SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO

Chúa Nhật
Lời Chúa
Bài Ðọc I: 1Sm 16, 1b. 6-7. 10-13a
"Ðavit được xức dầu làm vua Israel".
Trích sách Samuel quyển thứ nhất.
Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Samuel rằng: "Hãy đổ dầu cho đầy bình và lên đường. Ta sai ngươi đến nhà Isai dân thành Bêlem, vì Ta chọn một người con của ông ấy lên làm vua".
Khi (họ) vào nhà, Samuel gặp ngay Eliab và nói: "Có phải người xức dầu của Chúa đang ở trước mặt Chúa đây không?" Và Chúa phán cùng Samuel: "Ðừng nhìn xem diện mạo, vóc cao, vì Ta đã loại nó rồi. Ta không xem xét theo kiểu của con người, vì chưng con người nhìn xem bên ngoài, còn Thiên Chúa thì nhìn xem tâm hồn". Isai lần lượt đem bảy đứa con mình ra trình diện với Samuel. Samuel nói với Isai: "Chúa không chọn ai trong những người này". Samuel nói tiếp: "Tất cả con ông có bấy nhiêu đó phải không?" Isai đáp: "Còn một đứa út nữa, nó đi chăn chiên". Samuel nói với Isai: "Ông hãy sai người đi gọi nó về, vì chúng ta không ngồi vào bàn ăn trước khi nó về". Isai sai người đi tìm đứa con út. Ðứa út này có mái tóc hoe, có đôi mắt xinh và gương mặt đẹp. Chúa phán: "Ngươi hãy chỗi dậy, xức dầu lên nó, vì chính nó đó". Samuel lấy bình dầu ra, xức lên nó trước mặt các anh em, và Thánh Thần Chúa ngự trong Ðavít từ ngày đó trở đi.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 22, 1-3a. 3b-4. 5. 6
Ðáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi (c. 1).
Xướng: 1) Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi; trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi; tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng. - Ðáp.
2) Người dẫn tôi qua những con đường đoan chính, sở dĩ vì uy danh Người. - Dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con. Cây roi và cái gậy của Ngài, đó là điều an ủi lòng con. - Ðáp.
3) Chúa dọn ra cho con mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối phương; đầu con thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu con đầy tràn chan chứa. - Ðáp.
4) Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi, hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài. - Ðáp.
Bài Ðọc II: Ep 5, 8-14
"Từ trong cõi chết, ngươi hãy đứng lên và Chúa Kitô sẽ chiếu sáng trên ngươi".
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Êphêxô.
Anh em thân mến, xưa kia anh em là sự tối tăm, nhưng bây giờ, anh em là sự sáng trong Chúa. Anh em hãy ăn ở như con của sự sáng, bởi vì hoa trái của sự sáng ở tại tất cả những gì là tốt lành, là công chính và chân thật. Anh em hãy nhận biết điều gì làm đẹp lòng Chúa, và đừng thông phần vào những việc con cái tối tăm không sinh lợi ích gì, nhưng phải tố cáo thì hơn. Vì chưng, việc chúng làm cách thầm kín, dầu có nói ra cũng phải hổ thẹn. Nhưng tất cả những việc người ta tố cáo, thì nhờ sự sáng mà được tỏ bày ra; vì mọi việc được tỏ bày, đều là sự sáng. Bởi thế, thiên hạ nói: "Hỡi kẻ đang ngủ, hãy thức dậy, hãy vùng dậy ra khỏi cõi chết, và Chúa Kitô sẽ chiếu sáng trên ngươi".
Ðó là lời Chúa.
Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ga 8, 12b
Chúa phán: "Ta là sự sáng thế gian, ai theo Ta, sẽ được ánh sáng ban sự sống".
Phúc Âm: Ga 9, 1-41 (bài dài)
"Hắn đi rửa, rồi trở lại trông thấy rõ".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu đi qua, thấy một người mù từ khi mới sinh. Môn đệ hỏi Người: "Thưa Thầy, ai đã phạm tội, anh này hay cha mẹ anh, khiến anh mù từ khi mới sinh?" Chúa Giêsu đáp: "Không phải anh cũng chẳng phải cha mẹ anh đã phạm tội, nhưng để công việc của Thiên Chúa tỏ ra nơi anh. Bao lâu còn ban ngày, Ta phải làm những việc của Ðấng đã sai Ta. Ðêm đến không ai có thể làm việc được nữa. Bao lâu Ta còn ở thế gian, Ta là sự sáng thế gian". Nói xong, Người nhổ xuống đất, lấy nước miếng trộn thành bùn, rồi xoa bùn trên mắt người ấy và bảo: "Anh hãy đến hồ Silôê mà rửa" (chữ Silôê có nghĩa là được sai). Anh ta ra đi và rửa, rồi trở lại thì trông thấy được.
Những người láng giềng và những kẻ xưa kia từng thấy anh ta ăn xin đều nói: "Ðó chẳng phải là người vẫn ngồi ăn xin sao?" Có kẻ nói: "Ðúng hắn!" Lại có người bảo: "Không phải, nhưng là một người giống hắn". Còn anh ta thì nói: "Chính tôi đây". Họ hỏi anh: "Làm thế nào mắt anh được sáng?" Anh ta nói: "Người mà thiên hạ gọi là Giêsu đã làm bùn xức mắt tôi và bảo: Ngươi hãy đến hồ Silôê mà rửa. Bấy giờ tôi đi, tôi rửa và tôi trông thấy". Họ lại hỏi: "Ngài ở đâu?" Anh thưa: "Tôi không biết".
Họ liền dẫn người trước kia bị mù đến với những người biệt phái, lý do tại Chúa Giêsu hoà bùn và chữa mắt cho anh ta lại nhằm ngày Sabbat. Các người biệt phái cũng hỏi anh ta do đâu được sáng mắt? Anh đáp: "Ngài đã xoa bùn vào mắt tôi, tôi đi rửa và tôi được sáng mắt". Mấy người biệt phái nói: "Người đó không phải bởi Thiên Chúa, vì không giữ ngày Sabbat". Mấy kẻ khác lại rằng: "Làm sao một người tội lỗi lại làm được những phép lạ thể ấy?" Họ bất đồng ý kiến với nhau. Họ liền quay lại hỏi người mù lần nữa: "Còn anh, anh nói gì về người đã mở mắt cho anh?" Anh đáp: "Ðó là một tiên tri".
Nhưng người Do-thái không muốn tin anh đã mù và đã được khỏi trước khi đòi cha mẹ anh đến. Họ hỏi hai ông bà: "Người này có phải là con hai ông bà mà ông bà bảo bị mù từ khi mới sinh không? Do đâu mà bây giờ nó lại trông thấy?" Cha mẹ y thưa rằng: "Chúng tôi xác nhận đây chính là con chúng tôi, và nó đã bị mù từ khi mới sinh. Nhưng làm sao mà bây giờ nó trông thấy, và ai đã mở mắt cho nó thì chúng tôi không biết. Nó khôn lớn rồi, các ông hãy hỏi nó, nó sẽ tự thưa lấy". Cha mẹ anh ta nói thế bởi sợ người Do-thái, vì người Do-thái đã bàn định trục xuất khỏi hội đường bất cứ ai dám công nhận Chúa Giêsu là Ðấng Kitô. Chính vì lý do này mà cha mẹ anh ta nói: "Nó khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó".
Lúc ấy người Do-thái lại gọi người trước kia đã mù đến và bảo: "Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa! Phần chúng ta, chúng ta biết người đó là một kẻ tội lỗi". Anh ta trả lời: "Nếu đó là một người tội lỗi, tôi không biết; tôi chỉ biết một điều: trước đây tôi mù và bây giờ tôi trông thấy". Họ hỏi anh: "Người đó đã làm gì cho anh? Người đó đã mở mắt anh thế nào?" Anh thưa: "Tôi đã nói và các ông đã nghe, các ông còn muốn nghe gì nữa? Hay là các ông cũng muốn làm môn đệ Ngài chăng?" Họ liền nguyền rủa anh ta và bảo: "Mày hãy làm môn đệ của người đó đi, còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của Môsê. Chúng ta biết Thiên Chúa đã nói với Môsê, còn người đó chúng ta không biết bởi đâu mà đến". Anh đáp: "Ðó mới thật là điều lạ: người đó đã mở mắt cho tôi, thế mà các ông không biết người đó bởi đâu. Nhưng chúng ta biết rằng Thiên Chúa không nghe lời những kẻ tội lỗi, mà hễ ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý Chúa, thì kẻ đó mới được Chúa nghe lời. Xưa nay chưa từng nghe nói có ai đã mở mắt người mù từ khi mới sinh. Nếu người đó không bởi Thiên Chúa thì đã không làm được gì". Họ bảo anh ta: "Mày sinh ra trong tội mà mày dám dạy chúng ta ư?" Rồi họ đuổi anh ta ra ngoài.
Chúa Giêsu hay tin họ đuổi anh ta ra ngoài, nên khi gặp anh, Người liền bảo: "Anh có tin Con Thiên Chúa không?" Anh thưa: "Thưa Ngài, nhưng Người là ai để tôi tin Người?" Chúa Giêsu đáp: "Anh đang nhìn thấy Người và chính Người đang nói với anh". Anh ta liền nói: "Lạy Ngài, tôi tin", và anh ta sấp mình thờ lạy Người. Chúa Giêsu liền nói: "Chính vì để luận xét mà Ta đã đến thế gian hầu những kẻ không xem thấy, thì được xem thấy, và những kẻ xem thấy, sẽ trở nên mù". Những người biệt phái có mặt ở đó liền nói với Người: "Thế ra chúng tôi mù cả ư?" Chúa Giêsu đáp: "Nếu các ngươi mù, thì các ngươi đã không mắc tội; nhưng các ngươi nói "Chúng tôi xem thấy", nên tội các ngươi vẫn còn".
Ðó là lời Chúa.
Hoặc đọc bài vắn này: Ga 9, 1. 6-9. 13-17. 34-38
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu đi qua, thấy một người mù từ khi mới sinh. Người nhổ xuống đất, lấy nước miếng trộn thành bùn, rồi xoa bùn trên mắt người ấy, và bảo: "Anh hãy đến hồ Silôe mà rửa" (chữ Silôe có nghĩa là được sai)". Anh ta ra đi và rửa, rồi trở lại thì trông thấy được.
Những người láng giềng và kẻ xưa kia từng thấy anh ta ăn xin đều nói: "Ðó chẳng phải là người vẫn ngồi ăn xin sao?" Có kẻ nói: "Ðúng hắn". Lại có người bảo: "Không phải, nhưng là một người giống hắn". Còn anh ta thì nói: "Chính tôi đây".
Họ liền dẫn người trước kia bị mù đến với những người biệt phái, lý do tại Chúa Giêsu hoà bùn và chữa mắt cho anh ta lại nhằm ngày Sabbat. Các người biệt phái cũng hỏi anh ta do đâu được sáng mắt. Anh đáp: "Ngài đã xoa bùn vào mắt tôi, tôi đi rửa và tôi được sáng mắt". Mấy người biệt phái nói: "Người đó không phải bởi Thiên Chúa, vì không giữ ngày Sabbat". Mấy kẻ khác lại rằng: "Làm sao một người tội lỗi lại làm được những phép lạ thể ấy?" Họ bất đồng ý kiến với nhau. Họ liền quay lại hỏi người mù lần nữa: "Còn anh, anh nói gì về người đã mở mắt cho anh?" Anh đáp: "Ðó là một Tiên tri". Họ bảo anh ta: "Mày sinh ra trong tội mà mày dám dạy chúng ta ư?" Rồi họ đuổi anh ta ra ngoài.
Chúa Giêsu hay tin họ đuổi anh ra ngoài, nên khi gặp anh, Người liền bảo: "Anh có tin Con Thiên Chúa không?" Anh thưa: "Thưa Ngài, nhưng Người là ai để tôi tin Người?" Chúa Giêsu đáp: "Anh đang nhìn thấy Người và chính Người đang nói với anh". Anh ta liền nói: "Lạy Ngài, tôi tin", và anh ta sấp mình thờ lạy Người.
Ðó là lời Chúa.

Suy niệm
... để nhờ đó anh ta có thể nhìn thấy Người bằng cả đôi mắt thể lý của anh ta
và nhận biết Người bằng đôi mắt tâm linh của anh ta nữa: "Lạy Ngài, tôi tin".
Vẫn theo chiều hướng dự tòng dọn mình lãnh nhận Phép Rửa Kitô giáo ở 3 tuần cuối của Mùa Chay, một chiều hướng tái sinh bởi nước và Thần Linh, vị Thần Linh được Chúa Kitô Vượt Qua ban cho các tông đồ là nền tảng của Giáo Hội khi Người phục sinh từ trong kẻ chết, Giáo Hội tiếp tục sử dụng bài Phúc Âm theo Thánh ký Gioan (hơn là Thánh ký Mathêu theo chu kỳ phụng vụ Năm A). Thật vậy, chủ đề cho chung phụng vụ lời Chúa, đặc biệt là nội dung của Bài Phúc Âm, nếu Chúa Nhật III Mùa Chay tuần trước phụng vụ Lời Chúa liên quan đến mạch nước sự sống, thì Chúa Nhật IV Mùa Chay tuần này phụng vụ Lời Chúa liên quan đến ánh sáng thần linh.
Thật vậy, ở Bài Đọc 1 được trích từ Sách Samuel quyển một, tuy không hề đề cập rõ ràng đến ánh sáng, nhưng lại gián tiếp liên quan đến ánh sáng thần linh, đến việc sáng suốt nhận thức và khôn ngoan chọn lựa đúng như ý Chúa muốn. Ở chỗ, Vị sứ giả Samuel được Thiên Chúa sai "đến nhà Isai dân thành Bêlem", vì Ngài đã "chọn một người con của ông ấy lên làm vua", nhưng không cho Samuel biết đích danh là ai, để xem vị sứ giả này tự mình khôn ngoan tới đâu, sáng suốt đến cỡ nào.
Thế nhưng, thực tế đã cho thấy ngài sứ giả Samuel theo trực giác tự nhiên đã bị lầm lẫn ngay từ đầu: "Samuel gặp ngay Eliab và nói: 'Có phải người xức dầu của Chúa đang ở trước mặt Chúa đây không?' Và Chúa phán cùng Samuel: 'Ðừng nhìn xem diện mạo, vóc cao, vì Ta đã loại nó rồi. Ta không xem xét theo kiểu của con người, vì chưng con người nhìn xem bên ngoài, còn Thiên Chúa thì nhìn xem tâm hồn'". Và cuối cùng, nhờ ánh sáng thần linh, sứ giả Samuel đã xức dầu phong vương đúng con người được Thiên Chúa tuyển chọn: "'Ngươi hãy chỗi dậy, xức dầu lên nó, vì chính nó đó'. Samuel lấy bình dầu ra, xức lên nó trước mặt các anh em, và Thánh Thần Chúa ngự trong Ðavít từ ngày đó trở đi".
Bởi thế, tâm tình của chung Bài Đáp Ca hôm nay, cách riêng câu họa của bài Đáp Ca này thật là thích hợp cho cả sứ giả Samuel đã nhờ ánh sáng thần linh của Chúa mà xức dầu đúng nhân vật được Ngài dự tính tuyển chọn: "Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi". Phần thiếu niên Đavít, chính nhờ "Thánh Thần Chúa ngự trong Ðavít từ ngày đó trở đi" mà Đavít đã có được cảm nghiệm thần linh về sự hiện diện của Chúa nơi bản thân mình, cũng như về sự dẫn dắt của Chúa trong cuộc đời của mình từ nhỏ, nhất là trong vai trò chăn dắt dân Chúa của Đavít, một cảm nghiệm thần linh đã được chính ngài là tác giả Thánh Vịnh sau này bày tỏ trong đoạn thứ 22 ở Bài Đáp Ca hôm nay:
1) Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi; trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi; tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng.
2) Người dẫn tôi qua những con đường đoan chính, sở dĩ vì uy danh Người. - Dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con. Cây roi và cái gậy của Ngài, đó là điều an ủi lòng con.
3) Chúa dọn ra cho con mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối phương; đầu con thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu con đầy tràn chan chứa.
4) Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi, hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài.
Ở Bài Đọc 2, Vị Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô đã nhắc nhở Kitô hữu thuộc Giáo đoàn Êphêsô gốc gác dân ngoại này rằng: "Xưa kia anh em là sự tối tăm, nhưng bây giờ, anh em là sự sáng trong Chúa". Bởi vì họ cũng như tất cả mọi dân tộc khác không phải là dân Do Thái là dân tộc được vị Thiên Chúa chân thật duy nhất "là ánh sáng" (1Gioan 1:5) tuyển chọn để tỏ mình ra cho trong suốt giòng lịch sử cứu độ của dân tộc ưu tuyển này, nên tất cả dân ngoại đều "ngồi trong tăm tối và trong bóng sự chết" (Luca 1:79), cho đến "thời gian viên mãn" (Galata 4:4), thời điểm "Lời đã hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14), như "ánh sáng thật chiếu soi mọi người đã đến trong thế gian" (Gioan 1:9).
Chính vì họ "được kêu gọi từ tối tăm ra ánh sáng lạ lùng" (1Phêrô 2:9) như thế mà Thánh Phaolô đã khuyên dạy họ hãy sống xứng đáng với thân phận sáng láng của mình: "Anh em hãy ăn ở như con của sự sáng" - Như thế nào? Nếu không phải bằng những gì là lành thánh chân thật: "bởi vì hoa trái của sự sáng ở tại tất cả những gì là tốt lành, là công chính và chân thật", nhờ đó họ mới sống đẹp lòng Thiên Chúa là Đấng chân thật và thiện hảo: "Anh em hãy nhận biết điều gì làm đẹp lòng Chúa, và đừng thông phần vào những việc con cái tối tăm không sinh lợi ích gì, nhưng phải tố cáo thì hơn".
Thật vậy, bởi nguyên tội, bản tính loài người đã bị băng hoại đến độ họ trở thành như bị mù từ lúc mới sinh, một tình trạng mù lòa về tâm linh, đã được tỏ lộ ngay nơi hai nguyên tổ sau nguyên tội. Ở chỗ, cho dù có mở mắt ra sau nguyên tội mà vẫn không nhận biết mình, đến độ vẫn chối quanh chạy tội bằng cách đổ lỗi cho nhau (xem Khởi Nguyên 3: 7,12-13). Thậm chí có thể nói con người mù lòa trước cả nguyên tội nữa. Ở chỗ họ đã tin vào rắn quỉ gian dối hơn tin vào Vị Thiên Chúa Hóa Công vô cùng chân thật của mình mà ăn trái cấm bất tuân tối thượng lệnh và Thánh Ý tối cao của Ngài. Phải, người mù từ bẩm sinh trong bài Phúc Âm cho Chúa Nhật IV Mùa Chay hôm nay là hình ảnh tiêu biểu cho tình trạng mù lòa từ lúc bẩm sinh của con người ngay từ khi còn ở trong vườn địa đàng, thậm chí ngay cả trước nguyên tội nữa; cho dù họ đã được Thiên Chúa dựng nên "rất tốt đẹp" (Khởi Nguyên 1:31) nhưng tự bản chất của mình là tạo vật hữu hạn, so với Thiên Chúa toàn hảo và vô hạn, họ vẫn là loài thụ sinh "bất toàn".
Đúng thế, tự mình, là tạo vật thấp hèn và mang một bản tính thọ sinh không thể nào toàn hảo như Thiên Chúa và toàn hảo bằng Thiên Chúa, Đấng "là ánh sáng, nơi Ngài không có tối tăm" (1Gioan 1:5), mà con người, muốn được hiệp thông thần linh với Thiên Chúa theo dự án tối hậu của việc Ngài dựng nên họ, không thể nào không nhận biết Ngài, nhưng lại cần phải được chính Ngài tỏ mình ra cho, nhờ đó họ mới có thể như người mù từ lúc mới sinh trong Bài Phúc Âm hôm nay, sau khi được chữa lành một cách lạ lùng, đã nhận biết Ngài qua Con của Ngài là Đấng "tỏ Cha ra" (Gioan 1:18): "'Anh có tin Con Thiên Chúa không?' Anh thưa: 'Thưa Ngài, nhưng Người là ai để tôi tin Người?' Chúa Giêsu đáp: 'Anh đang nhìn thấy Người và chính Người đang nói với anh'. Anh ta liền nói: 'Lạy Ngài, tôi tin', và anh ta sấp mình thờ lạy Người".
Người mù từ lúc mới sinh được chữa lành trong Bài Phúc Âm hôm nay, cho dù đã được chữa lành và chưa biết vị đã chữa lành cho mình, nhưng vẫn tỏ ra khôn ngoan sáng suốt hơn thành phần có thẩm quyền trong dân nói chung và thành phần biệt phái duy luật đầy giả hình nói riêng, không bị mù từ thuở mới sinh như anh ta, qua những câu đối đáp của anh ta khiến họ không thể làm gì nổi anh ta, và đã phải đuổi anh ta đi, như Thánh ký Gioan thuật lại trong bài Phúc Âm hôm nay:
"Họ liền dẫn người trước kia bị mù đến với những người biệt phái, lý do tại Chúa Giêsu hoà bùn và chữa mắt cho anh ta lại nhằm ngày Sabbat. Các người biệt phái cũng hỏi anh ta do đâu được sáng mắt. Anh đáp: 'Ngài đã xoa bùn vào mắt tôi, tôi đi rửa và tôi được sáng mắt'. Mấy người biệt phái nói: 'Người đó không phải bởi Thiên Chúa, vì không giữ ngày Sabbat'. Mấy kẻ khác lại rằng: 'Làm sao một người tội lỗi lại làm được những phép lạ thể ấy?' Họ bất đồng ý kiến với nhau. Họ liền quay lại hỏi người mù lần nữa: 'Còn anh, anh nói gì về người đã mở mắt cho anh?' Anh đáp: 'Ðó là một Tiên tri'. Họ bảo anh ta: 'Mày sinh ra trong tội mà mày dám dạy chúng ta ư?' Rồi họ đuổi anh ta ra ngoài".
Nếu so sánh thì cái mù lòa thiêng liêng về tâm linh và đức tin của thành phần biệt phái trong Bài Phúc Âm hôm nay mới đáng thương và cần được chữa lành, hơn là nạn nhân mù từ thuở mới sinh được chữa lành, đúng như Chúa Giêsu đã nhận định và cảnh giác họ: "Nếu các ngươi mù, thì các ngươi đã không mắc tội; nhưng các ngươi nói 'Chúng tôi xem thấy', nên tội các ngươi vẫn còn".
Thật vậy, cái mù lòa về tâm linh mới là những gì gây ra tội, chứ cái mù lòa thể lý cho dù từ lúc mới sinh chẳng những không bởi tội mà còn là dịp để Thiên Chúa được vinh hiển nữa, như chính Chúa Kitô đã khẳng định với thành phần môn đệ của Người, thành phần, như các người biệt phái, vẫn quan niệm là do tội: "Môn đệ hỏi Người: 'Thưa Thầy, ai đã phạm tội, anh này hay cha mẹ anh, khiến anh mù từ khi mới sinh?' Chúa Giêsu đáp: 'Không phải anh cũng chẳng phải cha mẹ anh đã phạm tội, nhưng để công việc của Thiên Chúa tỏ ra nơi anh". Mà quả thực Thiên Chúa đã được vinh hiển nơi nạn nhân mù từ lúc mới sinh này, khi đích thân anh ta đã hiên ngang bênh vực và làm chứng cho Đấng chữa lành cho anh ta, dù anh ta chưa biết rõ Người là ai, và sau khi đã được Người chính thức tỏ mình ra cho thì đã nhận biết Người ngay lập tức bằng cử chỉ sụp lậy Người.
Thành phần giả hình biệt phái mù quáng thật sự là bị mù về tâm linh, một cái mù nguy hiểm hơn là cái mù về thể lý của nạn nhân mù từ lúc mới sinh, vì cái mù tâm linh liên quan đến phần rỗi đời đời của họ. Nhưng, để chữa lành cái mù tâm linh ấy, họ cũng cần phải được Thiên Chúa, qua Con của Ngài "là ánh sáng thế gian" (Gioan 8:12), tái diễn phương pháp chữa lành người mù từ lúc mới sinh, như đầu bài Phúc Âm hôm nay thuật lại: "Người nhổ xuống đất, lấy nước miếng trộn thành bùn, rồi xoa bùn trên mắt người ấy, và bảo: 'Anh hãy đến hồ Silôe mà rửa' (chữ Silôe có nghĩa là được sai). Anh ta ra đi và rửa, rồi trở lại thì trông thấy được".
Đúng thế, để chữa lành cái mù về tâm linh liên quan đến đức tin cứu độ của thành phần biệt phái giả hình trong bài Phúc Âm hôm nay, hay của bất cứ ai mang triệu chứng hoặc bệnh trạng như họ, bất cứ là thành phần nào, họ đều cần đến một yếu tố bất khả thiếu đó là "bùn", một thứ "bùn linh", vì được trộn bởi "nước miếng" từ miệng của chính Chúa Giêsu, và thứ "bùn linh" này còn phải được bôi lên "mắt" của họ, rồi sau đó họ còn cần phải tự rửa sạch thứ "bùn linh" này nữa ở nơi họ cần phải tới (được sai đi = hồ Siloe).
Thứ "bùn linh" đây là gì, nếu không phải là một hợp chất sang hèn lẫn lộn (sang bởi chất nước bọt từ miệng lưỡi của Vị Thiên Chúa làm người + hèn bởi đất là chất làm nên xác thể tầm thường của con người), một hợp chất "bùn linh" bất khả thiếu tiêu biểu cho cả Lời Chúa cao cả lẫn bản chất yếu hèn của con người, một hợp chất có thể nói là tiêu biểu cho mầu nhiệm ngôi hiệp (hypostatic union) ở nơi chính Ngôi Vị Thần Linh là Lời Nhập Thể, Đấng có hai bản tính: Thiên Tính cao sang và nhân tính thấp hèn, Đấng mà "ai theo Tôi sẽ không đi trong tăm tối nhưng sẽ được ánh sáng sự sống" (Gioan 8:32), Đấng đã thực sự chữa lành và tỏ mình ra cho nạn nhân mù từ lúc mới sinh: "Chính Người đang nói với anh đây", để nhờ đó anh ta có thể nhìn thấy Người bằng cả đôi mắt thể lý của anh ta và nhận biết Người bằng đôi mắt tâm linh của anh ta nữa: "Lạy Ngài, tôi tin".
Cho dù đã được bôi thứ bùn linh này lên đôi mắt bị lù từ lúc mới sinh như thế, nạn nhân này vẫn chưa được sáng mắt, cho đến khi đi rửa ở Hồ Siloe, nhờ đó anh ta mới dễ dàng tỏ ra hành động tin tưởng và tôn thờ khi gặp lại chính Đấng chữa lành cho mình, một Đấng tỏ mình ra cho anh bằng tất cả ngôi vị của Người bao gồm cả thần tính lẫn nhân tính, được biểu hiệu qua bùn linh ở trên mắt anh ta, vi nước ở Hồ Siloe lẫn ý nghĩa "sai đi" của hồ này liên quan đến vai trò của Chúa Thánh Thần, một thứ "gió muốn thổi đâu thì thổi" (Gioan 3:8), nhắm đến chỗ "dẫn các con vào tất cả sự thật" (Gioan 16:13) là Chúa Giêsu Kitô. Và vì thế, kinh nghiệm tu đức và sống đức tin cho thấy, cho dù Kitô hữu có được chính Chúa Kitô tỏ mình ra cho, như thể họ được Người đắp bùn lên đôi mắt mù lòa của họ, nhưng họ vẫn chưa nhận ra Người, cho đến khi họ đi rửa, tức là được tác động bởi Thánh Thần, sau đó họ mới nhận ra Chúa Kitô, như người mù từ lúc mới sinh ở đoạn cuối của Bài Phúc Âm hôm nay.
Thứ Hai
Bài Ðọc I: Is 65, 17-21
"Thiên hạ sẽ không còn nghe tiếng khóc lóc và than van nữa".
Trích sách Tiên tri Isaia.
Ðây Thiên Chúa phán: "Này Ta tác tạo trời mới, đất mới; người ta sẽ không
còn nhớ lại dĩ vãng, và cũng sẽ không bận tâm đến dĩ vãng nữa. Nhưng các
ngươi hãy hân hoan và nhảy mừng cho đến muôn đời trong các việc Ta tác tạo,
vì đây Ta tác tạo một Giêrusalem hân hoan và một dân tộc vui mừng. Ta sẽ hân
hoan ở Giêrusalem, sẽ vui mừng nơi dân Ta, và từ đây người ta sẽ không còn
nghe tiếng khóc lóc và than van nữa. Ở đó sẽ không còn trẻ nhỏ chết yểu,
không còn người già chết sớm nữa, vì người chết trăm tuổi cũng còn gọi là
chết trẻ, người không sống đến trăm tuổi, kể là bị chúc dữ. Họ sẽ xây cất
nhà cửa và cư ngụ ở đó, sẽ trồng nho và ăn trái nho".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 29, 2 và 4. 5-6. 11e-12a và 13b
Ðáp: Lạy
Chúa, con ca tụng Chúa vì đã giải thoát con (c. 2a).
Xướng: 1) Lạy Chúa, con ca tụng Chúa vì đã giải thoát con, và không để quân
thù hoan hỉ về con. Lạy Chúa, Ngài đã đưa linh hồn con thoát xa Âm phủ, Ngài
đã cứu con khỏi số người đang bước xuống mồ. - Ðáp.
2) Các tín đồ của Chúa, hãy đàn ca mừng Chúa, và hãy cảm tạ thánh danh Ngài.
Vì cơn giận của Ngài chỉ lâu trong giây phút, nhưng lòng nhân hậu của Ngài
vẫn có suốt đời. Chiều hôm có gặp cảnh lệ rơi, nhưng sáng mai lại được mừng
vui hoan hỉ. - Ðáp.
3) Lạy Chúa, xin nhậm lời và xót thương con, lạy Chúa, xin Ngài gia ân cứu
giúp con. Chúa đã biến đổi lời than khóc thành khúc nhạc cho con, lạy Chúa
là Thiên Chúa của con, con sẽ tán tụng Chúa tới muôn đời. - Ðáp.
Câu Xướng Trước Phúc Âm: Lc 15, 18
Tôi muốn ra đi trở về với cha tôi và thưa người rằng: Thưa cha, con đã lỗi
phạm đến trời và đến cha.
Phúc Âm: Ga 4, 43-54
"Ông hãy về đi, con ông mạnh rồi".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu bỏ Samaria mà đến Galilêa. Chính Người đã nói: "Không vị
tiên tri nào được kính nể nơi quê hương mình". Khi Người đến Galilêa, dân
chúng ra đón tiếp Người: Họ đã chứng kiến tất cả các việc Người làm ở
Giêrusalem trong dịp lễ; vì họ cũng đi dự lễ.
Người trở lại Cana xứ Galilêa, nơi Người đã biến nước thành rượu. Bấy giờ có
một quan chức nhà vua ở Capharnaum có người con trai đang đau liệt. Ðược tin
Chúa Giêsu đã bỏ Giuđêa đến Galilêa, ông đến tìm Người và xin Người xuống
chữa con ông sắp chết. Chúa Giêsu bảo ông: "Nếu các ông không thấy những
phép lạ và những việc phi thường, hẳn các ông sẽ không tin". Viên quan chức
trình lại Người: "Thưa Ngài, xin Ngài xuống trước khi con tôi chết". Chúa
Giêsu bảo ông: "Ông hãy về đi, con ông mạnh rồi". Ông tin lời Chúa Giêsu nói
và trở về.
Khi xuống đến sườn đồi thì gặp gia nhân đến đón, báo tin cho ông biết con
ông đã mạnh. Ông hỏi giờ con ông được khỏi. Họ thưa: "Hôm qua lúc bảy giờ
cậu hết sốt". Người cha nhận ra là đúng giờ đó Chúa Giêsu bảo ông: "Con ông
mạnh rồi", nên ông và toàn thể gia quyến ông đều tin. Ðó là phép lạ thứ hai
Chúa Giêsu đã làm khi Người ở Giuđêa về Galilêa.
Ðó là lời Chúa.

Suy niệm
thành phần dân ngoại dễ tin vào Người hơn là chính dân của Người
Thứ Ba
Bài Ðọc I: Ed 47, 1-9. 12
"Tôi đã thấy nước từ bên phải đền thờ chảy ra, và nước ấy chảy đến ai, thì
tất cả đều được cứu rỗi".
Trích sách Tiên tri Êdêkiel.
Trong những ngày ấy, thiên thần dẫn tôi đến cửa nhà Chúa, và đây nước chảy
dưới thềm nhà phía hướng đông, vì mặt tiền nhà Chúa hướng về phía đông, còn
nước thì chảy từ bên phải đền thờ, về phía nam bàn thờ. Thiên thần dẫn tôi
qua cửa phía bắc, đưa đi phía ngoài, đến cửa ngoài nhìn về hướng đông, và
đây nước chảy từ bên phải. Khi đó có người đàn ông đi ra về hướng đông, tay
cầm sợi dây, ông đo một ngàn thước tay và dẫn tôi đi qua dưới nước tới mắt
cá chân. Ông đo một ngàn thước tay nữa và dẫn tôi đi qua dưới nước đến đầu
gối. Ông còn đo một ngàn thước tay và dẫn tôi đi qua dưới nước đến ngang
lưng. Ông lại đo thêm một ngàn thước tay nữa, và đây là suối nước, tôi không
thể đi qua được, vì nước suối dâng lên cao quá, phải lội mới đi qua được,
nên người ta không thể đi qua được. Người ấy nói với tôi: "Hỡi người, hẳn
ngươi đã xem thấy". Rồi ông dẫn tôi đi, rồi dẫn trở lại trên bờ suối. Khi
trở lại, tôi thấy hai bên suối có nhiều cây cối. Người ấy lại nói với tôi:
"Nước này chảy về phía cồn cát, phía đông, chảy xuống đồng bằng hoang địa,
rồi chảy ra biển, biến mất trong biển và trở nên nước trong sạch. Tất cả
những sinh vật sống động, nhờ suối nước chảy qua, đều được sống. Sẽ có rất
nhiều cá và nơi nào nước này chảy đến, nơi đó sẽ trở nên trong lành, và sự
sống sẽ được phát triển ở nơi mà suối nước chảy đến.
Gần suối nước, hai bên bờ ở mỗi phía, mọi thứ cây ăn trái sẽ mọc lên; lá của
nó sẽ không khô héo, và trái của nó sẽ không bao giờ hết; mỗi tháng nó có
trái mới, vì dòng nước này phát xuất từ đền thờ; trái của nó dùng làm thức
ăn, và lá của nó dùng làm thuốc uống.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 45, 2-3. 5-6. 8-9
Ðáp: Chúa
thiên binh hằng ở cùng ta, và ta được Chúa Giacóp hằng bảo vệ (c. 8).
Xướng: 1) Chúa là nơi ẩn náu và là sức mạnh của chúng ta, Người hằng cứu
giúp khi ta sầu khổ. Dầu đất có rung chuyển, ta không sợ chi, dầu núi đổ
xuống đầy lòng biển cả. - Ðáp.
2) Nước dòng sông làm cho thành Chúa vui mừng, làm hân hoan cung thánh Ðấng
Tối Cao hiển ngự. Chúa ở giữa thành, nên nó không chuyển rung, lúc tinh
sương, thành được Chúa cứu giúp. - Ðáp.
3) Chúa thiên binh hằng ở cùng ta, ta được Chúa Giacóp hằng bảo vệ. Các
ngươi hãy đến mà xem mọi kỳ công Chúa làm, Người thực hiện muôn kỳ quan trên
vũ trụ. - Ðáp.
Câu Xướng Trước Phúc Âm: Tv 50, 12a và 14a
Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch. Xin ban lại cho con niềm
vui ơn cứu độ.
Phúc Âm: Ga 5, 1-3a. 5-16
"Tức khắc người ấy được lành bệnh".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Hôm đó là ngày lễ của người Do-thái, Chúa Giêsu lên Giêrusalem. Tại
Giêrusalem, gần cửa "Chiên", có một cái hồ, tiếng Do-thái gọi là Bếtsaiđa,
chung quanh có năm hành lang. Trong các hành lang này, có rất nhiều người
đau yếu, mù loà, què quặt, bất toại nằm la liệt. Trong số đó, có một người
nằm đau liệt đã ba mươi tám năm. Khi Chúa Giêsu thấy người ấy nằm đó và biết
anh đã đau từ lâu, liền hỏi: "Anh muốn được lành bệnh không?" Người đó thưa:
"Thưa Ngài, tôi không được ai đem xuống hồ, mỗi khi nước động. Khi tôi lết
tới, thì có người xuống trước tôi rồi". Chúa Giêsu nói: "Anh hãy đứng dậy
vác chõng mà về". Tức khắc người ấy được lành bệnh. Anh ta vác chõng và đi.
Nhưng hôm đó lại là ngày Sabbat, nên người Do-thái bảo người vừa được khỏi
bệnh rằng: "Hôm nay là ngày Sabbat, anh không được phép vác chõng". Anh ta
trả lời: "Chính người chữa tôi lành bệnh bảo tôi: "Vác chõng mà đi". Họ hỏi:
"Ai là người đã bảo anh "Vác chõng mà đi?" Nhưng kẻ đã được chữa lành không
biết Người là ai, vì Chúa Giêsu đã lánh vào đám đông tụ tập nơi đó.
Sau đó, Chúa Giêsu gặp anh ta trong đền thờ, Người nói: "Này, anh đã được
lành bệnh, đừng phạm tội nữa, kẻo phải khốn khổ hơn trước". Anh ta đi nói
cho người Do-thái biết chính Chúa Giêsu là người đã chữa anh ta lành bệnh.
Vì thế người Do-thái gây sự với Chúa Giêsu, vì Người đã làm như thế trong
ngày Sabbat.
Ðó là lời Chúa.

Suy
niệm
Phép lạ Chúa Giêsu chữa lành cho "một người nằm đau liệt đã ba mươi tám năm" ấy
đã kèm theo cả một hiện tượng phải gọi là quái lạ hay quái gở chưa từng thấy.
From: Hoabg <hoangtho1946@yahoo.com.vn>
Date: 2017-03-31 4:05 GMT-07:00
Subject: VỀ: PVLC Thứ Ba Tuần IV Mùa Chay
28-3-2017
To: Tinh Cao
<daminhmariacaotantinh@gmail.com>, TDFatima
<tdfatima+noreply@googlegroups.com>, TNFatima <tnfatima@googlegroups.com>
Tôi đọc bài nầy thấy quá hay, tuy nhiên xin có một nhận xét để
"bênh vực" cho anh bại liệt: vì anh ta rất trung thưc. anh ta muốn tôn vinh
và củng muốn mọi người tôn vinh nên ngay khi biết được người đả chửa lành
anh ta đả báo cho nhửng kẻ đả tra khảo.... chứ không phải đẻ tố
cáo. Xin chân thành góp ý.
From: Tinh
Cao <daminhmariacaotantinh@gmail.com>
Date: 2017-03-31 10:12 GMT-07:00
Subject: Re: VỀ: PVLC Thứ Ba Tuần IV Mùa Chay 28-3-2017
To: Hoabg <hoangtho1946@yahoo.com.vn>
Cc: TDFatima <tdfatima+noreply@googlegroups.com>,
TNFatima <tnfatima@googlegroups.com>
Rất cám ơn người anh em đã, trước hết tiếp nhận bài chia sẻ Phụng
Vụ Lời Chúa hằng ngày của tôi mà còn đọc kỹ và góp ý nữa. Tôi cảm thấy rất
vui khi có người anh chị em của mình đồng cảm với mình như thế.
Nói chung, những gì chúng ta chia sẻ với nhau về Phụng Vụ Lời
Chúa (Chúa Nhật hay hằng ngày hoặc suốt tuần như tôi đang làm) là do suy
niệm, cảm nghiệm và suy diễn của từng tâm hồn với Lời Chúa được ghi lại
trong chung Thánh Kinh và riêng Phúc Âm, không buộc ai cũng phải có cùng một
cảm nhận như nhau, vì tác động của Chúa Thánh Thần nơi mỗi tâm hồn như "gió
muốn thổi đâu thì thổi" (Gioan 3:8).
Về trường hợp của nạn nhân bất toại 38 năm trong bài Phúc Âm được
người anh cho rằng hành động cho những ai vốn ác cảm với Chúa Giêsu biết là
vị đã chữa lành cho anh ta trong ngày hưu lễ là cố ý để họ cùng anh tôn vinh
Người, hơn là tố cáo Người, tôi xin được lợi dụng dịp này để dẫn giải thêm
một số chi tiết nữa cho sáng tỏ thêm vào bài chia sẻ khá dài của tôi nhé:
Trước hết, vấn đề được đặt ra ở đây là nếu nạn nhân bại liệt 38 năm này có ý
tốt, muốn nói ra phép lạ chỉ để tôn vinh Vị đã chữa lành cho mình thì tại
sao ngay trước đó Chúa Giêsu lại tự động đến gặp lại anh ta để cảnh giác anh
ta, như để ngăn ngừa anh ta về hành động anh ta sắp làm, một hành động
rất nguy hiểm cho phần hồn của anh ta: "Này,
anh đã được lành bệnh, đừng
phạm tội nữa,
kẻo phải khốn khổ hơn trước"? Thường
thì Chúa căn dặn một số nạn nhân được chữa lành "đừng nói với ai" (Mathêu
8:4; Marco 1:44) để rồi chính những nạn nhân này đã đích thân loan truyền
phép lạ của Người. Ở đây, trường hợp của nạn nhân bại liệt 38 năm hoàn toàn
khác hẳn. Nếu anh ta muốn tôn vinh Chúa Kitô thì tại sao anh ta không tôn
vinh trước mặt chung công chúng mà chỉ cho những kẻ hạch hỏi anh ta thôi?
Sau nữa, nạn nhân bất toại 38 năm được chữa lành này hoàn toàn
khác với người mù từ lúc mới sinh trong
bài Phúc Âm Chúa Nật IV Mùa Chay vừa rồi, một người mù khi Chúa Giêsu trở
lại với anh ta một lần nữa, thì anh ta, sau khi biết được vị đã chữa lành
và được chính Người tỏ mình ra thì tuyên xưng đức tin và phục xuống thờ lạy
Người, trong khi đó, nạn nhân bại liệt 38 năm này khi đươc gặp lại
chính Đấng chữa lành cho mình thì chẳng những không bày tỏ một lời cám ơn
nào và chúc tụng Người thì chớ lại còn báo cho thành phần hạch hỏi anh ta
nữa, một hành động anh ta chẳng cần phải làm, mà dù có làm thì anh ta đáng
lẽ phải bênh vực Người như nạn nhân bị mù từ lúc mới sinh mới đáng gọi là
tôn vinh Đấng đã chữa lành cho mình một tật nguyền đã tuyệt vọng.
Sau hết, nạn nhân bại liệt 38 năm này khi bị hạch hỏi thì không
biết vị chữa mình là ai, thế nhưng sau khi được gặp lại vị ấy, lần bị vị này
cảnh báo việc làm tội lỗi sắp xẩy ra của anh ta, thì anh ta dường như cảm
thấy bị chạm tự ái, thành ra hình như trở nên ác cảm hơn với vị đại ân nhân
của mình, đến độ, anh ta đã nói thẳng tên "Giêsu" của vị ân nhân của mình ra
cho những ai hạch hỏi anh ta, một tên gọi mà tự nhiên anh ta biết được, dù
vị chữa lành anh ta không hề nói cho anh ta biết tên của Người, như Người tỏ
mình ta cho người mù từ lúc mới sinh. Như thế thì có thể suy thêm rằng nạn
nhân bại liệt 38 năm này dường như đã biết vị chữa lành cho mình là "Giêsu"
ngay từ đầu, vì anh ta đâu có mù như người mù từ lúc mới sinh, nhưng khi bị
hạch hỏi lần đầu thì anh ta giấu tên vị ấy đi như để bênh vực và trả ơn cho
vị ân nhân của mình, sau đó anh ta lại tự động nói tên vị này ra, một tên
anh ta đã biết rồi, do vị ấy đã
trở lại cảnh giác anh ta một cách tiêu cực.
Đó là một chút suy diễm thêm về trường hợp người bại liệt 38
năm được chữa lành về phần xác nhưng nếu không khéo lại bị nguy hiểm về phần
hồn. Chúng ta cũng thế, nếu không biết lợi dụng ơn Chúa ban nhưng không,
chúng ta cũng sẽ đi đến chỗ nguy hiểm đến phần rỗi đời đời của chúng ta. Vậy
chúng ta hãy xin Chúa ban cho chúng ta xứng đáng nhận ơn của Ngài và sử
dụng ơn Ngài cho nên.
Chúc người anh một Mùa Phục Sinh tràn đầy bình an nhé.
Xin cầu cho tôi với.
cao tấn tĩnh
Thứ Tư
Bài Ðọc I: Is 49, 8-15
"Ta đã đặt ngươi nên giao ước của dân, để ngươi phục hưng xứ sở".
Trích sách Tiên tri Isaia.
Ðây Chúa phán: "Trong thời thuận tiện, Ta đã nghe lời ngươi; trong ngày cứu
độ, Ta đã cứu giúp ngươi; Ta đã gìn giữ ngươi và đã đặt ngươi nên giao ước
của dân, để ngươi phục hưng xứ sở, và thu hồi các tài sản bị phân tán, để
ngươi nói với tù nhân rằng: "Các ngươi hãy ra", và nói với những kẻ ở trong
tối tăm rằng: "Các ngươi hãy ra ngoài sáng". Họ được nuôi dưỡng trên các nẻo
đường, và các đồi trọc sẽ trở thành đồng cỏ. Họ sẽ không còn đói khát nữa,
gió nóng và mặt trời không làm khổ họ, vì Ðấng thương xót họ sẽ là người
hướng dẫn họ và đưa họ đến uống ở suối nước. Ta sẽ biến đổi tất cả các núi
của Ta thành đường đi, và các lối đi của Ta sẽ được bồi đắp cho cao. Này
đoàn người từ xa đến. Kìa những kẻ từ hướng bắc và hướng tây lại, và những
người từ miền nam lên.
Trời hãy ca ngợi, đất hãy nhảy mừng, núi đồi hãy hân hoan chúc tụng! Vì Chúa
đã an ủi dân Người và sẽ xót thương những người cùng khổ.
Nhưng Sion nói: "Chúa bỏ rơi tôi, Chúa đã quên tôi rồi". Nào người mẹ có thể
quên con mình mà không thương xót chính đứa con mình đã cưu mang ư? Cho dù
người mẹ đó có quên, nhưng Ta sẽ không quên ngươi đâu".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 144, 8-9. 13cd-14. 17-18
Ðáp: Chúa
là Ðấng nhân ái và từ bi (c. 8a).
Xướng: 1) Chúa nhân ái và từ bi, chậm bất bình và giầu ân sủng. Chúa hảo tâm
với hết mọi loài, và từ bi với mọi công cuộc của Chúa. - Ðáp.
2) Chúa trung thành trong mọi lời Ngài phán, và thánh thiện trong mọi việc
Ngài làm. Chúa nâng đỡ hết thảy những ai sa ngã, và cho mọi kẻ khòm lưng
đứng thẳng lên. - Ðáp.
3) Chúa công minh trong mọi đường lối, và thánh thiện trong việc Chúa làm.
Chúa gần gũi mọi kẻ kêu cầu Ngài, mọi kẻ kêu cầu Ngài cách thành tâm. - Ðáp.
Câu Xướng Trước Phúc Âm: 2 Cr 6, 2
Ðây là lúc thuận tiện. Ðây là ngày cứu độ.
Phúc Âm: Ga 5, 17-30
"Chúa Cha cho người chết sống lại và làm cho họ sống thế nào, thì Chúa Con
cũng vậy, Người làm cho ai sống là tuỳ ý Người".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu trả lời dân Do-thái rằng: "Cha Ta làm việc liên lỉ, Ta
cũng làm việc như vậy". Bởi thế, người Do-thái càng tìm cách giết Người, vì
không những Người đã phạm luật nghỉ ngày Sabbat, lại còn gọi Thiên Chúa là
Cha mình, coi mình ngang hàng với Thiên Chúa. Vì thế, Chúa Giêsu trả lời họ
rằng:
"Quả thật, quả thật, Ta nói cho các ngươi biết: Chúa Con không thể tự mình
làm gì nếu không thấy Chúa Cha làm. Ðiều gì Chúa Cha làm, thì Chúa Con cũng
làm y như vậy. Vì chưng, Chúa Cha yêu Chúa Con và bày tỏ cho Chúa Con biết
mọi việc mình làm, và sẽ còn bày tỏ những việc lớn lao hơn thế nữa, đến nỗi
các ngươi sẽ phải thán phục. Bởi vì, cũng như Chúa Cha cho người chết sống
lại và làm cho họ sống thế nào, thì Chúa Con cũng vậy, Ngài làm cho ai sống
là tuỳ ý Ngài. Vì hơn nữa, Chúa Cha không xét xử ai cả, mà trao cho Chúa Con
trọn quyền xét xử, để cho mọi người tôn trọng Chúa Con cũng như tôn trọng
Chúa Cha: ai không tôn trọng Chúa Con thì không tôn trọng Chúa Cha, Ðấng đã
sai Ngài. Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi: Ai nghe lời Ta và tin Ðấng
đã sai Ta, thì được sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng được từ cõi chết
mà qua cõi sống. Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi, vì đến giờ và ngay
bây giờ, kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa, và ai đã nghe thì sẽ được sống.
Cũng như Chúa Cha có sự sống nơi chính mình thế nào, thì Người cũng cho Chúa
Con có sự sống nơi mình như vậy, và Người đã ban cho Chúa Con quyền xét xử,
vì Ngài là Con Người. Các ngươi đừng ngạc nhiên về điều này, vì đến giờ mọi
kẻ trong mồ sẽ nghe tiếng Con Thiên Chúa và ra khỏi mồ; kẻ đã làm việc lành
thì sống lại để được sống, còn kẻ đã làm việc dữ thì sống lại để bị xét xử.
Ta không thể tự mình làm điều gì. Nghe sao, Ta xét xử vậy. Và án Ta xử thì
công minh, vì Ta không tìm ý riêng Ta, mà tìm ý Ðấng đã sai Ta".
Ðó là lời Chúa.

Suy niệm
Phép lạ Người chữa lành cho một nạn nhân yếu liệt 38 năm vào ngày hưu lễ ở Bài Phúc Âm hôm qua đã trở thành như đầu mối cho cuộc đụng độ bắt đầu công khai hóa giữa Chúa Giêsu và dân Do Thái nói chung, nhất là thành phần biệt phái và lãnh đạo của họ.
Đó là lý do ngay sau phép lạ chữa lành cho nạn nhân yếu liệt 38 năm vào trúng ngày hưu lễ ở bài Phúc Âm hôm qua, Thánh ký Gioan đã ghi chú thêm hậu quả tai hại gây ra bởi biến cố then chốt này như sau: "Do đó, người Do-thái chống đối Đức Giê-su, vì Người hay chữa bệnh ngày sa-bát".
Chúa Giêsu đã lợi dụng chính vấn đề ngày hưu lễ cần phải nghỉ ngơi theo
luật lệ và thông lệ của dân Do Thái để mạc khải cho họ thấy tất cả ý
nghĩa sâu xa về việc làm đối với Đấng hiện hữu luôn sống động và
năng động không bao giờ nghỉ ngơi, như chính Chúa Kitô khẳng định ở ngày
đầu bài Phúc Âm hôm nay: "Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi
cũng làm việc".
Đó là câu trả lời của Chúa Giêsu cho việc "người Do-thái chống đối
(Người) vì Người hay chữa bệnh ngày sa-bát". Nghĩa là sở dĩ Người "hay
chữa bệnh ngày sa-bát" là vì "Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm
việc". Đúng thế, nếu căn cứ vào luật phải nghỉ ngày hưu lễ, tức là ngày
thứ bảy, là vì ngày thứ bảy là ngày chính Thiên Chúa đã nghỉ, hoàn toàn
không còn tiếp tục việc tạo dựng của Ngài như 6 ngày trước đó nữa, thì
Chúa Giêsu đã làm điều sai trái, ở chỗ Người chẳng những phạm luật
Moisen (cũng là luật Thiên Chúa ban cho dân do Thái qua ông) mà Người
còn không đúng với ý nghĩa của ngày thứ bảy ban đầu nữa (xem Khởi Nguyên
2:2-3).
Tuy nhiên, nếu hiểu đúng nghĩa của ngày thứ bảy, thời điểm Thiên Chúa
nghỉ việc tạo dựng, nhưng lại là thời điểm được thánh hóa: "Thiên
Chúa chúc lành cho ngày thứ bảy và thánh hóa ngày này..." (Khởi
Nguyên 2:3). Nghĩa là ngày thứ bảy là ngày thánh trong tuần, ngày để làm
những việc thiêng liêng với Chúa và lành thánh với tha nhân, xa lánh
những mối bận tâm trần thế, chỉ chú tâm đến phần hồn hơn là phần xác
(như làm việc xác v.v.). Đó là lý do Kitô giáo đã giữ ngày Chúa Nhật,
thay ngày thứ bảy, vì là ngày thứ nhất trong tuần, ngày Chúa Kitô phục
sinh. Chúa Kitô đến không phải để hủy lề luật mà làm cho nó nên trọn là
như thế và ở chỗ đó.
Con người ta là tạo vật duy nhất được Thiên Chúa dựng nên sau cùng nhưng
lại là loài tạo vật được Ngài chăm chú tạo dựng một cách rất đặc biệt
theo chủ ý riêng của Ngài (xem Khởi Nguyên 1:26-28). Bởi thế, sau khi
tạo dựng nên họ theo hình ảnh của Ngài và tương tự như Ngài, Ngài đã
tiếp tục ở với con người, tiếp tục tỏ mình ra cho họ, nghĩa là thánh hóa
họ, một việc thánh hóa chỉ xẩy ra trong ngày thứ bảy là thời điểm Ngài
nghỉ việc tạo dựng bề ngoài để chuyên vào việc thánh hóa bề trong, ở chỗ
làm cho con người tin vào Ngài, như Chúa Giêsu đã khẳng định về công
việc của Cha Người: "Công việc của Thiên Chúa đó là hãy tin vào Đấng
Ngài sai" (Gioan 6:29).
Vậy Chúa Giêsu chữa lành trong ngày thứ bảy là một việc rất chính đáng,
chẳng những nên làm mà còn cần phải làm nữa, vì việc chữa lành của Người
hợp với mục đích của ngày thứ bảy là ngày làm việc lành thánh, ngày
thánh hóa con người, để nhờ được chữa lành nạn nhân đương sự và những ai
quen biết đương sự tin vào Người mà được cứu độ, đúng như bản chất việc
làm của Thiên Chúa trong ngày thứ bảy là ngày thánh, ngày Ngài thánh hóa
con người nơi việc tỏ mình ra của Con Ngài, Đấng Ngài muốn con người tin
tưởng mà được cứu độ và thánh hóa.
Chúa Giêsu quả thực đã chí lý khi cho dân Do Thái bấy giờ biết lý do tạo
sao Người hay chữa lành vào ngày thứ bảy, đó là vì "Cho đến nay, Cha
tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc". Trong bài Phúc Âm hôm
nay, ở đoạn ngay sau đó, Người còn cho họ biết "Chúa Con không thể
tự mình làm gì nếu không thấy Chúa Cha làm. Ðiều gì Chúa Cha làm, thì
Chúa Con cũng làm y như vậy". Chẳng hạn, như Người trưng dẫn một
việc quan trọng và chính yếu nhất của ngày thứ bảy là ngày thánh hóa đó
là: "Chúa Cha cho người chết sống lại và làm cho họ sống thế nào,
thì Chúa Con cũng vậy, Người làm cho ai sống là tùy ý Người", nên "Ai
nghe lời Ta và tin Ðấng đã sai Ta, thì được sống đời đời".
Cho dù việc Người làm phép lạ trong ngày hưu lễ chính đáng và chí lý
mấy đi nữa, đúng như mục đích và ý nghĩa của ngày thứ bảy theo ý định
thần linh của Thiên Chúa, vẫn là một hành động, theo dân Do Thái nói
chung và thành phần thông luật, giữ luật và dạy luật trong dân nói
riêng, phạm luật và sai trái, nên Người đã bị "người Do-thái chống
đối", vậy mà Người lại còn như đổ thêm dầu vào lửa qua cách xưng hô của
Người với Đấng đã sai Người, mà tình hình căng thăng và đụng độ càng trở
nên kịch liệt hơn nữa, đến độ họ tìm cách sát hại Người, như Thánh ký
Gioan ghi nhận ở ngay câu Người nói: "Bởi vậy, người Do-thái lại
càng tìm cách giết Đức Giê-su, vì không những Người phá luật sa-bát, lại
còn nói Thiên Chúa là Cha của mình, và như thế là tự coi mình ngang hàng
với Thiên Chúa".
Thế nhưng là "ánh sáng thật soi chiếu mọi
người đã đến trong thế gian" (Gioan 1:9), như "ánh sáng chiếu
trong tăm tối, một thứ tối tăm không át được ánh sáng" (Gioan 1:5),
Chúa Giêsu đã lợi dụng cái tối tăm và lầm lạc của dân Người nơi
chính tình trạng rất đạo đức tốt lành của dân mình, ở chỗ họ hết sức bảo
vệ luật lệ (liên quan đến phép lạ Người làm vào ngày hưu lễ) và coi
trọng phẩm vị cao cả của Thiên Chúa (liên quan đến lời Người xưng hô với
Thiên Chúa), nhưng không hoàn toàn phản ảnh tất cả sự thật của mạc khải
thần linh mà Người là tột đỉnh và là tất cả.
Bởi thế, qua bài Phúc Âm hôm nay, Người đã chứng thực về Người liên quan đến mối liên hệ mật thiết với Cha của Người là Đấng đã sai Người, bằng cách Người đã nói cho họ biết rõ: Người và Cha cùng làm một việc như nhau (1); Người là hiện thân đại diện của Cha và cho Cha nơi loài người (2), và Người là thừa tác viên ban sự sống của Cha cho loài người (3).
Thứ Năm
Bài
Ðọc I: Xh 32, 7-14
"Xin Chúa tỏ lòng khoan dung đối với tội lỗi dân Chúa".
Trích sách Xuất Hành.
Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Môsê rằng: "Ngươi hãy đi xuống; dân mà
ngươi dẫn ra khỏi đất Ai-cập đã phạm tội. Chúng đã sớm bỏ đường lối Ta đã
chỉ dạy cho chúng, chúng đã đúc tượng bò con và sấp mình thờ lạy nó; chúng
đã dâng lên nó của lễ hiến tế và nói rằng: "Hỡi Israel, này là Thiên Chúa
ngươi, Ðấng đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai-cập". Chúa phán cùng Môsê: "Ta thấy
rõ dân này là một dân cứng cổ. Ngươi hãy để Ta làm, Ta sẽ nổi cơn thịnh nộ
với chúng và sẽ huỷ diệt chúng, rồi Ta sẽ làm cho ngươi trở nên tổ phụ một
dân tộc vĩ đại".
Môsê van xin Chúa là Thiên Chúa của ông rằng: "Lạy Chúa, tại sao Chúa nổi
cơn thịnh nộ với dân mà Chúa đã dùng quyền lực và cánh tay hùng mạnh đưa ra
khỏi đất Ai-cập? Xin Chúa đừng để cho người Ai-cập nói rằng: "Người đã khéo
dẫn họ đến đây, để giết họ trên núi và huỷ diệt họ khỏi mặt đất". Xin Chúa
nguôi cơn giận và tỏ lòng khoan dung đối với tội lỗi dân Chúa. Xin Chúa nhớ
đến Abraham, Isaac, và Israel tôi tớ Chúa, vì chính Chúa đã thề hứa rằng:
"Ta sẽ làm cho con cháu các ngươi sinh sản ra nhiều như sao trên trời, Ta sẽ
ban cho con cháu các ngươi toàn cõi xứ này như lời Ta đã hứa, và các ngươi
sẽ chiếm hữu xứ này mãi mãi". Chúa đã nguôi cơn giận, không thực hiện điều
dữ mà Người đe doạ phạt dân Người.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 105, 19-20. 21-22. 23
Ðáp: Lạy
Chúa, xin nhớ chúng con khi gia ân huệ cho dân Ngài (c. 4a).
Xướng: 1) Họ đã đúc con bò tại Horeb, và lễ bái thần tượng đã đúc bằng vàng.
Họ đem vinh quang của mình đánh đổi lấy hình tượng con bò ăn cỏ. - Ðáp.
2) Họ đã quên Thiên Chúa là Ðấng cứu độ mình, Ðấng đã làm những điều trọng
đại bên Ai-cập, Ðấng đã làm những điều kỳ diệu trên lãnh thổ họ Cam, và
những điều kinh ngạc nơi Biển Ðỏ. - Ðáp.
3) Chúa đã nghĩ tới chuyện tiêu diệt họ cho rồi, nếu như Môsê là người Chúa
chọn, không đứng ra cầu khẩn với Ngài, để Ngài nguôi giận và đừng tiêu diệt
họ. - Ðáp.
Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ed 33, 11
Chúa phán: "Ta không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối
và được sống".
Phúc Âm: Ga 5, 31-47
"Có người tố cáo các ngươi, đó là Môsê, người mà các ngươi vẫn tin tưởng".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu nói với dân Do-thái rằng: "Nếu chính Ta làm chứng về
Mình, thì chứng của Ta sẽ không xác thực. Có một Ðấng khác làm chứng về Ta,
và Ta biết chứng Người làm về Ta thì xác thực. Các ngươi đã sai người đi hỏi
Gioan, và Gioan đã làm chứng cho sự thật. Phần Ta, Ta không cần chứng của
loài người, nhưng Ta nói những điều này để các ngươi được cứu thoát. Gioan
là cây đèn cháy sáng. Các ngươi cũng muốn vui hưởng ánh sáng đó một thời
gian. Nhưng Ta có một bằng chứng hơn chứng của Gioan: vì công việc Chúa Cha
đã giao cho Ta hoàn thành, là chính công việc Ta đang làm. Các việc đó làm
chứng về Ta rằng Chúa Cha đã sai Ta. Và Chúa Cha, Ðấng đã sai Ta, chính
Người cũng làm chứng về Ta. Nhưng chưa bao giờ các ngươi được nghe tiếng
Người, chưa bao giờ nhìn thấy mặt Người, và lời Người, các ngươi cũng chẳng
giữ lại được, vì các ngươi không tin Ðấng Người đã sai đến. Các ngươi tra
cứu Sách Thánh, vì tưởng rằng trong đó các ngươi sẽ tìm thấy sự sống muôn
đời; chính Sách Thánh lại làm chứng về Ta, vậy mà các ngươi vẫn không chịu
đến với Ta để được sống.
Ta không tìm vinh quang nơi loài người. Nhưng Ta biết các ngươi không có
lòng yêu mến Thiên Chúa. Ta đến nhân danh Chúa Cha, nhưng các ngươi không
chịu đón nhận. Nếu có một người nào khác nhân danh mình mà đến, các ngươi sẽ
đón nhận nó. Các ngươi là những người nhận vinh quang lẫn nhau mà không tìm
vinh quang do một Thiên Chúa, thì làm sao các ngươi có thể tin được? Các
ngươi đừng tưởng rằng Ta sẽ tố cáo các ngươi với Chúa Cha. Kẻ tố cáo các
ngươi là Môsê, tức là người mà các ngươi vẫn tin tưởng. Vì nếu các ngươi tin
Môsê, thì có lẽ các ngươi cũng đã tin Ta, bởi vì chính Môsê đã viết về Ta.
Nhưng mà nếu các ngươi không tin điều Môsê đã viết, thì làm sao các ngươi
tin lời Ta được?"
Ðó là lời Chúa.

Suy niệm
Thứ Năm trong Tuần IV Mùa Chay hôm nay, phụng vụ lời Chúa bề ngoài có vẻ liên quan đến hiện tượng hay khuynh hướng ngẫu tượng nơi dân Do Thái, cả Cựu Ước lẫn vào thời Chúa Kitô, nhưng sâu xa liên quan đến mạc khải thần linh của Thiên Chúa, một mạc khải thần linh đã đạt đến tột đỉnh ở nơi bản thân của Chúa Giêsu Kitô, nhưng lại là một mạc khải thần linh bị chính dân Người chống đối và trù dập.
Ở ngay đầu đoạn cuối của bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã công khai và
thẳng thắn cho chung dân Do Thái đang tụ tập lại nghe Người bấy giờ biết
chính vì cái khuynh hướng trần tục của họ đã trở thành lý do tại sao họ
không thể nào có thể chấp nhận được chứng từ chân thực của Người về Người:
Thứ Sáu
Lời
Chúa
Bài Ðọc I: Kn 2, 1a. 12-22
"Chúng ta hãy kết án cho nó chết cách nhục nhã".
Trích sách Khôn Ngoan.
Những kẻ gian ác suy nghĩ chín chắn, đã nói rằng: "Chúng ta hãy vây bắt kẻ
công chính, vì nó không làm ích gì cho chúng ta, mà còn chống đối việc chúng
ta làm, khiển trách chúng ta lỗi luật và tố cáo chúng ta vô kỷ luật. Nó tự
hào mình biết Thiên Chúa và tự xưng là con Thiên Chúa. Chính nó là sự tố cáo
những tư tưởng của chúng ta. Vì nguyên việc thấy nó, chúng ta cũng cáu, thấy
bực mình, vì nếp sống của nó không giống như kẻ khác, và đường lối của nó
thì lập dị. Nó kể chúng ta như rơm rác, nó xa lánh đường lối chúng ta như xa
lánh những gì dơ nhớp, nó thích hạnh phúc cuối cùng của người công chính, nó
tự hào có Thiên Chúa là Cha. Vậy chúng ta hãy xem coi điều nó nói có thật
hay không, hãy nghiệm xét coi những gì sẽ xảy đến cho nó, và hãy chờ xem
chung cuộc đời nó sẽ ra sao. Vì nếu nó thật là con Thiên Chúa, Chúa sẽ bênh
vực nó, sẽ giải thoát nó khỏi tay những kẻ chống đối nó. Chúng ta hãy nhục
mạ và làm khổ nó, để thử xem nó có hiền lành và nhẫn nại không. Chúng ta hãy
kết án cho nó chết cách nhục nhã, vì theo lời nó nói, thì người ta sẽ cứu
nó!" Chúng nghĩ như vậy, nhưng chúng lầm, vì tội ác của chúng đã làm cho
chúng mù quáng. Và chúng không biết ý định mầu nhiệm của Thiên Chúa, nên
cũng chẳng hy vọng phần thưởng công chính, và chúng cũng không ưa thích vinh
dự của những tâm hồn thánh thiện.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 33, 17-18. 19-20. 21 và 23
Ðáp: Chúa
gần gũi những kẻ đoạn trường (c. 19a).
Xướng: 1) Chúa ra mặt chống người làm ác, để tẩy trừ di tích chúng nơi trần
ai. Người hiền đức kêu cầu và Chúa nghe lời họ, Ngài cứu họ khỏi mọi nỗi âu
lo. - Ðáp.
2) Chúa gần gũi những kẻ đoạn trường, và cứu chữa những tâm hồn đau thương
dập nát. Người hiền đức gặp nhiều bước gian truân, nhưng Chúa luôn luôn giải
thoát. - Ðáp.
3) Ngài gìn giữ họ xương cốt vẹn toàn, không để cho một cái nào bị gãy. Chúa
cứu chữa linh hồn tôi tớ của Ngài, và phàm ai tìm đến nương tựa nơi Ngài,
người đó sẽ không phải đền bồi tội lỗi. - Ðáp.
Câu Xướng Trước Phúc Âm: Tv 94, 8ab
Hôm nay, các ngươi đừng cứng lòng, nhưng hãy nghe tiếng Chúa phán.
Phúc Âm: Ga 7, 1-2. 10. 25-30
"Chúng tìm cách bắt Người, nhưng chưa tới giờ Người".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu đi lại trong xứ Galilêa; Người không muốn đi lại trong xứ
Giuđêa, vì người Do-thái đang tìm giết Người. Lúc đó gần đến lễ Trại của
người Do-thái. Nhưng khi anh em của Người lên dự lễ rồi, thì Người cũng đi,
nhưng không đi cách công khai, mà lại đi cách kín đáo.
Có một số người ở Giêrusalem nói: "Ðây không phải là người họ đang tìm giết
sao? Kìa ông ta đang nói công khai mà không ai nói gì cả. Phải chăng các nhà
chức trách đã nhận ra ông ta là Ðấng Kitô? Tuy nhiên, ông này thì chúng ta
biết rõ đã xuất thân từ đâu. Còn khi Ðấng Kitô tới, thì chẳng có ai biết
Người bởi đâu".
Vậy lúc bấy giờ Chúa Giêsu đang giảng dạy trong đền thờ, Người lớn tiếng nói
rằng: "Phải, các ngươi biết Ta, và biết Ta xuất thân từ đâu; Ta không tự Ta
mà đến, nhưng thực ra, có Ðấng đã sai Ta mà các ngươi không biết Ngài. Riêng
Ta, Ta biết Ngài, vì Ta bởi Ngài, và chính Ngài đã sai Ta". Bởi thế họ tìm
cách bắt Chúa Giêsu, nhưng không ai đụng tới Người, vì chưa tới giờ Người.
Ðó là lời Chúa.

Suy
niệm
cho dù Chúa Kitô có làm chứng về Người thế nào chăng nữa,
dân chúng vẫn không thể nào tin tưởng được Người là Đấng Thiên Sai của họ
Thứ Bảy
Lời
Chúa
Bài Ðọc I: Gr 11, 18-20
"Con như chiên con hiền lành bị đem đi giết".
Trích sách Tiên tri Giêrêmia.
Lạy Chúa, Chúa đã tỏ cho con và con đã biết; vì Chúa đã chỉ cho con những
mưu toan của chúng. Còn con, con như chiên con hiền lành bị đem đi giết. Con
đã không biết chúng mưu toan hại con khi chúng nói: "Chúng ta hãy bỏ cây vào
bánh của nó, chúng ta hãy diệt trừ nó khỏi đất kẻ sống, và người ta không
còn nhớ đến tên nó nữa".
Nhưng lạy Chúa các đạo binh, Chúa xét xử công minh, và dò xét tâm can. Chớ
gì con sẽ thấy Chúa báo thù chúng, vì con đã phó thác việc con cho Chúa.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 7, 2-3. 9bc-10. 11-12
Ðáp: Lạy
Chúa là Thiên Chúa con, con đến nương nhờ Ngài (c. 2a).
Xướng: 1) Lạy Chúa là Thiên Chúa con, con đến nương nhờ Ngài, xin cứu con
khỏi mọi người đang lùng bắt, và xin giải thoát thân con, kẻo có người như
sư tử chộp bắt hồn con, xé nát ra mà không ai cứu gỡ. - Ðáp.
2) Xin minh xét cho con, thân lạy Chúa, theo sự công chính và vô tội ở nơi
con. Nguyện cho chấm dứt sự độc dữ kẻ ác nhân, và xin Ngài củng cố người
hiền đức, khi Ngài lục soát tâm can, ôi Chúa công minh. - Ðáp.
3) Thuẫn che thân con là Thiên Chúa, Ðấng cứu độ những kẻ lòng ngay. Thiên
Chúa là vị công minh thẩm phán, và Thiên Chúa hăm doạ hằng ngày. - Ðáp.
Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ga 11, 25a và 26
Chúa phán: "Ta là sự sống lại và là sự sống; ai tin Ta, sẽ không chết đời
đời".
Phúc Âm: Ga 7, 40-53
"Ðấng Kitô xuất thân từ Galilêa sao?"
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, sau khi nghe Chúa Giêsu giảng, có nhiều người trong đám dân chúng
nói rằng: "Ông này thật là tiên tri". Kẻ khác nói: "Ông này thật là Ðấng
Kitô". Người khác nữa lại nói: "Ðấng Kitô xuất thân từ Galilêa sao? Nào Kinh
Thánh chẳng nói: Ðấng Kitô xuất thân bởi dòng dõi Ðavit, và từ làng Bêlem,
quê hương của Ðavit?" Vì thế, dân chúng bất đồng ý kiến với nhau về Người.
Trong số đó, có một ít kẻ định bắt Người, nhưng không ai dám ra tay bắt
Người. Vậy khi những người thừa hành đến với thượng tế và biệt phái, các ông
này hỏi họ rằng: "Tại sao các ngươi không điệu nó tới?" Các người thừa hành
thưa rằng: "Chẳng hề có ai nói như người ấy". Các người biệt phái trả lời
rằng: "Chớ thì các ngươi cũng bị mê hoặc rồi sao? Trong các vị thủ lãnh và
các người biệt phái, có ai tin nó đâu? Chỉ có lũ khốn nạn đó nó không biết
gì lề luật". Nicôđêmô là người đã tới gặp Chúa Giêsu ban đêm, cũng là người
trong nhóm họ, nói với họ rằng: "Chớ thì luật của chúng ta có lên án cho ai
mà không nghe họ, hoặc không biết rõ họ làm gì không?" Nhưng họ trả lời
rằng: "Hay ông cũng là người Galilêa? Hãy đọc kỹ Kinh Thánh, ông sẽ thấy
rằng không có tiên tri nào phát xuất từ Galilêa". Sau đó ai về nhà nấy.
Ðó là lời Chúa.

Suy niệm
Chúa Giêsu nổi bật hơn bao giờ hết,
giữa tình trạng chia rẽ trầm trọng nơi cả dân chúng cũng như thành phần lãnh đạo,
và giữa thành phần lãnh đạo với thành phần thừa hành.
Hôm nay, Thứ Bảy, ngày cuối cùng của Tuần IV Mùa Chay, bài Phúc Âm hôm nay
không hề có sự hiện diện chính thức của Chúa Giêsu một tí nào. Thế nhưng dù
không có lời nào Người phán hay việc nào Người làm, mà Người lại nổi bật hơn
bao giờ hết, giữa tình trạng chia rẽ trầm trọng nơi cả dân chúng cũng như
thành phần lãnh đạo, và giữa thành phần lãnh đạo với thành phần thừa
hành. Đó là chứng cớ cho thấy tầm ảnh hưởng quá ấn tượng của Người.
Trước hết, thành phần dân chúng đã chia rẽ nhau về Người như sau: "Khi
ấy, sau khi nghe Chúa Giêsu giảng, có nhiều người trong đám dân chúng nói
rằng: 'Ông này thật là tiên tri'. Kẻ khác nói: 'Ông này thật là Ðấng Kitô'.
Người khác nữa lại nói: 'Đấng Kitô xuất thân từ Galilêa sao? Nào Kinh Thánh
chẳng nói: Ðấng Kitô xuất thân bởi dòng dõi Ðavit, và từ làng Bêlem, quê
hương của Ðavit?' Vì thế, dân chúng bất đồng ý kiến với nhau về Người".
Sau nữa, giữa
thành phần lãnh đạo với thành phần thừa hành: "Trong
số đó, có một ít kẻ định bắt Người, nhưng không ai dám ra tay bắt Người. Vậy
khi những người thừa hành đến với thượng tế và biệt phái, các ông này hỏi họ
rằng: 'Tại sao các ngươi không điệu nó tới?' Các người thừa hành thưa rằng:
'Chẳng hề có ai nói như người ấy'. Các người biệt phái trả lời rằng: 'Chớ
thì các ngươi cũng bị mê hoặc rồi sao? Trong các vị thủ lãnh và các người
biệt phái, có ai tin nó đâu? Chỉ có lũ khốn nạn đó nó không biết gì lề
luật'".
Sau hết, giữa chính nội bộ lãnh đạo với nhau: "Nicôđêmô
là người đã tới gặp Chúa Giêsu ban đêm, cũng là người trong nhóm họ, nói với
họ rằng: 'Chớ thì luật của chúng ta có lên án cho ai mà không nghe họ, hoặc
không biết rõ họ làm gì không?' Nhưng họ trả lời rằng: 'Hay ông cũng là
người Galilêa? Hãy đọc kỹ Kinh Thánh, ông sẽ thấy rằng không có tiên tri nào
phát xuất từ Galilêa' Sau đó ai về nhà nấy".
Tình trạng chia rẽ này, cho dù giữa dân chúng với nhau hay giữa nội bộ
lãnh đạo với nhau, đều giống nhau và qui tụ lại ở chỗ cả hai thành phần này
cùng căn cứ vào xuất xứ của nhân vật Giêsu Nazarét là từ Galilêa chứ không
phải từ Giuđêa để suy diễn và quyết đoán về Người có thực sự là tiên tri hay
chăng, hoặc là đấng thiên sai hay chăng?
Dân chúng: "Đấng
Kitô xuất thân từ Galilêa sao? Nào Kinh Thánh chẳng nói: Ðấng Kitô xuất thân
bởi dòng dõi Ðavit, và từ làng Bêlem, quê hương của Ðavit?"; Lãnh đạo: "Hay
ông cũng là người Galilêa? Hãy đọc kỹ Kinh Thánh, ông sẽ thấy rằng không có
tiên tri nào phát xuất từ Galilêa".
Đó là về phía
thành phần không chấp nhận Người. Còn về thành phần chấp nhận Người thì họ
lại căn cứ vào cảm nhận tự nhiên của họ, đúng hơn, căn cứ vào chính những gì
Người nói mà họ cảm nhận được Người là ai, đúng như Người chứng thực về
Người, rất đáng khả tín, rất đáng chấp nhận.
Trong khi chung
dân chúng: "sau khi nghe Chúa
Giêsu giảng, có nhiều người trong đám dân chúng nói rằng: 'Ông này thật là
tiên tri'. Kẻ khác nói: 'Ông này thật là Ðấng Kitô'", thì thành phần thừa hành của các
vị trong giáo quyền cũng cảm thấy có một cái gì đó đặc biệt nơi Người: "Chẳng
hề có ai nói như người ấy".
Đến đây và ở
trong trường hợp của bài Phúc Âm hôm nay chúng ta mới thấy thật sự và hoàn
toàn ứng nghiệm lời tiên tri của tư tế Simeon là vị đã ẵm hài nhi Giêsu trên
tay lúc bé mới được 40 ngày mà nói: "Con Trẻ này sẽ trở thành cớ cho
nhiều người trong Israel vấp ngã hay chỗi dậy, trở thành một dấu hiệu đối
chọi" (Luca 2:34).
Chính Chúa Kitô cũng cho dân Do Thái biết bản thân Người là cả một mầu nhiệm vô cùng cao cả và thần linh, tự mình họ không thể nào thấu biết, cho dù Người không giấu diếm họ một chút nào, trái lại đã nhiều lần và nhiều cách tỏ mình ra cho họ biết tất cả sự thật về Người, theo kiểu cách loài người, đến độ, cả thành phần môn đệ thân tín của Người cũng thế, cũng không hơn gì dân chúng và thành phần lãnh đạo dân chúng, như chính Người đã quả quyết với các vị như đã quả quyết với chung dân Do Thái rằng:
"Các con ơi,
Thày không còn ở với các con bao lâu nữa. Các con sẽ tìm kiếm Thày, nhưng
này Thày nói với các con những gì Thày đã từng nói với người Do Thái đó là
'nơi Tôi đi quí vị không thể nào đến được'" (Gioan 13:33; 7:33-34).
Thậm chí, Người
còn báo trước cho chung dân Do Thái và riêng thành phần lãnh đạo của họ
biết rằng: "Quí vị sẽ tìm Tôi nhưng quí vị sẽ chết trong tội lỗi của quí
vị" (Gioan 8:21), và quả thực đã xẩy ra hoàn toàn đúng như vậy, trong
Tuần Thánh. Ở chỗ, chẳng những cả một Hội Đồng Đầu Mục Do Thái đã đồng
thanh lên án tử cho Người ngay khi Người chân nhận mình là Đấng Thiên Sai
như họ nhân danh Thiên Chúa hỏi Người, mà còn cả một tông đồ đoàn bỏ
chạy, một tông đồ Giuđa phản nộp Thày mình và nhất là một
lãnh đạo tông đồ đoàn Phêrô chối bỏ Thày mình ...
Tuy nhiên,
không phải vì thế, không phải thấy trước một tương lai đen tối như thế mà
Người, Đấng Thiên Sai đích thực của Thiên Chúa cảm thấy sợ hãi và toan tính
bỏ chạy. Trái lại, biết vai trò chủ chiên của mình, một "chủ chiên nhân
lành thí mạng sống mình vì chiên... cho chiên được sự sống và là sự sống
viên mãn" (Gioan 10:11,10) mà Người đã tuyên bố và tiên báo: "Tôi
tự ý bỏ mạng sống mình đi để rồi lấy nó lại" (Gioan 10:17).
Qua miệng tiên
tri Giêrêmia ở Bài Đọc 1 hôm nay, chính Người đã chấp nhận thân phận thiên
sai cứu thế đầy bất hạnh và vô cùng khốn nạn của mình một cách ngoan ngoãn
như con chiên bị đem đi giết như sau:
Thế nhưng,
mục đích Người "tự ý bỏ sự sống mình đi" là "để lấy lại",
chứ không phải để bị hủy diệt đời đời. Bởi thế, cũng qua miệng tiên tri
Giêrêmia trong Bài Đọc 1 hôm nay, Người đã an tâm chấp nhận mọi sự
theo ý Đấng đã sai Người: "Nhưng lạy Chúa các đạo binh, Chúa xét xử công
minh, và dò xét tâm can. Chớ gì con sẽ thấy Chúa báo thù chúng, vì con đã
phó thác việc con cho Chúa",
Bài Đáp Ca hôm
nay hoàn toàn phản ảnh nội dung của Bài Đọc 1 cùng ngày, chất chứa tâm tình
của một con người hoàn toàn tin tưởng phó thác vào Vị Thiên Chúa của
mình, để Ngài muốn làm gì thì làm nơi mình cho ý muốn tối thượng của
Ngài được nên trọn:
1) Lạy Chúa là
Thiên Chúa con, con đến nương nhờ Ngài, xin cứu con khỏi mọi người đang lùng
bắt, và xin giải thoát thân con, kẻo có người như sư tử chộp bắt hồn con, xé
nát ra mà không ai cứu gỡ.
2) Xin minh xét
cho con, thân lạy Chúa, theo sự công chính và vô tội ở nơi con. Nguyện cho
chấm dứt sự độc dữ kẻ ác nhân, và xin Ngài củng cố người hiền đức, khi Ngài
lục soát tâm can, ôi Chúa công minh.
3) Thuẫn che
thân con là Thiên Chúa, Ðấng cứu độ những kẻ lòng ngay. Thiên Chúa là vị
công minh thẩm phán, và Thiên Chúa hăm doạ hằng ngày.
HẠNH THÁNH TRONG TUẦN
NGÀY 17 THÁNG 3
THÁNH PATRICK
Lễ Nhớ tùy ý

Truyện Thánh Patrick
Thánh Patrick đặt nền tảng công cuộc tông đồ trên việc cầu nguyện và hãm mình.
Câu truyện cuộc đời thánh Patrick từ khởi đầu đến kết thúc là một cuộc mạo hiểm thánh thiện. Sinh trong một gia đình Công Giáo tại nước Anh vào cuối thế kỷ IV, bấy giờ là thuộc địa của Roma, khi còn là một thiếu niên, Patrick đã bị bọn hải tặc bắt đem về Ái nhĩ lan, một miền đất từng có thời rất văn minh, nhưng khi ấy đã suy tàn. Tại Ái nhĩ lan, Patrick bị bán cho một tộc trưởng, và ông này bắt ngài đi chăn heo. Theo truyền tụng, nơi ngài bị bắt là Slemish, hiện nay là Antrim.
Patrick luôn coi thảm họa này như một hình phạt Thiên Chúa giáng xuống vì tội lỗi của ngài. Ngài đã kể lại, Khi ấy tôi mười sáu tuổi. Tôi không biết Thiên Chúa thật; và tôi bị bắt sang Ái nhĩ lan với nhiều ngàn người khác, đáng với tội lỗi chúng tôi, vì chúng tôi đã xa lìa Chúa, không giữ các giới răn của Người, không tùng phục các linh mục, những vị thường nhắc nhở cho chúng tôi về phần rỗi của chúng tôi.1
Tuy nhiên, giữa cảnh lầm than, ngài đã
hồi tưởng lại những bài học thời thơ ấu và trở về với Chúa. Giờ đây, sau khi
tôi đã đến Ái nhĩ lan, công việc hằng ngày của tôi là chăn dắt đoàn vật; và
tôi thường cầu nguyện vào ban ngày. Lòng yêu mến và kính sợ Chúa ngày càng
gia tăng, đức tin tăng triển, tinh thần được đánh động, thành ra trong một
ngày tôi thường đọc nhiều trăm kinh, và ban đêm cũng gần được chừng ấy; tôi
thường ở lại trong rừng và trên núi vì mục đích ấy. Trước lúc tảng sáng, tôi
thường thức dậy để cầu nguyện, trên tuyết, trong băng giá, trong mưa. Tôi
không cảm thấy đau đớn, cũng không biếng trễ như giờ đây, bởi vì khi ấy tinh
thần trong tôi rất sốt sắng.2
Sau sáu năm trong hoàn cảnh ấy, Patrick đã tìm cách trốn thoát. Trước tiên, nhờ một số nhà buôn tốt bụng, ngài đã trốn sang Pháp, và sau cùng, ngài đã về đến quê hương và được hân hoan chào đón. Vào thời điểm ấy, Patrick không có ý định trở lại nơi bị bắt trước kia, nhưng Thiên Chúa đã có những chương trình khác. Và quả thật, trong những thị kiến ban đêm, tôi đã nhìn thấy một người tên là Victoricus từ Ái nhĩ lan đến, mang theo vô số thư từ. Ông trao cho tôi một bức, và tôi đọc phía trên bức thư có hàng chữ ‘tiếng kêu từ Ái nhĩ lan’; và trong khi đang đọc lớn phần đầu bức thư ấy, tôi nghĩ rằng ngay lúc ấy tôi nghe thấy tiếng kêu của những người đang sống gần khu rừng Foclut, sát với biển Tây. Họ đồng thanh kêu lớn: ‘Chúng tôi năn nỉ, ôi bạn trẻ, hãy đến, và một lần nữa hãy đi lại giữa chúng tôi.’ Tôi tan nát trong lòng, không đọc thêm nữa. Và thế là tôi thức giấc. Cám tạ Thiên Chúa, vì sau nhiều năm, Chúa đã ban cho họ điều họ kêu xin.3
Sau đó, Patrick sang Auxerre, Pháp một
vài năm để chuẩn bị cho sứ mạng bằng việc học tập dưới quyền thánh Germanus,
người được Đức Celestine I giao phó việc chuẩn bị cho công cuộc truyền giảng
xứ Ái nhĩ lan. Tuy nhiên, Patrick vô cùng thất vọng vì không được tuyển
chọn; sứ vụ được giao phó cho một người khác tên là Palladius.4 Nhưng
Palladius đã qua đời ngay khi vừa đặt chân đến Ái nhĩ lan, và thế là đoàn
người đành quay về Auxerre. Lúc ấy, Patrick được chọn để thay thế và được
thánh Germanus tấn phong giám mục.
Hướng đến mọi tầng lớp xã hội.
Khi đặt chân lên đất Ái nhĩ lan vào năm 432 để
truyền giáo cho một dân tộc ngoại giáo hiếu chiến, thánh Patrick đã có một
đức tin sắt đá kiên vững trong mọi thử thách, một sự khôn ngoan thực tế, và
một kiến thức về đất nước, ngôn ngữ và phong tục địa phương.
Trong công việc, thánh Patrick đã giữ một tập
quán. Mỗi khi đến một miền nào, trước tiên thánh nhân đến trình diện và
giảng Phúc Âm cho vị tộc trưởng địa phương, và trao tặng một ít quà cáp theo
tập tục thời ấy. Các tài liệu cổ xưa kể lại, mặc dù có một số tộc trưởng qui
thuận đức tin, nhưng một số kẻ khôn ngoan thế gian vẫn giữ lại một số tập
tục dễ dãi của tổ tiên họ. Tuy nhiên, thánh Patrick luôn yêu cầu hai điều mà
lúc nào ngài cũng thành công: xin một miếng đất để xây nhà thờ; và xin phép
tộc trưởng để rao giảng cho dân chúng.
Kế đó, thánh Patrick hướng về phía các con trai
con gái của vị tộc trưởng. Lúc này, thành công của ngài hầu như rất khả
quan. Lúc trước tại Ái nhĩ lan, khi chưa nghe biết về Thiên Chúa, người ta
thờ lạy bụt thần và các sự quái gở. Gần đây, họ đã trở thành một dân tộc của
Chúa, và được gọi là con cái Chúa. Các con trai con gái của các tộc trưởng
Ái nhĩ lan trở thành các đan sĩ và trinh nữ của Chúa Kitô.
Đặc biệt, một nữ lưu Ái nhĩ lan dòng dõi quí
phái vị vọng, rất xinh đẹp, khôn lớn, và đã được rửa tội; sau một vài ngày,
bà đã đến gặp chúng tôi vì một lý do gì đó. Bà tỏ cho chúng tôi biết bà đã
được một thiên thần của Thiên Chúa cảnh báo, và khuyên bà hãy trở thành một
trinh nữ của Chúa Kitô, và sống thân mật với Thiên Chúa. Cám tạ Chúa, sáu
ngày sau, rất đáng khen và hăm hở, bà ấy đã giúp tất cả các trinh nữ của
Thiên Chúa làm theo như bà; nhưng vì không được sự đồng ý của cha mẹ họ; nên
họ bị thân nhân bắt bớ và quở mắng; tuy nhiên, con số họ ngày càng gia
tăng.5
Điều này đã đặt nền tảng cho công cuộc hoán cải
về sau của rất đông dân thường mà thánh Patrick đã đề cập đến. Chính ngài đã
đích thân rửa tội cho ‘nhiều ngàn người”: Điều hết sức cần thiết là chúng ta
phải giăng những chiếc lưới của chúng ta để đem vô số đám đông về cho Chúa.
Mọi nơi nên có linh mục được phong chức để rửa tội và nâng đỡ những người
nghèo khó và túng quẫn.6
Tuy nhiên, ta không nên nghĩ rằng mọi việc đều
xuôi thuận. Nhiều lúc thánh Patrick đã gặp nguy hiểm từ mọi nơi, nhất là bọn
Druids, những kẻ đối nghịch không đội trời chung. Nhờ khôn ngoan, thánh nhân
đã thoát được; và hơn một lần, Chúa quan phòng đã phải can thiệp để cứu
ngài. Tuy nhiên, thử thách gian truân nhất đối với thánh Patrick là sự chống
đối từ phía các anh em Kitô giáo tại Anh và Pháp. Họ truyền cho nhau nhiều
câu truyện bịa đặt về ngài, đến độ ngài đã phải dùng ngòi bút để tự vệ. Nhờ
đó, chúng ta ngày nay mới may mắn có được quyển Tự Thuật của thánh nhân, tài
liệu chủ yếu về những chi tiết trong cuộc đời của ngài.
Đức tin và văn hóa.
Giáo đoàn do thánh Patrick thành lập mang một số
đặc trưng rất rõ nét. Sứ điệp Phúc Âm ăn rễ sâu và biến đổi từ bên trong mà
không hủy diệt nền văn hóa Celtic. Chúng ta giờ đây khó mà tưởng tượng được
dân tộc và văn hóa của họ sẽ như thế nào, nếu không được thấm nhuần tinh
thần Kitô Giáo sâu xa, ngay cả nhiều thế kỷ về sau. Vì thế, nền văn hóa ấy
luôn phù hợp với đức tin. Về giáo lý cũng như về việc truyền bá Phúc Âm nói
chung, chúng ta được mời gọi đem sức mạnh Phúc Âm vào trái tim của từng nền
văn hóa và mọi nền văn hóa. Vì mục đích này, người làm công tác giáo lý phải
tìm hiểu các nền văn hóa và những yếu tố chính của chúng; phải biết các biểu
hiện ý nghĩa nhất của chúng; phải tôn trọng các giá trị và sự phong phú
riêng của chúng… Họ phải ghi nhớ hai điều sau đây.
Thứ nhất, không được tách rời sứ điệp Phúc Âm
khỏi nền văn hóa nguyên thủy của nó (tức là thế giới Thánh Kinh, chính xác
là địa phương văn hóa mà Chúa Giêsu thành Nazareth đã sống), cũng đừng tách
biệt khỏi những nền văn hóa mà sứ điệp Phúc Âm đã được diễn tả theo dòng các
thế kỷ.
Thứ hai, sức mạnh của Phúc Âm biến đổi và chấn
hưng mọi sự. Khi hội nhập vào một nền văn hóa, chắc chắn sức mạnh ấy sẽ
chỉnh đốn nhiều yếu tố của nền văn hóa này. Nếu như Phúc Âm đã bị biến dạng
khi tiếp xúc với các nền văn hóa, thì có lẽ đã chẳng còn giáo lý. Quên điều
này tức là vấp vào điều thánh Phaolô đã mạnh mẽ tố cáo là ‘làm trống rỗng
sức mạnh thập giá của Chúa Kitô’ (1 Cr 1:17).7
Điểm đặc trưng thứ hai của giáo đoàn mới mẻ này
là bản chất tông đồ sâu xa. Những người đầu tiên được hưởng nhờ lợi ích từ
động lực tông đồ là những người Picts xứ Scotland, sau đó là các bộ tộc man
di định cư tại những miền hoang tàn của đế quốc Roma tại Bắc Âu: Pháp, Đức,
và xa nữa là Lombardy. Kể từ giai đoạn ấy, quê hương Ái nhĩ lan của các nhà
truyền giáo thánh thiện và học thức đã nổi danh khắp thế giới Kitô Giáo là
‘đảo các thánh và các học giả.’ Mặc dù giai đoạn hoàng kim ấy đã chấm dứt
vào thế kỷ IX, khi Ái nhĩ lan rơi vào tay những người Vikings xâm lược,
nhưng các di sản của thánh Patrick không suy suyễn và vẫn trường tồn qua các
thăng trầm của lịch sử.
Điểm đặc trưng thứ ba mà đức tin của thánh
Patrick đã nung đốt cho giáo đoàn ở đây là sự hợp nhất với Tòa Thánh, suốt
từ khi có ủy nhiệm thư đầu tiên của Đức Celestine. Thánh Patrick đã mô tả
những người tín hữu yêu quí của ngài là Giáo Hội người Ái nhĩ lan, tức là
Giáo Hội Roma.8 Sau khi thánh Patrick qua đời, thánh Columbanus đã thưa với
Đức Boniface IV: Chúng con những người Ái nhĩ lan… là môn đệ của thánh Phêrô
và Phaolô… Chúng con nắm giữ vững vàng đức tin Công Giáo mà chúng con trước
tiên đã được lãnh nhận từ cha.9 Lời tuyên xưng này đã được Đức Gioan Phaolô
II nhắc lại vào năm 1979: Ái nhĩ lan luôn luôn trung thành – ‘semper
fidelis.’10
Ngày nay, khi cám tạ Thiên Chúa về đặc ân đức tin thánh Patrick đã truyền lại, chúng ta hãy quyết tâm noi theo gương sáng của ngài. Chúng ta hãy sống những lời được truyền tụng là của chính ngài:
Ngày Thánh Patrick
Dù Thánh Patrick là ai, ông chắc chắn cũng không bao giờ mong đợi sự ồn ào mà mình tạo ra 15 thế kỷ sau khi ông qua đời. Trên khắp thế giới, ngày được dành riêng cho vị Thánh bảo hộ của xứ Ireland (17/3) hiện được xem là một dịp kỷ niệm sôi động, hầu như chỉ mang tính thế tục về tất cả mọi thứ liên quan đến Ireland hoặc được cho là như vậy. Lễ diễu hành hàng năm trên Đại lộ Số 5 New York thường được mô tả là cuộc diễu hành quần chúng lâu đời nhất của nước Mỹ. Dù xuất phát từ trước cuộc Cách mạng Mỹ, sự kiện này chỉ bắt đầu sôi động kể từ những năm cuối thế kỷ 19, khi những người Ireland Công giáo di cư, chạy trốn khỏi nghèo khổ và đói khát, bắt đầu khẳng định bản sắc của mình. Những tập quán khác thì xuất hiện gần đây hơn: chỉ khoảng 50 năm qua, sông Chicago mới được nhuộm một màu xanh lá cây để đánh dấu dịp lễ này. Vậy Thánh Patrick là ai?
Về Thánh Patrick trong nền văn hóa đại chúng, chỉ có hai đặc điểm nổi bật trong cuộc đời ông: ông đã đuổi loài rắn khỏi Ireland, và ông đã sử dụng một loại cây của Ailen gọi là cây cỏ ba lá (shamrock) làm công cụ khi truyền đạo, sử dụng hình dạng ba lá để giải thích ý tưởng về một Thiên Chúa duy nhất hiện hữu trong ba ngôi (Chúa Ba ngôi). Cũng giống như rất nhiều nhân vật khác xuất hiện bên rìa thế giới La Mã, trong thời kỳ bóng đêm do đế chế sụp đổ, câu chuyện về cuộc đời Thánh Patrick cũng bao gồm nhiều điều không rõ ràng. Có thể thấy rằng ông đã đến Ireland để rao giảng Cơ đốc giáo vào thế kỷ thứ năm và ông đã chết vào thời điểm nửa cuối thế kỷ đó. Bằng chứng vững chắc nhất mà chúng ta biết về việc Kitô giáo được truyền bá vào Ireland là vào năm 431 Đức Giáo Hoàng đã gửi một nhà truyền giáo có tên là Palladius đến hòn đảo này. Còn sứ mệnh của Thánh Patrick thì không có ngày tháng nào rõ ràng như vậy.
Tuy nhiên, điều mà chúng ta có là tư liệu riêng của ông: hai tài liệu tiếng Latin có ảnh hưởng lớn đã làm nổi bật lên nhân cách của vị thánh này. Trong một tài liệu được biết đến nhiều hơn trong hai bản, bản “Lời thú tội” (Confessio), vị thánh kể lại những chi tiết xúc động về cuộc sống riêng của mình. Ông lớn lên trên bờ biển phía tây nước Anh (có thể là Cumbria) trong một gia đình người Anh Cơ đốc giáo La Mã. Cha ông là một thầy phó tế và ông nội của ông là một linh mục. Khi còn là một thiếu niên, ông đã bị bắt cóc bởi bọn cướp Ai-len và bị giam cầm trong sáu năm, và chính trong khoảng thời gian bị giam cầm này mà ông lần đầu tiên nghe được một tiếng gọi linh thiêng. Bằng cách nào đó ông đã trốn thoát và lên một chiếc thuyền buồm trở về Anh, và sau những hành trình nguy hiểm ông đã hội ngộ được với gia đình của mình. Nhưng một mặc thị đã cho ông hay rằng những người dân Ireland đang kêu gọi ông quay trở lại và truyền bá đức tin Cơ đốc giáo.
Một cuộc sống đầy màu sắc của Patrick đã được viết lại 200 năm sau ngày ông mất, cũng bằng tiếng Latinh, bao gồm tất cả những chi tiết trên nhưng được thêm một vài điểm mới. Tài liệu này nói rằng ông đã được đào tạo cho chuyến đi truyền giáo tại Ai-len của mình thông qua một quá trình tiếp cận lâu dài với những giáo sĩ tại tu viện ở Gaul, tức nước Pháp ngày nay. Điều đó khá hợp lý, bởi hẳn ông đã phải đi tới một nơi nào đó để đạt được trình độ tiếng Latinh và thần học được thể hiện nổi bật trong các tác phẩm của mình.
Có lẽ có một điều đã kết nối Patrick với những kẻ hội hè, những người uống bia màu xanh lá cây và hát những bản ballad ủy mị từ Chicago đến Sydney vào ngày 17 tháng 3. Ông đã trải qua một phần trong cuộc đời mình không phải ở Ireland nhưng lại gắn chặt với Ireland từ xa, và đã đạt được những điều ông không bao giờ có thể có được nếu ông tiếp tục ở lại Đảo Ngọc Lục bảo (Emerald Isle – tức Ai-len).
http://nghiencuuquocte.org/2016/04/18/chung-ta-biet-gi-ve-thanh-patrick/
Khi bạn nghĩ về Ngày Thánh Patrick, có lẽ bạn nghĩ về bia xanh, bắn dây chuyền thủy tinh có tên là Kiss Kiss Tôi là người Ailen, và mọi người nói về việc họ bất ngờ như thế nào. Điều đó rất tốt và tốt, nhưng tôi cá là bạn không biết nhiều về nguồn gốc của ngày lễ, hay vị thánh mà nó tôn vinh. Chà, cởi cái mũ ngu ngốc đó ra, dừng nói chuyện như một yêu tinh trong một giây, và giáo dục cho mình một nụ cười.
Thánh Patrick, được coi là vị thánh bảo trợ của Ireland, thực ra được sinh ra ở Banna Venta Berniae, một thị trấn ở Anh, vào khoảng cuối những năm 300 sau Công nguyên. Đúng vậy, Patrick không phải là người Ireland. Và tên của anh ta không phải là Patrick, cũng là Maewyn Succat, nhưng anh ta không quan tâm đến điều đó nên anh ta đã chọn được gọi là Patricius ở tuyến dưới. Anh ta thực sự có nhiều biệt danh trong suốt cuộc đời: anh ta được nhiều người gọi là Magonus, bởi những người khác là Succetus, và một số người là Cothirthiacus. Nhưng chúng ta sẽ gọi anh ấy là Patrick vì những người khác cũng vậy. Có một chiếc nhẫn đẹp với nó ...
Cha của ông, Calpurnius, là một phó tế trong nhà thờ Cơ đốc giáo đầu tiên, nhưng Patrick không phải là một tín đồ. Mãi cho đến khi anh ta bị cướp biển Ailen bắt giữ năm 16 tuổi và bị bắt làm nô lệ trong sáu năm với tư cách là người chăn cừu mà anh ta chọn để chuyển sang Cơ đốc giáo. Khi ở phía đông bắc Ireland, Patrick đã học ngôn ngữ và văn hóa Ailen trước khi tìm cách trốn trở về Anh. Nhưng Patrick không giỏi trốn thoát rõ ràng, vì anh ta bị bắt trở lại. Lần này do người Pháp. Anh ta bị giam giữ ở Pháp, nơi anh ta đã học được tất cả về tu viện trước khi anh ta được thả ra và được gửi về Anh, nơi anh ta tiếp tục nghiên cứu Cơ đốc giáo tốt vào những năm hai mươi. Cuối cùng, Patrick tuyên bố rằng anh ta có một tầm nhìn bảo anh ta mang Cơ đốc giáo đến với người Ailen, những người chủ yếu là ngoại đạo và say xỉn vào thời điểm đó, vì vậy Patrick đã tìm đường trở về Ireland và mang theo một túi Cơ đốc giáo lớn.
Tuy nhiên, khi Patrick trở lại Ireland, anh và những cách giảng đạo của mình không được hoan nghênh, vì vậy anh phải rời đi và đáp xuống một số hòn đảo nhỏ ngoài khơi. Ở đó, anh ta bắt đầu có được những người theo dõi, và cuối cùng anh ta chuyển đến đại lục để truyền bá tư tưởng Kitô giáo trên khắp Ireland trong nhiều năm tới. Trong thời gian này, Patrick đã rửa tội cho hàng ngàn người (một số người nói là 100.000), đã phong chức linh mục mới, hướng dẫn phụ nữ làm phiền, chuyển đổi con trai của các vị vua trong khu vực và hỗ trợ thành lập hơn 300 nhà thờ.
Văn hóa dân gian cũng kể về việc Patrick xua đuổi tất cả những con rắn khỏi Ireland, nhưng nghe có vẻ xấu xa, thực sự không có con rắn nào trên đảo bắt đầu. Lame, tôi biết. Nhưng Patrick có thể là người chịu trách nhiệm phổ biến shamrock, hoặc cây ba lá mà bạn sẽ thấy được dán khắp nơi ngày hôm nay. Theo truyền thuyết, Patrick đã sử dụng nó để dạy cho người Ireland khái niệm về Holy Holy Trinity. Họ đã có ba vị thần và được coi là số ba rất cao, vì vậy việc sử dụng shamrock của Patrick có thể đã giúp anh ta giành được nhiều sự ưu ái với người Ireland.
Ngày nay, Patricius được biết đến nhiều nhất với cái tên Saint Patrick. Mặc dù về mặt kỹ thuật, ông không phải là một vị thánh được phong thánh bởi Giáo hội Công giáo, nhưng ông được đánh giá cao trên khắp thế giới Kitô giáo. Nhưng tại sao lại nghỉ lễ? Tại sao luôn luôn là ngày 17 tháng 3? Cái gì với màu xanh lá cây? Và tại sao chúng ta nghĩ về một người quyến rũ không phải là người Ailen, không phải rắn là biểu tượng của Ireland?
Ngày thánh Paddy bắt đầu như một lễ kỷ niệm tôn giáo vào thế kỷ 17 để kỷ niệm cuộc đời của Thánh Patrick và sự xuất hiện của Kitô giáo ở Ireland. Ngày lễ ăn mừng này luôn luôn diễn ra vào ngày giỗ của Patrick, được cho là vào ngày 17 tháng 3 năm 461 sau Công nguyên. Vào đầu thế kỷ 18, những người nhập cư Ailen đã mang truyền thống đến các thuộc địa của Mỹ và chính tại đó, Saint Patrick bắt đầu trở thành biểu tượng của di sản và văn hóa Ailen ngày nay. Khi nhiều người Ailen đi qua Đại Tây Dương, lễ kỷ niệm Ngày lễ dần dần trở nên phổ biến. Thực tế, rất nhiều, cuộc diễu hành Ngày Thánh Patrick đầu tiên được tổ chức tại Boston vào năm 1737.
Vào giữa thế kỷ 19, Hoa Kỳ đã chứng kiến một dòng người nhập cư Ailen khổng lồ hy vọng thoát khỏi Nạn đói lớn. Điều này đã biến việc quan sát Ngày Lễ tương đối quy mô nhỏ thành một lễ kỷ niệm đầy đủ mà mọi người muốn trở thành một phần của việc họ có phải là người Ireland hay không. Vào năm 1903, Ngày lễ trở thành một ngày lễ quốc gia ở Ireland và theo thời gian, nó đã biến thành ngày nay được gọi là Ngày Thánh Patrick. Ngày lễ đã được tổ chức trên khắp thế giới tại các quốc gia như Hoa Kỳ, Anh, Canada, Argentina, Úc, New Zealand, Thụy Sĩ, Nga và thậm chí trên khắp châu Á. Khi điều đó xảy ra, Ngày Thánh Paddy rất nổi tiếng, nó được cho là được tổ chức ở nhiều quốc gia hơn bất kỳ lễ hội quốc gia nào khác. Những gì đã từng là một ngày khá lạnh của việc đi đến đại chúng, xem một cuộc diễu hành và ăn một bữa ăn thịnh soạn với gia đình đã biến thành bữa tiệc lớn nhất trên thế giới.
Nếu bạn đang tự hỏi tại sao bạn lại mặc màu xanh lá cây ngay bây giờ, thì có nhiều thứ hơn là bảo vệ khỏi những ngón tay bị chèn ép. Nó quay trở lại cuộc nổi loạn Ailen, khi những người lính Ailen mặc màu xanh lá cây khi họ chiến đấu chống lại người Anh bằng màu đỏ thương hiệu của họ. Cho đến lúc đó, màu sắc liên quan đến St. Patrick và Feast Day thực sự là màu xanh. Những người lính bài hát đã hát trong cuộc chiến năm 1798, Đêm Sự mặc của màu xanh lá cây, đã thay đổi tất cả những điều đó và làm cho màu xanh lá cây, màu của shamrocks, màu chủ đạo của Ireland. Từ đó trở đi, mọi người mặc màu xanh lá cây trong Ngày Thánh Patrick đoàn kết. Và khi Chicago nhuộm màu xanh của dòng sông lần đầu tiên vào năm 1962, việc mặc và trang trí màu xanh lá cây đã trở thành một phần của văn hóa nhạc pop. Bây giờ nó là phổ biến để phá vỡ rau xanh tốt nhất của bạn vào giữa tháng ba.
Được rồi, vậy tại sao tất cả uống rượu? Đó là một phần của lịch sử, một phần chúng ta chịu thua quảng cáo và một phần rập khuôn. Ban đầu, Ngày Thánh Patrick, hay Ngày Lễ, đã chứng kiến việc dỡ bỏ các hạn chế Mùa Chay trong ngày, mang lại cho các Kitô hữu một hơi thở khi họ tiến đến Lễ Phục Sinh. Về cơ bản, đó là một ngày để ăn và uống nhiều như bạn muốn trong lễ kỷ niệm, do đó là bữa ăn truyền thống của thịt xông khói và bắp cải. Nhưng thấm nhuần rượu whisky và bia không phải là một phần của phương trình. Trên thực tế, các quán rượu ở Ireland đã bị pháp luật buộc phải đóng cửa cho kỳ nghỉ cho đến cuối thế kỷ 20, và uống rượu vào Ngày Thánh Patrick đã rất khó chịu cho đến cuối những năm 1970.
Sau đó, một nỗ lực tiếp thị khổng lồ từ Budweiser trong thập niên 80 đã thuyết phục những người khao khát khát nước rằng uống bia và Ngày Thánh Patrick là một trong cùng một. Phần còn lại là lịch sử say rượu dường như không ai nhớ, vì tất cả đã được thay thế trong đầu của chúng tôi bằng các trích dẫn từ. Giống như Cinco de Mayo, nhiều người bây giờ sử dụng kỳ nghỉ như một cái cớ để uống đồ uống, điều này thúc đẩy định kiến tiêu cực bằng cách liên kết không chính xác hành động bị lãng phí với văn hóa Ireland. Nhưng, ít nhất bây giờ bạn có thể tự hào về Guinness vì bạn biết câu chuyện thực sự. Sláinte!
https://vi.goldavelez.com/lich-su-thuc-su-cua-ngay-thanh-patrick
Đọc bản văn trên, người chia sẻ Lời Chúa ở đây cảm thấy như là một bài dịch bởi kỹ thuật dịch hơn là người dịch, bởi nhiều chỗ lủng củng và tối nghĩa v.v.
Thánh Giáo Phụ Cyril thành Giêrusalem
18/3

https://giaophanphucuong.org/phung-vu-chu-thanh/thanh-cyrilo-thanh-gierusalem-896.html
ĐTC Biển Đức XVI: Thứ Tư 27/6/2007 - Bài Giáo Lý 43 - Thánh Giáo Phụ Cyril thành Giêrusalem
19 tháng 3
THÁNH GIU-SE, BẠN TRĂM NĂM ĐỨC MA-RI-A
lễ trọng

Thiên cung hoan hỷ tán dương ngài,
Giáo Hội tưng bừng khắp đó đây,
Lạy thánh Giu-se, ngài xứng đáng
Làm bạn Nữ Hoàng, hạnh phúc thay !
Thấy người thai nghén mà bỡ ngỡ,
Lo lắng hoài nghi rộn tâm tình,
Thiên sứ bảo rằng : thai nhi đó
Chính là do bởi Chúa Thánh Linh.
Bế bồng ấp ủ Chúa còn thơ,
Rồi ẵm sang Ai, trốn quân thù,
Lạc ở Sa-lem, tìm lại thấy,
Vui buồn sướng khổ mấy mươi thu !
Chư thánh chỉ trông phúc thiên đàng
Một khi lìa khỏi chốn dương gian.
Nhưng phần Thánh Cả được hồng phúc
Sống ở thế này cạnh Thánh Nhan.
Cậy nhờ công đức thánh Giu-se,
Nguyện Chúa Ba Ngôi khấng phù trì.
Dẫn dắt đoàn con lên cõi thọ,
Muôn đời ca tụng Chúa từ bi.
Thánh Giu-se trung thành dưỡng nuôi và gìn giữ Chúa Giê-su
Trích bài giảng của thánh Bê-na-đi-nô Xi-ê-na, linh mục.
Đây là đường lối thông thường của Chúa khi Người ban những ơn riêng cho một thụ tạo có trí khôn : Chúa thương tuyển chọn và ban cho ai một ơn đặc biệt hay một địa vị cao trọng nào, thì Người cũng ban mọi đặc sủng cần thiết cho kẻ được tuyển chọn ấy cũng như cho nhiệm vụ của họ. Những đặc sủng này còn tô điểm thêm cho bản thân họ rất nhiều.
Điều này được chứng thực cách tuyệt hảo nơi thánh cả Giu-se. Thánh nhân được coi là cha của Chúa Giê-su Ki-tô và thật sự là bạn trăm năm của Đức Ma-ri-a, nữ hoàng trần thế và nữ vương các thiên thần. Chúa Cha hằng hữu đã chọn thánh Giu-se để thánh nhân trung thành dưỡng nuôi và gìn giữ Đức Giê-su, Con Thiên Chúa, và Đức Ma-ri-a hiền thê của thánh nhân. Đây là hai kho tàng quý giá nhất của Người. Thánh nhân đã chu toàn nhiệm vụ ấy một cách rất trung thành. Vì thế, Chúa đã nói với thánh nhân : Hỡi người tôi tớ tài giỏi và trung thành, hãy vào hưởng niềm vui của chủ.
Nếu bạn muốn nói đến vị thế của thánh Giu-se trong Hội Thánh Đức Ki-tô, thì không phải thế này sao : thánh nhân chính là con người được tuyển chọn, con người đặc biệt. Nhờ có thánh nhân đứng bảo lãnh mà Đức Ki-tô đã vào trần gian một cách hợp pháp và đàng hoàng ? Vậy nếu toàn thể Hội Thánh mắc nợ Đức Mẹ Đồng Trinh, vì nhờ Mẹ mà Hội Thánh được đón nhận Đức Ki-tô, thì sau Đức Mẹ, thánh Giu-se phải được Hội Thánh biết ơn và tôn sùng hơn hết.
Thánh nhân chính là điểm kết của Cựu Ước. Nơi thánh nhân, các tổ phụ và ngôn sứ đón nhận được hoa trái Thiên Chúa hứa ban. Điều mà Thiên Chúa đã rủ tình hứa ban cho các vị ấy, nay trở thành một con người bằng xương bằng thịt, và một mình thánh Giu-se được tiếp đón.
Suốt cuộc đời dương thế, Đức Ki-tô đã sống thân tình với thánh Giu-se, đã quý trọng và tôn kính thánh nhân như người con đối với cha mình, thì hẳn không thể nghi ngờ gì nữa : nay trên trời, chẳng những Đức Ki-tô không chấm dứt, mà còn gia tăng và kiện toàn những tâm tình ấy.
Bởi đó, thật thích đáng khi Chúa nói thêm : Hãy vào hưởng niềm vui của chủ. Đúng ra, niềm vui thấm nhập cõi lòng khi con người được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu, nhưng Chúa vẫn thích nói thế này hơn : Hãy vào hưởng niềm vui... Chúa muốn ta hiểu sâu xa rằng : Không những niềm vui thấm nhập vào lòng người, nhưng nó còn bao trùm, cuốn hút, và, như một vực thẳm mênh mông vô tận, nó tràn ngập con người.
Lạy thánh Giu-se, xin nhớ đến chúng con và cầu thay nguyện giúp cho chúng con bên toà Đức Ki-tô là Dưỡng Tử của ngài. Xin kêu cầu bạn trăm năm của ngài là Đức Trinh Nữ Ma-ri-a rất thánh rủ lòng thương xót chúng con. Người là Thân Mẫu Đức Ki-tô, Đấng hằng sống và hiển trị cùng Chúa Cha và Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. A-men.
Đây bậc Thánh cả thiên đàng hãnh diện,
Niềm cậy trông và cột trụ trần gian,
Chúng con dâng lời tán tụng đôi hàng,
Xin hiền phụ Giu-se thương nhận lãnh.
Dòng Đa-vít, Chúa tạo thành se định
Được kết duyên cùng Trinh Nữ ngọc ngà,
Con Chúa Trời âu yếm gọi là “Cha”,
Ngài cộng tác vào công trình cứu độ.
Ngài lặng lẽ ngắm nhìn Ngôi Thiên Tử,
Giờ sinh ra trong máng cỏ nghèo hèn,
Đấng bao đời ngôn sứ đã ngợi khen,
Ngài thờ lạy đầu tiên cùng Đức Mẹ.
Đây Chúa Tể càn khôn, đây Thượng Đế,
Một dấu tay là địa ngục hãi hùng,
Cả thiên đình đều phụng mệnh khiêm cung
Mà không quản vâng ý ngài trọn vẹn.
Lời vinh tụng, dâng Ba Ngôi trìu mến
Đã ban cho ngài chức trọng quyền cao,
Được ngài thương hằng nâng đỡ nguyện cầu,
Đoàn chúng tử sẽ thông phần vinh phước.
Lạy Chúa, Chúa đã giao phó Đức Giê-su cho thánh cả Giu-se, và thánh nhân đã trung thành gìn giữ trong giai đoạn đầu của công trình cứu độ. Xin nhậm lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp mà ban cho Giáo Hội biết luôn luôn cộng tác với Đức Giê-su, để hoàn tất công trình Người đã khởi đầu. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hợp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.
Phụng Vụ Lời Chúa
Bài Ðọc I: 2 Sm 7, 4-5a. 12-14a. 16
"Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu của Ðavít, tổ phụ Người".
Trích sách Samuel quyển thứ hai.
Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Nathan rằng: "Hãy đi nói với Ðavít tôi tớ Ta rằng: Khi ngày của ngươi đã viên mãn, ngươi sẽ yên nghỉ với các tổ phụ ngươi; sau đó, Ta sẽ cho miêu duệ ngươi lên kế vị và Ta sẽ làm cho triều đại người được vững bền. Chính người sẽ xây cất một ngôi nhà để kính danh Ta, và Ta sẽ làm cho ngôi báu triều đại người được củng cố đến muôn đời. Ta sẽ là Cha của người, và người sẽ là con Ta. Nhà của ngươi và triều đại của ngươi sẽ vững chắc đến muôn đời trước mặt Ta, ngôi báu ngươi sẽ vững bền mãi mãi".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 88, 2-3. 4-5. 27 và 29
Ðáp: Miêu duệ người tồn tại đến muôn đời (c. 37).
Xướng: 1) Tôi sẽ ca ngợi tình thương của Chúa tới muôn đời; qua mọi thế hệ, miệng tôi loan truyền lòng trung thành Chúa. Vì Ngài đã phán: "Tình thương của Ta đứng vững muôn đời"; trên cõi trời cao, Ngài thiết lập lòng trung tín. - Ðáp.
2) Ta đã ký minh ước cùng người ta tuyển lựa, Ta đã thề cùng Ðavít là tôi tớ của Ta rằng: "Cho tới muôn đời Ta bảo tồn miêu duệ của ngươi, và Ta thiết lập ngai báu ngươi qua muôn thế hệ". - Ðáp.
3) Chính người sẽ thưa cùng Ta: "Chúa là Cha con, và Thiên Chúa là Ðá Tảng cứu độ của con". Ðời đời Ta sẽ dành cho người lòng sủng ái, và lời ước Ta ký với người sẽ được mãi mãi duy trì. - Ðáp.
Bài Ðọc II: Rm 4, 13. 16-18. 22
"Mặc dầu tuyệt vọng, ông vẫn tin".
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.
Anh em thân mến, không phải nhờ lề luật mới có lời hứa ban cho Abraham hay dòng dõi của ông trở nên kẻ thừa kế thế gian, nhưng là nhờ sự công chính của đức tin. Vì thế, do đức tin, được coi như là theo ân sủng, lời hứa cho mọi dòng dõi được vững bền, không phải chỉ cho kẻ sinh bởi lề luật, mà còn cho kẻ sinh bởi đức tin của Abraham, tổ phụ của mọi người chúng ta, (như có lời chép rằng: Ta đã đặt ngươi làm cha nhiều dân tộc) trước mặt Thiên Chúa, Ðấng ông đã tin, Ðấng cho kẻ chết sống lại, và kêu gọi cái không có như có. Mặc dầu tuyệt vọng, ông vẫn tin rằng mình sẽ trở thành cha nhiều dân tộc, như có lời đã phán với ông rằng: "Dòng dõi ngươi sẽ như thế". Vì vậy, ông đã được kể như sự công chính.
Ðó là lời Chúa.
Câu Xướng Trước Phúc Âm: Tv 83, 5
(Mùa Chay: bỏ Alleluia)
Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, phúc cho những ai ngụ nơi nhà Chúa, họ sẽ khen ngợi Chúa đến muôn đời. - Alleluia.
Phúc Âm: Mt 1, 16. 18-21. 24a
"Giuse đã thực hiện như lời Thiên thần Chúa truyền".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Giacóp sinh Giuse là bạn của Maria, mẹ của Chúa Giêsu gọi là Ðức Kitô. Chúa Kitô giáng sinh trong hoàn cảnh sau đây: Mẹ Người là Maria đính hôn với Giuse, trước khi về chung sống với nhau, đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần. Giuse bạn của bà là người công chính, không muốn tố cáo bà, nên định tâm lìa bỏ bà cách kín đáo. Nhưng đang khi định tâm như vậy, thì Thiên thần hiện đến cùng ông trong giấc mơ và bảo: "Hỡi Giuse con vua Ðavít, đừng ngại nhận Maria về nhà làm bạn mình, vì Maria mang thai là bởi phép Chúa Thánh Thần; bà sẽ sinh hạ một con trai mà ông đặt tên là Giêsu: vì chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội". Khi tỉnh dậy, Giuse đã thực hiện như lời Thiên thần Chúa truyền.
Ðó là lời Chúa.
- - - - - - - - - - - - - -
Hoặc: Lc 2, 41-51a
"Kìa cha Con và mẹ đây đã đau khổ tìm Con".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Hằng năm cha mẹ Chúa Giêsu có thói quen lên Giêrusalem để mừng lễ Vượt Qua. Lúc bấy giờ Chúa Giêsu lên mười hai tuổi, cha mẹ Người đã lên Giêrusalem, theo tục lệ mừng ngày lễ Vượt Qua. Và khi những ngày lễ đã hoàn tất, hai ông bà ra về, trẻ Giêsu đã ở lại Giêrusalem mà cha mẹ Người không hay biết. Tưởng rằng Người ở trong nhóm các khách đồng hành, hai ông bà đi được một ngày đàng, mới tìm kiếm Người trong nhóm bà con và những kẻ quen biết. Nhưng không gặp thấy Người, nên hai ông bà trở lại Giêrusalem để tìm Người.
Sau ba ngày, hai ông bà gặp thấy Người trong đền thờ đang ngồi giữa các thầy tiến sĩ, nghe và hỏi các ông. Tất cả những ai nghe Người nói, đều ngạc nhiên trước sự hiểu biết và những câu Người đáp lại. Nhìn thấy Người, hai ông bà ngạc nhiên, và mẹ Người bảo Người rằng: "Con ơi, sao Con làm cho chúng ta như thế? Kìa cha Con và mẹ đây đã đau khổ tìm Con". Người thưa với hai ông bà rằng: "Mà tại sao cha mẹ tìm con? Cha mẹ không biết rằng con phải lo công việc của Cha con ư?" Nhưng hai ông bà không hiểu lời Người nói. Bấy giờ Người theo hai ông bà trở về Nadarét, và Người vâng phục hai ông bà.
Ðó là lời Chúa.
ĐTC Biển Đức XVI về Thánh Giuse trong buổi triều kiến chung 19/3/2003
1. Hôm nay chúng ta cử hành lễ trọng kính Thánh Giuse, vị hôn phu của Mẹ Maria (x Mt 1:24; Lk 1:27). Phụng vụ diễn tả Ngài là “cha” của Chúa Giêsu (x Lk 2:27,33,41,43,48), sẵn lòng thực thi các dự án thần linh, ngay cả khi những dự án này vượt quá tầm mức hiểu biết loài người. Nơi “người con Vua Đavít” (Mt 1:20; Lk 1:27) này, Sách Thánh được nên trọn và Lời Hằng Sống đã làm người, bởi quyền năng Thánh Linh, trong cung lòng của Trinh Nữ Maria. Thánh Giuse được Phúc Âm diễn tả như là “một con người công chính” (Mt 1:19), và Ngài là mẫu gương sống đức tin cho tất cả mọi tín hữu.
2. Chữ “công chính” nói lên tính cách cương trực về luân lý của Ngài, việc Ngài chân thành gắn bó với việc thực hành lề luật cũng như thái độ hoàn toàn cởi mở trước ý muốn của Cha trên trời. Ngay cả trong những lúc khó khăn, vào những lúc thảm cảnh, người thợ mộc khiêm hạ thành Nazarét này cũng không bao giờ chiếm cho mình thứ quyền thách đố dự án của Thiên Chúa. Ngài chờ đợi tiếng gọi từ trên cao và âm thầm tôn kính mầu nhiệm ấy, bằng cách để cho Chúa hướng dẫn. Một khi lãnh nhận công việc, Ngài thi hành với tất cả trách nhiệm thành tín: Ngài chuyên chú lắng nghe thiên thần khi được yêu cầu nhận Trinh Nữ Nazarét làm hiền thể của Ngài (x Mt 1:18-25), trong cuộc trốn sang Ai Cập (x Mt 2:13-15) cũng như trong cuộc trở về Do Thái (x Ibid 2:19-23). Qua một số giòng chữ, tuy ít nhưng quan trọng, các vị thánh ký đã cho thấy Ngài như là một vị bảo quản ân cần của Chúa Giêsu, một phu quân lưu tâm và trung tín, vị thi hành quyền bính của mình trong gia đình bằng một thái độ phục vụ liên lỉ. Sách Thánh không nói cho chúng ta biết hơn nữa về Ngài, nhưng trong cái câm nín này đã gói ghém chính kiểu cách sứ vụ của Ngài, đó là một cuộc hiện hữu được sống động trong âm thầm của cuộc sống hằng ngày, nhưng bằng một đức tin vững chắc vào Đấng Quan Phòng.
3. Hằng ngày Thánh Giuse phải cung ứng các nhu cầu của gia đình bằng việc làm chân tay khó nhọc của Ngài. Vì lý do này, Giáo Hội đã có lý để đặt Ngài là quan thày của thành phần lao động.
Bởi thế, lễ trọng hôm này cũng là một cơ hội rất thuận lợi để suy nghĩ về tầm quan trọng của việc làm trong đời sống con người, nơi gia đình cũng như ngoài cộng đồng.
Con người là chủ thể và là vai chính của việc làm, và theo chiều hướng của sự thật này, người ta có thể dễ dàng nhận thức được cái liên hệ trọng yếu hiện hữu giữa con người, việc làm và xã hội. Hoạt động của con người, theo Công Đồng Chung Vaticanô II, được phát xuất từ con người và qui hướng về con người. Theo ấn định và ý muốn của Thiên Chúa, nó phải phục vụ thiện ích thực sự của nhân loại và giúp cho “con người, là một cá nhân cũng như là một phần tử của xã hội, có thể vun trồng và thực thi ơn gọi toàn diện của mình” (x Vui Mừng Và Hy Vọng, 35).
Để làm trọn công việc này, cần phải vun trồng “một linh đạo thực sự của việc làm nhân bản” được sâu xa bắt nguồn từ “Phúc Âm làm việc”, và là một linh đạo các tín hữu được kêu gọi để loan truyền và làm chứng cho ý nghĩa việc làm theo Kitô Giáo trong các hoạt động nghề nghiệp khác nhau của họ (x Thông Điệp Laborens Exercens, 26).
4. Chớ gì Thánh Giuse, một vị thánh cao cả và khiêm hạ, trở thành một mẫu gương khiến thành phần lao động Kitô hữu noi theo bắt chước, kêu cầu Ngài trong hết mọi hoàn cảnh. Hôm nay đây, Tôi xin ký thác cho vị bảo quản ân cần Thánh Gia Nazarét này giới trẻ, thành phần đang sửa soạn cho một tương lai nghề nghiệp, thành phần thất nghiệp và những ai đang phải chịu khốn khó vì thiếu nghề nghiệp, các gia đình và toàn thế giới của việc làm cùng với những mong đợi và thách đố, những trục trặc và chiều kích của nó.
Xin Thánh Giuse, quan thầy chung của Giáo Hội, trông coi toàn thể cộng đồng giáo hội, và như một con người thực sự của hòa bình, cầu cho toàn thể nhân loại, nhất là cho những người đang bị đe dọa trong thời gian chiến tranh này đây, tặng ân thái hòa và bình an cao quí.
Anh Chị Em thân mến,
Thánh Giuse là vị chúng ta long trọng mừng lễ hôm nay đây, là gương mẫu sống đức tin. Là vị bảo vệ Thánh Gia, “con người công chính” (Mt 1:19) này là một con người lao động khiêm tốn, và là một phu quân và thân phụ trung thành. Đời sống của Ngài cho chúng ta thấy một lòng tin tưởng bất khả chuyên thay vào Đấng Quan Phòng thần linh.
Thánh Giuse sẵn sàng thực hiện dự án của Thiên Chúa giành cho Ngài cũng như cho Mẹ Maria, ngay cả khi dự án này dường như vượt trên mức độ hiểu biết của loài người.
Giáo Hội cũng cử hành mừng Thánh Giuse là Quan Thày của Thành Phần Lao Động nữa. Trong một thế giới toàn cầu hóa hôm nay đây chúng ta cần phải nhắc nhở mình là phẩm vị của con người phải đóng vai trò quan trọng chính yếu nơi tất cả mọi thứ phát triển về xã hội cũng như kinh tế. Là một con người của hòa bình, chúng ta hãy cầu với Thánh Giuse cho những ai đang bị de dọa bởi chiến tranh và chúng ta kêu cầu tặng ân thái hòa cao quí cho toàn thể gia đình nhân loại.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch từ theo tài liệu của Tòa Thánh được Zenit phổ biến ngày 19/3/2003.
Giáo Hoàng Biển Đức XVI: Huấn Từ Truyền Tin Chúa Nhật III Mùa Chay về Thánh Giuse 19/3/2006
Anh Chị Em thân mến!
Hôm nay, ngày 19/3, là lễ trọng kính Thánh Giuse, nhưng vì trùng với Chúa Nhật III Mùa Chay nên phụng vụ được dời vào ngày mai. Tuy nhiên, khung cảnh Thánh Mẫu của buổi nguyện Kinh Truyền Tin kêu mời chúng ta hãy kính can suy niệm về hình ảnh vị hôn phu của Trinh Nữ Maria Rất Thánh, quan thày của Giáo Hội hoàn vũ. Tôi muốn nhắc lại là Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thân yêu của chúng ta cũng rất sùng kính Thánh Giuse, vị được ngài giành hẳn một bức tông thư ‘Redemptoris Custos’, Vị Bảo Hộ Của Đấng Cứu Chuộc, và là giáo hoàng chắc chắn đã cảm thấy được sự hỗ trợ của thánh nhân trong giờ lâm tử.
Hình ảnh của vị đại thánh này, cho dù vẫn âm thầm kín ẩn, có một tầm vóc quan trọng đặc biệt trong lịch sử cứu độ. Trước hết, vì thuộc về chi tộc Giuđa, thánh nhân đã có liên hệ với Chúa Giêsu theo giòng dõi vua Đavít, bởi đó, khi hiện thực những lời hứa về Đấng Thiên Sai, người con của Trinh Nữ Maria mới thực sự được gọi là ‘con vua Đavít’.
Phúc Âm Thánh Mathêu nhấn mạnh một cách đặc biệt đến những lời tiên tri về đấng thiên sai được nên trọn nơi vai trò của Thánh Giuse: nơi việc Chúa Giêsu được hạ sinh (2:13-15); tên gọi ‘Nazarene’ (2:22-23). Trong tất cả những điều này, thánh nhân đã cho thấy bản thân của ngài, như vị hôn thê Maria của mình, là giòng dõi đích thực của đức tin Abraham: niềm tin nơi Thiên Chúa đã hướng dẫn các biến cố lịch sử theo dự án cứu độ thần linh của Ngài. Sự cao cả của thánh nhân, như Mẹ Maria, còn trổi vượt hơn nữa, vì sứ vụ của thánh nhân được thực hiện trong khiêm hạ cũng như trong sự khuất kín ở nhà Nazarét. Hơn nữa, chính Thiên Chúa, nơi bản thân Người Con nhập thể của Ngài, đã chọn đường lối cùng lối sống ấy trên cuộc đời trần gian.
Từ gương mẫu của Thánh Giuse, tất cả chúng ta lãnh nhận một lời mời mmạnh mẽ trong việc trung thành, đơn sơ và khiêm hạ công việc được Thiên Chúa quan phòng ấn định cho chúng ta. Trước hết tôi đang nghĩ đến những người làm cha làm mẹ, và tôi nguyện cầu để họ luôn có thể cảm nhận được vẻ đẹp của một đời sống giản dị và cần cù, chuyên chú vun trồng mối liên hệ vợ chồng và nhiệt thành làm trọn sứ vụ giáo dục cao cả nhưng không dễ dàng gì.
Xin Thánh Giuse cầu cho các vị linh mục là thành phần thực thi vai trò làm cha đối với cộng đồng giáo hội biết yêu mến Giáo Hội một cách thiết tha và hoàn toàn dấn thân phục vụ, và nâng đỡ thành phần tu trì tận hiến biệt hân hoan và trung thành tuân giữ các lời khuyên của Phúc Âm sống khó nghèo, thanh tịnh và tuân phục. Xin thánh nhân bảo vệ thành phần lao động trên thế giới để họ góp phần bằng các nghề nghiệp khác nhau của họ cho sự tiến bộ của toàn thể nhân loại, và xin thánh nhân giúp cho hết mọi Kitô hữu nhận biết ý muốn của Thiên Chúa một cách tin tưởng và mến yêu, nhờ đó cộng tác vào việc làm trọn công cuộc cứu độ.
Khi Đức Thánh Cha vừa nói hết câu đầu tiên của bài huấn từ truyền tin trên đây, câu “Anh Chị Em thân mến. Hôm nay, ngày 19/3, là lễ trọng kính Thánh Giuse”, liên được đoàn hành hương cả 50 ngàn người vỗ tay vang rền khu Quảng Trường Thánh Phêrô. Có một số người cầm biểu ngữ với những chữ như “Auguri, Joseph!” (Chúc Mừng Giuse). Đức Thánh Cha đã mỉm cười và nói cám ơn mấy lần.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 19/3/2006
