạo hiểm thiêng liêng mô phạm của Các Vị Đạo Sĩ. Đó là một chương trình được cấu tạo bởi 3 chữ chính, đó là tìm kiếm, gặp thấy và tôn thờ Chúa Kitô, Đấng Cứu Chuộc của nhân loại. Vì lý do này, cuốn sách chúng tôi ra mắt đây không phải là một ‘cuốn sách kỷ niệm’…. Trước hết, nó là một thủ bản, một hướng dẫn cần phải được tham chiếu trong việc tìm kiếm những phấn khích quí hóa để kiên cường đức tin của con người cũng như để học biết cách loan báo Chúa Kitô trong thế giới ngày nay”.
Về phần mình, ĐHY Ruini, vị đã viết lời dẫn nhập cho cuốn sách, đã vắn tắt tóm gọn nội dung 12 bài diễn từ của ĐGH, nhấn mạnh đến sự kiện là “cuốn sách này, trước hết, là một lời nguyện cầu, như việc nguyện cầu và tôn thờ Chúa Kitô Thánh Thể là những đề tài chính yếu của Ngày Giới Trẻ Thế Giới XX vậy. Từ cuốn sách này, cũng như từ Ngày ấy, điều chiếu sáng đó là niềm vui đối với vẻ đẹp của đức tin, và đối với vẻ đẹp của Chúa Kitô cũng như của cuộc sống trong Chúa Kitô”.
Nếu tác phẩm đầu tay với tư cách là Giáo Hoàng của ĐTC Biển Đức XVI chất chứa một nội dung 12 bài diễn từ của ngài trong dịp Ngày Giới Trẻ Thế Giới XX ở Cologne Đức Quốc như thế, kể cả bài chia sẻ cảm nghiệm của ngài về ngày giới trẻ ấy trong buổi triều kiến chung ngay sau đó, thì thoidiemmaria đã chuyển dịch xong ngay tối của buổi triều kiến chung này, 24/8/2005, và 3/5 bài dịch này đã được nguyệt san Hiệp Nhất của Cộng Đồng Công Giáo Giáo Phận Orange phổ biến trong hai số báo tháng 9 và 10/2005. Nhân dịp ra mắt cuốn sách này, chúng ta hãy cùng nhau ôn lại những lời huấn từ của vị tân giáo hoàng của chúng ta nơi Ngày Giới Trẻ Thế Giới XX tại Đức Quốc.
ĐTC Biển Đức XVI viếng thăm một bệnh viện nhi đồng gần Vatican
Theo tin tức của VIS ngày 30/9/2005 thì vào chính buổi sáng này, ĐTC đã viếng thăm bệnh viện nhi đồng “Bambin Gesu” ở rất gần Vatican. Bệnh viện này là cơ sở của Tòa Thánh và là một trung tâm quốc tế nổi tiếng về việc chăm sóc cho các trẻ em, cả về lãnh vực bệnh trạng lẫn việc nghiên cứu khoa sinh y học.
Sau khi viếng thăm một số các cơ phận của bệnh viện này và chào hỏi nhiều em nhỏ bệnh nhân cùng gia đình của các em, ĐTC đã đến giảng đường để chào vị giám đốc bệnh viện, các phần tử thuộc hội đồng quản trị, nhân viên y khoa và các vị thẩm quyền dân sự.
Vị giám đốc bệnh viện này là Francesco Silvano, đã nhắc lại việc hình thành của bệnh viện này vào năm 1869, nhờ “cử chỉ bác ái của gia đình quí phái Salviati… gia đình đã dâng cúng nó cho ĐGH Piô XI 80 năm trước. Từ đó bệnh viện này đã được coi là cơ sở của Tòa Thánh, ở dưới quyền quản trị và trông coi của Văn Phòng Quốc Vụ Khanh”.
Trong bài huấn từ của mình, ĐTC Biển Đức XVI đã giải thích rằng, về cuộc viếng thăm đầu tiên đến một bệnh viện với tư cách là Giáo Hoàng, ngài đã chọn bệnh viện “Bambin Gesu” vì 2 lý do: “vì cơ sở này thuộc về Tòa Thánh”, và “để cả tôi nữa cũng làm chứng nhân cho việc Chúa Giêsu yêu thương trẻ em… Nơi hết mọi người chịu khổ đau, thậm chí còn hơn thế nữa nếu họ là thành phần bé nhỏ và bất khả tự vệ, đều có Chúa Giêsu là Đấng đón chờ chúng ta và đợi chờ tình yêu thương của chúng ta”.
ĐTC nhấn mạnh đến việc bệnh viện này làm sao “cần phải tỏ ra hết sức hăng say và liên lỉ cố gắng tăng thêm các phương tiện thuận lợi, nó đòi phải chuyên chú, đòi một tinh thần hy sinh, nhẫn nại và tình yêu bất vụ lợi, để những người làm cha làm mẹ mới có thể tìm thấy nơi đây là một chốn hít thở niềm hy vọng và thanh thản, ngay cả trong những lúc e sợ nhức nhối.
“Ở nơi đây anh chị em quan tâm tới việc bảo đảm cung cấp việc chữa trị tốt đẹp nhất, không phải theo quan điểm chăm sóc sức khỏe mà còn theo quan điểm nhân bản nữa. Đường lối này, một đường lối thích đáng với tất cả mọi trung tâm chăm sóc sức khỏe, đặc biệt cần phải nổi bật nơi thành phần được tác động bởi những nguyên tắc phúc âm”.
Sau khi cám ơn nhân viên của bệnh viện về việc giúp đỡ của họ “trong công việc đầy giá trị nhân bản này, một công việc cũng tiêu biểu cho một hình thức tông đồ hiệu năng nhất”, ĐTC tiếp, “Chớ gì chính Giáo Hội là con tim của bệnh viện này: để từ Chúa Giêsu là Đấng thực sự hiện diện nơi Thánh Thể và là Vị Bác Sĩ diụ dàng của các cơ thể và linh hồn, nó kín lấy sức mạnh thiêng liêng để ủi an và chữa trị các bệnh nhân nơi đây”.
Ngài đã kết thúc bài huấn từ của mình khi nói rằng nơi bệnh viện này có thể “cống hiến việc làm chứng cụ thể và hiệu nghiệm cho Phúc Âm, đối với một nhân loại đau thương. Ở nơi đây, bằng các việc làm, quyền năng của Chúa Kitô được loan truyền, Đấng cùng với Thần Linh của Người chữa lành và biến đổi cuộc sống con người. Chúng ta hãy nguyện cầu để, cùng với việc chữa trị, tình yêu của Chúa Giêsu được thấm nhập vào những người khách trẻ đây”.
Sau chuyến viếng thăm này, ĐTC đã trở về Vatican bằng xe hơi.
Cuộc gặp gỡ giữa ĐTC Biển Đức XVI và Giáo Sư Thần Học Gia Hans Kung
Chiều hôm Thứ Hai 26/9/2005, vị giám đốc văn phòng báo chí của Tòa Thánh là Joaquin Navarro-Valls đã phổ biến cho thành phần phóng viên báo chí biết về cuộc gặp gỡ giữa ĐTC Biển Đức XVI và giáo sư thần học gia người Đức Hans Kung nguyên văn bằng Đức ngữ nhưng đã được chuyển sang Anh ngữ từ VIS ngày 27/9/2005 như sau:
“Hôm Thứ Bảy, 24/9, ĐGH Biển Đức XVI và Giáo Sư Hans Kung ở Tubingen Đức quốc đã gặp nhau. Cuộc gặp gỡ này đã diễn ra trong bầu không khí thân thiện. Cả hai bên đều đồng ý là trong cuộc gặp gỡ này chẳng có ý nghĩa gì thực hiện việc tranh luận với nhau về các vấn đề tín lý vẫn còn dai dẳng giữa giáo sư Hans Kung và Huấn Quyền của Giáo Hội Công Giáo.
“Bởi thế cuộc bàn luận được tập trung vào hai chủ đề đặc biệt quan trọng mới đây nơi tác phẩm của giáo sư Hans Kung, đó là vấn đề ‘Weltethos’ (đạo lý thế giới) và vấn đề đối thoại giữa lý trí của các khoa học tự nhiên với lý trí của đức tin Kitô giáo. Giáo sư Kung nhấn mạnh rằng dự án của ông về ‘Weltethos’ không phải là một cấu trúc tri thức trừu tượng mà là những gì làm sáng tỏ các thứ giá trị về luân lý là điểm đồng qui của các đại tôn giáo trên thế giới cho dù tất cả các tôn giáo ấy đều khác nhau, và là những gì, căn cứ vào tính cách hợp lý của chúng, có thể được loại lý trí trần thế coi như những qui chuẩn đáng giá.
“Đức Giáo Hoàng đã hoan hô những nỗ lực của Giáo sư Kung trong việc góp phần vào việc nhận thức mới mẻ về các thứ giá trị thiết yếu của nhân loại qua cuộc đối thoại của các tôn giáo cũng như nơi cuộc gặp gỡ với loại lý trí trần thế. Ngài nhấn mạnh rằng việc dấn thân cho một nhận thức mới về các thứ giá trị bảo trì cuộc sống của con người cũng là một mục tiêu quan trọng của giáo triều ngài.
“Ngài đồng thời cũng tái xác nhận việc ngài đồng ý với nỗ lực của Giáo Sư Kung trong việc làm tái sinh vấn đề đối thoại giữa đức tin và các khoa học tự nhiên, cũng như thẩm định cái hợp lý của và cái nhu cầu cho vấn đề về Thiên Chúa ‘Gottesfrage’ đối với tư tưởng theo khoa học. Về phần mình, Giáo Sư Kung đã ngỏ lời ca ngợi các nỗ lực của Đức Giáo Hoàng ưu tiên cho vấn đề đối thoại giữa các tôn giáo cũng như đối với việc gặp gỡ các nhóm xã hội khác nhau trong thế giới tân tiến này”.
Văn Kiện giữa Giáo Hội Công Giáo và Lutherô Thế Giới về Tính Cách Tông Truyền đã gần hoàn thành
Tòa Thánh và Liên Hiệp Luthêrô Thế Giới đang ở vào giai đoạn cuối cùng trong việc biên soạn văn kiện chung “về Tính Cách Tông Truyền của Giáo Hội và việc Thừa Kế Tông Đồ”.
Công việc này đang được thực hiện ở cuộc họp giữa các phần tử của Ủy Ban về Hiệp Nhất giữa Công Giáo Rôma và Liên Hiệp Luthêrô. Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Trách Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô Giáo chủ sự cuộc họp được kết thúc vào Thứ Năm 29/9/2005. Hy vọng bản văn kiện này sẽ được phổ biến vào năm 2006.
Cuộc đối thoại đại kết giữa đôi bên được bắt đầu từ năm 1967, với một ủy ban đặc biệt về hiệp nhất này. Đây là cuộc họp cuối cùng trong giai đoạn hiện tại về việc đối thoại đại kết. Những bản tường trình đúc kết trước đây giữa hai bên thứ tự gồm có về “Thánh Thể” năm 1978, “Những Đường Lối Dẫn Đến Cộng Đồng” năm 1980, “Thừa Tác Vụ trong Giáo Hội” năm 1981, “Đối Diện Với Mối Hiệp Nhất” năm 1984, và “Tuyên Ngôn Chung về Tín Lý Công Chính Hóa” năm 1999, một bản tuyên ngôn đã được cả giáo hội Methodist bày tỏ ý muốn chấp thuận vào “năm tới”.
Tòa Thánh Vatican làm sáng tỏ vấn đề bị cáo buộc che chở cho tội phạm chiến tranh
Hôm Thứ Ba 20/9/2005, tờ nhật báo Daily Telegraph ở Hiệp Vương Quốc đã tung ra bài viết mang tựa đề “Vatican bị tố cáo là che giấu ‘tội ác chiến tranh’”, tức che giấu tội ác của Tướng Ante Gotovina, nhân vật (49 tuổi) bị tình nghi là vi phạm tội ác chiến tranh trong cuộc xung đột ở Yugoslavia trước kia. Ngay chiều cùng ngày, vị Giám Đốc Văn Phòng Báo Chí của Tòa Thánh Vatican là Joaquin Navarro-Valls đã phổ biến lời công bố sau đây với phóng viên báo chí.
“Trong cuộc gặp gỡ giữa ĐTGM Giovanni Lajolo, đặc trách văn phòng Liên Hệ với Chư Quốc của Tòa Thánh, và bà Carla Del Ponte, trưởng ban công tố viện của pháp đình tội ác quốc tế về Yugoslavia trước kia, để trả lời cho lời yêu cầu của bà liên quan tới vấn đề liên lạc và nâng đỡ của Tòa Thánh (đối với nhân vật tội ác chiến tranh này), ĐTGM Lajolo đã nói rõ là Văn Phòng Quốc Vụ Khanh không phải là cơ cấu của Tòa Thánh có thể hợp tác theo cơ chế với các tòa án.
“ĐTGM Lajolo cũng yêu cầu bà Del Ponte hãy nói một cách rõ ràng chính xác về chứng cớ khiến bà tin rằng Tướng Ante Gotovina đã ẩn nấp ở một số cơ sổ tu trì ở Croatia, để có thể liên lạc với các thẩm quyền của giáo hội; thật sự là những cuộc điều tra trước đây đều khong có kết quả gì. Điều yêu cầu của ĐTGM Lajolo đã chưa được bà Del Ponte đáp ứng gì hết”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo tín liệu của VIS ngày 21/9/2005
Đặc Sứ của ĐTC Biển Đức XVI viếng thăm Baton Rouge
ĐTGM Paul Cordes, chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh “Đồng Tâm”, đặc sứ của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, sẽ đến Baton Rouge vào Chúa Nhật 11/9/2005 và chủ tế lúc 10 giờ sáng tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Giuse, đồng tế có ĐTGM Alfred Hughes TGP New Orleans, ĐTGM Oscar Lipscomb TGP Mobile, ĐHY Theodore McCarrick, TGM Washington DC, TGM hồi hưu Philip Hannan TGP New Orleans, và ĐGM Robert Muench giáo phận Baton Rouge.
ĐTGM Hughes nói rằng: “ĐTGM Cordes đang mang đến cho chúng ta một món quà, và ngài muốn hiện diện về mục vụ với chúng ta thay cho Đức Thánh Cha”.
Sau Thánh Lễ, vị đặc sứ của ĐTC và ĐHY Theodore McCarrick, TGM Washington DC, đã
gặp gỡ các vị giám mục trong vùng và thống đốc Louisiana. Sau đó, các ngài đã
cùng với ĐTGM Hughes và Giám Mục Muench đến viếng thăm mục vụ ở các khu cư trú
thuộc vùng Baton Rouge.
Hiện thời Tổng Thống Hoa Kỳ George Bush đã công bố ngày 16/9/2005 là “Ngày Toàn
Quốc Nguyện Cầu và Tưởng Nhớ Nạn Nhân Bão Lụt Katrina”.
Cho tới ngày kỷ niệm 4 năm biến cố 911, con số tử vong của trận bão lụt này đã
lên tới gần 500 người, ở Louisiana khoảng 275, và Mississippi khoảng 200 người.
Văn Phòng Học Đường Công Giáo TGP New Orleans loan báo mở lại 2 trường thuộc
giáo xứ Thánh Gioan và giáo xứ Thánh Charles, nhưng trường giáo xứ Thánh Bênađô
sẽ đóng nguyên niên khóa 2005-2006. Văn phòng này cũng thông báo thiết lập các
trường liên giao ở Baton Rouge, nơi nhiều người di tản New Orleans đang tạm trú,
và cũng là nơi TGP New Orleans tạm làm tổng hành dinh của mình.
Tông du:
Thánh Địa: như ngài đã nhận lời mời của chính quyền Do Thái cũng như Thẩm Quyền Quốc Gia Palestine. Hôm 8/7, Tổng Trưởng Thông Tin Dalia Itzik đã trao cho ĐGH một bức thư mời từ Thủ Tướng Ariel Sharon xin ĐTC đến thăm đất nước này. Vị tổng trưởng này đã tiết lộ cho một đài phát thanh Do Thái sau khi triều kiến ĐTC là ngài nói rằng “tôi có một danh sách dài cần phải viếng thăm các quốc gia nhưng Do Thái đứng hàng đầu”. Tổng thống Thẩm Quyền Quốc Gia Palestine là Mahmoud Abbas cũng mời ngài thăm lãnh địa Palestine, như nguyệt san 30 Ngày cho biết.
Thổ Nhĩ Kỳ: Thượng Phụ Bartholomew I đã mời ngài đến thăm Istabul vào dịp Lễ Thánh Anrê 30/11. Tòa Thánh chưa chính thức trả lời. Tin đồn về chuyến đi có thể này của ĐTC được xác nhận ở buổi họp báo ngày 7/7 bởi Thủ Tướng Bertie Ahern sau khi ông được triều kiến ngài.
Tây Ban Nha: ĐTC đã bày tỏ ý muốn tham dự Cuộc Họp Thế Giới Gia Đình, một cuộc họp được ĐTC GPII triệu tập thường lệ hai năm một lần và được công nhận bởi vị giáo hoàng đương nhiệm, sẽ được tổ chức tại Valencia Tây Ban Nha vào Tháng 7/2006.
Mỹ Châu Latinh: Ngài có thể sẽ đến Mỹ Châu Latinh vào năm 2007 để tham dự cuộc tổng nghị của hội đồng chư vị giám mục Mỹ Châu Latinh, địa điểm họp chưa được ấn định.
Đức quốc: Đức giám mục Gerhard Ludwig Muller giáo phận Regensburg đã mời ĐTC về thăm quê quán Bavaria của ngài vào năm 2006.
Thượng
Nghị Giám Mục
Đó là Thượng Nghị Thường Lệ lần thứ XI để bế mạc Năm Thánh Thể vào thời khoảng 2-23/10/2005, với khoảng 250 vị giám mục trên khắp thế giới về tham dự. Ngài cũng triệu tập cuộc thượng nghị giám mục Phi Châu lần thứ hai ở Rôma.
Mật Nghị Hồng Y
Hồng Y Đoàn hiện nay chỉ còn 112 vị là hợp lệ bầu giáo hoàng, trong khi đó con số tối đa cần đến 120 vị. Bởi vậy mà ngài sẽ triệu tập một mật nghị để tuyển thêm các vị hồng y mới.
Trong cuộc họp báo ngày 5/7, ĐHY José Saraiva Martins, tổng trưởng Thánh Bộ Điều Tra Phong Thánh, đã cho biết ĐGH có thể thực hiện một cuộc cải cách Giáo Triều Rôma. Dù sao ngài cũng cần phải thay một số vị lãnh đạo các phân bộ của Tòa Thánh, vì có một số vị đã tới tuổi về hưu 75.
Viết
Lách
Vị giám
đốc văn phòng báo chí tòa thánh, trong cuộc nghĩ hè với ĐTC ở miền núi vừa rồi,
đã cho biết là ngài đang viết một cuốn sách, chứ không phải viết bức thông điệp
đầu tay cho giáo triều của ngài, cuốn sách ngài đang viết dở dang khi còn là
hồng y. Tòa Thánh không xác nhận việc ngài viết thông điệp. Tuy nhiên, theo
thoidiemmaria, sở dĩ cuốn sách này quan trọng hơn cả bức thông điệp đầu tiên là
những gì cần phải có càng sớm càng tốt vì cuốn sách ấy sẽ cho chung nhân loại và
con cái Giáo Hội thấy trước cái bối cảnh thế giới hiện đại nói chung và Âu Châu
(Tây phương, thế giới Kitô giáo) nói riêng đang ở đâu và đi về đâu, nó chẳng
khác gì như một dạo khúc dẫn con người vào tâm điểm của nó là bức thông điệp
ngài sẽ ban hành sau đó.
Phong
Thánh
Ngài sẽ chủ sự
cuộc phong thánh đầu tiên vào ngày 23/10/2005 tại Quảng Trường Thánh Phêrô.
Những vị chân phước được ngài tôn phong lên hàng hiển thánh đó là 1 vị linh mục
dòng Tên
người Chí Lợi là
Alberto Hurtado (1901-1952); 2 vị người Ukraine là ĐTGM Josef Bilczewski
(1860-1923) TGP Lviv và linh mục triều Zygmunt Gorazdowski (1845-1920), và 2
người Ý là Gaetano Catanoso (1879-1963) và Felice Da Nicosia (1715-1787).
Hiện
Xuống 2006
Một việc nổi bật trong số hoạt động của ĐTC được dự trù cho năm tới là cuộc họp Hiện Xuống ở Rôma với các phần tử thuộc các phong trào và cộng đồng mới. Nó sẽ là cuộc họp thứ hai theo thể loại của mình, sau cuộc họp đầu tiên do ĐGH GPII triệu tập vào Lễ Hiện Xuống 1998, Năm Kính Chúa Thánh Thần trước Năm Thánh 2000.
ĐTC Biển Đức XVI gặp Vị Thừa Kế TGM
Lefebvre về Việc Tái Hiệp Thông
Hôm 29/8/2005, tại tông điện nghỉ mát ở Castel Gandolfo, ĐTC Biển Đức XVI đã
tiếp ĐGM Bernard Fellay, vị thừa kế ĐTGM Marcel Lefebvre lãnh đạo Hội Thánh Piô
X, vị “muốn tiến đến chỗ hiệp thông trọn vẹn”.
Theo vị giám đốc văn phòng báo chí của Tòa Thánh là Joaquín Navarro Valls thì
trong cuộc gặp gỡ này có cả ĐHY Darío Castrillón Hoyos, chủ tịch Hội Đồng Tòa
Thánh ‘Ecclesia Dei’, một tổ chức được Đức Gioan Phaolô II thiết lập bằng một tự
sắc ngày 2/7/1988, sau khi ĐTGM Lafebvre truyền chức bất hợp pháp cho 4 vị giám
mục của mình ở Ecône.
Vị giám đốc văn phòng báo chí còn cho biết là “cuộc họp diễn ra trong một bầu
không khí mến yêu Giáo Hội và mong muốn tiến tới chỗ hoàn toàn hiệp thông. Nhận
thức được những khó khăn nên lòng mong ước thực hiện những bước tiến sẽ từ từ
diễn tiến theo thời điểm hợp tính hợp lý”.
Sau cuộc họp này, vì giám mục đại diện cho Hội Thánh Piô X đây đã phát biểu qua
một bản văn là “cuộc họp ấy kéo dài 35 phút trong một bầu khí thanh thản. Cuộc
triều kiến này là cơ hội để Hội này bày tỏ là nó lúc nào cũng luôn luôn gắn bó
với Tòa Thánh, Vĩnh Thành Rôma. Trong tinh thần hết sức mến yêu Giáo Hội, chúng
tôi đã nhắc lại một chuỗi những khó khăn đã từng xẩy ra. Hội Thánh Piô X nguyện
xin cho ĐTC được mạnh sức để chấm dứt cuộc khủng hoảng trong Giáo Hội, ‘phục hồi
mọi sự trong Chúa Kitô’ (biệt chú riêng của thoidiemmaria: câu tâm niệm của giáo
triều Thánh Giáo Hoàng Piô X)”.
Trước cuộc triều kiến này, vị giám mục này đã nói với cơ quan báo chí DICI thuộc
nhóm của ngài rằng nếu được gặp ĐTC Biển Đức, ngài sẽ yêu cầu 2 điều: trước hết
là cho tất cả mọi vị linh mục có thể cử hành Lễ cũ mà không cần phải xin phép vị
giám mục địa phương theo như điều kiện đòi hỏi hiện nay; sau nữa là việc công
khai rút lại vấn đề dứt phép thông công liên quan tới việc truyền chức cho 4 vị
giám mục của hội ngài.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, theo Zenit ngày 29/8/2005
Giáo Hội Hoa Kỳ: Tòa Thánh Viếng Thăm Các Chủng Viện để thanh tra kiểm điểm
Xin lưu ý là, theo người dịch Việt ngữ này hiểu thì “nhà đào luyện” được tiếng Mỹ gọi là house of formation này, như ở TGP/LA chẳng hạn, giành cho chủng sinh triết học, để ở và sinh hoạt hằng ngày, nhưng vẫn ra ngoài học như các sinh viên khác, bởi trong Đại Chủng Viện không còn ngành triết học, vì vấn đề tài chính và không đủ chủng sinh. Tuy nhiên, các nhà đào luyện này còn được hiểu là các “chủng viện” do các dòng tu mở ra để dạy làm linh mục v.v. Đó là lý do, chủng viện đây không phải chỉ áp dụng cho các giáo phận và ở các giáo phận, vì thường các giáo phận mới có chủng viện, nơi đào tạo linh mục cho giáo phận mình hay các giáo phận chưa có chủng viện, như trường hợp ở Việt Nam. Ở Hoa Kỳ, chủng viện đây được hiểu là những nơi huấn luyện làm linh mục, kể cả các dòng tu cũng có, nhưng thay vì gọi là “chủng viện” thì được gọi là nhà đào luyện. Vì tình trạng ơn gọi thiếu hụt, các dòng tu tại Hoa Kỳ giữ một vai trò huấn luyện linh mục khá quan trọng, như dòng Biển Đức chẳng hạn, nơi các giáo phận, thậm chí cả các dòng khác, gửi chủng sinh đến học; trái lại, cũng có giáo phận mở chủng viện, các dòng cũng đến học, như Đại Chủng Viện Thánh Gioan của TGP/LA. Tòa Thánh sẽ đến thăm các chủng viện tại Hoa Kỳ, tức là đến thăm các nơi huấn luyện làm linh mục, kể cả bởi các dòng tu hay bởi giáo phận nào đó.
Theo Bản Hiến Chương của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ về Việc Bảo Vệ Trẻ Em và Giới Trẻ, được phê chuẩn vào tháng 6/2002, năm xẩy ra tai biến linh mục lạm dụng tình dục vị thành niên xuất phát từ TGP Boston, Massachusset, và từ đầu năm ấy, các vị giám mục nước này đã hứa quyết là “hoàn toàn cộng tác với việc tòa thánh viếng thăm những chủng viện giáo phận và các nhà huấn luyện dòng tu được đề nghị trong cuộc họp liên bộ với các vị hồng ý Hiệp Chủng Quốc với các viên chức của hội đồng vào Tháng 4/2002”.
Trước đây, vào thập niên 1980, đã có một cuốc viếng thăm này của Tòa Thánh ở các chủng viện và nhà đào luyện trong xứ sở Hoa Kỳ đây. Cuộc viếng thăm sắp tới đây sẽ bao gồm thời gian trọn niên khóa 2005-2006. Cuộc viếng thăm này gồm có các viên chức của Tòa Thánh thuộc thánh bộ về Giáo Dục Công Giáo, và thánh bộ về Các Tổ Chức Sống Đời Tận Hiến và Hội Sống Đời Tông Đồ. ĐTGM Edwin O’Brien phục vụ quân đội sẽ làm phối hợp viên cho cuộc viếng thăm này. Tất cả có 299 nơi đào luyện linh mục ở Mỹ quốc.
Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo sẽ xem xét những qui tắc nhận chủng sinh và các chương trình huấn luyện về nhân bản cũng như về tu đức, để bảo đảm là thành phần chủng sinh có thể trung thành với đời sống độc thân. Ngoài ra, thánh bộ này cũng chú trọng cả đến vấn đề huấn luyện tri thức, xem có trung thành với huấn quyền của Giáo Hội hay chăng, nhất là trong lãnh vực luân lý thần học.