SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO

 

 

Chia Sẻ Phụng Vụ Lời Chúa 

M
ùa Thường Niên Tuần IV 

Năm A (Chúa Nhật) Năm Chẵn (trong tuần)


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL




 

Chúa Nhật


Phụng Vụ Lời Chúa


 

Bài Ðọc I: Xp 2, 3; 3, 12-13

"Ta sẽ để sống sót lại giữa ngươi, một dân tộc khiêm tốn và nghèo hèn".

Trích sách Tiên tri Xôphônia.

Hãy tìm Chúa, hỡi tất cả các người hiền lành trong nước, là những kẻ tuân giữ luật Chúa; hãy tìm công lý, hãy tìm sự khiêm nhường, nếu các ngươi muốn được che chở trong ngày thịnh nộ của Chúa. Ta sẽ để sống sót lại giữa ngươi một dân tộc khiêm tốn và nghèo hèn, biết tin tưởng vào thánh danh Chúa. Kẻ sống sót của Israel sẽ không làm điều bất công, sẽ không nói dối, miệng chúng sẽ không nói lời phỉnh gạt, vì chúng sẽ được chăn dắt và nằm ngủ không bị quấy rầy.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 145, 7. 8-9a. 9bc-10.

Ðáp: Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ (Mt 5,3).

Xướng: 1) Thiên Chúa trả lại quyền lợi cho người bị áp bức, và ban cho những kẻ đói được cơm ăn. Thiên Chúa cứu gỡ những người tù tội. - Ðáp.

2) Thiên Chúa mở mắt những kẻ đui mù, Thiên Chúa giải thoát những kẻ bị khòm lưng khuất phục, Thiên Chúa yêu quý các bậc hiền nhân; Thiên Chúa che chở những khách kiều cư. - Ðáp.

3) Thiên Chúa nâng đỡ những người mồ côi quả phụ, và làm rối loạn đường nẻo đứa ác nhân. Thiên Chúa sẽ làm vua tới muôn đời. Sion hỡi, Ðức Thiên Chúa của ngươi sẽ làm vua từ đời này sang đời khác. - Ðáp.

 

Bài Ðọc II: 1 Cr 1, 26-31

"Thiên Chúa đã chọn những điều hèn hạ đối với thế gian".

Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.

Anh em thân mến, anh em hãy xem ơn kêu gọi của anh em: Vì (trong anh em) không có mấy người khôn ngoan theo xác thịt, không có mấy người quyền thế, không có mấy người sang trọng. Nhưng điều mà thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để làm cho những người khôn ngoan phải xấu hổ; điều mà thế gian cho là yếu hèn, thì Thiên Chúa đã chọn để làm cho những gì là mạnh mẽ phải hổ ngươi. Thiên Chúa đã chọn những điều hèn hạ đối với thế gian, những điều bị khinh chê, những điều không không, để phá huỷ những điều hiện hữu, hầu mọi xác thịt không thể vinh vang trước mặt Người. Chính do Người mà anh em ở trong Chúa Giêsu Kitô, Ðấng do Thiên Chúa, đã trở nên sự khôn ngoan, sự công chính, sự thánh hoá và sự cứu rỗi cho chúng ta, ngõ hầu, như đã chép: "Ai tự phụ, thì hãy tự phụ trong Chúa".

Ðó là lời Chúa.

 

Alleluia: Lc 19, 38

Alleluia, alleluia! - Chúc tụng Ðấng nhân danh Chúa mà đến, bình an trên trời và vinh quang trên các tầng trời. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 5, 1-12a

"Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ đông đảo, Người đi lên núi, và lúc Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần Người. Bấy giờ Người mở miệng dạy họ rằng:

"Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Ðất Nước làm cơ nghiệp. Phúc cho những ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an. Phúc cho những ai đói khát điều công chính, vì họ sẽ được no thoả. Phúc cho những ai hay thương xót người, vì họ sẽ được xót thương. Phúc cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa. Phúc cho những ai ăn ở thuận hoà, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc cho các con khi người ta ghen ghét, bách hại các con, và bởi ghét Thầy, họ vu khống cho các con mọi điều gian ác. Các con hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng của các con sẽ trọng đại ở trên trời".

Ðó là lời Chúa.

 

Related image

 

 

Suy niệm

 

Tư cách sống xứng với danh xưng và ơn gọi là con cái của Thiên Chúa là "Cha trọn lành ở trên trời"

 

Trong bài Phúc Âm về Phúc Đức Trọn Lành này, Thánh ký Mathêu đã mô tả một cảnh tượng rất thích hợp với nội dung của bài giảng Phúc Đức Trọn Lành ấy: "Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ đông đảo, Người đi lên núi, và lúc Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần Người. Bấy giờ Người mở miệng dạy họ rằng...".  

Trước hết, về thời điểm, bài giảng này của Chúa Giêsu chỉ được Người thực hiện và chỉ xẩy ra vào lúc "khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ đông đảo, Người đi lên núi...", tức là vì dân chúng mà có bài giảng này, nhưng, ngay câu sau đó lại cho thấy lại bài giảng này giành riêng cho các tông đồ, nghĩa là giáo huấn của Người được truyền đạt từ cao (tấm mức tông đồ, Giáo Hội) xuống thấp (tầm mức dân chúng, giáo dân, cộng đồng) 

Sau nữa, về địa điểm, bài giảng này được Chúa Giêsu giảng không phải là dưới thung lũng, hay ở đồng bằng, hoặc trong thành phố, hay ở trên thuyền ngoài bờ biển như các lần khác sau này, mà là ở trên "núi", một biểu hiệu cho ý nghĩa trọn lành, sống trổi vượt hơn thế gian, hơn phàm nhân;  

Sau hết, về tính cách, bài giảng này được Chúa Giêsu giảng một cách thân tình, ở tư thế "ngồi xuống" với thành phần "các môn đệ đến gần Người" để Người có thể dạy bảo các vị những gì giúp các vị "là ánh sáng thế gian" (5:14). Cử chỉ "ngồi" đây còn ám chỉ quyền giảng dạy của Chúa Giêsu nữa, một quyền giảng dạy được Người trao ban cho chung Tông Đồ Đoàn (xem Mathêu 18:18) và cho riêng Tông Đồ Phêrô (xem Mathêu 16:19), một quyền bính được Giáo Hội hằng năm tưởng kính nơi phụng vụ Lễ "Ngai Tòa Thánh Phêrô - Chair of Peter" vào ngày 22/2 hằng năm.  

Một chi tiết được Thánh ký Mathêu ghi nhận cũng cần lưu ý ở đây nữa là: "lúc Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần Người", tức là thế giá và uy tín của Chúa Giêsu đã lôi kéo các môn đệ đến cùng Người, và chỉ có từ Chúa Kitô và bởi lắng nghe Chúa Kitô, thấm nhuần giáo huấn của Người, các tông đồ mới có thể trở thành chứng nhân tiên khởi của Người và cho Người sau này.  

Nếu căn cứ vào các chữ "phúc" ở đầu mỗi phúc thì có tất cả là 9 Phúc hơn là chỉ có 8 phúc. Và phúc nào cũng ngược đời hết. Ở chỗ, trong khi thế gian cho những 9 điều được Chúa Giêsu gọi là và cho là phúc thì họ cho là khốn, đặc biệt là 3 phúc đầu và 2 phúc cuối. Theo tu đức Kitô giáo vốn có 3 bậc hay 3 giai đoạn nên trọn lành thì 9 phúc được Chúa Giêsu liệt kê theo thứ tự trong bài Phúc Âm hôm nay, về ý nghĩa liên hệ của của chúng với nhau, có thể được ghép lại thành 3 phúc cho một giai đoạn hay một bậc nên trọn lành. Chẳng hạn, 3 phúc đầu (1-2-3) thuộc về bậc hay giai đoạn tu đức khởi sinh (từ bỏ), 3 phúc tiếp theo (4-5-6) thuộc về bậc hay giai đoạn tu đức tiến sinh (tập đức), và 3 phúc cuối cùng (7-8-9) thuộc về bậc hay giai đoạn tu đức hiệp sinh (nên một).

Thật ra, nội dung chính yếu của riêng bài Phúc Âm Thánh ký Mathêu hôm nay về Các Mối Phúc Đức và chung Bài Giảng Trên Núi về Linh Đạo Trọn Lành (3 chương 5-7), thì Chúa Kitô là Con Thiên Chúa muốn đặc biệt dạy cho thành phần môn đệ được ngài chọn làm tông đồ của Người, thành phần là chứng nhân tiên khởi của Người đồng thời cũng là thành phần lãnh đạo với tư cách là Thừa Tác Viên ban phát mầu nhiệm thánh cho dân Tân Ước của Người, đường lối sống trọn lành, hay nói dễ hiểu hơn, tư cách sống xứng với danh xưng và ơn gọi là con cái của Thiên Chúa là "Cha trọn lành ở trên trời", như Người là Con của Cha làm gương cho các vị noi theo, một tư cách trọn lành ở chỗ sống đức ái trọn hảo (perfectae caritatis).

Trong bài Phúc Âm hôm nay, ngoài chi tiết có 9 mối phúc đức chứ không phải là 8, còn có một 4 chi tiết nữa như sau:

1- Phần thưởng của phúc thứ 1 và thứ 8 giống nhau, đều "được Nước Trời làm của mình vậy". Thế nhưng, thực tế khác nhau ở chỗ, một đàng được ngay từ đầu nhờ tinh thần khó nghèo, và một đàng cuối cùng mới được khi bị bách hại. Chẳng hạn những ai dâng mình cho Chúa trong đời sống tu trì, bỏ mọi sự thế gian mà "tìm Nước Trời trước" (Mathêu 6:33) thì họ được Nước Trời ngay trong lòng của họ, một tấm lòng không còn quyến luyến thế gian, từ bỏ tất cả mọi sự để theo Chúa là tất cả của họ. Thế nhưng, nếu trong đời sống tu trì nên trọn lành ấy họ vẫn còn quyến luyến thế gian cách nào đó, người này hay vật nọ hoặc việc kia, thì họ một cách nào đó đã bị mất đi Nước Trời trong lòng họ, nên khi bị thử thách bách hại họ sẽ không thể nào chịu được, không thể bền đỗ đến cùng để được cứu rỗi (xem Mathêu 24:13), để được Nước Trời.

2- Phúc thứ 8 và thứ 9 thoạt tiên có vẻ giống nhau, ở chỗ chịu khổ, nhưng xét kỹ thì lại hoàn toàn khác nhau. Trước hết, vì phúc thứ 8 áp dụng chung cho "những ai", còn phúc thứ 9 chỉ cho "các con" là thành phần môn đệ của Chúa Kitô; sau nũa ở phúc thứ tám lý do chịu khổ là vì sự công chính nói chung, vì thế có thể bao gồm người không phải Kitô hữu đã dám chết cho sự thật, cho lương tâm chân thật của họ hơn là làm điều gian trá tác hại đồng loại, còn phúc thứ 9 lý do chịu khổ là vì danh Thày, vì sống tinh thần Phúc Âm và làm chứng cho Chúa Kitô; sau hết ở phúc thứ tám phần thưởng là "Nước Trời" còn phúc thứ chín "phần thưởng lớn lao trên trời".

3- Phúc thứ 1 và phúc thứ hai phần thưởng hoàn toàn khác nhau, thậm chí ngược nhau: trong khi phúc thứ nhất phần thưởng là "Nước Trời" thì phúc thứ hai phần thưởng là "Đất". Nghĩa là hai phúc đầu tiên này là hai phúc căn bản cho tất cả các phúc được Chúa Kitô khôn khéo liệt kê thứ tự sau đó. Dù rằng "Đất" thấp hơn "Trời", nhưng phải được "Trời" trước "Đất", chứ không phải "Đất" trước "Trời". Tại sao thế? Tại vì "Trời" tiêu biểu cho Thiên Chúa, nếu đã có Thiên Chúa là có tất cả, còn được tất cả (biểu hiểu "Đất) mà mất Thiên Chúa là Trời thì cũng chỉ là hư không. Một tâm hồn đã bỏ hết mọi sự mà theo Chúa, và vì Chúa yêu tất cả mọi sự thì nhờ họ mà tất cả mọi sự được thánh hóa, như thể họ được Đất làm của mình vậy.

4- Không phải tình cờ và ngẫu nhiên Chúa Kitô liệt kê 8 hay 9 mối phúc đức này theo thứ tự trước sau như thế. Chỉ biết rằng các phúc đức đầu sẽ dẫn đến các phúc đức sau, và ai đạt được các phúc sau cần phải có cả các phúc đức đầu nữa. Chẳng hạn, ai đã đạt đến phúc thứ 9 là phúc cao nhất, ở chỗ được hiệp nhất nên một với Chúa Kitô, được chịu bách hại và sát hại như Chúa Kitô, thì họ phải là những con người có đầy đủ những tinh thần của 8 phúc đức trước, đó là nghèo khó, hiền lành, khổ ải, ước thiện, xót thương, tinh tuyền, hòa thuận và công chính.

Tất cả các mối phúc đức trọn lành Chúa Giêsu giảng dạy ở Bài Giảng Trên Núi đây hoàn toàn phản lại với lý lẽ trần gian; với xu hướng rộng rãi, luôn tìm kiếm những gì là thoải mái dễ chịu của con người; với xu hướng thấp hèn, luôn bám víu lấy những gì là tầm thường, mau qua, giả tạo của con người; với xu hướng nội, lúc nào cũng qui kỷ, luôn tự phụ, tự cao, tự đại, tự tin, tự mãn và tự ái. Và đó là lý do, trong Bài Đọc 2 hôm nay, Thánh Phaolô mới minh định chiều hướng nghịch đảo này giữa thần linh và xác thịt, giữa thế gian và Nước Trời, trong thư thứ nhất ngài gửi cho Giáo đoàn Corinto như thế này:

"Điều mà thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để làm cho những người khôn ngoan phải xấu hổ; điều mà thế gian cho là yếu hèn, thì Thiên Chúa đã chọn để làm cho những gì là mạnh mẽ phải hổ ngươi. Thiên Chúa đã chọn những điều hèn hạ đối với thế gian, những điều bị khinh chê, những điều không không, để phá huỷ những điều hiện hữu, hầu mọi xác thịt không thể vinh vang trước mặt Người".

Bởi thế, ở Bài Đọc 1, Tiên Tri Xôphônia đã kêu gọi những ai sống đức tin chân chính, sống "khiêm tốn và nghèo hèn, biết tin tưởng vào thánh danh Chúa", theo chiều hướng Bát Phúc rằng: "Hãy tìm Chúa, hỡi tất cả các người hiền lành trong nước, là những kẻ tuân giữ luật Chúa; hãy tìm công lý, hãy tìm sự khiêm nhường, nếu các ngươi muốn được che chở trong ngày thịnh nộ của Chúa".

Đối với những tâm hồn "chỉ biết tin tưởng vào Thánh Danh Chúa" như thế thì Chúa là tất cả của họ, như cảm nhận và xác tín của Thánh Vịnh 145 ở Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Thiên Chúa trả lại quyền lợi cho người bị áp bức, và ban cho những kẻ đói được cơm ăn. Thiên Chúa cứu gỡ những người tù tội.

2) Thiên Chúa mở mắt những kẻ đui mù, Thiên Chúa giải thoát những kẻ bị khòm lưng khuất phục, Thiên Chúa yêu quý các bậc hiền nhân; Thiên Chúa che chở những khách kiều cư.

3) Thiên Chúa nâng đỡ những người mồ côi quả phụ, và làm rối loạn đường nẻo đứa ác nhân. Thiên Chúa sẽ làm vua tới muôn đời. Sion hỡi, Ðức Thiên Chúa của ngươi sẽ làm vua từ đời này sang đời khác.

 

 

"Người ta bắt đầu từ một thân phận khốn khổ đến chỗ hướng bản thân về tặng ân Chúa ban và tiến vào một thế giới mới,

đó là 'Vương Quốc' được Chúa Giêsu loan báo...

Người ta không được phúc đức nếu họ không hoán cải, để có thể nhờ đó cảm nhận được và sống các tặng ân Chúa ban"

 

Xin chào anh chị em thân mến!

Phụng vụ Chúa Nhật hôm nay giúp chúng ta suy niệm về Các Mối Phúc Đức (xem Mathêu 5:1-12a), những mối phúc đức mở đầu một bài giảng quan trọng được gọi là "bài giảng trên núi", một Đại Hiến Chương (the Magna Carta) của Tân Ước. Chúa Giêsu bày tỏ ý của Thiên Chúa muốn dẫn con người đến hạnh phúc. Sứ điệp này đã được trình bày trong việc rao giảng của các vị tiên tri, đó là Thiên Chúa là Đấng gần gũi với những người nghèo khổ và bị áp bức, và Ngài giải phóng họ khỏi những ai ngược đãi họ. Tuy nhiên, trong bài giảng này, Chúa Giêsu theo một đường lối đặc biệt: Người bắt đầu bằng chứ "Phúc thay" (blessed), hạnh phúc thay (happy). Người tiếp tục bằng cách nêu lên thứ thân phận được như vậy, và Người bằng cách đưa ra một hứa hẹn. Cái động lực để có phúc đức, tức là để được hạnh phúc, không phải là ở nơi chính thân phần cần phải như thế - chẳng hạn cần phải "tinh thần nghèo khó", "than khóc", "đói khát sự công chính", "bị bách hại"..., nhưng là ở cái hứa hẹn sau đó, thứ hứa hẹn được tin tưởng chấp nhận như tặng ân Chúa ban. Người ta bắt đầu từ một thân phận khốn khổ đến chỗ hướng bản thân về tặng ân Chúa ban và tiến vào một thế giới mới, đó là "Vương Quốc" được Chúa Giêsu loan báo. Đây không phải là một cơ cấu tự động mà là một lối sống theo Chúa, nhờ đó cái thực tại gian nan khốn khổ được nhận định bằng một nhãn quan mới và được cảm nghiệm tùy theo việc hoán cải xẩy ra. Người ta không được phúc đức nếu họ không hoán cải, để có thể nhờ đó cảm nhận được và sống các tặng ân Chúa ban. 

Tôi muốn dừng lại ở mối phúc đúc thứ nhất: "Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó, vì chưng Nước Trời là của họ" (câu 4). Người có tinh thần nghèo khó là người có cảm nhận và thái độ của những người nghèo khổ không nổi loạn vì thân phận của mình, mà là khiêm tốn, ngoan hiền, hướng về ân sủng của Thiên Chúa. Cái hạnh phúc của người nghèo khó - của người sống tinh thần nghèo khó - có hai khía cạnh: khía cạnh liên hệ với các của cải sản vật và khía cạnh liên hệ với Thiên Chúa. Về khía cạnh liên hệ với các của cải sản vật, với những của cải vật chất, thì tinh thần nghèo khó là ở chỗ điều độ, không cần phải từ bỏ, mà là khả năng hoan hưởng những gì là thiết yếu, là chia sẻ; là khả năng lập lại hằng ngày việc nghĩ đến sự thiện hảo của các sự vật, mà không bị rơi vào tình trạng mù quáng của việc ngấu nghiến hưởng thụ. Tôi càng có thì lại càng muốn; tôi càng có thì lại càng muốn: đó là thứ ngấu nghiến hưởng thụ. Và đó là những gì sát hại linh hồn. Con người nam nữ nào làm như thế, thành phần có thái độ "tôi càng có thì càng muốn" ấy thì không được hạnh phúc và sẽ không đạt được hạnh phúc. Còn về khía cạnh liên hệ với Thiên Chúa thì đó là việc ngợi khen và cảm tạ vì thế giới này là một phúc lành và theo nguồn gốc của mình thì nó là tình yêu sáng tạo của Chúa Cha. Thế nhưng, nó cũng là việc cởi mở đối với Ngài, ngoan hiền trước vai trò làm chủ của Ngài: Ngài là Chúa; Ngài là Đấng Cao Cả. Tôi không phải là kẻ cao cả là vì tôi có nhiều thứ! Nhưng Ngài là thế: Ngài là Đấng muốn dựng nên thế giới này cho tất cả mọi người và muốn dựng nên nó cho hạnh phúc của con người.

Một con người có tinh thần nghèo khó là một Kitô hữu không tin tưởng vào bản thân mình, vào những thứ giầu sang phú quí về vật chất của mình, người không cố chấp với những ý nghĩ của mình mà là trân trọng lắng nghe cùng sẵn sàng theo quyết định của người khác. Nếu có nhiều người nghèo hơn nữa trong các cộng đồng của chúng ta thì sẽ ít xẩy ra chia rẽ, chống đối và tranh cãi! Đức khiêm nhượng, như đức bác ái, là một nhân đức thiết yếu cho việc chung sống trong các cộng đồng Kitô hữu của chúng ta. Thành phần ngheo khó theo nghĩa của Phúc Âm đây trở thành như những con người gìn giữ cho đích điểm của Nước Trời sống động, làm cho người ta thấy rằng Nước Trời được trông đợi ở nơi cái mầm của một cộng đồng huynh đệ yêu thích chia sẻ hơn là sở hữu. Tôi muốn nhấn mạnh điều này: yêu thích chia sẻ hơn là sở hữu. Luôn có một tấm lòng và đôi tay mở ra chứ không đóng lại (nói đến những chỗ "mở ra" và "đóng lại" này ĐTC còn kèm theo cử chỉ của ngài nữa, câu sau đó ngài cũng tiếp tục làm thế khi nói đến "đóng lại" và "cởi mở"). Khi con tim đóng lại thì nó là một con tim hẹp hòi: nó chẳng biết yêu thương là gì. Khi con tim cởi mở thì nó tiếp tục con đường yêu thương.

Xin Đức Trinh Nữ Maria, mẫu gương và là hoa trái đầu mùa của người có tinh thần nghèo khó vì Người đã hoàn toàn tỏ ra ngoan ngoãn với ý muốn của Chúa, giúp chúng ta biết trao phó bản thân của chúng ta cho Thiên Chúa là Đấng giầu lòng thương xót, để Ngài làm cho chúng ta tràn đầy các tặng ân của Ngài, nhất là tràn đầy ơn tha thứ của Ngài.                                                                   

https://zenit.org/articles/angelus-address-on-the-beatitudes/

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và những chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu        

 

 

 

Thứ Hai


Phụng Vụ Lời Chúa

 

Bài Ðọc I (Năm II): 2 Sm 15, 13-14. 30; 16, 5-13a

"Chúng ta hãy trốn khỏi Absalon. Hãy để Sêmê nguyền rủa theo lệnh của Chúa".

Trích sách Samuel quyển thứ hai.

Trong những ngày ấy, có kẻ đến báo tin cho Ðavít rằng: "Toàn dân Israel hết lòng theo Absalon. Ðavít liền nói cùng các cận thần của ông ở Giêrusalem rằng: "Hãy chỗi dậy, chúng ta trốn đi, vì chúng ta không sao thoát khỏi tay Absalon. Các ngươi hãy ra mau đi, kẻo nó đến bắt chúng ta, gây tai hại cho chúng ta và dùng gươm giết hết dân thành". Ðavít trèo lên núi Cây Dầu, ông vừa leo vừa khóc lóc, đi chân không, đầu phủ khăn. Toàn dân theo ông cũng trùm đầu, vừa leo vừa khóc. Vậy vua Ðavít đến Bahumrim. Và này xuất hiện một người thuộc dòng họ Saolê, tên là Sêmê, con ông Giêra. Anh ta vừa đi vừa nguyền rủa, rồi ném đá Ðavít và những cận vệ của vua. Toàn thể dân chúng và tất cả binh sĩ đều đi hai bên tả hữu nhà vua. Vậy Sêmê nguyền rủa nhà vua rằng: "Hỡi kẻ khát máu, người của Bêlial, xéo đi, xéo đi! Chúa đã đổ trên đầu ngươi tất cả máu của nhà Saolê mà ngươi đã tiếm vị. Thiên Chúa đã trao vương quốc vào tay Absalon, con ngươi. Này tai hoạ hành hạ ngươi, vì ngươi là một tên khát máu". Bấy giờ Abisai con trai của Sarvia, tâu vua rằng: "Cớ sao thằng chó chết này nguyền rủa đức vua tôi? Ðể tôi đi lấy đầu nó". Vua phán rằng: "Hỡi con của Sarvia, Ta với khanh có liên hệ gì đâu? Cứ để mặc nó nguyền rủa. Vì Chúa bảo nó: 'Hãy nguyền rủa Ðavít', ai dám hỏi nó: 'Tại sao ngươi hành động như vậy?'" Và Ðavít nói với Abisai và toàn thể các cận vệ rằng: "Kìa, con trai bởi lòng ta sinh ra, mà còn tìm giết ta, phương chi con của Giêmini đây. Hãy để nó nguyền rủa theo lệnh Chúa. Biết đâu Chúa sẽ nhìn thấy nỗi khổ tâm của ta, và hôm nay, Người sẽ đổi lời dữ ra hạnh phúc cho ta". Ðavít và các cận vệ của ông cứ tiếp tục đi.

Ðó là lời Chúa. 

Ðáp Ca: Tv 3, 2-3. 4-5. 6-7

Ðáp: Lạy Chúa! Xin Chúa đứng lên, xin cứu vớt con! (c. 8).

Xướng: 1) Thân lạy Chúa, nhiều thay người bách hại con, nhiều thay người nổi dậy chống con. Về con, nhiều kẻ thốt ra lời: "Hết trông hắn được Chúa trời cứu độ". - Ðáp.

2) Nhưng, lạy Chúa, Chúa là thuẫn hộ thân con, là vinh quang con, Chúa cho con ngẩng đầu lên. Con lên tiếng kêu cầu tới Chúa, và Chúa đã nghe con từ núi thánh của Ngài. - Ðáp.

3) Con nằm xuống và đã ngủ ngon, rồi thức khoẻ vì Chúa đỡ nâng con. Con không kinh hãi ức triệu người ở chung quanh đồn trú hại con. Lạy Chúa! Xin Chúa đứng lên, xin cứu vớt con! - Ðáp.  

Alleluia: Tv 129, 5

Alleluia, alleluia! - Con hy vọng rất nhiều vào Chúa, linh hồn con trông cậy ở lời Chúa. - Alleluia. 

Phúc Âm: Mc 5, 1-20

"Hỡi thần ô uế, hãy ra khỏi người này".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khi ấy, Chúa Giêsu và các môn đệ sang bờ biển bên kia, đến địa hạt Giêrasa. Chúa Giêsu vừa ở thuyền lên, thì một người bị quỷ ô uế ám từ các mồ mả ra gặp Người. Người đó vẫn ở trong các mồ mả mà không ai có thể trói nổi, dù dùng cả đến dây xích, vì nhiều lần người ta đã trói anh ta, gông cùm xiềng xích lại, nhưng anh ta đã bẻ gãy xiềng xích, phá gông cùm, và không ai có thể trị nổi anh ta. Suốt ngày đêm anh ta ở trong mồ mả và trong núi, kêu la và lấy đá rạch mình mẩy. Thấy Chúa Giêsu ở đàng xa, anh ta chạy đến sụp lạy Người và kêu lớn tiếng rằng: "Hỡi ông Giêsu, Con Thiên Chúa Tối Cao, ông với tôi có liên hệ gì đâu? Vì danh Thiên Chúa, tôi van ông, xin chớ hành hạ tôi". Nhưng Chúa Giêsu bảo nó rằng: "Hỡi thần ô uế, hãy ra khỏi người này". Và Người hỏi nó: "Tên ngươi là gì?" Nó thưa: "Tên tôi là cơ binh, vì chúng tôi đông lắm". Và nó nài xin Người đừng trục xuất nó ra khỏi miền ấy.

Gần đó, có một đàn heo đông đảo đang ăn trên núi, những thần ô uế liền xin Chúa Giêsu rằng: "Hãy cho chúng tôi đến nhập vào đàn heo". Và Chúa Giêsu liền cho phép. Các thần ô uế liền xuất ra và nhập vào đàn heo, rồi cả đàn chừng hai ngàn con lao mình xuống biển và chết đuối. Những kẻ chăn heo chạy trốn và loan tin đó trong thành phố và các trại. Người ta liền đến xem việc gì vừa xảy ra. Họ tới bên Chúa Giêsu, nhìn thấy kẻ trước kia bị quỷ ám ngồi đó, mặc quần áo và trí khôn tỉnh táo, và họ kinh hoảng. Những người đã được chứng kiến thuật lại cho họ nghe mọi sự đã xảy ra như thế nào đối với người bị quỷ ám và đàn heo. Họ liền xin Chúa Giêsu rời khỏi ranh giới họ. Khi Người xuống thuyền, kẻ trước kia bị quỷ ám xin theo Người. Nhưng người không cho mà rằng: "Con hãy về nhà với thân quyến, và loan truyền cho họ biết những gì Thiên Chúa đã làm cho con và đã thương con". Người đó liền đi và bắt đầu tuyên xưng trong miền thập tỉnh, tất cả những gì Chúa Giêsu đã làm cho anh ta, và mọi người đều thán phục.

Ðó là lời Chúa. 


Loving pigs more than Jesus – Pens and Picks

 


Suy nghiệm Lời Chúa

 

   

Đức Kitô Trừ Quỉ

  

Ngày Thứ Hai trong Tuần 4 Thường Niên hậu Giáng Sinh hôm nay, quyền uy trừ quỉ của Chúa Giêsu trong Bài Phúc Âm hôm nay thực sự là những gì phản ảnh chủ đề "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" của chung thời điểm phụng vụ kéo dài cho tới Mùa Chay này.

Đúng thế, nếu quỉ cả không thể nào đi trừ quỉ con, vì ma quỉ không thể nào tự chia rẽ nhau, như chính Chúa Giêsu khẳng định trong Bài Phúc Âm Thứ Hai tuần trước, và nếu loài người vốn bị ma quỉ thống trị từ sau nguyên tội không ai có thể trừ quỉ, thì ai trừ được quỉ người đó chắc chắn phải từ Thiên Chúa là Đấng vô cùng toàn năng mà đến, hay là chính Thiên Chúa, như trường hợp của Vị Thiên Chúa Làm Người Giêsu Kitô trong Bài Phúc Âm hôm nay.

Thật vậy, trong các người bị quỉ ám được bộ Phúc Âm Nhất Lãm thuật lại, chưa có một trường hợp nào đầy kinh hoàng và thật khiếp sợ như trường hợp này, một trường hợp được Thánh ký Marco thuật lại trong Bài Phúc Âm hôm nay, vừa quá dữ tợn, quá mãnh liệt và quá nhiều quỉ, chứng tỏ không một con người thuần túy nào có thể trừ quỉ ngoại trừ một mình Vị Thiên Chúa Nhập Thể là Chúa Giêsu Kitô:

"Khi ấy, Chúa Giêsu và các môn đệ sang bờ biển bên kia, đến địa hạt Giêrasa. Chúa Giêsu vừa ở thuyền lên, thì một người bị quỷ ô uế ám từ các mồ mả ra gặp Người. Người đó vẫn ở trong các mồ mả mà không ai có thể trói nổi, dù dùng cả đến dây xích, vì nhiều lần người ta đã trói anh ta, gông cùm xiềng xích lại, nhưng anh ta đã bẻ gãy xiềng xích, phá gông cùm, và không ai có thể trị nổi anh ta. Suốt ngày đêm anh ta ở trong mồ mả và trong núi, kêu la và lấy đá rạch mình mẩy".

Sự kiện "một người bị quỷ ô uế ám từ các mồ mả ra" và "người đó vẫn ở trong các mồ mả" (câu này bản dịch có thể bị hiểu lầm là người bị quỉ ám  bên trong các ngôi mộ, đúng hơn là "ẩn nấp ở giữa các ngôi mộ - the man had taken refuge among the tombs") cho thấy ma quỉ đồng nghĩa với chết chóc và gây ra chết chóc (xem Gioan 8:44), mà đã là người thì tự nhiên ai cũng sợ chết và bị chết về thể lý, không ai có thể thoát chết và làm chủ được sự chết, ngoại trừ Đấng từ cõi chết sống lại là "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý".

Cho dù vì kiêu ngạo ngay từ ban đầu mà đệ nhất thần trời là minh thần Luxiphe đã cùng với 1/3 thần trời trở thành ma quỉ (xem Khải Huyền 12:4,7-9), chúng sau đó đã tỏ ra biết mình, như Bài Phúc Âm hôm nay cho thấy thái độ của chúng tự động tỏ ra với Đấng quyền năng hơn chúng, dù Người còn ở đằng xa, và van xin với Người là Đấng mà chúng nhận biết là ai và đừng ra tay làm khốn chúng: 

"Thấy Chúa Giêsu ở đàng xa, anh ta chạy đến sụp lạy Người và kêu lớn tiếng rằng: 'Hỡi ông Giêsu, Con Thiên Chúa Tối Cao, ông với tôi có liên hệ gì đâu? Vì danh Thiên Chúa, tôi van ông, xin chớ hành hạ tôi'". 

Thế nhưng, "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" đến để cứu độ con người được dựng nên theo hình ảnh thần linh và tương tự thần linh (xem Khởi Nguyên 1:26-27) khỏi tội lỗi và sự chết gây nên bởi ma quỉ ngay từ ban đầu, khỏi tình trạng con người đang bị nô lệ ma quỉ và bị ma quỉ thống trị. Bởi thế Người đã ra tay trừ chúng: "Hỡi thần ô uế, hãy ra khỏi người này". 

Tuy nhiên, như bài Phúc Âm hôm nay thuật lại, trước khi chúng xuất ra, "Người hỏi nó: 'Tên ngươi là gì?' Nó thưa: 'Tên tôi là cơ binh, vì chúng tôi đông lắm'. Và nó nài xin Người đừng trục xuất nó ra khỏi miền ấy". Nếu tên của một con quỉ ám người ấy là "cơ binh" thì có thể suy ra rằng

1- Ma quỉ là một tập thể hơn là từng cá nhân, (hoàn toàn khác hẳn với con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa nhờ đó trở thành từng cá nhân được Ngài yêu thương), nên chúng không thể tách lìa nhau, "trừ khử nhau... chia rẽ nhau" (Marco 3:23-24); 

2- Ma quỉ là một quyền lực mãnh liệt, quyền lực tối tăm, quyền lực sự dữ, quyền lực chết chóc, không gì có thể thắng nổi, (như ở nơi trường hợp người bị chúng ám được diễn tả trong Bài Phúc Âm hôm nay), ngoi trừ quyền năng của một mình Thiên Chúa.

Ma quỉ chẳng những là một quyền năng nhưng tự bản chất chúng vẫn sợ đau khổ, vẫn sợ bị trừng phạt, bởi thế, cho dù tự mình là một quyền lực hủy hoại, chúng cũng đã đề nghị với Đấng trừ chúng, đúng hơn là xin cùng Đấng không thể nào không trừ chúng, cho chúng nhập vào đàn heo ở gần đó để chúng tự dùng quyền năng chết chóc của mình mà thực hiện một hành động "tự tử" qua đàn heo ấy, còn hơn bị một tay cao thủ hơn mình như Chúa Kitô ra tay hạ sát cho đỡ bị nhục nhã:

"Gần đó, có một đàn heo đông đảo đang ăn trên núi, những thần ô uế liền xin Chúa Giêsu rằng: 'Hãy cho chúng tôi đến nhập vào đàn heo'. Và Chúa Giêsu liền cho phép. Các thần ô uế liền xuất ra và nhập vào đàn heo, rồi cả đàn chừng hai ngàn con lao mình xuống biển và chết đuối". 

Sự kiện đám quỉ xin nhập vào đàn heo đây dường như ám chỉ là ở nơi đâu vốn sống theo xu hướng về xác thịt, về đam mê nhục dục, về tham lam hưởng thụ, về những gì xấu ra tồi bại thấp hèn đều là những chỗ của ma quỉ và giành cho ma quỉ, những chỗ hết sức thuận lợi cho ma quỉ hoành hành hơn đâu hết, những chỗ ma quỉ là tác nhân mang lại chết chóc cho những tâm hồn quay cuồng theo cuộc sống buông thả như thế... 

Trường hợp của những con người sống băng hoại buông thả ấy có thể nói còn tệ hại và nguy hiểm hơn cả của trường hợp những ai bị quỉ ám nữa, vì người bị quỉ ám hoàn toàn xẩy ra ngoài ý muốn của họ, và họ không thể tự cứu mình cho đến khi được giải cứu bởi quyền lực thần linh của Thiên Chúa. Họ thật là đáng thương và cần cứu. Một khi được cứu và tỉnh lại, họ trở thành những con người tốt hơn trước, như trường hợp nạn nhân đương sự trong Bài Phúc Âm hôm nay: 

"Kẻ trước kia bị quỉ ám ngồi đó, mặc quần áo và trí khôn tỉnh táo, và họ kinh hoảng... Khi Người xuống thuyền, kẻ trước kia bị qu ám xin theo Người. Nhưng người không cho mà rằng: 'Con hãy về nhà với thân quyến, và loan truyền cho họ biết những gì Thiên Chúa đã làm cho con và đã thương con'. Người đó liền đi và bắt đầu tuyên xưng trong miền thập tỉnh, tất cả những gì Chúa Giêsu đã làm cho anh ta, và mọi người đều thán phục".

Về phía thành phần dân chúng nói chung và chủ nhân của đàn heo bị thiệt hại nói riêng: "họ tới bên Chúa Giêsu, nhìn thấy kẻ trước kia bị quỷ ám ngồi đó, mặc quần áo và trí khôn tỉnh táo, và họ kinh hoảng", đến độ, họ chẳng những không tỏ ra cảm phục "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý", như dân làng Samaria của người phụ nữ tội lỗi đã "tuốn ra gặp Người" mà còn "tin vào Người" nữa (xem Gioan 4:30,39), và mừng cho nạn nhân bị quỉ ám vốn là người trong làng của mình, mà họ lại còn có một thái độ hoàn toàn phản ngược, ở chỗ họ đã tỏ ra sợ hãi Chúa Kitô, như thể họ sợ hãi quyền năng trừ quỉ của Chúa, sợ hãi hành động bị trừ quỉ gây thiệt hại cho họ... 

Phải chăng đó là lý do ma quỉ đông như "đạo binh" đã thích thú ở vùng lầy bại hoại này, một vùng đầy những ma quỉ đông như cả một "đạo binh", một sào huyệt của ma quỉ nên chúng không muốn rời bỏ một nơi béo bở như vậy, và "nó nài xin Người đừng trục xuất nó ra khỏi miền ấy"? 

Và cũng phải chăng sau khi thoát khỏi cảnh bị ma quỉ khống chế ở miền này, nạn nhân được trừ quỉ không muốn ở lại một miền đất như sào huyệt của ma quỉ ấy nữa, mà chỉ muốn theo Đấng đã trừ qủi cho mình, theo Đấng đã giải thoát mình, một trường hợp duy nhất trong Phúc Âm liên quan đến nạn nhân trừ quỉ muốn theo Chúa Kitô sau khi được trừ quỉ??

Nhất là phải chăng Chúa Giêsu không chấp nhận lời xin rất chân thành và tốt lành hiếm có này của nạn nhân bị quỉ ám được Người giải thoát là vì Người muốn anh ta trở thành tông đồ của Người và cho Người ở ngay vùng đất của ma quỉ này, một vùng đất dân địa phương ở đấy không muốn thấy sự hiện diện cứu độ của Người, sợ hãi quyền năng giải thoát của Người, nhờ đó, nhờ sự hiện diện gián tiếp của Người qua chứng nhân sống động là anh ta mà ma quỉ không dám hoành hành miền đất ấy nữa. Anh ta trở thành như một ấn tín cứu độ của Người ở vùng này và cho vùng đất vốn là của ma quỉ và thuộc về ma quỉ mà chính anh ta đã từng là ngai tòa ngự trị của chúng giữa vương quốc của chúng ở đấy???

Trong bài giảng cho Lễ Thứ Sáu 29/1/2016 tại Nhà Trọ Thánh Matta, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhấn mạnh một lần nữa, trong nhiều lần khác, về tình trạng tội lỗi là những gì khả chấp còn băng hoại là những gì bất khả chấp, như trường hợp của dân làng sống ở "địa hạt Giêrasa" có thái độ sợ Chúa trên đây trong bài Phúc Âm hôm nay, khi ngài kết thúc bài giảng của mình bằng lời cầu nguyện như sau:

"Lạy Chúa, xin cứu chúng con, xin cứu chúng con cho khỏi bị băng hoại. Ôi Chúa, vâng, chúng con là những tội nhân, thế nhưng không bao giờ trở thành băng hoại. Chúng con xin Chúa ban cho chúng con ơn này". 

Lời cầu nguyện này của Đức Thánh Cha Phanxicô là để kết thúc bài giảng liên quan đến Bài Phúc Âm trong ngày hôm ấy (Thứ Sáu tuần trước) về một Vua Đavít đi từ tội lỗi (ngoại tình với vợ người ta) đến băng hoại (lén lút sát hại người tôi trung của mình là chồng của một người vợ vì sợ mà ăn nằm với mình), và chính vì tội lỗi của vị vua được gọi là Thánh Vương Đavít này, cho dù vua đã tỏ ra thống hối, vua vẫn phải chịu tất cả mọi hậu quả bởi đó mà ra do chính Thiên Chúa ra tay sửa phạt vua, đúng như những gì Ngài phán qua miệng Tiên Tri Nathan trong Bài Đọc 1 Thứ Bảy tuần trước:

"Lưỡi gươm sẽ không bao giờ rời khỏi dòng dõi ngươi cho đến muôn đời, vì ngươi đã khinh dể Ta, đã cướp vợ của Uria người Hêthê làm vợ mình. Vì thế Chúa phán rằng: Từ gia đình ngươi, Ta sẽ gây nên tai hoạ đổ trên đầu ngươi. Ngay trước mặt ngươi, Ta sẽ đem thê thiếp của ngươi trao cho người khác, nó sẽ ăn ở với chúng ngay dưới ánh sáng mặt trời. Ngươi đã hành động thầm lén, còn Ta, Ta sẽ làm việc đó trước mặt toàn dân Israel và giữa thanh thiên bạch nhật".

Bài Đọc 1 hôm nay đã cho thấy những lời cảnh báo ấy của Thiên Chúa đã trở thành hiện thực và ứng nghiệm qua sự kiện nhà vua này chẳng những bị chính một trong những người con trai của mình là Absalon phản loạn mà còn bị một lê dân thường hèn dám ngang nhiên ném đá và công khai nhục mạ nữa:

"Và này xuất hiện một người thuộc dòng họ Saolê, tên là Sêmê, con ông Giêra. Anh ta vừa đi vừa nguyền rủa, rồi ném đá Ðavít và những cận vệ của vua...: 'Hỡi kẻ khát máu, người của Bêlial, xéo đi, xéo đi! Chúa đã đổ trên đầu ngươi tất cả máu của nhà Saolê mà ngươi đã tiếm vị. Thiên Chúa đã trao vương quốc vào tay Absalon, con ngươi. Này tai hoạ hành hạ ngươi, vì ngươi là một tên khát máu'".

Tuy nhiên, phản ứng của vị vua tội lỗi nhưng không đến nỗi quá băng hoại này, trái lại, đã biết thống hối và thật tình thống hối này, qua thái độ vua sẵn sàng chấp nhận bị phạm thương và nhục mạ trước mặt quần thần của vua, và không cho phép ai được đụng đến phạm nhân của vua, nhất là đã trấn an một cận vệ của mình đang nguyền rủa phạm nhân và muốn ra tay cắt đầu hắn:

"'Cớ sao thằng chó chết này nguyền rủa đức vua tôi? Ðể tôi đi lấy đầu nó'. Vua phán rằng: 'Hỡi con của Sarvia, Ta với khanh có liên hệ gì đâu? Cứ để mặc nó nguyền rủa. Vì Chúa bảo nó: 'Hãy nguyền rủa Ðavít', ai dám hỏi nó: 'Tại sao ngươi hành động như vậy?' Và Ðavít nói với Abisai và toàn thể các cận vệ rằng: 'Kìa, con trai bởi lòng ta sinh ra, mà còn tìm giết ta, phương chi con của Giêmini đây. Hãy để nó nguyền rủa theo lệnh Chúa. Biết đâu Chúa sẽ nhìn thấy nỗi khổ tâm của ta, và hôm nay, Người sẽ đổi lời dữ ra hạnh phúc cho ta". Ðavít và các cận vệ của ông cứ tiếp tục đi".

Theo tự nhiên, ai cũng sợ chết nên chẳng ai dám đụng đến kẻ có quyền giết mình như vua chúa của mình. Bởi thế, con người dám công khai ném đá vua cùng triều thần của vua và phạm thượng nhục mạ Vua Đavít trong Bài Đọc 1 hôm nay quả là điên khùng, như thể bị quỉ ám vậy, một thứ quỉ ám chỉ có thể bị trừ bằng bác ái yêu thương của một tấm lòng tan nát khiêm cung như Vua Đavít ở Bài Đọc 1 hôm nay. 

Ngược lại, cũng có thể nói Thánh Vương Đavít đã bị quỉ ám khi phạm tội ngoại tình và sát nhân, bằng không, tự bản chất vốn tốt lành, đầy tin tưởng và yêu thương của vua từ nhỏ cũng như sau này, căn cứ vào các đoạn sách Samuel trước đó thuật lại về vua trong 2 tuần vừa qua, vì thế vua cần phải được trừ quỉ, và Thiên Chúa đã thực hiện việc trừ quỉ này cho vua, chẳng những đã dùng lời nói của Tiên Tri Nathan mà còn qua những hành động và lời nói phạm thượng của một tên lê dân của vua nữa trong Bài Đọc 1 hôm nay. 

Bài Đáp Ca hôm nay như phản ảnh tâm tình đối với Thiên Chúa của Vua Đavít trong lúc vua bị đứa con mình phản loạn và bị một lê dân của mình ném đá cùng nhục mạ:

1) Thân lạy Chúa, nhiều thay người bách hại con, nhiều thay người nổi dậy chống con. Về con, nhiều kẻ thốt ra lời: "Hết trông hắn được Chúa trời cứu độ". 

2) Nhưng, lạy Chúa, Chúa là thuẫn hộ thân con, là vinh quang con, Chúa cho con ngẩng đầu lên. Con lên tiếng kêu cầu tới Chúa, và Chúa đã nghe con từ núi thánh của Ngài. 

3) Con nằm xuống và đã ngủ ngon, rồi thức khoẻ vì Chúa đỡ nâng con. Con không kinh hãi ức triệu người ở chung quanh đồn trú hại con. Lạy Chúa! Xin Chúa đứng lên, xin cứu vớt con!   

 


Thứ Ba


Phụng Vụ Lời Chúa

 

 

Bài Ðọc I (Năm II): 2 Sm 18, 9-10. 14b. 24-25a. 30 - 19, 3

"Absalon con cha ơi, sao cha không chết thay cho con?"

Trích sách Samuel quyển thứ hai.

Trong những ngày ấy, Absalon đang cỡi lừa, tình cờ gặp các cận vệ của Ðavít, và khi con lừa đi qua dưới cây sồi to lớn rậm rạp, thì đầu ông vướng vào cây sồi, và ông bị treo lơ lửng, và con lừa ông đang cỡi cứ chạy. Có người thấy vậy, liền đi báo cho Gioáp rằng: "Tôi đã thấy Absalon bị treo trên cây sồi". Gioáp cầm ba chiếc lao phóng thẳng vào tim Absalon.

Bấy giờ Ðavít đang ngồi giữa hai cửa, còn người lính gác lúc đó đi trên thành phía trên cửa, ngước mắt lên trông thấy một người chạy về. Tên lính gác hô to báo tin cho vua. Vua liền nói: "Nếu chỉ có một đứa, tức là nó mang tin mừng". Vua nói với anh ta: "Ngươi hãy qua bên này". Khi anh ta đi qua và đứng đó, thì tên Kusi xuất hiện và tâu vua rằng: "Tâu đức vua, tôi mang đến cho vua một tin mừng, vì hôm nay, Chúa đã xét xử bênh vực đức vua, Người đã giải thoát đức vua khỏi tay tất cả những kẻ dấy lên chống lại đức vua". Vua hỏi Kusi: "Absalon con ta có bình an không?" Kusi thưa lại: "Ước gì các thù địch của đức vua và toàn thể những kẻ dấy lên chống đức vua, đều bị tai hoạ như chàng thanh niên đó".

Bấy giờ vua buồn sầu và đi lên lầu nơi cổng thành mà khóc lóc. Ngài vừa đi vừa nói: "Con ơi, hỡi Absalon! Absalon con ơi! Sao cha không chết thay cho con! Absalon con ơi! Absalon con ơi! Chớ gì ai để cha chết thay cho con. Absalon con ơi! Con ơi, hỡi Absalon!"

Người ta đi báo tin cho Gioáp hay rằng đức vua khóc lóc và than tiếc con, nên hôm đó cuộc chiến thắng trở nên tang chế cho toàn dân, vì hôm đó, dân chúng nghe nói rằng: "Ðức vua thương tiếc con mình".

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 85, 1-2. 3-4. 5-6

Ðáp: Lạy Chúa, xin ghé tai nghe, xin nhậm lời con (c. 1a).

Xướng: 1) Lạy Chúa, xin ghé tai nghe, xin nhậm lời con, vì con đau khổ và cơ bần. Xin bảo toàn mạng sống con, vì con hiếu thảo với Ngài, xin cứu vớt người bầy tôi đang cậy trông vào Chúa. - Ðáp.

2) Ngài là Thiên Chúa của con, xin thương con, lạy Chúa, vì con ân cần kêu van Ngài. Nguyện cho bầy tôi Chúa được hân hoan, vì, lạy Chúa, con vươn hồn lên tới Chúa. - Ðáp.

3) Lạy Chúa, vì Chúa nhân hậu và khoan dung, giàu lượng từ bi với những ai kêu cầu Chúa. Lạy Chúa, xin nghe lời con khẩn nguyện, và quan tâm đến tiếng con van nài. - Ðáp.

  

Alleluia: Tv 144, 13cd

Alleluia, alleluia! - Chúa trung thành trong mọi lời Chúa phán, và thánh thiện trong mọi việc Chúa làm. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mc 5, 21-43

"Hỡi em bé, Ta bảo em hãy chỗi dậy".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khi ấy, Chúa Giêsu đã xuống thuyền trở về bờ bên kia, có đám đông dân chúng tụ họp quanh Người, và lúc đó Người đang ở bờ biển. Bỗng có một ông trưởng hội đường tên là Giairô đến. Trông thấy Người, ông sụp lạy và van xin rằng: "Con gái tôi đang hấp hối, xin Ngài đến đặt tay trên nó để nó được khỏi và được sống". Chúa Giêsu ra đi với ông ấy, và đám đông dân chúng cũng đi theo chen lấn Người tứ phía.

Vậy có một người đàn bà bị bệnh xuất huyết đã mười hai năm. Bà đã chịu cực khổ, tìm thầy chạy thuốc, tiêu hết tiền của mà không thuyên giảm, trái lại bệnh càng tệ hơn. Khi bà nghe nói về Chúa Giêsu, bà đi lẫn trong đám đông đến phía sau Người, chạm đến áo Người, vì bà tự nhủ: "Miễn sao tôi chạm tới áo Người thì tôi sẽ được lành". Lập tức, huyết cầm lại và bà cảm thấy trong mình đã được khỏi bệnh. Ngay lúc ấy, Chúa Giêsu nhận biết có sức mạnh đã xuất phát tự mình, Người liền quay lại đám đông mà hỏi: "Ai đã chạm đến áo Ta?" Các môn đệ thưa Người rằng: "Thầy coi, đám đông chen lấn Thầy tứ phía, vậy mà Thầy còn hỏi "Ai chạm đến Ta?" Nhưng Người cứ nhìn quanh để tìm xem kẻ đã làm điều đó. Bấy giờ người đàn bà run sợ, vì biết rõ sự thể đã xảy ra nơi mình, liền đến sụp lạy Người và thú nhận với Người tất cả sự thật. Người bảo bà: "Hỡi con, đức tin con đã chữa con, hãy về bình an và được khỏi bệnh".

Người còn đang nói, thì người nhà đến nói với ông trưởng hội đường rằng: "Con gái ông chết rồi, còn phiền Thầy làm chi nữa?" Nhưng Chúa Giêsu đã thoáng nghe lời họ vừa nói, nên Người bảo ông trưởng hội đường rằng: "Ông đừng sợ, hãy cứ tin". Và Người không cho ai đi theo, trừ Phêrô, Giacôbê và Gioan, em Giacôbê. Các ngài đến nhà ông trưởng hội đường. Và Chúa Giêsu thấy người ta khóc lóc kêu la ồn ào, Người bước vào và bảo họ: "Sao ồn ào và khóc lóc thế? Con bé không chết đâu, nó đang ngủ đó". Họ liền chế diễu Người. Nhưng Người đuổi họ ra ngoài hết, chỉ đem theo cha mẹ đứa bé và những môn đệ đã theo Người vào chỗ đứa bé nằm. Và Người cầm tay đứa nhỏ nói rằng: "Talitha, Koumi!", nghĩa là: "Hỡi em bé, Ta truyền cho em hãy chỗi dậy!" Tức thì em bé đứng dậy và đi được ngay, vì em đã được mười hai tuổi. Họ sửng sốt kinh ngạc. Nhưng Người cấm ngặt họ đừng cho ai biết việc ấy, và bảo họ cho em bé ăn.

Ðó là lời Chúa.




 

 

 

Suy nghiệm Lời Chúa


  

Đức Kitô cứu chữa   


Hôm nay, Thứ Ba trong Tuần 4 Thường Niên hậu Giáng Sinhchủ đề "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" của chung thời điểm phụng vụ kéo dài cho tới Mùa Chay này vẫn tiếp tục với phụng vụ lời Chúa hôm nay nói chung và bài Phúc Âm nói riêng.

Thật thế, "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" đã tỏ mình ra trong bài Phúc Âm hôm nay ở chỗ chữa lành cho một người đàn bà bị bệnh loạn huyết 12 năm và đã hồi sinh một bé gái 12 tuổi.

Trước hết là phép lạ chữa lành người đàn bà loạn huyết 12 năm:

"Có một người đàn bà bị bệnh xuất huyết đã mười hai năm. Bà đã chịu cực khổ, tìm thầy chạy thuốc, tiêu hết tiền của mà không thuyên giảm, trái lại bệnh càng tệ hơn. Khi bà nghe nói về Chúa Giêsu, bà đi lẫn trong đám đông đến phía sau Người, chạm đến áo Người, vì bà tự nhủ: 'Miễn sao tôi chạm tới áo Người thì tôi sẽ được lành'. Lập tức, huyết cầm lại và bà cảm thấy trong mình đã được khỏi bệnh. Ngay lúc ấy, Chúa Giêsu nhận biết có sức mạnh đã xuất phát tự mình, Người liền quay lại đám đông mà hỏi: 'Ai đã chạm đến áo Ta?' Các môn đệ thưa Người rằng: 'Thầy coi, đám đông chen lấn Thầy tứ phía, vậy mà Thầy còn hỏi Ai chạm đến Ta?' Nhưng Người cứ nhìn quanh để tìm xem kẻ đã làm điều đó. Bấy giờ người đàn bà run sợ, vì biết rõ sự thể đã xảy ra nơi mình, liền đến sụp lạy Người và thú nhận với Người tất cả sự thật. Người bảo bà: 'Hỡi con, đức tin con đã chữa con, hãy về bình an và được khỏi bệnh'".

Sau nữa là phép lạ hồi sinh một bé gái 12 tuổi: 

"Người còn đang nói, thì người nhà đến nói với ông trưởng hội đường rằng: 'Con gái ông chết rồi, còn phiền Thầy làm chi nữa?' Nhưng Chúa Giêsu đã thoáng nghe lời họ vừa nói, nên Người bảo ông trưởng hội đường rằng: 'Ông đừng sợ, hãy cứ tin'. Và Người không cho ai đi theo, trừ Phêrô, Giacôbê và Gioan, em Giacôbê. Các ngài đến nhà ông trưởng hội đường. Và Chúa Giêsu thấy người ta khóc lóc kêu la ồn ào, Người bước vào và bảo họ: 'Sao ồn ào và khóc lóc thế? Con bé không chết đâu, nó đang ngủ đó'. Họ liền chế diễu Người. Nhưng Người đuổi họ ra ngoài hết, chỉ đem theo cha mẹ đứa bé và những môn đệ đã theo Người vào chỗ đứa bé nằm. Và Người cầm tay đứa nhỏ nói rằng: 'Talitha, Koumi!', nghĩa là: 'Hỡi em bé, Ta truyền cho em hãy chỗi dậy!' Tức thì em bé đứng dậy và đi được ngay, vì em đã được mười hai tuổi. Họ sửng sốt kinh ngạc. Nhưng Người cấm ngặt họ đừng cho ai biết việc ấy, và bảo họ cho em bé ăn".

Theo bộ 3 Phúc Âm Nhất Lãm thì 2 phép lạ này bao giờ cũng đi liền với nhau, nhưng có cái lạ là con số 12 trùng hợp ở giữa hai nạn nhân nhận được phép lạ của Chúa Giêsu, rồi một điều nữa là phép lạ chữa lành cho nữ nạn nhân loạn huyết 12 năm đã kéo dài thời giờ khiến bé gái 12 tuổi "đang hấp hối" không kịp chữa lành khi còn sống như người đàn bà loạn huyết 12 năm. Ngoài ra, sự kiện "đám đông dân chúng cũng đi theo chen lấn Người tứ phía" khiến Người không thể đi nhanh hơn cũng là nguyên nhân chậm trễ khiến Chúa Giêsu không đến kịp lúc trước khi bé gái chết. 

Tuy nhiên, vì là "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý", Chúa Giêsu vẫn có thể tỏ mình ra một cách hữu hiệu nhất và sáng tỏ nhất vào bất cứ lúc nào, tùy từng trường hợp của mỗi người cũng như của những ai liên hệ, miễn là làm sao để mang lại lợi ích thiêng liêng tối đa chẳng những cho chính nạn nhân đương sự mà còn cho chung cả cộng đồng của họ nữa. Phải chăng đó là lý do có con số trùng hợp 12 với 12: 12 x 12 = 144, hình ảnh vuông trọn của con số đông được tuyển chọn, bao gồm cả cựu ước (12 chi tộc dân Do Thái) lẫn tân ước (12 tông đồ của Giáo Hội), như được Sách Khải Huyền đề cập tới (21:17) về một Tân Thánh Đô Giêrusalem?

Về trường hợp của người đàn bà loạn huyết 12 năm, "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" muốn tỏ mình ra ở một "đám đông dân chúng cũng đi theo chen lấn Người tứ phía", nhờ đó, riêng người đàn bà bị bệnh loạn huyết có thể lợi dụng dịp may hiếm quí ấy mà tự động chạm đến gấu áo của Người hầu được chữa lành, bằng không, như những lần khác, Người thường xuống thuyền để tránh đám đông thì bà ấy chẳng bao giờ có thể chạm đến Người

Và mục đích Người cố ý lên tiếng hỏi "ai đã đụng đến Tôi" một cách công khai giữa đám đông trong Bài Phúc Âm hôm nay, không phải là vì Người không biết kẻ nào đã động đến Người, hay Người muốn kẻ đụng đến Người tự thú; thực sự Người đã biết được rằng chính những gì từ Người xuất ra, (như tác dụng thần linh và ân sủng vẫn từ các Bí Tích Thánh hiện nay), và quyền lực chữa lành từ Người thông ra đó đã chữa lành con người chạm đến Người là ai; vì thế, mục đích Người lên tiếng là để cho mọi người hiện diện bấy giờ hãy lưu ý đến nạn nhân được Người chữa lành, đúng hơn đến yếu tố bà đã được chữa lành là chính "đức tin con đã chữa con" của bà, một đức tin có tác dụng chữa lành dù bề ngoài Người như thể không biết và hoàn toàn do đương sự tự động làm thôi.

Về trường hợp của bé gái 12 tuổi hấp hối và lìa đời, "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" muốn tỏ mình ra vào chính lúc em chết rồi mới rạng ngời hơn lúc em đang hấp hối, và mới đúng lúc hơn, bởi vì, lúc ấy mới là lúc có đông người thương cảm về cái chết mệnh yểu của một "lá xanh rụng xuống lá vàng trên cây" như em đến chia buồn với tang gia, đông hơn là lúc em mới hấp hối. 

Đối với Người, cái chết tự nhiên về phần xác của con người trên trần gian này, như trường hợp của bé gái 12 tuổi này, hay của Lazarô bạn thân của Người (xem Gioan 11:11), chỉ là một giấc ngủ mà thôi: "Sao ồn ào và khóc lóc thế? Con bé không chết đâu, nó đang ngủ đó", còn có thể thức dậy được, đúng hơn, còn có thể đánh thức dậy bằng quyền năng của Người, vì thân xác chết chóc của con người sau nguyên tội và bởi nguyên tội, nhờ quyền năng Vượt Qua của Người sau này, hay nhờ Thánh Thần của Người (xem Roma 8:11), "sẽ được sống lại vào ngày sau hết" (Gioan 11:24).

Bài Đọc 1 cho Năm Chẵn hôm nay cho thấy một con người bao gồm cả hai hiện tượng loạn huyết và chết chóc của hai nạn nhân trong Bài Phúc Âm hôm nay. Đó là Absalon, một trong những người con trai của Vua Đavít, một người con "loạn huyết" ở chỗ có máu phản loạn, dám ngang nhiên chống lại vương phụ Đavít của mình, và chính vì tội của mình, người con bị "loạn huyết" này đã bị chết một cách thảm thương, bởi chính vị lãnh tướng của vua cha:

"Trong những ngày ấy, Absalon đang cỡi lừa, tình cờ gặp các cận vệ của Ðavít, và khi con lừa đi qua dưới cây sồi to lớn rậm rạp, thì đầu ông vướng vào cây sồi, và ông bị treo lơ lửng, và con lừa ông đang cỡi cứ chạy. Có người thấy vậy, liền đi báo cho Gioáp rằng: 'Tôi đã thấy Absalon bị treo trên cây sồi'. Gioáp cầm ba chiếc lao phóng thẳng vào tim Absalon".

Thế nhưng nếu hai nạn nhân trong Bài Phúc Âm hôm nay được "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" chữa lành và hồi sinh thế nào, Absalon "loạn huyết" và bị "ba chiếc lao phóng thẳng vào tim" trong Bài Đọc 1 hôm nay cũng được bù đắp bằng sự lành thắng sự dữ, như thể lỗi lầm của người con này được chữa lành và hồi sinh bởi chính vua cha của nó, bằng quyền lực yêu thương thứ tha vô bờ bến của vua cha, như Bài Đọc 1 hôm nay cho thấy:

"'Tâu đức vua, tôi mang đến cho vua một tin mừng, vì hôm nay, Chúa đã xét xử bênh vực đức vua, Người đã giải thoát đức vua khỏi tay tất cả những kẻ dấy lên chống lại đức vua'. Vua hỏi Kusi: 'Absalon con ta có bình an không?' Kusi thưa lại: 'Ước gì các thù địch của đức vua và toàn thể những kẻ dấy lên chống đức vua, đều bị tai hoạ như chàng thanh niên đó'. Bấy giờ vua buồn sầu và đi lên lầu nơi cổng thành mà khóc lóc. Ngài vừa đi vừa nói: 'Con ơi, hỡi Absalon! Absalon con ơi! Sao cha không chết thay cho con! Absalon con ơi! Absalon con ơi! Chớ gì ai để cha chết thay cho con. Absalon con ơi! Con ơi, hỡi Absalon!'"

Bài Đáp Ca hôm nay có thể áp dụng vào thân phận và tâm tình của chính Vua Đavít là nạn nhân bị con mình phản loạn mà lại thương mất con, nhưng cũng có thể áp dụng cho cả trường hợp của người đàn bà loạn huyết 12 năm và bé gái 12 tuổi qua đời trong Bài Phúc Âm hôm nay, và cho trường hợp của cả Absalon trong Bài Đọc 1 hôm nay nữa:

1) Lạy Chúa, xin ghé tai nghe, xin nhậm lời con, vì con đau khổ và cơ bần. Xin bảo toàn mạng sống con, vì con hiếu thảo với Ngài, xin cứu vớt người bầy tôi đang cậy trông vào Chúa. 

2) Ngài là Thiên Chúa của con, xin thương con, lạy Chúa, vì con ân cần kêu van Ngài. Nguyện cho bầy tôi Chúa được hân hoan, vì, lạy Chúa, con vươn hồn lên tới Chúa. 

3) Lạy Chúa, vì Chúa nhân hậu và khoan dung, giàu lượng từ bi với những ai kêu cầu Chúa. Lạy Chúa, xin nghe lời con khẩn nguyện, và quan tâm đến tiếng con van nài. 

 

 

 

 


Thứ Tư


Phụng Vụ Lời Chúa


Bài Ðọc I (Năm II): 2 Sm 24, 2. 9-17

"Chính con đã phạm tội, nhưng những người này là những con chiên, họ có làm gì đâu?"

Trích sách Samuel quyển thứ hai.

Trong những ngày ấy, vua Ðavít nói với Gioáp tư lệnh quân đội rằng: "Ngươi hãy đi kinh lý khắp các chi tộc Israel, từ Ðan đến Bersabê, và kiểm tra dân chúng, để ta biết dân số".

Gioáp nạp sổ kiểm tra dân chúng cho vua. Trong dân Israel có tám trăm ngàn dũng sĩ biết xử dụng gươm, còn phía Giuđa có năm trăm ngàn người thiện chiến.

Sau khi kiểm tra dân số, Ðavít hồi hộp và thưa cùng Chúa rằng: "Con đã phạm tội nặng nề trong việc con đã làm. Nhưng, lạy Chúa, xin xoá tội ác cho tôi tớ Chúa, vì con đã hành động quá dại dột". Sáng hôm sau, khi Ðavít thức dậy, có lời Chúa phán cùng ông Gad, vị tiên tri và thị kiến của Ðavít rằng: "Ngươi hãy đi nói với Ðavít: Ðây Chúa phán: Ta cho ngươi ba điều, ngươi hãy chọn điều nào ngươi muốn, rồi Ta sẽ thi hành". Gad đến cùng Ðavít và tâu rằng: "Hoặc ngài phải chịu bảy năm đói kém trong nước ngài, hoặc trong ba tháng, ngài phải lẩn trốn quân thù tìm bắt bớ ngài, hoặc là trong nước ngài phải chịu dịch tả suốt ba ngày, giờ đây ngài hãy suy nghĩ đắn đo và chịu điều nào đi để tôi thưa lại cùng Ðấng đã sai tôi". Ðavít trả lời cho Gad rằng: "Tôi khổ quá! Nhưng thà rơi vào tay Chúa còn hơn là rơi vào tay người phàm, vì Chúa rất nhân từ".

Chúa đã giáng cơn dịch tả xuống Israel từ sáng hôm ấy cho đến thời gian đã định. Từ Ðan tới Bersabê, có đến bảy mươi ngàn người đàn ông trong dân phải chết. Ðang lúc thiên thần Chúa giơ tay để tàn phá Giêrusalem, thì Chúa hối tiếc trước sự đau khổ, nên phán bảo thiên thần đang giết phạt dân chúng rằng: "Thôi đủ rồi! Giờ đây hãy dừng tay lại". Bấy giờ thiên thần Chúa đang ở gần sân lúa của Aruna người Giêbusa. Khi thấy thiên thần sát phạt dân chúng, Ðavít thưa cùng Chúa rằng: "Chính con là kẻ đã phạm tội, chính con đã làm điều gian ác; nhưng những người này là những con chiên, họ có làm gì đâu? Vậy xin tay Chúa đè nặng trên con và trên nhà cha con".

Ðó là lời Chúa. 

Ðáp Ca: Tv 31, 1-2. 5. 6. 7

Ðáp: Lạy Chúa, Chúa đã tha thứ tội lỗi cho con (c. 5c).

Xướng: 1) Phúc thay người được tha thứ lỗi lầm, và tội phạm của người được ơn che đậy! Phúc thay người mà Chúa không trách cứ lỗi lầm, và trong lòng người đó chẳng có mưu gian. - Ðáp.

2) Con xưng ra cùng Chúa tội phạm của con, và lỗi lầm của con, con đã không che giấu. Con nói: "Con thú thực cùng Chúa điều gian ác của con, và Chúa đã tha thứ tội lỗi cho con". - Ðáp.

3) Bởi thế nên mọi người tín hữu sẽ nguyện cầu cùng Chúa trong thời buổi khốn khó gian truân. Khi sóng cả ba đào ập tới, chúng sẽ không hại nổi những người này. - Ðáp.

4) Chúa là chỗ dung thân, Chúa giữ tôi khỏi điều nguy khổ, Chúa đùm bọc tôi trong niềm vui ơn cứu độ. - Ðáp. 

Alleluia: Ga 8,12

Alleluia, Alleluia. - Chúa phán: "Ta là sự sáng thế gian, ai theo Ta, sẽ được ánh sáng ban sự sống. - Alleluia. 

Phúc Âm: Mc 6,1-6

"Không một tiên tri nào mà không bị khinh bỉ ở quê hương".

Bài trích Phúc Âm theo Thánh Marcô.

Khi ấy, Chúa Giêsu trở về quê nhà và các môn đệ cùng theo Người.

Ðến ngày Sabát, Người vào giảng trong hội đường, và nhiều thính giả sủng sốt về giáo lý của Người, nên nói rằng: "Bởi đâu ông nầy được như vậy? Sao ông được khôn ngoan như vậy? Bởi đâu tay Người làm được những sự lạ thể ấy? Ông nầy chẳng phải bác thợ mộc con bà Maria, anh em với Giacôbê, Giuse, Giuđa và Simon sao? Chị em ông không ở với chúng ta đây sao?"

Và họ vấp phạm vì Người.

Chúa Giêsu liền bảo họ: "Không một tiên tri nào mà không bị kinh bỉ ở quê hương, gia đình họ hàng mình".

Ở đó Người không làm phép lạ nào được, ngoại trừ đặt tay chữa vài bệnh nhân, và Người ngạc nhiên vì họ cứng lòng tin.

Người đi rảo qua các làng chung quanh mà giảng dạy.

Ðó là Lời Chúa. 



Suy nghiệm Lời Chúa

 


   Đức Kitô Nazarét   


Phụng vụ lời Chúa, nhất là Bài Phúc Âm, cho Thứ Tư trong Tuần 4 Thường Niên hậu Giáng Sinh hôm nay vẫn tiếp tục phản ảnh chủ đề "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" của chung thời điểm phụng vụ kéo dài cho tới Mùa Chay này.

Bài Phúc Âm hôm nay được Thánh ký Marco thuật lại, có nội dung phần nào giống phần đầu của bài Phúc Âm được Thánh ký Luca thuật lại và được Giáo Hội sử dụng cho Chúa Nhật IV đầu tuần này. Bài Phúc Âm hôm nay, tuy ở cùng một địa điểm và cùng một thành phần thính giả: "Chúa Giêsu trở về quê nhà" như bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này, nhưng khác với bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này ở chỗ không có đoạn Chúa Giêsu bị dân làng dẫn ra sườn núi để xô Người xuống cho chết như ở phần cuối của Bài Phúc Âm Chúa Nhật vừa rồi.

Tuy nhiên, cả hai bài Phúc Âm cho Chúa Nhật đầu tuần của Thánh ký Luca cũng như cho Thứ Tư hôm nay của Thánh ký Marco đều giống nhau ở phản ứng của dân chúng về Chúa Giêsu Kitô, ở chỗ, một đàng thì họ tỏ ra "sng sốt về giáo lý của Người", đàng khác, trái lại, chính vì họ cảm thấy lạ lùng "sửng sốt" như vậy về Người "nên nói rằng: 'Bởi đâu ông nầy được như vậy? Sao ông được khôn ngoan như vậy? Bởi đâu tay Người làm được những sự lạ thể ấy? Ông nầy chẳng phải bác thợ mộc con bà Maria, anh em với Giacôbê, Giuse, Giuđa và Simon sao? Chị em ông không ở với chúng ta đây sao?'

Thái độ ba phải của họ đã được Thánh ký Marco trong Bài Phúc Âm hôm nay kết luận là: "Và họ vấp phạm vì Người". "Vấp phạm" ở chỗ nào? Phải chăng ở chỗ họ đã phạm tội, ở chỗ họ đã tỏ ra uất hận với Người đến độ muốn sát hại Người như trong Bài Phúc Âm của Thánh ký Luca cho Chúa Nhật đầu tuần?

Thế nhưng, phản ứng và hành động sát hại Chúa Giêsu Kitô đây chỉ xẩy ra sau khi Người thẳng thắn cho họ biết về tình trạng mù quáng và cứng lòng tin của họ mà thôi, như Bài Phúc Âm Chúa Nhật cho biết, còn ở trong Bài Phúc Âm hôm nay, trước khi Người cảnh giác họ rằng: "Không một tiên tri nào mà không bị kinh bỉ ở quê hương, gia đình họ hàng mình", thì Thánh ký Marcô đã khẳng định rằng "họ vấp phạm vì Người" rồi.

Vậy thì phải chăng không tin vào Chúa Kitô là một thái độ hay hành động hoặc trạng thái "vấp phạm". Theo nguyên tắc có thể hiểu như thế. Bởi vì, nếu Chúa Kitô là "ánh sáng thật chiếu soi mọi người..." (Gioan 1:9) thì một khi Người chưa xuất hiện thì tất cả nhân loại vẫn còn tiếp tục "ngồi trong tăm tối và trong bóng sự chết" (Luca 1:79), tức là vẫn còn ở trong tình trạng "vấp phạm", cần phải được cứu độ, cần phải được giải cứu cho khỏi tình trạng bất hạnh vô phúc ấy.

Con người lại càng "vấp phạm" hơn nữa, khi "ánh sáng thật chiếu soi mọi người đã đến trong thế gian" (Gioan 1:9), nghĩa là khi Thiên Chúa đã "hóa thành nhục thể" nơi Con Ngài là Đức Giêsu Kitô, Đấng "tỏ Cha ra" (Gioan 1:18) cho họ mà họ vẫn "không nhận biết Người" (Gioan 1:10) và vẫn "không chấp nhận Người" (Gioan 1:11), như trường hợp điển hình là dân làng Nazarét của Người được Thánh ký Marco ghi lại trong Bài Phúc Âm hôm nay.

Thật vậy, cho dù con người không phạm một thứ tội nào đó thật sự được liệt kê trong 10 điều răn, nhưng một khi con người không chấp nhận sự thật được tỏ ra cho họ, qua tiếng lương tâm của họ, qua những chứng từ của Giáo Hội, qua những nguyên tắc luân lý bất dịch, qua Giáo Huấn chân thật của Giáo Hội v.v., thì ở một nghĩa nào đó, tự mình, họ đã ở trong tình trạng "vấp phạm" rồi vậy, như chính Chúa Kitô đã khẳng định về họ dưới đây

"Phán quyết luận phạt là thế này: ánh sáng đã đến trong thế gian nhưng con người lại chuộng tối tăm hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều gian ác. Hết mọi kẻ làm điều gian ác xấu xa đều ghét ánh sáng, không muốn đến gần ánh sáng bởi sợ các việc làm của mình bị bại lộ" (Gioan 3:19-20).

Thành phần không chấp nhận sự thật hay từ chối sự thật này sở dĩ là thành phần "vấp phạm" vì họ không muốn hoán cải đời sống, trái lại họ muốn tiếp tục sống trong tội lỗi, cho dù họ thực sự biết mình đang tội lỗi, đang sống một cách giả dối và gian ác, hoàn toàn bất khả chấp. Thậm chí chính bản thân đương sự phạm nhân cũng không thể chịu được, khi họ bị lương tâm cắn rứt hay khi họ bị đau khổ bởi tội lỗi do chính họ gây ra.

Nếu họ chấp nhận sự thật thì họ phải hoán cải. Mà hoán cải thì mất tự do phạm tội. Bởi thế, họ không ngừng trốn tránh sự thật, không nương tay đàn áp sự thật và sát hại sự thật là chính những gì giải phóng họ (xem Gioan 8:32). Điển hình và thực tế nhất là trường hợp của những con người luôn trấn an lương tâm để cố tình lao đầu theo đam mê nhục dục và tham vọng lợi lộc điên cuồng của mình, bằng mọi giá, bất chấp mọi thiệt hại gây ra cho tha nhân. 

Với những con người cố tình sống trong tình trạng băng hoại thối nát ấy, như Thiên Chúa không hiện hữu, hay như Thiên Chúa đã chết, như không có đời sau, như chỉ có thiên đường trần thế, như tử thi chết 4 ngày như vậy, cho dù Chúa Giêsu vẫn có thể hồi sinh như Lazarô, nhưng có những trường hợp "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" này chỉ còn biết "khóc" (xem Gioan 11:39,35; Luca 19:41) mà thôi. Đó là lý do bài Phúc Âm hôm nay đã kết lại ở chỗ: 

"Ở đó Người không làm phép lạ nào được, ngoại trừ đặt tay chữa vài bệnh nhân, và Người ngạc nhiên vì họ cứng lòng tin. Người đi rảo qua các làng chung quanh mà giảng dạy". 

Đúng thế, đa số thành phần dân làng ở Nazarét có "vấp phạm vì Người" chăng nữa, Người đã chẳng những không chán nản hay thất vọng, trái lại, càng vì thế Người càng phải nỗ lực rao giảng hơn nữa, ở chỗ: "Người đi rảo qua các làng chung quanh mà giảng dạy", chẳng những để ngăn chặn tình trạng băng hoại như ở Nazarét mà còn để cứu độ những con người đáng thương khác, thật sự lầm lạc khác. 

Bài Đọc 1 cho Năm Chẵn hôm nay trong Sách Samuel quyển thứ 2 cho biết về một Đavít lầm lạc trầm trọng một lần nữa, sau lần ngoại tình và giết người trước kia. Cái lầm lạc một lần nữa này của vị vua đệ nhị cai trị dân Do Thái này là ở chỗ: "Vua Ðavít nói với Gioáp tư lệnh quân đội rằng: 'Ngươi hãy đi kinh lý khắp các chi tộc Israel, từ Ðan đến Bersabê, và kiểm tra dân chúng, để ta biết dân số'".

Thế nhưng, nhà vua đã tỏ ra hối hận về lệnh kiểm tra dân số của mình: "Sau khi kiểm tra dân số, Ðavít hồi hộp và thưa cùng Chúa rằng: 'Con đã phạm tội nặng nề trong việc con đã làm. Nhưng, lạy Chúa, xin xoá tội ác cho tôi tớ Chúa, vì con đã hành động quá dại dột'". 

Tại sao thế? Tự bản chất của việc kiểm tra dân số này đâu có gì là xấu! Thế nhưng, sở dĩ vua Đavít muốn thực hiện việc kiểm tra dân số là vì vua muốn tỏ ra cái hùng hậu của vương quốc trong thời hiển trị của mình, một vương quốc mà, căn cứ vào bản tổng kết được "Gioáp nạp sổ kiểm tra dân chúng cho vua" thì "trong dân Israel có tám trăm ngàn dũng sĩ biết sử dụng gươm, còn phía Giuđa có năm trăm ngàn người thiện chiến". 

Nếu quả thật như vậy thì vua đã phạm tội đối với Thiên Chúa là Đấng đã ở với vua ngay từ khi vua còn là một cậu thanh thiếu niên được Tiên tri Samuel kín đáo xức dầu phong vương cho, ở chỗ vua đã tỏ ra kiêu hãnh, tự phụ và tự mãn v.v. không  sống chân thật với mình và với Chúa. 

Thế rồi, như trong trường hợp đã ngoại tình còn giết người của vua trước kia, lần này, vua cũng phạm hai tội liền nhau, chẳng những mù quáng kiêu hãnh lại còn gian ác ích kỷ nữa. Ở chỗ, khi được chọn một trong ba hình phạt để đền tội lỗi của mình, vua lại chọn hình phạt giáng xuống trên dân lành vô tội hơn là lên chính bản thân đáng phạt của vua là kẻ đã phạm tội:

"Ðây Chúa phán: 'Ta cho ngươi ba điều, ngươi hãy chọn điều nào ngươi muốn, rồi Ta sẽ thi hành'. Gad đến cùng Ðavít và tâu rằng: 'Hoặc ngài phải chịu bảy năm đói kém trong nước ngài, hoặc trong ba tháng, ngài phải lẩn trốn quân thù tìm bắt bớ ngài, hoặc là trong nước ngài phải chịu dịch tả suốt ba ngày, giờ đây ngài hãy suy nghĩ đắn đo và chịu điều nào đi để tôi thưa lại cùng Ðấng đã sai tôi'. Ðavít trả lời cho Gad rằng: 'Tôi khổ quá! Nhưng thà rơi vào tay Chúa còn hơn là rơi vào tay người phàm, vì Chúa rất nhân từ'".

Lý do "thà rơi vào tay Chúa còn hơn là rơi vào tay người phàm, vì Chúa rất nhân từ'được vua Đavít nêu lên và chọn lựa đây bề ngoài có vẻ là những gì chính đáng nhất đối với vua trong lúc vua đang mù quáng, nhưng thật ra là một mánh khóe để trốn tránh khổ đau xẩy ra cho bản thân vua, thà để cho dân lành vô tội chịu còn hơn vua. 

Vấn đề được đặt ra ở đây là tại sao Thiên Chúa là Đấng vô cùng khôn ngoan và nhân từ lại có thể làm theo ý muốn đầy vị kỷ và tác hại dân chúng vô tội như của vua Đavít bấy giờ chứ? Thế nhưng, thật ra, chính trong việc này Thiên Chúa muốn chứng tỏ cho vua thấy rằng tội của vua quá ư là trầm trọng đến độ chỉ có thành phần vô tội như dân lành của vua mới có thể đền thay được cho vua mà thôi, chứ chính vua mà chịu cũng chưa xứng với tội tầy đình của vua nữa: 

"Chúa đã giáng cơn dịch tả xuống Israel từ sáng hôm ấy cho đến thời gian đã định. Từ Ðan tới Bersabê, có đến bảy mươi ngàn người đàn ông trong dân phải chết". 

Tuy nhiên, Thiên Chúa chẳng những công bằng giáng phạt nhưng vẫn nhân hậu như thường. Truớc hết là nhân hậu với thành phần nạn nhân vô tội bị chết trong vụ này, ở chỗ họ chắc chắn được Ngài cứu độ, chắc chắn được Ngài ban thưởng xứng đáng cho giá làm tế vật của họ, như trường hợp làm vật hy tế của Uria là chồng của người vợ mà vua ngoại tình với trước đó cũng vậy. Sau nữa, Ngài nhân hậu với phạm nhân ở chỗ dùng chính hình phạt kẻ vô tội của Ngài vừa đủ để thức tỉnh nạn nhân phạm đến Ngài. Đó là lý do Bài Đọc 1 đã kết luận như thế này:

"Ðang lúc thiên thần Chúa giơ tay để tàn phá Giêrusalem, thì Chúa hối tiếc trước sự đau khổ, nên phán bảo thiên thần đang giết phạt dân chúng rằng: 'Thôi đủ rồi! Giờ đây hãy dừng tay lại'. Bấy giờ thiên thần Chúa đang ở gần sân lúa của Aruna người Giêbusa. Khi thấy thiên thần sát phạt dân chúng, Ðavít thưa cùng Chúa rằng: 'Chính con là kẻ đã phạm tội, chính con đã làm điều gian ác; nhưng những người này là những con chiên, họ có làm gì đâu? Vậy xin tay Chúa đè nặng trên con và trên nhà cha con'".

Không như dân làng Nazarét "cứng lòng tin" trong Bài Phúc Âm hôm nay, vua Đavít đã tỏ ra biết mình và hối hận về những gì mình làm trước tác động thần linh của Thiên Chúa. Bởi thế, vị vua này đã có thể xướng lên Bài Đáp Ca hôm nay rất thích hợp với vua:

1) Phúc thay người được tha thứ lỗi lầm, và tội phạm của người được ơn che đậy! Phúc thay người mà Chúa không trách cứ lỗi lầm, và trong lòng người đó chẳng có mưu gian. 

2) Con xưng ra cùng Chúa tội phạm của con, và lỗi lầm của con, con đã không che giấu. Con nói: "Con thú thực cùng Chúa điều gian ác của con, và Chúa đã tha thứ tội lỗi cho con".

3) Bởi thế nên mọi người tín hữu sẽ nguyện cầu cùng Chúa trong thời buổi khốn khó gian truân. Khi sóng cả ba đào ập tới, chúng sẽ không hại nổi những người này. 

4) Chúa là chỗ dung thân, Chúa giữ tôi khỏi điều nguy khổ, Chúa đùm bọc tôi trong niềm vui ơn cứu độ.  

 


Thứ Năm


Phụng Vụ Lời Chúa


Bài Ðọc I: (Năm II): 1 V 2, 1-4. 10-12

"Cha sắp bước vào con đường chung của thiên hạ; Salomon, con hãy can đảm và ăn ở xứng danh nam nhi".

Trích sách Các Vua quyển thứ nhất.

Gần ngày băng hà, Ðavít truyền cho Salomon, con trai của ông rằng: "Cha sắp bước vào con đường chung của thiên hạ. Con hãy can đảm, và ăn ở xứng danh nam nhi. Con hãy tuân giữ các huấn lệnh của Chúa là Thiên Chúa con, hãy đi trong đường lối của Người, hãy tuân giữ các lễ nghi, giới răn, thánh chỉ và giáo huấn của Người như đã ghi chép trong Luật Môsê, ngõ hầu con đi đâu, con cũng hiểu biết mọi việc con làm, để Chúa hoàn thành lời Người đã nói về cha rằng: "Nếu con cái ngươi tuân giữ đường lối của chúng và hết lòng hết trí đi trước mặt Ta trong chân lý, thì ngươi sẽ không bao giờ mất người kế vị trên ngôi báu Israel".

Vậy vua Ðavít yên giấc với các tổ phụ và được mai táng trong thành Ðavít. Ðavít làm vua Israel được bốn mươi năm: tại Hebron, ngài cai trị bảy năm; tại Giêrusalem, ngài cai trị ba mươi ba năm. Còn Salomon lên ngôi Ðavít cha ngài, và triều đại ngài rất vững bền.

Ðó là lời Chúa. 

Ðáp Ca: 1 Sb 29, 10. 11ab. 11d-12a. 12bcd

Ðáp: Chúa thống trị trên tất cả mọi loài (c. 12b).

Hoặc đọc: Giàu sang là của Chúa, và vinh quang là của Chúa (c. 12a).

Xướng: 1) Ðavít đã chúc tụng Chúa trước mặt toàn thể cộng đồng, người thưa: "Lạy Chúa là Thiên Chúa Israel cha ông chúng con, Chúa đáng chúc tụng, từ đời đời tới muôn muôn thuở". - Ðáp.

2) Lạy Chúa, cao sang, quyền bính và vinh quang, chiến thắng, lời ca khen đều thuộc về Chúa, vì tất cả những gì trên trời dưới đất là của Chúa. - Ðáp.

3) Chúa ngự trên tất cả những đế vương. Giàu sang là của Chúa, và vinh quang là của Chúa. - Ðáp.

4) Chúa thống trị trên tất cả mọi loài, sức mạnh quyền bính đều ở trong tay Chúa; ở trong tay Chúa, mọi uy phong và vững bền.- Ðáp. 

Alleluia: Ga 6, 64b và 69b

Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, lời của Chúa là thần trí và là sự sống: Chúa có những lời ban sự sống đời đời. - Alleluia. 

Phúc Âm: Mc 6, 7-13

"Người bắt đầu sai các ông đi".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khi ấy, Chúa Giêsu gọi mười hai tông đồ và sai từng hai người đi, Người ban cho các ông có quyền trên các thần ô uế. Và Người truyền các ông đi đường đừng mang gì, ngoài cây gậy, không mang bị mang bánh, không mang tiền trong túi, nhưng chân đi dép, và đừng mặc hai áo. Người lại bảo: "Ðến đâu, các con vào nhà nào, thì ở lại đó cho đến khi ra đi. Ai không đón tiếp các con, cũng không nghe lời các con, thì hãy ra khỏi đó, phủi bụi chân để làm chứng tố cáo họ". Các ông ra đi rao giảng sự thống hối. Các ông trừ nhiều quỷ, xức dầu chữa lành nhiều bệnh nhân.

Ðó là lời Chúa. 

Image result for Mk 6, 7-13

Fourth Week in Ordinary Time Thursaday | Cappie's Stuff


Suy nghiệm Lời Chúa



  

Đức Kitô sai đi    


Hôm nay, Thứ Năm trong Tuần 4 Thường Niên hậu Giáng Sinh chủ đề "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" của chung thời điểm phụng vụ kéo dài cho tới Mùa Chay này vẫn tiếp tục được tỏ hiện trong Bài Phúc Âm hôm nay, bài đọc chính yếu cho phần phụng vụ Lời Chúa mỗi ngày.

Ở chỗ, "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý", trong sự kiện Người "gọi mười hai tông đồ và sai từng hai người đi", "Người (đã) ban cho các ông có quyền trên các thần ô uế", và quả thực cái "quyền trên các thần ô uếnày nơi các tông đồ được Người sai đi như thế đã thực sự có tác dụng: "Các ông trừ nhiều quỷ, xức dầu chữa lành nhiều bệnh nhân".

Thế nhưng, "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" này không phải chỉ được tỏ hiện ở thành quả gặt hái được bởi các tông đồ, mà nhất là ở những gì các tông đồ thực hiện theo lời Người căn dặn các vị nữa, bằng không, cho dù các vị có quyền năng trừ quỉ đấy, quyền năng ấy cũng không có tác dụng gì hay chẳng tác dụng là bao nhiêu từ các vị, như sau này đã có lần các vị đã không trừ được quỉ (xem Marco 9:18,28-29), nếu các vị không sống theo tinh thần được Người chỉ bảo cặn kẽ kỹ càng trong Bài Phúc Âm hôm nay trước khi các vị lên đường thi hành sứ vụ truyền giáo của các vị:

"Người truyền các ông đi đường đừng mang gì, ngoài cây gậy, không mang bị mang bánh, không mang tiền trong túi, nhưng chân đi dép, và đừng mặc hai áoNgười lại bảo: 'Ðến đâu, các con vào nhà nào, thì ở lại đó cho đến khi ra đi. Ai không đón tiếp các con, cũng không nghe lời các con, thì hãy ra khỏi đó, phủi bụi chân để làm chứng tố cáo họ'".  

Trong lời hướng dẫn sai đi này, các tông đồ thừa sai truyền giáo của Người cần phải tối thiểu có một tinh thần tin tưởng vào Đấng đã sai các vị, ở chỗ siêu thoát hơn là trần tục và phó mặc hơn là cân đo.

Trước hết là tinh thần tin tưởng ở chỗ siêu thoát hơn là trần tục: "đi đường đừng mang gì, ngoài cây gậy, không mang bị mang bánh, không mang tiền trong túi, nhưng chân đi dép, và đừng mặc hai áo".

Truyền giáo là một công cuộc thần linh, ở chỗ truyền đạt thần linh để có thể hiệp thông thần linh, bởi thế nó không thể nào lệ thuộc vào phương tiện, cho dù là cần thiết, thậm chí cả những gì cần thiết mà có thiếu cũng vẫn có thể truyền giáo, vẫn càng đạt hiệu năng hơn, bởi tác nhân chính yếu của công cuộc và sứ vụ truyền giáo là Thánh Thần, Đấng hoàn thành mọi sự theo ý muốn của Chúa Cha, và theo mẫu gương của Chúa Kitô là Đấng "cáo có hang, chim có tổ Con Người không có chỗ dựa đầu" (Mathêu 8:20; Luca 9:58).

Truyền giáo thực sự là việc rao giảng và loan truyền tin mừng cứu độ cho nhân loại, cụ thể nhất ở nơi các vị thừa sai dấn thân truyền giáo ở khắp nơi trên thế giới, từ thời các tông đồ trở đi, dọc suốt giòng lịch sử của Giáo Hội, theo lệnh truyền khẩn trương bất khả châm chước của Chúa Kitô Phục Sinh (xem Mathêu 28:19-20; Marco 16:16); và cũng chính vì sứ mệnh truyền giáo gắn liền với bản chất của Giáo Hội này (xem Sắc Lệnh Truyền Giáo, 2), Giáo Hội mới được lãnh nhận "Thánh Thần là Đấng ban sự sống" từ Cha do Chúa Kitô sai xuống với Giáo Hội từ Ngày Lễ Ngũ Tuần (xem Tông Vụ 1:8).

Bởi thế, kinh nghiệm hoạt động tông đồ cho thấy có thời chúng ta làm được những gì chúng ta yêu thích, những gì mong muốn, những gì chúng ta có thừa khả năng, những gì chúng ta đã mang lại dồi dào thành quả thiêng liêng cho nhiều người, và chính bản thân chúng ta cũng đã từng được nhiều người biết đến cùng cảm phục, khi chúng ta dấn thân phục vụ hăng say, với tư cách tham gia hay đóng vai trò thực hiện những việc tông đồ giáo dân của mình, trong các giáo xứ, cộng đoàn, hội đoàn, phong trào v.v. 

Thế nhưng, kinh nghiệm sống đạo cũng cho thấy không phải là không có trường hợp người tông đồ ấy lại bị người phối ngẫu của mình ngăn cản, hay bị lòng ganh tị cạnh tranh của những ai đồng hành tông đồ với mình và của mình tẩy chay loại trừ, hoặc bị liệt giường không thể làm gì được nữa v.v., chúng ta hãy yên tâm vui lòng tuân theo Thánh ý Chúa, vì chính lúc chúng ta không làm được những gì chỉ là phương tiện hơn là cùng đích truyền giáo ấy nữa lại chính là lúc chúng ta trở thành đắc lực nhất, bởi bấy giờ Thiên Chúa làm trong chúng ta qua niềm tin và sức chịu đựng của chúng ta.

Chúa Kitô cũng chỉ hoàn tất mọi sự của Người như Đấng đã sai Người mong muốn trên trần gian này một cách trọn vẹn và tối hậu không phải trong thời gian Người còn có thể đi đây đi đó rao giảng tin mừng, làm phép lạ, chữa lành và trừ quỉ, mà vào chính lúc Người kể như không còn nhúc nhích gì được nữa, trên thập tự giá ở Sọ Trường Canvê.

Sau nữa là tinh thần tin tưởng ở chỗ phó mặc hơn là cân đo: "Ai không đón tiếp các con, cũng không nghe lời các con, thì hãy ra khỏi đó, phủi bụi chân để làm chứng tố cáo họ". Bởi vì, theo tự nhiên, con người, bao gồm cả thành phần thừa sai truyền giáo, thường lưu ý đến thành quả gặt hái được từ những gì mình làm và căn cứ vào đó để định lượng mức độ thành công hay thất bại của mình, của công việc mình làm, chứ không hay ít khi hoàn toàn chú trọng đến yếu tố chính yếu là ý muốn tối hậu của Thiên Chúa. 

Điển hình nhất là chính Chúa Giêsu Kitô, Người chỉ làm sao chu toàn ý của Đấng đã sai Người mà thôi, nghĩa là việc thành công hay thất bại của Người là ở chỗ Người có hoàn thành đúng như ý muốn của Đấng đã sai Người hay chăng, chứ không phải ở chỗ cứu được tất cả mọi linh hồn hay chăng, hay có bao nhiêu kẻ đã tin vào Người, bằng không thì Ngườđã hoàn toàn thảm bại trong công cuộc cứu chuộc loài người khi Người bị chết trên thập tự giá ở Đồi Canvê.

Thành phần không tin Người, "không chấp nhận Người" (Gioan 1:11) thì Người không cần phải bận tâm phán xét họ, cho bằng chính họ đã tự luận tội họ rồi: "Ai không tin đã bị phán xử rồi, vì họ không tin vào danh Người Con duy nhất của Thiên Chúa" (Gioan 3:18). Bởi vậy, hãy cứ để Thiên Chúa xét xử những ai chúng ta thấy gian ác, tội lỗi, cứng lòng, băng hoại v.v., kể cả những ai phạm đến chúng ta, đừng xét đoán họ, đừng nguyền rủa họ, đừng khinh thường họ, nhất là đừng trả đũa những ai phạm đến chúng ta, chúng ta mới thật sự là giống Chúa Kitô và mới có thể làm chứng nhân truyền đạt Người cho tha nhân một cách hiệu năng.

Trong Bài Đọc 1 hôm nay, chúng ta thấy một vua cha "truyền giáo" cho vua con, người sẽ lên kế vị mình, và nội dung của sứ điệp "truyền giáo" từ vua cha cho vua con không phải là những gì của vua cha mà là những gì chính Thiên Chúa đã truyền dạy vua cha và đồng thời cũng là những kinh nghiệm sống đạo của vua cha với tư cách làm vua, hơn là kinh nghiệm làm vua về chính trị và quản trị chỉ là những kinh nghiệm về phương tiện bề ngoài:

"Cha sắp bước vào con đường chung của thiên hạ. Con hãy can đảm, và ăn ở xứng danh nam nhi. Con hãy tuân giữ các huấn lệnh của Chúa là Thiên Chúa con, hãy đi trong đường lối của Người, hãy tuân giữ các lễ nghi, giới răn, thánh chỉ và giáo huấn của Người như đã ghi chép trong Luật Môsê, ngõ hầu con đi đâu, con cũng hiểu biết mọi việc con làm, để Chúa hoàn thành lời Người đã nói về cha rằng: 'Nếu con cái ngươi tuân giữ đường lối của chúng và hết lòng hết trí đi trước mặt Ta trong chân lý, thì ngươi sẽ không bao giờ mất người kế vị trên ngôi báu Israel'".

Phải, để cai trị dân của Chúa thì, trước hết và trên hết mọi sự, các vị vua cần phải gắn bó với Thiên Chúa, bằng cách tuân hành ý muốn của Ngài hơn là của mình, nghĩa là các vị không được trở thành cùng đích của mình, trái lại các vị cần phải trở thành dụng cụ trong tay Ngài, thành phương tiện thuận lợi cho Ngài sử dụng tùy nghi, nhờ đó Thiên Chúa có thể hiện thực những gì Ngài muốn nơi họ, những gì sẽ được hoàn toàn ứng nghiệm trong lịch sử cho chung cộng đồng của họ.   

Đúng vậycâu cuối cùng của Bài Đọc 1 hôm nay cho biết rằng: "Salomon lên ngôi Ðavít cha ngài, và triều đại ngài rất vững bền", đúng như lời Chúa đã hứa với vua cha Đavít là những gì cũng đã được chính vua cha truyền lại cho vua con Solomon trước khi chết: "Nếu con cái ngươi tuân giữ đường lối của chúng và hết lòng hết trí đi trước mặt Ta trong chân lý, thì ngươi sẽ không bao giờ mất người kế vị trên ngôi báu Israel'".

Bài Đáp Ca hôm nay nói về Vua Đavít liên quan đến niềm tin tưởng và lòng gắn bó của vua đối với Thiên Chúa, Đấng đã tuyển chọn vua và ở cùng vua, chẳng những ở cùng vua trong triều đại của vua vào thời ấy của dân Do Thái, mà còn bền vững đến muôn đời qua giòng dõi của vua là Đức Giêsu Kitô, Đấng Thiên Sai Cứu Thế, Đấng mà vua "đã chúc tụng trước mặt toàn thể cộng đồng" như sau:

1) Ðavít đã chúc tụng Chúa trước mặt toàn thể cộng đồng, người thưa: "Lạy Chúa là Thiên Chúa Israel cha ông chúng con, Chúa đáng chúc tụng, từ đời đời tới muôn muôn thuở". 

2) Lạy Chúa, cao sang, quyền bính và vinh quang, chiến thắng, lời ca khen đều thuộc về Chúa, vì tất cả những gì trên trời dưới đất là của Chúa. 

3) Chúa ngự trên tất cả những đế vương. Giàu sang là của Chúa, và vinh quang là của Chúa. 

4) Chúa thống trị trên tất cả mọi loài, sức mạnh quyền bính đều ở trong tay Chúa; ở trong tay Chúa, mọi uy phong và vững bền.

 

  


Thứ Sáu

 


Phụng Vụ Lời Chúa

 

Bài Ðọc I: (Năm II): Hc 47, 2-11

"Ðavít đã thành tâm ca tụng và yêu mến Thiên Chúa".

Trích sách Huấn Ca.

Như miếng mỡ lóc ra khỏi thịt con vật tế lễ thế nào, thì Ðavít được chọn giữa con cái Israel như vậy. Người dỡn với sư tử như dỡn với chiên con và đùa với gấu như đùa với những chiên con. Khi còn trẻ, nào người đã chẳng hạ sát tên khổng lồ và rửa nhục cho dân, khi vung dây ném đá đánh ngã tên Goliath kiêu căng đó sao? Vì người đã kêu cầu Thiên Chúa toàn năng, và Chúa đã ban sức mạnh cho người để hạ sát tên chiến sĩ hùng dũng, để nâng cao lòng can đảm của dân người. Nhờ thế, người được tôn vinh như đã giết mười ngàn, được ca tụng vì những lời Chúa chúc lành, và được người ta trao tặng triều thiên vinh quang, vì người đã tiêu diệt quân thù chung quanh, đã thanh toán bọn giặc Philitinh cho đến ngày nay, đã đập tan sức mạnh chúng đến muôn đời. Trong mọi việc, người dùng lời ca khen mà tuyên xưng Ðấng Thánh Tối Cao; người thành tâm ca tụng Chúa, và yêu mến Thiên Chúa đã sáng tạo người, đã cho người quyền năng chống lại quân thù. Người thành lập ca đoàn trước bàn thờ Chúa, để hoà nhịp những bài thánh ca. Người tổ chức những cuộc lễ huy hoàng, quy định đầy đủ chu kỳ thời gian, để họ ca tụng thánh danh Chúa, và từ sáng sớm, họ biểu dương sự thánh thiện của Thiên Chúa. Chúa đã thứ tha tội lỗi của người, và tán dương sức mạnh của người đến muôn đời. Chúa đã ban cho người giao ước vương quốc và ngôi báu vinh quang trong Israel.

Ðó là lời Chúa. 

Ðáp Ca: Tv 17, 31. 47 và 50. 51.

Ðáp: Tán tụng Thiên Chúa là Ðấng cứu độ tôi (c. 47b).

Xướng: 1) Ðường lối Thiên Chúa là đường thanh khiết, lời của Chúa được luyện trong lửa đỏ, chính Người là khiên thuẫn che kẻ nương nhờ Người. - Ðáp.

2) Chúa hằng sống, chúc tụng Ðá Tảng của tôi, tán tụng Thiên Chúa là Ðấng cứu độ tôi! - Bởi vậy, con sẽ ca tụng Ngài giữa chư dân, lạy Chúa, và con sẽ xướng ca khen ngợi danh Ngài. - Ðáp.

3) Ngài đã ban cho vương nhi Ngài đại thắng, đã tỏ lòng từ bi với Ðấng được xức dầu của Ngài, với Ðavít và miêu duệ ông cho tới muôn đời. - Ðáp. 

Alleluia: Mt 4, 4b

Alleluia, alleluia! - Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra. - Alleluia.

Phúc Âm: Mc 6, 14-29

"Ðó chính là Gioan Tẩy Giả trẫm đã chặt đầu, nay sống lại".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khi ấy, vua Hêrôđê nghe nói về Chúa Giêsu, vì danh tiếng Người đã lẫy lừng, kẻ thì nói: "Gioan Tẩy giả đã từ cõi chết sống lại, nên ông đã làm những việc lạ lùng"; kẻ thì bảo: "Ðó là Êlia"; kẻ khác lại rằng: "Ðó là một tiên tri như những tiên tri khác". Nghe vậy, Hêrôđê nói: "Ðó chính là Gioan trẫm đã chặt đầu, nay sống lại". Vì chính vua Hêrôđê đã sai bắt Gioan và giam ông trong ngục, nguyên do tại Hêrôđia, vợ của Philipphê anh vua mà vua đã cưới lấy. Vì Gioan đã bảo Hêrôđê: "Nhà vua không được phép chiếm lấy vợ anh mình". Phần Hêrôđia, nàng toan mưu và muốn giết ông, nhưng không thể làm gì được, vì Hêrôđê kính nể Gioan, biết ông là người chính trực và thánh thiện, và giữ ông lại. Nghe ông nói, vua rất phân vân, nhưng lại vui lòng nghe. Dịp thuận tiện xảy đến vào ngày sinh nhật Hêrôđê, khi vua thết tiệc các quan đại thần trong triều, các sĩ quan và những người vị vọng xứ Galilêa. Khi con gái nàng Hêrôđia tiến vào nhảy múa, làm đẹp lòng Hêrôđê và các quan khách, thì vua liền nói với thiếu nữ ấy rằng: "Con muối gì, cứ xin, trẫm sẽ cho", và vua thề rằng: "Con xin bất cứ điều gì, dù là nửa nước, trẫm cũng cho". Cô ra hỏi mẹ: "Con nên xin gì?" Mẹ cô đáp: "Xin đầu Gioan Tẩy Giả". Cô liền vội vàng trở vào xin vua: "Con muốn đức vua ban ngay cho con cái đầu Gioan Tẩy Giả đặt trên đĩa". Vua buồn lắm, nhưng vì lời thề và vì có các quan khách, nên không muốn làm cho thiếu nữ đó buồn. Và lập tức, vua sai một thị vệ đi lấy đầu Gioan và đặt trên đĩa. Viên thị vệ liền đi vào ngục chặt đầu Gioan, và đặt trên đĩa trao cho thiếu nữ, và thiếu nữ đem cho mẹ. Nghe tin ấy, các môn đệ Gioan đến lấy xác ông và mai táng trong mồ.

Ðó là lời Chúa. 

 

Reflection on Mark 6:14-29 | New Life Narrabri


Suy nghiệm Lời Chúa

 


  Đức Kitô Đầu Não   


Ngày Thứ Sáu trong Tuần 4 Thường Niên hậu Giáng Sinh hôm nay bài Phúc Âm đã chứng thực chủ đề "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" của chung thời điểm phụng vụ kéo dài cho tới Mùa Chay này, với câu đầu tiên như thế này: "Khi ấy, vua Hêrôđê nghe nói về Chúa Giêsu, vì danh tiếng Người đã lẫy lừng".

Tuy nhiên, đối với chung dân chúng thì sở dĩ "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" trở thành "lừng lẫy danh tiếng" như thế là vì, như Bài Phúc Âm hôm nay cho biết: "kẻ thì nói: 'Gioan Tẩy giả đã từ cõi chết sống lại, nên ông đã làm những việc lạ lùng'; kẻ thì bảo: 'Ðó là Êlia'; kẻ khác lại rằng: 'Ðó là một tiên tri như những tiên tri khác'". Còn riêng vua Hêrôđê thì khi "nghe vậy (đã) nói: 'Ðó chính là Gioan trẫm đã chặt đầu, nay sống lại'".

Thật ra, theo nội dung của bài Phúc Âm hôm nay thì "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" không đóng vai chủ động và tự tỏ mình ta như các bài Phúc Âm trước, mà chỉ được nói đến lúc đầu thôi rồi sau đó chỉ liên quan đến những chi tiết về sự kiện vua Hêrôđê sát hại Tiền Hô Gioan Tẩy Giả vậy thôi. Thế nhưng, chính trong sự kiện có tính cách tiêu cực như "sự cố" này cũng đã gián tiếp cho thấy Người quả thực là "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý". 

Không phải hay sao, chính Hêrôđê đã phải công nhận mối liên hệ bất khả phân ly giữa Chúa Kitô là nhân vật mà ông ta chưa bao giờ gặp mà lại rất mong muốn được gặp (xem Luca 23:8) với nhân vật đã bị ông bất đắc dĩ phải cắt thủ cấp, chỉ vì đã bị lỡ lời giữa cả một triều thần bá quan văn võ để giữ lấy thể diện của mình, ở chỗ, ông đã đồng hóa hai nhân vật đặc biệt này của ông thành một: "Ðó chính là Gioan trẫm đã chặt đầu, nay sống lại".

Cái "đầu" của Gioan bị vua Hêrôđê chặt mất đây, trước hết, là biểu hiệu cho "chân lý" đã được Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả, nhân vật vốn được vua "kính nể, (vì vua) biết ngài là người chính trực và thánh thiện", hiên ngang bênh vực cho đến cùng, một "chân lý" về luân lý mà nhà vua đã bất chấp vấp phạm: "Nhà vua không được phép chiếm lấy vợ anh mình", như thể nhà vua đã "chặt" đi "chân lý" ấy bằng đam mê nhục dục của mình, một "chân lý" được biểu hiệu nơi cái "đầu" về thể lý của nhân vật bất khuất Gioan đã bị nhà vua quả thực chặt đi để thỏa mãn ý muốn gian ác hận thù của nàng Hêrôđia là người vợ bất chính của vua, một người vợ bất chính hèn hạ vốn đã "mưu toan muốn giết ngài, nhưng không thể làm gì được", cho tới khi bất ngờ nắm được cơ hội ngàn vàng trong tay là lúc, như Bài Phúc Âm hôm nay thuật lại: 

"Khi con gái nàng Hêrôđia tiến vào nhảy múa, làm đẹp lòng Hêrôđê và các quan khách, thì vua liền nói với thiếu nữ ấy rằng: 'Con muối gì, cứ xin, trẫm sẽ cho', và vua thề rằng: 'Con xin bất cứ điều gì, dù là nửa nước, trẫm cũng cho'. Cô ra hỏi mẹ: 'Con nên xin gì?' Mẹ cô đáp: 'Xin đầu Gioan Tẩy Giả'. Cô liền vội vàng trở vào xin vua: 'Con muốn đức vua ban ngay cho con cái đầu Gioan Tẩy Giả đặt trên đĩa'. Vua buồn lắm, nhưng vì lời thề và vì có các quan khách, nên không muốn làm cho thiếu nữ đó buồn. Và lập tức, vua sai một thị vệ đi lấy đầu Gioan và đặt trên đĩa. Viên thị vệ liền đi vào ngục chặt đầu Gioan, và đặt trên đĩa trao cho thiếu nữ, và thiếu nữ đem cho mẹ".

Chưa hết, cái "đầu" của Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả bị vua Hêrôđê chặt mất đây còn ám chỉ chính Chúa Kitô "là chân lý" (Gioan 14:6) mà ngài chỉ được sai đến trước để dọn đường và để "làm chứng" cho Người (xem Gioan 1:15), Đấng là "ánh sáng chiếu trong tăm tối nhưng tăm tối không át được ánh sáng" (Gioan 1:5), Đấng đến sau ngài nhưng lại vô cùng cao trọng hơn ngài và có trước ngài, như "đầu" của ngài, như vị thủ lãnh tối cao của ngài, đến độ ngài "không đáng cởi giây giầy cho Người" (xem Gioan 1:15,27), một "vị vua mới sinh" (Mathêu 2:2) ngày xưa đã từng bị vương phụ của Hêrôđê đương kim này bấy giờ tìm sát hại khi sau biến cố tam vị chiêm vương gia đến bái thờ Người ở Bêlem Xứ Giuđa mà không trở về trình báo lại cho vua ấy (xem Mathêu 2:1-18).

Như thế, sự kiện cái "đầu" của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả bị quyền lực chính trị đầy vô luân của dân Do Thái thời ấy chặt mất đây, đã trở thành một dấu chỉ đầy bí nhiệm ám chỉ đến cuộc tử nạn của một nhân vật sau này sẽ được một quyền lực chính trị khác, uy thế hơn, là tổng trấn Philatô ở Giuđêa tôn vương là "Vua dân Do Thái" (xem Gioan 19:19; Mathêu 27:37), khi vị thẩm quyền của đế quốc Rôma này, một đàng thì muốn biết "chân lý là gì?" khi tra vấn Chúa Giêsu và đối diện với Chúa Giêsu (Gioan 18:38), một đàng, cũng như Hêrôđê đang làm vua nước bị trị Do Thái bấy giờ đã lấy "đầu" Gioan Tẩy Giả chỉ vì danh dự thế giá của mình trước kia, đành phải ra lệnh đóng đanh một con người mà tự ông biệt được là vô tội và tìm cách thả ra (xem Gioan 19:4,6,10-12).

Vậy thì sự kiện Tiền Hô Gioan Tẩy Giả bị vua Hêrôđê sát hại quả thực có liên quan đến cuộc tử nạn của Chúa Kitô là Đấng đến sau ngài, như một dấu báo trước về Đấng mà ngài đã hai lần tuyên bố và công khai giới thiệu: ngày hôm trước với chung dân chúng - "Kìa Con Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian" (Gioan 1:29), và ngày hôm sau với riêng các môn đệ của ngài - "Hãy nhìn xem kìa, Con Chiên Thiên Chúa đó" (Gioan 1:36). 

Như thế, câu tuyên bố "đó chính là Gioan trẫm đã chặt đầu, nay sống lại" của một nhà vua bất luân gian ác ấy dầu sao cũng có tính cách tiên tri, như trong câu của vị thượng tế Caipha thời ấy quả thực đã chất chứa tính chất tiên tri và đã thực sự hoàn toàn ứng nghiệm về nhân vật Giêsu Nazarét đã gây chấn động cả Thành Giêrusalem là Giáo Đô Do Thái giáo về sự kiện nhân vật tầm thường này, một nhân vật xuất thân từ Galilêa xa xôi là nơi chẳng có vị tiên tri nào xuất thân (xem Gioan 7:52), chẳng phải là luật sĩ hay thành phần trong hội đồng đầu mục Do Thái, nhưng đã làm cho Lazarô, một tử thi hồi sinh sau 4 ngày đã lên mùi (xem Gioan 11:43-44), rằng "các người chẳng hiểu gì hết, các người không thấy rằng thà một người chết thay cho dân chúng còn hơn là toàn dân bị hủy diệt hay sao?" (Gioan 11:50).

Thật sự câu tuyên bố "đó chính là Gioan trẫm đã chặt đầu, nay sống lại" của vua Hêrôđê, tự nó chất chứa tính chất tiên tri, mà chính người nói không hề hay biết là mình muốn nói gì và lời ấy có ý nghĩa ra sao, không phải chỉ ám cuộc tử nạn của Chúa Kitô là "đầu" tự hiến cho Giáo Hội là thân thể của mình (xem Gioan 17:19; Epheso 5:23,25-27), mà còn ám chỉ những gì vị Tiền Hô Gioan này "làm chứng" về Đấng là "Con Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian" đến sau ngài đều đúng, đều ứng nghiệm nơi Chúa Kitô, như thể "Gioan ... nay đã sống lại" nơi Chúa Kitô ở cuộc tử nạn của Người vậy, Đấng "đã được sinh ra, đã đến thế gian là để làm chứng cho chân lý" (Gioan 18:37), như chính vị tiền hô của Người cũng đã được sai đến tuy "không phải là ánh sáng" như Người nhưng cũng đã "làm chứng" cho Người "là ánh sáng đã chiếu soi trong tăm tối, một thứ tăm tối không át được ánh sáng" (Gioan 1:5).

Nếu vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả đã được sai đến để dọn đường cho Chúa Kitô bằng cách "làm chứng" về Người và cho Người, thậm chí trước khi được thực sự và trực tiếp gặp Người, chẳng những bằng lời rao giảng thống hối kèm theo việc làm phép rửa thống hối, mà còn bằng chính cái "đầu" bất khuất của mình thế nào, thì vua Đavít trong Bài Đọc 1 cho Năm Chẵn hôm nay, được trích từ Sách Huấn Ca, cũng đã được chọn làm vương tổ của nhân vật Giêsu Nazarét "vua dân Do Thái" (Mathêu 2:2; 27:37) sau này, bằng một cuộc đời vua đã sống bao gồm cả công lênh sự nghiệp lẫn lỗi lầm của vua, nhưng ngài, như Bài Đọc 1 hôm nay nhận định, vẫn được "Chúa đã thứ tha tội lỗi của người, và tán dương sức mạnh của người đến muôn đời. Chúa đã ban cho người giao ước vương quốc và ngôi báu vinh quang trong Israel".

Bài Đáp Ca hôm nay chẳng những nói về vua Đavít mà còn nói về vị thừa kế của vua cũng như về triều đại vô cùng bất tận của vua nơi giòng dõi của vua là Đấng Thiên Sai Cứu Thế Giêsu Kitô:

1) Ðường lối Thiên Chúa là đường thanh khiết, lời của Chúa được luyện trong lửa đỏ, chính Người là khiên thuẫn che kẻ nương nhờ Người. 

2) Chúa hằng sống, chúc tụng Ðá Tảng của tôi, tán tụng Thiên Chúa là Ðấng cứu độ tôi! - Bởi vậy, con sẽ ca tụng Ngài giữa chư dân, lạy Chúa, và con sẽ xướng ca khen ngợi danh Ngài. 

3) Ngài đã ban cho vương nhi Ngài đại thắng, đã tỏ lòng từ bi với Ðấng được xức dầu của Ngài, với Ðavít và miêu duệ ông cho tới muôn đời. 

 

 

 


Thứ Bảy


Phụng Vụ Lời Chúa

 

Bài Ðọc I: (Năm II): 1 V 3, 4-13

"Xin ban cho tôi tớ Chúa tâm hồn ngoan ngoãn để đoán xét dân Chúa".

Trích sách Các Vua quyển thứ nhất.

Trong những ngày ấy, Salomon đến Gabaon để dâng hy lễ, vì đây là nơi cao rộng nhất. Salomon dâng trên bàn thờ này một ngàn lễ vật toàn thiêu. Tại Gabaon ban đêm, Chúa hiện ra cùng Salomon trong giấc mộng, và phán rằng: "Ngươi muốn gì thì hãy xin, Ta sẽ ban cho ngươi". Salomon thưa: "Chúa đã tỏ lòng rất nhân hậu đối với cha con là Ðavít, tôi tớ Chúa, vì người đã sống trước tôn nhan Chúa trong chân lý và công bình, đã ăn ở ngay thẳng đối với Chúa. Chúa đã dành cho người một lòng nhân hậu lớn lao, đã ban cho người đứa con trai hiện đang ngồi trên ngôi báu của người. Và giờ đây, lạy Chúa là Thiên Chúa, Chúa khiến tôi tớ Chúa cai trị kế vị Ðavít thân phụ con. Nhưng con chỉ là một trẻ nhỏ, không biết đường đi nước bước. Tôi tớ Chúa đang sống giữa dân Chúa chọn, một dân đông đảo không thể đếm và ước lượng được. Vậy xin Chúa ban cho tôi tớ Chúa tâm hồn ngoan ngoãn để đoán xét dân Chúa, và phân biệt lành dữ, vì ai có thể xét xử dân này, một dân của Chúa đông đảo thế này".

Ðiều Salomon kêu xin như trên đã làm đẹp lòng Chúa, nên Chúa phán cùng Salomon rằng: "Vì ngươi đã xin điều đó, mà không xin sống lâu, được giàu có, của cải, mạng sống quân thù, lại xin cho ngươi được khôn ngoan để biết xét đoán, thì đây Ta ban cho ngươi điều ngươi xin, và ban cho ngươi một tâm hồn khôn ngoan minh mẫn, đến nỗi trước ngươi không có ai giống như ngươi, và sau ngươi không có ai bằng ngươi. Cả những điều ngươi không xin, như giàu có và vinh quang đến nỗi từ trước đến giờ, trong các vua, không vua nào được như ngươi, Ta cũng ban cho ngươi.

Ðó là lời Chúa. 

Ðáp Ca: Tv 118, 9. 10. 11. 12. 13. 14.

Ðáp: Lạy Chúa, xin dạy con các thánh chỉ của Chúa (c. 12b).

Xướng: 1) Tuổi trẻ lấy chi giữ cho thanh khiết đường đời? Bằng cách noi theo lời vàng của Chúa. - Ðáp.

2) Với tất cả tâm can con tìm Chúa, xin chớ để con lạc xa chỉ thị Ngài. - Ðáp.

3) Con chôn cất trong lòng lời răn của Chúa, để con không phạm tội phản nghịch Ngài. - Ðáp.

4) Thân lạy Chúa, Ngài muôn phước đức, xin dạy con các thánh chỉ của Ngài. - Ðáp.

5) Con kể được ra nơi đầu môi, tất cả những huấn dụ bởi miệng Ngài. - Ðáp.

6) Con vui vì đường lối lời Ngài nghiêm huấn, dường như được mọi thứ giàu sang. - Ðáp. 

Alleluia: Ga 10, 27

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Con chiên Ta thì nghe tiếng Ta; Ta biết chúng và chúng biết Ta". - Alleluia. 

Phúc Âm: Mc 6, 30-34

"Họ như đàn chiên không người chăn".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Marcô.

Khi ấy, các tông đồ hội lại bên Chúa Giêsu và thuật lại với Người mọi việc các ông đã làm và đã giảng dạy. Người liền bảo các ông: "Các con hãy lui vào nơi vắng vẻ mà nghỉ ngơi một chút". Vì lúc ấy dân chúng đến tấp nập đến nỗi các tông đồ không có thì giờ ăn uống. Vậy các ngài xuống thuyền, chèo tới một nơi vắng vẻ hẻo lánh. Thấy các ngài đi, nhiều người hiểu ý, và từ các thành phố, người ta đi bộ kéo đến nơi đó và tới nơi trước các ngài. Lúc ra khỏi thuyền, Chúa Giêsu thấy dân chúng thật đông, thì động lòng thương, vì họ như đàn chiên không người chăn, và Người dạy dỗ họ nhiều điều.

Ðó là lời Chúa. 

 

 

Daily Gospel Reading – Mark 6:30-34 | Daily Bible Readings


Suy nghiệm Lời Chúa

 


  Đức Kitô động lòng

 

Hôm nay, Thứ Bảy, ngày cuối cùng trong Tuần 4 Thường Niên hậu Giáng Sinh, chủ đề "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" của chung thời điểm phụng vụ kéo dài cho tới Mùa Chay này, vẫn tiếp tục với phụng vụ lời Chúa hôm nay nói chung và bài Phúc Âm nói riêng, ở câu "Lúc ra khỏi thuyền, Chúa Giêsu thấy dân chúng thật đông, thì động lòng thương, vì họ như đàn chiên không người chăn, và Người dạy dỗ họ nhiều điều".

Đúng thế, là Đấng được sai đến và thực sự đã "đến cho chiên được sự sống và là sự sống viên mãn" (Gioan 10:10), Chúa Giêsu không động lòng thương "họ như đàn chiên không người chăn" sao được! Đó là lý do, trong bài Phúc Âm Thứ Năm vừa rồi, Người đã sai cả các tông đồ của Người đi đến với họ để đáp ứng nhu cầu mục vụ của họ nữa, ở chỗ: "Các ngài trừ nhiều quỷ, xức dầu chữa lành nhiều bệnh nhân".

Cũng có thể vì thế, vì ảnh hưởng thành công của cuộc truyền giáo tiên khởi này của các tông đồ cho "các con chiên lạc nhà Yến Duyên / Israel" (Mathêu 15:24) mới xẩy ra hiện tượng "dân chúng đến tấp nập", ngay sau sự kiện "các tông đồ hội lại bên Chúa Giêsu và thuật lại với Người mọi việc các ông đã làm và đã giảng dạy", càng lúc càng đông "đến nỗi các tông đồ không có thì giờ ăn uống", không tìm được một nơi kín đáo thuận lợi cho bản thân các vị sau chuyến đi mệt mỏi tuy đầy hứng thú, như chính Chúa Giêsu đã thông cảm và khuyên giục các vị: "Các con hãy lui vào nơi vắng vẻ mà nghỉ ngơi một chút".

Có lẽ điều làm cho Chúa Giêsu động lòng nhất nơi dân chúng bấy giờ không phải chỉ vì họ đông đúc kéo đến với thày trò của Người, cho bằng sự kiện cho dù "các ngài (có) xuống thuyền, chèo tới một nơi vắng vẻ hẻo lánh (như thể tạm xa lánh họ để nghỉ ngơi một chút nhờ đó và sau đó có sức phục vụ họ hơn). (Nhưng khi) Thấy các ngài đi, nhiều người hiểu ý, và từ các thành phố, người ta đi bộ kéo đến nơi đó và tới nơi trước các ngài". Có nghĩa là trong thành phần dân chúng này nhiều người trong họ đã cảm thấy nghiện thày trò của Người, không có không được, thậm chí đã quen hơi biết tiếng của các ngài, biết được cả ý định đi đâu cùng với điểm đến của các ngài nữa.

Họ tha thiết theo đuổi các ngài, một cách, chẳng những thấu biết về các ngài, mà còn hết sức mau mắn nữa, ở chỗ, cho dù "đi bộ" theo đường vòng hơn là đường thẳng như bằng thuyền theo đường thủy như thày trò các ngài, mà họ vẫn "kéo đến nơi đó (còn) tới nơi trước (cả) các ngài (nữa)". Thường bao giờ đến với Chúa Giêsu, họ cũng dẫn theo các nạn nhân bệnh hoạn tật nguyền, hay chính các nạn nhân tật bệnh này đích thân đến với Người. Vậy mà cả thành phần bệnh hoạn tật nguyền này trong dân chúng cũng có đủ sức và dư sức đến trước các ngài để nghênh đón các ngài!

Thật là cảm động. Thật là dễ thương. Thật là đáng thương. Bởi thế, mới có chuyện "lúc ra khỏi thuyền, Chúa Giêsu thấy dân chúng thật đông, thì động lòng thương, vì họ như đàn chiên không người chăn, và Người dạy dỗ họ nhiều điều".

Đối với Chúa Giêsu, vì "người ta sống không nguyên bởi bánh mà còn bởi mọi lời bởi miệng Thiên Chúa phán ra" (Matheu 4:4), và vì chỉ có "những lời Tôi nói với quí vị toàn là thần linh và là sự sống" (Gioan 6:63) mà trước khi Người làm phép lạ bánh hóa ra nhiều nuôi họ lần thứ nhất, như đoạn Phúc Âm tiếp theo sau bài Phúc Âm hôm nay cho thấy, "Người (đã) dạy dỗ họ nhiều điều".

"Nhiều điều" mà Chúa Giêsu đã muốn "dạy dỗ" cho dân chúng bấy giờ là những gì? Phải chăng về Nước Trời, bằng các dụ ngôn khác với những dụ ngôn Người đã được Người sử dụng trước đó theo Phúc Âm Thánh Mathêu thuật lại ở đoạn 13?? Phải chăng là các mối Phúc Đức Trọn Lành như Người đã giảng dạy và được Thánh ký Mathêu ghi lại trong Phúc Âm của mình kéo dài đến 3 đoạn, từ đoạn 5 đến hết đoạn 7, hay cũng đã được Thánh ký Luca ghi lại trong Phúc Âm của ngài ở đoạn 6, những gì được cả 2 vị thánh ký này ghi lại hoàn toàn chưa hề có trong Phúc Âm của Thánh ký Marco???

Căn cứ vào đoạn Phúc Âm ngay sau bài Phúc Âm hôm nay, đoạn Phúc Âm liên quan đến phép lạ hóa bánh ra nhiều lần thứ nhất, chúng ta chẳng những biết được con số dân chúng "tấp nập kéo đến" là bao nhiêu mà còn biết cả nội dung của những gì Chúa Giêsu muốn dạy dỗ cho dân chúng bấy giờ nữa.

 Trước hết, căn cứ vào phần ăn được Chúa Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều mà còn thu lại được 12 thúng đầy thì con số dân chúng hiện diện bấy giờ là 5 ngàn người đàn ông, không kể đàn bà con nít, mà đàn bà con nít bao giờ cũng đông hơn gấp hai hay gấp ba đàn ông, thì con số dân chúng bấy giờ phải lên tới cả 15 - 20 ngàn người.

Sau nữa, về nội dung bài giảng của Chúa Giêsu, căn cứ vào Bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan, đoạn 6, sau khi làm phép lạ hóa bánh ra nhiều cho dân chúng ăn no nê còn dư 12 thúng đầy, và sau khi trốn lên núi để tránh cảnh dân chúng tôn vương mình, cuối cùng dân chúng cũng tìm thấy thày trò của Người thì Chúa Giêsu đã giảng dạy họ về Bánh Sự Sống là chính bản thân Người nói chung và thân xác của Người nói riêng cho những ai tin vào Người là "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý": "Tôi chính là bánh sự sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ sống muôn đời. Bánh Tôi ban chính là thịt Tôi cho thế gian được sự sống" (Gioan 6:51).

Phải, chỉ  "những lời Tôi nói với quí vị toàn là thần linh và là sự sống", và những ai khao khát lời Người, theo đuổi Người cho đến cùng như đám đông dân chúng trong Bài Phúc Âm hôm nay mới được "Người dạy dỗ họ nhiều điều", về chính bản thân của Người, nhờ đó họ mới có thể khôn ngoan và sống trọn hảo theo đúng thân phận làm người phổ quát của họ cũng như ơn gọi riêng biệt trên đời của mỗi người trong họ.

Vua Solomon, vị vua con kế vị vua cha là Đavít, trong Bài Đọc 1 cho Năm Chẵn hôm nay, đã cho thấy được thừa hưởng chẳng những ngai vàng của vua cha mà còn cả tinh thần kính sợ Thiên Chúa của vua cha nữa, người "đã sống trước tôn nhan Chúa trong chân lý và công bình, đã ăn ở ngay thẳng đối với Chúa", một "lòng kính sợ là đầu mối sự khôn ngoan" (Cách Ngôn 9:10). Chính lòng kính sợ Chúa đã giúp cho vị vua thứ ba của dân nước Do Thái này trở thành khôn ngoan nên đã biết xin và chỉ xin những gì đẹp lòng Thiên Chúa nhất, như Bài Đọc 1 cho thấy:

"Trong những ngày ấy, Salomon đến Gabaon để dâng hy lễ, vì đây là nơi cao rộng nhất. Salomon dâng trên bàn thờ này một ngàn lễ vật toàn thiêu. Tại Gabaon ban đêm, Chúa hiện ra cùng Salomon trong giấc mộng, và phán rằng: 'Ngươi muốn gì thì hãy xin, Ta sẽ ban cho ngươi'. Salomon thưa: 'Chúa đã tỏ lòng rất nhân hậu đối với cha con là Ðavít, tôi tớ Chúa, vì người đã sống trước tôn nhan Chúa trong chân lý và công bình, đã ăn ở ngay thẳng đối với Chúa. Chúa đã dành cho người một lòng nhân hậu lớn lao, đã ban cho người đứa con trai hiện đang ngồi trên ngôi báu của người. Và giờ đây, lạy Chúa là Thiên Chúa, Chúa khiến tôi tớ Chúa cai trị kế vị Ðavít thân phụ con. Nhưng con chỉ là một trẻ nhỏ, không biết đường đi nước bước. Tôi tớ Chúa đang sống giữa dân Chúa chọn, một dân đông đảo không thể đếm và ước lượng được. Vậy xin Chúa ban cho tôi tớ Chúa tâm hồn ngoan ngoãn để đoán xét dân Chúa, và phân biệt lành dữ, vì ai có thể xét xử dân này, một dân của Chúa đông đảo thế này'".

Chính Thiên Chúa chẳng những công nhận là điều vị vua con Solomon này xin là khôn ngoan mà còn cho thấy cái khôn ngoan ấy ở chỗ nào nữa, thậm chí Ngài chẳng những ban cho vua đúng như những gì vua xin là chính đức khôn ngoan mà còn ban cho vua cả những gì vua không xin là giầu sang phú quí không ai bằng nữa:

"Ðiều Salomon kêu xin như trên đã làm đẹp lòng Chúa, nên Chúa phán cùng Salomon rằng: 'Vì ngươi đã xin điều đó, mà không xin sống lâu, được giàu có, của cải, mạng sống quân thù, lại xin cho ngươi được khôn ngoan để biết xét đoán, thì đây Ta ban cho ngươi điều ngươi xin, và ban cho ngươi một tâm hồn khôn ngoan minh mẫn, đến nỗi trước ngươi không có ai giống như ngươi, và sau ngươi không có ai bằng ngươi. Cả những điều ngươi không xin, như giàu có và vinh quang đến nỗi từ trước đến giờ, trong các vua, không vua nào được như ngươi, Ta cũng ban cho ngươi'".

Lời nguyện cầu đẹp lòng Chúa của vua Solomon trong Bài Đọc 1 hôm nay hoàn toàn phản ảnh tâm tình của Bài Đáp Ca hôm nay, một tâm tình có thể đã tràn đầy lòng trí của vua khi vua dâng lời nguyện cầu lên Vị Thiên Chúa "đã tỏ lòng rất nhân hậu đối với cha con là Ðavít... và khiến tôi tớ Chúa cai trị kế vị Ðavít thân phụ con", một triều đại Đavít sẽ tồn tại muôn đời nhờ Đấng Thiên Sai Cứu Thế là giòng dõi của Đavít như vua Solomon:

1) Tuổi trẻ lấy chi giữ cho thanh khiết đường đời? Bằng cách noi theo lời vàng của Chúa.

2) Với tất cả tâm can con tìm Chúa, xin chớ để con lạc xa chỉ thị Ngài.

3) Con chôn cất trong lòng lời răn của Chúa, để con không phạm tội phản nghịch Ngài.

4) Thân lạy Chúa, Ngài muôn phước đức, xin dạy con các thánh chỉ của Ngài.

5) Con kể được ra nơi đầu môi, tất cả những huấn dụ bởi miệng Ngài.

6) Con vui vì đường lối lời Ngài nghiêm huấn, dường như được mọi thứ giàu sang.  

 

 

HẠNH THÁNH TRONG TUẦN

 

 

Ngày 2 tháng 2

DÂNG CHÚA GIÊ-SU TRONG ĐỀN THÁNH

lễ kính

Tiểu sử 
Dâng Chúa trong Đền Thánh, Chúa Ki-tô gặp gỡ dân thánh nơi con người cụ già Si-mê-on, Đức Ma-ri-a được thanh tẩy theo luật Mô-sê, lễ Nến, đó là những tên gọi khác nhau để chỉ ngày lễ hôm nay, bốn mươi ngày sau lễ Giáng Sinh, kết thúc những ngày lễ trọng mừng việc Thiên Chúa tỏ mình ra cho con người nơi Ngôi Lời mặc xác phàm.

Phụng Vụ Giờ Kinh

(Nhóm phiên dịch các giờ kinh phụng vụ)

Hồng ân Chúa Thánh Thần vừa thúc đẩy,
Si-mê-on vội vã tiến lên đền.
Ông cụ già được diễm phúc vô biên
Gặp gỡ Chúa Hài Nhi, liền bồng ẵm !

Lạy Đức Ki-tô, thiều quang xán lạn,
Chúc tụng Ngài là ánh sáng thiên thu,
Đến xua tan màn đêm tối mịt mù,
Khắp thiên hạ bừng lên ngày sáng chói.

Đây Cứu Chúa, Đấng ở cùng nhân loại
Đã bước vào đền thánh tiến dâng Cha
Lễ hy sinh là Thánh Thể chói loà :
Nhân thế rõ lòng Cha yêu trọn vẹn.

Lạy Đức Ki-tô, thiều quang bất biến,
Tán dương Ngài là Ánh Sáng muôn dân,
Vị Cứu Tinh đem lửa xuống cõi trần,
Ngài thắp sáng niềm tin trong vũ trụ.

Một ngày mới bừng soi lòng ngôn sứ :
Chính mắt ông được thấy Đấng cứu đời,
Miệng khấn rằng : xin cho kẻ bề tôi,
Được nhắm mắt lìa đời, lòng thanh thản.

Hỡi Ánh Sáng khởi nguyên từ Ánh Sáng,
Hỡi Mặt Trời công chính toả vinh quang,
Chúng con mong đạt tới cõi thiên đàng
Và chung hưởng thánh nhan Ngài muôn thuở.

Đức Ki-tô là ánh sáng soi đường cho dân ngoại, là vinh quang của Ít-ra-en, ta hãy tin tưởng thưa với Người :

Lạy Chúa Ki-tô, chúng con chào đón Chúa !

Vì muốn tuân giữ luật Mô-sê, Chúa đã để cho Đức Mẹ và thánh Giu-se đem Chúa vào đền thờ dâng lên Chúa Cha, - xin dạy chúng con cũng biết cùng với Chúa dâng xác hồn khi Giáo Hội cử hành thánh lễ.

Lạy Chúa Ki-tô, chúng con chào đón Chúa !

Khi ông Si-mê-on bồng ẵm Chúa trên tay, chính là lúc Chúa thân hành tìm đến với dân Chúa, - xin dạy chúng con cũng biết tìm đến với anh em.

Lạy Chúa Ki-tô, chúng con chào đón Chúa !

Chúa đã cho nữ ngôn sứ An-na nhận ra Chúa là Đấng muôn dân trông đợi, - xin dạy chúng con biết cách nói về Chúa.

Lạy Chúa Ki-tô, chúng con chào đón Chúa !

Chúa đã vui lòng chấp nhận thành dấu hiệu cho người đời chống báng, - xin cho muôn dân nhận biết Chúa là Đấng Cứu Độ.

Lạy Chúa Ki-tô, chúng con chào đón Chúa !

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Con Một Chúa đã mang kiếp người phàm và hôm nay được tiến dâng trong đền thánh. Chúng con khiêm tốn nài xin Chúa cho tâm hồn chúng con cũng nên trong sạch, hầu xứng đáng dâng mình trước Thánh Nhan. Chúng con cầu xin

 

Phụng Vụ Lời Chúa

Bài Ðọc I: Ml 3, 1-4

"Ðấng Thống Trị mà các ngươi tìm kiếm, đến trong đền thánh Người".

Bài trích sách Tiên tri Malakhi.

Này đây Chúa là Thiên Chúa phán: "Ðây Ta sai thiên thần Ta đi dọn đường trước mặt Ta!" Lập tức Ðấng Thống Trị mà các ngươi tìm kiếm, và thiên thần giao ước mà các ngươi mong ước, đến trong đền thánh Người. Chúa các đạo binh phán: "Này đây Người đến". Ai có thể suy tưởng đến ngày Người đến, và có thể đứng vững để trông nhìn Người? Vì Người sẽ như lửa thiêu đốt, như thuốc giặt của thợ giặt. Người sẽ ngồi như thợ đúc và thợ lọc bạc, Người sẽ thanh tẩy con cái Lêvi, và làm cho chúng nên sạch như vàng bạc. Chúng sẽ hiến dâng lễ tế cho Chúa trong công bình. Lễ tế của Giuđa và Giêrusalem sẽ đẹp lòng Chúa, như ngày xưa và như những năm trước. Ðó là lời Chúa toàn năng phán.

Ðó là lời Chúa. 

Ðáp Ca: Tv 23, 7. 8. 9. 10

Ðáp: Vua hiển vinh là ai vậy? (c. 8a)

Xướng: 1) Các cửa ơi, hãy ngẩng đầu lên; vươn mình lên, hỡi cửa ngàn thu! để Vua hiển vinh Người ngự qua. - Ðáp.

2) Nhưng Vua hiển vinh là ai vậy? Ðó là Chúa dũng lực hùng anh, đó là Chúa anh hùng của chiến chinh. - Ðáp.

3) Các cửa ơi, hãy ngẩng đầu lên, vươn mình lên, hỡi cửa ngàn thu, để vua hiển vinh Người ngự qua. - Ðáp.

4) Nhưng Vua hiển vinh là ai vậy? Ðó là Chúa đạo thiên binh, chính Người là Hoàng Ðế hiển vinh. - Ðáp. 

Bài Ðọc II: Dt 2, 14-18

"Người phải nên giống anh em Mình mọi đàng".

Bài trích thư gửi tín hữu Do-thái.

Vì các con trẻ cùng chung thân phận máu thịt, chính Chúa Giêsu cũng giống như chúng, cũng thông phần điều đó, để nhờ cái chết của Người mà Người huỷ diệt kẻ thống trị sự chết là ma quỷ, và để giải thoát tất cả những kẻ sợ chết mà làm nô lệ suốt đời. Vì chưng Người không đến cứu giúp các thiên thần, nhưng đến cứu giúp con cái Abraham. Bởi thế, Người nên giống anh em Mình mọi đàng, ngõ hầu trong khi phụng sự Chúa, Người trở thành đại giáo trưởng nhân lành và trung tín với Chúa, để đền tội cho dân. Quả thật, bởi chính Người đã chịu khổ hình và chịu thử thách, nên Người có thể cứu giúp những ai sống trong thử thách.

Ðó là lời Chúa. 

Alleluia: Lc 2,32

Alleluia, alleluia! - Ánh sang đã chiếu soi muôn dân, và là vinh quang của Israel dân Chúa. - Alleluia. 

Phúc Âm: Lc 2, 22-32 [hoặc 22-40]

"Mắt tôi đã nhìn thấy ơn cứu độ".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, đủ ngày thanh tẩy theo luật Môsê, cha mẹ Chúa Giêsu liền đem Người lên Giêrusalem để hiến dâng cho Chúa, như đã chép trong Lề luật Chúa rằng: "Mọi con trai đầu lòng sẽ được gọi là người thánh thuộc về Chúa". Và cũng để dâng lễ vật cho Chúa, như có nói trong Luật Chúa, là một đôi chim gáy, hay một cặp bồ câu con.

Và đây ở Giêrusalem, có một người tên là Simêon, là người công chính, kính sợ Thiên Chúa, và đang đợi chờ niềm ủi an của Israel. Thánh Thần cũng ở trong ông. Ông đã được Thánh Thần trả lời rằng: Ông sẽ không chết, trước khi thấy Ðấng Kitô của Chúa. Ðược Thánh Thần thúc giục, ông vào đền thờ ngay lúc cha mẹ trẻ Giêsu đưa Người đến để thi hành cho Người những tục lệ của Lề luật. Ông bồng Người trên cánh tay mình, và chúc tụng Thiên Chúa rằng:

"Lạy Chúa, giờ đây, Chúa để cho tôi tớ Chúa ra đi bình an theo như lời Chúa đã phán: vì chính mắt con đã nhìn thấy ơn cứu độ của Chúa mà Chúa đã sắm sẵn trước mặt muôn dân, là Ánh sáng chiếu soi các lương dân, và vinh quang của Israel dân Chúa". 

[ Cha mẹ Người đều kinh ngạc về những điều đã nói về Người. Simêon chúc lành cho hai ông bà và nói với Maria mẹ Người rằng: "Ðây trẻ này được đặt lên, khiến cho nhiều người trong Israel phải sụp đổ hay được đứng dậy, và cũng để làm mục tiêu cho người ta chống đối. Về phần bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà để tâm tư nhiều tâm hồn được biểu lộ!"

Lúc ấy, cũng có bà tiên tri Anna, con ông Phanuel, thuộc chi họ Asê, đã cao niên. Mãn thời trinh nữ, bà đã sống với chồng được bảy năm, rồi thủ tiết cho đến nay đã tám mươi tư tuổi. Bà không rời khỏi đền thờ, đêm ngày ăn chay cầu nguyện phụng sự Chúa. Chính giờ ấy, bà cũng đến, bà liền chúc tụng Chúa, và nói về trẻ Giêsu cho tất cả những người đang trông chờ ơn cứu chuộc Israel.

Khi hai ông bà hoàn tất mọi điều theo Luật Chúa, thì trở lại xứ Galilêa, về thành mình là Nadarét. Và con trẻ lớn lên, thêm mạnh mẽ, đầy khôn ngoan, và ơn nghĩa Thiên Chúa ở cùng Người. ]

Ðó là lời Chúa.


My Reflections...: 1Reflection for Sunday February 2, Feast of the  Presentation of the Lord: Luke 2:22-40

Chúng Ta Hãy Nhận Lấy Ánh Sáng Đời Đời Rạng Chiếu

(St Sophronius, bishop, Orat 3 de Hypapante 6, 7: PG 87, 3, 3291, 3293)
 

Để tôn vinh mầu nhiệm thần linh chúng ta cử hành hôm nay đây, tất cả chúng ta hãy mau mắn đến gặp gỡ Chúa Kitô. Mọi người phải hăng hái nhập vào đoàn kiệu và cầm ánh sáng.

Những ngọn nến sáng của chúng ta là dấu hiệu tỏ cho thấy ánh quang vinh thần linh của Đấng đến để đẩy lui bóng tối tăm sự dữ, và để làm cho cả hoàn vũ này tỏa chiếu rạng ngời ánh sáng đời đời của Người. Những cây nến của chúng ta cũng chứng tỏ cho thấy linh hồn của chúng ta phải làm sao cho ngời sáng khi chúng ta đi nghênh đón Chúa Kitô.

Mẹ Thiên Chúa, Vị Trinh Nữ rất tinh tuyền, đã cầm trong đôi cánh tay của mình một thứ ánh sáng thật, và đã mang Người đến cho những ai còn nằm trong u tối. Cả chúng ta nữa cũng phải mang ánh sáng đến cho tất cả mọi người được thấy, và phải phản chiếu ánh quang của ánh sáng thật khi chúng ta mau mắn đến gặp gỡ Người.

Aùnh sáng đã đến và đã chiếu tỏa trên một thế giới đầy những bóng tối tăm; Bình Minh từ trời cao đã đến viếng thăm chúng ta và chiếu sáng cho những ai còn sống trong tăm tối. Bởi thế, đây là lễ của chúng ta, và chúng ta đi theo đoàn rước cầm cây nến sáng để tỏ cho thấy rằng có một thứ ánh sáng đã chiếu rọi trên chúng ta, cũng như để tỏ cho thấy rằng vinh quang từ Người vẫn tỏa ra cho chúng ta. Bởi thế, tất cả chúng ta hãy mau mắn cùng nhau đến gặp Vị Thiên Chúa của chúng ta.

Ánh sáng thật đã đến, ánh sáng chiếu soi hết mọi người sinh vào trần gian. Hỡi anh em, tất cả chúng ta hãy nhờ ánh sáng này mà thắp sáng lên và tỏa chiếu ra. Tất cả chúng ta thông phần vào ánh quang rạng ngời của ánh sáng ấy, nhờ đó được tràn đầy ánh sáng để không ai còn ngồi trong tăm tối nữa. Chúng ta hãy chiếu soi cho chúng ta khi chúng ta cùng nhau đi với ông già Simêon đến gặp gỡ ánh sáng rạng ngời muôn thuở này. Hân hoan mừng rỡ với Simêon, chúng ta hãy hát lên bài thánh ca tạ ơn Thiên Chúa, Cha của ánh sáng, Đấng đã sai ánh sáng thật đến để đánh tan đi bóng tối tăm, cũng như để cho tất cả chúng ta được tham phần vào ánh rạng ngời của Người.

Qua con mắt của Simêon, chúng ta cũng được thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa, ơn cứu độ Ngài đã sửa soạn cho tất cả mọi dân tộc và tỏ ra cho thấy như vinh quang của một dân tân Yến Duyên là chúng ta đây. Như Simêon đã ra đi khỏi những ràng buộc ở đời này khi ông được trông thấy Chúa Kitô thế nào, chúng ta cũng được giải thoát lập tức khỏi tình trạng tội lỗi cũ kỹ của mình như vậy.

Nhờ đức tin chúng ta cũng ẵm lấy Chúa Kitô, ơn cứu độ của Thiên Chúa là Cha, khi Người từ Bêlem đến với chúng ta. Trước kia chúng ta là Dân Ngoại, nay chúng ta trở thành dân Chúa. Mắt chúng ta đã được thấy Thiên Chúa nhập thể, và vì chúng ta đã thấy Người hiện diện giữa chúng ta, cũng như đã nhận lấy Người trong cánh tay của mình, mà chúng ta được gọi là một dân tân Yến Duyên. Chúng ta sẽ không bao giờ quên được sự hiện diện này; hằng năm chúng ta cử hành lễ này để tôn kính Người.

 

(Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch từ The Office of Readings, Saint Paul Editions, 1983, trang 1332-1333)

 

ĐTC Gioan Phaolô II:

 

Bài 39 – Ngày 11/12/1996: Đức Trinh Nữ hiến dâng Đấng Cứu Thế của toàn thể nhân loại

 

 

 

Ngày 03.02: Thánh ANSGARIÔ, Giám mục và Thánh BLASIÔ Giám mục Tử đạo

 

Thánh ANSGARIÔ

Giám mục, tông đồ các xứ Bắc Âu (801-865)

St. Ansgar Print - Portraits of Saints

Ansgariô (hay là Anskar theo Anh ngữ) đã trở thành biệt danh Oscar ngày nay, có nghĩa là “cây lao của Thiên Chúa”. Ansgario gốc người Đức, sinh tại Picardia. Cha Ngài là một viên chức trong triều đình vua Charlemagne, đã gởi Ngài theo học tại tu viện thánh Phêrô ở Corbia. Cậu thiếu niên đã gặp được ở đó những bậc thầy có thế giá. Các môn học trần tục làm Ngài say mê đến độ nơi tâm trí Ngài ý nghĩa tôn giáo ngày một lạc phai. Nhưng một biến cố đã đánh động Ngài mạnh mẽ, nhà vua mà Ngài biết được là rất nổi danh nơi triều đình đã chết.

Cái chết đó cho Ngài thấy được tính cách hư không của mọi cái gọi là nhân bản và trần tục, Ngài cũng nhớ lại rằng: hồi nhỏ khi mất mẹ, trong một giấc mơ, Ngài thấy Đức Trinh Nữ Maria hứa sẻ bảo vệ Ngài luôn mãi, nếu biết giữ gìn đức tin và lòng mến. Sau cùng Ngài cảm thấy rằng: Chúa muốn mình làm tông đồ. Từ đó Ngài không ngừng tiến tới trong việc học hành cả về đạo lý lẫn việc đời, Ngài nhiệt thành làm tất cả những gì là tốt đẹp. Những tiến bộ và nhiệt tâm ấy lớn lao đến nỗi chẳng mấy chốc tới phiên Ngài phải dạy lại cho các tu sĩ trẻ và trẻ em. Vào tuổi hai mươi mốt, Ngài trở thành một trong những thủ lãnh tu viện Corvey. Ở Saxe hay là Corbia-Nova, được thiết lập ngay giữa trung tâm trí thức. Là giáo sư thần học, Ngài cũng đảm nhận việc giảng dậy cho dân chúng nữa.

Vào thời này, Harold là vua miền Nam Đan mạch, khi bọn phản loạn săn đuổi, đã xin trú ngụ tại triều đình vua Lu-y đặt tại Mayence. Ong đã trở lại đạo và lãnh nhận phép rửa. Khi trở về quê hương, ông đã xin các nhà truyền giáo tới rao giảng Phúc âm cho xứ sở mình. Ebbon, giám mục Reims đã dấn thân trước hết, rồi một khi gần trở lại nước Pháp, Ngài đã chỉ định Ansgario. Ansgario lên đường với một tu sĩ khác nữa. Họ làm liều đi vào miền còn hoàn toàn ngoại giáo. Những người trẻ bị bắt làm nô lệ đã trở thành các Kitô hữu đầu tiên của xứ sở. Công việc tông đồ thật vất vả nhọc mệt. Các Ngài bị trục xuất. Các tu sĩ trở lại lãnh trách nhiệm.

Một tòa đại sứ Thụy Điển xin các thừa sai. Lần này Ansgariora đi với một tu sĩ người Corbia. Vì người bạn đường cũ đã chết. Khi đi nagng qua biển Baltique, họ bị bọn cướp tấn công bóc lột hết và bị người Nang lấy trọn quà tặng họ mang dâng nhà vua ở Upsala. Các nhà truyền giáo tới biệt thự của Birca, hoàn toàn trơ trụi. Tại đây các Ngài đã thiết lập một cộng đoàn Kitô hữu. Sau một năm rưỡi mệt nhọc làm việc tông đồ, các Ngài trở về Pháp. Nhà vua đã đặt Ansgario làm tổng giám mục Hambourg bao gồm miền Scandinavia (Bắc Âu) Ansgario đi Roma để được Đức Thánh Cha bổ nhiệm và Đức Gregôriô IV đã đặt Ngài làm đại diện tại cả Na-uy và Thụy Điển. Ngài xây cất một nhà thờ chính tòa ở Hambourg, thiết lập một tu viện cho các tu sĩ Corbia.

Người ta thấy Ngài quỳ lạy dưới chân người nghèo và khiêm tốn phục vụ họ. Ngài cũng rao giảng trong các miền lân cận bất kể những thủ địch hung ác. Khi ấy như một đám mây người Normandie đặt Hambourg vào vòng máu lửa, Ansgario chỉ còn là một kẻ lang thang sống vất vưởng. Vharles de Chauve đã chiếm một tu viện miền Flandre là nơi Ngài đã thiết lập một trường truyền giáo. Giữa cao điểm của cuộc sống khốn cực âu lo, Ngài đã không hề đánh mất lòng trông cậy vào Chúa. Cuối cùng những kẻ bách hại bị xua đuổi. Xứ truyền giáo Thụy Điển lại vùng lên.

Một cộng đồng ở Constane đã đặt Ansgario làm giám mục Brême. Ngài trở lại truyền giáo ở Đan mạch, thiết lập một trung tâm tôn gíao mới, cải hóa nhà vua.

Ansgario muốn hiến trọn đời mình cho Thiên Chúa bằng việc tử đạo nhưng Ngài đã qua đời êm ái tại Brême năm 865. Cuộc tử đạo của Ngài chính là cuộc chiến kiên trì suốt đời với nhiều những thất bại, lại ít có những thành công rực rỡ. Nhưng sự nhẫn nại của vị anh hùng giám mục lang thang này đã chuẩn bị cho cuộc trở lại các xứ vùng Bắc Âu.

Thánh BLASIÔ 
Giám mục Tử đạo (…. – 316)

www.bluearmy.com/wp-content/uploads/2021/02/St-...

 

Có nhiều câu chuyện vây quanh thánh Blasiô. Ngài là giám mục Sêbasta, miền Armênia; Ngài hiến cả xác hồn cho dân chúng… nhất là dân nghèo, Ngài đã học nghề thuốc, nhưng không bao giờ chữa bệnh cho ai mà không xin Chúa giúp trước đã, dường như vị y sĩ vĩ đại này muốn nói rằng: “Tôi băng bó cho họ nhưng Thiên Chúa chữa lành cho họ”. Ngài rao giảng, day dỗ, nhưng không có bài học nào hay hơn chính gương mẫu đời Ngài.

Năm 315, một cuộc bách hại bùng ra dưới triều đại vua Luciniô. Đức giám mục giúp đỡ các vị tử đạo. Rồi để trốn thoát các kẻ thù địch, Ngài ẩn mình ở hang núi Agêa, là nơi Ngài sống bằng rễ cây và nước lã. Thú rừng thân tình bao quanh Ngài và Ngài chữa lành cho những con bệnh tật. Mỗi ngày một đông dân chúng tuốn đến với với Ngài. Nếu thấy Ngài đang cầu nguyện chúng lặng lẽ không ngăn trở và đợi cho đến khi Ngài cầu nguyện xong. Khi đó Thánh nhân quay lại với đoàn vật và chúc lành cho chúng và đoàn vật mãn nguyện trở lại sa mạc.

Agricôla, quan cai trị Cappadecia tìm thú rừng sống trong các khu rừng gần Sêbasta, để xé các Kitô hữu. Đoàn người đi săn ngạc nhiên khi thấy cả bầy sói, gấu, sư tử trong một cái hang vây quanh một người, đang cầu nguyện. Họ vội về báo tin cho Agricôla và ông này đã truyền bắt vị tu rừng này.

Thấy binh sĩ của nhà vua. Blasiô bình thản nói :- Tôi đã sẵn sàng. Đêm qua Chúa hiện ra và nói với tôi, là Ngài ưng nhận lễ hy sinh của tôi.

Trên đường Ngài đi qua, dân chúng tuốn đến, trong số ấy có cả các lương dân. Họ khóc lóc xin người chúc lành. Một người mẹ đặt đứa trẻ đang hấp hối dưới chân Blasiô và nhìn trời bà la : – Lạy Chúa nhân từ, xin đừng bỏ qua lời cầu của tôi tớ Ngài. Xin hãy trả lại sức khỏe cho tạo vật bé bỏng của Ngài.

Blasiô cúi xuống đứa trẻ hấp hối, cầu nguyện. Trời cao đã nghe Ngài, và người mẹ hân hoan đón nhận lại đứa con tràn đầy sức sống.

Khi đức Giám mục xuất hiện, Agricôla đưa nhiều hứa hẹn lẫn lời đe dọa. Nhưng điều này đã luống công. Thánh nhân nói : – Tôi không sợ các cực hình Ngài đe dọa vì thân xác tôi nằm trong tay Ngài, nhưng linh hồn tôi thì không.

Ngài đã bị đánh đập tàn nhẫn và bị tống ngục. Các Kitô hữu tới thăm, Ngài an ủi khích lệ và chữa lành cho họ. Ngài đã giải cứu cho một đứa trẻ gần ngộp thở vì mắc xương cá. Vì kỷ niệm này và cũng vì lời cầu nguyện sau cùng khi đưa cổ cho lý hình, thánh Blasiô được kêu cầu cách đặc biệt để xin Ngài chữa lành các bệnh nhân đau cổ họng.

Những tường thuật về các phép lạ đi kèm với cái chết của Ngài thành gia sản truyền tụng rất được các giáo phụ ưa thích. Sau mỗi cuộc tra xét với một cực hình mới lại có một phép lạ đánh dấu cuộc trở lại ngay trong phòng giam của Ngài. Phép lạ lừng danh nhất là phép lạ về ngẫu tượng. Các Kitô hữu đến săn sóc những vết thương cho Ngài, đã ném xuống hồ các thần tượng của nhà cầm quyền. Họ bị tố giác và chịu tử dạo. Blasiô cũng bị kết án dìm vào hồ này, nhưng Ngài làm dấu thánh giá và đi trên mặt nước, rồi Ngài mời các quan tòa đi theo để minh chứng uy quyền các thần linh họ thờ. Những người nhận lời bị chết chìm ngay.

Vị tử đạo vừa mới cho thấy vinh quang Thiên Chúa, liền được một thiên thần mời trở lại bờ hồ để chịu cực hình, Ngài vâng lời ngay. Agricôla bối rối liền truyền chém đầu Ngài. Blasiô trước khi chết, đã nài xin Chúa tỏ lòng nhân từ với những ai nhờ lời Ngài bầu cử mà xin cứu giúp.

Nguồn: daminhvn.net

 

Ngày 5 tháng 2

Thánh A-ga-ta, trinh nữ, tử đạo

lễ nhớ bắt buộc

A-ga-ta là một thiếu nữ quê ở Xi-xi-li-a. Chị đã chịu tử đạo ở Ca-ta-na, vào thời hoàng đế Đê-xi-ô bách hại đạo (năm 251).

Đồng bào của chị vẫn tin tưởng kêu cầu chị, nhất là những lúc núi lửa Ét-na hoạt động.

Rồi việc tôn kính chị được phổ biến rộng rãi trong toàn thể Hội Thánh, cả ở phương Đông lẫn phương Tây.

Tay trinh nữ cầm đèn sáng chói,
Nàng bước vào tiệc cưới thiên thu,
Chính là hôn lễ Đức Vua,
Nước Trời hoan hỷ tung hô chúc mừng.

Nàng dự yến trong cung danh dự,
Sánh duyên cùng Thiên Tử quang vinh,
Chữ trinh xe kết chữ tình,
Nết na đức hạnh công trình bao năm.

Xin chỉ dạy cách ăn thói ở,
Lấy hồng ân che chở phù trì,
Mưu thù cho dẫu tinh vi,
Quyết tâm chống lại, gian nguy chẳng sờn.

Xin Đức Mẹ là gương trinh thục
Hằng cầu thay nguyện giúp chúng nhân,
Ơn thiêng Thánh Tử tuôn tràn,
Tha hương lãnh nhận muôn vàn đỡ nâng.

Lời vinh tụng, quỳ dâng lên Chúa
Đã ban cho trinh nữ thành công,
Triều thần thiên quốc một lòng,
Nghìn thu ca ngợi hát mừng Thánh Danh.

 

Thiên Chúa là nguồn mạch mọi sự tốt lành,
đã trao ban thánh A-ga-ta làm quà tặng

Bài đọc 2 Phụng Vụ Giờ Kinh Sách ngày 5/2

Trích bài giảng của thánh Mê-tô-đi-ô Xi-cu-li, giám mục, về thánh nữ A-ga-ta.

Thưa anh chị em, những người đang nghe tôi nói, như anh chị em biết, hằng năm lễ kính nhớ thánh nữ A-ga-ta tử đạo quy tụ tất cả chúng ta về nơi đây. Thánh nữ là vị tử đạo thời xưa và đứng hàng đầu nhờ cuộc chiến đấu lừng lẫy của người. Nhưng người cũng là vị tử đạo thời nay, bởi vì giờ đây người như vẫn còn chiến thắng nhờ những phép lạ khác thường làm thành vòng hoa mỗi ngày kết trên đầu người và tô điểm cho người nên xinh đẹp.

Thánh nhân thật là trinh nữ, vì đã được sinh ra nhờ Lời của Thiên Chúa bất tử (Lời cũng vì tôi đã trải qua cái chết nơi thân xác của mình), và nhờ người Con hằng gắn bó mật thiết với Thiên Chúa, như thánh Gio-an, nhà thần học nói : Những ai đón nhận Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa.

Vậy người phụ nữ đồng trinh, người đã mời anh chị em đến tham dự tiệc thánh của chúng ta, người phụ nữ ấy đã đính hôn với một người duy nhất là Đức Ki-tô, nói theo kiểu thánh Phao-lô tông đồ về mối liên hệ vợ chồng.

Nhờ những hiểu biết đem lại ánh sáng, và nhờ máu thắm của Con Chiên đích thực của Thiên Chúa, người trinh nữ ấy đã làm cho cặp môi, đôi má và miệng lưỡi mình nên đỏ, nên tươi ; và nhờ tâm trí luôn tìm hiểu, người năng suy đi nghĩ lại và mang trong lòng cái chết của Đấng đã hết tình yêu mến mình, như thể Đấng ấy vừa mới đổ máu ra. Như thế, tấm áo người được mặc nhờ việc tuyên xưng đức tin, chẳng những mang dấu vết thắm đượm máu hồng không thể phai mờ của Đức Ki-tô, mà còn lưu truyền cho hậu thế kho tàng của đức đồng trinh đầy sức thuyết phục, với những màu sắc tươi đẹp, kèm theo các lời lẽ trào dâng như dòng suối không bao giờ cạn.

Vậy, thánh nữ thật là “tốt lành” vì thuộc về Thiên Chúa. Người được chính Thiên Chúa là nguồn mạch mọi sự tốt lành trao ban làm quà tặng cho Đấng Hôn Phu, rồi cho chúng ta nhờ việc thông ban ơn lành ; nhờ đó, thánh nữ đem lại giá trị và ý nghĩa cho danh xưng A-ga-ta của mình.

Thật vậy, còn gì tốt lành hơn là sự thiện tuyệt đối ? Ai tìm được điều gì đáng ca ngợi hơn A-ga-ta ?

A-ga-ta tốt cả về danh, tốt cả về người. A-ga-ta nổi tiếng vì những việc lẫy lừng của mình, ngay danh xưng cũng cho thấy những việc lẫy lừng người đã thực hiện ; A-ga-ta lấy danh xưng mà lôi cuốn mọi người nô nức đến với mình ; người dùng gương sáng mà dạy dỗ cho mọi người cùng với mình tiến về sự thiện đích thực là một mình Thiên Chúa.

Lạy Chúa, thánh nữ A-ga-ta đã luôn luôn làm đẹp lòng Chúa, vì vừa sống cuộc đời kiên trinh, vừa can trường hy sinh tử đạo, xin nhậm lời thánh nữ chuyển cầu mà ban cho chúng con được ơn tha thứ. Chúng con cầu xin

Tiểu Sử

Trong lịch sử Giáo Hội, vào các thế kỷ ban đầu, trong thời kỳ Giáo Hội còn bị đế quốc Roma bách hại và sát hại suốt 3 thế kỷ đầu, đã có một số vị tử đạo nữ đồng trinh như

Thánh Cecilia tử đạo vào năm 230 lúc mới 20 tuổi và được Giáo Hội cử hành phụng vụ tưởng nhớ hằng năm vào ngày 22/11, hoặc

Thánh Catarina thành Alexandria Ai Cập, một triết gia, tử đạo năm 305 lúc mới 18 tuổi, và được Giáo Hội cử hành phụng vụ tưởng nhớ hằng năm vào ngày 25/11, hay

thánh Anê 12 tuổi tử đạo năm 304 và được Giáo Hội cử hành phụng vụ tưởng nhớ hằng năm vào ngày 21/1, hoặc

Thánh Lucia tử đạo năm 304 khi thánh nữ được 21 tuổi và được Giáo Hội cử hành phụng vụ tưởng nhớ hằng năm vào ngày 13/11, hay

Thánh Agatha hôm nay 5/2, vị thánh tử đạo năm 251 khi mới được 20 tuổi. Có thể nói 5 vị nữ tử đạo này là Ngũ Long Công Chúa Nữ Trinh của Vua Trời Cao Cả Giêsu Kitô, trong đó có 4 vị được Giáo hội kính nhớ trong phần Kinh Nguyện Thánh Thể I của mình, ở sau phần truyền phép và trước Kinh Lạy Cha, theo thứ tự (được liệt kê ngay sau 2 thánh nữ tử đạo không đồng trinh vào các thế kỷ đầu tiên của Giáo Hội khác là Felicia và Perpetua) đó là Thánh Agatha, Lucia, Anê, Cecilia v.v.

Thường các vị tử đạo nữ, chẳng những chịu những cực hình dã man khủng khiếp chẳng thua kém gì các vị thánh tử đạo nam, như 2 thánh phó tế Laurenso năm 258 ở Roma lễ kính ngài vào ngày 10/8, và Vinh Sơn năm 304 ở Tây Ban Nha lễ nhớ ngài vào ngày 22/1, mà còn có thể chịu cực hình hơn cả các thánh tử đạo nam nữa, nếu so sánh về thể lực giữa nam mạnh nữ yếu, các vị thánh nữ thậm chí còn bị một cực hình đặc biệt nữa, hoàn toàn không có ở nơi các vị thánh nam, đó là các vị thánh nữ đồng trinh còn bị bạo quyền nham hiểm ác độc bỏ vào ổ điểm, để cố ý làm cho các vị tử đạo nữ trẻ trung xinh đẹp trở nên nhơ nhớp về xác thịt, như Thánh Anê, Thánh Lucia, nhất là Thánh Agatha chịu cực hình thật là có thể nói là vô cùng dã man khủng khiếp chưa từng thấy.

Đaminh Maria cao tấn tĩnh, dẫn nhập

1. Ghi nhận lịch sử - Phụng Vụ

Agata, theo nghĩa tiếng Hy Lạp “người tốt”, là một thiếu nữ Sicilien, sinh tại Catane, dưới chân núi Etna. Được tử đạo vào năm 251 trong thời bách hại của Dèce; việc tôn kính nữ thánh từ Sicile lan tràn cả Phương Đông (Constantinople) lẫn Phương Tây (Rôma, Milan, Ravenne) từ thế kỷ thứ V, được mừng vào ngày 05.02. Tại Rôma, có một thánh đường được dâng kính thánh nữ vào thế kỷ thứ V, được gọi là Saint-Agathe-des-Goths. Vào đầu thế kỷ thứ VI, Đức Giáo Hoàng Symmaque đã đưa việc tôn kính thánh nữ vào thành thánh và cung hiến một đại thánh đường trên đường Via Aurelia cho thánh nữ. Người ta cho rằng Đức Giáo Hoàng Grégoire Cả đã đưa tên thánh nữ vào Kinh Nguyện Thánh Thể Rôma; tên thánh nữ có trong các hạnh tử đạo Hy Lạp lẫn La Tinh.

Thánh nữ Agata được tôn kính cách đặc biệt tại Catane; dân thành phố này tin rằng thánh nữ đã làm nhiều phép lạ trong thời đất nước gặp khó khăn ; họ tin rằng nhờ lời cầu bầu của thánh nữ đã cứu được thành khỏi bị núi lửa Etna bùng nổ. Agata được xem như thánh quan thầy của các cô bảo mẫu, người làm chuông, làm đồ nữ trang...Ngài được kể vào các thánh Bảo Trợ, được kêu cầu khi người ta bị bệnh đau thận. Mỹ thuật trình bày thánh nữ cầm một cái dĩa trong tay, trên có đôi vú bị cắt.

2. Thông điệp và tính thời sự

Thánh nữ Agata biết làm đẹp lòng Thiên Chúa bằng việc thánh hiến sự đồng trinh và sự can đảm trong cuộc tử đạo.

a. Theo truyền thuyết, ngay từ bé, Agata đã chọn con đường tận hiến trinh khiết, hoàn toàn tự do dâng hiến cho tình yêu Chúa Kitô. Để chống lại các đòi hỏi của tổng trấn ngoại giáo Quitinien mà thánh nữ bị bắt, bị hành hình đau khổ và bị giết chết.

Thánh Méthode, giáo chủ Constantinople (+ 487), trong bài giảng ngày lễ tử đạo của thánh nữ, đã nhấn mạnh đến sự thánh hiến của thánh Agata, “đính hôn với hôn phu duy nhất là Đức Kitô... thánh nữ suy niệm và luôn chiêm ngắm cái chết của hôn phu một cách say mê”. Tình yêu nồng cháy đã làm cho thánh nữ hạnh phúc, như tên của thánh nữ, chỉ vì Thiên Chúa là nguồn mọi điều tốt lành.

b. Trong thời bách hại của Dèce, rất nhiều người được tử đạo, nhưng cũng có nhiều người chối đạo. Sự can đảm của các chứng nhân đức tin trước các lý hình nhấn mạnh đến tính chất anh hùng của hy tế và gương mẫu của họ, đã giúp đỡ rất nhiều người Kitô hữu thêm vững vàng trong đức tin, như thánh nữ Agata, theo như Hạnh tử đạo của bà, “vui tươi và chiếu sáng, bước vào tù ngục như vào một bàn tiệc.”

Thánh Méthode khuyến khích các tín hữu của ngài chạy đến với nữ thánh tử đạo, “như đang chiến thắng trận chiến hiện tại, thánh nữ Agata mời gọi mọi người đến với Bà, dạy dỗ bằng mẫu gương của mình: mọi người hãy đến với bà, đến với sự tốt lành chân thật, không gì khác hơn là chính Thiên Chúa.”

Enzo Lodi (nguồn:tgpHaNoi)

https://www.kath-vietnamesen.de/05-02-thanh-agata-trinh-nu-tu-dao-le-nho/

Agatha.jpg

ÐÓA SEN TẮM MÁU ĐÀO

            Mặc dầu đảo Sicilia là sào huyệt của Mafia và là trung tâm chuyển vận bạch phiến vào Mỹ, nhưng đó là quê hương của thánh Agata, một trinh nữ tử đạo năm 251 để bảo toàn tiết hạnh và chứng tỏ lòng trung kiên với Ðức Tin Kitô Giáo.

            Agata thuộc dòng dõi giầu  sang.  Con nhà  quý phái, được giáo dục sống đời đạo hạnh theo Ðức Tin chân chính.  Chúa lại ban cho nàng một nhan sắc tuyệt vời, dễ làm xiêu lòng người.  Ðang thời bách hại Kitô Giáo, bạo vương Ðêciô ra lệnh cho Quintianô, nơi quan trấn Sicilia, phải triệt hạ tận gốc rễ tàn tích Kitô Giáo tại đây.  Vừa đến Catania, nơi sinh trưởng của Agata, Quintianô liền nghe danh nàng.  Quan trấn hạ lệnh bắt Agata và điệu nàng vào đối chất với mình.  Vừa giáp mặt Agata, nhan sắc của nàng đã làm "phiêu hồn, lạc phách" vị quan trấn mang nhiều dục vọng đê hèn, đến nỗi thay vì chất vấn về đạo giáo, Quintianô đã đường mật dụ dỗ nàng phạm tội không chút thẹn thuồng! Nhưng ẩn sau vẻ đẹp của thân xác, Agata còn trang điểm đức trinh trong thiên thần, nàng thà chết còn hơn phạm tội mất lòng Chúa.  Thấy chiêu bài dụ dỗ không kết quả, Quintianô liền đổi giọng đe loi hăm dọa.  Nhưng Agata vẫn chai lì gan dạ, nhất định không chiều ý kẻ cuồng si.  Ðổi yêu thành ghét, Quintianô ra lệnh quẳng nàng vào "lầu xanh", nơi đây mụ tú bà Aphrôdisia cùng với mấy người con gái của bà chuyên nghề mãi dâm, ngày đêm thuyết phục nàng bằng lời nói cũng như hành động để đi theo con đường tội lỗi của họ.

            Suốt 30 ngày dài, Agata phải miễn cưỡng sống giữa căn nhà tội lỗi.  Ðây là một thử thách lớn lao đối với nàng! Manh tâm của Quintianô là lợi dụng môi trường lầu xanh để phá hủy đức Khiết Trinh của Agata và dẫn nàng tới chỗ chối bỏ Ðức tin. Nhưng ông lầm! Người trinh nữ được trang bị bằng sự  Chúa hiện diện ở mọi nơi, bằng lời cầu nguyện và bằng chay tịnh đã anh dũng chống lại mọi mưu chước kẻ dữ.  Chúa đã ban cho nàng sức mạnh chiến thắng kể thù.

            Sau 30 ngày kiên quyết không lay chuyển, Agata bị điệu tới trước mặt quan trấn, ông nói với nàng:

            -Cô là dòng dõi sang trọng mà không xấu hổ khi hạ mình sống đời đê hèn của  Kitô hữu ư?

            Agata nhanh nhẹn trả lời:

            -Sự khiêm hèn và đê tiện của người Kitô hữu còn đáng giá hơn sự giầu sang, niềm kiêu hãnh và tính tự phụ của các bậc quân vương!

            Những lời đanh thép đó đã khêu cơn giận của Quintianô, ông hạ lệnh vả mặt nàng.  Những cái tát, những cú đấm "thôi sơn" của bọn lính khiến máu hồng trào ra nơi miệng và lỗ mũi.  Dòng máu trinh trong của người trinh nữ khởi sự làm chứng nhân cho bạn Tình Giêsu.  Sau đó Agata bị tống giam trong ngục với lời đe dọa nếu không chối bỏ Ðức Tin, nàng sẽ phãi đương đầu với mọi tra tấn cực hình.

            Lời đe loi đó ứng nghiệm ngay ngày hôm sau.  Quintianô ra lệnh căng thây nàng.  Toàn thân bị hành hình bằng những thanh sắt nung đỏ. Ngực nàng bị những móc sắt xé rách tan tành.  Trước cực hình dã man đó, Agata can đảm nói với Quintianô:

            -Hỡi quan độc ác, ông đã bú sữa từ ngực thân mẫu , ông không xấu hổ khi xé rách cặp ngực của người trinh nữ không một chút xót thương ư?

            Nhưng Quitianô chẳng thẹn thuồng mà cũng chẳng xót thương.  Ông ra lệnh đưa nàng về ngục rồi bỏ nàng chềt đói tại đó.

            Ðêm ấy, thánh Phêrô Tông Ðồ hiện ra trong ngục và chữa lành các vết thương trên thân xác liễu yếu của Agata.  Thánh Tông Ðồ khen nàng đã can đảm chịu khó vì Chúa Kitô.  Nhưng cực hình khác đang chờ đón nàng.  Agata cảm thấy niềm an ủi vô bờ tràn ngập tâm can, nàng lớn tiếng chúc tụng và cảm tạ Thiên Chúa, nàng hiến thân chịu mọi cực hình vì yêu Ngài.

            Bốn hôm sau, Agata bị điệu ra trước mặt quan trấn, ông này vô cùng bỡ ngỡ khi thấy mọi vết thương trên thân xác nàng đã được chửa lành.  Agata nói với ông:

            -Ông hãy xem và hãy nhìn nhận sự toàn năng của Thiên Chúa, Ðấng tôi thờ kính! Ngài hồi phục bộ ngực tôi!  Tại sao ông lại muốn tôi chối bỏ ngài? Cho dù sự tra tấn dữ tợn nhất, cho dù cái chết cay cực nhất cũng không thể phân lìa tôi ra khỏi ngài.

            Nhưng lòng dạ Quintianô đã ra chai đá, những lời của Agata càng khiêu khích cơn giận của ông, ông liền ra lệnh rắc đổ than hồng và mảnh sành nhọn trên mặt đất, rồi quân lính lăn tròn thân xác trần trụi của nàng trên đó.  Toàn thân Agata bị cháy xém và rách nát, nhưng tâm hồn nàng can đảm lạ thường! Các người hiện diện mủi lòng trước gương can trường của người trinh nữ liễu yếu đào tơ.

            Trước tội ác và sự cứng lòng của Quintianô, Chúa để xẩy ra một cơn động đất rung chuyển cả thành phố.  Hai người bạn thân nhất của quan tổng trấn bị đè bẹp dưới đống gạch đổ nát.  Dân cư trong thành hoang mang sợ hãi, họ cho rằng đây chính là hình phạt nhãn tiền do sự độc ác của Quintianô kéo xuống trên họ.  Vì sợ dân chúng nổi loạn,  quan tổng trấn truyền đem Agata về ngục.  Vừa tới ngục, nàng qùy gối rồi giang tay, ngước mắt lên trời cầu nguyện:

            -Lạy Chúa, Ngài bảo vệ con từ tuổi ấu thơ, Ngài cất khỏi con tình yêu thế tục và ban ân sủng để con chịu đựng mọi cực hình, xin lắng nghe lời van xin của tớ nữ trung kiên Ngài, và xin hãy đón nhận linh hồn con.

            Với những lời nguyện cầu đó, thân xác người trinh nữ ngã gục và linh hồn nàng bay về trời.

             Sau khi chết, thánh Agata đã làm nhiều phép lạ.  Phép lạ vĩ đại nhất là che chở thành Catania khỏi hiểm họa núi lửa Etna.  Dân thành tôn nhận Người làm thánh Bổn Mạng.  Mỗi lần núi lửa, dân thành Catania lại cầu khẩn và cậy trông vào sự cầu bầu của thánh nữ.  Ðang khi giòng phún thạch chảy nóng tiến dần về phía thành, người ta long trọng cung nghinh tấm khăn đã che phủ xác thánh người, rồi giơ cao hướng về giòng phún thạch...  Lạ thay, chẳng những nó không tiến gần thêm, mà trái lại từ từ chẩy ngược về phía núi trước con mắt ngỡ ngàng của mọi người.  Chúa đã làm những phép lạ như thế để tôn vinh tớ nữ của ngài.  Tên của thánh nữ được nhắc đến trong Kinh Nguyện Thánh Thể I.  Hàng năm Giáo Hội mừng kính Người vào ngày mồng 5 tháng 2.

Lm Nguyễn Mạnh Thư, CRM

http://www.dongcong.net/CacThanh/TruyenCacThanh/Thang2/Agata.htm


 

Ngày 6 tháng 2

Thánh Phao-lô Mi-ki và các bạn, tử đạo

lễ nhớ bắt buộc

Ngày 5 tháng 2 năm 1597, hai mươi sáu Ki-tô hữu đã bị đóng đinh thập giá ở Na-ga-xa-ki (Nhật Bản). Trong số đó có những nhà truyền giáo từ châu Âu đến như các tu sĩ dòng Tên và dòng Phan-xi-cô, nhưng còn có cả các tu sĩ Nhật Bản, như thánh Phao-lô Mi-ki (sinh khoảng năm 1564/1566) và mười bảy giáo dân gồm : các giáo lý viên, các người thông ngôn, hai bác sĩ, và cả các trẻ em nữa. Tất cả đều tươi cười, nhiều người còn ca hát khi chịu chết để làm chứng cho Chúa Ki-tô.

Image result for saint paul miki and companions

 

Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy

Bài đọc 2 giờ kinh sách 6/2

Trích truyện tử đạo của thánh Phao-lô Mi-ki và các bạn do một tác giả cùng thời thuật lại.

Thật là kỳ diệu khi thấy các vị tử đạo bị treo trên khổ giá mà tất cả đều một niềm kiên trung theo lời cha Pa-xi-ô và cha Rót-ri-ghê lần lượt khuyên bảo. Cha đặc uỷ vẫn ở yên dường như bất động, mắt đăm đăm nhìn trời. Để cảm tạ lòng nhân từ của Chúa, thầy Mác-ti-nô hát mấy thánh vịnh kèm theo câu : Trong tay Ngài, lạy Chúa. Thầy Phan-xi-cô cũng lên tiếng dõng dạc tạ ơn Thiên Chúa. Thầy Gun-xan-vô thì cất cao giọng đọc kinh Lạy Cha và kinh Kính Mừng.

Phao-lô Mi-ki, người anh em của chúng tôi, khi thấy mình ở nơi cao trọng hơn hết mà trước kia chưa bao giờ được ở, trước tiên đã nói cho những người đứng chung quanh biết mình là người Nhật và thuộc dòng Tên, mình chết vì loan báo Tin Mừng và tạ ơn Thiên Chúa vì hồng ân cao cả đó, rồi thêm những lời sau đây : “Đã đến lúc này, tôi thiết tưởng không ai trong quý vị lại tin rằng tôi muốn che giấu sự thật. Vậy tôi xin tuyên bố cùng quý vị là không có con đường nào đưa tới ơn cứu độ, ngoài con đường các Ki-tô hữu đang đi. Vì con đường đó dạy tôi tha thứ cho kẻ thù và mọi người đã xúc phạm đến tôi, nên tôi vui lòng tha thứ cho nhà vua và mọi người đã gây ra cái chết cho tôi, và tôi xin họ hãy ao ước đón nhận bí tích Thánh Tẩy của người Ki-tô hữu.”

Rồi đưa mắt nhìn các bạn, người khuyến khích họ trong cuộc chiến đấu cuối cùng này. Trên nét mặt mọi người thấy rạng rỡ một niềm vui, nhất là niềm vui trên gương mặt Lu-y.

Khi một Ki-tô hữu nói lớn với người rằng chẳng bao lâu nữa người sẽ ở trên thiên đàng, thì các ngón tay và toàn thân người biểu lộ niềm vui chan chứa, khiến ai nấy đều đưa mắt nhìn người.

An-tôn, ở bên cạnh Lu-y mắt đăm đăm nhìn trời, sau khi kêu tên cực trọng Giê-su, Ma-ri-a, thì xướng thánh vịnh đã học được trong lớp giáo lý ở Na-ga-xa-ki : Hỡi tôi tớ Chúa, hãy dâng lời ca ngợi. Quả vậy, trong lớp đó, để dạy giáo lý, người ta cho các trẻ em học thuộc lòng một số thánh vịnh.

Sau hết, người thì lặp lại nhiều lần “Giê-su, Ma-ri-a” với nét mặt bình thản, người thì khuyên bảo những kẻ đứng chung quanh sống sao cho xứng danh Ki-tô hữu. Với những hành vi tương tự, các ngài tỏ ra sẵn sàng chịu chết.

Bấy giờ, theo thói quen của người Nhật, bốn đao phủ rút kiếm ra khỏi bao : thấy cảnh tượng khủng khiếp đó, mọi tín hữu kêu lên : “Giê-su, Ma-ri-a”, tiếng khóc than thảm thiết tiếp theo sau vang lên thấu tận trời. Trong khoảnh khắc, các đao phủ đã kết liễu cuộc đời mỗi vị bằng một hay hai nhát kiếm.

 

6 Tháng Hai, Thánh Phaolô Miki và Các Bạn (c.1597) - Hạnh Các Thánh - Huynh  Đoàn Đa Minh Cộng Đoàn Thánh Linh

Ngày 05/02/1597, trên một chuyến tàu, Miki và 25 bạn đồng đội bị bắt và bị treo lên những cây thập tự đối diện với bờ biển. Tuy bị treo nhưng Miki và các bạn vẫn luôn vui tươi và không ngừng giảng đạo và khuyên răn những người đến xem. Ngài kêu gọi họ ăn năn trở lại. Ngài tha thứ cho những kẻ sỉ vả và kết án ngài. Quá tức giận, họ đã đâm ngài cùng các bạn. Phaolô Miki và các bạn được diễm phúc tử đạo. Các ngài đã bị đóng đinh, vì thế các ngài cũng được tôn vinh cùng với Ðức Kitô.

 

PHAOLÔ MIKI VÀ NHỮNG VỊ TỬ ĐẠO TIÊN KHỞI CỦA NHẬT BẢN


Những ngày đầu tháng 2 năm 1597, một đoàn phạm nhân bị dẫn đi rảo qua các thành phố của Nhật Bản, ở những nơi có đông người công giáo sinh sống. Đoàn phạm nhân này là những người bất tuân lệnh truyền của Hoàng đế trong chiếu chỉ cấm đạo. Nhà cầm quyền dùng những người này trong kế hoạch hăm dọa và răn đe những người công giáo cứng đầu, là những người không chịu bỏ đạo.Thế nhưng kế hoạch này dừng như hoàn toàn thất bại. Niềm vui của các vị tử đạo khi cái chết đến gần lại thể hiện quá rõ nét, đến nỗi hàng trăm người ngoại giáo khác bị đánh động và tin theo cái tôn giáo mà những chứng nhân này đã can đảm tuyên xưng. 

Nổi lên ở trung tâm của đoàn người ấy là một chàng trai trẻ có tên là Phaolo Miki. Dù bị kệt sức, thân thể loang lổ và xấu xí, không ai nhìn vào nhóm cái vị tử đạo mà không nhận ra dáng vẻ thanh cao của chàng trai. Phaolo mang tấm áo dòng đen đơn giản một tu sĩ Dòng Tên trong chuyến hành trình đi đến cái chết, nhưng mọi người Nhật đều nhận ra rằng, nếu muốn Phaolo hoàn toàn có thể mang bộ Kimono giàu sang và mang theo bên hông mình hai thanh gươm vốn thường được đeo bởi các Samurai quý tộc. 

Phaolo Miki sinh năm 1564 tại Tokushima, thuộc đảo Shikoku. Năm tròn 4 tuổi, cả gia đình Miki mình theo đạo công giáo. Cha của Phaolo Miki là Miki Handayu một thành viên danh dự của vương triều Oda Nobunaga. Tháng 8 năm 1586, khi được 22 tuổi, Phaolo Miki vào nhà Tập Dòng Tên và bắt đầu chương trình học để chuẩn bị làm linh mục. Đúng ra, Phaolo Miki hoàn tất chương trình ngay đúng vào thời điểm mà mình bị bắt. Cái chết tước đi khỏi Phaolo vinh dự được làm vị linh mục người Nhật Bản đầu tiên, và trao tặng cho Ngài triều thiên tử đạo đầu tiên trên đất nước Nhật Bản. 

Năm mươi năm trước, khi Thánh Phanxicô Xavier gặp được một số người Nhật Bản đã được rửa tội đã quyết định khởi hành đến quần đảo Nhật Bản để truyền giáo. Sau gần hai năm, thánh Phanxicô lập được một nhóm các thừa sai cho xứ này, trước khi Ngài tiếp tục chuyến hành trình đến với đất Trung Hoa. Nhóm các thừa sai này đã gia tăng vững vàng và đẩy mạnh công cuộc truyền giáo trên đất Nhật. Chưa tới 40 năm sau, đã có hơn 200.000 người công giáo trong toàn nước Nhật. Nhiều lãnh chúa và tướng lĩnh từ nhiều tôn giáo khác nhau bước vào đạo công giáo, và những kẻ thuộc quyền cũng bước theo gương của họ. 

Tuy nhiên, việc phát triển và lan rộng của đạo công giáo cũng gặp nhiều chống đối ở nhiều nơi khác nhau. Vào thế kỷ thứ 16, Nhật là một đế quốc được cai trị bởi hai thế lực tối cao là Hoàng đế, người nắm quyền về tinh thần, và các tướng quân (Shogun) là những người nắm quyền trên những lãnh địa khác nhau của đất nước. Dưới hai thế lực này, nước Nhật bị chia thành hơn 60 vương quốc và lãnh địa lớn nhỏ khác nhau. Trong nhiều vùng, đạo công giáo hoàn toàn bị cấm cách, các nhà truyền giáo luôn bị đe dọa và không được phép thực hiện bất cứ loại hình mục vụ tôn giáo nào. Trong những vùng khác của đế quốc, tiến trình truyền giáo diễn ra hết sức chậm do những chống đối từ phía các lãnh chúa, các nhà sư và những người lãnh đạo phật giáo luôn đặt những người theo đạo công giáo dưới sự đe dọa nghiêm trọng.

Năm 1582, tướng Hideyoshi lên cầm quyền thống trị toàn nước Nhật và bắt đầu cuộc bách hại hung bạo dành cho đạo công giáo. Cuộc bách hại của ông đạt đến đỉnh điểm vào năm 1587 với sắc lệnh bắt đạo nghiệt ngã.

Cuối tháng 12 năm 1596, một đạo quân của hoàng đế bao vây những căn nhà bị tình nghi ở Miyako và Osaka. Sáu vị thừa sai dòng Phanxicô, một nhóm 18 giáo dân và 2 vị thừa sai Dòng Tên bị bắt. Theo điều khoản đã được hoàng đế ban ra, những người này bị kết án xẻo tai như dấu hiệu của một sự tủi nhục, và sẽ bị đóng đinh vào thập giá ở Nagasaki. 

Ngày 5.2. 1597, trên một ngọn đồi bên ngoài thành phố Nagasaki, hai mươi sáu cây thập giá được dựng lên cho các bị tử đạo. Đó là cuộc tử đạo đầy tiếng hát và kinh nguyện. 

Khi những thánh giá của các vị tử đạo được dựng lên, Cha Peter Baptist, bề trên của dòng Phanxicô, cao giọng bắt hát bài Benedictus, trong khi ấy cả nhóm lý hình đứng lặng yên kính cẩn, cả nhóm tử đạo đồng thanh hát trọn bài ca: “Chúc tụng Đức Chúa là Thiên Chúa của Israel, đã viếng thăm cứu chuộc dân Người… Thiên Chúa ta đầy lòng trắc ẩn cho Vầng Đông tự chốn cao vời đến viếng thăm ta. Soi sáng những ai ngồi nơi tối tăm và trong bóng tử thần, dẫn ta bước vào đường nẻo bình an.” Dõi mắt nhìn quanh những người bạn đồng hành của mình đang sẵn sàng cho hy lễ, Phaolo Miki thầm thĩ dâng lời nguyện cuối cùng của cuộc đời mình: “Giống Thầy mình, tôi sẽ chết trên Thập Giá. Giống như Người, con tim tôi sẽ bị xé nát bởi một lưỡi giáo. Nhờ đó, dòng máu của tôi và tình yêu của tôi sẽ tuôn chảy trên mảnh đất này và thánh hóa nó nhân danh Người.”  

Trong số các vị tử đạo có ba trẻ còn ở tuổi thiếu niên. Nhóm trẻ cũng cao giọng với bài hát Laudate Pueri, tiếng hát lịm tắt khi lưỡi giáo xuyên qua con tim của họ.

Các vị tử đạo tiên khởi trên đất Nhật được Đức Thánh Cha Urbano VIII phong chân phướng ngày 15.9.1627 và được Đức Thánh Cha Pio IX phong hiển thánh ngày 8.7.1862.

Rome of the West: Memorial of Saint Paul Miki and Companions, Martyrs

 

26 cây thập giá trên một ngọn đồi ở thành phố Nagasaki đầu năm 1597 là lễ dâng hoa trái đầu mùa của Hội Thánh Nhật Bản. Dòng Tên góp phần vào hiến tế ấy ba anh em người bản xứ: thánh Phaolô Miki, 33 tuổi, lúc ấy đang chuẩn bị chịu chức linh mục; thánh Giacôbê Kisai, 64 tuổi, tu huynh; thánh Gioan Soan, 19 tuổi, giáo lý viên đang tìm hiểu Dòng Tên. Các vị còn lại gồm 6 thừa sai dòng thánh Phanxicô và 17 giáo dân mà người trẻ nhất mới 11 tuổi.

 

Người đầu tiên loan báo Tin Mừng Đức Kitô cho Nhật Bản là thánh Phanxicô Xavier. Khu vực truyền giáo này thu hút nhiều thừa sai và lớn mạnh nhanh chóng. Chỉ trong vòng 50 năm, số tín hữu đã lên đến 200 ngàn. Dòng Tên cũng thành lập một tỉnh Dòng riêng với hơn 120 anh em mà đa số là người Nhật Bản. Vào cuối thế kỷ XVI, chế độ quân phiệt ở trung ương đang cố gắng buộc các sứ quân ở các địa phương phải phục tùng để thống nhất quyền lãnh đạo đất nước trong tay  một vị tướng, nhờ đó có thể phản ứng hữu hiệu khi các đế quốc Châu Âu có ý đồ xâm lăng. Người Nhật Bản vốn thích cái gì mới, lại thấy người Châu Âu chế tạo được tàu vượt đại dương, súng bắn xa hàng loạt, nên kính nể và dễ dàng đón nhận tôn giáo do các thừa sai Châu Âu đem tới. Điều này làm cho giới cầm quyền quân phiệt lo ngại. Họ sợ người Công Giáo sẽ nghe theo các sứ quân địa phương, hoặc sẽ ủng hộ các nước Châu Âu mà chống lại họ. Để cảnh cáo và ngăn chặn, họ cho bắt mấy thừa sai cùng với một số tu sĩ và giáo dân bản xứ đem đi xử tử.

 

Thánh Phaolô Miki được rửa tội cùng với cả gia đình lúc ngài mới 5 tuổi, và gia nhập Dòng Tên lúc ngài 22 tuổi. Trong thời gian học hành, ngài đã cho thấy tài năng của một nhà giảng thuyết đầy triển vọng. Vào những tháng nghỉ học, ngài đã từng đi giảng ở những tỉnh miền nam cũng như tại kinh đô Myako. Cuối năm 1596, ngài đang học tại nhà Dòng ở thành phố Osaka thì bị bắt cùng với tu huynh Kisai và ứng sinh Gioan Soan. Ngày nay nhiều sử gia vẫn thắc mắc tại sao nhà cầm quyền lại bắt 3 tu sĩ Dòng Tên này. Riêng thánh Phaolô Miki, ngài không hề thắc mắc, trái lại cảm thấy hết sức hân hoan: “Tôi sung sướng được giống Chúa phần nào”. Cùng với cả nhóm 26 chứng nhân, ngài được dẫn lên kinh thành Myako, và cùng bị cắt tai, cắt mũi, rồi bị đem đi diễu hành cho mọi người đều thấy.

 

Nhà cầm quyền chọn Nagasaki làm pháp trường hẳn là có ý đe dọa người Công Giáo và người nước ngoài, vì đó là thành phố cảng đông người Công Giáo và người nước ngoài nhất. Trên một đỉnh đồi, người ta dọn sẵn 26 cây thánh giá. Đoàn người bị kết án tử hình chẳng những không hề tỏ ra sợ hãi mà còn luôn miệng ca hát. Người ta buộc chân tay và bụng mỗi người vào một cây thánh giá, rồi dựng lên. Hôm ấy, dân chúng đến dự rất đông. Từ trên thánh giá, 26 chứng nhân đồng thanh hát vang: “Chúng con ca ngợi Chúa là thượng đế, chúng con tuyên xưng Chúa là chúa tể…” Rồi thánh Phaolô Miki hùng hồn nói về Đức Kitô, kêu gọi tín hữu vững tin và mời gọi lương dân tìm hiểu đạo. Khi được lệnh, lý hình lấy giáo đâm mỗi vị hai nhát chéo xuyên qua ngực. Thánh Phaolô Miki và các bạn đã chết trên thập giá, giống Chúa Kitô, như ngài mong ước.

 

Chế độ quân phiệt Nhật Bản qua đi mà không ai thương tiếc. Trái lại, 26 cây thánh giá trên ngọn đồi thành phố Nagasaki đã vượt mọi thử thách của thời gian, nhắc nhở mọi người về tình yêu của Con Thiên Chúa xuống trần để cứu đời.

 

Lạy Thiên Chúa là nguồn sức mạnh của các Thánh, ngang qua thập giá Chúa đã thương gọi thánh Phaolô Miki và các bạn vào cõi sống. Nhờ lời các ngài cầu thay nguyện giúp, xin Chúa ban cho chúng con được can trường giữ vững đức tin mà chúng con tuyên xưng cho đến hơi thở cuối cùng. Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô, Con Chúa, là Thiên Chúa và là Chúa chúng con. Người hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen.

https://dongten.net/2015/02/05/thanh-phaolo-miki-va-cac-ban-tu-dao-tai-nhat-ban-nam-1597-le-nho-ngay-6-thang-2/

1. Ghi nhận lịch sử - Phụng Vụ

Phaolô Miki là một trong 3 Giêsu-hữu thuộc nhóm 26 thánh tử đạo đổ máu ngày 05.02.1597 trên đồi Tateyama, gần Nagasaki (Nhật Bản), trong đó có: 6 nhà truyền giáo Tây Ban Nha thuộc Dòng Phanxicô ; 3 giáo lý viên thuộc Dòng Tên Nhật Bản, trong số đó có Phaolô Miki, còn có 17 giáo dân người Nhật cùng tử đạo.

Phaolô Miki được nêu danh đặc biệt vì thái độ anh hùng khi ngài bị đóng đinh cùng với các bạn. Các vị này là những người tử đạo đầu tiên của miền Viễn Đông được ghi vào sách các thánh tử đạo (Martyrologium). Trong số này, cũng có các em dưới 14 tuổi: Louis, André, Antoine. Chứng nhân cuộc tử đạo này đã nói về Antoine: “Đôi mắt hướng về trời, sau khi gọi danh thánh Giêsu và Maria, em bắt đầu cất tiếng hát Thánh Vịnh: “Các em hãy ca ngợi Thiên Chúa” mà em đã học tại Nagasaki, trong trường giáo lý”.

2. Thông điệp và tính thời sự

a. Lời nguyện nhập lễ nói: Thiên Chúa là nguồn sức mạnh của các thánh ; lời kinh này đã gọi Miki và các bạn “đã vượt qua Thánh giá để đi vào sự sống”.

Em Antoine, khi bị một vị quan dụ bỏ đạo, đã nói: “Thập giá không làm tôi sợ ; tôi lại khao khát nó vì tình thương Chúa Kitô”.

Từ trên Thánh giá, Phaolô Miki đã nói với đám đông tụ họp: ”Tôi muốn nói với anh em điều này: không có con đường cứu độ nào ngoài con đường người Kitô hữu đi. Tôn giáo này dạy tôi tha thứ, tôi xin tha thứ cho nhà vua cách thật lòng và tất cả những người tạo ra cái chết của tôi, và tôi cầu nguyện để họ có thể lãnh nhận phép rửa của người Kitô hữu”.

Bài đọc một (Gl 2,19-20) nhắc lại những lời của Phaolô Miki: Tôi chịu đóng đinh vào cây Thánh giá cùng với Đức Kitô : tôi sống, nhưng không phải là tôi, nhưng là Đức Kitô sống trong tôi. Từ trên cao của 26 cây Thánh giá, các thánh tử đạo ở Nagasaki đã trở thành hình ảnh sống động của Đức Kitô, Đấng kêu gọi các môn đệ đi theo Người: Nếu ai muốn theo tôi, phải bỏ mình, vác thập giá của mình và theo tôi (Mt 16,25).

b. Phaolô Miki và các bạn đã gìn giữ và tuyên xưng đức tin cho đến lúc chết. Trình thuật về cuộc tử đạo của họ, do một chứng nhân ghi lại, cho thấy hiến tế của họ như một Phụng Vụ : người ta hát Thánh Vịnh “Các em, hãy ca ngợi Chúa”; người ta kêu đến thánh danh Giêsu và Maria ; người ta đọc kinh Lạy Cha và kinh Kính Mừng và người nào đó đã lập lại lời van xin của người trộm lành : Lạy Chúa, xin nhớ đến con. Cuối cùng, 4 lý hình đã chấm dứt chứng cứ anh hùng của đức tin bằng việc lấy giáo đâm vào tim, trong khi các Kitô hữu vẫn kêu lên: ”Giêsu, Maria !” Như thế đối với họ, cũng như đối với Chúa Giêsu trên đồi Calvariô: ”Tất cả đã hoàn tất” (Ga 19,30).

https://tgpsaigon.net/bai-viet/ngay-06-02-thanh-phaolo-miki-va-cac-ban-tu-dao-46872

Lạy Chúa là nguồn sức mạnh của các thánh, Chúa đã gọi thánh Phao-lô Mi-ki và các bạn bước lên thập giá mà vào cõi trường sinh. Xin Chúa thương nhậm lời các ngài cầu thay nguyện giúp mà cho chúng con hằng can đảm tuyên xưng đức tin, và trung thành giữ vững đến hơi thở cuối cùng. Chúng con cầu xin

Ngày 06/02: Thánh Phaolô Miki và các bạn tử đạo


Phaolô Miki
Tu sĩ Dòng Tên
Sinh : 1564 - tại Tokushima, Nhật Bản
Tử đạo : 05.02.1597 - tại Nagasaki, Nhật Bản