SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO

 

 

Chia sẻ Phụng Vụ Lời Chúa Mùa Chay Tuần 1

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 

 

Phụng Vụ Giờ Kinh

 

Đây truyền thống thiêng liêng Giáo Hội
Sống một mùa sám hối ăn năn,
Nức lòng ta hãy lo toan,
Bốn mươi ngày chẵn chuyên cần thực thi.

Sách Lề Luật Mô-sê truyền dạy,
Ngôn sứ hằng thúc đẩy không ngơi,
Ki-tô Vua Cả muôn đời
Cũng từng trai tịnh bốn mươi đêm ngày.

Ta hãy giảm mê say vui sướng
Từ nói năng, ăn uống, ngủ nghê,
Tâm hồn thể xác đôi bề
Tập quen khắc khổ thiết gì xa hoa.

Phải cương quyết tránh xa hiểm hoạ
Đã bao người nhẹ dạ tiêu vong,
Luôn luôn cảnh giác đề phòng
Kẻo sa chước quỷ, mắc vòng Xa-tan.

Muôn lạy Chúa toàn năng khôn ví
Là Ba Ngôi hiển trị thiên toà,
Phúc lành tuôn đổ sớm trưa
Cho mùa trai tịnh thành mùa hồng ân.

 

Bài đọc 2

Trong Đức Ki-tô, chúng ta chịu cám dỗ,
trong Người, chúng ta đã thắng ma quỷ

Trích bài diễn giải Thánh vịnh của thánh Âu-tinh, giám mục.

Lạy Chúa Trời, xin nghe tiếng kêu van,
và lưu ý đến lời con thỉnh nguyện.

Ai nói đó ? Dường như chỉ có một người. Bạn xem có phải một người mà thôi không. Từ cùng cõi địa cầu, con kêu lên Chúa, tâm thần đang mòn mỏi rã rời. Từ đây, không còn là một người đơn độc, nhưng vẫn là một người, vì Đức Ki-tô chỉ là một, mà tất cả chúng ta là chi thể ! Ai là một người đơn độc mà lại kêu lên từ cùng cõi địa cầu ? Chẳng có ai kêu lên từ cùng cõi địa cầu, ngoại trừ phần sản nghiệp đã được đề cập tới trong lời nói với Chúa Con : Con cứ xin, rồi Cha ban tặng muôn dân nước làm sản nghiệp riêng, toàn cõi đất làm phần lãnh địa.

Lãnh địa của Đức Ki-tô đây, sản nghiệp của Đức Ki-tô, thân thể của Đức Ki-tô, Hội Thánh duy nhất của Đức Ki-tô, một khối duy nhất... là chính chúng ta đây đang kêu lên từ cùng cõi địa cầu. Sản nghiệp ấy kêu lên điều gì ? Điều tôi đã nói ở trên :

Lạy Chúa Trời, xin nghe tiếng kêu van,
và lưu ý đến lời con thỉnh nguyện.
Từ cùng cõi địa cầu, con kêu lên Chúa.
Con kêu lên Chúa từ cùng cõi địa cầu, nghĩa là từ khắp nơi.

Nhưng tại sao con kêu lên như thế ? Thưa vì tâm thần con đang mòn mỏi rã rời. Với một lời như thế, Hội Thánh cho thấy rằng giữa muôn dân trên khắp hoàn cầu, không phải mình đang hưởng vinh quang rực rỡ, nhưng đang trải qua thử thách gian nan. Quả vậy, đời sống chúng ta trong cuộc lữ hành trần thế không thể không có thử thách. Phải qua thử thách ta mới tiến bộ, và không bị thử thách thì chẳng ai biết mình. Không chiến thắng thì chẳng được đội vòng hoa, không chiến đấu thì không thể chiến thắng, và không thể chiến đấu nếu không có kẻ thù và thử thách.

Vậy, người kêu lên từ cùng cõi địa cầu là người đang rã rời mòn mỏi, nhưng không bị bỏ rơi. Bởi lẽ Đức Ki-tô muốn lấy chính bản thân làm hình ảnh báo trước về chúng ta là thân thể của Người. Trong thân thể ấy, Người đã chết, đã sống lại và lên trời, ngõ hầu đầu tiến đến đâu thì các chi thể cũng tin tưởng mình sẽ theo đến đó.

Như thế, Đức Ki-tô đã biến đổi chúng ta nên chính Người, khi muốn để cho Xa-tan cám dỗ. Chúng ta vừa nghe Tin Mừng thuật lại Chúa Giê-su Ki-tô đã chịu ma quỷ cám dỗ trong hoang địa. Đức Ki-tô đã chịu ma quỷ cám dỗ, đúng thế ! Nhưng thật ra trong Đức Ki-tô, chính bạn chịu cám dỗ. Vì Đức Ki-tô đã mặc lấy xác phàm của bạn, để ban cho bạn ơn cứu độ của Người ; Người lãnh cái chết của bạn để trao cho bạn sự sống của Người ; Người hứng chịu nỗi nhục nhằn của bạn để chia sẻ cho bạn niềm vinh dự của Người. Vì thế, Người chịu cơn thử thách của bạn, để bạn được hưởng cuộc chiến thắng của Người.

Vậy, nếu nơi Đức Ki-tô chính ta chịu thử thách, thì nơi Người chính ta cũng chiến thắng ma quỷ. Bạn để ý đến sự kiện Đức Ki-tô chịu cám dỗ mà lại không để ý đến việc Người chiến thắng sao ? Hãy nhìn nhận rằng chính bạn đã chịu thử thách nơi Người, và chính bạn cũng đã chiến thắng nơi Người. Người có thể cấm không cho ma quỷ đến gần mình ; nhưng nếu Người không chịu cám dỗ thì Người không dạy cho bạn biết thế nào là chiến thắng khi bạn chịu cám dỗ. 

Chúa Cứu Thế đã ban cho chúng ta sống thời gian cứu độ này. Vậy, chúng ta hãy chúc tụng Người và tha thiết nài xin :

Lạy Chúa, xin đổi mới tâm hồn chúng con.

Lạy Chúa Ki-tô là sự sống của chúng con, nhờ phép rửa, Chúa đã cho chúng con được mai táng và trỗi dậy với Chúa cách nhiệm mầu, - xin cho chúng con ngày hôm nay biết sống một cuộc đời mới.

Lạy Chúa, xin đổi mới tâm hồn chúng con.

Chúa là Đấng thi ân giáng phúc cho toàn thể nhân loại, - xin cho chúng con hằng quan tâm đến lợi ích chung của mọi người.

Lạy Chúa, xin đổi mới tâm hồn chúng con.

Xin cho chúng con được đồng tâm nhất trí xây dựng thế giới này, - đồng thời vẫn lo tìm Nước Chúa.

Lạy Chúa, xin đổi mới tâm hồn chúng con.

Chúa là Đấng săn sóc chữa trị thể xác và tâm hồn, xin chữa lành những thương tích hồn xác chúng con, - để chúng con từ đây lãnh nhận dồi dào ơn thánh hoá.

Lạy Chúa, xin đổi mới tâm hồn chúng con.

Lạy Đấng Hoá Công xin đoái nhận
Nỗi lòng con cái khấn nguyện đây :
Lời kinh thấm lệ cùng dâng Chúa
Suốt cả Mùa Chay thánh thiện này.

Cõi lòng người thế Chúa lạ chi,
Biết sức phàm nhân chẳng là gì,
Xin hãy bao dung người sám hối,
Chúa nỡ lòng nào đuổi xua đi !

Tội lỗi ngập đầu khôn xiết kể,
Cung xưng hầu được Chúa thứ tha.
Ngàn muôn thương tích xin cứu chữa
Để hiển danh Ngài khắp gần xa.

Chỉ bảo đoàn con biết hãm mình,
Tinh thần vững mạnh bởi hy sinh,
Hồn thiêng tắm gội nguồn ân tứ,
Rửa hết bùn nhơ sạch tội tình.

Tay chắp gối quỳ lòng tha thiết
Nài xin Chúa Cả khấng nghe lời,
Đoàn con nhờ phúc mùa trai tịnh,
No thoả ân tình mãi an vui.

Thiên Chúa là Cha nhân từ, đã sai Ngôi Lời đến ban mầm sống bất diệt cho dân riêng Người được tái sinh. Vậy, chúng ta hãy ca tụng Người và thiết tha cầu nguyện :

Lạy Chúa, xin thương nhậm lời chúng con.

Lạy Chúa nhân từ, chúng con cầu xin cho toàn thể dân Chúa, xin Chúa thương chấp nhận, - để cho mọi người biết khao khát lời Chúa, hơn là lương thực trần gian.

Lạy Chúa, xin thương nhậm lời chúng con.

Xin cho chúng con biết thật tình yêu thương hết mọi người, không kỳ thị thiên tư, - để cùng nhau xây dựng một thế giới hoà bình thịnh vượng.

Lạy Chúa, xin thương nhậm lời chúng con.

Xin thương đến những người sẽ được tái sinh nhờ bí tích Thánh Tẩy, - để họ nên những phần tử nhiệt thành của Giáo Hội.

Lạy Chúa, xin thương nhậm lời chúng con.

Chúa đã sai ngôn sứ Giô-na đến kêu gọi dân Ni-ni-vê ăn năn hối cải, - xin dùng lời Chúa thôi thúc tội nhân trở về với Chúa.

Lạy Chúa, xin thương nhậm lời chúng con.

Những ai đã qua đời mang theo niềm hy vọng phục sinh, xin cho họ đến cùng Đức Ki-tô, - và vui hưởng nhan thánh Chúa muôn đời.

Lạy Chúa, xin thương nhậm lời chúng con.

 

Lạy Thiên Chúa toàn năng, hằng năm Chúa ban cho chúng con bốn mươi ngày chay tịnh để tôi luyện hồn xác chúng con. Xin giúp chúng con sống những ngày khắc khổ ấy mà học biết Đức Ki-tô, và dõi theo gương Người, hầu xứng đáng hưởng ơn Người cứu độ. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hợp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.

 

 

 

Phụng Vụ Lời Chúa

 

Bài Ðọc I: St 9, 8-15

"Giao ước giữa Thiên Chúa và ông Nôe sau khi ông này được cứu khỏi nướt lụt".

Trích sách Sáng Thế.

Ðây Thiên Chúa phán cùng ông Nôe và con cái ông rằng: "Ðây Ta ký kết giao ước của Ta với các ngươi và con cháu các ngươi, với tất cả sinh vật đang sống với các ngươi, như chim chóc, gia súc, tất cả những thú vật đang sống trên mặt đất với các ngươi, những gì ra khỏi tàu và toàn thể thú vật trên mặt đất. Ta ký kết giao ước của Ta với các ngươi: nước lụt không còn tiêu diệt mọi loài nữa, cũng không khi nào còn lụt tàn phá trái đất nữa". Và Thiên Chúa phán: "Ðây là dấu chỉ giao ước ký kết giữa Ta với các ngươi, và tất cả sinh vật đang ở với các ngươi và sau này mãi mãi. Ta sẽ đặt trên trời một cái mống, và nó sẽ là dấu chỉ giao ước giữa Ta với trái đất. Khi Ta quy tụ mây lại trên trời, mống sẽ xuất hiện trên mây, và Ta sẽ nhớ lại giao ước đã ký kết giữa Ta với các ngươi và mọi sinh vật, và không khi nào nước lụt tiêu diệt mọi loài như thế nữa!"

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 24, 4bc-5ab. 6-7bc. 8-9

Ðáp: Tất cả đường nẻo Chúa là ân sủng và trung thành dành cho những ai giữ minh ước và điều răn Chúa (x. c. 10).

Xướng: 1) Lạy Chúa, xin chỉ cho con đường đi của Chúa; xin dạy bảo con về lối bước của Ngài. Xin hướng dẫn con trong chân lý và dạy bảo con, vì Chúa là Thiên Chúa cứu độ con. - Ðáp.

2) Lạy Chúa, xin hãy nhớ lòng thương xót của Ngài, lòng thương xót tự muôn đời vẫn có. Xin hãy nhớ con theo lòng thương xót của Ngài, vì lòng nhân hậu của Ngài, thân lạy Chúa. - Ðáp.

3) Chúa nhân hậu và công minh, vì thế Ngài sẽ dạy cho tội nhân hay đường lối. Ngài hướng dẫn kẻ khiêm cung trong đức công minh, dạy bảo người khiêm cung đường lối của Ngài. - Ðáp.

 

Bài Ðọc II: 1 Pr 3, 18-22

"Hiện giờ phép thánh tẩy cũng cứu thoát anh em giống như thể thức ấy".

Trích thư thứ nhất của Thánh Phêrô Tông đồ.

Anh em thân mến, Chúa Kitô đã chết một lần cho tội lỗi chúng ta, Người là Ðấng công chính thay cho kẻ bất công, để hiến dâng chúng ta cho Thiên Chúa; thật ra Người đã chết theo thể xác, nhưng đã nhờ Thần Linh mà sống lại. Với Thần Linh, Người đã đến rao giảng cho những tâm hồn bị giam cầm, cho những kẻ xưa kia có lúc không tin, đang khi lòng nhân từ Chúa còn khoan giãn lúc ông Nôe đóng tầu, nhờ đó một số ít người, gồm tất cả tám người, được cứu khỏi nước lụt. Và hiện giờ, phép thánh tẩy cũng cứu thoát anh em cũng giống như thể thức ấy, vì phép ấy không phải chỉ rửa sạch thân xác, mà đó là lời cầu xin Thiên Chúa ban cho một lương tâm ngay thẳng, nhờ sự phục sinh của Chúa Giêsu Kitô, Ðấng ngự bên hữu Thiên Chúa, sau khi về trời, đã bắt các thiên thần, các quyền thần và các đạo binh suy phục Người.

Ðó là lời Chúa.

 

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Mt 4,4b

Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.

 

Phúc Âm: Mc 1, 12-15

"Chúa chịu Satan cám dỗ và các Thiên Thần hầu hạ Người".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khi ấy, Thánh Thần thúc đẩy Chúa Giêsu vào hoang địa và Người ở đó suốt bốn mươi đêm ngày, chịu Satan cám dỗ, sống chung với dã thú và các Thiên Thần hầu hạ Người.

Sau khi Gioan bị bắt, Chúa Giêsu sang xứ Galilêa, rao giảng Tin Mừng của nước Thiên Chúa, Người nói: "Thời giờ đã mãn, và nước Thiên Chúa đã gần đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng".

Ðó là lời Chúa.

 

Suy Nghiệm Lời Chúa

Phụng vụ lời Chúa cho Chúa Nhật I Mùa Chay hôm nay, nhất là bài Phúc Âm, cho cả 3 chu kỳ A-B-C, đều liên quan đến sự kiện Chúa Giêsu chay tịnh 40 đêm ngày trong hoang địa và chịu cám dỗ. Chúa Nhật thứ hai của Mùa Chay cũng thế, bao giờ cũng là bài Phúc Âm về sự kiện Chúa Giêsu biến hình trên núi cao.   

Giáo Hội cố ý chọn đọc 2 Phúc Âm cho Chúa Nhật thứ 2 của 2 tuần đầu Mùa Chay như thế là để hướng con cái mình về chính cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô, một cuộc Vượt Qua bao gồm 2 chiều kích: khổ nạn (được ám chỉ nơi biến cố chay tịnh) và phục sinh (được tiêu biểu nơi biến cố biến hình). 

Riêng bài phúc âm của Thánh ký Marcô cho chu kỳ Năm B Chúa Nhật I Mùa Chay hôm nay khác hẳn với 2 bài phúc âm của Thánh ký Mathêu cho Năm A cũng như của Thánh ký Luca cho Năm C. Ở chỗ, bài phúc âm của Thánh ký Marco rất vắn gọn: 1- không hề thuật lại đầy đủ tiến trình về các chước cám dỗ của Satan; 2- có thêm một câu rất đặc biệt không có trong 2 phúc âm kia, đó là câu: “sống chung với dã thú và các Thiên Thần hầu hạ Người”; 3- và còn có có thêm cả Lời Rao Giảng Tiên Khởi Chúa Giêsu tuyên bố về toàn bộ mạc khải cứu độ và đức tin cứu độ: “Thời giờ đã mãn và Nước Thiên Chúa đã gần đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng”.


Bài phúc âm của Thánh ký Marco cho chu kỳ Năm B Chúa Nhật I Mùa Chay hôm nay bao gồm 2 phần: phần đầu về sự kiện "Thánh Thần thúc đẩy Chúa Giêsu vào hoang địa và Người ở đó suốt 40 đêm ngày...", và phần hai về sự kiện như nói lên mục đích của việc Người dọn mình, bao gồm cả hồn lẫn xác của Người, bằng việc chịu phép rửa liên quan đến linh hồn và việc chay tịnh liên quan đến thân xác của Người: "Chúa Giêsu sang Xứ Galilêa, rao giảng Tin Mừng của nước Thiên Chúa...". 

Ở phần đầu, Thánh ký Marcô diễn tả một cảnh tượng chưa từng thấy về Chúa Giêsu trong hoang địa, không có trong 2 phúc âm thuộc bộ Phúc Âm Nhất Lãm kia, đó là cảnh tượng bao gồm đủ mọi sự - cả ma quỉ dưới hỏa ngục, lẫn thú vật trên mặt đất và thiên thần trên trời cao: Người "chịu Satan cám dỗ, sống chung với dã thú và được các Thiên Thần đến hầu hạ".  

Trước hết, "Satan" đây chính là "con khủng long, con cựu xà , tức là ma quỉ hay Satan, tên cám dỗ cả thế gian" (Khải Huyền 12:9), sở dĩ hắn có mặt trong hoang địa với Chúa Giêsu là vì hắn muốn khám phá ra sự thật về Người, xem Người có thật sự là "Con Thiên Chúa" (xem Mathêu 4:3,6; Luca 4:3,9) hay chăng, vì hắn là "con khủng long đứng trước người nữ sắp sinh con để chờ nuốt con của bà khi bé được sinh ra" (Khải Huyền 12: 4).  

Sự kiện Người "chịu Satan cám dỗ" đây ám chỉ vương quốc của hắn sắp bị Người tàn phá: "Con Thiên Chúa đã tỏ mình ra chính là để phá hủy công việc của ma quỉ" (1Gioan 3:8), nhờ đó lời hứa ban đầu của Thiên Chúa trong vườn địa đường sau nguyên tội được ứng nghiệm: "Người sẽ đạp nát đầu ngươi khi ngươi rình cắn gót chân của Người" (Khởi Nguyên 3:15). 

Sau nữa, "dã thú" đây là tiêu biểu đại diện cho "toàn thể thú vật trên mặt đất" được nói đến trong bài đọc 1 (Khởi Nguyên 9:8-15), một loài thú vật tuy thấp hơn loài người về bản tính, nhưng hoàn toàn lệ thuộc vào loài người, ở chỗ, trong lụt đại hồng thủy, chúng bị tiêu diệt như loài người nhưng cũng được cứu với loài người và nhận lãnh giao ước của Thiên Chúa với loài người (xem Khởi Nguyên 8:12).  

Sự kiện Người "sống chung với dã thú" đây ám chỉ cuộc khổ giá của Người, một cuộc khổ giá gây ra bởi những con người "lòng lang dạ thú" sống mù quáng theo bản năng tự nhiên ác độc của họ. 

Sau hết, "thiên thần" đây là loài thần thiêng trên trời, có bản tính tốt lành hơn loài người, một bản tính loài người đã được Con Thiên Chúa hóa thành nhục thể mặc lấy, nhưng vì bản tính loài người đã được ngôi hiệp với thần tính của Người mà Chúa Kitô vẫn trổi vượt hơn loài thần thiêng trên trời, nên mới được "các thiên thần đến hầu hạ".  

Sự kiện Người "được các thiên thần đến hầu hạ" đây ám chỉ về biến cố Phục Sinh của Người sau này, ở chỗ sau khi Người phục sinh ra khỏi mồ, các thiên thần đã đến canh giữ mồ thánh là nơi Thánh Thể của Người được an táng (xem Marco 16:5-7; Luca 24:4-7), và vì thế ở bài đọc 2 (1Phêrô 3:18-22) Tông Đồ Phêrô cũng đã xác tín rằng: "Các thiên thần, các quyền thần và các đạo binh suy phục Người" (1Phêrô 3:22).  

Phần đầu của Bài Phúc Âm cho Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Chay Năm B hôm nay, chi tiết "Chúa Giêsu vào hoang địa và Người ở đó suốt bốn mươi đêm ngày, chịu Satan cám dỗ, sống chung với dã thú và các Thiên Thần hầu hạ Người", cho thấy chẳng những tổng thể tạo vật từ hỏa ngục, đến trái đất và thiên đường, và cả mầu nhiệm vượt qua (từ khổ nạn tới phục sinh) của Chúa Kitô, như đã suy diễn trên đây, mà còn khiến người viết liên tưởng đến Vườn Địa Đường ngay từ thuở ban đầu, cả trước lẫn sau nguyên tội.  

Bởi vì, bấy giờ, trong vườn Địa Đường cũng có rắn quỉ cám dỗ nữ nguyên tổ Eva thế nào (xem Khởi Nguyên 3:1-5) thì ở "hoang địa" Chúa Giêsu cũng "chịu Satan cám dỗ" như vậy. Ở Vườn Địa Đường nguyên tổ Adong sống giữa loài thú thế nào (xem Khởi Nguyên 2:18-20), thì ở "hoang địa" Chúa Giêsu cũng "sống chung với dã thú" như thế. Ở Vườn Địa Đường, sau nguyên tội hai nguyên tổ đã bị Thiên Chúa đuổi ra khỏi vườn này và đặt thiên thần canh giữ vườn thế nào (xem Khởi Nguyên 3:23-24), thì ở "hoang địa", sau khi thắng các chước cám dỗ của Satan, Chúa Giêsu cũng được "các Thiên Thần hầu hạ Người".   

Phần hai của bài Phúc Âm liên quan đến sự kiện "Chúa Giêsu sang Xứ Galilêa, rao giảng Tin Mừng về nước Thiên Chúa..." cho thấy lời Thiên Chúa phán trong bài đọc 1 về "dấu chỉ giao ước giữa Ta với trái đất", đó là "một ứng cái cầu vồng trên trời", một dấu chỉ cứu độ và hy vọng, đã được  nghiệm nơi bản thân Chúa Giêsu, "Đấng công chính thay cho kẻ bất công" (Bài đọc 2), cũng như nơi "Tin Mừng về Nước Thiên Chúa" là những gì được Người, như bài đọc 2 cho thấy, "đã đến rao giảng cho những tâm hồn bị giam cầm, cho những kẻ xưa kia có lúc không tin". Cầu vồng hy vọng cứu độ này đã hiện thực nơi mầu nhiệm vượt qua của Chúa Kitô, một mầu nhiệm vượt qua được tiên báo ngay tại sự kiện "Chúa Giêsu vào hoang địa và Người ở đó suốt bốn mươi đêm ngày, chịu Satan cám dỗ, sống chung với dã thú và các Thiên Thần hầu hạ Người". 

Ý nghĩa chung Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay liên quan đến phép rửa và bài Phúc Âm liên quan đến chay tịnh và chịu cám dỗ. Thật vậy, sau khi lãnh nhận phép rửa Chúa Kitô vào hoang địa để sống chay tịnh, một sự kiện xẩy ra trước khi Người chính thức bắt đầu thi hành thừa tác vụ thiên sai cứu thế của mình. Tiến trình phép rửa, chay tịnh và sứ vụ này là một tiến trình bất khả thiếu liên quan trực tiếp đến chính bản thân của Chúa Kitô, và gián tiếp tới phần rỗi của nhân loại, nhờ việc nhận biết Ngài quả thực là Đấng Thiên Sai Cứu Thế.  

Chúa Giêsu quả thực đã lãnh nhận phép rửa thống hối của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả, cho dù Người vô tội, rồi sau đó để sống phép rửa, nghĩa là để tỏ lòng thống hối thực sự theo đúng ý nghĩa của phép rửa Người lãnh nhận, việc tỏ lòng thống hối thay cho loài người tội lỗi, vì Người là “Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian”, như được Phúc Âm của Thánh ký Gioan ghi nhận ở đoạn 1, Người đã phải thực hiện thêm một hành động nữa liên quan thân xác, đó là chay tịnh, và thành quả cho thấy, nhờ chay tịnh mà Người, qua thân xác của mình, đã thắng được mọi chước cám dỗ của ma quỉ, một tác nhân làm chủ thế gian sau nguyên tội, nhờ đó giải thoát con người khỏi tội lỗi và sự chết, bằng chính nhân tính của Người nói chung và thân xác của Người nói riêng, trong Mầu Nhiệm Vượt Qua sau này.    

Kitô hữu, được thông phần vào cuộc vượt qua của Chúa Kitô khi họ lãnh nhận Phép Rửa. Họ thực sự đã chết đi cho tội lỗi và được tái sinh vào sự sống thần linh của Chúa Kitô và với Chúa Kitô. Do đó, họ cần phải sống phép rửa có tính cách vượt qua này, một phép rửa chẳng những làm cho họ đã vượt qua sự chết mà còn vào sự sống nữa. Bằng cách làm chủ bản thân mình, đừng để nó trở thành một thứ vệ đường hờ hững với hạt giống đức tin cứu độ, hay một thứ sỏi đá nông cạn hoặc một thứ bụi rậm bất ổn, hoàn toàn bất lợi cho sự phát triển cả thể của hạt giống cứu độ, một hạt giống cứu độ chẳng những bản thân họ mà còn chung nhân loại tội lỗi nữa, một khi họ trở thành một mảnh đất tốt, với tất cả tấm lòng khao khát thần linh, cởi mở lắng nghe thần linh và mau mắn đắp ứng thần linh, nhờ đó, hạt giống thần linh sinh hoa kết trái gấp 30, 60 hay 100 tùy theo ơn gọi và đáp ứng của họ, và cũng nhờ đó, chim trời là các linh hồn đến làm tổ cứu độ nơi họ (xem Mathêu đoạn 13 về dụ ngôn người gieo hạt giống và dụ ngôn hạt cải). 

Đó là tâm tình và nguyện ước của chính Thánh Vịnh gia trong Bài Đáp Ca hôm nay: 

1) Lạy Chúa, xin chỉ cho con đường đi của Chúa; xin dạy bảo con về lối bước của Ngài. Xin hướng dẫn con trong chân lý và dạy bảo con, vì Chúa là Thiên Chúa cứu độ con.

2) Lạy Chúa, xin hãy nhớ lòng thương xót của Ngài, lòng thương xót tự muôn đời vẫn có. Xin hãy nhớ con theo lòng thương xót của Ngài, vì lòng nhân hậu của Ngài, thân lạy Chúa.

3) Chúa nhân hậu và công minh, vì thế Ngài sẽ dạy cho tội nhân hay đường lối. Ngài hướng dẫn kẻ khiêm cung trong đức công minh, dạy bảo người khiêm cung đường lối của Ngài.

 

Thánh Phêrô Đamianô – Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh  
(1007-1072)

21-02

PeterDamian.jpg

 

ĐTC Biển Đức XVI: 9/9/2009 bài 88 - Thánh Phêrô Đamianô

 

Ngài sinh năm 1007 ở Ravenna, mồ côi cha mẹ khi còn nhỏ và sống với người anh ruột nhưng bị đối xử như người đầy tớ. Khi mới lớn một chút, ngài đã bị sai đi chăn heo. Một người anh khác, là giáo trưởng ở Ravena, thấy thương hại chú em bơ vơ nên đem ngài về nuôi nấng cho ăn học tử tế. Có lẽ vì nhớ ơn dưỡng dục của người anh này mà Phêrô đã lấy tên người anh, là Damian, thành tên của mình.


Phêrô là một học sinh có năng khiếu và sau đó trở thành một giáo sư nổi tiếng. Trong thời gian này, Phêrô cố làm quen với sự chay tịnh, sự cầu nguyện và ngài mặc áo nhặm bên trong áo thường để chống với các cám dỗ của lạc thú và mưu chước ma quỷ.


Sau một thời gian, ngài quyết tâm từ bỏ thế gian để sống đời ẩn tu với các tu sĩ Biển Ðức thuộc nhánh cải cách của Thánh Romuald ở Fonte Avellana. Các vị ẩn tu thường sống từng đôi trong một cái am cách xa nhau, để cầu nguyện và đọc sách thiêng liêng, với cuộc sống rất khắc khổ. Vì quá hăng say trong sự cầu nguyện và ngủ quá ít nên không bao lâu Phêrô bị bệnh mất ngủ trầm trọng. Ngài phải thận trọng kềm chế và săn sóc chính mình. Vì lý do đó, ngài dành nhiều thời giờ để nghiên cứu Kinh Thánh, và trở nên một thi sĩ sáng tác thơ đạo cũng nổi tiếng như trong văn chương đời trước đây.


Do một quyết định của toàn thể các vị ẩn tu, ngài phải chịu trách nhiệm lãnh đạo Cộng Ðoàn khi vị bề trên qua đời. Do đó, sau khi vị tu viện trưởng từ trần khoảng năm 1043, Phêrô đã dẫn dắt gia đình thánh thiện này với sự khôn ngoan và đạo đức. Ngài cũng thành lập thêm năm tu viện ẩn cư khác. Ngài duy trì tinh thần ẩn dật, bác ái và khiêm nhường. Nhiều vị ẩn tu dưới sự dẫn dắt của ngài là các ngôi sao sáng của Giáo Hội, kể cả Thánh Ðaminh Loricatus, Thánh Gioan ở Lodi là người kế vị ngài trong chức vụ tu viện trưởng ở Holy Cross.


Có lẽ vì là trẻ mồ côi và bị đối xử thật tệ hại khi còn nhỏ nên Phêrô Damian thật tốt với người nghèo. Trong các bữa ăn, lúc nào cũng có một hay hai người nghèo ăn chung với ngài, và đích thân ngài lo lắng cho nhu cầu của họ.


Trong nhiều năm, Phêrô Damian thường giúp các Giáo Hoàng trong công việc hòa giải giữa các tu hội kình chống nhau, hoặc giữa giáo sĩ, viên chức chính phủ và Tòa Thánh. Năm 1057, Ðức Giáo Hoàng Stephanô IX thuyết phục ngài từ bỏ đời ẩn dật và đặt ngài làm Giám Mục-Hồng Y của Ostia.


Ngài tích cực tẩy trừ nạn buôn bán chức vụ trong Giáo Hội, khuyến khích các linh mục sống độc thân, và thúc giục các linh mục triều sống thành cộng đoàn, giữ chương trình cầu nguyện. Ngài ao ước phục hồi sự kỷ luật nguyên thủy của các tu sĩ và linh mục, cảnh cáo họ về việc di chuyển không cần thiết, vi phạm đức khó nghèo và sống quá thoải mái. Ngài viết thư khiển trách Ðức Giám Mục Florence về việc chơi cờ, và Ðức Giám Mục Besancon về việc để giáo sĩ ngồi khi đọc thánh vịnh trong Kinh Nhật Tụng.


Ngài viết rất nhiều thư. Khoảng 170 lá hiện vẫn còn. Chúng ta cũng còn 53 bài giảng của ngài và bảy tiểu sử ngài viết. Ngài thích viết về gương mẫu và chuyện thật hơn là lý thuyết. Các bản văn phụng vụ của ngài cho thấy ngài có phong cách của một nhà văn.


Ngài thường xin Ðức Giáo Hoàng cho ngài từ chức Giám Mục-Hồng Y của Osia, và sau cùng Ðức Alexander II đồng ý với điều kiện là bất cứ khi nào cần ngài sẽ sẵn sàng làm việc trở lại.


Khi trở lại công việc ở Ravenna, ngài bị sốt nặng. Ngài từ trần ngày 22 tháng 2 năm 1072 với các tu sĩ đang vây quanh và đọc kinh Nhật Tụng. Ngài được chôn cất trong nguyện đường của tu viện. Thánh tích của ngài được chuyển dời vài lần. Lần di chuyển sau cùng vào năm 1898 ngài được an nghỉ trong nguyện đường kính Thánh Peter Damian của nhà thờ chính tòa Faenza, nước Ý Đại Lợi.

 

Ngài không được chính thức phong thánh nhưng Đức Giáo Hoàng Leo XII cho phép tôn kính ngài năm 1823 và tuyên xưng ngài là Tiến Sĩ Hội Thánh ngày 27 tháng 9 năm 1828.

https://dongten.net/2020/02/20/hanh-cac-thanh-20-02-thanh-phero-damiano-giam-muc-tien-si-hoi-thanh-%E2%80%A81007-1072/

 

Vị tu sĩ và Hồng Y sẽ nắm giữ một vai trò hàng đầu trong Ktô giáo này chào đời năm 1007 tại Ravenne, trong một gia đình nghèo túng, đến nỗi một trong số các anh Ngài đã phải thốt lên khi Ngài sanh ra: - "Chỉ còn thiếu nỗi bất hạnh này nữa thôi. Sao lại phải có nhiều người thừa hưởng cái di sản nhỏ nhoi này vậy". Và người mẹ kiệt sức đã không muốn cho đứa trẻ sơ sinh bú sữa mà thất vọng bỏ mặc nó. Một bà hàng xóm giảng giải cho bà rằng: - "Những con báo con hùm không bỏ con chúng, trong khi chúng ta là những người Kitô hữu lại bỏ rơi con cái mình sao ? Đứa trẻ mà người ta xua đuổi này, một ngày kia biết đâu lại chẳng là niềm hân hạnh của gia đình ?"

 

Người đàn bà can đảm này không tin lời mình nói lắm, nhưng đã cung ứng những săn sóc đầu tiên cho đứa bé nghèo khổ. Người mẹ mắc cỡ nên âu yếm ẵm lấy đứa trẻ. Bà đặt tên là Phêrô.

 

Năm năm sau, Phêrô mồ côi cha mẹ, người được trao cho người anh đã giận dữ đón nhận cuộc sinh hạ của Ngài. Bị đối xử như người làm thuê Ngài phải chăn heo, ngủ chuồng của súc vật, mặc rách rưới và ăn bánh đen. Một ngày kia nhặt được đồng tiền, của trời ơi ngạc nhiên đối với đứa trẻ không hề ăn hàng, Ngài mang tiền đi xin lễ cho cha mẹ. Chính vì vậy mà dường như cha mẹ đã chúc lành cho cả đời đứa trẻ, con mình.

 

Đamianô, người anh cả của Ngài đã làm linh mục đưa Ngài về Ravenna ở với mình. Anh cho Ngài ăn học và Phêrô đã tỏ ra thông minh, đến nỗi Ngài đã sớm trở thành giáo sư. Đứa trẻ bị khinh miệt ngày trước, bây giờ dạy học tại Parma rồi tại Ravenna. Để bày tỏ lòng biết ơn với người anh cả, Ngài nhận tên mình là Phêrô Đamiano. Ngài được may mắn về mọi mặt. Nhiều gia đình quí, phải gọi Ngài tới ở. Song những thành công không làm cho Ngài thôi cầu nguyện ăn chay. Dưới bộ áo ngoài, Ngài mặc một chiếc áo nhặm.

 

Trước danh tiếng ngày càng gia tăng, Ngài tự nhủ: - Ích lợi gì nếu tôi dính bén vào được của cải chóng qua này? Bởi vì một ngày kia, tôi sẽ phải giã từ tất cả, tại sao ngay từ bây giờ tôi không hiến dâng chúng cho Thiên Chúa ?

 

Thế là Ngài từ bỏ cuộc sống dễ dãi và gia nhập dòng Camaldules, Ngài chọn cái gì nặng nhọc nhất và lui vào vô tịch ở nhà dòng Phonte Avellna. Đời khổ hạnh và cầu nguyện sắp biến Ngài thành một vị thánh lớn. Ngài chỉ muốn khiêm tốn vâng phục và thống hối, nhưng trong khi ẩn mình đi, thì năm 1043, vì vâng lời, Ngài đã được đặt làm tu viện trưởng. Khi đó, Ngài tăng số các tu sĩ, lập nhiều tu viện, giúp đỡ các dòng khác. Ý kiến của Ngài luôn hướng thượng, đến nỗi người ta nói rằng: Ngài được Thánh Thần soi sáng.

 

Giáo hội đang trải qua một thời u buồn và người tu sĩ nghèo khổ hôm qua sắp giữ một vai trò lớn lao làm giảm bớt đau đớn của Roma. Những nết xấu bỉ ổi đè nặng trên triều đại Giáo hoàng. Lời nói của Thánh Thần lẫn sự hiện diện của Ngài chưa đủ, Ngài viết một tác phẩm, "cuốn sách về thành Gomorrha", để lột trần những lạm dụng đang làm cho Giáo hội phải tủi hổ. Còn chính Ngài, để làm cân bằng cho sự yếu đuối của những giám mục bất xứng, đã tự mình đền tội đánh đòn hàng ngày đến độ chảy máu, dành giờ để hát mười thánh vịnh như Ngài đã khuyên nhủ các tu sĩ. Ngài ăn chay ba ngày mỗi tuần.

 

Phêrô Đamianô đã muốn là một tu sĩ rốt cùng suốt đời. Nhưng năm 1057, Đức Stephanô IX đã đặt Ngài làm Hồng Y giám mục Ostia. Ngài phản đối, nhưng Đức Thánh Cha khi giảng giải cho Ngài đã cầm tay xỏ nhẫn và đeo thánh giá cho Ngài. Trách vụ giao phó cho Ngài thật lớn lao. Phêrô Damianô hiến trọn tâm hồn cho gia đình mới rộng lớn này. Ngài đón nhận mọi khó khăn, chiến đấu chống các lạc giáo, chấm dứt các xáo trộn của Giáo hội Milanô dẹp tan những bất đồng với xã hội giáo hoàng. Những lo lắng mệt nhọc không cản trở Ngài sẵn sàng hiến dâng đời mình, dù chỉ cho một linh hồn thôi.

 

Dù kiệt sức, Ngài vẫn dậy sớm để giải tội, không nản lòng, Ngài săn sóc những người bất hạnh, phân phát áo mặc bánh ăn cho họ, thăm viếng các bệnh nhân. Mỗi ngày để nhắc lại tình yêu của Chúa Kitô, Ngài rửa chân cho 12 người nghèo. Đối với những người về quê lập nghiệp, Ngài gửi đồ trợ giúp họ, Ngài nhân hậu đồng đều đối với những người giàu có, những người cũng gặp khó khăn và cố gắng làm cho họ sống bác ái vị tha hơn. Thư từ còn làm cho ảnh hưởng của Ngài lan rộng hơn.

 

Sau bao nhiêu nhọc mệt và phục vụ, Phêrô trở nên già nua, Đức Thánh cha cho phép Ngài trở lại với nếp sống nhà dòng, Ngài đã muốn căn phòng xấu nhất, ăn thứ bành dành cho heo, hành hạ mình bằng dây lưng sắt, tìm đền bù cho các tội nhân và thánh hóa mình hơn nữa. Ngài nói:

 

- Một chiến sĩ của Chúa Kitô phải biết mình có thể tiến đến đâu trên đường nhân đức.

 

Phêrô Đamianô đã định ngày thứ sáu phải được thánh hiến bằng chay tịnh và thống hối, để kính nhớ Chúa Giêsu đã chịu chết trên thánh giá, và ngày thứ bảy kính Đức Mẹ, Đấng mà Ngài đã soạn một bản kinh Nhật tụng để chúc khen.

 

Tuy đã cao niên, nhưng khi Đức Thánh Cha xin Ngài làm đại diện cho mình tại Pháp. Thánh nhân lên đường ngay. Ngài viếng thăm nhiều địa phận, dẹp tan nhiều cuộc cãi vã, đi tới tận Nước Đức, hoà giải nhà vua với vợ mình là hoàng hậu Berthe, mẹ vua xin được Ngài hướng dẫn. Rồi Ngài tiêu diệt các bè rối tại Florence và mang an bình lại cho Ravenna. Phêrô Đamianô lên cơn sốt ở Faenza. Tu viện Nữ Vương các thánh thiên thần tiếp đón Ngài, Ngài đã qua đời năm 1072 đang khi xin các tu sĩ vây quanh mình đọc kinh nhật tụng. Chính Ngài đã trước tác mộ bia của mình như sau : - "Mọi cái hôm nay đều phải qua đi để cho điều tồn tại mãi mãi tới gần. Hãy mộ mến những sự trên trời hơn những sự dưới đất, mộ mến điều tồn tại hơn cái rữa tàn. Ước gì tinh thần bạn đạt tới những đỉnh cao, tới được những nơi phát ra sự sống bạn".

http://conggiao.info/thanh-phero-damiano-giam-muc-tien-si-1007-1072-d-13910

II. BÀI HỌC

Bài học quí giá nhất khi đọc lại cuộc đời thánh thiện của các vị thánh đối với chúng ta là bàn tay của Thiên Chúa qua việc gìn giữ Giáo Hội của Người.

Thánh Phêrô Đamianô sống vào lúc Giáo Hội gặp nhiều phong ba bão tố. Hai vết thương đã đục khoét và làm bạc nhược sức sống của Giáo hội hơn cả là: “Tội buôn bán đồ thánh và đời sống phóng túng của hàng giáo sĩ. Tội xấu xa đó còn len lỏi vào cả ngai tòa thánh Phêrô do con người phóng túng của Biển đức X “.

Chúng ta có thể tưởng tượng Giáo hội thời kỳ ấy lâm vào một tình trạng rối ren, suy đồi đến mức nào không ?

Trong khoảng từ năm 1045- 1049, nghĩa là chưa đầy năm năm mà ngôi tòa thánh Phêrô đã có tới sáu lần thay ngôi đổi chủ.

Ấy là chưa kể đến những chuyện giáo chủ giả danh, những tội “buôn thần bán thánh”, những thói ăn chơi đàng điếm của hàng giáo sĩ và giáo dân… Hoàn cảnh đồi bại đó đã là nguyên cớ thúc đẩy bao người ly khai với Giáo hội để lập thành những bè đảng và giáo phái. Nhắc lại trang sử đen tối đó chính là thức tỉnh mối đau lòng của những tâm hồn đạo đức và có tâm huyết như Đamianô, nhưng đồng thời cũng khơi thêm ngọn lửa mến yêu và tin tưởng của chúng ta đối với Giáo hội, vì biết rằng “nếu Giáo hội chỉ là một tổ chức hoàn toàn nhân loại khác, thì chính những đớn hèn và đồi bại của hàng giáo sĩ đã giết chết Giáo hội từ lâu không để Giáo hội tồn tại đến ngày nay “. Nhưng sở dĩ trải qua bao cuộc thăng trầm cũng như qua bao cơn bách hại mà Giáo hội còn sống và trẻ trung là vì Giáo hội còn có Chúa ở với để nâng đỡ phù trì; vì Giáo hội còn là một tổ chức của Chúa, như lời Chúa Giêsu đã phán trước khi về trời: “Ta sẽ ở với các con cho đến tận cùng nhân thế”.

Chính vì thế mà chúng ta hãy hết lòng yêu mến Giáo Hội và tin vào Tình thương của Chúa và luôn góp phần nhỏ bé của chúng ta vào việc làm cho Giáo Hội của Chúa mỗi ngày mỗi thánh thiện và tốt đẹp hơn.

Lễ cung hiến Đền thờ vừa mới xây xong, Đức Giám mục chủ sự nêu đích danh từng người đã cộng tác cách này hay cách khác vào công việc chung. Khi ngài vừa dứt lời và sắp ban phép lành thì một em bé đứng gần bên nói lớn:

Bình tĩnh, Đức Giám mục hướng về em hỏi:

Được khuyến khích bởi sự chú ý của Đức Giám mục, em bé mạnh dạn trả lời:

- Thưa Đức cha, mỗi buổi trưa con đều đem cơm cho ba con xây đền thờ này.

Đức Giám mục và toàn thể cộng đoàn vỗ tay hoan hô sự đơn sơ và ý nghĩ ngộ nghĩnh của em. Rồi cộng đoàn đồng ý là em cũng góp phần vào việc chung dù không phải là công việc quan trọng và cực nhọc, nhưng với hạn tuổi cho phép, em đã góp phần của mình và đáng được ghi danh cám ơn như những người khác.

Mỗi người chúng ta, trong mọi hoàn cảnh đều có thể góp phần của mình vào công việc chung của Thiên Chúa, để xây dựng Giáo hội và xã hội ngày càng tốt đẹp hơn. Giáo hội là đền thờ của Thiên Chúa mà mỗi người Kitô là một viên gạch đủ loại lớn nhỏ. Đền thờ này đã bị rạn nứt bởi những chia rẽ, những thiếu sót, những tội lỗi của các thành phần Dân Chúa, của mỗi người chúng ta. Vậy mỗi người đều có bổn phận góp phần mình để tái thiết sự hiệp nhất của Giáo hội.

Không một đóng góp chân thành nào dù nhỏ mọn đến đâu mà không được Thiên Chúa ghi công, và ân sủng của Thiên Chúa sẽ làm cho những đóng góp đó trổ sinh những hoa trái tốt đẹp.

Mỗi người môn đệ Chúa Kitô chúng ta là thành phần của xã hội và do đó được mời gọi đóng góp tích cực xây dựng xã hội ngày thêm tốt đẹp hơn. Chúng ta không thể tiêu cực chỉ trích những tệ đoan xã hội, nhưng hãy tích cực đóng góp vào những công việc tốt để xây dựng. Những đóng góp đó có được nhìn nhận và ghi công hay không, điều này không quan trọng, nhưng sẽ là điều đáng buồn nếu người môn đệ của Chúa không trở thành “Ánh sáng”, thành “Muối đất”, thành “Men” trong bột. Để xây dựng một xã hội mà trong đó con người sống xứng đáng với phẩm giá của mình hơn.

Không trổ sinh hoa trái tốt lành người Kitô có thể không còn là người Kitô đích thực nữa, chỉ “hữu danh vô thực” mà thôi. Lời Chúa quở trách những người Pharisêu sống đạo giả hình đáng cho chúng ta suy nghĩ: “Các ngươi giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết đủ mọi thứ ô uế” (Mt 23,27).

Lạy Chúa, xin giúp con canh tân đời sống, và dấn thân hết khả năng để làm ích cho Giáo hội, và phục vụ xã hội con đang sống vì tình yêu Chúa.

Xin đừng để ai sút tài kém đức vì chịu ảnh hưởng của con; đừng để ai vì đồng hành với con mà không còn trong trắng, chân chất, dịu dàng và cao quý như trước.

Xin cho con luôn nhớ rằng: điều vĩ đại nhất con có thể làm cho Chúa là con đối xử tốt với anh chị em con. Amen.

https://tgpsaigon.net/bai-viet/ngay-21-02-thanh-phero-damiano-53738

 


 

 

Thứ Hai


Lời Chúa

 

Bài Ðọc I: Lv 19, 1-2. 11-18

"Hãy xét đoán công minh đối với kẻ khác".

Trích sách Lêvi.

Chúa phán cùng Môsê rằng: "Ngươi hãy nói cho toàn thể cộng đồng con cáiIsrael: Các ngươi hãy nên thánh, vì Ta là Ðấng Thánh, là Thiên Chúa các ngươi. Các ngươi đừng trộm cắp, đừng nói dối, đừng phỉnh gạt kẻ khác, đừng lấy danh Ta mà thề dối, và đừng xúc phạm danh Thiên Chúa các ngươi. Ta là Chúa.

Các ngươi đừng nhục mạ kẻ khác và đừng hà hiếp họ. Ðừng giam tiền công lại cho đến ngày mai. Ðừng nguyền rủa người điếc, đừng đặt trước kẻ mù vật gì có thể làm cho nó vấp ngã; nhưng các ngươi hãy kính sợ Chúa là Thiên Chúa các ngươi, vì Ta là Chúa.

Ðừng làm điều bất công, cũng đừng xét đoán bất công. Ðừng thiên tư kẻ nghèo, cũng đừng nể mặt người quyền thế. Hãy cứ công minh mà xét đoán kẻ khác.Ðừng lăng mạ, cũng đừng gièm pha kẻ khác. Ðừng mưu sát ai. Ta là Chúa.

Ðừng giữ lòng thù ghét anh em, nhưng hãy răn bảo họ công khai, để khỏi mang tội vì họ. Ðừng tìm báo oán, đừng nhớ lại lời mắng nhiếc của kẻ đồng hương. Hãy yêu thương bạn hữu như chính mình. Ta là Chúa".

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 18, 8. 9. 10. 15

Ðáp: Lạy Chúa, lời Chúa là thần trí và là sự sống (Ga 6, 64b).

Xướng: 1) Luật pháp Chúa toàn thiện, bồi bổ tâm linh; chỉ thị Chúa cố định, phángu kẻ dốt. - Ðáp.

2) Giới răn Chúa chính trực, làm hoan lạc tâm can; mệnh lệnh Chúa trong ngời, sáng soi con mắt. - Ðáp.

3) Lòng tôn sợ Chúa thuần khiết, còn mãi muôn đời; phán quyết của Chúa chân thật, công minh hết thảy. - Ðáp.

4) Xin Chúa nhậm những lời miệng con công bố, và sự lòng con suy gẫm trước thiên nhan, lạy Chúa là Ðá tảng, là Ðấng Cứu Chuộc con. - Ðáp.

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Tv 50, 12a và 14a

Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch. Xin ban lại cho con niềm vui ơn cứu độ.

Phúc Âm: Mt 25, 31-46

"Những gì các ngươi làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Khi Con Người đến trong vinh quang, có hết thảy mọi thiên thần hầu cận, Người sẽ ngự trên ngai uy linh của Người. Muôn dân sẽ được tập họp lại trước mặt Người, và Người sẽ phân chia họ ra, như mục tử tách chiên ra khỏi dê. Chiên thì Người cho đứng bên phải, còn dê ở bên trái. Bấy giờ Vua sẽ phán với những người bên hữu rằng: "Hãy đến, hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy lãnh lấy phần gia nghiệp là Nước Trời đã chuẩn bị cho các ngươi từ khi tạo dựng vũ trụ. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta mình trần, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã viếng thăm; Ta bị tù đày, các ngươi đã đến với Ta". Khi ấy người lành đáp lại rằng: "Lạy Chúa, có bao giờ chúng con thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống; có bao giờ chúng con thấy Chúa là lữ khách mà tiếp rước, mình trần mà cho mặc; có khi nào chúng con thấy Chúa yếu đau hay bị tù đày mà chúng con đến viếng Chúa đâu?" Vua đáp lại: "Quả thật, Ta bảo các ngươi: Những gì các ngươi đã làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta".

"Rồi Người cũng sẽ nói với những kẻ bên trái rằng: "Hỡi phường bị chúc dữ, hãy lui khỏi mặt Ta mà vào lửa muôn đời đã đốt sẵn cho ma quỷ và kẻ theo chúng. Vì xưa Ta đói, các ngươi không cho ăn; Ta khát, các ngươi không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi chẳng tiếp rước; Ta mình trần, các ngươi không cho đồ mặc; Ta đau yếu và ở tù, các ngươi đâu có viếng thăm Ta!" Bấy giờ họ cũng đáp lại rằng: "Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói khát, khách lạ hay mình trần, yếu đau hay ở tù, mà chúng con chẳng giúp đỡ Chúa đâu?" Khi ấy Người đáp lại: "Quả thật, Ta bảo cho các ngươi biết, những gì các ngươi đã không làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta". Những kẻ ấy sẽ phải tống vào chốn cực hình muôn thuở, còn các người lành thì được vào cõi sống ngàn thu".

Ðó là lời Chúa.



Suy niệm

 

    

Sự Sống bác ái

    

Hôm nay, Thứ Hai Tuần 1 Mùa Chay, phụng vụ Lời Chúa vẫn tiếp tục đề tài cho chung Mùa Chay, bao gồm cả Tuần Thánh, là "Tôi tự ý bỏ sự sống mình đi để rồi lấy nó lại" (Gioan 10:17), bằng cách "vượt qua sự chết mà vào sự sống" (Gioan 5:24). 

Bài Phúc Âm hôm qua, Chúa Nhật 1 Mùa Chay, Chúa Kitô đã "tự ý bỏ sự sống mình điở chỗ Người đã chay tịnh 40 ngày trong hoang địa, và Người đã "lấy nó lại" ở chỗ nhờ đó Người đã chiến thắng các chước cám dỗ vô cùng thâm độc và hiểm ác của Satan, đúng hơn đã chiến thắng thần chết là ma quỉ. 

Thế nhưng, "sự sống" mà Chúa Kitô "bỏ đi" và "lấy lại" đây là gì, nếu không phải là "sự sống" của bản tính nhân loại Người đã "bỏ đi", một bản tính của loài người đã bị băng hoại bởi nguyên tội và theo nguyên tội, nhưng lại là bản tính đã được Người mặc lấy, nhờ đó "sự sống" tự nhiên nơi nhân tính này của Người đã được Người "lấy lại", ở chỗ Người đã thăng hóa nóđã thần linh hóa nó, một dấu chỉ về Mầu Nhiệm Vượt Qua của Người nói chung và về Mầu Nhiệm Phục Sinh của Người nói riêng.

"Sự sống" Chúa Kitô đã "bỏ đi" đây nơi cuộc khổ nạn và tử giá là "sự sống" thể lý, sự sống về phần xác của Người, và "sự sống" Ngưòi "lấy lại" đây nơi cuộc phục sinh của Người là "sự sống" thần linh, "sự sống" thiêng liêng, "sự sống" bất tử, "sự sốngđời đời cho nhân loại, một "sự sống" mà họ đã bị mất đi theo nguyên tội và bởi nguyên tội đã được Người phục hồi, tức là "sự sốngđược hiệp thông thần linh với Thiên Chúa, "sự sống" yêu thương trọn hảo như Chúa.

Khi lãnh nhận Phép Rửa thanh tẩy tái sinh, Kitô hữu đã lãnh nhận "sự sống" đời đời này, tức là đã được tái hiệp thông thần linh với Thiên Chúa, sống "sự sống" thần linh của Ngài, với Ngài và như Ngài nơi Con của Ngài là Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã "yêu cho đến cùng" (Gioan 13:1), để nhờ đó họ cũng có thể yêu thương nhau "như Thày đã yêu thương các con(Gioan 13:34, 15:12).

Chính vì "sự sống" thần linh cũng là "sự sống" đời đời này là "sự sống" đức ái trọn hảo "như Thày" mà chỉ có thành phần biết yêu thương nhau như Chúa Kitô mới xứng đáng được hưởng "sự sống" vĩnh hằng với Người mà thôi. 

Đó là lý do bài Phúc Âm hôm nay cho thấy tiêu chuẩn tối hậu nơi cuộc chung thẩm đối với số phận đời đời của con người sống trên trần gian này đó là yêu thương: yêu thương vì Chúa, vì Chúa ở nơi những người anh chị em hèn mọn nhất được đồng hóa với chính Chúa Kitô, nghĩa là yêu Chúa nơi hiện thân của Chúa là những người anh chị em hèn mọn như chúng ta cũng là một trong những người anh chị em hèn mọn ấy đã được Người yêu:

"Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta mình trần, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã viếng thăm; Ta bị tù đày, các ngươi đã đến với Ta... Quả thật, Ta bảo các ngươi: Những gì các ngươi đã làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta".

Thật vậy, theo nguyên tắc, loài người Kitô hữu chúng ta không thể trực tiếp đáp trả tình yêu vô cùng của Thiên Chúa đối với chúng ta qua Con của Ngài, thế nhưng, trên thực tế, chúng ta vẫn có thể gián tiếp đáp trả  tình yêu vô đối của Thiên Chúa, bằng cách yêu thương những người anh chị em hèn mọn nhất được đồng hóa với Con của Ngài, và như thế chúng ta được kể là yêu chính Thiên Chúa, sống chính "sự sống" bác ái trọn hảo của Thiên Chúa, với Thiên Chúa và nhưThiên Chúa. 

Những tình trạng của các người anh chị em hèn mọn nhất của Chúa Kitô được Người liệt kê trong Bài Phúc Âm hôm nay không phải là những nhu cầu (3 cặp) chỉ thuần về thể lý, mà bao gồm cả về luân lý và tâm linh nữa. 

Chẳng hạn cặp nhu cầu đầu tiên là đói khát, không phải chỉ đói thức ăn và khát nước uống cho thân xác, mà còn bao gồm cả nhu cầu đói khát chân lý, đói khát tin mừng cứu độ nơi nhiều anh chị em chúng ta trên thế giới hiện nay, thành phần đói khát thiêng liêng này thậm chí còn nhiều hơn và đông hơn bao nhiêu lần những anh chị em bị đói khát về thể lý nữa, mà nếu Kitô hữu chúng ta không đáp ứng nhu cầu đói khát chân lý cứu độ này cho họ, bằng chứng từ và hoạt động tông đồ khả dĩ tác hiệu của chúng ta, chúng ta cũng khó lòng phủ nhận hay trốn lánh trách nhiệm của mình trước mặt Chúa trong cuộc chung thẩm

Hay cặp nhu cầu thứ hai là nhu cầu đón tiếp và phục sức đối với những con người anh chị em là khách lạ và bị trần trụi về thể lý còn bao gồm cả nhu cầu đón tiếp về tinh thần là ở chỗ thông cảm và gắn bó với những anh chị em bị bỏ rơi, bị hất hủi, sống cô độc, sống vất vưởng ngoài lề xã hội v.v., và nhu cầu phục sức về tinh thần là ở chỗ tranh đấu để bênh vực quyền lợi cũng như phục hồi phẩm giá cho những người anh chị em yếu thế, dễ bị đàn áp, khai thác và bóc lột trong xã hội.

Hoặc cặp nhu cầu thể lý thứ ba là viếng thăm đối với những anh chị em bệnh nhân và tù nhân về thể lý còn bao gồm cả nhu cầu thăm viếng về tinh thần là quan tâm, cầu nguyện, khuyên bảo và nâng đỡ những người anh chị em yếu đuối và sa ngã phạm tội về luân lý nữa, những người anh chị em sống khô khan nguội lạnh, sống cuộc đời phản đức tin, bỏ đức tin để chạy theo thế gian, làm tôi cho xác thịt, tiền tài và danh vọng chức quyền, bị xác thịt, thế gian và ma quỉ thống trị, giam cầm, đầy ải vô cùng khốn nạn cần được giải phóng.

Theo chiều hướng của bài Phúc Âm về "sự sống" bác ái trọn hảo như thế, Bài Đọc 1 cũng thuật lại những gì Thiên Chúa đã phán dạy dân Do Thái qua trung gian Moisen liên quan đến tha nhân, ở chỗ, về phần tiêu cực, cần phải tránh tất cả những gì xúc phạm đến họ:

"Các ngươi đừng trộm cắp, đừng nói dối, đừng phỉnh gạt kẻ khác, đừng lấy danh Ta mà thề dối, và đừng xúc phạm danh Thiên Chúa các ngươi. Ta là Chúa.

"Các ngươi đừng nhục mạ kẻ khác và đừng hà hiếp họ. Ðừng giam tiền công lại cho đến ngày mai. Ðừng nguyền rủa người điếc, đừng đặt trước kẻ mù vật gì có thể làm cho nó vấp ngã; nhưng các ngươi hãy kính sợ Chúa là Thiên Chúa các ngươi, vì Ta là Chúa.

"Ðừng làm điều bất công, cũng đừng xét đoán bất công. Ðừng thiên tư kẻ nghèo, cũng đừng nể mặt người quyền thế. Hãy cứ công minh mà xét đoán kẻ khác.Ðừng lăng mạ, cũng đừng gièm pha kẻ khác. Ðừng mưu sát ai. Ta là Chúa.

"Ðừng giữ lòng thù ghét anh em, nhưng hãy răn bảo họ công khai, để khỏi mang tội vì họ. Ðừng tìm báo oán, đừng nhớ lại lời mắng nhiếc của kẻ đồng hương. Hãy yêu thương bạn hữu như chính mình. Ta là Chúa".

Và lý do duy nhất và trên hết khiến thành phần dân Do Thái được Thiên Chúa ưu tuyển này cần phải tránh tất cả những gì phạm đến tha nhân của họ là vì "Ta là Chúa", một điệp khúc được lập lại ở cuối mỗi lời khuyên "đừng" này "đừng" kia. Nghĩa là vì họ là dân của một Vị Thiên Chúa thánh hảo, mà họ cũng phải thánh hảo như Ngài: "Các ngươi hãy nên thánh, vì Ta là Ðấng Thánh, là Thiên Chúa các ngươi". Ở chỗ họ cũng phải tác hành như Ngài, cũng sống "sự sống" thần linh của Ngài, cũng sống "sự sống" bác ái trọn hảo yêu thương như Ngài. 

Bài Đáp Ca hôm nay chất chứa những cảm nhận sâu xa về "luật pháp", "chỉ thị", "giới răn", "mệnh lệnh", "phán quyết" của Chúa "là Đá tảng, là Đấng Cứu Chuộc" của con người, những gì liên quan đến Bài Đọc 1, vì Bài Đọc 1 bao gồm những điều Chúa chỉ dạy dân riêng của Ngài để họ có thể sống hoàn thiện như Ngài:

1) Luật pháp Chúa toàn thiện, bồi bổ tâm linh; chỉ thị Chúa cố định, phá ngu kẻ dốt. 

2) Giới răn Chúa chính trực, làm hoan lạc tâm can; mệnh lệnh Chúa trong ngời, sáng soi con mắt. 

3) Lòng tôn sợ Chúa thuần khiết, còn mãi muôn đời; phán quyết của Chúa chân thật, công minh hết thảy.

4) Xin Chúa nhậm những lời miệng con công bố, và sự lòng con suy gẫm trước thiên nhan, lạy Chúa là Ðá tảng, là Ðấng Cứu Chuộc con. 

 

Ngày 22 tháng 2

LẬP TÔNG TOÀ THÁNH PHÊ-RÔ, TÔNG ĐỒ

lễ kính

 

Image result for Mt 16, 13-19

 

Được đặt trong nhà thờ chính toà của giáo phận, toà của một vị giám mục là dấu chỉ quyền dạy dỗ, quyền hiến tế và quyền lãnh đạo của giám mục. Lễ kính Tông toà thánh Phê-rô nhắc chúng ta nhớ lại sứ mạng Chúa Ki-tô đã trao phó cho vị thủ lãnh các Tông Đồ. Nhờ đặc ân không sai lầm, thánh Phê-rô là người bảo đảm đức tin của các anh em trong Tông Đồ Đoàn. Lòng tin của thánh Phê-rô là đá tảng, trên đó Chúa đã xây Hội Thánh của Người.

Phụng Vụ Giờ Kinh

Mừng chư vị công hầu vương bá,
Chốn triều đình Vua Cả Giê-su,
Chính Người đã huấn luyện xưa,
Sai làm nghĩa vụ Tông Đồ khắp nơi.

Thành Sa-lem trên trời oai vọng,
Quý ngài là nền móng cao sang,
Thánh đô nhận ngọc dát vàng,
Con Chiên toả ánh hào quang bốn bề.

Này Giáo Hội, Hiền Thê của Chúa,
Đang thiết tha cảm tạ quý ngài,
Lời vàng quy tụ về đây,
Máu đào thánh hiến từ ngày khởi công.

Thời gian lúc tới vòng viên mãn,
Khi Vua Trời xử án muôn dân,
Quý ngài vinh hiển vô ngần,
Được ngồi xét xử gian trần với Vua.

Nay cả dám cậy nhờ thế lực,
Xin cầu thay nguyện giúp sớm chiều,
Để bao nhiêu hạt giống gieo,
Kho trời thu lượm bấy nhiêu lúa vàng.

Dâng Thánh Tử, Đấng từng chọn lựa,
Quý ngài làm sứ giả Vua Cha,
Ban đầy thánh sủng Ngôi Ba,
Này câu chúc tụng ngợi ca muôn đời.

Chúa Cha đã cho chúng ta được thừa hưởng gia tài cao quý do các Tông Đồ để lại, vì thế, ta hãy cảm tạ Người và tung hô :

Chúc tụng Chúa vinh hiển muôn đời.

Chúc tụng Chúa đã xây dựng Hội Thánh trên nền tảng các Tông Đồ, - đó là nhiệm thể chúng con đang xây dựng.

Chúc tụng Chúa vinh hiển muôn đời.

Chúc tụng Chúa đã ban Lời hằng sống do các Tông Đồ rao giảng, - đó là ánh sáng và niềm vui của chúng con.

Chúc tụng Chúa vinh hiển muôn đời.

Chúc tụng Chúa đã ban bí tích Thánh Tẩy và Hoà Giải do các Tông Đồ loan báo, - đó là kho tàng ơn tha thứ của chúng con.

Chúc tụng Chúa vinh hiển muôn đời.

Chúc tụng Chúa đã ban bí tích Thánh Thể do các Tông Đồ truyền lại, - đó là sức mạnh và nguồn sống của chúng con.

Chúc tụng Chúa vinh hiển muôn đời.

Lạy Thiên Chúa toàn năng, Chúa đã thiết lập Hội Thánh trên nền đá vững bền là lời tuyên xưng đức tin của thánh tông đồ Phê-rô, xin gìn giữ Hội Thánh khỏi nao núng giữa cảnh đời thử thách gian nan. Chúng con cầu xin

 

Phụng Vụ Lời Chúa

 

 

Bài Ðọc I: 1 Pr 5, 1-4

"Là kỳ lão và nhân chứng cuộc khổ hình của Chúa Kitô".

Trích thư thứ nhất của Thánh Phêrô Tông đồ.

Anh em thân mến, tôi xin gởi lời khuyên bảo đến bậc Kỳ Lão trong anh em. Tôi là một Kỳ Lão như các ngài, là một nhân chứng cuộc khổ hình của Chúa Kitô, một kẻ sẽ được thông phần vinh quang sắp được tỏ bày. Hãy chăn dắt đoàn chiên Chúa nơi anh em, hãy trông nom nó, không phải bằng cách miễn cưỡng, mà là sẵn sàng theo thánh ý Chúa; không phải để trục lợi, mà là do tình nguyện; không phải như người chuyên chế lộng hành, nhưng phải nên gương sáng cho đoàn chiên. Và khi thủ lãnh các đấng chăn chiên xuất hiện, anh em sẽ nhận lãnh triều thiên vinh quang bất diệt.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 22, 1-3. 4. 5. 6

Ðáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi (c. 1).

Xướng: 1) Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi; trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi; tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng. Người dẫn tôi qua những con đường đoan chính, sở dĩ vì uy danh Người. - Ðáp.

2) Dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con. Cây roi và cái gậy của Ngài, đó là điều an ủi lòng con. - Ðáp.

3) Chúa dọn ra cho con mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối phương: đầu con thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu con đầy tràn chan chứa. - Ðáp.

4) Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi, hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài. - Ðáp.

 

Alleluia: Mt 16, 18

Alleluia, alleluia! - Con là Ðá, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh Thầy, và cửa hoả ngục sẽ không thắng được. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 16, 13-19

"Con là Ðá, Cha sẽ trao cho con chìa khoá nước trời".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu đến miền Xêsarêa Philipphê, và hỏi các môn đệ rằng: "Người ta bảo Con Người là ai?" Các ông thưa: "Kẻ thì bảo là Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là Êlia, kẻ khác lại bảo là Giêrêmia hay một trong các tiên tri!" Chúa Giêsu nói với các ông: "Phần các con, các con bảo Thầy là ai?" Simon Phêrô thưa rằng: "Thầy là Ðức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống". Chúa Giêsu trả lời rằng: "Hỡi Simon con ông Giona, con có phúc, vì chẳng phải xác thịt máu huyết mạc khải cho con, nhưng là Cha Thầy, Ðấng ngự trên trời. Vậy Thầy bảo con biết: Con là Ðá, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và cửa địa ngục sẽ không thắng được".

Ðó là lời Chúa.

Image result for Mt 16, 13-19

 

 

 

 

 

Thứ Ba


Lời Chúa


Bài Ðọc I: Is 55, 10-11

"Lời Ta thực hiện điều Ta mong muốn".

Trích sách Tiên tri Isaia.

Ðây Chúa phán: "Như mưa tuyết từ trời rơi xuống và không trở lên trời nữa, nhưng chúng thấm xuống đất, làm cho đất phì nhiêu, cây cối sinh mầm, cho người gieo có hạt giống, cho người ta có cơm bánh ăn, cũng thế, lời từ miệng Ta phán ra sẽ không trở lại với Ta mà không sinh kết quả, nhưng nó thực hiện ý muốn của Ta, và làm tròn sứ mạng Ta uỷ thác".

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 33, 4-5. 6-7. 16-17. 18-19

Ðáp: Chúa cứu người hiền đức khỏi mọi nỗi âu lo (c. 18b).

Xướng: 1) Các bạn hãy cùng tôi ca ngợi Chúa, cùng nhau ta hãy tán tạ danh Người. Tôi cầu khẩn Chúa, Chúa đã nhậm lời, và Người đã cứu tôi khỏi mọi điều lo sợ. - Ðáp.

2) Hãy nhìn về Chúa để các bạn vui tươi, và các bạn khỏi hổ ngươi bẽ mặt. Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe, và Người đã cứu họ khỏi mọi điều tainạn. - Ðáp.

3) Chúa để mắt coi người hiền đức, và tai Người lắng nghe tiếng họ cầu. Chúa ra mặt chống người làm ác, để tẩy trừ di tích chúng nơi trần ai. - Ðáp.

4) Người hiền đức kêu cầu và Chúa nghe lời họ, Người cứu họ khỏi mọi nỗi âu lo. Chúa gần gũi những kẻ đoạn trường, và cứu chữa những tâm hồn đau thương dập nát. - Ðáp.

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Mt 4,17

Chúa phán: "Hãy hối cải, vì nước trời đã gần đến".

Phúc Âm: Mt 6, 7-15

"Vậy các ngươi hãy cầu nguyện như thế này".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Khi cầu nguyện, các con đừng nhiều lời như dân ngoại: họ nghĩ là phải nói nhiều mới được chấp nhận. Ðừng làm như họ, vì Cha các con biết rõ điều các con cần, ngay cả trước khi các con xin. Vậy các con hãy cầu nguyện như thế này:

"Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày, và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con, xin chớ đến chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ. Amen.

"Vì nếu các con có tha thứ cho người ta những lầm lỗi của họ, thì Cha các con, Ðấng ngự trên trời, mới tha thứ cho các con. Nếu các con không tha thứ cho người ta, thì Cha các con cũng chẳng tha thứ lỗi lầm cho các con".

Ðó là lời Chúa.



Suy niệm

 

  

    Sự Sống thiên ý    


Ngày Thứ Ba trong Tuần 1 Mùa Chay hôm nay, đề tài cho chung Mùa Chay, bao gồm cả Tuần Thánh, là "Tôi tự ý bỏ sự sống mình đi để rồi lấy nó lại" (Gioan 10:17), được tiếp tục ở bài Phúc Âm về lời cầu nguyện Chúa dạy "các con hãy cầu nguyện như thế này".

Thật vậy, qua nội dung của lời cầu nguyện Chúa Giêsu dạy cho "các môn đệ" trong bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta thấy hiện lên hình ảnh sống động của một Vị Thiên Sai, Đấng "từ trời xuống không phải để làm theo ý mình là là ý Đấng đã sai" (Gioan 6:38). Người quả thực đã "bỏ sự sống mình đi" ở chỗ "không làm theo ý mình", mà là "ý Đấng đã sai", nhờ đó, Người "đã lấy sự sống mình lại" ở chỗ Người đã tỏ ra sự sống thần linh thật sự ở nơi Người, sự sống của một Người Con Thiên Chúa mà Người muốn thông ban cho chung con người và riêng Giáo Hội của Người.

Đó là lý do, trong kinh nguyện Chúa dạy vẫn được gọi là Kinh Lạy Cha trong Bài Phúc Âm hôm nay đây, ý nguyện chính yếu, ý nguyện nồng cốt, ý nguyện làm nên các ý nguyện và chi phối các ý nguyện khác đó là ý nguyện: "ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời". 

Trước hết, đối với hai ý nguyện đầu là "danh Cha cả sáng" và "nước Cha trị đến", cả hai ý nguyện này sẽ chẳng bao giờ trở thành hiện thực nếu thiếu vắng ý nguyện thứ ba "ý Cha thể hiện". 

Điển hình nhất ở nơi chính bản thân và cuộc đời của Chúa Kitô, Đấng đã làm cho "danh Cha cả sáng" khi hoàn thành ý Cha, bằng cuộc khổ nạn và tử giá của Người, nhờ đó và vì thế Người đồng thời cũng đã làm cho "nước Cha trị đến" nơi tâm hồn của những ai tin vào Người, một "nước" hay một vương quốc thần linh đang hiện diện nơi Giáo Hội được Người thiết lập và xuất phát từ cạnh sườn bị đâm vào của Người (xem Hiến Chế Lumen Gentium - 3).

Sau nữa, đối với 3 ý nguyện, đúng hơn 3 ý cầu sau đó cũng thế, cũng liên kết hết sức mật thiết bất khả phân ly với ý nguyện "ý Cha thể hiện" nằm ở giữa như cốt lõi của Kinh Lạy Cha này. 

"Lương thực hằng ngày" ở đây được chúng ta có ý cầu đây là gì, nếu trước hết và trên hết không phải là của ăn phần xác mà chính là việc làm theo và chu toàn ý muốn của Thiên Chúa, như "lương thực của Thày là làm theo ý Đấng sai Thày và hoàn thành các công việc của Ngài" (Gioan 4:34), nhờ đó "ý Cha thể hiện dưới đất ('Nước Cha trị đến') cũng như trên trời ('danh Cha cả sáng')".

"Xin Cha tha nợ chúng con" là ý cầu thứ hai ở phần sau của Kinh Lạy Cha, một ý cầu gắn liền với ý cầu thứ nhất "xin Cha cho chúng con lương thực hằng ngày". Bởi vì, nếu "lương thực hằng ngày" của chúng ta là việc chu toàn ý muốn Thiên Chúa thì bất cứ khi nào và vì bất cứ lý do nào chúng ta không chu toàn ý muốn của Ngài là chúng ta đã làm buồn lòng Ngài, đã không làm "danh Cha cả sáng" và "nước Cha trị đến" như lòng Ngài ước mong nơi chúng ta, và vì thế chúng ta cần được Ngài tha thứ cho.

"Xin chớ đến chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ" là ý cầu cuối cùng ở phần hai của Kinh Lạy Cha cũng bất khả tách lìa với ý nguyện thứ 3 "ý Cha thể hiện phần trên và ý cầu thứ 1 "xin Cha cho chúng con lương thực hằng ngày" ở phần dưới. Tại sao? 

Bởi vì, theo kinh nghiệm tu đức sống đạo, Kitô hữu chúng ta, với bản tính nhiễm lây nguyên tội, luôn luôn bị "cám dỗ" làm theo ý riêng của mình và đam mê nhục dục của mình hơn là ý muốn của Thiên Chúa và lề luật của ngài, hơn là tinh thần Phúc Âm của Chúa Kitô, và thường chúng ta bị "sa chước cám dỗ" nếu không có ơn đặc biệt của Thiên Chúa để có thể chẳng những nhận ra chước cám dỗ vô cùng tinh quái quỉ quyệt mà còn chống trả chước cám dỗ cho đến cùng. 

Và "sự dữ" chúng ta cầu xin cho khỏi bị rơi vào hay phạm đến đây là gì, nếu không phải là chính những gì chúng ta dám ngang nhiên và ngạo mạn làm trái với ý muốn toàn thiện và tối thượng của Thiên Chúa, là chính thái độ phạm thượng của chúng ta đối với Thiên Chúa vô cùng cao cả, ở chỗ chúng ta đã coi mình hơn Thiên Chúa, coi ý muốn của Thiên Chúa vô cùng khôn ngoan và toàn năng, quan phòng thần linh trên tất cả mọi sự, không bằng ý muốn thấp hèn thiển cận rất hạ cấp của chúng ta là tạo vật đã được Ngài yêu thương dựng nên và cứu chuộc.

Chính vì là loài người vô cùng thấp hèn, khốn nạn và yếu đuối mà chúng ta tự mình không thể nào không "sa chước cám dỗ", không thể nào không gây ra "sự dữ" là tội lỗi phạm đến Thiên Chúa, và vì thế mà chúng ta, trong ý cầu thứ hai ở phần sau của Kinh Lạy Cha, chúng ta đã "xin Cha tha nợ cho chúng con", ở chỗ "như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con", bằng không, không tha cho người khác mà cứ muốn được Thiên Chúa thứ tha là chúng ta đã "sa (vào một) chước cám dỗ" khác đối với anh chị em chúng ta, nghĩa là chúng ta đã gây ra một "sự dữ" khác, ở chỗ chúng ta đã sống hoàn toàn phản nghịch lại với bản tính và sự sống thần linh của chúng ta là đức ái trọn hảo như Cha trên trời của chúng ta (xem Mathêu 4:48).

Bởi thế, trước khi kết thúc bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu còn nhấn mạnh ngay sau Kinh Lạy Cha rằng: "Nếu các con có tha thứ cho người ta những lầm lỗi của họ, thì Cha các con, Ðấng ngự trên trời, mới tha thứ cho các con. Nếu các con không tha thứ cho người ta, thì Cha các con cũng chẳng tha thứ lỗi lầm cho các con".

Đúng vậy, tự mình chúng ta không thể nào trả nợ cho Thiên Chúa là Đấng vô cùng cao cả bị chúng ta xúc phạm, ngoài một cách nhẹ nhàng hơn, dễ dàng hơn và khả dĩ hơn đó là cách chúng ta tha nợ cho anh chị em của chúng ta, những người xúc phạm đến chúng ta, thành phần chỉ là một tạo vật thấp hèn đầy khốn nạn đáng bị xúc phạm hơn ai hết, vì chúng ta đã xúc phạm đến Thiên Chúa tối cao không bao giờ được xúc phạm đến, bởi thế chúng ta mới đáng bị trừng phạt bằng cách bị người khác xúc phạm đến.

Một khi chúng ta không tha thứ cho anh chị em phạm nhân của chúng ta là chúng ta chứng tỏ chúng ta thực sự chưa hoàn toàn cảm nhận được Lòng Thương Xót Chúa đối với con người khốn nạn tội lỗi của chúng ta, và chưa thấu hiểu được hết tất cả giá trị vô cùng quí báu của ơn Thiên Chúa thứ tha.

Và vì chưa thực sự cảm nghiệm được Lòng Thương Xót Chúa và ơn tha thứ của Ngài, mà chúng ta thậm chí còn lấy lòng thù hằn báo oán của mình đối với những người anh chị em phạm nhân của chúng ta để vùi dập đi Lòng Thương Xót Chúa nơi chúng ta, không muốn chia sẻ Lòng Thương Xót Chúa nơi chúng ta qua ơn tha thứ vô cùng bao la bất tận của Ngài ra cho chung tha nhân, nhất là cho riêng thành phần phạm nhân của chúng ta, như chúng ta đã từng là phạm nhân của Thiên Chúa.

Tuy nhiên, còn một "chước cám dỗ" nữa, nguy hiểm hơn, mà chúng ta cần phải cầu xin "cho khỏi sự dữ" kinh khủng này, đó là "chước cám dỗ" chán nản thất vọng bởi thấy mình tội lỗi quá sức, tội lỗi không ngừng, đến độ chúng ta tiến đến một "sự dữ" trên hết mọi "sự dữ" đó là chúng ta đặt vấn đề với ân sủng của Chúa, cho rằng ân sủng của Chúa không có tác dụng gì nơi chúng ta, nên chúng ta cứ sa ngã phạm tội mãi, không thể nào vươn lên được, không thể nào tránh phạm tội, do đó chúng ta không còn tin tưởng vào Lòng Thương Xót Chúa nữa.

Trong khi đó, theo sự khôn ngoan vô cùng của mình, Thiên Chúa vẫn âm thầm làm việc nơi họ, thậm chí để cho họ chết đi, chết đến "xông mùi" (Gioan 11:39) Người mới chịu ra tay, để vinh quang của Ngài càng rạng ngời hơn nơi họ, như nơi trường hợp của tử thi Lazarô bước ra khỏi huyệt mộ theo lời tuyên phán đầy quyền linh tái sinh của Người (xem Gioan 11:43-44), "những lời là thần linh và là sự sống" (Gioan 6:63) có một giá trị và tác dụng thần linh vô cùng công hiệu, như chính Thiên Chúa qua miệng tiên tri Isaia đã khẳng định về Lời của Ngài trong Bài Đọc 1 hôm nay:

"Như mưa tuyết từ trời rơi xuống và không trở lên trời nữa, nhưng chúng thấm xuống đất, làm cho đất phì nhiêu, cây cối sinh mầm, cho người gieo có hạt giống, cho người ta có cơm bánh ăn, cũng thế, lời từ miệng Ta phán ra sẽ không trở lại với Ta mà không sinh kết quả, nhưng nó thực hiện ý muốn của Ta, và làm tròn sứ mạng Ta uỷ thác".

Phải, một khi thực sự cảm nghiệm được Lòng Thương Xót Chúa, nơi tận cùng khốn nạn của mình, con người càng tin tưởng vào Lòng Thương Xót Chúa hơn và tri ân chúc tụng Chúa hơn ai hết và hơn bao giờ hết, như tâm tình và cảm nhận của Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Các bạn hãy cùng tôi ca ngợi Chúa, cùng nhau ta hãy tán tạ danh Người. Tôi cầu khẩn Chúa, Chúa đã nhậm lời, và Người đã cứu tôi khỏi mọi điều lo sợ. 

2) Hãy nhìn về Chúa để các bạn vui tươi, và các bạn khỏi hổ ngươi bẽ mặt. Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe, và Người đã cứu họ khỏi mọi điều tainạn. 

3) Chúa để mắt coi người hiền đức, và tai Người lắng nghe tiếng họ cầu. Chúa ra mặt chống người làm ác, để tẩy trừ di tích chúng nơi trần ai. 

4) Người hiền đức kêu cầu và Chúa nghe lời họ, Người cứu họ khỏi mọi nỗi âu lo. Chúa gần gũi những kẻ đoạn trường, và cứu chữa những tâm hồn đau thương dập nát. 

 

 

Thánh Polycarpo

 23/2

 

Ngày 23/02: Thánh Pôlycarpô, giám mục, tử đạo

 

1. Ghi nhận lịch sử - Phụng Vụ

Theo “lá thư của các Kitô hữu thành Smyrna” về cuộc tử đạo của thánh Polycarpe, vị thánh giám mục này bị thiêu trên giàn củi ở hý trường Smyrna, vào ngày Sabbat, vào giờ thứ 8, ngày 23.02.155/156, trước mặt toàn dân. Lúc đó ngài khoảng độ 86 tuổi. Kỷ niệm này được ghi trong Hạnh các thánh tử đạo của thành Nicomédie (361). Những người Syrie, Byzantin và Copte đều mừng lễ này. Phương Tây, lễ nhớ thánh Polycarpe xuất hiện vào thế kỷ thứ VI, cho đến lần canh tân Phụng Vụ cuối cùng, Thánh lễ mừng vào ngày 26.01.

Theo truyền thống, thánh Polycarpe (có nhiều hoa trái) sinh khoảng năm 70, là môn đệ của thánh Gioan Tông Đồ và là thầy của thánh Irênê thành Lyon. Như thế, ngài đã tạo một dây liên kết giữa Giáo Hội nguyên thuỷ của các Tông Đồ với các thế hệ Kitô hữu sau này của Giáo Hội Tiểu Á và - nhờ vào môn đệ của mình là Irênê thành Lyon – nối kết với xứ Gaule.

Là giám mục thành Smyrna, ngài đón nhận Ignatiô thành Antiochia, người bị dẫn độ đến Rôma để chịu cực hình tử đạo. Theo thánh Irênê, thánh Polycarpe thích nhắc lại liên hệ của mình với thánh Tông Đồ Gioan và “những người đã thấy Chúa”. Ngài nhắc lại các lời nói của họ về đề tài Đức Giêsu và “sau khi nhận tất cả từ các chứng nhân của Ngôi Lời Hằng Sống, ngài đã nhắc lại đúng như Sách Thánh”.

Thánh Ignatio thành Antiochia, trong Lá thư gởi cho Polycarpe, đã động viên người bạn thân yêu này: “Hãy vững vàng như đe dưới búa. Một lực sĩ vĩ đại không thể thất bại dưới những cú đập như thế, nhưng phải thắng”. Thánh Polycarpe cũng đã chiến đấu cho đến khi bị thiêu sống để làm chứng cho tình yêu Chúa Kitô. Khi Tổng trấn đề nghị: “Ta thề, ta sẽ thả ông ra, nếu như ông nguyền rủa ông Kitô!” Vị thánh giám mục đã trả lời: “Đã 86 năm tôi phục vụ Người và không bao giờ Người làm một điều gì xấu cho tôi. Làm thế nào tôi có thể xúc phạm Vua của tôi, Đấng cứu tôi ?”

Sau khi Polycarpe bị thiêu, các Kitô hữu đến lượm xương còn lại, đặt vào một nơi đáng kính, nơi mà họ thường tụ tập “trong hân hoan và niềm vui để cử hành ngày lễ giỗ cho ngài”.

2. Thông điệp và tính thời sự

Sứ điệp của thánh Polycarpe chính là cuộc tử đạo của ngài, như “Lá thư Hội thánh Chúa ở Smyrna” đã nói.

Trong lời Tổng hợp, chúng ta cầu xin Thiên Chúa, nhờ lời cầu bầu của thánh nhân “được như ngài chia sẻ vào chén của Chúa Kitô để được sống lại vào đời sống vĩnh cửu”. Lời cầu nguyện này nhắc nhớ lại lời cầu nguyện của thánh Polycarpe, lúc bị trói vào cột, sẵn sàng hiến tế: “Lạy Chúa, Thiên Chúa của vũ trụ, Cha của Đức Giêsu Kitô, con chúc tụng Chúa vì xét thấy con xứng đáng được chia sẻ vào chén của Chúa Kitô, để được sống lại cả hồn lẫn xác vào cuộc sống vĩnh cửu, trong sự bất tử do Chúa Thánh Thần ban tặng”. (Phụng Vụ Giờ Kinh). Trong lời tuyên xưng đức tin của thánh Polycarpe, chúng ta thấy rõ bản chất của mầu nhiệm Kitô giáo được nói lên rõ ràng: Thiên Chúa là Cha và là Đấng Sáng Tạo; Đức Giêsu là Tôi Tớ của Thiên Chúa, đồng thời cũng là Con duy nhất, rất được Cha yêu quí, Tư tế vĩnh cửu và thiên linh; Chúa Thánh Thần là nguồn sống và sự bất tử.

Các Kitô hữu đã thấy và đã chứng kiến cuộc tử đạo của thánh Polycarpe như đang tham dự một buổi Phụng Vụ. Trong lời nguyện của thánh nhân, chúng ta gặp được các yếu tố của Kinh Nguyện Thánh Thể: “Con ca tụng Ngài ...con chúc tụng Ngài nhờ vị Thượng Tế vĩnh cửu và thiên linh là Đức Giêsu Kitô”. Vị tử đạo, bị trói, được nhìn như con dê được chọn, giữa bầy để hiến tế, một lễ vật xứng đáng dâng lên Thiên Chúa”. Cuối cùng ngài xuất hiện giữa vùng lửa “như tấm bánh đang được nung lên, như vàng hay bạc rực lên giữa lò lửa, xông lên mùi như hương, như trầm”. Thánh nhân được vẽ như một “vị tử đạo đúng Phúc Âm” có nghĩa là giống Đức Giêsu Kitô, một hiến tế của người mục tử thành Smyrna trước mắt dân chúng như một mẫu gương đức tin và kiên nhẫn. Khi bắt chước cuộc khổ nạn của Đức Kitô, người ta sẽ được đồng hình đồng dạng với Người. Vì thế thánh Polycarpe đã viết cho dân thành Philliphê: “Hãy trở thành những người bắt chước sự kiên nhẫn của Chúa Kitô và nếu như chúng ta đau khổ vì danh Người, hãy chúc tụng Người” (7,2).

https://tgpsaigon.net/bai-viet/ngay-23-02-thanh-polycarpogiam-muctu-dao-49086

3- Tiểu Sử

Là môn đệ của thánh Gioan Tông đồ và là bạn của thánh Ignatiô ở Antioch, thánh Pôlycarpô, Giám mục của Smyrna (bây giờ là Izmir, Thổ Nhĩ Kỳ), là một vị lãnh đạo đáng kính của Kitô giáo trong tiền bán thế kỷ thứ hai.

Các vị lãnh đạo Giáo hội thuộc thế hệ thứ hai đã gặp những thử thách mà thế hệ trước không đề cập đến. Họ phải làm gì khi thế hệ chứng nhân thứ nhất ấy không còn nữa? Lời dạy dỗ xác thực của Chúa Giêsu phải truyền lại như thế nào? Phải trả lời thế nào với các câu hỏi chưa từng có?

Khi các Tông đồ không còn ở trần gian nữa, các lạc thuyết bắt đầu xuất hiện ngụy trang chính giáo, sự bách hại lại mạnh mẽ và bắt đầu xuất hiện các tranh chấp về vấn đề phụng vụ mà Ðức Giêsu không bao giờ nói đến.

Pôlycarpô, một người thánh thiện và là Giám mục của Smyrna, chỉ thấy có một câu trả lời – Trung thành với đời sống Ðức Giêsu và bắt chước đời sống ấy. Thánh Ignatiô nói với thánh Pôlycarpô “linh đạo của anh đặt nền móng nơi Thiên Chúa như trên một tảng đá không thể nào lay chuyển nổi.”

Khi đối diện với lạc giáo, thánh Pôlycarpô có “bộ mặt bộc trực” đến nỗi thánh Ignatiô phải thán phục, vì ngài đã bắt chước cách Ðức Giêsu trả lời người Pharisêu. Marcion, người lãnh đạo lạc thuyết nhị nguyên, chủ trương có hai Chúa. Một Chúa trong Cựu ước thì khác với Chúa của Tân ước, và Ðức Giêsu là Con của Thiên Chúa trong Tân ước. Khi Marcion đối chất với Ðức Giám mục Pôlycarpô, ông ta đã yêu cầu ngài: “Pôlycarpô, hãy thừa nhận chúng tôi.” Ðức Pôlycarpô trả lời, “Tôi thừa nhận ngài, phải, tôi thừa nhận ngài là đứa con của Satan.”

Trái lại khi đối diện với các bất đồng giữa các người Kitô hữu, ngài lại rất khoan dung và tôn trọng. Một trong những tương tranh thời ấy là việc cử hành lễ Phục sinh. Ðông phương, là xuất xứ của thánh Pôlycarpô, cử hành mầu nhiệm Vượt Qua như sự Thương khó của Ðức Kitô và tiếp theo sau bằng một Thánh lễ vào ngày kế tiếp. Tây phương cử hành lễ Phục sinh vào ngày chúa nhật sau tuần lễ Vượt Qua. Khi thánh Pôlycarpô đến Rôma để thảo luận về vấn đề này với Ðức Giáo Hoàng Anicetus, họ bất đồng ý kiến. Nhưng các ngài cũng không thấy sự khác biệt trong đức tin Kitô giáo. Và Ðức Thánh Cha Anicetus đã yêu cầu thánh Pôlycarpô cử hành Thánh lễ ngay trong nhà nguyện của Ðức Giáo Hoàng, để tỏ ý tôn trọng ngài.

Thánh Pôlycarpô đối diện với sự bách hại cũng như Ðức Kitô đã làm. Chính giáo đoàn của ngài phải thán phục ngài vì đã theo sát “gương phúc âm” – không tìm cách để tử đạo như một số người đã làm, nhưng trốn tránh sự bách hại cho đến khi thánh ý Chúa được thể hiện như Ðức Giê-su Kitô đã làm. Họ coi đó là “một dấu chỉ tình yêu nói lên sự khao khát không muốn chỉ cứu chuộc có một mình, nhưng còn cứu chuộc tất cả anh chị em Kitô Hữu.”

Trong thời kỳ đẫm máu tử đạo Kitô hữu trong đấu trường, dân chúng trở nên điên cuồng đòi hỏi phải tìm bắt thánh Pôlycarpô, vì ngài nổi tiếng thánh thiện. Thánh Pôlycarpô thật điềm tĩnh nhưng giáo dân thúc giục ngài đi trốn trong một nông trại gần thành phố. Quân lính tìm ra ngài sau khi tra khảo hai đứa bé. Ngài thiết đãi họ ăn và xin họ để ngài cầu nguyện trước khi điệu về đấu trường.

Thấy đức tin vững vàng không lay chuyển của thánh Pôlycarpô, quan thống đốc ra lệnh thiêu sống, và khi quân lính châm lửa, nhiều người chứng kể lại họ được nhìn thấy một phép lạ. Lửa cháy thành một vòng cung chung quanh thánh nhân, bao bọc ngài như các cánh buồm, và thay vì bị đốt cháy, ngài lại rực sáng như vàng đang chảy trong lò lửa. Khi quân lính thấy ngài không hề hấn gì, chúng đã lấy dao đâm ngài. Máu ngài chảy ra đã dập tắt ngọn lửa.

Quan thống đốc ra lệnh đốt xác thánh nhân mà không để giáo dân lấy xác, vì ông sợ họ sẽ thờ thánh Pôlycarpô mà không thờ tà thần của người Rôma. “Chứng từ” tử đạo của thánh Pôlycarpô là chứng từ được ghi nhận một cách xác thực về sự tử đạo của người tín hữu Kitô ngay từ thuở ban đầu. Ngài chết vào khoảng năm 156.

Trong nhiều lá thư của thánh Pôlycarpô, chỉ còn một lá ngài viết cho Giáo hội Philippi, Macedonia là còn giữ được cho đến ngày nay.

Lời bàn

Thánh Pôlycarpô được công nhận là vị lãnh đạo Kitô giáo bởi tất cả các Kitô hữu thuộc Giáo hội Tiểu Á – Một thành trì đức tin

vững mạnh và trung thành với Ðức Giêsu Kitô. Sức mạnh của ngài là bởi tín thác vào Thiên Chúa, ngay cả khi các biến động của đời sống mâu thuẫn với sự tin tưởng này. Sống giữa những người ngoại giáo và dưới chế độ đàn áp một tôn giáo mới, ngài đã chăn dẫn đàn chiên của ngài. Cũng như vị Mục tử tốt lành, ngài đã hy sinh mạng sống vì đàn chiên và gìn giữ họ khỏi bị bách hại thêm nữa. Sự tín thác vào Thiên Chúa của ngài được tóm lược trong câu nói trước khi chết: “Lạy Chúa Cha… Con ca tụng Ngài, vì đã giúp con xứng đáng cho đến ngày giờ này…” (Sổ Tử đạo, chương 14).


Lời trích

“Hãy vững vàng trong cách ăn ở và noi gương Chúa, ‘trung kiên trong đức tin, yêu thương anh chị em, đoàn kết trong chân lý,’ giúp đỡ lẫn nhau với sự dịu dàng của Chúa, đừng khinh miệt một ai” (Thánh Pôlycarpô, Thư gửi tín hữu Philippi).

Lm. Đaminh Phạm Xuân Uyển SDB

 

 

 

 

 

 

Thứ Tư


Lời Chúa


Bài Ðọc I: Gn 3, 1-10

"Dân thành Ninivê đã bỏ đàng tội lỗi".

Trích sách Tiên tri Giona.

Lời Chúa phán cùng Giona rằng: "Hãy chỗi dậy và đi đến Ninivê, một thành phố lớn, và rao giảng cho nó điều Ta sẽ nói cho ngươi". Giona chỗi dậy và đi đến Ninivê theo lời Chúa dạy. Ninivê là một thành phố lớn, rộng bằng ba ngày đàng. Giona tiến vào thành phố, đi một ngày đàng, rồi rao giảng rằng: "Còn bốn mươi ngày nữa, Ninivê sẽ bị phá huỷ". Dân thành tin tưởng nơi Chúa; họ công bố việc ăn chay và mặc áo nhặm, từ người lớn đến trẻ nhỏ.

Vua thành Ninivê nghe điều đó, liền bỏ ngai vàng, cởi áo cẩm bào, mặc áo nhặm và ngồi trên đống tro. Trong thành Ninivê, người ta rao sắc lệnh sau đây của nhà vua và các vương hầu: "Người, vật, bò, chiên, không được nếm, không được ăn uống gì hết; người và vật phải mặc áo nhặm, phải kêu to lên cùng Chúa và phải cải thiện đời sống, phải bỏ đàng tội lỗi và những điều bất chính đã phạm. Biết đâu Chúa sẽ đổi ý thứ tha, nguôi giận và chúng ta khỏi chết?" Chúa thấy việc họ làm, vì họ bỏ đời sống xấu xa, Chúa đổi ý định phạt họ, và Người không thực hiện điều đó.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 50, 3-4. 12-13. 18-19

Ðáp: Lạy Chúa, xin đừng chê tấm lòng tan nát, khiêm cung (c. 19).

Xướng: 1) Lạy Chúa, nguyện thương con theo lòng nhân hậu Chúa, xoá tội con theo lượng cả đức từ bi. Xin rửa con tuyệt gốc lỗi lầm, và tẩy con sạch lâng tội ác. - Ðáp.

2) Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch, và canh tân tinh thần cương nghị trong người con. Xin đừng loại con khỏi thiên nhan Chúa, chớ thu hồi Thánh Thần Chúa ra khỏi con. - Ðáp.

3) Bởi vì Chúa chẳng ưa gì sinh lễ, nếu con dâng lễ toàn thiêu, Chúa sẽ không ưng. Của lễ con dâng, lạy Chúa, là tâm hồn tan nát, lạy Chúa, xin đừng chê tấm lòng tan nát, khiêm cung. - Ðáp.

 

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ga 8, 12b

Chúa phán: "Ta là sự sáng thế gian. Ai theo Ta, sẽ được ánh sáng ban sự sống".

Phúc Âm: Lc 11, 29-32

"Không ban cho dòng giống này điềm lạ nào ngoài điềm lạ của tiên tri Giona".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, thấy dân chúng từng đoàn lũ tụ tập lại, Chúa Giêsu phán rằng: "Dòng giống này là dòng giống gian ác. Chúng đòi điềm lạ, nhưng sẽ không ban cho chúng điềm lạ nào, ngoài điềm lạ của tiên tri Giona. Vì Giona đã nên điềm lạ cho dân thành Ninivê thế nào, thì Con Người cũng sẽ là điềm lạ cho dòng giống này như vậy. Ðến ngày phán xét, nữ hoàng phương nam sẽ đứng lên tố cáo và lên án dòng giống này, vì bà đã từ tận cùng trái đất mà đến nghe sự khôn ngoan của Salomon. Nhưng ở đây còn có người hơn Salomon. Dân thành Ninivê cũng sẽ đứng lên tố cáo và lên án dòng giống này, vì họ đã sám hối theo lời Giona giảng, nhưng ở đây còn có người hơn Giona nữa".

Ðó là lời Chúa.

 



Suy niệm

 


 Sự Sống dấu lạ    


Hôm nay, Thứ Tư trong Tuần 1 Mùa Chay, đề tài cho chung Mùa Chay, bao gồm cả Tuần Thánh, là "Tôi tự ý bỏ sự sống mình đi để rồi lấy nó lại" (Gioan 10:17), được phản ảnh nơi "điềm lạ về tiên tri Giona" trong bài Phúc Âm trong ngày này.

Thật vậy, "điềm lạ về tiên tri Giona" được Chúa Giêsu nói đến khi Người "thấy dân chúng từng đoàn lũ tụ tập lại" đây ám chỉ cuộc Vượt Qua của Người, một cuộc "vượt qua từ sự chết mà vào sự sống" (Gioan 5:24), từ tử giá đến phục sinh cho phần rỗi các linh hồn. Chính Chúa Giêsu cũng đã công nhận "điềm lạ về tiên tri Giona" này ám chỉ về Người trong Bài Phúc Âm hôm nay như sau:

"Dòng giống này là dòng giống gian ác. Chúng đòi điềm lạ, nhưng sẽ không ban cho chúng điềm lạ nào, ngoài điềm lạ của tiên tri Giona. Vì Giona đã nên điềm lạ cho dân thành Ninivê thế nào, thì Con Người cũng sẽ là điềm lạ cho dòng giống này như vậy. Ðến ngày phán xét, nữ hoàng phương nam sẽ đứng lên tố cáo và lên án dòng giống này, vì bà đã từ tận cùng trái đất mà đến nghe sự khôn ngoan của Salomon. Nhưng ở đây còn có người hơn Salomon. Dân thành Ninivê cũng sẽ đứng lên tố cáo và lên án dòng giống này, vì họ đã sám hối theo lời Giona giảng, nhưng ở đây còn có người hơn Giona nữa".

Và Bài Đọc 1 được trích từ chính Sách Tiên Tri Giona đã thuật lại "điềm lạ về tiên tri Giona" thứ tự như thế này. 

Trước hết, vị tiên tri đây được lệnh Thiên Chúa sai đến Thành Ninivê để rao giảng thống hối cho thành này"Hãy chỗi dậy và đi đến Ninivê, một thành phố lớn, và rao giảng cho nó điều Ta sẽ nói cho ngươi". Vậy điều vị tiên tri này được Thiên Chúa bảo "sẽ nói cho người biết" đây là gì, xin đọc tiếp...

Sau nữa, vị tiên tri này đã làm theo đúng như lệnh truyền của Thiên Chúa: "Giona chỗi dậy và đi đến Ninivê theo lời Chúa dạy. Ninivê là một thành phố lớn, rộng bằng ba ngày đàng. Giona tiến vào thành phố, đi một ngày đàng, rồi rao giảng rằng: 'Còn bốn mươi ngày nữa, Ninivê sẽ bị phá hủy'". 

Đó, điều vị tiên tri này được Thiên Chúa bảo đó là cảnh báo cho dân thành này về hình phạt họ sẽ phải chịu trong vòng 40 ngày nữa nếu họ không biết ăn năn thống hối? Vậy trước lời cảnh báo nghiêm trọng đầy nguy biến ấy họ có đáp ứng hay chăng? Xin hãy theo dõi tiếp...

Sau hết, toàn thể thành Ninive, từ vua tới dân đều mau mắn tích cực đáp ứng một cách chân thành không thể nào ngờ được lại có thể xẩy ra như thế nơi thành phần dân ngoại, ở chỗ, họ chẳng hề biết đến vị tiên tri này là ai, có đáng tin hay chăng, trong khi đó vấn đề từ bỏ con đường tội lỗi rất ư là khó khăn, đâu phải là chuyện dễ, một sớm một chiều, hay overnight là xong, nhất là hiện tượng từ bỏ tội lỗi một cách tập thể và đồng lòng với nhau như họ đã thực hiện, lại càng không thể nào xẩy ra được như chuyện lạ bốn phương, không tin cũng phải tin, một chuyện hoàn toàn thần tiên đã thật sự xẩy ra theo trình thuật của Bài Đọc 1 hôm nay:

"Vua thành Ninivê nghe điều đó, liền bỏ ngai vàng, cởi áo cẩm bào, mặc áo nhặm và ngồi trên đống tro. Trong thành Ninivê, người ta rao sắc lệnh sau đây của nhà vua và các vương hầu: 'Người, vật, bò, chiên, không được nếm, không được ăn uống gì hết; người và vật phải mặc áo nhặm, phải kêu to lên cùng Chúa và phải cải thiện đời sống, phải bỏ đàng tội lỗi và những điều bất chính đã phạm. Biết đâu Chúa sẽ đổi ý thứ tha, nguôi giận và chúng ta khỏi chết?'" 

Phải, cái lạ là ở chỗ đó, ở chỗ vị tiên tri "Giona" hoàn toàn là một con người xa lạ đối với dân thành Ninive ấy, nhưng lại "đã nên điềm lạ cho dân thành Ninivê", như chính Chúa Giêsu khẳng định trong Bài Phúc Âm hôm nayỞ chỗ, qua lời cảnh báo của vị tiên tri này, "dân thành tin tưởng nơi Chúa; họ công bố việc ăn chay và mặc áo nhặm, từ người lớn đến trẻ nhỏ", nhờ thế mà "Chúa thấy việc họ làm, vì họ bỏ đời sống xấu xa, Chúa đổi ý định phạt họ, và Người không thực hiện điều đó".

"Điềm lạ về tiên tri Giona" là ở chỗ đấy, chứ không phải ở chỗ vị tiên tri đây ban đầu bất tuân lệnh Chúa, tìm hết cách trốn tránh sứ vụ rao giảng cho dân mà ông được Thiên Chúa sai đến, nhưng ông vẫn không thể nào thoát được lưới trời lồng lộng, vẫn bị Thiên Chúa vô cùng khôn ngoan quan phòng hết mọi sự theo ý định bất biến của Ngài chặn bắt bằng một cơn bão tố, để rồi sau đó ông bị đám thủy thủy trên tầu với ông bất đắc dĩ vứt xuống biển, nơi ông bị cá mập nuốt vào bụng 3 ngày 3 đêm mới nhả ông ra trên bờ biển (xem Giona đoạn 1 và 2).

Sở dĩ trong Bài Phúc Âm hôm nay Chúa Giêsu nhắc đến Tiên Tri Giona là vì dân Do Thái nói chung và thành phần "dân chúng từng đoàn lũ tụ tập lại" chung quanh Người bấy giờ nói riêng, cứ đòi phải thấy một điềm lạ nào đó từ Người mới tin vào Người, nhưng Người đã vừa trách móc họ thiếu lòng tin lại đồng thời cũng hứa chiều lòng họ như sau: "Dòng giống này là dòng giống gian ác. Chúng đòi điềm lạ, nhưng sẽ không ban cho chúng điềm lạ nào, ngoài điềm lạ của tiên tri Giona". 

Điều Chúa Giêsu hứa với chung dân Do Thái qua thành phần đám đông đang ở với Người bấy giờ đó là lời hứa liên quan đến chính bản thân Người, ở chỗ, như Người đã cho họ biết rõ thêm như sau: "Vì Giona đã nên điềm lạ cho dân thành Ninivê thế nào, thì Con Người cũng sẽ là điềm lạ cho dòng giống này như vậy". 

Có nghĩa là cho dù dân thành Ninive vẫn tỏ ra ăn năn thống hối sau khi nghe lời cảnh báo của một nhân vật lạ hoắc là tiên tri Giona, không cần phải cứ thấy điềm lạ mới chịu tin như dân Do Thái, một dân tộc có một bản chất cố hữu bất khả thiếu và bất khả thay đổi của họ đó là thích điềm lạ và cái gì cũng căn cứ vào điềm lạ, hoàn toàn ngược với dân Hy Lạp thiên về lý trí và triết học, vì điềm lạ đối với dân Do Thái như là dấu chỉ thần linh, dấu chỉ thần hiển của Thiên Chúa, dấu chỉ chắc chắn nhất và bảo đảm nhất cho niềm tin tưởng siêu nhiên của họ.

Tuy nhiên, Vị Thiên Chúa hóa thân làm người còn tiếp tục hội nhập văn hóa với loài người, với từng dân tộc, để tỏ mình ra cho họ, nhờ đó giúp cho họ có thể dễ dàng tin tưởng vào Người mà được cứu độ. Bằng không, họ sẽ bị trừng phạt xứng với tội lỗi của họ bởi họ không tin tưởng vào một Đấng còn cao trọng hơn cả Giona nữa, như Người cảnh báo họ trong Bài Phúc Âm hôm nay: "Dân thành Ninivê cũng sẽ đứng lên tố cáo và lên án dòng giống này, vì họ đã sám hối theo lời Giona giảng, nhưng ở đây còn có người hơn Giona nữa". Dân Thành Ninive "tố cáo và lên án dòng giống" Do Thái là dân của Chúa ở chỗ họ là dân ngoại mà tin vào vị tiên tri Do Thái và đáp ứng lời đe dọa của Chúa qua vị này trong việc hết lòng và hết mình ăn năn thống hối, trong khi dân Do Thái lại không lắng nghe và đáp ứng chính Đấng Thiên Sai của họ.

Đúng thế, "Giona đã nên điềm lạ cho dân thành Ninivê thế nào, thì Con Người cũng sẽ là điềm lạ cho dòng giống này như vậy". Ở chỗ nào? Ở chỗ, cho dù họ không chịu tin vào Người cho đến khi thấy được một điềm lạ nào đó từ Người, mà Người vẫn có thể làm cho họ tin vào Người, khi chính Người trở nên điềm lạ cho họ. 

Điềm lạ về Chúa Giêsu Kitô cho giòng dõi gian ác này đây phải chăng là như thế này: cho dù Người có thể xuống khỏi thập giá nhưng Người vẫn không làm, trái lại, "tuy là con, nhưng Người đã biết tuân phục nơi những gì phải chịu để khi hoàn thành Người trở nên căn nguyên cứu độ cho tất cả những ai tín phục Người" (Do Thái 5:8-9).

Bởi vì, theo Người, chỉ còn một cách duy nhất đó thôi mới chứng thực Người là Đấng Thiên Sai của dân Do Thái, Đấng được Cha là Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ sai đến để giải thoát họ, không phải khỏi quyền lực chính trị mà khỏi quyền lực tội lỗi và sự chết. Đó là lý do Người đã khẳng định về bản thân Người là điềm lạ cho dân của Người như sau: "Khi nào quí vị treo Con Người lên, quí vị sẽ nhận ra Tôi là ai và biết rằng Tôi không tự ý làm gì hết" (Gioan 8:28). Kitô hữu nào chấp nhận "điềm lạ Giona" nơi Chúa Kitô thì như Chúa Kitô, họ cũng sẽ trở thành "điềm lạ" cho những ai chưa nhận biết Người, bằng các chứng từ thần linh siêu việt của họ, vượt trên bản tính tự nhiên thấp hèn, nhất là đối với thành phần tha nhân xúc phạm đến họ mà họ vẫn tha thứ và yêu thương, như Chúa Kitô truyền dạy và làm gương.

Nếu lời giảng tiên khởi của Chúa Giêsu khi Người mới bắt đầu xuất thân tỏ mình ra là "Triều đại Thiên Chúa đã đến. Hãy hoán cải và tin vào phúc âm" (Marco 1:15), thì việc Chúa Giêsu tỏ mình ra cho dân Do Thái như là "Triều đại Thiên Chúa đã đến", đến như một điềm lạ trên thập tự giá, nhờ đó họ "hoán cải và tin vào Người", hay tin vào Người mà hoán cải cũng thế. 

Bởi vậy, tác dụng đầu tiên của việc tỏ mình ra của Chúa Kitô cho dân Do Thái như một điềm lạ đó là làm cho họ thống hối ăn năn như dân Thánh Ninive về tội lỗi của họ bằng tất cả tâm hồn của họ. Và việc tỏ mình ra của Chúa Kitô như một điềm lạ trên thập tự giá là tác động Người "tự bỏ sự sống mình đi" nhưng Người đã "lấy nó lại" ở chỗ đã làm cho sự sống đó phát sinh nơi những ai "tín phục" Người, như tâm tình của Bài Đáp Ca sau đây bày tỏ:

1) Lạy Chúa, nguyện thương con theo lòng nhân hậu Chúa, xoá tội con theo lượng cả đức từ bi. Xin rửa con tuyệt gốc lỗi lầm, và tẩy con sạch lâng tội ác. 

2) Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch, và canh tân tinh thần cương nghị trong người con. Xin đừng loại con khỏi thiên nhan Chúa, chớ thu hồi Thánh Thần Chúa ra khỏi con. 

3) Bởi vì Chúa chẳng ưa gì sinh lễ, nếu con dâng lễ toàn thiêu, Chúa sẽ không ưng. Của lễ con dâng, lạy Chúa, là tâm hồn tan nát, lạy Chúa, xin đừng chê tấm lòng tan nát, khiêm cung. 

 



Thứ Năm


Lời Chúa


Bài Ðọc I: Et 14, 1. 3-5. 12-14

"Lạy Chúa, con không có sự trợ giúp nào khác ngoài Chúa".

Trích sách Esther.

Trong những ngày ấy, nữ hoàng Esther kinh hoàng vì lâm nguy, nên tìm nương tựa nơi Chúa. Bà nài xin Chúa là Thiên Chúa Israel rằng: "Lạy Chúa con, chỉ mình Chúa là Vua chúng con, xin cứu giúp con đang sống cô độc, ngoài Chúa không có ai khác giúp đỡ con. Con đang lâm cơn nguy biến. Lạy Chúa, con nghe cha con nói rằng Chúa ưu đãi Israel hơn mọi dân tộc, ưu đãi cha ông chúng con hơn bậc tiền bối của các ngài, đã nhận các ngài làm phần cơ nghiệp muôn đời và đã thực thi lời hứa với các ngài.

"Lạy Chúa, xin hãy nhớ (đến chúng con) và hãy tỏ mình ra cho chúng con trong cơn gian truân của chúng con. Lạy Chúa là Vua các thần minh và mọi bậc quyền bính, xin ban cho con lòng tin tưởng. Xin đặt trong miệng con những lời khôn khéo trước mặt sư tử, xin Chúa đổi lòng sư tử để nó ghét kẻ thù của chúng con, để kẻ thù ấy và những ai đồng loã với hắn sẽ phải chết. Nhưng phần chúng con, thì xin Chúa ra tay giải thoát chúng con và phù trợ con, vì lạy Chúa, ngoài Chúa là Ðấng thông suốt mọi sự, không ai giúp đỡ con".

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 137, 1-2a. 2bc-3. 7c-8

Ðáp: Lạy Chúa, khi con kêu cầu, Chúa đã nhậm lời con (c. 3a).

Xướng: 1) Lạy Chúa, con sẽ ca tụng Chúa hết lòng, vì Chúa đã nghe lời miệng con xin; trước mặt các Thiên Thần, con đàn ca mừng Chúa, con sấp mình thờ lạy bên thánh điện Ngài. - Ðáp.

2) Và con sẽ ca tụng uy danh Chúa, vì lòng nhân hậu và trung thành của Chúa. Khi con kêu cầu, Chúa đã nhậm lời con, Chúa đã ban cho tâm hồn con nhiều sức mạnh. - Ðáp.

3) Tay hữu Chúa khiến con được sống an lành. Chúa sẽ hoàn tất cho con những điều đã khởi sự, lạy Chúa, lòng nhân hậu Chúa tồn tại muôn đời, xin đừng bỏ rơi công cuộc tay Chúa. - Ðáp.

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ga 11, 25a và 26

Chúa phán: "Ta là sự sống lại và là sự sống; ai tin Ta, sẽ không chết đời đời".

Phúc Âm: Mt 7, 7-12

"Ai xin thì sẽ nhận được".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ gặp, hãy gõ cửa thì sẽ mở cho. Vì bất cứ ai xin thì sẽ nhận được, ai tìm thì sẽ gặp, ai gõ cửa sẽ mở cho. Nào ai trong các con thấy con mình xin bánh, mà lại đưa cho nó hòn đá ư? Hay là nó xin con cá mà lại trao cho nó con rắn ư? Vậy nếu các con, dù là kẻ xấu, còn biết lấy của tốt mà cho con cái, thì huống chi Cha các con, Ðấng ở trên trời, sẽ ban những sự lành biết bao cho kẻ cầu khẩn Người!

"Vậy tất cả những gì các con muốn người ta làm cho mình, thì chính các con hãy làm cho người ta như thế: Ðấy là điều mà Lề luật và các tiên tri dạy".

Ðó là lời Chúa.



Suy niệm


  

Sự Sống nguyện cầu    


Ngày Thứ Năm trong Tuần 1 Mùa Chay hôm nay, cũng như các ngày khác trong Mùa Chay, dù vấn đề gì thì vấn đề, có khác nhau chăng nữa, như vấn đề bác ái, cầu nguyện và chay tịnh (thống hối) là bộ ba tu đức Mùa Chay, như bài Phúc Âm mở đầu Mùa Chay hôm Thứ Tư Lễ Tro cho thấy, và còn là các vấn đề được lập đi lập lại ở các bài Phúc Âm trong tuần thứ nhất Mùa Chay này, nhưng điểm chung vẫn là đức tin, tin vào Đấng "đã tự ý bỏ sự sống mình đi để lấy nó lại" (Gioan 10:17) cho phần rỗi của chung nhân loại và của riêng những ai tin vào Người.

Phụng vụ Lời Chúa cho Thứ Năm Tuần 1 Mùa Chay hôm nay, bao gồm cả Bài Đọc 1 lẫn Bài Phúc Âm, đều liên quan đến việc cầu nguyện, đúng hơn và sát nghĩa hơn, liên quan đến việc cầu xin. Cầu xin là một trong những tác động chính yếu của việc cầu nguyện: chúc tụng, cảm tạ, đền tạ và van xin. Cầu xin là tác động cầu nguyện liên quan đến nhu cầu của bản thân chủ thể cầu xin.

Đó là lý do Chúa Giêsu đã không nói đến vấn đề cầu nguyện, như Người đã nói tới trong Bài Phúc Âm Thứ Ba tuần này về Kinh Lạy Cha, mà là vấn đề cầu xin "cùng các môn đệ" của Người như sau: "Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ gặp, hãy gõ cửa thì sẽ mở cho". Chẳng những thế, Người còn bảo đảm về thành quả mỹ mãn của việc cầu xin nữa: "Vì bất cứ ai xin thì sẽ nhận được, ai tìm thì sẽ gặp, ai gõ cửa sẽ mở cho". 

Thậm chí Người như thể sợ chúng ta không tin vào lời cam đoan bảo đảm bất khả sai lầm và lừa dối của mình, Người đã nêu lên một chứng cớ đầy thuyết phục bất khả chối cãi theo lập luận trần gian đó là: 

"Nào ai trong các con thấy con mình xin bánh, mà lại đưa cho nó hòn đá ư? Hay là nó xin con cá mà lại trao cho nó con rắn ư? Vậy nếu các con, dù là kẻ xấu, còn biết lấy của tốt mà cho con cái, thì huống chi Cha các con, Ðấng ở trên trời, sẽ ban những sự lành biết bao cho kẻ cầu khẩn Người!"

Nghĩa là Người cố ý phấn khích lòng tin tưởng của chúng ta khi chúng ta kêu xin hay cầu xin cùng Thiên Chúa là Cha của chúng ta ở trên trời, Đấng thấu biết chúng ta còn hơn chúng ta biết mình và yêu thương chăm sóc cho chúng ta còn hơn chúng ta tự lo cho mình, nên cũng chỉ có Ngài mới biết cái gì có lợi cho chúng ta nhất, chẳng những cho chúng ta mà còn cho cả anh chị em chúng ta nữa, cho chung xã hội và Giáo Hội, Ngài sẽ ban cho chúng ta, cho dù chúng ta không xin hay không biết mà xin.

Thậm chí kể cả những lúc chúng ta cầu xin mà không được như ý, thì ở một nghĩa nào đó Thiên Chúa là Cha chúng ta ở trên trời cũng đã nhận lời chúng ta xin Ngài rồiở chỗ không ban cho chúng ta được đúng như ý chúng ta cầu xin, nhưng thay vào đó Ngài ban cho chúng ta những ơn quan trọng hơn, cần thiết hơn, quí báu hơn, miễn là làm sao mang lại lợi ích tối đa cho cả chúng ta lẫn cộng đồng của chúng ta (gia đình, hội đoàn, giáo xứ, giáo phận, quốc gia, Giáo Hội, thế giới).

Phải chăng đó là lý do, kèm theo lời hứa: "bất cứ ai xin thì sẽ nhận được, ai tìm thì sẽ gặp, ai gõ cửa sẽ mở cho", Chúa Giêsu còn nhắc nhở cho thành phần cầu xin cùng Thiên Chúa rằng Thiên Chúa là Cha phải biết lo cho con cái của mình những gì có lợi cho chúng chứ không phải cho chúng những cái tai hại, cho dù chúng có xin mình: "nếu các con, dù là kẻ xấu, còn biết lấy của tốt mà cho con cái, thì huống chi Cha các con, Ðấng ở trên trời, sẽ ban những sự lành biết bao cho kẻ cầu khẩn Người!".

Bởi thế, mỗi lần chúng ta cầu xin cùng Thiên Chúa là Cha chúng ta ở trên trời mà không được như ý thì chúng ta đừng cho rằng lời Chúa Giêsu phán "Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ gặp, hãy gõ cửa thì sẽ mở cho... Vì bất cứ ai xin thì sẽ nhận được, ai tìm thì sẽ gặp, ai gõ cửa sẽ mở cho" là lời hứa hão huyền, lừa đảo, kẻo chúng ta phải trả lẽ trước mặt Chúa về những ý nghĩ lộng ngôn phạm thượng này. 

Còn ai giầu sang phú quí và viên mãn bằng Thiên Chúa, và còn ai muốn thông mình ra, muốn ban phát bằng Ngài, đến độ Ngài đã ban cho thế gian chúng ta chỉ là loài tạo vật vô cùng thấp hèn và bất xứng chính Con Một Mình là Bản Thân của Ngài cho chúng ta thì Ngài còn tiếc gì với chúng ta nữa (xem Gioan 3:16; Roma 8:32). 

Có những lúc chúng ta chẳng xin mà cũng được Ngài tự động ban cho chúng ta những gì ngoài lòng mong muốn của chúng ta. Chẳng hạn Ngài ban ơn cứu độ cho chúng ta khi chúng ta vừa mới chào đời chưa biết gì cả, cho chúng ta được trở thành con cái Thiên Chúa vô cùng cao cả, hay tuyển chọn chúng ta làm linh mục, giám mục v.v. trong khi chúng ta chẳng có công gì và hoàn toàn bất xứng v.v., hoặc cho chúng ta tài khéo hơn người, xinh đẹp hơn người, thành đạt hơn người, dù họ cũng có tài và hoàn cảnh như chúng ta hoặc hơn chúng ta...

Nếu Thiên Chúa đã tự động ban cho chúng ta biết bao nhiêu là ơn lành mà chúng ta không xin, ngoài lòng mong ước của chúng ta, thì khi chúng ta ngỏ lời xin cùng Ngài, chẳng nhẽ Ngài lại không đáp ứng chúng ta hay sao? Nếu Ngài không ban cho chúng ta ơn chúng ta xin thì cũng chắc chắn ban cho chúng ta ơn khác thay thế, có lợi cho chúng ta hơn, cần cho chúng ta hơn, mang lại ích lợi chung nữa, theo thượng trí vô cùng khôn ngoan và lòng yêu thương nhưng không vô hạn của Ngài đối với từng người con cái của Ngài và chung con cái của Ngài

Chưa hết, ngoài niềm tin là điều kiện bất khả thiếu để xin gì được nấy, ở cuối bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu còn nhắc đến một điều kiện nữa, không kém phần quan trọng và bất khả tách rời với đức tin đó là bác ái yêu thương, nghĩa là "tất cả những gì các con muốn người ta làm cho mình, thì chính các con hãy làm cho người ta như thế: Ðấy là điều mà Lề luật và các tiên tri dạy".

Qua câu nhắc nhở này, Chúa Giêsu dường như muốn bảo chúng ta rằng chúng ta mong muốn Cha trên trời đáp ứng những gì chúng ta cầu xin thế nào thì chúng ta cũng cần phải đáp ứng nhu cầu cần thiết của anh chị em chúng ta như vậy, hay còn có nghĩa là chúng ta nhận được những gì Thiên Chúa ban chúng ta cũng phải mang ra san sẻ với những người khác như thế, nhất là những anh chị em thiếu thốn khốn khổ hơn chúng ta về bất cứ phương diện nào trong đời sống mà chúng ta gặp thấy, hay được Chúa quan phòng gửi đến cho chúng ta.

Trong Bài Đọc 1 hôm nay, được trích từ Sách Esther, chúng ta thấy hội tụ đầy đủ hai yếu tố tin tưởng và bác ái nơi lời cầu xin của hoàng hậu Esther người Do Thái trong cuộc khủng hoảng của dân tộc bà nơi chốn lưu đầy ở chỗ họ sắp sửa bị tru diệt bởi quyền lực ngoại bang mà chỉ còn duy có một mình bà là người duy nhất có thể cứu vãn tình thế. Đức tin của hoàng hậu Esther được bày tỏ trong lời cầu xin của bà như sau:

"Trong những ngày ấy, nữ hoàng Esther kinh hoàng vì lâm nguy, nên tìm nương tựa nơi Chúa. Bà nài xin Chúa là Thiên Chúa Israel rằng: 'Lạy Chúa con, chỉ mình Chúa là Vua chúng con, xin cứu giúp con đang sống cô độc, ngoài Chúa không có ai khác giúp đỡ con. Con đang lâm cơn nguy biến. Lạy Chúa, con nghe cha con nói rằng Chúa ưu đãi Israel hơn mọi dân tộc, ưu đãi cha ông chúng con hơn bậc tiền bối của các ngài, đã nhận các ngài làm phần cơ nghiệp muôn đời và đã thực thi lời hứa với các ngài".

Bà cầu xin không phải cho riêng bản thân bà cho bằng cho chung dân tộc của bà đang lầm cơn nguy biến hết sức kinh hoàng và khủng khiếp nơi đất khách quê người:

"Lạy Chúa, xin hãy nhớ (đến chúng con) và hãy tỏ mình ra cho chúng con trong cơn gian truân của chúng con. Lạy Chúa là Vua các thần minh và mọi bậc quyền bính, xin ban cho con lòng tin tưởng. Xin đặt trong miệng con những lời khôn khéo trước mặt sư tử, xin Chúa đổi lòng sư tử để nó ghét kẻ thù của chúng con, để kẻ thù ấy và những ai đồng loã với hắn sẽ phải chết. Nhưng phần chúng con, thì xin Chúa ra tay giải thoát chúng con và phù trợ con, vì lạy Chúa, ngoài Chúa là Ðấng thông suốt mọi sự, không ai giúp đỡ con".

Thành quả của lời hoàng hậu Esther cầu xin với đầy đủ hai yếu tố chính yếu là đức tin và bác ái này đã được Thiên Chúa hoàn toàn đáp ứng, ở chỗ dân tộc của bà đã thoát nạn. Bài Đáp Ca hôm nay chất chứa tâm tình tri ân cảm tạ Thiên Chúa là Đấng luôn để ý đến con cái mình và đáp ứng nhu cầu của chúng khi chúng cầu xin cùng Ngài bằng tất cả lòng tin tưởng đầy yêu thương như Ngài mong muốn:

1) Lạy Chúa, con sẽ ca tụng Chúa hết lòng, vì Chúa đã nghe lời miệng con xin; trước mặt các Thiên Thần, con đàn ca mừng Chúa, con sấp mình thờ lạy bên thánh điện Ngài. 

2) Và con sẽ ca tụng uy danh Chúa, vì lòng nhân hậu và trung thành của Chúa. Khi con kêu cầu, Chúa đã nhậm lời con, Chúa đã ban cho tâm hồn con nhiều sức mạnh. 

3) Tay hữu Chúa khiến con được sống an lành. Chúa sẽ hoàn tất cho con những điều đã khởi sự, lạy Chúa, lòng nhân hậu Chúa tồn tại muôn đời, xin đừng bỏ rơi công cuộc tay Chúa.


 

Thứ Sáu


Lời Chúa


Bài Ðọc I: Ed 18, 21-28

"Có phải Ta muốn kẻ gian ác phải chết, chớ không muốn nó bỏ đàng tội lỗi và được sống ư?"

Trích sách Tiên tri Êdêkiel.

Ðây Chúa là Thiên Chúa phán: "Nếu kẻ gian ác ăn năn sám hối mọi tội nó đã phạm, tuân giữ mọi giới răn của Ta, và thực thi công bình chính trực, nó sẽ sống chớ không phải chết. Ta sẽ không nhớ lại mọi tội ác nó đã phạm: nó sẽ sống nhờ việc công chính mà nó đã thực hành! Chúa là Thiên Chúa phán: "Có phải Ta muốn kẻ gian ác phải chết, chớ không muốn nó bỏ đàng tội lỗi và được sống ư?

Còn nếu kẻ công chính bỏ đàng công chính, và phạm tội ác cách ghê tởm như người gian ác quen phạm, có phải nó được sống ư? Chẳng ai còn nhớ đến mọi việc công chính nó đã thực hiện, vì sự bất trung nó đã làm và tội lỗi nó đã phạm, nó sẽ phải chết.

Các ngươi nói rằng: "Ðường lối của Chúa không chính trực". Vậy hỡi nhà Israel, hãy nghe đây: Có phải đường lối của Ta không chính trực ư? Hay trái lại đường lối của các ngươi không chính trực? Khi người công chính từ bỏ lẽ công chính và phạm tội ác, nó phải chết, chính vì tội ác nó phạm mà nó phải chết. Nếu kẻ gian ác bỏ đàng gian ác nó đã đi, và thực thi công bình chính trực, nó sẽ được sống. Nếu nó suy nghĩ và từ bỏ mọi tội ác nó đã phạm, nó sẽ sống chớ không phải chết".

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 129, 1-2. 3-4ab. 4c-6. 7-8

Ðáp: Nếu Chúa con nhớ hoài sự lỗi, lạy Chúa, nào ai chịu nổi được ư? (c. 3)

Xướng: 1) Từ vực sâu, lạy Chúa, con kêu lên Chúa. Lạy Chúa, xin nghe tiếng con cầu; dám xin Chúa hãy lắng tai, hầu nghe thấu tiếng van nài của con. - Ðáp.

2) Nếu Chúa con nhớ hoài sự lỗi, lạy Chúa, nào ai chịu nổi được ư? Nhưng Chúa thường rộng lượng thứ tha, để cho thiên hạ tôn thờ kính yêu. - Ðáp.

3) Tôi hy vọng rất nhiều vào Chúa, linh hồn tôi trông cậy ở lời Ngài. Linh hồn tôi mong đợi Chúa tôi, hơn người lính gác mong trời rạng đông. - Ðáp.

4) Hơn lính gác mong hừng đông dậy, Israel đang mong đợi Chúa tôi: Bởi vì Chúa rộng lượng từ bi, và Chúa rất giàu ơn cứu độ. Và chính Ngài sẽ giải thoát Israelcho khỏi mọi điều gian ác. - Ðáp.

 

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ga 11, 25a và 26

Chúa phán: "Ta là sự sống lại và là sự sống; ai tin Ta, sẽ không chết đời đời".

Phúc Âm: Mt 5, 20-26

"Hãy đi làm hoà với người anh em ngươi trước đã".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Nếu các con không công chính hơn các luật sĩ và biệt phái, thì các con chẳng được vào Nước Trời đâu. Các con đã nghe dạy người xưa rằng: Không được giết người. Ai giết người, sẽ bị luận phạt nơi toà án. Còn Ta, Ta bảo các con: Bất cứ ai phẫn nộ với anh em mình, thì sẽ bị toà án luận phạt. Ai bảo anh em là "ngốc", thì bị phạt trước công nghị. Ai rủa anh em là "khùng", thì sẽ bị vạ lửa địa ngục. Nếu con đang dâng của lễ nơi bàn thờ mà sực nhớ người anh em đang có điều bất bình với con, thì con hãy để của lễ lại trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em con trước đã, rồi hãy trở lại dâng của lễ. Hãy liệu làm hoà với kẻ thù ngay lúc còn đi dọc đường với nó, kẻo kẻ thù sẽ đưa con ra trước mặt quan toà, quan toà lại trao con cho tên lính canh và con sẽ bị tống ngục. Ta bảo thật cho con biết: Con sẽ không thoát khỏi nơi ấy cho đến khi trả hết đồng bạc cuối cùng!"

Ðó là lời Chúa.

 


Suy niệm


Sự Sống hòa giải   


Hôm nay, Thứ Sáu trong Tuần 1 Mùa Chay, vấn đề chính yếu của Phụng Vụ Lời Chúa cho ngày này đó là vấn đề hòa giải, hòa giải với nhau giữa loài người, (nội dung của Bài Phúc Âm), và hòa giải với Thiên Chúa, (nội dung của Bài Đọc 1), một vấn đề hòa giải vẫn phản ảnh chủ đề chung cho Mùa Chay về một Chúa Kitô "đã tự ý bỏ sự sống mình đi để lấy nó lại" (Gioan 10:17) để mang lại sự hòa giải giữa con người với Thiên Chúa và với nhau.

Trước hết, trong Bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ của Người là thành phần mà Người muốn họ phải "công chính hơn các luật sĩ và biệt phái" thực hiện một hành động hòa giải thật là khó khăn, hoàn toàn trái với tự nhiên và đầy tính cách nhu nhược theo lập luận loài người, như sau: 

"Nếu con đang dâng của lễ nơi bàn thờ mà sực nhớ người anh em đang có điều bất bình với con, thì con hãy để của lễ lại trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em con trước đã, rồi hãy trở lại dâng của lễ". 

Căn cứ vào lời khuyên dạy trên đây của Chúa Giêsu thì nạn nhân cần phải đi làm hòa cùng phạm nhân, chứ không phải ai có lỗi thì người ấy phải xin lỗi mới đúng, mới hợp tình hợp lý và mới hợp với phép công bình. 

Đó là ý nghĩa sống trọn lành hơn, sống không theo tự nhiên như dân ngoại, không theo lập luận bình thường của trần gian, mà Chúa Giêsu mong muốn nơi các môn đ của Người, thành phần muốn theo Người, Đấng đã tự động đến làm hòa với con người thụ tạo là thành phần đã phạm đến Cha của Người cũng như đến chính Người là Thiên Chúa của họ.

Ở đây Chúa Giêsu đề cao đức bác ái hơn là lễ vật hiến dâng trên bàn thờ, đúng hơn, Người dạy chúng ta là thành phần môn đệ sống trọn lành hơn của Người là hãy dâng lễ vật bằng cả một tấm lòng yêu thương, chứ không phải với một tấm lòng còn đầy những hận thù và ghen ghét. 

Bởi vì, có yêu thương họ mới xứng đáng dâng lễ vật lên chính Đấng đã "yêu thương thế gian đến ban Con Một của mình", đã "không dung tha cho Con Một của mình một đã phó nộp Người vì tất cả chúng ta" (Roma 8:32), và mới xứng đáng dâng lễ vật với Đấng "đã hiến mình làm giá chuộc cho nhiều người" (Mathêu 20:28), Đấng chỉ "cần lòng nhân lành hơn là lễ vật" (Mathêu 9:13).

Và hành động "hãy để của lễ lại trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em con trước đã, rồi hãy trở lại dâng của lễđây không phải là, chẳng hạn, như vào lúc mở đầu Thánh Lễ, bắt đầu phần thống hối, chúng ta thấy chúng ta đang bất mãn và bực bội với một người anh chị em nào của chúng ta, vì họ đã xúc phạm đến chúng ta một cách nào đó, vô tình hay cố ý, bằng lời nói hay việc làm v.v., thì chúng ta cần phải ra khỏi nhà thờ, lái xe về gặp họ để làm hòa với họ, để gọi là "xin lỗi" họ, đúng như lời Chúa dạy theo nghĩa đen.

Hành động "hãy để của lễ lại trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em con trước đã, rồi hãy trở lại dâng của lễđây là ở chỗ chỉ cần ngay giây phút cộng đồng phụng vụ bấy giờ đang cử hành nghi thức thống hối đầu lễ, chúng ta hãy tự động bỏ qua cho phạm nhân của chúng ta, thế là đủ, thế là xong, thế là xứng đáng tham dự Thánh Lễ, xứng đáng dâng Thánh Lễ và xứng đáng lãnh nhận Thánh Thể là bí tích yêu thương và hiệp thông

Nếu chúng ta là nạn nhân của thành phần phạm nhân của chúng ta không tự động làm hòa với họ, bằng cách tự động bỏ qua tha thứ cho họ, như chúng ta đã được Thiên Chúa giầu lòng thương xót liên lỉ thứ tha, không bao giờ cùng, chúng ta sẽ trở thành nạn nhân gấp đôi, nghĩa là chúng ta vừa là nạn nhân của họ vừa là nạn nhân của chính chúng ta nữa. Mà là nạn nhân của chính mình mới càng khổ hơn là nạn nhân của phạm nhân. Tại sao? 

Tại vì chúng ta lúc nào cũng cảm thấy nặng lòng, cũng cảm thấy sợ ma ban ngày, không dám đến gần họ, thấy bóng họ ở chỗ này thì chúng ta tránh ngay đi chỗ khác, có họ thì không có chúng ta v.v. Họ có trong hội đoàn này thì chúng ta bỏ hội đoàn đó hay không tham gia vào cùng một hội đoàn với họ. 

Họ làm được gì hay ho hoặc được khen tặng chúng ta cảm thấy ghen tương và tìm cách hạ họ xuống, vì họ là phạm nhân xấu xa của chúng ta làm sao xứng đáng như thế được v.v. Cho đến khi chúng ta thật lòng tha cho họ, chẳng cần họ phải đến xin lỗi chúng ta, và chẳng cần biết họ vô tình hay cố ý phạm đến chúng ta, bấy giờ chúng ta mới cảm thấy thật sự là nhẹ nhàng, như được giải phóng vậy.

Đó là lý do Chúa Giêsu đã khuyên chúng ta hết sức chí lý trong Bài Phúc Âm hôm nay, để nhờ đó chúng ta thoát được tình trạng trở thành nạn nhân gấp đôi, sống một cách hết sức khốn khổ, bất an, bất hạnh, chẳng khác gì như một tù nhân mất hết tự do, trong đời sống đạo, trong cuộc hành trình đức tin của mình với họ và như họ: 

"Hãy liệu làm hoà với kẻ thù ngay lúc còn đi dọc đường với nó, kẻo kẻ thù sẽ đưa con ra trước mặt quan toà, quan toà lại trao con cho tên lính canh và con sẽ bị tống ngục. Ta bảo thật cho con biết: Con sẽ không thoát khỏi nơi ấy cho đến khi trả hết đồng bạc cuối cùng!"

"Hãy liệu làm hoà với kẻ thù": Chúng ta là nạn nhân phải đi "làm hòa với kẻ thù" của chúng ta, chứ không ngược lại, nghĩa là bỏ qua tha thứ cho "kẻ thù" của mình.

"Ngay lúc còn đi dọc đường với nó": Nghĩa là, trước hết, là "lúc" chúng ta với họ còn sống, chứ đừng chờ tới khi họ chết rồi mới chịu tha thứ một cách bất đắc dĩ, và sau nữa còn là "lúc" chúng ta và họ vẫn còn liên hệ với nhau, trong một gia đình, trong một hội đoàn, trong một giáo xứ, trong một trường học, trong một văn phòng v.v. 

"Kẻo kẻ thù sẽ đưa con ra trước mặt quan toà", ở chỗ chính phạm nhân của chúng ta trở thành những gì làm cho chúng ta là nạn nhân của họ bị nhức nhối trong lương tâm, một lương tâm đóng vai "quan tòa" của chúng ta bấy giờ.

"Quan toà lại trao con cho tên lính canh và con sẽ bị tống ngục", ở chỗ nếu chúng ta không tự động bỏ qua tha thứ cho phạm nhân của chúng ta, thì "tên lính" tiêu biểu cho thái độ chấp nhấp nơi chúng ta sẽ "tống" chúng ta vào "ngục" thất hẹp hòi là chính cõi lòng vị kỷ bất vị tha của chúng ta. 

"Con sẽ không thoát khỏi nơi ấy cho đến khi trả hết đồng bạc cuối cùng!", nghĩa là cho tới khi nào chúng ta là nạn nhân tự động tha thứ cho phạm nhân của mình thì bấy giờ, và chính vào lúc bấy giờ, chúng ta mới được thật sự tự do, mới thanh thoát mà bình an vui sống vươn lên, đúng như kinh nghiệm thực tế cho thấy đúng là như vậy!

Sau nữa, trong Bài Đọc 1 hôm nay, qua miệng Tiên Tri Êzêkiên, vấn đề hòa giải với Thiên Chúa là ở chỗ con người tỏ ra hoán cải trở về với Ngài, Đấng thật ra đã hòa giải với loài người tội nhân trước, ở chỗ, đã tự động hứa ban Đấng Cứu Thế cho loài người ngay sau nguyên tội của họ (xem Khởi Nguyên 3:15), vì Thiên Chúa dựng nên con người là để họ được hạnh phúc chân thực và vĩnh viễn, chứ không bao giờ lại mong muốn họ bị hư đi hay sống một cách khốn khổ: "Có phải Ta muốn kẻ gian ác phải chết, chớ không muốn nó bỏ đàng tội lỗi và được sống ư?"

Thế nhưng, ơn cứu độ của Ngài và hạnh phúc trường sinh của Thiên Chúa chỉ giành cho những ai xứng đáng lãnh nhận mà thôi, ở chỗ, cho dù tự bản chất con người vốn yếu hèn và tội lỗi, miễn là họ biết hoán cải bằng việc từ bỏ tội lỗi và sống công chính, như dân thành Ninive trong Bài Đọc 1 hôm kia, và như chính Ngài đã minh định trong Bài Đọc 1 hôm nay:

"Nếu kẻ gian ác ăn năn sám hối mọi tội nó đã phạm, tuân giữ mọi giới răn của Ta, và thực thi công bình chính trực, nó sẽ sống chớ không phải chết. Ta sẽ không nhớ lại mọi tội ác nó đã phạm: nó sẽ sống nhờ việc công chính mà nó đã thực hành!"

Tuy nhiên, sự sống đây là sự sống thần linh, sự sống công chính, sự sống chân thật, nên không thể nào nay còn mai mất, mà phải kéo dài và tồn tại mãi mãi nơi những ai sống công chính, bằng không, họ vẫn có thể gặp nguy hiểm vì họ còn đang làm chủ sự công chính chứ không phải sự công chính làm chủ họ. Và vì sự công chính chưa làm chủ họ mà họ vẫn có thể bị chết nếu họ bất trung vì tự họ đã làm mất đi sự công chính của họ: 

"Còn nếu kẻ công chính bỏ đàng công chính, và phạm tội ác cách ghê tởm như người gian ác quen phạm, có phải nó được sống ư? Chẳng ai còn nhớ đến mọi việc công chính nó đã thực hiện, vì sự bất trung nó đã làm và tội lỗi nó đã phạm, nó sẽ phải chết".

Tuy nhiên, tự bản chất vừa mù quáng vừa yếu nhược của mình, con người không thể nào tự mình có thể nên công chính và tự mình có thể sống công chính mãi mãi đúng như ý muốn của Thiên Chúa, ngoại trừ tin tưởng cậy trông vào Chúa là Đấng duy nhất có thể cứu độ họ, là Đấng sẵn sàng tha thứ cho họ và tìm hết cách để thánh hóa họ, để tỏ mình ra cho họ, nhờ đó, nhờ nhận biết Ngài mà họ được hiệp thông thần linh với Ngài, đúng như mục đích Ngài đã tạo dựng nên họ và cứu chuộc họ.

Bởi thế mà Bài Đáp Ca hôm nay mới chất chứa những cảm thức thần linh và tâm tình gắn bó đầy cậy trông tin tưởng của con người biết mình với Vị Thiên Chúa "rộng lượng từ bi, và rất giàu ơn cứu độ": 

1) Từ vực sâu, lạy Chúa, con kêu lên Chúa. Lạy Chúa, xin nghe tiếng con cầu; dám xin Chúa hãy lắng tai, hầu nghe thấu tiếng van nài của con. 

2) Nếu Chúa con nhớ hoài sự lỗi, lạy Chúa, nào ai chịu nổi được ư? Nhưng Chúa thường rộng lượng thứ tha, để cho thiên hạ tôn thờ kính yêu. 

3) Tôi hy vọng rất nhiều vào Chúa, linh hồn tôi trông cậy ở lời Ngài. Linh hồn tôi mong đợi Chúa tôi, hơn người lính gác mong trời rạng đông. 

4) Hơn lính gác mong hừng đông dậy, Israel đang mong đợi Chúa tôi: Bởi vì Chúa rộng lượng từ bi, và Chúa rất giàu ơn cứu độ. Và chính Ngài sẽ giải thoát Israelcho khỏi mọi điều gian ác. 


Thứ Bảy


Lời Chúa


Bài Ðọc I: Ðnl 26, 16-19

"Ðể ngươi trở thành dân thánh của Chúa là Thiên Chúa ngươi".

Trích sách Ðệ Nhị Luật.

Môsê đã nói với dân chúng rằng: "Hôm nay Chúa là Thiên Chúa truyền lệnh cho ngươi phải thi hành các lề luật và các huấn lệnh này; ngươi phải tuân giữ và thực thi các điều đó hết lòng và hết tâm hồn. Hôm nay ngươi đã chọn Chúa làm Thiên Chúa, thì hãy bước đi trong đường lối Người, tuân giữ các lề luật, giới răn và huấn lệnh của Người; hãy vâng lệnh Người. Hôm nay Chúa đã chọn ngươi làm dân riêng Chúa, như Người đã phán với ngươi, thì ngươi hãy tuân giữ mọi giới răn của Người. Người sẽ làm cho ngươi được vinh quang, thanh danh và huy hoàng hơn mọi dân tộc Người đã tạo dựng, để ngươi trở thành dân thánh của Chúa là Thiên Chúa ngươi, như Người đã phán".

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 118, 1-2. 4-5. 7-8

Ðáp: Phúc cho những ai tiến thân trong Luật pháp của Chúa (x. c. 1b).

Xướng: 1) Phúc cho những ai theo đường lối tinh toàn, họ tiến thân trong Luật pháp của Chúa. Phúc cho những ai giữ lời Ngài nghiêm huấn, những người đó tận tâm kiếm tìm Ngài. - Ðáp.

2) Phần Chúa, Ngài ban bố những huấn lệnh, cốt để người ta tuân giữ hết sức âncần. Nguyện cho đường lối của con vững chắc, để tuân giữ các thánh chỉ của Ngài. - Ðáp.

3) Con ca tụng Chúa với lòng đoan chính, khi học hỏi những thánh dụ của Ngài. Thánh chỉ của Chúa, con tuân giữ, xin Chúa đừng triệt để bỏ rơi con! - Ðáp.

 

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Am 5, 14

Các ngươi hãy tìm điều lành, chớ đừng tìm điều dữ, để các ngươi được sống và Chúa sẽ ở cùng các ngươi.

Phúc Âm: Mt 5, 43-48

"Các ngươi hãy nên trọn lành như Cha các ngươi trên trời".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa phán cùng các môn đệ rằng: "Các con đã nghe dạy: Ngươi hãy yêu thân nhân, và hãy thù ghét địch thù. Còn Ta, Ta bảo các con: Hãy yêu thương thù địch và làm ơn cho những kẻ ghét các con; hãy cầu nguyện cho những ai bắt bớ và nguyền rủa các con, để như vậy các con nên con cái của Cha các con, Ðấng ngự trên trời: Người khiến mặt trời mọc lên cho người lành kẻ dữ, và cho mưa xuống trên người liêm khiết và kẻ bất lương. Vì nếu các con yêu thương những ai mến trọng các con, thì các con được công phúc gì? Các người thu thuế không làm như thế ư? Nếu các con chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì các con đâu có làm chi hơn? Những người ngoại giáo không làm thế ư? Vậy các con hãy nên hoàn hảo như Cha các con trên trời là Ðấng hoàn hảo".

Ðó là lời Chúa.


Suy niệm


   

Sự Sống trọn lành


Ngày Thứ Bảy cuối cùng của Tuần 1 Mùa Chay hôm nay vấn đề chính của chung Phụng Vụ Lời Chúa là vấn đề về thánh hóa, vấn đề nên trọn lành, một vấn đề không thể tách rời với Chúa Kitô là Đấng "đã tự ý bỏ sự sống mình đi để lấy nó lại" (Gioan 10:17), chủ đề cho chung Mùa Chay, nhờ đó "chiên (của Người) được sự sống (tái sinh) và là sự sống viên mãn hơn (trọn lành thánh thiện như Người và như Cha trên trời)" (Gioan 10:10). 

Chính Chúa Giêsu trong Bài Phúc Âm hôm nay đã kêu gọi "các môn đệ" của Người, thành phần Người đã đặc biệt nhắc bảo các vị trong bài Phúc Âm hôm qua là phải "công chính hơn các luật sĩ và biệt phái", rằng: "Các con hãy nên hoàn hảo như Cha các con trên trời là Ðấng hoàn hảo". Nhưng làm sao có thể "nên hoàn hảo như Cha", và "nên hoàn hảo như Cha" ở chỗ nào hay như thế nào?

Thật sự con người tạo vật chúng ta không thể nào và không bao giờ có thể "nên hoàn hảo như Cha", trước hết, về khả năng, vì chúng ta chỉ là loại tạo vật vô cùng bất toàn và bất lực không thể nào tự mình có thể nên giống Thiên Chúa vô cùng hoàn hảo tốt lành. 

Sau nữa, về đối tượng, con người hoàn toàn mù tịt không biết gì về Thiên Chúa, Đấng họ chỉ có thể dùng lý trí tự nhiên để nhận biết rằng Ngài thực sự hiện hữu, cùng lắm chỉ đến thế thôi, nhưng là Đấng như thế nào và ra sao liên quan đến bản tính thần linh và sự sống thần linh nơi Ngài và của Ngài như một thực tại thần linh vô cùng siêu việt thì họ không thể nào biết được, do đó họ làm sao có thể nên giống Ngài đây

Sau hết, về tư cách, con người lấy tư cách nào để dám cho rằng mình có được một mối liên hệ với Thiên Chúa, thân tình đến độ có thể hiệp nhất nên một với Ngài để nên giống như Ngài và tác hành như Ngài chứ?

Thế nhưng, ở đây, ơn gọi nên trọn lành này chỉ giành riêng cho thành phần môn đệ của Chúa Giêsu, Đấng "vì họ đã tự hiến để họ được thánh hóa trong chân lý" (Gioan 17:19), nhờ đó "để tất cả được hiệp nhất nên một như Cha ở trong Con và như Cha ở trong Con" (Gioan 17:21). 

Đúng thế, chính vì thành phần các môn đệ của Chúa Kitô, từ các vị tông đồ trở đi cho tới tận thế, đều đã được thánh hóa bởi Chúa Kitô, Đấng "đã tự ý bỏ sự sống mình đi để lấy nó lại" (Gioan 10:17), mà họ cần phải sống và buôc phải sống đúng với bản tính thần linh thánh thiện trọn hảo là những người con Thiên Chúa của họ, một bản tính thần linh họ đã được tham phần khi lãnh nhận Phép Rửa thánh tẩy tái sinh. 

Cũng nhờ Phép Rửa, Kitô hữu chẳng những được tham dự vào bản tính thần linh của Thiên Chúa và với Thiên Chúa mà còn được phú bẩm cho khả năng thần linh để nhờ đó họ có thể sống sự sống thần linh trọn lành thánh thiện như Thiên Chúa nữa, và ba khả năng thần linh được phú bẩm cho họ cùng với Thánh Sủng khi họ lãnh nhận Phép Rửa đó là ba thần đức: Tin - Cậy - Mến. 

Đức Tin là thần đức hay thần năng nhờ đó con người Kitô hữu có thể nhận biết Thiên Chúa là Đấng tỏ mình ra nơi Chúa Giêsu Kitô Con của Ngài là tất cả mạc khải thần linh của Ngài; Đức Cậy là thần đức hay thần năng nhờ đó con người Kitô hữu có thể đáp ứng tất cả mọi tác động thần linh của Thánh Thần là Đấng được ban cho họ và ở trong họ; Đức Mến là thần đức hay thần năng nhờ đó con người Kitô hữu có thể thực hiện được các tác hành thần linh "trọn lành như Cha trên trời là Đấng trọn lành".

Các tác hành thần linh "trọn lành như Cha trên trời là Đấng trọn lành" đây, ở trong đời sống của thành phần Kitô hữu môn đệ Chúa Kitô, được thể hiện qua việc họ giao tiếp và đối xử với tha nhân của họ nói chung, nhất là với riêng những ai mà bản thân họ coi là "kẻ thù" của họ. Chúa Giêsu đã khuyên dạy họ ở Bài Giảng Trên Núi trong Bài Phúc Âm hôm nay để họ có thể tỏ ra trọn lành theo bản tính thần linh thánh hảo mà họ đã được tham phần, hơn là "nên trọn lành" hay thay vì "nên trọn lành", "như Cha trên trời là Đấng trọn lành" như sau: 

"Các con đã nghe dạy: Ngươi hãy yêu thân nhân, và hãy thù ghét địch thù. Còn Ta, Ta bảo các con: Hãy yêu thương thù địch và làm ơn cho những kẻ ghét các con; hãy cầu nguyện cho những ai bắt bớ và nguyền rủa các con, để như vậy các con nên con cái của Cha các con, Ðấng ngự trên trời: Người khiến mặt trời mọc lên cho người lành kẻ dữ, và cho mưa xuống trên người liêm khiết và kẻ bất lương. Vì nếu các con yêu thương những ai mến trọng các con, thì các con được công phúc gì? Các người thu thuế không làm như thế ư? Nếu các con chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì các con đâu có làm chi hơn? Những người ngoại giáo không làm thế ư? Vậy các con hãy nên hoàn hảo như Cha các con trên trời là Ðấng hoàn hảo".

Có hai vấn đề cốt lõi trong lời khuyên dạy trọn lành này của Chúa Kitô: 1- sống trọn lành, trước hết là ở chỗ không sống theo tự nhiên, không sống như người đời, chẳng hạn không sống như "các người thu thuế" hay không sống ở tầm mức như của "những người ngoại giáo"; 2- trái lại và hơn thể nữa, sống trọn lành, trên hết, là sống theo gương mẫu của chính Cha "trên trời", Đấng ở bên trên, ở trên cao, hơn hẳn thế gian phàm tục, hơn hẳn mặt đất thấp hèn, Đấng "khiến mặt trời mọc lên cho cả người lành lẫn kẻ dữ, và cho mưa xuống trên cả người liêm khiết lẫn kẻ bất lương". 

Bài Đọc 1 hôm nay, được trích từ Sách Đệ Nhị Luật, vị trung gian Moisen đại diện Thiên Chúa trước toàn dân Do Thái cũng đã kêu gọi dân Chúa là dân được "Chúa đã chọn làm dân riêng Chúa" "để (họ) trở thành dân thánh của Chúa là Thiên Chúa (họ)", và ngược lại họ cũng "đã chọn Chúa làm Thiên Chúa" của họ mà vì thế, họ phải sống xứng đáng với tư cách là "dân thánh của Chúa", trong tư tưởng, lời nói, việc làm và phản ứng, nghĩa là họ phải làm sao để có thể tác hành như Chúa là và như Chúa muốn, những gì đã được Ngài tỏ ra qua "các lề luật và các huấn lệnh" của Ngài, những gì được vị trung gian của họ gói ghém trong Bài Đọc 1 hôm nay như thế này:

"Hôm nay Chúa là Thiên Chúa truyền lệnh cho ngươi phải thi hành các lề luật và các huấn lệnh này; ngươi phải tuân giữ và thực thi các điều đó hết lòng và hết tâm hồn. Hôm nay ngươi đã chọn Chúa làm Thiên Chúa, thì hãy bước đi trong đường lối Người, tuân giữ các lề luật, giới răn và huấn lệnh của Người; hãy vâng lệnh Người. Hôm nay Chúa đã chọn ngươi làm dân riêng Chúa, như Người đã phán với ngươi, thì ngươi hãy tuân giữ mọi giới răn của Người. Người sẽ làm cho ngươi được vinh quang, thanh danh và huy hoàng hơn mọi dân tộc Người đã tạo dựng, để ngươi trở thành dân thánh của Chúa là Thiên Chúa ngươi, như Người đã phán".

Và chỉ có những ai sống ơn gọi là dân riêng ưu tuyển của Thiên Chúa, như dân Do Thái trong Bài Đọc 1 hôm nay, cũng như ơn gọi làm con cái của "Cha trên trời", như các môn đệ của Chúa Kitô trong Bài Phúc Âm hôm nay, mới có thể cùng với Thánh Vịnh gia vang lên những cảm thức thần linh chân thực trong Bài Đáp Ca hôm nay như thế này:

1) Phúc cho những ai theo đường lối tinh toàn, họ tiến thân trong Luật pháp của Chúa. Phúc cho những ai giữ lời Ngài nghiêm huấn, những người đó tận tâm kiếm tìm Ngài. 

2) Phần Chúa, Ngài ban bố những huấn lệnh, cốt để người ta tuân giữ hết sức ân cần. Nguyện cho đường lối của con vững chắc, để tuân giữ các thánh chỉ của Ngài. 

3) Con ca tụng Chúa với lòng đoan chính, khi học hỏi những thánh dụ của Ngài. Thánh chỉ của Chúa, con tuân giữ, xin Chúa đừng triệt để bỏ rơi con! 

 

 

Thánh Grêgôriô Narekatsi - Lễ Nhớ 27/2

 

Bối Cảnh Một Đất Nước Armenia Cuối Tháng 2/2021

Armenia, về địa dư, là một quốc gia thuộc về Á Châu, sát biên giới với Âu Châu, vì sát với Thổ Nhĩ Kỳ phía tây, nhỏ hơn Thổ Nhĩ Kỳ gần 20 lần, và cùng với nước Azerbaizan phía đông, to hơn mình gấp 3 lần, nằm ngay bên dưới Nước Nga khổng lồ vĩ đại, và cũng nằm ngay giữa hai vùng biển: biển đen Black Sea phía tây bắc và Biển Caspian phía đông. Mấy hôm nay, cho tới hôm nay, Thứ Bảy 27/2/2021, đã diễn ra một biến động về chính trị càng ngày càng sôi động và căng thẳng.

Thật vậy, hôm 25/02/2021, 40 sĩ quan cao cấp của quân đội đã ký thư kêu gọi thủ tướng Armenia, Nikol Pachinian, từ chức, một hành động mà lãnh đạo chính phủ gọi là « âm mưu đảo chính quân sự». 

Bốn chục sĩ quan phẫn nộ trên dường như hy vọng 17 đảng đối lập, vốn đã từ 3 tháng nay xuống đường đòi thủ tướng Pacchinian từ chức, tập hợp đông đủ cùng với sự « ủng hộ » thêm của quân đội. Nhưng không có gì thay đổi. Họ vẫn khó thu hút người Armenia xuống đường. Tuy vậy cuộc đọ sức vẫn tiếp tục. Tối hôm qua, 26/2/2021, nhiều nhân vật chính trị đã nói chuyện với tổng tham mưu trưởng Onnik Gasparian. Ông vẫn không chịu rời khỏi chức vụ dù thủ tướng Nikol Pachinian đã yêu cầu cách chức ông.

Hàng nghìn người đã lại biểu tình vào hôm qua, 26/02/2021, tại Armenia, ngày thứ hai liên tiếp, để yêu cầu thủ tướng Nikol Pachinian từ chức. Nhân vật này bị chỉ trích vì thất bại trong cuộc chiến mùa thu năm 2020 ở vùng Thượng Karabakh.

Khủng hoảng chính trị âm ỉ kể từ sau thất bại nhục nhã vào tháng 11/2020, trước kẻ thù không đội trời chung Azerbaijan, đã bùng lên vào hôm 25/02, với việc Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Armenia yêu cầu thủ tướng Pachinian từ chức. Về phần mình, ông Pachinian đã tố cáo một âm mưu đảo chính và huy động được khoảng 20.000 người ủng hộ biểu tình ở thủ đô Erevan.

Để đối phó, phe đối lập đã tổ chức một cuộc biểu tình chống thủ tướng, với ít nhất 10.000 người, dựng rào chắn, dựng lều, chặn các đường phố xung quanh Quốc Hội và tỏ quyết tâm bám trụ cho đến khi thủ tướng từ chức. Vào hôm qua, 26/2/2021, đoàn biểu tình của đối lập đã lại tuần hành qua trung tâm thủ đô, vẫy cờ Armenia và hô to các khẩu hiệu chống chính quyền.

Lý do tại sao Armenia một thời oanh liệt lại bị thua đau và mất Thượng Karabakh về tay liên minh hai nước Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ và Azerbaijan vào Tháng 11/2020 vừa qua, đó là vì, theo các chuyên viên chính trị phân tích, các chính trị gia Armenia, cũng như nhiều nhà địa chính trị châu Âu đã tin lầm vào nước Nga, ngỡ rằng Nga vốn theo Kitô Chính Thống giáo là pháo đài cuối cùng chống Hồi giáo chính trị.

Armenia bị thua nhanh chóng tại Thượng Karabakh vì yếu hơn đối phương. Điều đó là hiển nhiên. Sau khi Liên xô tan rã, Armenia độc lập. Nhưng với một truyền thống lịch sử lâu dài trong khuôn khổ liên kết với quân đội Nga hoàng và Liên bang Xô viết, Armenia có một quân đội hùng mạnh hơn Azerbaijan. Armenia chiếm lại được Thượng Karabakh và một vùng lãnh thổ rộng lớn của láng giềng trong cuộc chiến 1994.

Thế thượng phong này chấm dứt từ năm 2003 khi Ilham Aliev lên cầm quyền Azerbaizan, ký một loạt hiệp định quân sự với Nga, phe Kitô Chính Thống giáo và Thổ Nhĩ Kỳ, phe Hồi giáo. Với dân số đông gấp ba, với ngân sánh quốc phòng cao hơn gấp bảy, với tài nguyên dầu khí dồi dào tha hồ mua vũ khí tối tân của Israel và Thổ Nhĩ Kỳ, được Nga và Thổ trợ giúp huấn luyện.

Trong khi đó, Armenia bị đục khoét vì nạn tham ô, bất ổn chính trị, dân số giảm, ngân sách quốc phòng ít ỏi. Quân đội thiếu trang bị và mất tinh thần. Nhưng không chỉ có thế.

Từ 15 năm nay, Azerbaijan chạy đua võ trang với mục tiêu rõ rệt là chiếm lại những vùng đất cho là của mình. Khác với cha là tổng thống Heydar Aliev, người thua trận vào năm 1994, tổng thống Ilham Aliev xem việc chiếm lại Thượng Karabakh là sứ mệnh cá nhân và không từ bỏ bất cứ một phương tiện nào. Căng thẳng leo thang từ hai năm nay, thế mà phía Armenia không biết sao? Còn Nga thì sao? Chẳng lẽ Armenia vẫn có thể tin cậy vào đồng minh Kitô Chính Thống giáo Nga sô của mình để nhờ đó chống lại mối đe dọa của «Thổ Nhĩ Kỳ và Hồi giáo» ư?

Thế nhưng, nước Nga của Putin cố tình để Armenia thua đậm. Theo giáo sư Olivier Roy, mọi tín hiệu cho thấy Nga biết khi nào Azerbaijan tấn công và có khả năng khuyến cáo. Thế nhưng rất có thể Nga đã đi đêm với Azerbaijan, ấn định làn ranh đỏ, không được lấn qua, biên giới còn lại thì cứ chiếm lại hết lãnh thổ, mà theo công pháp quốc tế là của Azerbaijan.

Trong khi tại Armenia đang diễn ra biến động như thế, thì ở tại Vatican, trong Đền Thờ Thánh Phêrô và ngoài Khu Vườn Vatican, lại diễn tiến một biến cố hoàn toàn ngược lại, liên quan đến một nhân vật lừng danh về cả đạo lẫn đời của dân nước Armenia, đó là Thánh Grêgôriô Narek.

Tiểu Sử

Thánh Grêgôriô ở Narek (nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ), vị thánh mang quốc tịch Armenia, tên chính theo tiếng mẹ đẻ của ngài là Grigor Narekatsi. Ngài sinh ra vào năm 951 ở Narek và chết năm 1003. Ngài là một thi sĩ kiêm thần học gia Kitô giáo, và nói chung được coi là vị đại thi sĩ đầu tiên của dân Armenia và là nhân vật chính yếu về văn chương ở xứ sở này trong thể kỷ thứ 10. Ngài nổi tiếng bởi những bài thơ có tính cách thần bí cùng với các bản thánh ca, những bản dẫn giải Thánh Kinh và các khúc bi thương linh thánh. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ngài là "Cuốn Những Nỗi Bi Thương", được coi là tác phẩm văn chương chính của dân Armenia. Chính thánh nhân đã coi tác phẩm tổng hợp 95 kinh nguyện này là một thứ "bách khoa kinh nguyện cho mọi dân nước".

Vào ngày 12/4/2015, dịp bách niên (1915-2015) tưởng nhớ biến cố dân Armenia của ngài, khoảng trên dưới 1 triệu người, bị diệt chủng bởi đế quốc Ottoman Thổ Nhĩ Kỳ, Đức Phanxicô, trong Thánh Lễ LTXC Chúa Nhật II Phục Sinh hôm ấy, Đức Thánh Cha Phanxicô đã phong thánh cho ngài ở Đền Thờ Thánh Phêrô, và đã tuyên bố thánh nhân là tiến sĩ của Hội Thánh, vị tiến sĩ hội thánh thứ 36. Ngài là vị thánh thứ 2 thuộc Giáo Hội Đông Phương, và là vị Tiến Sĩ duy nhất, "vị đã không hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo trong đời của ngài".

Nhân chuyến tông du Armenia trong thời khoảng 24-26/6/2016, trong Thánh Lễ ngày 25/6/2016 tại Quảng Trường Vartanants ở Gyumri, Đức Phanxicô ngỏ ý "muốn chú trọng hơn nữa tới" Thánh Gregory ở Narek, bằng việc tôn ngài làm tiến sĩ của Hội Thánh; và tại Quảng Trường Cộng Hòa ở Yerecan, vị giáo hoàng này gợi ý thánh nhân có thể "được cho là 'vị Tiến Sĩ Hòa Bình'". Ngày 21/2/2021, cũng Đức Phanxicô đã bao gồm vị thánh này vào lịch phụng vụ của Giáo Hội Công Giáo Roma, ở bậc lễ nhớ hằng năm ngày 27/2. Và ngay năm đầu tiên 2021 này, tại Đền Thờ Thánh Phêrô, có thánh lễ về ngài, sau đó là giờ kinh đại kết ngay tại bức tượng của ngài, bức tượng bằng đồng, cao 2 mét, ở Vườn Vatican, đã được ĐTC Phanxicô làm phép ngày 5/4/2018.

Thánh nhân thường được Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đề cập tới. Trong Thông Điệp Mẹ Đấng Cứu Chuộc Redemptoris Mater, vị giào hoàng Balan này đã gọi thánh nhân là "một trong những vinh quang nổi nhất của dân Armenia". Cũng vị giáo hoàng này đã đề cập đến thánh nhân ở các bài nói vào năm 2001 và 2002. Điển hình nhất là trong huấn từ truyền tin ngày 18/2/2001, Đức Gioan Phaolô II đã coi thánh nhân là "một trong những thi sĩ chính của Đức Mẹ" và "vị đại tiến sĩ của Giáo Hội Armenia". Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo năm 1992, ở khoản 2678, cũng đề cập đến truyền thống kinh nguyện ở các tác phẩm của ngài.

Thánh Grêgôriô được sinh ra tại một ngôi làng ở trên bở phía nam Lake Van, vương quốc Baspurakan của dân nước Armenia mà hiện nay ở phía đông Thổ Nhĩ Kỳ. Cha của ngài là Khosrov Andzevatsi, họ hàng thân thuộc với vương tộc Asrsruni, và là tác giả của cuốn dẫn giải Phụng Vụ Thánh, và thánh nhân được dưỡng dục trong một gia đình đạo hạnh. Sau cái chết của người mẹ, người cha góa vợ của ngài được tấn phong Giám Mục coi sóc giáo phận Andzevatsik.

Thánh nhân cùng với người anh của ngài là Hovhannes đã được gửi đến Narekavan, một đan viện ở Narek, nơi hai anh em ngài được giáo huấn bởi Anania Narekatsi, người cậu họ và là một học giả nổi tiếng. Thánh nhân được thụ phong linh mục vào năm 977 ở tuổi 25. sau đó đã dạy thần học ở trường của đan viện này cho tới chết. Thánh nhân được an táng ở đan viện này, và trên ngôi mộ của ngài có xây một thánh đường, nhưng cho tới thế kỷ thứ 20 thì bị thẩm quyền Thổ Nhĩ Kỳ phá hủy, rồi sau đó được thay thế bằng một Đền Thờ Hồi Giáo.

Cuốn Những Nỗi Bi Thương của thánh nhân thường được gọi vắn tắt là Cuốn Narek, được ngài sáng tác vào cuối đời của ngài, khoảng 1002-1003, được coi như một cuốn thi ca độc thoại tự thú có tính cách thần nhiệm và suy niệm, bao gồm 95 chương và trên 10 ngàn hàng chữ. Trừ 2 chương, còn tất cả đều có tiểu đề là "Những lời dâng Chúa từ Thẳm Cung Lòng Tôi". Chủ đề chính yếu về cuộc xung khắc nơi thánh nhân, giữa ước muốn nên trọn lành như Chúa Giêsu khuyên dạy, với ý thức của ngài về tất cả những gì là bất khả, giữa ân sủng thần linh và cảm quan của ngài bất xứng lãnh nhận ân sủng Chúa ban. Tuy nhiên, tình yêu và lòng thương xót của ân sủng Chúa là những gì bù đắp cho tình trạng bất xứng của con người.

Cuốn sách này được coi là một kiệt tác về văn chương linh đạo Kitô giáo, và là "tác phẩm yêu chuộng nhất của văn chương Armenia", đến độ, các vị học giả đã nhận định nó thịnh hành chỉ sau Thánh Kinh ở các gia đình dân Armenia thôi. Qua nhiều thế kỷ, dân Armenia đã trân quí tác phẩm này như là một kho tàng và đã gán cho nó có những quyền năng lạ lùng nữa. Chẳng hạn, lấy một đoạn đọc cho người bệnh để mong người bệnh được chữa lành.

Trong thế kỷ 21, bác sĩ tâm thần Armen Nersisyan đã khai triển một kiểu trị liệu độc đáo theo tác phẩm này, một loại trị liệu có thể chữa trị được nhiều chứng bệnh, ít là một phần nào. Ấn bản đầu tiên của nó được nhà xuất bản Voskan Yerevantsi ở Marseille Pháp quốc năm 1673, và cuốn dẫn giải đầu tiên được hoàn tất và ấn hành ở Contantinople năm 1745. Tác phẩm đã được dịch sang tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp và tiếng Ba Tư. Có 3 bản dịch bằng tiếng Anh, và bản dịch đầu tiên được ấn hành năm 1977.

Thánh Grêgôriô Narek còn là tác giả của những tác phẩm khác nữa. Tác phẩm chính đầu tiên của ngài là cuốn Dẫn Giải về Diễm Tình Ca một cách trong sáng và có tính cách thần học, được viết vào năm 977, năm ngài được thụ phong linh mục. Ara Baliozian đã coi tác phẩm văn xuôi này, khác với "Cuốn Những Nỗi Bi Thương" văn vần của cùng tác giả, là một tuyệt phẩm. Việc diễn giải này được thực hiện do chỉ thị của ông hoàng Gurgēn-Khach‘ik Artsruni ở Vaspurakan. Tác phẩm này thường sử dụng những Thư về Diễm Tình Ca của Thánh Grêgôriô Nyssa. Ngoài ra, thánh nhân còn viết dẫn giải về các đoạn 38 và 39 Sách Ông Gióp.

 

Thánh nhân cũng sáng tác các bản thánh ca, nhất là các bài tán dương về Rất Thánh Trinh Nữ, vị ngài tin tưởng được hoài thai vô nhiễm nguyên tội, trọn đời trinh nguyên và mông tiệu cả hồn lẫn xác, bộ ba đặc ân Thánh Mẫu này xuất phát từ yêu cầu của Đức Giám Mục Step'anos ở Mokk'. Chưa hết, còn có hai bài tán tụng nữa, một về Tán Tụng Lịch Sử của Thánh Giá ở Đan Viện Aparank, tưởng nhớ đến biến cố các hoàng đế Byzantine là Basiliô II và Constantine VIII tặng cho đan viện Aparank một di tích của Cây Thánh Giá Thật, và một bài Tán Tụng về Cây Thánh Giá.

 

Cả 5 bài Tán Tụng, 2 bài về Thánh Giá, và tác phẫm dẫn giải Diễm Tình Ca của thánh nhân, đều do yêu cầu biên soạn, và đều chất chứa những gì chống lại những sai lạc của thành phần lạc giáo Tondrakian ở Armenia về Sách Diễm Tình Ca cũng như về việc tôn sùng Thánh Giá. Thánh nhân cho thấy ngài luôn bênh vực tính chất chính thống của Kitô giáo, chống lại các phong trào lạc giáo thời bấy giờ. Sau hết, ngài cũng có một bài tán tụng các Thánh Tông Đồ nữa.

Ý tưởng chính yếu nơi triết lý của Thánh Grêgôriô Narek đó là ơn cứu độ đời đời chỉ hoàn toàn ở nơi đức tin và ơn Chúa, chứ không thiết yếu phải ở nơi cơ cấu Giáo Hội, một quan niệm như là tiền thân của phong trào Thệ Phản Cải Cách ở thế kỷ 16 sau đó. Ngài bị cho là thiên về 2 lạc giáo Paulician và Tondrakian trong thời trung cổ ở Armenia. Nên ngài đã phải viết một luận án chống lại lạc thuyết Tandrakian vào thập niên 980, có lẽ để biện minh cho bản thân mình hoàn toàn không thiên về lạc giáo này. Các học giả cho rằng trong tác phẩm cuối cùng nổi tiếng nhất của ngài là Cuốn Những Nỗi Bi Thương đã chất chứa những yếu tố, bao gồm các phép bí tích, nhất là Bí Tích Rửa Tội, Bí Tích Giải Tội và Bí Tích Thánh Thể, hoàn toàn ngược lại và chống lại chủ trương của lạc thuyết Tondrakian tương phản với các phép bí tích.

Giọng điệu của Cuốn Những Nỗi Bi Thương đã từng được so sánh với Cuốn Tự Thú của Thánh Âu Quốc Tinh. Michael Papazian, một học giả ở Narekatsi đã nói về thánh nhân một cách vừa so sánh vừa tổng lược về ngài như sau: "Các bạn nắm bắt được ngài khi các bạn băng qua được Thánh Âu Quốc Tinh và James Joyce. Thế nhưng, linh đạo của ngài cũng được thấm nhuần bởi lòng đạo hạnh của Các Vị Tổ Sư Sa Mạc; và mặc dù sống trước cả Thánh Phanxicô Assisi, ngài cũng có cả yếu tố Thánh Phanxicô nữa. Ngài là một tổng hợp của rất nhiều khuynh hướng truyền thống Kitô giáo".

Phân Tích

Trong phần tiểu sử của Thánh Grêgôriô Narek, chúng ta thấy có 3 vấn đề cần phải làm sáng tỏ:

1- Thánh nhân chủ trương giống như phong trào Thệ Phản Cải Cách sau ngài ở Đức quốc Âu Châu: có hay chăng?

2- Thánh nhân là một vị thánh thứ hai thuộc Giáo Hội Đông Phương?

3- Thánh nhân là một Tiến Sĩ Hội Thánh thứ 36, nhưng trong thời của ngài đã không hiệp nhất với Giáo Hội Công Giáo?

Thánh Grêgôriô Narek - Tính Chất Thệ Phản Cải Cách Tin Lành

Trước hết, về tầm ảnh hưởng của ngài đối với phong trào Thệ Phản Cải Cách Tin Lành ở Đức sau ngài 5 thế kỷ, vì ngài chủ trương ơn cứu độ do bởi đức tin và ân sủng, một chủ trương cũng giống như của Thánh Giáo Phụ Tiến Sĩ Âu Quốc Tinh mà phong trào Thệ Phản Cải Cách Tin Lành cũng dựa theo, với vị linh mục khởi xướng là một tu sĩ Dòng Âu Quốc Tinh là Lutherô. Tuy nhiên, Thánh Grêgôriô Narek vẫn hiển nhiên công nhận các phép bí tích và biệt tôn tán tụng Mẹ Maria, hai yếu tố này lại hoàn toàn bị phong trào này chối bỏ.

"Cuốn Những Nỗi Bi Thương" văn vần nổi tiếng nhất của ngài mang tính chất tự thú như Cuốn Tự Thú văn xuôi của Thánh Âu Quốc Tinh, cả hai giống nhau ở chỗ thừa nhận thân phận yếu đuối của con người và ân sủng cứu độ của Thiên Chúa, nhưng lại khác nhau ở chỗ, trong khi Thánh Âu Quốc Tinh là một tội nhân thống hối trở về với Chúa thì Thánh Grêgôriô Narek là một chính nhân muốn nên trọn lành hơn. Nhưng dù muốn hoán cải hay muốn nên trọn lành đều cần phải có ơn Chúa, đó là một thực tại thần linh xuất phát từ hai cảm nghiệm tu đức khác nhau nơi hai vị thánh tiến sĩ.

Thánh Grêgôriô Narek - Không hiệp nhất với Giáo Hội Công Giáo

Sau nữa, về sự kiện không hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo thì Armenia là quốc gia đầu tiên trong vùng đón nhận Kitô giáo vào đầu thế kỷ thứ 4, thành quả từ việc truyền giáo của hai vị tông đồ Batholomeo và Thadeo ngay trong thế kỷ thứ 1. Hiện nay Giáo Hội Armenia thuộc về Giáo Hội Chính Thống Đông Phương - Eastern Orthodox, tức là một trong 6 giáo hội (Coptic, Ethiopia, Syria Jacobite và Indo-Malakar) chấp nhận 3 công đồng chung đầu tiên: Nicea năm 325, Contantinople I năm 381 và Epheso năm 431. Từ Thế kỷ thứ 4 Kitô giáo là quốc giáo của Armenia.

Tuy nhiên, sau biến cố 1054 tách Chính Thống Giáo Đông Phương ra khỏi Giáo Hội Công Giáo Roma, đã có 6 Giáo Hội Chính Thống Giáo Đông Phương trở về hiệp nhất với Giáo Hội Công Giáo từ thế kỷ thứ 16, và vì thể được gọi là Giáo Hội Công Giáo Đông Phương - The Eastern Catholic Churches, bao gồm 6 Giáo Hội, với tổng số Kitô hữu là 18 triệu, tức 1.5% tổng số Kitô hữu Công giáo thế giới, và 6 giáo hội này, xuất phát từ Trung Đông, Bắc Phi, Đông Phi, Đông Âu và Nam Ấn, được liệt kê sau đây:

 

Như thế, vấn đề thánh Grêgôriô Narek là một Tiến Sĩ Hội Thánh thứ 36, nhưng trong thời của ngài đã không hiệp nhất với Giáo Hội Công Giáo là ở chỗ, trước biến cố 1054 Giáo Hội Armenia chỉ công nhận 3 Công Đồng Chung đầu tiên, nghĩa là cho tới giữa thế kỷ thứ 5 thôi. Nhưng sau biến cố 1054 tách biệt Giáo Hội Chính Thống Đông Phương ra khỏi Giáo Hội Công Giáo Roma nguyên thủy, Giáo Hội Armenia đã trở về hiệp nhất với Giáo Hội Công Giáo Roma từ thế kỷ 16, và vì thế đã trở thành một Giáo Hội Công Giáo Đông Phương, klhông còn là Giáo Hội Chính Thống Đông Phương nữa.

Thánh nhân là một vị thánh thứ hai thuộc Giáo Hội Đông Phương? Đúng thế, Thánh Anthony of Kiev là vị thánh thứ nhất, thuộc Giáo Hội Công Giáo Đông Phương, như Thánh Grêgôriô Narek, được Giáo Hội Công Giáo phong thánh với lễ nhớ ngày 7/5 hằng năm.

Thánh Grêgôriô Narek - Vị Tiến Sĩ Hội Thánh thứ 36

Sau hết, Giáo Hội đã công nhận Thánh Grêgôriô Narek là một trong những vị Tiến Sĩ của Hội Thánh: tại sao và ở chỗ nào? Theo nguyên tắc, một vị tiến sĩ Hội Thánh phải có những khai phá kèm theo văn bản một lý thuyết mới mẻ nào đó, đúng với mạc khải Thánh kinh, nhờ đó làm phong phú thêm kho tàng đức tin của Giáo Hội. Thánh Grêgôriô Narek đã có những khai phá về tu đức theo cảm nghiệm thần linh của ngài, được diễn tả trong Cuốn Những Nỗi Bi Thương, một tác phẩm thi ca tu đức về cầu nguyện có thể phản ảnh 150 Thánh Vịnh trong Thánh Kinh Cựu Ước vẫn được Giáo Hội sử dụng cho Phụng Vụ Giờ Kinh và Phụng Vụ Lời Chúa ở mục Đáp Ca sau Bài Đọc 1.

Thánh Grêgôriô Narek là vị tiến sĩ thứ 36 của Giáo Hội, thứ tự như sau:

1- Saint Ambrose (c. 340-397), bishop of Milan, Italy, a major opponent of Arianism, wrote and preached extensively [named a Doctor of the church, 1298].

2- Saint Augustine of Hippo (c. 354-430), North African bishop, author of Confessions, City of God, and numerous treatises, countered heretical movements, one of the most influential theologians of the Western church, called “Doctor of Grace” [1298].

3- Saint Jerome(c. 343-420), translated Old Testament from Hebrew into Latin and revised Latin translation of New Testament to produce Vulgate version of Bible, called “Father of Biblical Science” [1298].

4- Saint Gregory the Great (c. 540-604), pope, strengthened papacy and worked for clerical and monastic reform [1298].

5- Saint Athanasius (c. 297-373), bishop of Alexandria, dominant opponent of Arians, called “Father of Orthodoxy” [1298]

6- Saint John Chrysostom (“Golden-Mouthed”) (c. 347-407), archbishop of Constantinople, homilist, writer of scripture commentaries and letters, patron of preachers [1568].

7- Saint Basil the Great (c. 329-379), bishop of Caesarea in Asia Minor, refuted Arian errors, wrote treatises, homilies, and monastic rules, called “Father of Monasticism of the East” [1568].

8- Saint Gregory of Nazianzus (c. 330-390), bishop of Constantinople, opponent of Arianism, wrote major theological treatises as well as letters and poetry, called the “Christian Demosthenes” and, in the East, “The Theologian” [1568].

9- Saint Thomas Aquinas (1225-1274), Italian Dominican, wrote systematically on philosophy, theology, and Catholic doctrine, patron of Catholic schools and education, one of the most influential theologians in the West [1568/7].

10- Saint Bonaventure (c. 1217-1274), Franciscan, bishop of Albano, Italy, cardinal [1588].

11- Saint Anselm of Canterbury (1033-1109), archbishop, called “Father of Scholasticism” [1720].

12- Saint Isidore of Seville (c. 560-636), Spanish bishop, encylopedist, and preeminent scholar of his day [1722].

13- Saint Peter Chrysologus (c. 400-450), archbishop of Ravenna, Italy, homilist and writer, counteracted Monophysite heresy [1729].

14- Saint Leo I, the Great (c. 400-461), pope, wrote christological and other works against the heresies of his day [1754].

15- Saint Peter Damian (1007-1072), Italian Benedictine and cardinal, ecclesiastical and clerical reformer [1828].

16- Saint Bernard of Clairvaux (c. 1090-1153), French Cistercian abbot and monastic reformer, called “Mellifluous Doctor” Tiến Sĩ Ngọt Ngào [1830].

17- Saint Hilary of Poitiers (c. 315-368), one of first Latin doctrinal writers, opposed Arianism [1851].

18- Saint Alphonsus Liguori (1696-1787), founder of Redemptorists, preeminent moral theologian and apologist, patron of confessors and moralists[1871].

19- Saint Francis de Sales (1567-1622), bishop of Geneva, spiritual writer, patron of Catholic writers and press [1877].

20- Saint Cyril of Alexandria (c. 376-444), bishop, authored doctrinal treatises against Nestorian heresy [1882].

21- Saint Cyril of Jerusalem (c. 315-386), bishop, catechist, vigorous opponent of Arianism [1882].

22- Saint John Damascene (c. 675-749), Syrian monk, doctrinal writer, called “Golden Speaker” [1890].

23- Saint Bede the Venerable (c. 673-735), English Benedictine, called “Father of English History” [1899].

24- Saint Ephrem the Syrian (c. 306-373), counteracted Gnosticism and Arianism with his poems, hymns, and other writings [1920].

25- Saint Peter Canisius (1521-1597), Dutch Jesuit, catechist, important figure in Counter-Reformation in Germany [1925].

26- Saint John of the Cross (1542-1591), founder of Discalced Carmelites, called “Doctor of Mystical Theology” [1926].

27- Saint Robert Bellarmine (1542-1621), Italian Jesuit, archbishop of Capua, wrote Reformation-era doctrinal defenses, catechisms, and works on ecclesiology and church-state relations [1931].

28- Saint Albert the Great (c. 1200-1280), German Dominican, bishop of Regensburg, teacher of Saint Thomas Aquinas, patron of scientists, called “Universal Doctor” and “Expert Doctor” [1932].

29- Saint Anthony of Padua (1195-1231), first theologian of Franciscans, preacher, called “Evangelical Doctor” [1946].

30- Saint Lawrence of Brindisi (1559-1619), Italian Capuchin Franciscan, influential post-Reformation preacher [1959].

31- Saint Teresa of Ávila (1515-1582), Spanish Carmelite, initiated discalced Carmelite movement, prolific spiritual and mystical writer, first woman Doctor of the church [1970].

32- Saint Catherine of Siena (c. 1347-1380), Italian Third Order Dominican, mystical author, also active in support of Crusades and in papal politics [1970].

33- Saint Thérèse of Lisieux (1873-1897), French Carmelite, wrote spiritual autobiography describing her “little way” of spiritual perfection [1997].

34- Saint John of Ávila (1499 or 1500-1569), Spanish priest, preacher, and mystic, was influential in spreading the faith in Andalusia and reforming the church in Spain [2012]

35- Saint Hildegard of Bingen (1098-1179), German Benedictine abbess and mystic, recorded her visions in writing, also wrote lyric poems, letters of advice and prophecy, and treatises on medicine and physiology [2012]

36- Saint Gregory of Narek (950-c. 1005), Armenian monk and poet, also recognized as a saint in the Armenian Apostolic Church [2015]

Trong số 36 vị Thánh Tiến Sĩ của Hội Thánh, có 4 vị nữ tiến sĩ, từ 31, 32, 33 và 35, là Thánh Teresa Avilla, Thánh Catarina Sienna, Thánh Theresa Nhỏ, và Thánh Hildegard of Bingen.

Cũng trong số 36 vị tiến sĩ Hội Thánh này, có 8 Vị Đại Tiến Sĩ, 4 vị Đông Phương: Thánh John Chrysostom, Basil the Great, Gregory Nazianzus và Athanasius of Alexandria; và 4 vị Tây Phương: Thánh Gregorio the Great, Ambrose, Augustino và Jerome.

No. Name Titles Born Died Promoted Activity
1. St. Gregory the Great* One of the four Great Latin Fathers 540 (c.) 604 1298 Pope, O.S.B.
2. St. Ambrose* One of the four Great Latin Fathers 340 (c.) 397 1298 Bishop of Milan
3. St. Augustine* One of the four Great Latin Fathers; Doctor gratiae
(Doctor of Grace)
354 430 1298 Bishop of Hippo (now Annaba)
4. St. Jerome* One of the four Great Latin Fathers 347 (c.) 420 1298 Priest, monk
5. St. Thomas Aquinas Doctor angelicus
(Angelic Doctor);
Doctor communis
(Common Doctor)
1225 1274 1567 Priest, Theologian, O.P.
6. St. John Chrysostom* One of the four Great Greek Fathers 347 407 1568 Archbishop of Constantinople
7. St. Basil the Great* One of the four Great Greek Fathers 330 379 1568 Bishop of Caesarea
8. St. Gregory of Nazianzus* One of the four Great Greek Fathers 329 389 1568 Archbishop of Constantinople
9. St. Athanasius* One of the four Great Greek Fathers 298 373 1568 Archbishop of Alexandria
10. St. Bonaventure Doctor seraphicus
(Seraphic Doctor)
1221 1274 1588 Cardinal Bishop of Albano, Theologian, Minister General, O.F.M.
11. St. Anselm Doctor magnificus
(Magnificent Doctor);
Doctor Marianus
(Marian Doctor)
1033 or 1034 1109 1720 Archbishop of Canterbury, O.S.B.
12. St. Isidore of Seville* 560 636 1722 Archbishop of Seville
13. St. Peter Chrysologus* 406 450 1729 Bishop of Ravenna
14. St. Leo the Great*[11] Doctor unitatis Ecclesiae
(Doctor of the Church's Unity)
400 461 1754 Pope
15. St. Peter Damian 1007 1072 1828 Cardinal Bishop of Ostia, monk, O.S.B.
16. St. Bernard of Clairvaux Doctor mellifluus
(Mellifluous Doctor)
1090 1153 1830 Priest, O.Cist.
17. St. Hilary of Poitiers* Doctor of the Divinity of Christ 300 367 1851 Bishop of Poitiers
18. St. Alphonsus Liguori Doctor zelantissimus
(Most Zealous Doctor)
1696 1787 1871 Bishop of Sant'Agata de' Goti, C.Ss.R. (Founder)
19. St. Francis de Sales Doctor caritatis
(Doctor of Charity)
1567 1622 1877 Bishop of Geneva, C.O.
20. St. Cyril of Alexandria* Doctor Incarnationis
(Doctor of the Incarnation)
376 444 1883 Archbishop of Alexandria
21. St. Cyril of Jerusalem* 315 386 1883 Archbishop of Jerusalem
22. St. John Damascene* 676 749 1890 Priest, monk
23. St. Bede the Venerable* Anglorum doctor
(Doctor of the English)[12]
672 735 1899 Priest, monk, O.S.B.
24. St. Ephrem*[13] 306 373 1920 Deacon
25. St. Peter Canisius 1521 1597 1925 Priest, S.J.
26. St. John of the Cross Doctor mysticus
(Mystical Doctor)
1542 1591 1926 Priest, mystic, O.C.D. (Reformer)
27. St. Robert Bellarmine 1542 1621 1931 Archbishop of Capua, Theologian, S.J.
28. St. Albertus Magnus[14] Doctor universalis
(Universal Doctor)
1193 1280 1931 Bishop of Regensburg, Theologian, O.P.
29. St. Anthony of Lisbon and Padua Doctor evangelicus
(Evangelical Doctor)
1195 1231 1946 Priest, O.F.M.
30. St. Lawrence of Brindisi Doctor apostolicus
(Apostolic Doctor)
1559 1619 1959 Priest, Diplomat, O.F.M. Cap.
31. St. Teresa of Ávila[15] Doctor orationis
(Doctor of Prayer)
1515 1582 1970 Mystic, O.C.D. (Reformer)
32. St. Catherine of Siena 1347 1380 1970 Mystic, O.P. (Third Order Dominican)
33. St. Thérèse of Lisieux 1873 1897 1997 O.C.D. (Nun)
34. St. John of Ávila 1500 1569 2012 Priest, Mystic
35. St. Hildegard of Bingen 1098 1179 2012 Visionary, theologian, composer, polymath, O.S.B. (Abbess)
36. St. Gregory of Narek*[16] 951 1003 2015 Monk, poet, mystical philosopher, theologian

 

Đaminh Maria cao tấn tĩnh, nghiên cứu, tổng hợp và phân tích