SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO

 

 

 

"Thày là Sự Sống"
(Gioan 11:25)



Tái Sinh Thần Linh


Phụng Vụ Lời Chúa Tuần III Phục Sinh


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL


Nếu "Thày là sự sống lại và là sự sống" (Gioan 11:25) là chủ đề chính yếu của toàn Mùa Phục Sinh, trong đó, chủ đề "Thày là sự sống lại" cho nguyên Tuần Bát Nhật Phục Sinh là thời điểm 8 ngày có các bài Phúc Âm được Giáo Hội cố ý chọn đọc hoàn toàn liên quan đến các lần Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra mà thôi, thì chủ đề "Thày là sự sống" là chủ đề cho những ngày còn lại của Mùa Phục Sinh, bao gồm cả Chúa Nhật lẫn ngày trong tuần.

Vậy chủ đề "Thày là sự sống" ở Phụng Vụ Lời Chúa cho cả Chúa Nhật lẫn các ngày trong tuần lễ thứ ba của Mùa Phục Sinh như thế nào, nếu không phải, so sánh với nội dung của phụng vụ Lời Chúa cho các tuần còn lại, thì nội dung của Phụng Vụ Lời Chúa cho Tuần III Phục Sinh này cho thấy chủ đề "Thày là sự sống" liên quan đến chiều kích Tái Sinh Thần Linh và Bánh Sự Sống là chính bản thân Người để nuôi dưỡng những ai được tái sinh bởi Người.

Chúa Nhật Thứ Ba Mùa Phục Sinh, tuy vẫn còn các bài Phúc Âm trình thuật về 3 cuộc hiện ra khác nhau của Chúa Kitô Phục Sinh, nhưng cả 3 bài đều đã bắt đầu hướng về chủ đề "Thày là sự sống" ở khía cạnh tái sinh thần linh, như chúng ta thấy các bài phúc âm ngày thường 
trong tuần thứ hai Phục Sinh, nhất là 3 ngày đầu tuần, liên quan đến vấn đề tái sinh từ trên cao, tái sinh bởi trời, bởi nước và Thánh Linh v.v., một cuộc tái sinh thần linh đã xẩy ra nơi hai môn đệ đi Emmau sau khi gặp Đấng Phục Sinh (Phúc Âm CN III Năm A), một cuộc tái sinh thần linh xẩy ra nơi chung các tông đồ sau khi nhận ra Đấng Phục Sinh để có thể sửa soạn làm chứng nhân cho Người (Phúc Âm CN III Năm B), một cuộc tái sinh thần linh xẩy ra nơi sự kiện các tông đồ đã không còn sợ hãi và ra khỏi nhà đi đánh cá, một ngành nghề đã được Chúa Kitô báo trước ngay khi chọn 4 người môn đệ đầu tiên ở bờ biển hồ Galilêa (xem Mathêu 4:18-20), trong đó có nhân vật Simon Phêrô, người môn đệ đã tự động lên tiếng rủ các tông đồ khác đi đánh cá trong Bài Phúc Âm CN III năm C, cũng là vị Tông Đồ đã tỏ thái độ nhiệt tình đáp ứng lòng mong ước của Đấng Phục Sinh trong sứ vụ chủ chiên thày Người và thân phận được hy sinh mạng sống cho chiên như Người (Phúc Âm CN III Năm C).  

N
ăm A 

Chúa Nhật III Phục Sinh Năm A

 

Bài Ðọc I: Cv 2, 14. 22-28

"Không thể nào để cho Người bị cầm giữ trong cõi chết".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong ngày lễ Ngũ Tuần, Phêrô cùng với mười một Tông đồ đứng ra, lên tiếng nói rằng: "Hỡi các người Do-thái và tất cả những ai ở Giêrusalem, xin hãy biết điều này và lắng nghe lời tôi! Hỡi những người Israel, hãy nghe những lời này: Ðức Giêsu Nadarét là người đã được Thiên Chúa chứng nhận giữa anh em bằng những việc vĩ đại, những điều kỳ diệu và những phép lạ mà Thiên Chúa đã dùng Người để thực hiện giữa anh em, như chính anh em đã biết. Theo như Thiên Chúa đã định và biết trước, Người đã bị nộp, và anh em đã dùng tay những kẻ độc ác mà hành hạ rồi giết đi. Sau khi bẻ gãy xiềng xích tử thần, Thiên Chúa đã giải thoát Người khỏi những đau khổ của cõi chết mà cho Người phục sinh, vì không thể nào để cho Người bị cầm giữ trong đó. Vì chưng Ðavít đã nói về Người rằng: 'Tôi hằng chiêm ngưỡng Chúa trước mặt tôi, vì Người ở bên hữu tôi, để tôi không nao núng. Vì thế, lòng tôi hân hoan, miệng lưỡi tôi hát mừng, và xác tôi yên nghỉ trong niềm cậy trông: vì Chúa không để linh hồn tôi trong cõi chết, và không để Ðấng Thánh của Chúa thấy sự hư nát. Chúa đã cho tôi biết con đường sự sống và cho tôi đầy hân hoan tận hưởng nhan thánh Chúa'".

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 15, 1-2a và 5. 7-8. 9-10. 11

Ðáp: Chúa sẽ chỉ cho con biết đường lối trường sinh (c. 11a).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Xin bảo toàn con, lạy Chúa, vì con tìm nương tựa Chúa. Con thưa cùng Chúa: "Ngài là chúa tể con, Chúa là phần gia nghiệp và phần chén của con, chính Ngài nắm giữ vận mạng của con". - Ðáp.

2) Con chúc tụng Chúa vì đã ban cho con lời khuyên bảo, đó là điều lòng con tự nhủ, cả những lúc đêm khuya. Con luôn luôn đặt Chúa ở trước mặt con, vì Chúa ngự bên hữu con, con sẽ không nao núng. - Ðáp.

3) Bởi thế lòng con vui mừng và linh hồn con hoan hỉ, ngay cả đến xác thịt của con cũng nằm nghỉ an toàn, vì Chúa chẳng bỏ rơi linh hồn con trong Âm phủ, cũng không để thánh nhân của Ngài thấy sự hư nát. - Ðáp.

4) Chúa sẽ chỉ cho con biết đường lối trường sinh, sự no đầy hoan hỉ ở trước thiên nhan, sự khoái lạc bên tay hữu Chúa tới muôn muôn đời! - Ðáp.

 

Bài Ðọc II: 1 Pr 1, 17-21

"Anh em được cứu độ bằng Máu châu báu của Ðức Kitô, Con Chiên tinh tuyền".

Trích thư thứ nhất của Thánh Phêrô Tông đồ.

Anh em thân mến, nếu anh em gọi Người là Cha, Ðấng không thiên vị ai khi xét đoán mỗi người theo việc họ làm, thì anh em hãy sống trong sự kính sợ suốt thời anh em còn lưu trên đất khách. Anh em biết rằng không phải bằng vàng bạc hay hư nát mà anh em đã được cứu chuộc khỏi nếp sống phù phiếm tổ truyền, nhưng bằng máu châu báu của Ðức Kitô, Con Chiên tinh tuyền, không tì ố. Người đã được tiền định trước khi tác thành vũ trụ và được tỏ bày trong thời sau hết vì anh em. Nhờ Người, anh em tin vào Thiên Chúa, Ðấng làm cho Người sống lại từ cõi chết, và ban vinh quang cho Người để anh em đặt cả lòng tin và niềm hy vọng nơi Thiên Chúa.

Ðó là lời Chúa.

 

Alleluia: x. Lc 24, 32

Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa Giêsu, xin giải thích cho chúng con những lời Thánh Kinh; xin làm cho tâm hồn chúng con sốt sắng khi nghe Chúa nói với chúng con. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Lc 24, 13-35

"Hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Cùng ngày thứ nhất trong tuần, có hai môn đệ đi đến một làng tên là Emmaus, cách Giêrusalem độ sáu mươi dặm. Dọc đường, các ông nói với nhau về những việc vừa xảy ra. Ðang khi họ nói truyện và trao đổi ý kiến với nhau, thì chính Chúa Giêsu tiến lại cùng đi với họ, nhưng mắt họ bị che phủ nên không nhận ra Người. Người hỏi: "Các ông có truyện gì vừa đi vừa trao đổi với nhau mà buồn bã vậy?" Một người tên là Clêophas trả lời: "Có lẽ ông là khách hành hương duy nhất ở Giêrusalem mà không hay biết những sự việc vừa xảy ra trong thành mấy ngày nay". Chúa hỏi: "Việc gì thế?" Các ông thưa: "Sự việc liên can đến ông Giêsu quê thành Nadarét. Người là một vị tiên tri có quyền lực trong hành động và ngôn ngữ, trước mặt Thiên Chúa và toàn thể dân chúng. Thế mà các trưởng tế và thủ lãnh của chúng ta đã bắt nộp Người để xử tử và đóng đinh Người vào thập giá. Phần chúng tôi, chúng tôi vẫn hy vọng Người sẽ cứu Israel. Các việc ấy đã xảy ra nay đã đến ngày thứ ba rồi. Nhưng mấy phụ nữ trong nhóm chúng tôi, quả thật, đã làm chúng tôi lo sợ. Họ đến mồ từ tảng sáng. Và không thấy xác Người, họ trở về nói đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng: Người đang sống. Vài người trong chúng tôi cũng ra thăm mồ và thấy mọi sự đều đúng như lời các phụ nữ đã nói; còn Người thì họ không gặp".

Bấy giờ Người bảo họ: "Ôi kẻ khờ dại chậm tin các điều tiên tri đã nói! Chớ thì Ðấng Kitô chẳng phải chịu đau khổ như vậy rồi mới được vinh quang sao?" Ðoạn Người bắt đầu từ Môsê đến tất cả các tiên tri, giải thích cho hai ông tất cả các lời Kinh Thánh chỉ về Người. Khi gần đến làng hai ông định tới, Người giả vờ muốn đi xa hơn nữa. Nhưng hai môn đệ nài ép Người rằng: "Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã về chiều, và ngày sắp tàn". Người liền vào với các ông.

Ðang khi cùng các ông ngồi bàn, Người cầm bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho hai ông. Mắt họ sáng ra và nhận ra Người. Ðoạn Người biến mất. Họ bảo nhau: "Phải chăng lòng chúng ta đã chẳng sốt sắng lên trong ta, khi Người đi đường đàm đạo và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta đó ư?" Ngay lúc ấy họ chỗi dậy trở về Giêrusalem, và gặp mười một tông đồ và các bạn khác đang tụ họp. Họ bảo hai ông: "Thật Chúa đã sống lại, và đã hiện ra với Simon". Hai ông cũng thuật lại các việc đã xảy ra dọc đường và hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh như thế nào.

Ðó là lời Chúa.


Suy Niệm


Cuộc 
tái sinh thần linh đã xẩy ra nơi hai môn đệ đi Emmau sau khi gặp Đấng Phục Sinh.


Phúc Âm
 (Luca 24:13-35, bài Phúc Âm như Thứ Tư Bát Nhật Phục Sinh): "Ngay lúc ấy họ chỗi dậy trở về Giêrusalem... thuật lại các việc đã xẩy ra dọc đường và hai vị
 đã nhận ra Người lúc bẻ bánh như thế nào".


B
ài đọc 1 (Tông Vụ 2:14,22-28) - sự sống ở khía cạnh tái sinh thần linh là nhờ ở: "Đức Giêsu Nazarét... đã bị nộp và anh em đã dùng tay những kẻ độc ác mà hạnh hạ rồi giết đi... Thiên Chúa đã cho Người phục sinh"

Bài đọc 2
 (1Phêrô 1:17-21) - sự sống ở khía cạnh tái sinh thần linh là nhờ ở
: "Máu châu báu của Đức Kitô, Con Chiên tinh tuyền không tì ố... Nhờ Người anh em tin vào Thiên Chúa là Đấng đã làm cho Người sống lại từ trong cõi chết". 

Nếu để ý chúng ta sẽ thấy Phụng Vụ Lời Chúa nói chung và bài Phúc Âm nói riêng được Giáo Hội chọn đọc cho Chúa Nhật thứ 3 Phục Sinh này hơi ngoại lệ. Trước hết, như chúng ta đã nhận định, chủ đề cho toàn Mùa Phục Sinh 7 tuần lễ là mạc khải thần linh "Thày là sự sống lại và là sự sống" (Gioan 11:25). Sau nữa, nếu chúng ta đã thấy rằng Tuần Bát Nhật Phục Sinh theo phần đầu của chủ đề chung Mùa Phục Sinh này "Thày là sự sống lại", bởi trong suốt Tuần Bát Nhật Phục Sinh, ngày nào cũng thế, cả 2 Chúa Nhật đầu và cuối Tuần Bát Nhật, cũng như các bài Phúc Âm cho ngày thường trong tuần, đều về các lần Chúa Kitô hiện ra để chứng thực Người "là sự sống lại".

Sau hết, như vậy 6 tuần Phục Sinh còn lại về phần sau của chủ đề chung Mùa Phục Sinh, đó là "Thày là Sự Sống", nhưng tại sao ở ngay Chúa Nhật đầu tuần lễ thứ 3 Phục Sinh này lại có 3 bài Phúc Âm (đã được đọc trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh) về biến cố Chúa Kitô Phục Sinh, trong đó, có 2 bài Phúc Âm của Thánh Luca khác nhau cho cả Năm A (đáng lẽ theo Thánh Mathêu) lẫn Năm B (đáng lẽ theo Thánh Marco), và Bài Phúc Âm theo Thánh Gioan cho Năm C (đáng lẽ theo Thánh Luca)? Vậy Giáo Hội cố ý chọn đọc các Bài Phúc Âm cho Chúa Nhật 3 Phục Sinh có vẻ "lộn xộn" như thế chắc chắn phải có ý nghĩa, chứ không thể nào vô nghĩa! Ở chỗ nào? Xin mạo muội suy diễn như sau.

Thật thế, chủ đề của 6 tuần lễ còn lại (trong 7 tuần) của Mùa Phục Sinh vẫn "Thày là sự sống", vẫn được tiếp tục với các Bài Đọc 1 theo Sách Tông Vụ, liên quan đến "sự sống" mới nơi cộng đồng Kitô giáo tiên khởi và công cuộc truyền giáo liên quan đến "sự sống" mới cần được truyền đạt "cho tới tận cùng trái đất", cũng như với các bài Phúc Âm theo Thánh Gioan cũng về "sự sống" ở chỗ được "tái sinh" (Tuần II PS), ở chỗ ăn "bánh sự sống" (Tuần III PS), ở chỗ dính liền với "cây nho" (Tuần IV PS), ở chỗ nhờ "Người mục tử nhân lành... hiến mạng sống cho chiên được sự sống" (Tuần V PS), ở chỗ sống đức ái với Thày và như Thày (Tuần VI PS), và ở chỗ bởi Thánh Linh là Đấng ban sự sống (Tuần VII PS). Do đó, ngay tuần thứ 2, các bài Phúc Âm trong tuần cho chúng ta thấy "Thày là sự sống" ở chỗ con người cần phải được "tái sinh bởi trời", tức "bởi nước và Thánh Linh".

Thế nhưng, 2 bài Phúc Âm cuối tuần 2, lại về phép lạ bánh hóa ra nhiều, liên quan đến "bánh sự sống" ở những bài Phúc Âm cho ngày thường trong Tuần 3 Phục Sinh. Mà "bánh sự sống" đây ám chỉ Chúa Kitô Vượt Qua và liên quan đến bữa ăn hay vấn đề ăn uống. Bởi thế mà trong cả 3 bài Phúc Âm cho Chúa Nhật III Phục Sinh, 2 của Thánh Luca cho Năm A và B, và 1 của Thánh Gioan cho Năm C, đều về Chúa Kitô Phục Sinh nhưng bao gồm chi tiết ăn uống, chi tiết liên quan đến "sự sống". Phúc Âm Thánh Luca Năm A có chi tiết Chúa Kitô Phục Sinh ngồi vào bàn ăn với 2 môn đệ; bài Phúc Âm của Thánh Luca cho Năm B cũng có chi tiết ăn uống khi Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra và Người đã ăn trước mặt các tông đồ; bài Phúc Âm Thánh Gioan cũng có chi tiết Chúa Giêsu dọn bữa sáng cho các tông đồ và mời các vị ăn.

Vậy thì ý nghĩa về "sự sống" của Mùa Phục Sinh nơi Chúa Nhật III Năm A hôm nay như thế nào nơi bữa ăn giữa Chúa Kitô Phục Sinh với 2 môn đệ về Emmau? Trước hết, 2 môn đệ về Emmau, đã được Lời Chúa dọn lòng sẵn cho các vị dọc suốt quãng đường đi của các vị, nên nhờ đó các vị cuối cùng đã nhận ra người lữ khách nhiệm lạ đồng hành với hai vị chính là Thày của các vị, ở chỗ và vào lúc: "đang khi cùng các ông ngồi bàn, Người cầm bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho hai ông. Mắt họ sáng ra và nhận ra Người". Tuy nhiên, trong 4 tác động liên tục theo thứ tự Chúa Kitô làm trước mắt 2 vị: cầm bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho hai ông", thì có lẽ phải nói rằng tác động quan trọng nhất, ý nghĩa nhất và chính yếu nhất đó là tác động "Người bẻ ra". Tại sao?

Tại vì, tất cả Mầu Nhiệm và Biến Cố Vượt Qua đều ở tác động "Người bẻ ra" này! "Người bẻ ra" cái gì, nếu không phải là "bánh" Người đang cầm trên tay, một tấm "bánh", trên hết, được dâng lên Thiên Chúa là Đấng đã sai Người chỉ vì yêu thương nhân loại và cho họ được hiệp thông thần linh với Ngài qua Con của Ngài, và sau đó là để "trao cho các ông", ám chỉ Người ban tặng cho Giáo Hội và qua Giáo Hội cho chung loài người. Bởi vì Người chính là tấm bánh bẻ ra, ám chỉ cuộc khổ giá của Người, theo ý muốn Chúa Cha, "Đấng đã không dung tha cho Con Một của Mình, nhưng đã phó nộp Người vì tất cả chúng ta" (Roma 8:32), một tấm bánh bẻ ra, ám chỉ "vì họ mà Con tự hiến để họ (Giáo Hội) được thánh hóa trong chân lý" (Gioan 17:19), và ám chỉ "Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ, để hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho nhiều người" (Mathêu 20:28).

Bài Đọc 1, trích Sách Tông Vụ hôm nay đã nhắc nhở Kitô hữu chúng ta về Thiên Chúa là Đấng đã sai Con Một của Ngài như tấm bánh bẻ ra cho phần rỗi của loài người tội lỗi đáng thương, Đấng được chính Người Con Ngài sai đã hướng về bằng "lời chúc tụng" khi "cầm lấy bánh" trước khi "bẻ ra và trao cho hai ông":

"Ðức Giêsu Nadarét là người đã được Thiên Chúa chứng nhận giữa anh em bằng những việc vĩ đại, những điều kỳ diệu và những phép lạ mà Thiên Chúa đã dùng Người để thực hiện giữa anh em, như chính anh em đã biết. Theo như Thiên Chúa đã định và biết trước, Người đã bị nộp, và anh em đã dùng tay những kẻ độc ác mà hành hạ rồi giết đi. Sau khi bẻ gãy xiềng xích tử thần, Thiên Chúa đã giải thoát Người khỏi những đau khổ của cõi chết mà cho Người phục sinh, vì không thể nào để cho Người bị cầm giữ trong đó".

Bài Đọc 2, trích Thư thứ 1 của Thánh Phêrô, trong đó, vị tông đồ tác giả lãnh đạo tông đồ đoàn đã nhấn mạnh đến giá trị vô cùng cao quí của Chúa Kitô Vượt Qua cho phần rỗi vô cùng quan trọng của Kitô hữu đã tin vào Người và đã lãnh nhận Phép Rửa để thông phần vào Mầu Nhiệm Vượt Qua của Người:


"Anh em biết rằng không phải bằng vàng bạc hay hư nát mà anh em đã được cứu chuộc khỏi nếp sống phù phiếm tổ truyền, nhưng bằng máu châu báu của Ðức Kitô, Con Chiên tinh tuyền, không tì ố. Người đã được tiền định trước khi tác thành vũ trụ và được tỏ bày trong thời sau hết vì anh em. Nhờ Người, anh em tin vào Thiên Chúa, Ðấng làm cho Người sống lại từ cõi chết, và ban vinh quang cho Người để anh em đặt cả lòng tin và niềm hy vọng nơi Thiên Chúa".

Như 2 môn đề về Emmau nhận ra được Đấng Vượt Qua Thày mình nơi tác động "bẻ bánh" của Người trong bữa ăn tối với họ ở dọc đường, Kitô hữu chúng ta không thể nào không cưu mang tâm tình tri ân cảm tạ Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương chúng ta vô cùng bất tận và nhưng không nơi Con Một của Người, và quyết tâm chỉ theo đường lối của Ngài như chính Con Ngài đã vạch ra và đi trước chúng ta hoàn toàn vì phần rỗi của nhân loại, như tấm bánh bẻ ra. Và tâm tình tri ân cảm tạ Thiên Chúa cùng quyết tâm theo đường lối của Ngài nơi gương tấm bánh bẻ ra là Con Ngài được chất chứa trong Bài Đáp Ca hôm nay như sau:

 

1) Xin bảo toàn con, lạy Chúa, vì con tìm nương tựa Chúa. Con thưa cùng Chúa: "Ngài là chúa tể con, Chúa là phần gia nghiệp và phần chén của con, chính Ngài nắm giữ vận mạng của con".

2) Con chúc tụng Chúa vì đã ban cho con lời khuyên bảo, đó là điều lòng con tự nhủ, cả những lúc đêm khuya. Con luôn luôn đặt Chúa ở trước mặt con, vì Chúa ngự bên hữu con, con sẽ không nao núng.

3) Bởi thế lòng con vui mừng và linh hồn con hoan hỉ, ngay cả đến xác thịt của con cũng nằm nghỉ an toàn, vì Chúa chẳng bỏ rơi linh hồn con trong Âm phủ, cũng không để thánh nhân của Ngài thấy sự hư nát.

4) Chúa sẽ chỉ cho con biết đường lối trường sinh, sự no đầy hoan hỉ ở trước thiên nhan, sự khoái lạc bên tay hữu Chúa tới muôn muôn đời!




Năm B 

Chúa Nhật III Phục Sinh Năm B

 

Bài Ðọc I: Cv 3, 13-15. 17-19

"Ðấng ban sự sống thì anh em đã giết đi, nhưng Thiên Chúa đã cho Người từ cõi chết sống lại".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Khi ấy, Phêrô nói với dân chúng rằng: "Thiên Chúa Abraham, Thiên Chúa Isaac, Thiên Chúa Giacóp, Thiên Chúa các tổ phụ chúng ta đã làm vinh danh Chúa Giêsu, Con của Ngài, Ðấng mà anh em đã nộp và chối bỏ trước mặt Philatô, trong khi Philatô xét là phải tha cho Người. Anh em đã chối bỏ Ðấng Thánh, Ðấng Công Chính, và xin tha tên sát nhân cho anh em, còn Ðấng ban sự sống thì anh em lại giết đi, nhưng Thiên Chúa đã cho Người từ cõi chết sống lại, điều đó chúng tôi xin làm chứng.

"Hỡi anh em, thế nhưng tôi biết rằng anh em đã hành động vì không biết, như các thủ lãnh anh em đã làm. Thiên Chúa đã hoàn tất việc Người dùng miệng các tiên tri mà báo trước. Ðức Kitô của Ngài phải chịu khổ hình. Vậy anh em hãy ăn năn hối cải, ngõ hầu tội lỗi anh em được xoá bỏ".

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 4, 2. 7. 9

Ðáp: Lạy Chúa, xin chiếu sáng thiên nhan Chúa trên mình chúng con! (c. 7a)

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Khi con cầu, nguyện Chúa nghe, lạy Chúa công bình của con, Chúa đã giải thoát con trong cơn khốn khó, nguyện xót thương và nghe tiếng con cầu! - Ðáp.

2) Nhiều người nói: "Ai chỉ cho ta thấy điều thiện hảo?" Lạy Chúa, xin chiếu sáng thiên nhan Chúa trên mình chúng con! - Ðáp.

3) Ðược an bình, con vừa nằm xuống, thoắt ngủ ngon, vì lạy Chúa, duy có Chúa cho con yên hàn. - Ðáp.

 

Bài Ðọc II: 1 Ga 2, 1-5a

"Chính Người là của lễ đền tội, không những cho chúng ta mà thôi, nhưng còn cho cả thế gian".

Trích thư thứ nhất của Thánh Gioan Tông đồ.

Các con thân mến, Cha viết những điều này cho các con, để các con đừng phạm tội. Nhưng nếu có ai đã phạm tội, thì chúng ta có Ðức Giêsu Kitô, Ðấng công chính, làm trạng sư nơi Ðức Chúa Cha. Chính Người là của lễ đền tội chúng ta; không nguyên đền tội chúng ta mà thôi, nhưng còn đền tội cho cả thế gian. Chính nơi điều này mà chúng ta biết rõ được là chúng ta biết Chúa Giêsu, nếu chúng ta giữ các giới răn Người. Ai nói mình biết Người, mà không giữ giới răn Người, là kẻ nói dối, và nơi người ấy không có chân lý. Còn ai giữ lời Người, thì quả thật, tình yêu của Thiên Chúa đã tuyệt hảo nơi người ấy.

Ðó là lời Chúa.

 

Alleluia: x. Lc 24, 32

Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa Giêsu, xin giải thích cho chúng con những lời Thánh Kinh; xin làm cho tâm hồn chúng con sốt sắng khi nghe Chúa nói với chúng con. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Lc 24, 35-48

"Họ nhận ra được Người khi họ nhận bánh do Người bẻ trao cho".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, hai môn đệ thuật lại các việc đã xảy ra dọc đường và hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh như thế nào.

Mọi người còn đang bàn chuyện thì Chúa Giêsu hiện ra đứng giữa họ và phán: "Bình an cho các con! Thầy đây, đừng sợ". Nhưng mọi người bối rối tưởng mình thấy ma. Chúa lại phán: "Sao các con bối rối và lòng các con lo nghĩ như vậy? Hãy xem tay chân Thầy: chính Thầy đây! Hãy sờ mà xem: ma đâu có xương thịt như các con thấy Thầy có đây". Nói xong, Người đưa tay chân cho họ xem. Thấy họ còn chưa tin, và vì vui mừng mà bỡ ngỡ, Chúa hỏi: "Ở đây các con có gì ăn không?" Họ dâng cho Người một mẩu cá nướng và một tảng mật ong. Người ăn trước mặt các ông và đưa phần còn lại cho họ. Ðoạn Người phán: "Ðúng như lời Thầy đã nói với các con, khi Thầy còn ở với các con, là cần phải ứng nghiệm hết mọi lời đã ghi chép về Thầy trong luật Môsê, trong sách tiên tri và thánh vịnh". Rồi Người mở trí cho các ông am hiểu Kinh Thánh.

Người lại nói: "Có lời chép rằng: Ðấng Kitô sẽ phải chịu thương khó, và ngày thứ ba Người sẽ từ cõi chết sống lại. Rồi phải nhân danh Người rao giảng sự thống hối và sự ăn năn để lãnh ơn tha tội cho muôn dân, bắt đầu từ thành Giêrusalem. Còn các con, các con sẽ làm chứng nhân về những điều ấy".

Ðó là lời Chúa.


Suy Niệm

Cuộc tái sinh thần linh xẩy ra nơi chung 
các tông đồ sau khi nhận ra Đấng Phục Sinh để có thể sửa soạn làm chứng nhân cho Người.  

Bài đọc 1 (Tông Vụ 3:13-15,17-19) - sự sống ở khía cạnh tái sinh thần linh là nhờ ở: "Đấng ban sự sống thì anh em giết đi, nhưng Thiên Chúa đã cho Người từ cõi chết sống lại".
Bài đọc 2 (1Gioan 2:1-5a) - sự sống ở khía cạnh tái sinh thần linh là nhờ ở: "Đức Giêsu Kitô, Đấng công chính, làm trạng sư nơi Đức Chúa Cha. Chính Người là của lễ đền tội chúng ta".

Phúc Âm (Luca 24:35-48, bài Phúc Âm như Thứ Năm Bát Nhật Phục Sinh): "Có lời chép rằng: Đức Kitô sẽ phải chịu thương khó, và ngày thứ ba Người sẽ từ cõi chết sống lại. Rồi phải nhân danh Người rao giảng sự thống hối và sự ăn năn để lĩnh ơn tha tội cho muôn dân, bắt đầu từ Thành Giêrusalem. Còn các con, các con sẽ làm chứng nhân về những điều ấy".



Có thể nói, Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật III Phục Sinh vẫn có ý nghĩa và tính chất Lòng Thương Xót Chúa như Chúa Nhật II Phục Sinh, Lễ Lòng Thương Xót Chúa. Ở chỗ, ngay trong bài Phúc Âm của Thánh ký Luca, bài Phúc Âm có nhiều tình tiết hơn của bài Phúc Âm Thánh ký Gioan, (vì cả hai vị cùng thuật lại sự kiện Chúa Giêsu hiện ra với các tông đồ lần thứ nhất và tối ngày thứ nhất trong tuần), những tình tiết nhiều hơn được Thánh ký Luca thuật lại liên quan đến tiến trình tỏ mình ra của Chúa Kitô tùy theo trình độ tin tưởng của các tông đồ bấy giờ:

"Nhưng mọi người bối rối tưởng mình thấy ma. Chúa lại phán: 'Sao các con bối rối và lòng các con lo nghĩ như vậy? Hãy xem tay chân Thầy: chính Thầy đây! Hãy sờ mà xem: ma đâu có xương thịt như các con thấy Thầy có đây'. Nói xong, Người đưa tay chân cho họ xem. Thấy họ còn chưa tin, và vì vui mừng mà bỡ ngỡ, Chúa hỏi: 'Ở đây các con có gì ăn không?' Họ dâng cho Người một mẩu cá nướng và một tảng mật ong. Người ăn trước mặt các ông và đưa phần còn lại cho họ. Ðoạn Người phán: 'Ðúng như lời Thầy đã nói với các con, khi Thầy còn ở với các con, là cần phải ứng nghiệm hết mọi lời đã ghi chép về Thầy trong luật Môsê, trong sách tiên tri và thánh vịnh'. Rồi Người mở trí cho các ông am hiểu Kinh Thánh".

Ở phần thứ hai của Phúc Âm Thánh Luca cũng thế, cũng được ngài nói rõ hơn về nội dung của Sứ Điệp Phục Sinh cần phải loan truyền và Sứ Vụ Chứng Nhân các tông đồ cần phải thực hiện, liên quan đến cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô Phục Sinh:

"Người lại nói: 'Có lời chép rằng: Ðấng Kitô sẽ phải chịu thương khó, và ngày thứ ba Người sẽ từ cõi chết sống lại. Rồi phải nhân danh Người rao giảng sự thống hối và sự ăn năn để lãnh ơn tha tội cho muôn dân, bắt đầu từ thành Giêrusalem. Còn các con, các con sẽ làm chứng nhân về những điều ấy'".


Trong khi đó, Thánh ký Gioan (20:19-23) chỉ vắn gọn về lần hiện ra đầu tiên này như sau (có thể là vì ngài đã biết Thánh Luca đã thuật lại các chi tiết khác rồi, ngài không cần phải lập lại nữa, mà chỉ thêm 2 chi tiết chưa được Thánh ký Luca đề cập tới, liên quan đến Thánh Linh, cho trọn vẹn đầy đủ chi tiết cho lần hiện ra đầu tiên này của Chúa Kitô Phục Sinh với các tông đồ, ngoài ra, ngài muốn nhấn mạnh đến lần hiện ra thứ hai sau đó 8 ngày, đoạn Phúc Âm dài hơn đoạn về lần hiện ra thứ nhất):

"Vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, những cửa nhà các môn đệ họp đều đóng kín, vì sợ người Do-thái, Chúa Giêsu hiện đến, đứng giữa các ông và nói rằng: 'Bình an cho các con'. Khi nói điều đó, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người. Bấy giờ các môn đệ vui mừng vì xem thấy Chúa. Chúa Giêsu lại phán bảo các ông rằng: 'Bình an cho các con. Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con'. Nói thế rồi, Người thổi hơi và phán bảo các ông: 'Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại'".
 

Tuy nhiên, cả hai bài Phúc Âm, dù vắn hay dài, cũng chỉ qui tụ lại một điểm giống nhau duy nhất đó là Lòng Thương Xót Chúa. Bởi vì, Lòng Thương Xót Chúa liên quan đến tội lỗi của con người, mà tội lỗi thì cần được thứ tha. Do đó, ở cả 2 bài Phúc Âm, Chúa Giêsu đều nói đến ơn tha thứ tội lỗi: "Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại" (Phúc Âm Thánh Gioan) - "phải nhân danh Người rao giảng sự thống hối và sự ăn năn để lãnh ơn tha tội cho muôn dân" (Phúc Âm Thánh Luca) .


Thế nhưng, ơn tha thứ được ban cho nhân loại ra sao từ Lòng Thương Xót Chúa, nếu không phải nhờ công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô, Người Con mà "Thiên Chúa đã không dung tha, một phó nộp Người vì tất cả chúng ta" (Roma 8:32), Đấng được Bài Đọc II hôm nay khẳng định là "Ðấng công chính, làm trạng sư nơi Ðức Chúa Cha. Chính Người là của lễ đền tội chúng ta; không nguyên đền tội chúng ta mà thôi, nhưng còn đền tội cho cả thế gian". Và đó cũng là lý do ngay trước Sứ Điệp Phục Sinh về ơn tha thứ ở Phúc Âm Thánh Luca hôm nay, Chúa Giêsu đã nhắc đến lời Thánh Kinh về bản thân Người:
"Có lời chép rằng: Ðấng Kitô sẽ phải chịu thương khó, và ngày thứ ba Người sẽ từ cõi chết sống lại".

Và chính vì thế mà mở đầu Sứ Điệp Phục Sinh là 3 chứ "nhân danh Người" làm gì: "rao giảng sự thống hối và sự ăn năn để lãnh ơn tha tội cho muôn dân, bắt đầu từ thành Giêrusalem". Và chính Chúa Kitô Phục Sinh sau khi từ trong kẻ chết sống lại và tỏ mình ra cho các môn đệ tông đồ thì ủy thác cho các vị Sứ Vụ Minh Chứng về Người: "các con sẽ làm chứng nhân về những điều ấy". "Điều ấy" là điều nào? Nếu không phải trước hết là sự kiện Vượt Qua của Chúa Kitô mà chính các vị đã thấy rõ ràng là Thày của các vị đã chết mà nay đã sống lại thật, nhưng trên hết và thực ra, "điều ấy" là chính Lòng Thương Xót Chúa mà nếu không có Lòng Thương Xót Chúa thì cũng chẳng có vấn đề Vượt Qua.

Chính các vị đã cảm nghiệm thấy Lòng Thương Xót Chúa Vượt Qua ngay nơi bản thân của từng vị. Ở chỗ, chính các vị đã được Người tha tội cho, tội bỏ Thày mà thoát thân của tất cả mọi tông đồ, nhất là tội trắng trọn phản bội chối bỏ Thày v.v., khi Người thông ban Thánh Linh từ Thánh Thể đã chịu khổ nạn và tử giá sống lại của Người cho các vị, không phải chỉ để các vị có thẩm quyền và năng quyền thay Người tha tội cho thành phần hối nhân như các vị, mà còn cho chính các vị trước hết và trên hết.

Bởi đó, không lạ gì, chính vị lãnh đạo tông đồ đoàn Phêrô, sau khi cảm nghiệm được Lòng Thương Xót Chúa, ngài đã thương cảm chính thành phần lãnh đạo Do Thái giáo nói riêng và thành phần dân chúng nói chung về những lỗi lầm họ vấp phạm trong việc nhúng tay tàn bạo đầy lòng hận thù ghen ghét của họ sát hạt Con Thiên Chúa, với câu nói hoàn toàn phản ảnh Lòng Thương Xót Chúa, như chính Chúa Kitô đã tỏ hiện trên thập giá lúc Người xin Cha của Người tha cho thành phần làm khốn và sát hại Người chỉ vì "lầm, không biết việc mình làm" (Luca 23:34). Câu của Thánh Phêrô trong bài giảng thứ hai hậu Hiện Xuống của ngài như sau:

 

"Thiên Chúa Abraham, Thiên Chúa Isaac, Thiên Chúa Giacóp, Thiên Chúa các tổ phụ chúng ta đã làm vinh danh Chúa Giêsu, Con của Ngài, Ðấng mà anh em đã nộp và chối bỏ trước mặt Philatô, trong khi Philatô xét là phải tha cho Người. Anh em đã chối bỏ Ðấng Thánh, Ðấng Công Chính, và xin tha tên sát nhân cho anh em, còn Ðấng ban sự sống thì anh em lại giết đi, nhưng Thiên Chúa đã cho Người từ cõi chết sống lại, điều đó chúng tôi xin làm chứng. Hỡi anh em, thế nhưng tôi biết rằng anh em đã hành động vì không biết, như các thủ lãnh anh em đã làm. Thiên Chúa đã hoàn tất việc Người dùng miệng các tiên tri mà báo trước. Ðức Kitô của Ngài phải chịu khổ hình. Vậy anh em hãy ăn năn hối cải, ngõ hầu tội lỗi anh em được xoá bỏ".


Năm C
 

Chúa Nhật III Phục Sinh Năm C

 

Bài Ðọc I: Cv 5, 27b-32. 40b-41

"Chúng tôi là chứng nhân các lời đó cùng với Thánh Thần".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong những ngày ấy, thầy thượng tế hỏi các tông đồ rằng: "Ta đã ra lệnh cấm các ngươi nhân danh ấy mà giảng dạy. Thế mà các ngươi đã giảng dạy giáo lý các ngươi khắp cả Giêrusalem; các ngươi còn muốn làm cho máu người đó lại đổ trên chúng tôi ư?" Phêrô và các tông đồ trả lời rằng: "Phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người ta. Thiên Chúa cha ông chúng ta đã cho Ðức Giêsu sống lại, Ðấng mà các ông đã giết khi treo Người trên thập giá. Thiên Chúa đã dùng quyền năng tôn Ngài làm thủ lãnh và làm Ðấng Cứu Ðộ, để ban cho Israel được ăn năn sám hối và được ơn tha tội. Chúng tôi là nhân chứng các lời đó cùng với Thánh Thần, Ðấng mà Thiên Chúa đã ban cho mọi kẻ vâng lời Người!" Họ ra lệnh đánh đòn các tông đồ và tuyệt đối cấm không được nhân danh Ðức Giêsu mà giảng dạy nữa, đoạn tha các ngài về. Vậy các ngài ra khỏi công nghị, lòng hân hoan vì thấy mình xứng đáng chịu sỉ nhục vì Danh Ðức Giêsu.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 29, 2 và 4. 5 và 6. 11 và 12a và 13b

Ðáp: Lạy Chúa, con ca tụng Chúa vì đã giải thoát con (c. 2a).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Lạy Chúa, con ca tụng Chúa vì đã giải thoát con, và không để quân thù hoan hỉ về con. Lạy Chúa, Ngài đã đưa linh hồn con thoát xa Âm phủ, Ngài đã cứu con khỏi số người đang bước xuống mồ. - Ðáp.

2) Các tín đồ của Chúa, hãy đàn ca mừng Chúa, và hãy cảm tạ thánh danh Ngài. Vì cơn giận của Ngài chỉ lâu trong giây phút, nhưng lòng nhân hậu của Ngài vẫn có suốt đời. Chiều hôm có gặp cảnh lệ rơi, nhưng sáng mai lại được mừng vui hoan hỉ. - Ðáp.

3) Lạy Chúa, xin nhậm lời và xót thương con, lạy Chúa, xin Ngài gia ân cứu giúp con. Chúa đã biến đổi lời than khóc thành khúc nhạc cho con; lạy Chúa là Thiên Chúa của con, con sẽ tán tụng Chúa tới muôn đời. - Ðáp.

 

Bài Ðọc II: Kh 5, 11-14

"Chiên Con đã bị giết, xứng đáng lãnh nhận quyền năng, ...vinh quang và lời chúc tụng".

Trích sách Khải Huyền của Thánh Gioan.

Tôi là Gioan, đã thấy và nghe tiếng các thiên thần đông đảo vòng quanh ngai vàng, tiếng các sinh vật và các vị kỳ lão; số họ đông hằng ngàn hằng vạn, họ lớn tiếng tung hô rằng: "Chiên Con đã bị giết, xứng đáng lãnh nhận quyền năng, phú quý, khôn ngoan, sức mạnh, danh dự, vinh quang và lời chúc tụng". Tôi lại nghe mọi thọ tạo trên trời, trên đất, dưới đất, trên biển và dưới biển, tung hô rằng: "Chúc Ðấng ngự trên ngai và chúc Chiên Con được ca tụng, danh dự, vinh quang, quyền năng đến muôn đời". Bốn sinh vật thưa: "Amen", và hai mươi bốn vị kỳ lão sấp mặt xuống và thờ lạy Ðấng hằng sống muôn đời.

Ðó là lời Chúa.

 

Alleluia: Ga 10, 27

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Con chiên Ta thì nghe tiếng Ta; Ta biết chúng và chúng theo Ta". - Alleluia.

 

Phúc Âm: Ga 21, 1-14 {hoặc 1-19}

"Chúa Giêsu đến, cầm bánh và cá trao cho họ ăn".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, lúc các môn đệ đang ở bờ biển Tibêria, Chúa Giêsu lại hiện đến. Công việc đã xảy ra như sau: "Simon-Phêrô, Tôma (cũng gọi là Ðiđymô), Nathanael quê tại Cana xứ Galilêa, các con ông Giêbêđê, và hai môn đệ khác nữa đang ở với nhau. Simon Phêrô bảo: "Tôi đi đánh cá đây". Các ông kia nói rằng: "Chúng tôi cùng đi với ông". Mọi người ra đi xuống thuyền. Nhưng đêm ấy các ông không bắt được con cá nào. Lúc rạng đông, Chúa Giêsu hiện đến trên bờ biển, nhưng các môn đệ không biết là Chúa Giêsu. Người liền hỏi: "Này các con, có gì ăn không?" Họ đồng thanh đáp: "Thưa không". Chúa Giêsu bảo: "Hãy thả lưới bên hữu thuyền thì sẽ được". Các ông liền thả lưới và hầu không kéo nổi lưới lên, vì đầy cá. Người môn đệ Chúa Giêsu yêu liền nói với Phêrô: "Chính Chúa đó". Simon Phêrô nghe nói là Chúa, liền khoác áo vào, vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển. Các môn đệ khác chèo thuyền vào và kéo lưới đầy cá theo, vì không còn xa đất bao nhiêu, chỉ độ hai trăm thước tay.

Khi các ông lên bờ, thấy có sẵn lửa than, trên để cá và bánh. Chúa Giêsu bảo: "Các con hãy mang cá mới bắt được lại đây". Simon Phêrô xuống thuyền kéo lưới lên bờ. Lưới đầy toàn cá lớn; tất cả được một trăm năm mươi ba con. Dầu cá nhiều đến thế, nhưng lưới không rách. Chúa Giêsu bảo rằng: "Các con hãy lại ăn". Không ai trong đám ngồi ăn dám hỏi "Ông là ai?", vì mọi người đã biết là Chúa. Chúa Giêsu lại gần, lấy bánh trao cho các môn đệ; Người cũng cho cá như thế. Ðây là lần thứ ba, Chúa Giêsu đã hiện ra với các môn đệ khi Người từ cõi chết sống lại.

[Vậy khi các Ngài đã điểm tâm xong, Chúa Giêsu hỏi Simon Phêrô rằng: "Simon, con ông Gioan, con có yêu mến Thầy hơn những người này không?" Ông đáp: "Thưa Thầy: Có, Thầy biết con yêu mến Thầy". Người bảo ông: "Con hãy chăn dắt các chiên con của Thầy". Người lại hỏi: "Simon, con ông Gioan, con có yêu mến Thầy không?" Ông đáp: "Thưa Thầy: Có, Thầy biết con yêu mến Thầy". Người bảo ông: "Con hãy chăn dắt các chiên con của Thầy". Người hỏi ông lần thứ ba: "Simon, con ông Gioan, con có yêu mến Thầy không?" Phêrô buồn phiền, vì thấy Thầy hỏi lần thứ ba: "Con có yêu mến Thầy không?" Ông đáp: "Thưa Thầy, Thầy biết mọi sự: Thầy biết con yêu mến Thầy". Người bảo ông: "Con hãy chăn dắt các chiên mẹ của Thầy. Thật, Thầy bảo thật cho con biết: khi con còn trẻ, con tự thắt lưng lấy và đi đâu mặc ý, nhưng khi con già, con sẽ giang tay ra, người khác sẽ thắt lưng cho con và dẫn con đến nơi con không muốn đến". Chúa nói thế có ý ám chỉ Phêrô sẽ chết cách nào để làm sáng danh Thiên Chúa. Phán những lời ấy đoạn, Người bảo ông: "Con hãy theo Thầy".]

Ðó là lời Chúa.


Suy Niệm


Cuộc tái sinh thần linh x
ẩy ra nơi sự kiện các tông đồ đã không còn sợ hãi và ra khỏi nhà đi đánh cá, nhất là riêng Tông Đồ Phêrô đã tỏ thái độ nhiệt tình đáp ứng lòng mong ước của Đấng Phục Sinh. 


Phúc Âm
 (Gioan 21:1-14 hay 1-19, bài Phúc Âm như 
Thứ Sáu Bát Nhật Phục Sinh): "Simon Phêrô bảo: 'Tôi đi đánh cá đây'. Các vị kia nói rằng: 'Chúng tôi cùng đi với anh'. Mọi người ra đi xuống thuyền... Chúa Giêsu hỏi Simon Phêrô rằng 'con có yêu mến Thày không?' (3 lần)... 'Thày biết con yêu mến Thày' (3 lần)... 'Con hãy theo Thày' (sau khi báo cho vị tông đồ này biết 'sẽ chết cách nào)". 



B
ài đọc 1 (Tông Vụ 5:27b-32,40b-41) - sự sống ở khía cạnh tái sinh thần linh là nhờ ở: "Đấng mà các ông đã giết khi treo Người trên thập giá. Thiên Chúa đã dùng quyền năng tôn Người làm thủ lãnh và làm Đấng Cứu Độ".

Bài đọc 2
 (Khải Huyền 5:11-14) - 
sự sống ở khía cạnh tái sinh thần linh là nhờ ở: "Chiên Con đã bị giết, xứng đáng lãnh nhận quyền năng, phú quí, khôn ngoan, sức mạnh, danh dự, vinh quang và lời chúc tụng". 

Bài Phúc Âm theo Thánh ký Gioan cho chu kỳ phụng vụ Năm C, theo chiều hướng và ý nghĩa, là bài Phúc Âm tiếp theo 2 bài Phúc Âm của Thánh ký Luca, một cho Năm A và một cho Năm B, hai bài phúc âm thuật lại biến cố Chúa Kitô hiện ra với chung các môn đệ lần thứ nhất để chứng thực với các vị là Người quả thực đã sống lại từ trong kẻ chết (Phúc Âm Năm A), và để hướng các vị về sứ vụ chính yếu là "làm chứng" về Người và cho Người bằng tất cả những gì các vị đã thấy nơi Người (Phúc Âm Năm B), một sứ vụ làm cho nhân loại tin vào Người, chẳng khác gì như những tay chài lưới bắt cá người, tiêu biểu như 7 vị tông đồ ở trong Bài Phúc Âm (Năm C) được Thánh Gioan thuật lại.

Bài Phúc Âm cho Năm C của Thánh ký Gioan hôm nay còn được Giáo Hội bao gồm cả phần cuối không buộc đọc là phần liên quan đến tông đồ Phêrô, vị tông đồ đã phải khẳng định với Thày mình 3 lần rằng "con yêu mến Thày". Sở dị đoạn Phúc Âm cuối này không buộc đọc là vì theo ý nghĩa nó chỉ liên quan đến nội bộ Giáo Hội hơn là truyền giáo là chiều hướng chung của ba bài Phúc Âm A-B-C, như đã nhận định trên đây.

Sự kiện tông đồ Phêrô phải tuyên xưng lòng mến của ngài với Thày của mình không phải chỉ để bù lại cho 3 lần ngài đã chối bỏ Thày mà nhất là còn cho thấy khả năng thiết yếu bất khả thiếu để thi hành sứ vụ thủ lãnh Giáo Hội của ngài, liên quan đến 3 trách vụ chính yếu của ngài nói riêng và của hành giáo phẩm nói chung, đó là thánh hóa ("chăm nuôi đám chiên con của Thày" - "feed my lambs"), giảng dạy ("chăn dắt chiên lớn của Thày" - "tend my sheep", nhất là những con chiên cho mình là khôn lớn nên bị lầm lạc) và cai quản ("chăn dắt chiên lớn của Thày" - "tend my sheep", kể cả các vị giám mục trong hàng giáo phẩm).

Tông đồ Phêrô, vị thay mặt Chúa Kitô đầu tiên trong Hội Thánh để chăn dắt đoàn chiên của Người đây không thể nào chăm nuôi và chăn dắt chiến con và chiên lớn của Người nếu không yêu mến Người gấp đôi các chiên con và gấp ba chiên lớn, nhờ đó, nhờ lòng yêu mến này, ngài mới có thể hiệp nhất nên một với Đấng đã tin tưởng ủy thác đoàn chiên của Người cho ngài, đến độ ngài dám thí mạng sống mình vì chiên như Người, đúng như lời tiên báo của Chúa Kitô về thân phận đóng vai trò lãnh đạo thay Người của ngài, nhưng nhờ thế ngài đã thực sự trở thành chứng nhân đích thực của Người.

C
ái tuyệt vời ở đây là sự liên kết chặt chẽ hết sức mạch lạc giữa các bài Phúc Âm được Giáo Hội chọn đọc cho các Chúa Nhật nói riêng rất ăn khớp với nhau và liên tục với nhau theo đúng chủ đề chung. Điển hình nhất là bài Phúc Âm của Thánh Ký Gioan cho Năm C trên đây, liên quan đến vai trò mục tử của Thánh Phêrô sẽ được diễm phúc trở nên giống như vai trò Mục Tử Nhân Lành của Chúa Kitô hy sinh cho chiên được sống, và vai trò mục tử nhân lành gương mẫu này của Người được mạc khải cho thấy rõ ràng trong cả 3 bài Phúc Âm A-B-C của Tuần IV Phục Sinh kế tiếp

(xin xem lại bài 
Chủ Đề "Thày là sự sống" cho Các Chúa Nhật Mùa Phục Sinh sau Tuần Bát Nhật Phục Sinh)
  Phụng Vụ Lời Chúa Mùa Phục Sinh sau Tuần Bát Nhật Phục Sinh
    

Thứ Hai sau Chúa Nhật III Phục Sinh

 

Bài Ðọc I: Cv 6, 8-15

"Họ không thể đương đầu với sự khôn ngoan và Thánh Thần vẫn giúp cho ông nói".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong những ngày ấy, Têphanô đầy ân sủng và sức mạnh, làm nên những điều kỳ diệu và những phép lạ cả thể trong dân. Bấy giờ có nhóm người kia thuộc hội đường mệnh danh là "của những người Tự Do, người Xirênê và Alexandria", và những người khác từ xứ Cilicia và Tiểu Á, đã nổi dậy. Họ tranh luận với Têphanô, nhưng họ không thể đương đầu với sự khôn ngoan và Thánh Thần vẫn giúp cho ông nói. Họ xúi giục một số người nói lên rằng: "Chúng ta đã nghe nó nói những lời lộng ngôn phạm đến Môsê và Thiên Chúa". Họ xách động dân chúng, các kỳ lão và luật sĩ; rồi họ tuôn đến bắt Têphanô điệu tới công nghị. Họ đưa ra những người làm chứng gian nói rằng: "Tên này không ngớt nói những lời xúc phạm đến nơi thánh và lề luật, vì chúng tôi nghe nó nói rằng: "Ông Giêsu Nadarét sẽ phá nơi này, và thay đổi các tập tục Môsê truyền lại cho chúng ta". Toàn thể cử toạ trong công nghị chăm chú nhìn Têphanô, thấy mặt người giống như mặt thiên thần.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 118, 23-24. 26-27. 29-30

Ðáp: Phúc cho ai theo đường lối tinh toàn (c. 1a).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Dầu vua chúa hội lại và buông lời đả kích, tôi tớ Ngài vẫn suy gẫm về thánh chỉ Ngài. Vì các lời nghiêm huấn của Ngài là điều con ưa thích, các thánh chỉ Ngài là những bậc cố vấn của con. - Ðáp.

2) Con đã trình bày đường lối của con và Chúa nghe con, xin dạy bảo con các thánh chỉ của Ngài. Xin cho con am hiểu đường lối huấn lệnh của Chúa, để con suy gẫm các điều kỳ diệu của Ngài. - Ðáp.

3) Xin đưa con xa cách con đường gian dối, và rộng tay ban luật pháp của Ngài cho con. Con đã chọn con đường chân lý, con quyết tâm theo các thánh chỉ của Ngài. - Ðáp.

 

Alleluia: Ga 16, 28

Alleluia, alleluia! - Thầy bởi Cha mà ra, và đã đến trong thế gian, rồi bây giờ Thầy bỏ thế gian mà về cùng Cha. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Ga 6, 22-29

"Hãy ra công làm việc không phải vì của ăn hay hư nát, nhưng vì của ăn tồn tại cho đến cuộc sống đời đời".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Hôm sau, đám người còn ở lại bên kia biển thấy rằng không có thuyền nào khác, duy chỉ có một chiếc, mà Chúa Giêsu không lên thuyền đó với các môn đệ, chỉ có các môn đệ ra đi mà thôi. Nhưng có nhiều thuyền khác từ Tibêria đến gần nơi dân chúng đã được ăn bánh. Khi đám đông thấy không có Chúa Giêsu ở đó, và môn đệ cũng không, họ liền xuống các thuyền kia và đến Capharnaum tìm Chúa Giêsu.

Khi gặp Người ở bờ biển bên kia, họ nói với Người: "Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ?" Chúa Giêsu đáp: "Thật, Ta bảo thật các ngươi, các ngươi tìm ta không phải vì các ngươi đã thấy những dấu lạ, nhưng vì các ngươi đã được ăn bánh no nê. Các ngươi hãy ra công làm việc không phải vì của ăn hay hư nát, nhưng vì của ăn tồn tại cho đến cuộc sống đời đời, là của ăn Con Người sẽ ban cho các ngươi. Người là Ðấng mà Thiên Chúa Cha đã ghi dấu". Họ liền thưa lại rằng: "Chúng tôi phải làm gì để gọi là làm việc của Thiên Chúa?" Chúa Giêsu đáp: "Ðây là công việc của Thiên Chúa, là các ngươi hãy tin vào Ðấng Ngài sai đến".

Ðó là lời Chúa.


John [6:22-29] The Bread from Heaven - YouTube

Suy Niệm

Chủ đề "Thày là sự sống" của ngày Thứ Hai trong Tuần III Phục Sinh 
về khía cạnh "Sự Sống - Tái Sinh Thần Linh" được tỏ hiện trong bài Phúc Âm liên quan đến lời Chúa Giêsu nói như thể Người muốn nói rằng ai được tái sinh thần linh phải là những người làm việc của Thiên Chúa, tin vào Chúa Kitô: 

"'Các ngươi hãy ra công làm việc không phải vì của ăn hay hư nát, nhưng vì của ăn tồn tại cho đến cuộc sống đời đời, là của ăn Con Người sẽ ban cho các ngươi. Người là Ðấng mà Thiên Chúa Cha đã ghi dấu'. Họ liền thưa lại rằng: 'Chúng tôi phải làm gì để gọi là làm việc của Thiên Chúa?' Chúa Giêsu đáp: 'Ðây là công việc của Thiên Chúa, là các ngươi hãy tin vào Ðấng Ngài sai đến'".

Trong bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta thấy người Do Thái biết được Chúa Kitô thường xuất hiện ở chỗ nào nhất, do đó, người nào cũng đã đến đúng nơi đó:

"Khi đám đông thấy không có Chúa Giêsu ở đó, và môn đệ cũng không, họ liền xuống các thuyền kia và đến Capharnaum tìm Chúa Giêsu. Khi gặp Người ở bờ biển bên kia, họ nói với Người: "Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ?" 

Và khi họ gặp được Người thì Người cho họ biết được cốt lõi của toàn bộ Thánh Kinh, của dự án cứu độ thần linh, đó là "công việc của Thiên Chúa", một "công việc" có hai mặt, mặt mạc khải thần linh về phía Thiên Chúa và mặt đức tin tuân phục về phía nhân loại. Ở chỗ, "công việc của Thiên Chúa" hay "việc làm của Thiên Chúa" về phía Thiên Chúa đó là việc Ngài liên lỉ tỏ mình ra cho nhân loại, và "việc làm của Thiên Chúa" về phía nhân loại đó là "tin", là nhận biết mạc khải thần linh của Ngài và chấp nhận mạc khải thần linh của Ngài là chính Chúa Giêsu Kitô Con Ngài. Có thể tóm lại cả hai mặt thành một ở chỗ "công việc của Thiên Chúa" hay "việc làm của Thiên Chúa" đó là làm cho nhân loại tin vào Ngài bằng cách tỏ mình ra cho họ vậy.

Chủ đề "Thày là sự sống" ở trong bài Phúc Âm hôm nay như thế nào, nếu không phải ở chỗ "của ăn tồn tại cho đến cuộc sống đời đời, là của ăn Con Người sẽ ban cho các ngươi" và ở chỗ: "các ngươi hãy tin vào Ðấng Ngài sai đến". Thật vậy, "của ăn Con Người sẽ ban cho các ngươi", một "của ăn tồn tại cho đến cuộc sống đời đời" đây chính là những gì Chúa Giêsu nói và làm để cho dân của Người tin vào Người mà được sự sống.

Thoạt nghe thì tín hữu Công giáo hiểu "của ăn Con Người sẽ ban cho" họ đây ám chỉ về Thánh Thể, như Người sẽ từ từ tiết lộ trong đoạn Phúc Âm 6 của Thánh Gioan được Giáo Hội chọn đọc cho ngày thường của Tuần III Phục Sinh này. Nhưng ở đây bao gồm tất cả những gì Người nói và làm, nhất là chính bản thân Người là tất cả mạc khải thần linh của Thiên Chúa, một bản thân sẽ hoàn toàn tỏ hiện trong cuộc khổ nạn và tử giá của Người. Tất cả những gì Người nói và làm đều là bánh ban sự sống thần linh bất diệt cho những ai tin tưởng đón nhận.

Nếu "của ăn của Thày là làm theo ý Đấng đã sai và hoàn tất công việc của Ngài" (Gioan 4:34) thì khi Chúa Giêsu nói và làm theo tất cả mọi sự theo ý Cha của Người là Người đang cống hiến cho chúng ta chính "của ăn" của Người, chính lương thực của Người. Bởi thế, đối với Thiên Chúa thì việc của Ngài là tỏ mình ra qua Chúa Giêsu Kitô Thiên Sai của Ngài, như thể Thiên Chúa ban cho con người lương thực thần linh để được sống, còn việc của con người là thành phần được Thiên Chúa tỏ mình ra hay ban bánh sự sống thần linh cho họ là "tin vào Đấng Ngài sai".  


Bài Đọc I (Tông Vụ 6:8-15)

Điển hình nhất 
trong số thành phần tái sinh làm việc của Thiên Chúa là tin vào Chúa Kitô được bài đọc 1 hôm nay cho thấy đó là Phó Tế Stephanô, một con người đúng là đã được tái sinh thần linh theo ý nghĩa Chúa Kitô nói trong bài phúc âm, một con người làm việc của Thiên Chúa và tin vào Chúa Kitô nên mới có thể làm chứng cho Người trước thành phần đối chất với ngài nhưng thất bại nên tìm cách sát hại ngài:  

"Trong những ngày ấy, Têphanô đầy ân sủng và sức mạnh, làm nên những điều kỳ diệu và những phép lạ cả thể trong dân. ... Họ tranh luận với Têphanô, nhưng họ không thể đương đầu với sự khôn ngoan và Thánh Thần vẫn giúp cho ông nói. .... Toàn thể cử toạ trong công nghị chăm chú nhìn Têphanô, thấy mặt người giống như mặt thiên thần".


Vị phó tế Stephanô trong Bài Đọc 1 hôm nay qua thực là một con người đã được Thánh Vịnh 118 nói tới ở câu thứ nhất rằng: "Phúc cho ai theo đường lối tinh toàn", vị phó tế có những tâm tình được chất chứa trong Bài Đáp Ca hôm nay như sau:

 

1) Dầu vua chúa hội lại và buông lời đả kích, tôi tớ Ngài vẫn suy gẫm về thánh chỉ Ngài. Vì các lời nghiêm huấn của Ngài là điều con ưa thích, các thánh chỉ Ngài là những bậc cố vấn của con.

2) Con đã trình bày đường lối của con và Chúa nghe con, xin dạy bảo con các thánh chỉ của Ngài. Xin cho con am hiểu đường lối huấn lệnh của Chúa, để con suy gẫm các điều kỳ diệu của Ngài.

3) Xin đưa con xa cách con đường gian dối, và rộng tay ban luật pháp của Ngài cho con. Con đã chọn con đường chân lý, con quyết tâm theo các thánh chỉ của Ngài.

 



   

Thứ Ba sau Chúa Nhật III Phục Sinh

 

Bài Ðọc I: Cv 7, 51-59

"Lạy Chúa Giêsu, xin đón nhận tâm hồn con".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Khi ấy, Têphanô nói với dân chúng, các kỳ lão và luật sĩ rằng: "Hỡi những tên cứng cổ, lòng và tai chẳng cắt bì kia, các ngươi luôn luôn chống đối Thánh Thần; cha ông các ngươi làm sao, các ngươi cũng vậy. Có tiên tri nào mà cha ông các ngươi lại không bắt bớ? Họ đã giết những người tiên báo về việc Ðấng Công chính sẽ đến, Ðấng mà ngày nay các ngươi đã nộp và giết chết; các ngươi đã lãnh nhận lề luật do thiên thần truyền cho, nhưng đã không tuân giữ".

Nghe ông nói, họ phát điên lên trong lòng, và họ nghiến răng phản đối ông. Nhưng Têphanô đầy Thánh Thần, nhìn lên trời, đã xem thấy vinh quang của Thiên Chúa, và Ðức Giêsu đứng bên hữu Thiên Chúa. Ông đã nói rằng: "Kìa, tôi xem thấy trời mở ra, và Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa". Bấy giờ họ lớn tiếng kêu la và bịt tai lại, và họ nhất tề xông vào ông. Khi lôi ông ra ngoài thành, họ ném đá ông. Và các nhân chứng đã để áo của họ dưới chân một người thanh niên tên là Saolô. Rồi họ ném đá Têphanô, đang lúc ông cầu nguyện rằng: "Lạy Chúa Giêsu, xin đón nhận tâm hồn con". Thế rồi ông quỳ xuống, lớn tiếng kêu lên rằng: "Lạy Chúa, xin đừng trách cứ họ về tội lỗi này". Nói xong câu đó, ông đã an giấc trong Chúa. Còn Saolô thì đã tán thành việc giết ông (Têphanô).

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 30, 3cd-4. 6ab và 7b và 8a. 17 và 21ab

Ðáp: Lạy Chúa, con phó thác tâm hồn trong tay Chúa (c. 6a).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Xin Chúa trở thành núi đá cho con trú ẩn, thành chiến luỹ kiên cố để cứu độ con, bởi Chúa là Tảng đá, là chiến luỹ của con; vì uy danh Ngài, Ngài sẽ dìu dắt và hướng dẫn con. - Ðáp.

2) Con phó thác tâm hồn trong tay Chúa, lạy Chúa, lạy Thiên Chúa trung thành, xin cứu chữa con. Còn phần con, con tin cậy ở Chúa, con sẽ hân hoan mừng rỡ vì đức từ bi của Chúa. - Ðáp.

3) Xin cho tôi tớ Chúa được thấy long nhan dịu hiền, xin cứu sống con theo lượng từ bi của Chúa. Chúa che chở họ dưới bóng long nhan Ngài, cho khỏi người ta âm mưu làm hại. - Ðáp.

 

Alleluia: Ga 16, 7 và 13

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Thầy sẽ sai Thần Chân Lý đến cùng các con; Người sẽ dạy các con biết tất cả sự thật". - Alleluia.

 

Phúc Âm: Ga 6, 30-35

"Không phải Môsê, mà chính Cha Ta mới ban bánh bởi trời đích thực".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, đám đông thưa Chúa Giêsu: "Ngài sẽ làm dấu lạ gì để chúng tôi thấy mà tin Ngài? Ngài làm được việc gì? Cha ông chúng tôi đã ăn manna trong sa mạc, như đã chép rằng: "Người đã ban cho họ ăn bánh bởi trời". Chúa Giêsu đáp: "Thật Ta bảo thật các ngươi, không phải Môsê đã ban cho các ngươi bánh bởi trời, mà chính Cha Ta mới ban cho các ngươi bánh bởi trời đích thực. Vì bánh của Thiên Chúa phải là vật tự trời xuống, và ban sự sống cho thế gian". Họ liền thưa với Ngài rằng: "Thưa Ngài, xin cho chúng tôi bánh đó luôn mãi". Chúa Giêsu nói: "Chính Ta là bánh ban sự sống. Ai đến với Ta sẽ không hề đói; ai tin vào Ta sẽ không hề khát bao giờ".

Ðó là lời Chúa.

 




Suy Niệm

Chủ đề "Thày là sự sống" của ngày Thứ Ba trong Tuần III Phục Sinh 
về khía cạnh "Sự Sống - Tái Sinh Thần Linh" được tỏ hiện trong bài Phúc Âm liên quan đến lời Chúa Giêsu nói về chính bản thân mình là Người sẽ trở thành bánh sự sống cho thành phần tái sinh thần linh được một sự sống viên mãn, không còn đói khát thiết tha bất cứ sự gì phàm tục thấp hèn trên trần gian này nữa: 
"'Thật Ta bảo thật các ngươi, không phải Môsê đã ban cho các ngươi bánh bởi trời, mà chính Cha Ta mới ban cho các ngươi bánh bởi trời đích thực. Vì bánh của Thiên Chúa phải là vật tự trời xuống, và ban sự sống cho thế gian'. Họ liền thưa với Ngài rằng: 'Thưa Ngài, xin cho chúng tôi bánh đó luôn mãi'. Chúa Giêsu nói: 'Chính Ta là bánh ban sự sống. Ai đến với Ta sẽ không hề đói; ai tin vào Ta sẽ không hề khát bao giờ'".



Trong bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta thấy câu Chúa Giêsu khẳng định "Chính Ta là bánh ban sự sống. Ai đến với Ta sẽ không hề đói; ai tin vào Ta sẽ không hề khát bao giờ", liên quan đến chính bản thân của Người là mạc khải thần linh và đến cả dân Do Thái liên quan đến đức tin tuân phục.

Trước hết, liên quan đến Người là "bánh ban sự sống", một thứ "bánh ban sự sống" chẳng những cần phải là "vật từ trời" chứ không phải từ một nơi nào khác, mà còn phải có khả năng "ban sự sống" nữa, bằng không cho dù có "từ trời" nhưng vẫn không phải là chính "bánh ban sự sống", nhưng chỉ giống như manna nuôi dân Do Thái tạm thời trong thời gian họ băng qua sa mạc tiến về đất hứa vậy thôi, nên khi ăn thứ lương thực cũng rớt xuống từ trời này, tổ phụ dân Do Thái vẫn chết.

Chúa Giêsu quả thực "là bánh ban sự sống", như hôm qua đã chia sẻ, ở nơi chính bản thân Người là tất cả mạc khải thần linh của Thiên Chúa, Đấng "đã ban cho các ngươi bánh từ trời" nơi lời nói và việc làm của Con Ngài, nhất là nơi cuộc khổ nạn và tử giá của Người. Chúa Giêsu "là bánh ban sự sống" nơi lời Người nói: "lời Thày nói với các con đều là thần linh và là sự sống" (Gioan 6:63), và nơi việc Người làm: "Tôi sẽ hiến sự sống mình cho những con chiên này" (Gioan 10:15).

Thế nhưng, "Bánh ban sự sống" là Chúa Kitô đây vẫn không thể ban sự sống cho người Do Thái đến với Người bấy giờ như Người nói: "Ai đến với Ta sẽ không hề đói", bởi vì họ đến với Người chỉ vì "của ăn hay hư nát" như Người đã hóa bánh ra nhiều nuôi họ mà thôi, một "dấu lạ" tỏ tường trước mắt họ mà họ vẫn chưa chấp nhận, cứ đòi một dấu lạ khác theo ý của họ.

Bởi thế, cho dù có đến với Người, có tìm Người, có biết được chỗ ở của Người, nhưng họ vẫn khát, vì họ chưa tin vào Người, chưa chịu "làm công việc của Thiên Chúa" như Người khuyên họ trong bài Phúc Âm hôm qua. Do đó Người mới tiếp tục "làm việc của Thiên Chúa" đó là tỏ mình ra cho họ như "bánh sự sống" để họ từ từ nhận biết Người, tin vào Người như chúng ta sẽ thấy trong bài phúc âm ngày mai.


Bài Đọc I 
(Tông Vụ 7:51-59):

Điển hình của thành phần được tái sinh thần linh này là một Phó Tế Staphanô trong bài đọc 1 hôm nay, vị tử đạo tiên khởi của Kitô giáo, một tạo vật mới tràn đầy Thánh Thần, tràn đầy sự sống viên mãn của Chúa Kitô, đến độ ngài đã sống chính Chúa Kitô nên mới có thể tỏ ra một thái độ giống hệt như Chúa Kitô trên thập tự giá đối với thành phần ra tay sát hại mình: 
 

"Têphanô đầy Thánh Thần, nhìn lên trời, đã xem thấy vinh quang của Thiên Chúa, và Ðức Giêsu đứng bên hữu Thiên Chúa. Ông đã nói rằng: 'Kìa, tôi xem thấy trời mở ra, và Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa'. Rồi họ ném đá Têphanô, đang lúc ông cầu nguyện rằng: 'Lạy Chúa Giêsu, xin đón nhận tâm hồn con'. Thế rồi ông quỳ xuống, lớn tiếng kêu lên rằng: 'Lạy Chúa, xin đừng trách cứ họ về tội lỗi này'. Nói xong câu đó, ông đã an giấc trong Chúa".

Đúng thế, như Chúa Giêsu trước khi chết chẳng những xin Cha là Đấng đã sai Người tha cho thành phần làm khốn Người, lên án Người, hành hạ Người và đóng đinh Người mà còn phó linh hồn trong tay Cha của Người thế nào (xem Luca 23:3
4 & 46), thì thày Phó tế Stêphanô cũng làm như vậy, cũng chỉ hoàn toàn tin tưởng cậy trông vào Chúa Giêsu là Đấng ngài làm chứng như vậy, Đấng "từ bi" có "long nhan dịu hiền" mà chính bản thân ngài đã cảm thấy "hân hoan mừng rỡ", một "long nhan" đã "cứu sống" ngài khỏi những phản ứng tự nhiên hận thù oán ghét, bằng cách "che chở" ngài khi ngài bị "người ta âm mưu làm hại", đúng như những gì Thánh Vịnh 30 trong Bài Đáp Ca hôm nay như nói về ngài cho thấy:

1) Xin Chúa trở thành núi đá cho con trú ẩn, thành chiến luỹ kiên cố để cứu độ con, bởi Chúa là Tảng đá, là chiến luỹ của con; vì uy danh Ngài, Ngài sẽ dìu dắt và hướng dẫn con.

2) Con phó thác tâm hồn trong tay Chúa, lạy Chúa, lạy Thiên Chúa trung thành, xin cứu chữa con. Còn phần con, con tin cậy ở Chúa, con sẽ hân hoan mừng rỡ vì đức từ bi của Chúa.

3) Xin cho tôi tớ Chúa được thấy long nhan dịu hiền, xin cứu sống con theo lượng từ bi của Chúa. Chúa che chở họ dưới bóng long nhan Ngài, cho khỏi người ta âm mưu làm hại.


Thứ Tư sau Chúa Nhật III Phục Sinh

 

Bài Ðọc I: Cv 8, 1-8

"Ðến đâu, họ cũng rao giảng lời Thiên Chúa".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Ngày ấy, Hội Thánh ở Giêrusalem bị bách hại dữ tợn. Ngoài các tông đồ, mọi người đều phân tán đi các miền Giuđêa và Samaria. Còn những người đạo đức lo chôn cất Têphanô; họ than khóc ông rất nhiều. Lúc đó Saolô tàn phá Hội Thánh; ông vào nhà này sang nhà nọ, bắt đàn ông lẫn đàn bà và tống ngục họ.

Những người bị phân tán, đã đi khắp nơi rao giảng lời Thiên Chúa. Phần Philipphê thì đi xuống một thành thuộc xứ Samaria rao giảng Ðức Kitô cho họ. Dân chúng chú ý đến những lời Philipphê rao giảng, vì họ cùng nghe biết và xem thấy các phép lạ ngài làm, quỷ ô uế đã ám nhiều người trong họ, lúc đó kêu lớn tiếng và xuất ra. Nhiều người bất toại và què quặt được chữa lành. Bởi đó, cả thành được vui mừng khôn tả.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 65, 1-3a. 4-5. 6-7a

Ðáp: Toàn thể đất nước, hãy reo mừng Thiên Chúa (c. 1).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Toàn thể đất nước, hãy reo mừng Thiên Chúa, hãy ca ngợi vinh quang danh Ngài, hãy kính dâng Ngài lời khen ngợi hiển vinh. Hãy thưa cùng Thiên Chúa: kinh ngạc thay sự nghiệp Chúa. -Ðáp.

2) Toàn thể đất nước thờ lạy và ca khen Ngài, ca khen danh thánh của Ngài. Hãy tới và nhìn coi sự nghiệp của Thiên Chúa, Ngài thi thố những chuyện kinh ngạc giữa con cái người ta! - Ðáp.

3) Người biến bể khơi thành nơi khô cạn, người ta đã đi bộ tiến qua sông, bởi đó ta hãy hân hoan trong Chúa. Với quyền năng, Ngài thống trị tới muôn đời. - Ðáp.

 

Alleluia: Ga 10, 27

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Con chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta". - Alleluia.

 

Phúc Âm: Ga 6, 35-40

"Ý muốn của Cha Ta là: hễ ai thấy Con thì có sự sống đời đời".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán với đám đông rằng: "Chính Ta là bánh ban sự sống. Ai đến với Ta, sẽ không hề đói; ai tin vào Ta, sẽ không hề khát bao giờ. Nhưng Ta đã bảo các ngươi rằng: Các ngươi đã thấy Ta, nhưng các ngươi không chịu tin. Những ai Cha đã ban cho Ta sẽ đến với Ta. Và ai đến với Ta, Ta sẽ không xua đuổi ra ngoài. Bởi vì Ta từ trời xuống không phải để làm theo ý Ta, nhưng để làm theo ý Ðấng đã sai Ta. Vậy ý của Cha, Ðấng đã sai Ta, là hễ sự gì Người đã ban cho Ta, Ta chẳng để mất, nhưng ngày sau hết, Ta sẽ cho nó sống lại. Quả vậy, ý của Cha Ta là hễ ai thấy Con và tin vào Người thì có sự sống đời đời".

Ðó là lời Chúa.





Suy Niệm


Chủ đề "Thày là sự sống" của ngày Thứ Tư trong Tuần III Phục Sinh 
về khía cạnh "Sự Sống - Tái Sinh Thần Linh" được tỏ hiện trong bài Phúc Âm liên quan đến lời Chúa Giêsu khẳng định về ý muốn của Chúa Cha đối với những ai được tái sinh thần linh, tức những ai tin vào Chúa Kitô:  

"Những ai Cha đã ban cho Ta sẽ đến với Ta. Và ai đến với Ta, Ta sẽ không xua đuổi ra ngoài. Bởi vì Ta từ trời xuống không phải để làm theo ý Ta, nhưng để làm theo ý Ðấng đã sai Ta. Vậy ý của Cha, Ðấng đã sai Ta, là hễ sự gì Người đã ban cho Ta, Ta chẳng để mất, nhưng ngày sau hết, Ta sẽ cho nó sống lại. Quả vậy, ý của Cha Ta là hễ ai thấy Con và tin vào Người thì có sự sống đời đời".

Vậy "ý của Cha" được Chúa Kitô tiết lộ đây bao gồm hai chiều kích, chiều kích mạc khải thần linh và chiều kích đức tin tuân phục. Chiều kích mạc khải thần linh liên quan đến Chúa Kitô: "ý của Cha, Ðấng đã sai Ta, là hễ sự gì Người đã ban cho Ta, Ta chẳng để mất, nhưng ngày sau hết, Ta sẽ cho nó sống lại". Chiều kích đức tin tuân phục liên quan đến phần rỗi của nhân loại: "ý của Cha Ta là hễ ai thấy Con và tin vào Người thì có sự sống đời đời".

Tóm lại, Chúa Cha muốn ban sự sống cho nhân loại, nhưng Ngài ban qua Con của Ngài là Chúa Giêsu Kitô, nên chỉ có những ai tin Con Ngài mới có sự sống đó mà thôi: "Thiên Chúa đã ban sự sống đời đời cho chúng ta và sự sống này ở nơi Con của Ngài. Ai có Con (tức là tin Con) là có sự sống, ai không có Con (tức là không tin Con, không chấp nhận Con) thì không có sự sống" (1Gioan 5:11-12). 

Đó là lý do ngay ở đầu bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã khẳng định "Chính Ta là bánh ban sự sống. Ai đến với Ta, sẽ không hề đói; ai tin vào Ta, sẽ không hề khát bao giờ". Tuy nhiên, vì Chúa Kitô tự mình là một mầu nhiệm (xem Epheso 3:4), bởi thế con người không thể nào có thể nhận biết Người, cho dù Người có tự tỏ mình ra cho họ chăng nữa.

Bởi thế, cũng Trong bài phúc âm hôm nay, Chúa Giêsu đã khẳng định rằng: "Các ngươi đã thấy Ta, (hay đã đến với Ta) nhưng các ngươi không chịu tin. Những ai Cha đã ban cho Ta sẽ đến với Ta. Và ai đến với Ta, Ta sẽ không xua đuổi ra ngoài". Nghĩa là, cho dù người Do Thái có "đến" với Chúa Giêsu, "thấy" Người, vẫn chưa "tin" Người, vẫn không nhận biết và chấp nhận Người.

Vì chỉ có "những ai Cha Ta đã ban cho Ta (mới có thể) đến với Ta", cho dù họ không phải là người Do Thái là dân tộc đã được tuyển chọn và được Thiên Chúa tỏ mình ra cho trong suốt giòng lịch sử cứu độ của họ, hay cho dù là một một tội nhân như viên trưởng ban thu thuế Giakêu lùn (xem Luca 19:1-10), hay như người trộm bị đóng đanh ở bên phải Thánh Giá Chúa Kitô (xem Luca 23:39-43), hoặc như người phụ nữ tội lỗi có tiếng trong thành (xem Luca 7:36-49).

Bài Đọc I 
(Tông Vụ 8:1-8)

Điển hình trong thành phần được tái sinh thần linh này là trường hợp của một Phó Tế Philipphê trong bài đọc 1 hôm nay, một phó tế cũng tràn đầy sự sống nơi lời rao giảng đầy thuyết phục 
về một Đức Kitô Thiên Sai mà ngài đã tin tưởng, và lời rao giảng của ngài còn được kèm theo quyền năng làm phép lạ ở một thành thuộc Xứ Samaria, khiến cho thành này như được biến đổi: 

"Phần Philipphê thì đi xuống một thành thuộc xứ Samaria rao giảng Ðức Kitô cho họ. Dân chúng chú ý đến những lời Philipphê rao giảng, vì họ cùng nghe biết và xem thấy các phép lạ ngài làm, quỷ ô uế đã ám nhiều người trong họ, lúc đó kêu lớn tiếng và xuất ra. Nhiều người bất toại và què quặt được chữa lành. Bởi đó, cả thành được vui mừng khôn tả".

Trong bài đọc 1 hôm nay, chúng ta thấy những gì quan phòng thần linh của Thiên Chúa thật tuyệt vời, vượt trên tất cả mọi dự tính hoàn toàn tự do của con người, ở chỗ, ngay khi quyền lực sự dữ bắt đầu công khai dữ dội tấn công cộng đoàn Giáo Hội tiên khởi ở Giêrusalem thì lại chính là thời điểm Giáo Hội được dịp lan rộng ra khỏi Giêrusalem, đầu tiên là sang Samaria, cho tới tận cùng trái đất, đúng như lời Chúa Giêsu đã tiên báo cho các tông đồ trước khi Người về trời (xem Tông Vụ 1:8). Và đó là những gì đã được Thánh Vịnh 65 ở Bài Đáp Ca hôm nay cảm nhận và tuyên xưng: "kinh ngạc thay sự nghiệp Chúa" (câu 1), Đấng "thi thố những chuyện kinh ngạc giữa con cái người ta!" (câu 2), Đấng "quyền năng thống trị muôn đời" (câu 3):

 

1) Toàn thể đất nước, hãy reo mừng Thiên Chúa, hãy ca ngợi vinh quang danh Ngài, hãy kính dâng Ngài lời khen ngợi hiển vinh. Hãy thưa cùng Thiên Chúa: kinh ngạc thay sự nghiệp Chúa.

2) Toàn thể đất nước thờ lạy và ca khen Ngài, ca khen danh thánh của Ngài. Hãy tới và nhìn coi sự nghiệp của Thiên Chúa, Ngài thi thố những chuyện kinh ngạc giữa con cái người ta!

3) Người biến bể khơi thành nơi khô cạn, người ta đã đi bộ tiến qua sông, bởi đó ta hãy hân hoan trong Chúa. Với quyền năng, Ngài thống trị tới muôn đời.

 



Thứ Năm sau Chúa Nhật III Phục Sinh

 

Bài Ðọc I: Cv 8, 26-40

"Nếu ông tin hết lòng, thì được chịu phép rửa".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong những ngày ấy, thiên thần Chúa nói cùng Philipphê rằng: "Hãy chỗi dậy, đi về mạn nam, theo con đường từ Giêru-salem xuống Gaxa. Ðường ấy vắng vẻ". Người chỗi dậy ra đi. Và này có một người Êthiôpi là thái giám quyền thế của nữ hoàng Canđa, xứ Êthiôpi, và là tổng quản công khố của nữ hoàng, ông đến chầu lễ tại Giêrusalem. Lúc trở về, ông ngồi trên xe, đọc sách Tiên tri Isaia. Thánh Thần bảo Philipphê: "Hãy tiến lên và theo cho kịp xe kia". Philipphê chạy tới, nghe thấy ông ấy đọc sách Tiên tri Isaia, liền hỏi: "Ngài có hiểu được điều ngài đọc không?" Nhà quan trả lời: "Làm sao tôi hiểu được, nếu không ai chỉ giáo cho tôi". Nhà quan liền mời Philipphê lên xe ngồi với mình. Ðoạn Thánh Kinh ông đang đọc như sau: "Như con chiên bị đem đi làm thịt, Người phải điệu đi; như con chiên trước người thợ xén lông không kêu một tiếng, Người chẳng mở miệng. Trong cảnh nhục nhã, Người bị lên án bất công. Còn ai kể lại dòng dõi của Người, vì mạng sống Người bị cất khỏi trần gian". Viên thái giám lên tiếng hỏi Philipphê rằng: "Tôi xin hỏi ông: đấng tiên tri nói điều ấy về ai? Về chính mình hay về người nào khác?" Philipphê mở miệng rao giảng Tin Mừng Ðức Giêsu cho ông, bắt đầu từ đoạn Thánh Kinh đó. Ðang đi dọc đường, đến nơi có nước, vị thái giám liền nói: "Này nước đây, có gì ngăn trở tôi chịu phép rửa không?" Philipphê nói: "Nếu ông tin hết lòng thì được". Nhà quan đáp lại: "Tôi tin Ðức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa". Ông ra lệnh cho dừng xe lại, Philipphê và viên thái giám, cả hai đi xuống nước, và Philipphê làm phép rửa cho ông. Khi họ lên khỏi nước, Thánh Thần Chúa đem Philipphê đi mất và viên thái giám không còn thấy ngài nữa. Ông hân hoan tiếp tục hành trình. Còn Philipphê thì người ta gặp thấy tại Azô, ngài rảo khắp mọi thành phố, rao giảng Tin Mừng cho đến thành Cêsarêa.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 65, 8-9. 16-17. 20

Ðáp: Toàn thể đất nước, hãy reo mừng Thiên Chúa (c. 1).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng:

1) Hỡi chư dân, hãy chúc tụng Thiên Chúa chúng tôi, và loan truyền lời ca ngợi khen Ngài: là Ðấng đã ban cho linh hồn chúng tôi được sống, và không để chân chúng tôi xiêu té. - Ðáp.

2) Phàm ai tôn sợ Chúa, hãy đến, hãy nghe tôi kể lại, Chúa đã làm cho linh hồn tôi những điều trọng đại biết bao! Tôi đã mở miệng kêu lên chính Chúa, và lưỡi tôi đã ngợi khen Ngài. - Ðáp.

3) Chúc tụng Chúa là Ðấng không hắt hủi lời tôi nguyện, và không rút lại lòng nhân hậu đối với tôi. - Ðáp.

 

 

Alleluia: Ga 14, 18

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi: Thầy sẽ đến với các con và lòng các con sẽ vui mừng". - Alleluia.

 

Phúc Âm: Ga 6, 44-51

"Ta là bánh từ trời xuống".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán với dân chúng rằng: "Không ai đến được với Ta, nếu Cha, là Ðấng sai Ta, không lôi kéo kẻ ấy, và Ta, Ta sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết. Trong sách các tiên tri có chép rằng: "Mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy bảo". Ai nghe lời giáo hoá của Cha, thì đến với Ta. Không một ai đã xem thấy Cha, trừ Ðấng bởi Thiên Chúa mà ra, Ðấng ấy đã thấy Cha. Thật, Ta bảo thật các ngươi: Ai tin vào Ta thì có sự sống đời đời. Ta là bánh ban sự sống. Cha ông các ngươi đã ăn manna trong sa mạc và đã chết. Ðây là bánh bởi trời xuống, để ai ăn bánh này thì khỏi chết. Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là thịt Ta, để cho thế gian được sống".

Ðó là lời Chúa.




Chủ đề "Thày là sự sống" của ngày Thứ Năm trong Tuần III Phục Sinh 
về khía cạnh "Sự Sống - Tái Sinh Thần Linh" được tỏ hiện trong bài Phúc Âm liên quan đến lời Chúa Giêsu khẳng định về bản thân Người là bánh ban sự sống, đặc biệt cho những ai tin vào Người, tức cho những ai được tái sinh thần linh bởi Người:

"Ta là bánh ban sự sống. Cha ông các ngươi đã ăn manna trong sa mạc và đã chết. Ðây là bánh bởi trời xuống, để ai ăn bánh này thì khỏi chết. Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là thịt Ta, để cho thế gian được sống".

Trong bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta thấy:

1- Manna tuy từ trời xuống nhưng không phải là thứ bánh ban sự sống thiêng liêng, sự sống đời đời như Bánh Sự Sống là chính Chúa Kitô từ trời xuống, vì manna chỉ nuôi phần xác nên ai ăn vẫn chết như thường, còn ai ăn Chúa Kitô là Bánh Sự Sống "thì khỏi chết" mà còn "sẽ sống đời đời";

2- "Ăn" Bánh Sự Sống là Chúa Kitô đây tức là "nhận biết", "chấp nhận" Chúa Kitô, là "tin vào" Chúa Kitô, vì nhờ đó họ mới "có sự sống đời đời": Vậy "ai ăn bánh này sẽ sống đời đời" cũng chính là "ai tin vào Ta thì có sự sống đời đời";

3- Tuy nhiên, nếu "những ai Cha Ta đã ban cho ta thì đến với Ta" như Chúa Giêsu khẳng định trong bài Phúc Âm hôm qua, thì trong bài Phúc Âm hôm nay Người tái khẳng định một cách rõ ràng hơn nữa là: "Không ai đến được với Ta, nếu Cha, là Ðấng sai Ta, không lôi kéo kẻ ấy" - Đúng thế, Bánh Sự Sống là những gì vô cùng cao quí, không phải ai muốn ăn cũng được, dù Chúa Kitô đã tỏ mình ra, và ai cũng xứng đáng, khi chưa nhận biết Người như Người tỏ mình ra, trái lại, cần phải được tuyển chọn, cần phải được mời gọi đặc biệt đến Bàn Tiệc Thánh Nước Trời, cần phải được ban cho Thánh Thần, Đấng ban sự sống là chính Chúa Giêsu Kitô, Bánh Bởi Trời mà xuống và là Bánh ban sự sống cho thế gian;

4- Cũng trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu còn mạc khải thêm về bản thân là Bánh Sự Sống của mình nữa, ở chỗ, Người xác định Bánh Sự Sống ấy không phải chỉ là chính bản thân Người "Ta là" mà còn là "thịt" của Người nữa: "Bánh Ta sẽ ban chính là thịt Ta cho thế gian được sống" - ở đây Người dường như ám chỉ tới cuộc khổ nạn và tử giá của Người: "Này là mình Thày sẽ bị nộp vì các con" (Luca 22:19).


Bài Đọc I 
(Tông Vụ 8:26-40)

Điển hình của thành phần được tái sinh thần linh đó là viên quan ở Ethiopia trong Bài Đọc 1 hôm nay, một nhân vật tự mình không thể nào hiểu được Thánh Kinh ông đang tìm đọc, cho đến khi "được Cha lôi kéo", bởi Vị Thần linh thúc đẩy Phó tế Philipphê, nhờ đó ông mới có thể được tái sinh thần linh bởi Phó Tế Philipphê, nhờ vị phó tế này dẫn giải Thánh Kinh về Đức Kitô Thiên Sai được vị phó tế tin tưởng và rao giảng, để Chúa Kitô trở thành sự sống cho những ai tin vào Người nhờ chứng ngôn và chứng từ của những ai sống sự sống Người ban như Phó Tế Philiphê:  

"Ðang đi dọc đường, đến nơi có nước, vị thái giám liền nói: 'Này nước đây, có gì ngăn trở tôi chịu phép rửa không?' Philipphê nói: 'Nếu ông tin hết lòng thì được'. Nhà quan đáp lại: 'Tôi tin Ðức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa'. Ông ra lệnh cho dừng xe lại, Philipphê và viên thái giám, cả hai đi xuống nước, và Philipphê làm phép rửa cho ông. Khi họ lên khỏi nước, Thánh Thần Chúa đem Philipphê đi mất và viên thái giám không còn thấy ngài nữa. Ông hân hoan tiếp tục hành trình".

Thánh Vịnh 65 trong Bài Đáp Ca hôm nay đã kêu gọi những con người dân ngoại tin tưởng tìm kiếm mạc khải thần linh như viên thái giám Ethiopia, một khi đã nhận biết Chúa thì "hãy chúc tụng Chúa", vì Ngài "là Ðấng đã ban cho linh hồn chúng tôi được sống, và không để chân chúng tôi xiêu té", Đấng "đã làm cho linh hồn tôi những điều trọng đại biết bao", "Ðấng không hắt hủi lời tôi nguyện, và không rút lại lòng nhân hậu đối với tôi". Nguyên văn Bài Đáp Ca hôm nay như sau:

 

1) Hỡi chư dân, hãy chúc tụng Thiên Chúa chúng tôi, và loan truyền lời ca ngợi khen Ngài: là Ðấng đã ban cho linh hồn chúng tôi được sống, và không để chân chúng tôi xiêu té.

2) Phàm ai tôn sợ Chúa, hãy đến, hãy nghe tôi kể lại, Chúa đã làm cho linh hồn tôi những điều trọng đại biết bao! Tôi đã mở miệng kêu lên chính Chúa, và lưỡi tôi đã ngợi khen Ngài.

3) Chúc tụng Chúa là Ðấng không hắt hủi lời tôi nguyện, và không rút lại lòng nhân hậu đối với tôi.



Thứ Sáu sau Chúa Nhật III Phục Sinh

 

Bài Ðọc I: Cv 9, 1-20

"Người này là lợi khí Ta chọn, để mang danh Ta đến trước mặt các dân tộc".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong những ngày ấy, Saolô còn mải say mê hăm doạ giết các môn đồ Chúa, ông đến thượng tế, xin chứng minh thư gởi đến hội đường ở Ðamas, để nếu gặp ai theo đạo ấy bất luận nam nữ, ông trói đem về Giêrusalem. Ðang khi đi đường lúc đến gần Ðamas, bỗng nhiên một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống bao phủ lấy ông, ông ngã xuống đất và nghe tiếng phán rằng: "Saolô, Saolô, sao ngươi bắt bớ Ta?" Ông thưa: "Lạy Ngài, Ngài là ai?" Chúa đáp: "Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt bớ; giơ chân đạp mũi nhọn thì khổ cho ngươi". Saolô run sợ và kinh hoàng hỏi rằng: "Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?" Chúa phán: "Hãy chỗi dậy, vào thành, và ở đó người ta sẽ nói cho ngươi phải làm gì". Những kẻ đồng hành với ông đứng lại, hoảng hốt; họ nghe rõ tiếng mà không thấy ai. Saolô chỗi dậy khỏi đất, mắt ông vẫn mở, mà không trông thấy gì. Người ta cầm tay dẫn ông vào thành Ðamas; ông ở lại đấy ba ngày mà không thấy, không ăn, cũng không uống.

Bấy giờ ở Ðamas, có một môn đồ tên là Anania; trong một thị kiến, Chúa gọi ông rằng: "Anania". Ông thưa: "Lạy Chúa, này con đây". Chúa phán: "Hãy chỗi dậy và đến phố kia gọi là phố "Thẳng", và tìm tại nhà Giuđa một người tên là Saolô, quê ở Tarsê; ông ta đang cầu nguyện". (Saolô cũng thấy một người tên Anania bước vào, và đặt tay trên ông để ông được sáng mắt). Anania thưa: "Lạy Chúa, con đã nghe nhiều người nói về người này rằng: ông đã gây nhiều tai ác cho các thánh của Chúa tại Giêrusalem; tại đây, ông đã được các vị thượng tế cho phép bắt trói tất cả những ai kêu cầu danh Chúa". Nhưng Chúa phán: "Cứ đi, vì người này là lợi khí Ta đã chọn, để mang danh Ta đến trước dân ngoại, vua quan và con cái Israel. Ta sẽ tỏ cho nó biết phải chịu nhiều đau khổ vì danh Ta". Anania ra đi, bước vào nhà, và đặt tay trên Saolô mà nói: "Anh Saolô, Chúa Giêsu, Ðấng hiện ra với anh trên đường đi đến đây, sai tôi đến cùng anh, để anh được thấy và được tràn đầy Thánh Thần". Tức thì có thứ gì như những cái vảy rơi khỏi mắt ông, và ông được sáng mắt; ông chỗi dậy chịu phép rửa, và sau khi ăn uống, ông được lại sức. Ông ở lại ít ngày cùng với các môn đồ thành Ðamas. Và lập tức ông rao giảng trong các hội đường rằng: Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 116, 1. 2

Ðáp: Hãy đi rao giảng Tin Mừng khắp thế gian (Mc 16, 15).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Toàn thể chư dân, hãy khen ngợi Chúa! Hết thảy các nước, hãy chúc tụng Người. - Ðáp.

2) Vì tình thương Chúa dành cho chúng tôi thực là mãnh liệt, và lòng trung thành của Chúa tồn tại muôn đời. - Ðáp.

 

Alleluia: Ga 14, 16

Alleluia, alleluia! - Thầy sẽ xin Chúa Cha, và Người sẽ ban cho các con một Ðấng Phù Trợ khác, để ở cùng các con luôn mãi. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Ga 6, 53-60

"Thịt Ta thật là của ăn, Máu Ta thật là của uống".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, những người Do-thái tranh luận với nhau rằng: "Làm sao ông này có thể lấy thịt mình mà cho chúng ta ăn được?"

Bấy giờ Chúa Giêsu nói với họ: "Thật, Ta bảo thật các ngươi: Nếu các ngươi không ăn thịt Con Người và uống máu Ngài, các ngươi sẽ không có sự sống trong các ngươi. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết. Vì thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì ở trong Ta, và Ta ở trong kẻ ấy. Cũng như Cha là Ðấng hằng sống đã sai Ta, nên Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta, chính người ấy cũng sẽ sống nhờ Ta. Ðây là bánh bởi trời xuống, không phải như cha ông các ngươi đã ăn manna và đã chết. Ai ăn bánh này sẽ sống đời đời".

Người giảng dạy những điều này tại Hội đường Caphar-naum.

Ðó là lời Chúa.



Suy Niệm

Chủ đề "Thày là sự sống" của ngày Thứ Sáu trong Tuần III Phục Sinh 
về khía cạnh "Sự Sống - Tái Sinh Thần Linh" được tỏ hiện trong bài Phúc Âm liên quan đến lời Chúa Giêsu khẳng định về máu thịt ban sự sống của Người, vì máu thịt của Người đã Vượt Qua, đã tử giá để tiêu diệt tội lỗi cùng sự chết và phục sinh để thông ban Thánh Linh và sự sống, đặc biệt cho những ai "ăn thịt" "uống máu" của Người, nghĩa là cho những ai tin vào Người là Đấng Tử Giá và Phục Sinh, tức cho những ai nhờ Người mà được tái sinh thần linh

"Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết. Vì thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì ở trong Ta, và Ta ở trong kẻ ấy. Cũng như Cha là Ðấng hằng sống đã sai Ta, nên Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta, chính người ấy cũng sẽ sống nhờ Ta".


"Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết": Đúng thế, nếu "ngày sau hết" đây chẳng những ám chỉ ngày cùng tháng tận, ngày Con Người lại đến trong vinh quang, "để phán xét kẻ sống và kẻ chết" (Kinh Tin KÍnh), mà còn là chính thời điểm của Chúa Kitô, "thời sau hết" (Do Thái 1:2), thời Thiên Chúa thực hiện trọn vẹn lời hứa cứu chuộc của Ngài sau nguyên tội (xem Khởi Nguyên 3:15), nơi "miêu duệ của người nữ" là Con của Ngài, nhờ đó, những ai tin vào Người, ám chỉ "những ai chấp nhận Người" (Gioan 1:12), hay những "ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời", nghĩa là Người Con này "sẽ cho kẻ ấy sống lại trong ngày sau hết", ở chỗ, ban cho họ ơn cứu chuộc, hay làm cho họ được "phục sinh = sống lại" sau lần chết thứ nhất chung với toàn thể nhân loại bởi nguyên tội.

"Vì thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống": Ơn cứu độ không thể nào xẩy ra, và bởi thế cũng chẳng bao giờ có Bí Tích Thánh Thể, một Bí Tích hiện thực Ơn Cứu Độ của Chúa Kitô ngay trên bàn thờ mỗi lần Giáo Hội Cử Hành Thánh Thể - Eucharistic Celebration (Thánh Lễ), nếu Chúa Kitô không chịu khổ nạn và tử giá, bằng chính nhân tính được Người là Lời, là Ngôi Vị Thần Linh mặc lấy khi "hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14) trong cung lòng trinh nguyên của người nữ "đầy ơn phúc" (Luca 1:28), nhưng đặc biệt cuộc khổ nạn và tử giá của Người lại xẩy ra cho riêng thân xác của Người, một thân xác đã trở thành phương tiện cứu độ, dấu hiệu cứu độ và bí tích cứu độ của Người, nhờ đó Người có thể thông ban sự sống thần linh cho chung thế gian, qua Giáo Hội chứng nhân thừa tác của Người. Do đó, Người mới khẳng định với dân Do Thái, (hơn là với Giáo Hội nói chung và Kitô hữu nói riêng chưa có bấy giờ), "thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống".

"Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì ở trong Ta, và Ta ở trong kẻ ấy": Nếu "ai ăn thịt Ta và uống máu Ta" nghĩa là họ tin vào Người, bằng cách chấp nhận ơn cứu độ của Người, nhờ đó họ được hưởng sự sống thần linh của Người, khiến họ và Người được "nên một" như cành nho dính liền với thân nho (xem Gioan 15:1-4), đến độ "như Cha ở trong Con và như Con ở trong Cha, để họ cũng ở trong chúng ta" (Gioan 17:21). Và đó là lý do Chúa Giêsu đã móc nối ngay câu này với câu sau về mối liên hệ giữa Người và Cha Người với ai tin vào Người như thế này: "Cũng như Cha là Ðấng hằng sống đã sai Ta, nên Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta, chính người ấy cũng sẽ sống nhờ Ta".

Bài Đọc (Tông Vụ 9:1-20)

Điển hình của thành phần được tái sinh thần linh là trường hợp của một 
nhân vật biệt phái hết sức nhiệt tình với Do Thái giáo trong bài đọc 1 hôm nay, một nhân vật đã bị chính Đấng chàng rượt bắt qua các Kitô hữu chi thể của Người quật ngã, nhưng cũng chính Đấng ấy đã thông ban sự sống thần linh cho, nhờ được tái sinh bởi một người môn đệ tên là Anania ở Damasco, và ngay sau khi được chữa lành cái mù lòa về cả thể xác lẫn tâm linh của mình, nhân vật tên Saolê ấy liền công khai rao giảng về Đấng vừa mới bị chàng bách hại trước đó: 

"Anania ra đi, bước vào nhà, và đặt tay trên Saolô mà nói: 'Anh Saolô, Chúa Giêsu, Ðấng hiện ra với anh trên đường đi đến đây, sai tôi đến cùng anh, để anh được thấy và được tràn đầy Thánh Thần'. Tức thì có thứ gì như những cái vảy rơi khỏi mắt ông, và ông được sáng mắt; ông chỗi dậy chịu phép rửa, và sau khi ăn uống, ông được lại sức. Ông ở lại ít ngày cùng với các môn đồ thành Ðamas. Và lập tức ông rao giảng trong các hội đường rằng: Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa".

Chính vì chàng Saulê cảm nhận được chân lý và ân sủng của Chúa Kitô khi Người quật ngã chàng, và sau khi bị quật ngã, dù mắt chàng vẫn mở mà chẳng nhìn thấy gì, cho đến khi được chữa lành và nhờ đức tin đã thấy được tất cả sự thật về Đấng chàng vừa bách hại nơi Kitô hữu là môn đệ của Người, nhờ đó chàng cũng thấy được tình trạng lầm lạc của mình, thấy được Do Thái giáo là để đưa đến Kitô giáo và chỉ hoàn trọn nơi Kitô giáo, chứ không phải để hủy diệt, một tôn giáo mới, một đường lối cứu độ mới đích thực được hoàn trọn bởi LTXC, một LTXC mà chàng cảm thấy mình như là tội nhân vô cùng bất xứng đầu tiên được hoan hưởng (xem 1 Timôthêu 1:15), và do đó, chàng đã trở thành một Tông Đồ Phaolô hăng say rao giảng về ân sủng cứu độ của LTXC và bởi LTXC mà con người cần nhận biết, tin tưởng để được cứu độ.

Đúng thế, chàng Saulê đã được LTXC tỏ ra cho riêng bản thân chàng để sau đó chiếm đoạt chàng và sai chàng "đi rao giảng Tin Mừng khắp thế gian" (Marcô 16:15), như lệnh truyền của Chúa Kitô trong câu đáp của Bài Đáp Ca hôm nay, một "Tin Mừng" về LTXC đối với "toàn thể chư dân" trên thế giới, chứ không phải chỉ với dân Do Thái mà thôi, một LTXC "dành cho chúng tôi thật là mãnh liệt", ở chỗ, "lòng trung thành của Chúa tồn tại muôn đời", đúng như chàng sau này đã xác tín và tuyên bố với người môn đệ Timôthêu của chàng: "dù chúng ta bất trung những Ngài vẫn trung thành, vì Ngài không thể chối bỏ chính mình Ngài" (2 Timôthêu 2:13). Nguyên văn những câu trong Bài Đáp Ca hôm nay, được trích từ Thánh Vịnh 116:1-2 thật là thích hợp với vị tông đồ dân ngoại Phaolô là chàng Saolê trong Bài Đọc I hôm nay vậy:

 

1) Toàn thể chư dân, hãy khen ngợi Chúa! Hết thảy các nước, hãy chúc tụng Người.

2) Vì tình thương Chúa dành cho chúng tôi thực là mãnh liệt, và lòng trung thành của Chúa tồn tại muôn đời.



Thứ Bảy sau Chúa Nhật III Phục Sinh

 

Bài Ðọc I: Cv 9, 31-42

"Hội thánh được tổ chức và đầy ơn an ủi của Thánh Thần".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong những ngày ấy, Hội Thánh được bình an trong khắp miền Giuđêa, Galilêa và Samaria, sống trong sự kính sợ Chúa, được tổ chức và đầy ơn an ủi của Thánh Thần.

Phêrô đi khắp các miền, đến với các thánh đang ở Lyđa. Ở đó ngài gặp một người tên là Ênêa, bị bất toại đã liệt giường suốt tám năm. Phêrô nói với anh ta: "Ênêa, Chúa Giêsu Kitô chữa anh lành bệnh; hãy chỗi dậy và dẹp giường đi". Lập tức anh ta đứng lên. Tất cả dân cư ở Lyđa và Sarôna thấy vậy, đều trở lại cùng Chúa.

Tại Gióp-pê, có một nữ môn đồ tên là Tabitha, nghĩa là Sơn Dương. Bà làm nhiều việc lành và hay bố thí. Xảy ra trong những ngày ấy bà lâm bệnh mà chết; người ta rửa xác bà, rồi đặt trên lầu. Vì Lyđa ở gần Gióp-pê, các môn đồ nghe tin Phêrô đang ở đó, liền sai hai người đến xin ngài rằng: "Xin ngài hãy mau đến với chúng tôi". Phêrô chỗi dậy đi với họ. Ðến nơi, người ta dẫn ngài lên lầu; tất cả các quả phụ bao quanh ngài, khóc nức nở, chỉ cho ngài xem các áo trong áo ngoài mà chị Sơn Dương may cho họ. Phêrô bảo mọi người ra ngoài, rồi quỳ gối cầu nguyện, và quay mặt về phía thi thể mà nói: "Tabitha, hãy chỗi dậy". Bà liền mở mắt, thấy Phêrô và ngồi dậy. Phêrô đưa tay đỡ bà đứng dậy, rồi gọi các thánh, và các quả phụ đến, và chỉ cho thấy bà đã sống lại. Cả thành Gióp-pê hay biết việc ấy, nên nhiều người tin vào Chúa. Phêrô lưu lại Gióp-pê nhiều ngày tại nhà Simon thợ thuộc da.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 115, 12-13. 14-15. 16-17

Ðáp: Tôi lấy gì dâng lại cho Chúa, để đền đáp những điều Ngài ban tặng cho tôi? (c. 12)

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Tôi lấy gì dâng lại cho Chúa, để đền đáp những điều Ngài ban tặng cho tôi? Tôi sẽ lãnh chén cứu độ, và tôi sẽ kêu cầu danh Chúa. - Ðáp.

2) Tôi sẽ giữ trọn lời khấn xin cùng Chúa, trước mặt toàn thể dân Ngài. Trước mặt Chúa thật là quý hoá, cái chết của những bậc thánh nhân Ngài. - Ðáp.

3) Ôi lạy Chúa, con là tôi tớ Chúa, con là tôi tớ Ngài, con trai của nữ tỳ Ngài, Ngài đã bẻ gãy xiềng xích cho con. Con sẽ hiến dâng Chúa lời ca ngợi làm sinh lễ, và con sẽ kêu cầu danh Chúa. - Ðáp.

 

Alleluia: Mt 28, 19 và 20

Alleluia, alleluia! - Các con hãy đi giảng dạy muôn dân: Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Ga 6, 61-70

"Chúng con sẽ đi đến với ai? Thầy mới có những lời ban sự sống".

Trích Phúc Âm theo Thánh Gioan.

Khi ấy, có nhiều môn đệ của Chúa Giêsu nói rằng: "Lời này chói tai quá! Ai nghe được!" Tự biết rằng các môn đệ đang lẩm bẩm về chuyện ấy, Chúa Giêsu nói với họ: "Ðiều đó làm các ngươi khó chịu ư? Vậy nếu các ngươi thấy Con Người lên nơi đã ở trước thì sao? Chính thần trí mới làm cho sống, chứ xác thịt nào có ích gì? Nhưng lời Ta nói với các ngươi là thần trí và là sự sống. Nhưng trong các ngươi có một số không tin". Vì từ đầu Chúa Giêsu đã biết ai là những kẻ không tin, và kẻ nào sẽ nộp Người. Và Người nói: "Bởi đó, Ta bảo các ngươi rằng: Không ai có thể đến với Ta, nếu không được Cha Ta ban cho". Từ bấy giờ có nhiều môn đệ rút lui không còn theo Người nữa. Chúa Giêsu liền nói với nhóm Mười Hai rằng: "Cả các con, các con có muốn bỏ đi không?" Simon Phêrô thưa Người: "Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con tin và chúng con biết rằng: Thầy là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa".

Ðó là lời Chúa.



Suy Niệm

 

Chủ đề "Thày là sự sống" của ngày Thứ Bảy trong Tuần III Phục Sinh về khía cạnh "Sự Sống - Tái Sinh Thần Linh" được tỏ hiện trong bài Phúc Âm liên quan đến thái độ kiên trì của các tông đồ, một thái độ tin tưởng cho dù có trái tai bất khả chấp nhận theo bản tính tự nhiên, một thái độ được bày tỏ qua lời tuyên xưng của Tông Đồ Phêrô đại diện cho Nhóm 12 về niềm tin của mình về Đức Kitô, Thày của các vị: 

 

"Thầy đã bảo anh em: 'không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho'. Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa. Vậy Đức Giê-su hỏi Nhóm Mười Hai: 'Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?' Ông Si-môn Phê-rô liền đáp: 'Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa'". 

 

Bài Phúc Âm cuối cùng cho ngày Thứ Bảy cuối tuần III Phục Sinh hôm nay, một bài thuộc đoạn 6 trong loạt bài Phúc Âm của đoạn/chương dài tới 71 câu này của Thánh Gioan, được Giáo Hội cố ý chọn đọc cho Mùa Phục Sinh từ Thứ Sáu tuần II Phục Sinh tới cuối Tuần III Phục Sinh này, chẳng những, bề ngoài cho thấy tính cách phản tác dụng nơi mạc khải về Bánh Sự Sống của Chúa Kitô, mà còn cho thấy hoàn toàn chính xác 2 lần Chúa Kitô khẳng định, trong cùng đoạn Phúc Âm về Bánh Sự Sống này, về những ai đến với Người phải được ứng nghiệm, nghĩa là phải được "Cha Tôi lôi kéo" (Gioan 6:44) hay được "Chúa Cha ban phép" (Gioan 6:65).

 

Thật thế, nếu đối với "ai chấp nhận Người thì Người ban cho họ quyền làm con Thiên Chúa" (Gioan 1:12), mà thành phần chấp nhận được đây, tức thành phần được ban cho "quyền làm con Thiên Chúa" như Người, phải là thành phần "được tái sinh bởi trời" (Gioan 3:3), nghĩa là "không bởi huyết nhục, hay nhục dục hoặc bởi ý muốn nam nhân", mà là "bởi Thiên Chúa", thì quả thật: "Không ai đến được với Tôi nếu Chúa Cha là Đấng đã sai Tôi không lôi kéo họ" (Gioan 6:44), và "không ai đến được với Thày nếu không được Chúa Cha ban phép" (Gioan 6:65) vậy.

 

Chân lý này thật là dễ hiểu. Ở chỗ, tất cả mạc khải thần linh, bao gồm cả những gì thuộc về hạ giới, liên quan đến con người, đến phần rỗi, lẫn những gì thuộc về thượng giới, liên quan đến Thiên Chúa, đến Nước Trời (xem Gioan 3:12), được Thiên Chúa tỏ ra cho riêng dân Do Thái của Ngài trong suốt dòng lịch sử cứu độ của họ, một mạc khải thần linh đã lên tới tột đỉnh ở nơi Lời Nhập Thể, Đấng Thiên Sai Cứu Thế, Đấng Vượt Qua, Đấng là tất cả mạc khải thần linh của Thiên Chúa.

 

Thực tế cho thấy, cho dù mạc khải thần linh này đã được hoàn toàn tỏ hiện, diễn tả và giãi bày một cách sống động, qua những lời nói, hành động, phản ứng và gương sống của Nhân Vật Lịch Sử Giêsu Nazarét, đến độ "ai thấy Thày là thấy Cha" (Gioan 14:9), con người vẫn không thể tự mình nắm bắt và thấu triệt. Điển hình nhất là thành phần tông đồ đoàn, được tuyển chọn đặc biệt, được đích thân nhìn thấy, nghe thấy, chạm thấy "sự sống đã trở nên hữu hình" (1Gioan 1:1-2) là Chúa Giêsu Kitô, ấy thế mà, một số đã bỏ đi như được bài Phúc Âm hôm nay thuật lại, hay sau này, thậm chí còn phản nộp Thày, như Giuđa Íchca (xem Mathêu 26:14-16), hay chối bỏ Thày, như vị trưởng tông đồ đoàn Simon Phêrô (xem Mathêu 26:69-74).

 

Thế nhưng, tại sao chưa nắm bắt được tất cả mạc khải thần linh vô cùng kỳ diệu vượt trên tâm trí hạn hẹp của mình là loài thụ tạo mà các tông đồ, cả 12 vị, bất chấp một số môn đệ khác, không có tên trong danh sách tông đồ đoàn, bỏ đi, mà các vị vẫn tiếp tục theo một Đấng nói "chói tai ai mà nghe cho nổi", như đầu bài Phúc Âm hôm nay ghi nhận? Nếu không phải vì các vị tin vào (hơn là hiểu) Người: "Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa'".

 

Đúng thế, đối với mạc khải thần linh thì cần phải có ơn Chúa nữa mới hiểu được. Nếu chúng ta đọc Thánh Kinh mà chẳng hiểu thì đó là lẽ bình thường, bởi trí khôn của chúng ta không thể hiểu được, lại càng chứng thực "Đó là lời Chúa", chứ không phải là lời tầm thường, nói đến đâu hiểu ngay đến đấy, như học abc mẫu giáo vậy, ngang tầm với trí khôn thụ tạo hạn hẹp của loài người chúng ta. Thế nhưng chỉ vì không hiểu mà không đọc nữa chúng ta sẽ vĩnh viễn chẳng hiểu chi, bởi chính "Lời Thày là thần linh và là sự sống", như chính Chúa Kitô khẳng định trong bài Phúc Âm hôm nay, mới làm cho chúng ta hiểu. Đó là lý do Thánh Anselmo mới chủ trương "credo ut intelligam - tin trước hiểu sau" ("Anselmus Cantuariensis - Proslogion, 1"), hợp với Thánh Âu-Quốc-Tinh: "Hiểu biết là phần thưởng của đức tin. Vì thế, đừng tìm hiểu để các bạn có thể tin, mà là hãy tin thì các bạn sẽ hiểu biết" (Augustine of Hippo).

 


Bài Đọc 
(Tông Vụ 9:31-42)


Đúng thế, thành phần môn đệ bỏ đi trong Bài Phúc Âm hôm nay là thành phần muốn hiểu rồi mới tin, và vì những gì cần phải tin bao giờ cũng vượt lên trên phạm vị tự nhiên và thậm chí còn ngược lại với những gì phản luân lý và nhân bản nên họ không thể lấy trí khôn của họ để chấp nhận những mạc khải thần linh được Chúa Kitô tỏ ra cho chung dân chúng cũng như cho riêng họ là thành phần môn đệ của Người.

Trong khi đó, chẳng những các tông đồ không ai bỏ đi mà cả dân chúng đông đảo bấy giờ cũng không thấy Thánh ký Gioan thuật lại là cũng bỏ đi như một số môn đệ ấy. Họ và các tông đồ đều tin, dù không hiểu, là vì uy tín và thế giá chân thật của Chúa Giêsu, hơn là chính những lời Chúa nói với họ bấy giờ. Họ tin rằng một khi Người đã nói thì không bao giờ sai lầm, dù họ không hiểu, do đó vị tông đồ Phêrô đã đại diện chung tông đồ đoàn đã tuyên xưng lòng tin tưởng của các vị vào bản thân khả tín vô ngộ của Người rằng: "Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con tin và chúng con biết rằng: Thầy là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa". Chính vì họ tin vào Đấng mạc khải mà họ vẫn trung thành theo Đấng ấy cho tới cùng.

Thật vậy, nếu "không ai đến được với Tôi nếu Chúa Cha là Đấng đã sai Tôi không lôi kéo họ" (Gioan 6:44), và "không ai đến được với Thày nếu không được Chúa Cha ban phép" (Gioan 6:65), thì chính vì "Giáo Hội được bình an ở khắp Giuđêa, Galilêa và Samaria, và được gia tăng với lòng kính sợ Chúa, cùng được tràn đầy ơn an ủi của Thánh Thần" mà họ đã được chứng kiến thấy quyền lực của "những lời Thày nói với các con đều là thần linh và là sự sống", như Chúa Giêsu khẳng định với các tông đồ trong Bài Phúc Âm hôm nay, qua 2 phép lạ được Tông đồ Phêrô trong Bài Đọc 1 hôm nay
thực hiện ở 2 n
ơi khác nhau, một chữa lành và một hồi sinh, khiến cho nhiều người được tái sinh thần linh trong Chúa Kitô ở chỗ họ tỏ ra tin tưởng vào Người
"'Anh Ê-nê, Đức Giê-su Ki-tô chữa anh khỏi. Anh hãy đứng dậy và tự dọn giường lấy'. Lập tức anh đứng dậy. Tất cả những người cư ngụ ở Lốt và đồng bằng Sa-ron thấy anh, và họ trở lại cùng Chúa... 'Bà Ta-bi-tha, hãy đứng dậy!' Bà ấy mở mắt ra, và khi thấy ông Phê-rô, liền ngồi dậy. Ông đưa tay đỡ bà đứng dậy, rồi gọi dân thánh và các bà goá lại và cho thấy bà đang sống. Cả thành Gia-phô đều biết việc này, và có nhiều người tin vào Chúa".

Sở dĩ các tông đồ có thể chữa lành và hồi sinh như thế là nhờ quyền lực phục sinh của Chúa Kitô, Đấng các vị tin tưởng, vì các vị đã chết đi theo bản tính tự nhiên "như những bậc thánh nhân", nhờ Đấng "đã bẻ gẫy xiềng xích" nơi các vị là những đòi hỏi theo khuynh hướng tự nhiên luôn hướng chiều về đường rộng dẫn tới diệt vong (xem Mathêu 7:13), nhờ đó các vị đã có thể và xứng đáng mang lại phần rỗi cho những tâm hồn ngay lành, như thể các vị đã "lãnh chén cứu độ, và kêu cầu danh Chúa" , một "chén cứu độ" các vị là thành phần đầu tiên đã được thừa hưởng và một "danh Chúa" đã chữa lành cho các vị trước hết, "để đền đáp những điều Ngài ban tặng cho" các vị là một đức tin chất chứa quyền lực cứu độ, quyền lực chữa lành và hồi sinh như 2 trường hợp điển hình được Bài Đọc 1 hôm nay thuật lại. Đó là tâm tưởng của các vị như được Thánh Vịnh 115 trong Bài Đáp Ca hôm nay diễn tả như sau:

1) Tôi lấy gì dâng lại cho Chúa, để đền đáp những điều Ngài ban tặng cho tôi? Tôi sẽ lãnh chén cứu độ, và tôi sẽ kêu cầu danh Chúa.

2) Tôi sẽ giữ trọn lời khấn xin cùng Chúa, trước mặt toàn thể dân Ngài. Trước mặt Chúa thật là quý hoá, cái chết của những bậc thánh nhân Ngài.

3) Ôi lạy Chúa, con là tôi tớ Chúa, con là tôi tớ Ngài, con trai của nữ tỳ Ngài, Ngài đã bẻ gãy xiềng xích cho con. Con sẽ hiến dâng Chúa lời ca ngợi làm sinh lễ, và con sẽ kêu cầu danh Chúa.


 

 

HẠNH THÁNH TRONG TUẦN

 








THÁNH ANSELMÔ, GIÁM MỤC TIẾN SĨ (1033-1109)

(21/4 Thứ Ba)  

St. Anselm

 

"Chúa đã mở miệng Người giảng dạy trong Giáo hội. Chúa đã ban cho Người đầy khôn ngoan và minh mẫn, đã mặc cho Người áo vinh quang trên trời". Đó là lời Giáo hội hát mừng trong ngày lễ kính thánh Giám mục tiến sĩ Anselmô. Lời ca khen trên đây không có gì là quá đáng, nếu chúng ta tìm hiểu đời sống đạo đức, thánh thiện và lề lối làm việc đầy khôn ngoan của ngài. Hơn ai hết thánh Anselmô quả xứng đáng với lời chúc khen trên đây.

Thánh nhân sinh tại Aosta một thành phố nhỏ nằm trên đường ranh giới xứ Piêmontê và Thụy sĩ. Gia đình thánh nhân thuộc dòng quý tộc. Bà thân mẫu là người rất đạo đức, nhưng ông thân sinh, trái lại có vẻ khô khan. Tuy nhiên khi về già, ông đã bỏ thế gian để hiến thân cho Chúa trong một tu viện.

Anselmô được cha mẹ cho đi học rất sớm. Các bạn học ai nấy đều cảm phục trí thông minh sắc sảo của Anselmô và khen cậu là người đức hạnh. Vừa lớn lên Anselmô đã nhận rõ chân tướng của cuộc đời đầy phù vân giả trá và nguy hiểm. Vì thế năm 15 tuổi, Anselmô đã nhất quyết bỏ thế gian để đi tu dòng. Nhưng chẳng may ý định bị ông thân sinh phản đối. Dẫu thế, Anselmô vẫn cương quyết lướt thắng mọi trở ngại để thực hiện bằng được ý định của mình. Cùng với một người bạn, Anselmô qua Pháp theo học tại tu viện Bec thuộc các cha dòng Biển Đức. Trong các môn học, Anselmô thích nhất Thánh Kinh. Đi đôi với việc dùi mài kinh sử, Anselmô còn đặc biệt chú ý đến việc tập luyện và trau dồi các nhân đức ngõ hầu trở nên hoàn thiện. Cũng trong thời gian này, Anselmô cảm thấy tiếng Chúa kêu gọi càng ngày càng mãnh liệt. Nhưng trước những nẻo đường trọn lành, Anselmô rất do dự không biết nên chọn gia nhập hàng giáo sĩ địa phận hay đời sống tu trì. Được tu viện trưởng Lanfranc, giới thiệu, Anselmô đánh bạo tới hỏi ý kiến Đức Tổng giám mục thành Ruăng (Rouen). Ngài khuyên Anselmô nên vào tu dòng. Vâng theo lời khuyên của Đức Tổng giám mục, Anselmô xin vào tu tại tu viện Bec, năm đó Anselmô được 27 tuổi.

Với ơn Chúa và nghị lực của tuổi thanh xuân, Anselmô say sưa công việc tu thân luyện đức. Không bao lâu, từ miền Nômanđia nước Pháp đến cả nước Anh, ai ai cũng đều ca tụng nhân đức của thầy Anselmô. Còn nói chi đến lòng tín nhiệm và kính yêu của toàn thể anh em trong dòng. Vì thế sau ít lâu, ngài đã được bầu làm bề trên. Từ ngày đó khách thập phương tuốn đến rất đông hầu được hân hạnh đàm đạo với thánh nhân. Nhiều người thông thái đạo đức đến xin thụ giáo để được hạnh phúc sống với sự chỉ dẫn của vị bề trên thánh thiện. Tuy nhiên, tu viện trưởng Anselmô rất thận trọng trong việc định đoạt và xét đoán ơn gọi của những người đến gõ cửa. Ngài không ích kỷ để chỉ lôi kéo nhiều người về cho dòng mình, nhưng hoàn toàn vô tư trình bày tôn chỉ và luật pháp của mỗi dòng, để các người được Chúa chọn có thể tự do lựa chọn con đường tu trì thích hợp với hoàn cảnh riêng biệt của mỗi người. Ngài thi hành chức vị bề trên với một lòng đạo đức và khôn ngoan hiếm có.

Qua mấy năm sau, thánh nhân phải cấp tốc sang Anh quốc để điều chỉnh lại mấy việc tại một tu viện bên đó. Nơi đây thánh Anselmô được tiếp đón rất nồng hậu. Niềm vui sướng của thánh nhân tăng gấp bội khi ngài được hầu chuyện Đức cha Lanfranc, Tổng Giám mục thành Cantôbêry và cũng là bề trên cũ của ngài. Đặc biệt hơn nữa là chính vua nước Anh, một ông vua có tiếng kiêu căng và cứng cỏi, cũng tới đàm đạo với thánh nhân và hết lòng mến phục ngài. Nhưng rồi lại có những sự việc không hay xảy đến làm cho thánh Anselmô một lần nữa, phải bỏ tu viện đi công cán tại Anh quốc. Thời đó vua nước Anh băng hà và truyền ngôi lại cho con. Vốn tính độc tài, tham nhũng vị tân vương tìm hết cách áp chế hàng giáo sĩ và chiếm đoạt tài sản của Giáo hội. Theo lời yêu cầu của nhiều vị cao cấp trong Giáo hội, thánh Anselmô đã lên đường sang Anh để khuyên bảo nhà vua bỏ ý định trên. Trước tài lợi khẩu và đức khôn ngoan hiếm có của thánh nhân, vua đổi hẳn thái độ, tỏ vẻ quyến luyến thánh nhân. Khi Đức Tổng giám mục thành Cantôbêry tạ thế, nhà vua liền đề nghị thánh Anselmô lên thay. Thánh nhân được tấn phong làm Tổng Giám mục ngày 4-12-1093 với sự đồng ý của toàn thể các Đức Giám mục Anh quốc.

Dần dần, tính tham lam cầu lợi chưa được gột rửa sạch lại khiến nhà vua đổi lòng. Ban đầu vua vồn vã tiếp đãi Đức Tổng giám mục, với hy vọng sẽ nhận được những món hàng khổng lồ do ngài trao tặng. Ngược với ý nghĩ của nhà vua, Đức Tổng giám mục lại đem tất cả tài sản của mình phân phát cho người nghèo khó. Thế là lòng tham lam và hà tiện đã nổi dậy xúi dục nhà vua thù ghét Đức Tổng giám mục. Nhà vua và bọn nịnh thần bắt đầu mở chiến dịch vu khống và lăng mạ Giáo hội. Thấy can ngăn cũng vô ích, thánh Anselmô nghĩ chỉ còn một phương thế độc nhất để giải quyết vấn đề là ngài tự rút lui. Ngài xin phép nhà vua về Rôma bái yết Đức Thánh Cha; vua đồng ý ngay cho thánh nhân ra khỏi nước, với điều kiện là không được trở về nữa. Sau khi đã dặn dò khuyên răn hàng giáo sĩ địa phận, thánh Anselmô lên đường sang Pháp lưu trú tại toà tổng giám mục thành Lyông.

Nghe tin Đức Cha Anselmô mới bị trục xuất khỏi Anh quốc, Đức Thánh Cha mời ngài qua Rôma. Tới giáo đô, thánh Anselmô được tiếp đón rất nồng hậu. Chính Đức Thánh Cha ban lời khen ngợi lòng can đảm và chí bất khuất của thánh nhân.

Thánh Anselmô lưu trú tại Rôma một thời gian khá lâu trong tu viện thánh Biển Đức. Tại đây, nhờ lời cầu nguyện và hy sinh, thánh nhân đã làm cho từ một tảng đá chảy ra một suối nước trong ngọt. Do đó người ta đặt tên giếng nước là "Giếng thánh Giám mục thành Cantôbêry". Thánh nhân cũng được Đức Thánh Cha mời tham dự công đồng chung Bari. Trong công đồng đó, với tài lợi khẩu và trí thông minh phi thường, thánh nhân đã thuyết phục được những người Hy lạp cố chấp; ngài đã minh chứng một cách chính xác và khôn ngoan tín điều Chúa Thánh Thần do Chúa Cha và Chúa Con nhiệm xuất. Sau khi Đức Thánh Cha tuyên bố rút phép thông công vua nước Anh đồng loã về tội lăng mạ hàng giáo sĩ và tước đoạt tài sản của Giáo hội, thánh Anselmô bỏ Rôma trở về lưu trú tại Lyông. Một hôm, ngài được hung tin cho hay Anh hoàng trong khi đi săn đã bị quân thù ám hại. Được tin đó thánh nhân rất buồn và lo lắng cho số phận đời đời của nhà vua.

Anh hoàng băng hà nhường ngôi lại cho em là Henricô I. Vì sợ lòng dân không phục sẽ nổi loạn, nên ban đầu vua Henricô I muốn ve vãn Giáo hội để mua chuộc lòng dân. Vua tìm cách nâng đỡ hàng giáo sĩ, trùng tu các nhà thờ; vua còn cho mời thánh Anselmô về nước vì biết rằng thánh nhân được dân chúng hoàn toàn tín nhiệm. Nhưng khi hay tin Đức Thánh Cha đã ký sắc lệnh rút phép thông công vua nước Anh vì đã xâm phạm tới tài sản Giáo hội, nhà vua rất căm giận thánh Anselmô. Vua sai sứ giả sang khiếu nại với Toà thánh. Nhưng Đức Thánh Cha một mực từ chối. Ơn Chúa dần dần làm mềm lòng vua Anh. Cuối cùng vua đã chịu nhận lỗi và cam đoan tuân theo mọi chỉ thị của Toà thánh mà trả lại tài sản cho Giáo hội. Nhà vua cũng làm hòa với thánh Anselmô và triệu mời ngài về địa phận.

Trở về địa phận được một thời gian ngắn, thánh Anselmô bị bệnh đau dạ dầy rất nặng. Tuổi đã cao, sức đã kiệt, ngài linh cảm thấy giờ cuối cùng đã tới. Thánh nhân sốt sắng chịu các bí tích sau hết. Ngài cầu nguyện riêng cho vua và hoàng hậu cùng hoàng tử, các công chúa và toàn dân Anh được an ninh trường thọ và luôn luôn trung thành với giới luật Chúa. Sau khi chúc lành cho mọi người có mặt bên giường bệnh, ngài nhắm mắt từ trần. Hôm đó nhằm ngày 21-4-1109. Ngài hưởng thọ 76 tuổi.

Đương thời ngài, Thiên Chúa đã làm nhiều phép lạ để tuyên dương công trạng và nhân đức thánh nhân. Lần kia một người bị bệnh phong cùi được mộng báo phải đến với Đức Cha Anselmô. Người đó ra đi đến tu viện Béc; Ngài cho ông uống nước rửa tay sau khi làm lễ và tự nhiên người đó được khỏi bệnh. Có lần lửa đang bốc cháy dữ dội, đe dọa phá huỷ cả một làng, thánh Anselmô cầu nguyện sốt sắng rồi làm dấu thánh giá trên đám cháy, lửa liền tắt ngay. Ngoài ra còn nhiều bệnh nhân mắc đủ mọi chứng bệnh đã đến xin thánh Anselmô cầu nguyện cho và họ đều được khỏi bệnh cả.  Ngoài tài cai trị của thánh nhân, chúng ta còn phải kể tới tài văn chương, triết lý của ngài. Người ta có thể nói thánh Anselmô là một học giả lỗi lạc đã đề cập tới nhiều vấn đề mà trước ngài chưa ai nghĩ tới, nhất là những vấn đề thần học. Thánh nhân đã viết nhiều cuốn sách rất có giá trị làm giầu cho kho tàng giáo huấn và thư viện của Giáo hội. Thật ngài quả xứng đáng với danh hiệu là tiến sĩ của Giáo hội.

Để kết thúc, chúng ta mượn lời vị tu viện trưởng Trithêmô vẽ lại hình ảnh vị Thánh Giám mục tiến sĩ bằng mấy giòng sau: "Thánh Anselmô có một bộ mặt thần, một dáng đi bệ vệ, một cuộc sống thánh thiện, thông thạo khoa học phần đời, làu thông Kinh Thánh và là gương mẫu mọi nhân đức".

http://giaophanvinhlong.net/thanh-anselmo.html

Giám mục, Tiến Sĩ  (1033 - 1109)
  

Thánh Anselmô chào đời năm 1033 tại Aosta, trong một gia đình quí phái. Mẹ ngài, một người rất đạo đức lãnh trách nhiệm huấn luyện ngài theo đàng nhân đức. Từ nhỏ, ngài đã được theo học những bậc thầy danh tiếng. Bởi thế, ngài đã mau mắn tiến triển cả về học vấn lẫn đức hạnh. Vào tuổi 15, thánh nhân đã biết chán ghét danh vọng giả trá thế trần và quyết theo đuổi đời sống tu trì, nhưng cha ngài chống lại ý muốn này, thánh nhân buồn rầu ngã bệnh. Nhiệt tình theo đuổi đời sống tu trì không kéo dài bao lâu, nhất là bà mẹ đạo đức qua đời.
 
Anselmô rơi vào tình trạng nguội lạnh, nhiệt tình tuổi trẻ bị lôi cuốn vào những hấp dẫn thế trần. Cho đến lúc này, Anselmô vẫn còn thần tượng của cha ngài, nhưng Thiên Chúa đã tha phép cho tình âu yếm của ông biến thành cay cú, đòi hỏi và cứng cỏi, đến nỗi Anselmô đã phải bỏ nhà trốn đi. Ngài từ giã không phải khỏi nhà cha mẹ mà thôi, nhưng còn bỏ luôn quê hương xứ sở cho tới tận miền Bourgogne. Tại đây, ngài lấy lại nhiệt tình ban đầu. Ba năm sau, ngài đến thụ huấn với tu viện trưởng Lanfrane ở Bec.
 
Một ngày kia, Anselmô xét thấy mình đã khổ cực để nên thông thái nhiều hơn là để nên đạo đức. Ngài đến quì dưới chân thầy và nói :
  • Con có ba đường để theo : hoặc là trở thành tu sĩ ở Bec, hoặc sống ẩn tu, hoặc ở giữa thế gian để phân phát cho người nghèo gia sản của cha con để lại.
 
Đức Tổng Giám mục giáo phận Rouen khuyên ngài theo đuổi đời sống tu trì. Thế là Anselmô gia nhập tu viện Bec. Lúc ấy ngài được 27 tuổi, ngài đã dồn nỗ lực để nghiên cứu thần học và đời sống khiêm tốn vâng phục. Năm 1072, Đức Đan viện phụ Lanfrane được đặt làm Tổng Giám mục Canterbury. Anselmô được cử lên thay thế làm tu viện trưởng rồi làm Đan viện phụ.
 
Sự đơn sơ và nhân hậu của ngài đã đánh tan mọi ghen tương nghi kỵ. Hơn nữa sự thánh thiện và trí thông minh của thánh nhân đã khiến cho ngài trở thành danh tiếng không những đối với các vị vua Chúa và các Đức Giám mục mà cả với thánh Giáo Hoàng Grêgôriô nữa. Tu viện Đức Bà ở Bec trở thành nơi trung tâm của phong trào trí thức thế kỷ XI năm 1087. Vua William I nước Anh từ trần. William Rufus lên kế vị. Nhà độc tài này không muốn có những chủ chăn mới và sang đoạt được nhiều tài sản của Giáo hội, nên khi Đức Tổng Giám mục Lanfrane qua đời, Tòa Giám mục Canterbury bị trống ngôi, năm 1093 khi thánh Anselmô viếng thăm Anh quốc, Rufus trong cơn trọng bệnh đã xin thánh nhân lãnh nhiệm vụ cai quản Giáo phận Canterbury. Thánh nhân đã từ chối, nhưng rồi cũng phải lãnh nhận vì sự nài nỉ của các Giám mục và nhất là vì sự chỉ định của Đức Giáo Hoàng Urbanô II.
 
Nhưng rồi khi nhà vua bình phục, ông hối tiếc vì việc sám hối của mình. Khi bị Đức Anselmô buộc phải nhận quyền của Đức Urbanô, ông đã gây áp lực để truất phế Đức Tổng Giám mục. Đức Giáo Hoàng không nhận những giáo dân có thế giá cho biết sẽ không tha thứ cho việc truất phế thánh nhân, nhưng rồi năm 1097, sau nhiều cuộc cãi vã liên tục và vô hiệu, thánh Anselmô tự ý xin đi lưu đày, Rufus ưng thuận.
 
Thánh Anselmô trở về Rôma và được khen ngợi vì sự can đảm của ngài sau khi tham dự cộng đồng Bari và Rôma. Thánh nhân tìm về đời sống tu viện tại dãy núi Apennins. Nơi đây ngài hoàn thành tác phẩm : tại sao Thiên Chúa làm người. Ngài tuân thủ từng chi tiết của lề luật như một tập sinh. Ngài nói :
- Cuối cùng tôi gặp được chốn nghỉ ngơi.
Năm 1100, Rufus qua đời trong một cuộc đi săn. Henri em vua lên kế vị, nhà vua mới triệu vời vị Tổng Giám mục trở về Giáo phận. Năm 1106 ngài trở về điều khiển Giáo hội tại Anh quốc.
 
Trải qua biết bao thăng trầm thánh nhân vẫn giữ được tâm hồn bình lặng. Ngài không bỏ qua công cuộc tìm kiếm thần học. Bởi đó, ngài đã thành chiến sĩ đầu tiên của Giáo hội sau những thế kỷ đen tối. Luận chứng của ngài nhằm chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa nay vẫn còn được biết đến. Thần học của ngài là một phần linh đạo đặt trên sự cảm thông với những đau khổ của Chúa Kitô.
 
Với tư cách Tổng Giám mục Canterbury ngài đã chấm dứt việc bôi nhọ các thánh quê mùa của nước Anh quốc và góp phần khơi dậy cảm tình những gì truyền thống nước Anh từ xưa để lại. Đây là việc làm có giá trị lâu bền vì sửa lại được tình cảm phân rẽ và cuộc chinh phục của William gây nên.
 
Năm 1109, thánh Anselmô qua đời. Một con người đã luôn biết tìm kiếm Chúa.

- Tôi không tìm hiểu để tin nhưng tin để mà hiểu biết, cuối cùng ngài đã tìm về được ánh sáng vĩnh cửu.


Lm. Phaolô Phạm Quốc Tuý - Theo Vết Chân Người

https://giaophanphucuong.org/phung-vu-chu-thanh/thanh-anselmo---giam-muc-tien-si-1033-1109-1249.html

Là một thanh niên lãnh đạm với tôn giáo, Thánh Anselm đã trở nên một trong những nhà lãnh đạo và thần học gia vĩ đại của Giáo Hội. Ngài có danh xưng “Ông Tổ Phái Kinh Viện” vì những cố gắng phân tích và làm sáng tỏ các chân lý đức tin qua sự hỗ trợ của lý lẽ.

Thánh Anselm sinh trong một gia đình quyền quý ở Aoust, thuộc Piedmont. Ngài được người mẹ đạo đức chăm sóc và dạy dỗ về giáo lý, và ảnh hưởng tốt đẹp ấy đã kéo dài suốt cuộc đời ngài.

Khi 15 tuổi, Anselm muốn gia nhập một đan viện, nhưng bị từ chối vì người cha phản đối. Sau thời gian mười hai năm sống trong sự thờ ơ tôn giáo và theo thói đời, sau cùng ngài đã trở thành một đan sĩ như lòng mong ước. Ngài gia nhập đan viện Bec ở Normandy, ba năm sau ngài được bầu làm đan viện trưởng, và 15 năm sau ngài được bầu làm viện phụ.

Ðược coi là một nhà tư tưởng độc lập và độc đáo, Ðức Anselm được mọi người thán phục vì sự kiên nhẫn, hiền hòa và tài giảng dạy của ngài. Quả thật, ngài hiểu biết nhiều về thực chất và sự đam mê của con người đến độ dường như ngài đọc được tư tưởng và hành động của họ, bởi đó ngài nhìn thấy các nhân đức cũng như tật xấu của họ và khuyên bảo họ một cách thích hợp. Dưới sự lãnh đạo của ngài, Ðan Viện Bec trở nên trường đào tạo các đan sĩ, có ảnh hưởng đến các tư duy triết học và thần học thời ấy.

Trong những năm này, theo lời yêu cầu của cộng đoàn, Ðức Anselm bắt đầu công bố các công trình thần học của ngài, có thể sánh với các văn bản của Thánh Augustine. Công trình nổi tiếng nhất của ngài là cuốn Cur Deus Homo (“Tại Sao Thiên Chúa Làm Người”).

Khi 60 tuổi, ngài được bổ nhiệm làm Ðức Tổng Giám Mục của Canterbury vào năm 1093, trái với ý muốn của ngài. Việc bổ nhiệm ngài, lúc đầu bị vua nước Anh là William Rufus chống đối nhưng sau đó phải chấp nhận. Rufus cố chấp từ chối cộng tác với các nỗ lực cải cách Giáo Hội.

Sau cùng Ðức Anselm phải đi lưu đầy cho đến khi Rufus từ trần năm 1100. Ngài được gọi về nước Anh bởi Henry I, là em và là người kế vị Rufus. Tuy nhiên, Ðức Anselm lại bất đồng với Henry về việc nhà vua nhúng tay vào các vấn đề của hàng Giám mục, do đó ngài lại phải đi lưu đầy ba năm ở Rôma.

Không chỉ lưu tâm đến hàng quý tộc, Ðức Anselm còn để ý và lo lắng cho người nghèo. Ngài là người đầu tiên trong Giáo Hội chống đối việc buôn nô lệ. Và ngài đã được Hội Ðồng Quốc Gia Westminster thông qua đạo luật cấm buôn bán con người.
Ngài từ trần ở Canterbury, Anh Quốc năm 1109, và được phong thánh năm 1494.
Thánh Anselm, cũng như bất cứ môn đệ trung kiên nào khác của Ðức Kitô, đã phải vác thập giá của mình, nhất là dưới hình thức chống đối và xung đột với những người đang nắm quyền chính trị. Mặc dù bản tính là một người hiền hòa và yêu chuộng hòa bình, Thánh Anselm không nhượng bộ trước sự đàn áp và mâu thuẫn với các nguyên tắc đang bị đe dọa.

 

Lời Trích 

“Trên thiên đàng không ai có sự khao khát nào hơn là thánh ý Thiên Chúa; và sự khao khát của một người sẽ là sự khao khát của mọi người; và sự khao khát của mọi người cũng như mỗi người sẽ là sự khao khát của Thiên Chúa” (Thánh Anselm, Opera Omnis, Thư 112).

https://hddmvn.net/21-thang-tu-thanh-anselmo/

 

ĐTC Biển Đức XVI:
 Thánh Anselm: Thần Học Gia, Thày Dạy và Mục Tử.

 

 

Thánh Giorgiô Quân nhân Tử đạo

23/4 - Thứ Năm

 

Ngày 23/04: Thánh Giorgiô tử đạo

I. ĐÔI DÒNG LỊCH SỬ.

Thánh Giorgiô sinh tại Lydda, Palestine năm 280. Ngay từ nhỏ, thánh nhân đã được cha mẹ giáo dục đạo đức và can đảm.

Lớn lên, ngài theo cha vào quân đội. Chẳng bao lâu, nhờ sức khỏe, tài năng và lòng can đảm nhiệt thành, ngài được thăng cấp sĩ quan: chỉ huy đoàn vệ binh hoàng gia.

Lúc hoàng đế Diocletianô ra chiếu chỉ cấm đạo, thánh nhân bị bắt cùng với nhiều người khác. Trước mặt hoàng đế, ngài mạnh mẽ tuyên xưng lòng tin Chúa và can đảm chỉ trích nhà vua lầm lạc; thờ lạy bụt thần ma quỷ là những vật không đáng tôn thờ.

Nhà vua nổi giận quát mắng ngài, hăm dọa sẽ cách chức và giết ngài nếu ngài không chịu chối Chúa bỏ đạo. Sở dĩ ông ta có nới tay với ngài, vì ngài là một sĩ quan tài đức gương mẫu trong triều đình.

Lợi dụng thời gian còn được tự do, thánh nhân bán hết gia tài phân phát cho người nghèo, phóng thích nô lệ, chuẩn bị tâm hồn.

Ít lâu sau, nhà vua truyền gọi ngài vào, tìm đủ cách dụ dỗ ngài. Nhưng ngài thẳng thắn trả lời:

Tôi là người tin theo Chúa. Tôi không ham thích gì ở đời này. Tôi chỉ mong được phần phúc đời đời.

Thế là thánh nhân bị đem đi hành hình. Người ta cột ngài vào bánh xe, cho ngựa kéo chạy lăn lóc ngoài đường. Da thịt rách nát, máu chảy đầm đìa!....Sau đó, người ta bỏ ngài vào ngục.

Tương truyền, khi ngài bị bỏ vào ngục. Chúa đã chữa ngài lành mạnh và hứa sẽ trợ giúp để ngài chiến thắng ma quỷ.

Sáng hôm sau, nhà vua truyền dẫn ngài ra. Và ông ta hết sức ngạc nhiên khi thấy thân thể ngài lành lặn như trước và hơn nữa lại còn chịu đến đền thờ để thờ các vị thần. Lòng ông ta tràn ngập vui mừng, hy vọng sẽ cảm hóa được ngài. Vì thế, ông ta bảo dân đến tụ họp ở đền thờ. Chính ông ta cũng đích thân đến đó.

Khi người ta dẫn thánh nhân đến trước tượng thần Apôllô, ngài hỏi:

- Ngươi có phải là Thiên Chúa để chúng tôi thờ không?

Tương truyền thuật lại, tượng thần lên tiếng:

- Không, tôi không phải là Thiên Chúa. Chỉ có Đấng ông thờ mới là Thiên Chúa thật.

Và thánh nhân làm dấu thánh giá, tượng thần liền bể vỡ tan tành...

Thánh nhân đã được phúc tử đạo ngày 23 tháng 4 sau khi đã cầu nguyện cho mình và cho những kẻ hãm hại mình. Thánh Giorgiô được các quân nhân và hướng đạo sinh chọn làm bổn mạng vì tính can đảm, anh hùng và gương mẫu của Ngài

II. BÀI HỌC VỀ TẤM GƯƠNG CAN ĐẢM CỦA THÁNH GIORGIÔ.

Xin gửi đến anh chị em những tâm tình của Đức Thánh Cha Phanxicô nhân ngày lễ bổn mạng thánh Giorgiô của ngài tại Roma lúc 10 giờ sáng 23 tháng 4 năm 2013.

Ðồng tế thánh lễ với Ðức Thánh Cha tại Nhà nguyện Paolina hôm đó trong dinh Tông Tòa có hơn 45 Hồng Y cư ngụ tại Roma, và một số chức sắc thuộc Phủ Quốc vụ khanh Tòa Thánh.

Ðầu thánh lễ, Ðức Hồng Y Angelo Sodano, niên trưởng Hồng y đoàn, đã đại diện các Hồng Y chúc mừng lễ bổn mạng Ðức Thánh Cha và nhắc lại vài nét nổi bật trong cuộc đời của thánh Giorgiô:

- Người đã từ bỏ chức vụ sĩ quan cấp cao trong quân đội của hoàng đế Roma, để trở thành chiến binh của Chúa Kitô. Thánh nhân cởi bỏ binh giáp để mặc lấy áo giáp đức tin và đức ái. Ðức Hồng Y Sodano cầu chúc Ðức Thánh Cha được hồng ân sức mạnh Kitô mà Chúa Thánh Linh phú cho các vị tử đạo trong mọi thời đại. Chính hồng ân sức mạnh Thánh Linh đổ tràn tâm hồn viên sĩ quan trẻ Giorgio của quân đội Roma, đã giúp thánh nhân đương đầu với mọi khó khăn trong việc từ bỏ binh nghiệp để trở nên môn đệ Chúa Kitô, phân phát tài sản của mình cho người nghèo.

Ðức Hồng Y niên trưởng nói thêm rằng: "Cùng với Ðức Thánh Cha, chúng con cũng cầu xin ơn sức mạnh Kitô cho những người đang còn chịu đau khổ vì đức tin, như thời thánh Giorgio. Như cách đây mấy ngày, Ðức Thánh Cha đã nhắc nhở chúng con rằng thời kỳ của các vị tử đạo vẫn chưa chấm dứt!".

Trong bài giảng, dựa vào các bài đọc, Ðức Thánh Cha ghi nhận một số điểm:

Trước tiên là chính lúc Giáo Hội bị bách hại, thì cũng là lúc bùng lên công trình truyền giáo của Giáo Hội: các tín hữu Kitô bị bách hại như thế đã đi tới tận miền Felicia, đảo Cyprus, và Antiokia, để công bố Lời Chúa. Họ mang trong mình lòng nhiệt thành tông đồ và nhờ đó đức tin được phổ biến. Và khi đến Antiokia, các tín hữu ấy đã bắt đầu nói với cả những người Hy Lạp. Chính Thánh Linh đã giúp họ có sáng kiến nói với cả những người Hy Lạp, đã thúc đẩy họ đi xa hơn nữa!

+ Ðức Thánh Cha còn nhận xét rằng: Tại Jerusalem bấy giờ, có những người nghe tin về điều ấy, thì cảm thấy căng thẳng, và họ đã gửi Barnaba đến "thanh tra tông tòa"; với một chút tinh thần khôi hài, chúng ta có thể nói cuộc thanh tra tông tòa của Barnaba ấy là khởi điểm thần học của Bộ giáo lý đức tin! Nhưng thánh Barnaba đến nơi đã thấy mọi sự tốt đẹp. Giáo Hội trở thành một người Mẹ có nhiều người con, người Mẹ cho chúng ta đức tin, mang cho chúng ta căn tính. Căn tính Kitô chính là sự thuộc về Giáo Hội.

Về điểm này, Ðức Thánh Cha Phanxicô phê bình lập luận của những người cho rằng mình muốn sống với Chúa Giêsu chứ không muốn sống với Giáo Hội; thật là một điều tách biệt vô lý khi muốn theo Chúa Giêsu ngoài Giáo Hội, yêu Chúa Giêsu mà không có Giáo Hội". Chính Giáo Hội là Mẹ ban Chúa Giêsu cho chúng ta, trao tặng chúng ta căn tính: căn tính này không phải chỉ là một ấn tích, nhưng là sự thuộc về Giáo Hội".

+ Cuối cùng: Ðức Thánh Cha cảnh giác thái độ chiều theo hoặc thỏa hiệp với thế gian, tìm an ủi nơi trần thế mà không ý thức về những bách hại và khó khăn. Ngài nói: "Nếu chúng ta muốn tiến bước một chút trên con đường trần thế, thương thảo với thế gian - như những người Macabê xưa kia khi bị cám dỗ muốn thực hiện, thì chúng ta sẽ không bao giờ được sự an ủi của Chúa. Và nếu chúng ta chỉ tìm an ủi, thì đó chỉ là một sự an ủi hời hợt, chứ không phải là ơn an ủi của Chúa, chỉ là một sự an ủi của phàm nhân. Giáo Hội luôn tiến bước giữa Thập Giá và sự Phục Sinh, giữa bách hại và sự an ủi của Chúa. Ðó chính là hành trình của Giáo Hội: ai tiến trên con đường này thì không ai lầm".

Và Ðức Thánh Cha kết luận rằng: "Chúng ta hãy cầu xin Chúa ban cho chúng ta được lòng nhiệt thành tông đồ, thúc đẩy chúng ta tiến bước, như anh em với nhau! Hãy tiến bước, mang theo danh Chúa Giêsu giữa lòng Hội Thánh là Mẹ chúng ta. Amen.

 

 

Thánh Fidele Sigmarina Linh Mục Tử Đạo

(24/4 - Thứ Sáu)

Ngày 24/04: Thánh Phi-đen Dích-ma-rinh-ngân, linh mục, tử đạo (1578-1622)

1. Ghi nhận lịch sử - Phụng Vụ

Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XIV tôn phong ngài làm thánh tử đạo năm 1746. Lễ tưởng nhớ ngài liên quan đến các cuộc tranh cãi tôn giáo khiến các Giáo Hội đối nghịch nhau và các Kitô hữu bị phân rẽ tại châu Âu vào thế kỷ XVII.

Markus Roy sinh tại Sigmaringen, nước Đức, con trai ông thị trưởng. Ngài theo học ở Fribourg-en-Brisgau, đỗ cử nhân luật và triết học. Sau khi chu du khắp châu Âu, ngài hành nghề luật sư tại Colmar rồi vào Dòng anh em Hèn mọn Capucin ở Fribourg lúc ba mươi bốn tuổi và mang tên Fidèle. Người dấn thân rao giảng Tin Mừng và làm việc Tông Đồ với tư cách tuyên úy quân đội cho các đạo quân của hoàng đế nước Áo. Sau cùng, Hội Truyền Bá Đức Tin ở Rôma phái người sang Rhétie để củng cố đức tin của các Kitô hữu tại đó chống lại lạc thuyết Calvin. Ở đây, ngài giúp bá tước Rodolphe de Salis trở lại đạo Công Giáo.

Tại vùng Grisons thuộc Thụy Sĩ – nơi đây quyền hành nước Áo được thiết lập rất bền vững – sắc chỉ của Hoàng Đế nghiêm cấm người dân theo đạo Tin Lành. Điều này đã tạo sự phản đối mãnh liệt nơi những nông dân theo Calvin. Dưới sự chỉ đạo của một mục sư - về sau sẽ trở lại đạo – họ đã giết thánh nhân ngày 24 tháng 4 năm 1622, tại cửa nhà thờ Seewis trong quận Grison, nơi ngài đang hoạt động truyền giáo. Một ngày nọ, khi được mời theo giáo phái Calvin, ngài trả lời: “Tôi đến đây để chống lạc giáo chứ không phải để tiếp nhận lạc giáo”. Lúc ngã gục dưới các nhát gươm của lý hình, ngài đã kịp cầu nguyện như Đức Giêsu trên thập giá: Lạy Cha, xin tha thứ cho chúng ...

2. Thông điệp và tính thời sự

a. Đời thánh Fidèle thấm nhuần tình bác ái. Ngài được gọi là “luật sư của người nghèo” khi hành nghề tại Colmar và nhiệt thành yêu mến Chúa (lời nguyện đầu lễ) sau khi dấn thân vào đời sống tu trì và hiến trọn đời cho Thiên Chúa và tha nhân.

- Khi phong thánh cho người, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XIV đã ca tụng lòng bác ái của ngài như sau: “Như một người cha, thánh nhân đã ôm lấy những người khốn khổ vào lòng, và nuôi nấng vô số người nghèo nhờ những của bố thí quyên góp được từ khắp nơi. Thánh nhân đem những gì các người quyền thế và các ông hoàng giúp đỡ mà săn sóc các cô nhi quả phụ... Trong mức độ có thể, người đã không ngừng trợ giúp những kẻ bị cầm tù, cả về tinh thần lẫn vật chất. Thánh Nhân ân cần thăm viếng các bệnh nhân...” (Bài Đọc - Kinh Sách).

b. Thánh Nhân giàu lòng bác ái nên cũng nhiệt thành “truyền bá đức tin” (Lời Nguyện). Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XIV nói trong các cuộc truyền giáo ban đầu cho giới bình dân, sau đó cho người Tin Lành tại Grisons: “Ngoài tấm lòng bác ái như thế, thánh Fidèle còn là người trung tín, cả trong tên gọi lẫn trong đời sống, là người nổi bật về lòng nhiệt thành bênh vực đức tin Công Giáo. Thánh Nhân rao giảng đức tin ấy, không biết mệt. Ít ngày trước khi đổ máu để làm chứng cho đức tin, thánh nhân đã để lại những lời dưới đây như một di chúc: Ôi đức tin Công Giáo ! Đức tin chắc chắn, vững vàng sâu xa biết dường nào... Điều gì thúc đẩy các Kitô hữu chân chính dám dẹp bỏ những dễ dãi, khước từ nếp sống tiện nghi mà cam lòng chịu đựng những gian lao vất vả? Thưa chính là đức tin sống động, đức tin hành động nhờ đức ái”. (Bài Đọc - Kinh Sách).

Enzo Lodi

https://www.kath-vietnamesen.de/phung-vu-2/24-4-thanh-phidele-sigmaringen-linh-muc/

https://tgpsaigon.net/bai-viet/ngay-24-4-thanh-phi-den-dich-ma-rinh-nganlinh-muctu-dao-1578-1622-54188

THÁNH FIĐÊLÊ đệ SIGMARINGA

Thánh nhân sinh năm 1577 tại Sigmaringa, Ngài có tên là Marc Rey, thuộc gia đình đạo đức và công chính. Thánh nhân học triết ở Fribourg, Thụy Sĩ. Ngài thông minh và học giỏi, nên được tặng cho danh hiệu là triết gia công giáo. Thánh nhân cũng chuyên về luật. Với ơn Chúa thúc đẩy, soi sáng, thánh nhân đã xin gia nhập dòng thánh Phanxicô. Ngài đã học thần học và sau đó được lãnh nhận sứ vụ linh mục. Thánh nhân sống khó nghèo cách hết sức nhiệm nhặt theo mối phúc thứ nhất:” Phúc ai có tinh thần nghèo khó…”( Mt 5, 1 ). Cảm nghiệm sự thanh thoát của vật chất, thánh nhân đã dâng hết tài sản của mình cho quĩ bảo trợ cấp giáo sĩ. Thánh nhân có lòng sùng kính Đức Trinh Nữ Maria cách đặc biệt. Ngài bám chặt lấy Mẹ như thuẫn che chở và nhờ Mẹ để vượt khỏi tính ươn hèn, biếng nhác. Thánh nhân hết lòng yêu mến Chúa, khuyên răn, giảng dạy và sửa trị giáo dân. Ngài luôn làm gương cho các tu sĩ khác bằng đời sống khó nghèo, khiêm nhượng của mình và thúc giục họ nên thánh vì Ngài ý thức:” Thật con ở với Chúa luôn, tay con Ngài nắm chẳng buông chẳng rờ, dắt dìu khuyên nhủ bao lời, một mai đưa tới rạng ngời vinh quang”( Tv 73, 23 ). Thánh nhân có ơn Chúa ban đặc biệt, nên khi các bè rối nổi lên tung hoành khắp nơi, nhất là tại miền Grisons, thánh nhân được Bề Trên sai tới để chấn hưng đức tin công giáo. Nhiều người thuộc các bè rối đã ăn năn trở lại. Nhưng một số kẻ cuồng tín tức giận đã âm mưu hại Ngài và giết chết Ngài cho hả lòng căm tức cuồng nhiệt của họ.

THÁNH NHÂN LÃNH TRIỀU THIÊN TỬ ĐẠO

“ Ai gieo trong nước mắt, sẽ về giữa tiếng cười…”, ngày 24 tháng 4 năm 1622, tại một ngôi thánh đường ở Sévis, thánh nhân đã bị những kẻ âm mưu hãm hại, đánh đập hết sức dã man, tàn nhẫn và giết chết. Chúa đã thưởng công Ngài bằng việc cho Ngài làm nhiều phép lạ để minh chứng sự thánh thiện của Ngài:” Còn hạnh phúc của con là ở kề bên Chúa, chốn ẩn thân đặt ở Chúa Trời. Mọi việc Ngài làm con xin kể lại, nơi cửa vào thành thánh Xi-on”( Tv 73, 28 ). Đức Giáo Hoàng Benoit XIV đã cất nhắc thánh nhân lên bậc hiển thánh để cho toàn Giáo Hội soi chung.

“Lạy Chúa, Chúa đã cho thánh Phiđen, lòng nhiệt thành yêu mến Chúa và được phúc tử đạo đang khi Người truyền bá đức tin. Vì lời thánh nhân chuyển cầu, xin ban cho chúng con một đức ái mãnh liệt để cùng Người, chúng con được nghiệm thấy quyền năng của Đức Kitô phục sinh”( Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh Phiđen ).

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

http://giaophanthaibinh.org/a7489/Ngay-24-4-Thanh-Fidele-de-Sigmaringa-St-Fidelis-of-Sigmaringen-tu-dao.aspx

 

Thánh Fidelê, tên thật là Marê Rey, sinh ra năm 1528 ở Sigmaringa nước Đức. Sau những ngày trong tuổi thơ ấu trong trắng vô tội, Ngài được gởi đi học tại đại học tại Friburg, Thụy Sĩ. Để tự chủ, Marê thực hiện nhiều việc bỏ mình nghiêm ngặt. Khi đã hoàn tất cấp bậc tiến sĩ về triết học, Ngài đã tỏ ra rất mực khôn ngoan đến nỗi người ta gọi Ngài là triết gia Kitô giáo.

Năm 1604, công tước Stotzngen xin Ngài hướng dẫn cho con mình và hai nhà quí phái khác trong một cuộc du hành khắp các vương quốc Âu Châu để học hiểu. Cuộc du hành kéo dài sáu năm. Marê đã khuyên nhủ họ nhiều điều không thể quên được. Ngài thúc giục họ phải biết thắng vượt chính mình: – Sống xa hoa nhẹ dạ, người ta bất xứng với vinh quang thực mà chỉ chinh phục được bằng nỗ lực và bằng việc chà đạp vui thú dưới chân.

Sau cuộc viễn du những nhà quí phái trẻ muốn Ngài đừng bỏ họ. Ngài đã theo học luật. Và sau khi nhận bằng tiến sĩ luật Ngài lập văn phòng luật sư ở Colmar. Ngài quyết thực thi đức ái đến nỗi Ngài được gọi là luật sư của dân nghèo. Nhưng nghề nghiệp đã cứu giúp Ngài khám phá ra được những bất lương của cuộc đời. Quyết định theo đuổi đời sống hoàn hảo, Ngài tới gõ cửa dòng Phanxicô. Năm 1612 Ngài được danh hiệu Fiđêlê.

Vị luật sư trở thành thầy dòng làm cho ma quỉ tức giận. Trước các cơn cám dỗ, thày Fiđêlê bối rối, nhưng thử thách tan biến khi Ngài đến giải bày nỗi lòng với một linh mục giàu kinh nghiệm, Người đã dạy Ngài cầu nguyện nhiều hơn,

Fiđêlê đã khẩn cầu tha thiết. – Lạy Chúa cứu chuộc con, xin trả lại niềm vui cần thiết và bình an tâm hồn. Xin hãy tẩy sạch mọi nghi ngờ để ý Chúa được thực hiện và để con thắng vượt quân thù, thắng con người và những đam mê của con.

Fiđêlê nỗ lực hy sinh hãm mình cho đến khi Thiên Chúa ban lại bình an cùng ánh sáng cho Ngài. Từ đó thánh nhân luôn trung thành quảng đại hiến mình cho Chúa. Ngài nói: – Thật bất hạnh nếu tôi là một chiến sĩ dưới quyền thủ lãnh đầu đội mão gai, mà lại chiến đấu một cách yếu hèn.

Khi được chọn làm bề trên tu viện ở Weltkirvhen, Ngài được ơn làm phép lạ để hoán cải người ta. Gặp thời dịch tể, Ngài hết mình phục vụ các bệnh nhân. Người ta thấy Ngài ở khắp nơi, trong nhà thương, ở tư gia, chạy trên đường phố, săn sóc thân xác linh hồn mọi người và thường chữa lành cho cả hồn lẫn xác.

Lạc giáo tàn phá miền Grisons. Đức giáo hoàng giao cho thánh Fiđêlê trách nhiệm đối phó với nhóm người theo phái Calvin. Thánh nhân giã từ tu viện, để lại bao nhiêu là xúc động, Ngài từ biệt dân Weltkirchen như đi chịu tử đạo.

Nhưng với các bạn đồng hành, Ngài khích lệ: – Nào chúng ta lên đường tới nơi mà Chúa kêu gọi và mùa gặt thúc bách.

Ngài giảng cho dân chúng, dạy người nghèo, thông truyền giáo lý cho trẻ em.

Để cứu một linh hồn, Ngài cũng sẵn sàng đi chân không vượt qua mọi sỏi đá tuyết sương. Những người Thệ phản bực tức vì sự anh dũng của thánh nhân nên họ quyết thủ tiêu Ngài. Thư từ Ngài viết còn ghi: – Thầy Fiđêlê sẽ sớm làm mồi cho sâu bọ.

Một lần kia, sau bài giảng hùng hồn, thánh nhân xin bạn mình ngồi tòa giải tội vì Ngài phải đi Seewis không biết có điều gì sẽ xảy ra, nhiều người lo lắng cầu nguyện cho Ngài.

Một người đã hỏi : – Nếu các người theo lạc giáo tấn công thì Cha làm sao ?

Thánh Fiđêlê trả lời : – Tôi sẽ làm như các vị tử đạo. Tôi sẽ vui mừng đón nhận cái chết vì tình yêu Chúa và coi đó như một ân huệ lớn lao dành cho tôi.

Ngài thường nói : – Lạy Chúa, con phải chịu khó với Chúa nếu con muốn được hoàn toàn thuộc về Chúa.

Tại Seewis, Ngài rung chuông tập họp dân chúng lại. Một tiếng súng nổ, nhưng không trúng Ngài. Trên đường về Grisch, Ngài bị một nhóm binh sĩ lạc giáo xông vào đánh đập, Ngài chỉ nói được trong hơi thở yếu ớt: – Tôi hiến mạng sống tôi để các bạn nhận biết đức tin của tổ tiên chúng ta.

Bị đập, Ngài vẫn gắng gượng để thốt lên : – Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con. Lạy Mẹ Maria, xin giúp đỡ con.

Và Ngài đã xin Thiên Chúa tha cho kẻ thù mình và gục ngã dưới lưỡi gươm ngày 24 tháng 04 năm 1622.

https://huyha.net/thanh-fidele-de-sigmaringa-tu-dao-1528-1622-ngay-24-4/

 

http://giaophanvinhlong.net/thanh-fidele-de-sigmaringa-tu-dao-15281622.html

 

 

 

THÁNH MARCÔ THÁNH SỬ

25/4/2023 -  Thứ Bảy


St. Marco

 

 

Lời nguyện nhập lễ

Lạy Chúa, Chúa đã ban cho thánh Mác-cô vinh dự rao giảng và ghi chép Tin Mừng. Xin cho chúng con được hiểu thấu những lời thánh nhân giảng dạy để trung thành bước theo Chúa Kitô là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.


Marcô là ai? Chắc chắn ngài không phải là một trong 12 tông đồ. Nhưng một người tên Marcô đã được các cộng đoàn Kitô giáo sơ khai biết đến, nhiều như là người bạn đồng hành của thánh Phaolô và như người bạn thân ái của thánh Phêrô ở Rôma (Cl 4,10; 1Pr 5,13; 2Tim 4,11). Sách Công vụ ba lần nói tới một "Gioan cũng gọi là Marcô" (Cv 12,12; 25,15.17) là bạn thiết của thánh Barnaba.
 
Các học giả thường đồng ý rằng : Marcô đã được nói tới trong các thánh thư, Gioan tên Marcô trong sách công vụ và tác giả Phúc âm thứ II đều chỉ là một người. Đồng ý với sự đồng hóa trên, chúng ta có thể phác họa hình ảnh của thánh sử như sau:

 
  • Ngài là con của Maria. Một góa phụ giàu có ở Giêrusalem có một người giúp việc và căn nhà rộng rãi làm nơi tụ họp các tín hữu.
 
Năm 43, sau khi thoát khỏi ngục tù, thánh Phêrô đã chọn nhà này làm nơi trú ngụ (Cv 12,12-17). Như thế, Marcô sớm quen thuộc với những ghi nhận của thánh Phêrô. Hai năm sau, tức là năm 45, chúng ta thấy Marcô và thánh Barnaba cùng đi trong cuộc hành trình thứ nhất của Phaolô. Nhưng khi đoàn truyền giáo đi về hướng bắc, Marcô đã từ giã để trở về Giêrusalem (Cv 13,13). Phaolô bất bình và không muốn nhận cho Marcô đi theo trong cuộc hành trình thứ hai. Năm 50, như Barnaba đề nghị, Barnaba về phe với Marcô, và đáp tàu về Cyprus là quê hương của Barnaba (Cv 15,36-39).
 
Chúng ta không thấy nói gì đến Marcô nữa cho tới năm 61 khi ngài ở Rôma với Phaolô (Cl. 4,10), ba năm sau tức là năm 64 thánh nhân vẫn có mặt ở Rôma vì Phêrô có nhắc tới tên người trong các lời chào của mình (1Pr 5,13). Đây là năm thánh Phêrô chịu tử đạo. Ít lâu sau đó có lẽ thánh Marcô đã bắt đầu viết sách Phúc âm ở Rôma, dầu một số tác giả mới đây cho rằng ở Alexandria. Năm 67, thánh sử ở Ephesô vì một ít tháng trước khi qua đời, thánh Phaolô dặn dò Timothêô đưa theo Marcô đến Rôma (2Tm 4,14). Mối bất hòa xưa đã được hàn gắn hoàn toàn.
 
Từ đây, chúng ta phải dựa vào truyền thống để tìm hiểu về Marcô. Có lẽ sau khi thánh Phêrô qua đời, Marcô đi rao giảng ở Alaexandria thành lập và làm Giám mục giáo đoàn này. Sự kiện không được chắc vì các bậc tiến sĩ của Alexandria như Clêmente (200), và Origênê (203) không nhắc nhở gì đến.
 
Cuốn Chronicon-Pascale không mấy có thế giá cho rằng : Marcô đã làm Giám mục ở Alexandrie và bị thiêu sống dưới thời Trajanô (năm 98 - 117).
 
Dựa vào bút pháp của Marcô, chúng ta cố gắng tìm hiểu tính khí của ngài. Tính chất sống động của Phúc âm thứ II biểu lộ rõ chứng tích mục kiến của Phêrô, chứ không phải của Marcô, dầu có thể là Marcô đã chứng kiến việc bắt bớ Chúa Giêsu vì các nhà chú giải đồng hóa ngài với người thanh niên vô danh bỏ chạy mình trần (Mc 14,50-52). Dầu vậy, thánh Marcô không phải là một máy ghi âm diễn lại lời của Phêrô, ngài là tác giả ghi lại ký ức của Phêrô với bút pháp riêng. Ngài là người ít lời (673 câu so với 1068 câu nơi Matthêu) và có giọng văn không chải chuốt.
 
Người ta có thể cho rằng: Ngài không có khả năng viết văn cho duyên dáng. Nhưng với những khiếm khuyết này, Marcô lại tỏ ra rất chân thành, ngài đã ương ngạnh từ chối việc bỏ bớt những sự kiện vụng về hay là giải thích chúng. Chẳng hạn không thánh sử nào giấu giếm sự chậm hiểu của các thánh tông đồ, nhưng ở Marcô nhấn mạnh : "Lòng họ ra như chai lại" ( Mc 6,51). Marcô cũng không che dấu tham vọng không thể tin nổi của họ (Mc 9,34). Chính Phêrô cũng rất thẳng thắn:

 "Ông không biết phải đáp ứng làm sao" (Mc 9,6). Có lẽ chứng cớ hùng hồn nhất nói lên sự lương thiện của Marcô là ngài đã liều tỏ ra mâu thuẫn với chính mình.
 
Chẳng hạn đối với ngài Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa với ý nghĩa đầy đủ nhất của từ ngữ "vượt các thiên thần" (3,32) "có quyền tha tội" (2,10). Nhưng rồi ngài không ngần ngại viết rằng: "Ở Nazareth Người đã không làm được phép lạ nào" (6,5) ngài cũng không dấu diếm sự kiện bà con Chúa Giêsu nghi ngờ Người thiếu khôn ngoan (3,21) hay sự kiện Chúa Giêsu thất vọng với cây vả không trái (11,13). Những chi tiết loại này khiến cho tựa đề của Marcô được nguyên vẹn (Phúc âm Chúa Giêsu Kitô Con Thiên Chúa) nhưng lại mang dáng vẻ khó hiểu vì ngài đã không thèm dấu giếm gì hết. Với một sử gia tài danh như vậy, chúng ta rất an tâm.
 
Tại đền thờ thánh Marcô người ta nói có chôn dưới bàn thờ thánh nhân do các thương gia mang từ Alexandria về vào thế kỷ IX.
 
Thánh sử được biểu trưng bằng hình con sư tử vì Phúc âm của ngài mở dầu bằng tiếng nói oai hùng của Gioan Tẩy Giả từ trong sa mạc. Đọc Phúc âm theo thánh Marcô, chúng ta như có thể nghe tiếng nói thô sơ của thánh sử:

"Đừng nhìn tôi, hãy nhìn Người".


Lm. Phaolô Phạm Quốc Tuý - Theo Vết Chân Người

https://giaophanphucuong.org/phung-vu-chu-thanh/thanh-marco---thanh-su-the-ky-i-1297.html



Lời nguyện tiến lễ

Lạy Chúa, nhân ngày lễ kính thánh Mác-cô, chúng con dâng lên Chúa của lễ này để ca tụng tạ ơn Chúa. Xin Chúa thương chấp nhận và cho Giáo Hội mãi trung kiên rao giảng Tin Mừng. Chúng con cầu xin...

1. Ghi nhận lịch sử - Phụng Vụ

Tín hữu thuộc các Giáo hội cổ Ai Cập, Syrie và Byzantin đều mừng kính thánh Marcô vào ngày 25 tháng 4. Ở Tây Phương, kể từ thế kỷ IX, người ta cũng mừng lễ thánh nhân vào ngày này.

Marcô (tiếng Hy-lạp: Marcos, và la ngữ: Marcus = búa) được gọi là “môn đệ và phát ngôn viên của Phêrô” đồng thời là tác giả sách Tin Mừng thứ hai, theo như lời lưu truyền rất xưa, từ thời Trưởng lão Gioan (cuối thế kỷ I) được Papias (khoảng 150), giám mục thành Hierapolis (Phrygie) thuật lại. Người xưa thường đồng hóa tác giả sách Tin Mừng Marcô với Gioan Marcô, mà sách Công vụ Tông Đồ và các thư của thánh Phaolô thường nhắc đến. Họ nói người xuất thân từ Giêrusalem (Cv 12,12), là bạn đồng hành với Phaolô và Banabé (Cv12,25; 13,5,13 ...) sau đó với Phêrô tại “Babylon” (1 Pr 5,13) ngụ ý là Rôma.

Một truyền tụng khác từ thế kỷ III cho rằng thánh Marcô thiết lập giáo đoàn Alexandrie (Ai Cập), nơi đây ngài đã tử vì đạo. Thi hài của ngài ban đầu được tôn kính gần Alexandrie, rồi được các lái buôn thành Venise chuyển về thành phố của họ vào thế kỷ IX. Các thánh tích của ngài hiện được lưu giữ và tôn kính tại đại thánh đường dâng kính ngài (thánh đường thánh Marcô).

Biểu hiện hình ảnh của thánh Marcô là con sư tử, con vật của vùng sa mạc thảo nguyên. Quả thật sách Tin Mừng của Marcô khởi đầu bằng việc trình bày Gioan Tẩy giả như là tiếng hô trong sa mạc (1,3).

2. Thông điệp và tính thời sự

Phụng Vụ tôn vinh Marcô trước tiên do chính công soạn sách Tin Mừng của ngài. Ngài là người đầu tiên soạn thảo “sách Tin Mừng”, có lẽ tại Rôma, giữa các năm 40 và 75. Là phát ngôn viên của Tông Đồ Phêrô, ngài thuật lại bằng tiếng Hy Lạp - qua một câu chuyện sống động và cụ thể cuộc đời Đức Giêsu từ lúc chịu thanh tẩy cho đến khi sống lại. Đối với ngài, cuộc Khổ Nạn mang một tầm quan trọng đặc biệt.

a. Lời xướng đáp và lời nguyện đầu lễ nhấn mạnh tầm quan trọng trong việc loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo, cũng như Đức Giêsu công bố điều này trong chương cuối sách Tin Mừng của Marcô mà chúng ta đọc một trích đoạn trong Thánh lễ: Đức Giêsu nói với mười một Tông Đồ: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” ... còn họ (nhóm mười một) thì ra đi rao giảng Tin Mừng khắp nơi (16,15 ... 20).

b. Lời tung hô Tin Mừng nhắc lại (1 Cr 1, 23 –24): Chúng tôi rao giảng Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa.

Quả vậy trong sách Tin Mừng Marcô, mọi sự đều tập trung vào Giêsu, Đấng Kitô. Là Người thật và rất nhân ái, là Con Người (2,10...) nên Người chạnh lòng thương đám đông (8,2); Người ôm lấy các trẻ em và đặt tay chúc lành cho chúng (10,16); Người cảm thấy hãi hùng và xao xuyến (14,33). Nhưng Người cũng dần dần tự tỏ mình ra như Đấng Thánh của Thiên Chúa (9,24) hay Con Thiên Chúa (3,11...) biểu lộ quyền năng Thiên Chúa của mình qua nhiều dấu lạ. Marcô mô tả chừng hai mươi dấu lạ. Các dấu lạ Người làm khiến mọi người hỏi nhau rằng: thế nghĩa là gì ? (1,27) hay: vậy người này là ai ? (4,41). Chính Đức Giêsu cũng hỏi các Tông Đồ: Anh em bảo Thầy là ai ? (8,29). Phêrô trả lời: Thầy là Đức Kitô (= Đấng Mêssias), còn viên đại đội trưởng ngoại giáo, nhân chứng cuộc đóng đinh Đức Giêsu vào thập giá, đã thốt lên: Quả thật, người này là con Thiên Chúa ! (15,39).

c. Lời nguyện đầu lễ kết thúc với lời xin Thiên Chúa ban ơn cho chúng ta, nhờ lời giảng dạy của Marcô, được trung thành “bước theo Đức Kitô”.

Phần hai của sách Tin Mừng Marcô (9 –16) chỉ rõ cụ thể cách thế để theo Đức Giêsu. Cũng như con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày sống lại (8,31), cũng thế, Đức Giêsu phán: Ai muốn theo Tôi phải từ bỏ chính mình,vác thập giá mình mà theo. Nói cách khác, người môn đệ chân chính là người dám liều mất mạng sống mình vì Đức Kitô và vì Tin Mừng. Đức Giêsu còn nói: Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy (8,35).

http://gpbanmethuot.com/tin-mung-chua-nhat---le-trong/ngay-254-thanh-mac-co---thanh-su-49005.html

.

Lời nguyện hiệp lễ

Lạy Thiên Chúa toàn năng chúng con vừa lãnh nhận bí tích Thánh Thể nơi bàn thờ Chúa. Xin cho bí tích này thánh hoá chúng con và làm cho chúng con vững tin vào Tin Mừng mà thánh Mác-cô đã rao giảng. Chúng con cầu xin...