
SUY NGUYỆN và SỐNG ĐẠO
Chia Sẻ Phụng Vụ Lời Chúa Tuần
XVIII Thường Niên
Năm A
(Chúa nhật)
-
Năm
Chẵn
(trong tuần)
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
Chúa Nhật
Phụng Vụ Lời Chúa
Bài Ðọc I: Is 55,
1-3
"Hãy đến mua lúa mà ăn".
Trích sách Tiên tri Isaia.
Ðây Chúa phán: "Hỡi tất cả những ai
khát nước, hãy đến uống nước; hỡi kẻ không tiền bạc, hãy đến mua lúa mà ăn;
hãy đến mà mua rượu và sữa, không cần trả tiền, không cần đổi chác gì. Tại
sao các ngươi không dùng tiền mà mua bánh, sao không dùng tiền lương mà mua
đồ nuôi thân? Vậy hãy lắng tai nghe, hãy đến ăn đồ bổ, và các ngươi sẽ được
thưởng thức món ăn mỹ vị. Hãy lắng tai và đến cùng Ta, hãy nghe, thì các
ngươi sẽ được sống; Ta sẽ ký kết với các ngươi một giao ước vĩnh cửu, đó là
những hồng ân đã hứa cho Ðavít".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 144,
8-9. 15-16. 17-18
Ðáp: Lạy Chúa,
Chúa mở rộng bàn tay ra, và thi ân cho chúng con được no nê (x. c. 16).
Xướng: 1) Chúa nhân ái và từ bi, chậm
bất bình và giàu ân sủng. Chúa hảo tâm với hết mọi loài, và từ bi với mọi
công cuộc của Chúa. - Ðáp.
2) Muôn loài để mắt cậy trông vào
Chúa, và Ngài ban lương thực cho chúng đúng theo giờ. Chúa mở rộng bàn tay
ra, và thi ân cho mọi sinh vật được no nê. - Ðáp.
3) Chúa công minh trong mọi đường lối,
và thánh thiện trong việc Chúa làm. Chúa gần gũi kẻ kêu cầu Ngài, mọi kẻ kêu
cầu Ngài cách thành tâm. - Ðáp.
Bài Ðọc II: Rm 8,
35. 37-39
"Không một tạo vật nào có thể tách
biệt chúng ta khỏi lòng yêu mến của Thiên Chúa trong Ðức Kitô, Chúa chúng
ta".
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín
hữu Rôma.
Anh em thân mến, ai sẽ tách biệt chúng
ta ra khỏi lòng yêu mến của Ðức Kitô được? Hay là gian truân, buồn sầu, đói
khát, trần truồng, nguy hiểm, bắt bớ, gươm giáo sao?
Nhưng chúng ta vượt thắng được trong
tất cả những sự ấy, vì Ðấng đã yêu thương chúng ta. Tôi chắc chắn rằng dù sự
chết hay sự sống, dù thiên thần hay các bậc quyền quý, tài sức, dù những sự
hiện tại hay tương lai, hoặc sức mạnh, dù cao hay sâu, dù tạo vật nào khác,
cũng không có thể tách biệt chúng ta ra khỏi lòng yêu mến của Thiên Chúa,
trong Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.
Ðó là lời Chúa.
Alleluia: x. Ep 1,
17-18
Alleluia, alleluia! - Cha của Ðức
Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đã soi lòng trí để chúng ta biết thế nào là sự
cậy trông Chúa kêu gọi chúng ta. - Alleluia.
Phúc Âm: Mt 14,
13-21
"Mọi người đều ăn no".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh
Matthêu.
Khi ấy Chúa Giêsu nghe tin Gioan Tẩy
Giả đã chết, thì Người rời bỏ nơi đó, xuống thuyền đi đến nơi hoang địa vắng
vẻ. Dân chúng nghe biết, thì từ các thành phố đi bộ theo Người. Ra khỏi
thuyền, Người thấy dân chúng đông đảo, thì thương xót họ, và chữa những
người bệnh tật trong họ.
Chiều tới, các môn đệ đến gần thưa
Người rằng: "Ðây là nơi hoang địa, mà giờ đã chiều rồi, xin Thầy giải tán
dân chúng, để họ vào các làng mạc mà mua thức ăn". Nhưng Chúa Giêsu nói với
các ông rằng: "Họ chẳng cần phải đi, các con hãy cho họ ăn". Các ông thưa
lại rằng: "Ở đây chúng con chỉ có năm chiếc bánh và hai con cá". Người bảo
các ông rằng: "Hãy đem lại cho Thầy".
Khi Người đã truyền cho dân chúng ngồi
trên cỏ, Người cầm lấy năm chiếc bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, đọc
lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ, các ông này phân phát cho dân
chúng. Mọi người đều ăn no. Và người ta thu lượm được mười hai thúng đầy
những miếng bánh vụn. Số người ăn là năm ngàn người đàn ông, không kể đàn bà
và con trẻ.
Ðó là lời Chúa.

Suy Nghiệm Lời Chúa
Lòng thương xót Chúa là tất cả no thỏa của những
kẻ bần cùng khốn khổ
Nếu theo dõi tiến trình của chiều hướng phụng vụ
Lời Chúa cho các Chúa Nhật, chúng ta thấy tính cách liên tục của nó. Nếu sau
3 Chúa Nhật liền, Chúa Nhật XV, XVI và XVII Thường Niên Năm A, các bài Phúc
Âm về dụ ngôn Nước Trời nói chung và về Lời Chúa là chính bản thân Đức Giêsu
Kitô nói riêng, thì bài Phúc Âm của Chúa Nhật XVIII Thường Niên Năm A hôm
nay, cho thấy tác dụng thần linh của Lời Chúa, ở chỗ Lời Chúa trở thành bánh
nuôi dưỡng dân chúng đói khổ về phần hồn, được tiêu biểu qua phép lạ bánh
hóa ra nhiều để nuôi dân chúng no nê về phần xác lần đầu tiên này.
Đó là lý do Giáo Hội đã không chọn đọc đoạn Phúc Âm của Thánh ký Mathêu ngay
sau loạt dụ ngôn về Nước Trời ở đoạn 13, mà bỏ phần cuối của đoạn 13 liên
quan đến chuyện Người về quê quán Nazarét của Người (13:54-58), và bỏ phần
đầu của đoạn 14 về biến cố qua đời của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả bị quận vương
Hêrôđê chặt đầu (1-12), là những đoạn không theo đúng chiều hướng phụng vụ
Lời Chúa được Giáo Hội nhắm tới và chọn lọc cho cộng đồng dân Chúa của mình,
trái lại, Giáo Hội đã chọn đọc đoạn Phúc Âm hôm nay, 14:13-21, về phép lạ
bánh hóa ra nhiều.
Nếu thời điểm 3 Chúa Nhật XV, XVI và XVII là 3 Chúa Nhật có 3 bài Phúc Âm về
Mầu Nhiệm Nước Trời liên quan đến Lời Chúa, và nếu thời điểm 3 Chúa Nhật
XII, XII và XIV trước đó, là 3 bài Phúc Âm liên quan tới vai trò môn đệ thừa
sai của 12 tông đồ trong việc Chúa Giêsu sai các vị đi đến với con chiên lạc
Nhà Israel bằng một huấn từ truyền giáo, thì Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật
XVIII tuần này chúng ta thấy hội tụ cả hai yếu tố bất khả thiếu và bất khả
phân ly: Lời Chúa cũng chính là Chúa Giêsu Kitô và các vị tông đồ thừa sai,
trong vụ việc đáp ứng nhu cầu lương thực hằng ngày của dân chúng.
Bởi thế, trong Bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta thấy Chúa Giêsu không hành động
đơn phương, cho dù Người không cần đến các môn đệ tông đồ của Người:
"Chiều
tới, các môn đệ đến gần thưa Người rằng: 'Ðây là nơi hoang địa, mà giờ đã
chiều rồi, xin Thầy giải tán dân chúng, để họ vào các làng mạc mà mua thức
ăn'. Nhưng Chúa Giêsu nói với các ông rằng: 'Họ chẳng cần phải đi, các con
hãy cho họ ăn'".
Chúa Giêsu muốn thành phần tông đồ môn đệ, thành phần sau này sẽ thay
Người chăn dắt đoàn chiên của Người, cần phải tích cực hợp tác với Người
trong việc chủ động phục vụ dân chúng, chẳng những ở chỗ cung cấp cho Người
những gì họ có hay kiếm được: "'Ở đây chúng
con chỉ có năm chiếc bánh và hai con cá'. Người bảo các ông rằng: 'Hãy đem
lại cho Thầy'", mà còn ở
chỗ phân phát cho dân chúng những gì Người muốn ban cho họ:
"Người cầm lấy năm chiếc bánh và hai con cá,
ngước mắt lên trời, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ, các ông
này phân phát cho dân chúng. Mọi người đều ăn no".
Nếu Bài Phúc Âm Chúa Nhật XVIII Năm A hôm nay về phép lạ bánh hóa ra
nhiều nuôi dân chúng no nê hôm nay bao gồm cả Chúa Giêsu Kitô đóng
vai chính và thành phần môn đệ thừa sai đóng vai phụ thì hai vai chính lẫn
phụ này đã được Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay cho thấy ở trong hai Bài
Đọc khác cùng ngày hôm nay: vai chính ở trong Bài Đọc 1 và vai phụ ở trong
Bài Đọc 2.
Trước hết, về vai chính, Tiên Tri Isaia, trong Bài Đọc 1 hôm nay,
đã phát ngôn ý định của Vị Thiên Chúa là tình yêu vô cùng nhân
hậu, mà khi nhập thể nơi Con của mình là Đức Giêsu Kitô sau này, "thấy
dân chúng đông đảo, thì thương xót họ", vì Ngài chỉ muốn cho chung tạo
vật được Ngài dựng nên theo hình ảnh Ngài và tương tự như Ngài (xem Khởi
Nguyên 1:26), và riêng dân Ngài hay thành phần được Ngài tuyển chọn
những gì tốt lành nhất, cần thiết nhất và lợi ích nhất cho họ, một
cách nhưng không:
"Hỡi tất cả những ai khát nước, hãy đến uống nước; hỡi kẻ không tiền
bạc, hãy đến mua lúa mà ăn; hãy đến mà mua rượu và sữa, không cần trả tiền,
không cần đổi chác gì. Tại sao các ngươi không dùng tiền mà mua bánh, sao
không dùng tiền lương mà mua đồ nuôi thân? Vậy hãy lắng tai nghe, hãy đến ăn
đồ bổ, và các ngươi sẽ được thưởng thức món ăn mỹ vị. Hãy lắng tai và đến
cùng Ta, hãy nghe, thì các ngươi sẽ được sống; Ta sẽ ký kết với các ngươi
một giao ước vĩnh cửu, đó là những hồng ân đã hứa cho Ðavít".
Sau nữa, về vai phụ, Vị Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô, trong Bài Đọc 2 hôm
nay, đã cống hiến cho chúng ta một lối sống hiệp sinh để nhờ đó
thành phần môn đệ thừa sai của Chúa Kitô, về mặt tiêu cực, chẳng những không
có thái độ và hành động dửng dưng hay phủi tay trước nhu cầu của dân chúng
hay của đoàn chiên được ủy thác cho mình:
"xin Thầy giải tán
dân chúng, để họ vào các làng mạc mà mua thức ăn",
trái lại, về mặt tích cực, có được một tấm lòng
thương xót như Thày của mình, ở chỗ chẳng những biết xót xa tình trạng khốn
khổ của dân chúng mà còn biết gánh chịu phần nhiệm đáp ứng nhu cầu của họ
một cách thỏa đáng nữa. Lối sống hiệp sinh bất khả phân ly đến độ tâm tư và
ước nguyện của Người là của chính tâm tư và ước nguyện của thành phần môn đệ
thừa sai sống gắn bó với Người này là như thế này:
"Anh em thân mến, ai sẽ tách biệt chúng ta ra khỏi lòng
yêu mến của Ðức Kitô được? Hay là gian truân, buồn sầu, đói khát, trần
truồng, nguy hiểm, bắt bớ, gươm giáo sao? Nhưng chúng ta vượt thắng được
trong tất cả những sự ấy, vì Ðấng đã yêu thương chúng ta. Tôi chắc chắn rằng
dù sự chết hay sự sống, dù thiên thần hay các bậc quyền quý, tài sức, dù
những sự hiện tại hay tương lai, hoặc sức mạnh, dù cao hay sâu, dù tạo vật
nào khác, cũng không có thể tách biệt chúng ta ra khỏi lòng yêu mến của
Thiên Chúa, trong Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta".
Nếu ở câu Alleluia hôm nay "Cha của Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đã
soi lòng trí để chúng ta biết thế nào là sự cậy trông Chúa kêu gọi chúng ta",
thì với tư cách là dân của Chúa và là chiên của Người, chúng ta có thể cùng
với Thánh Vịnh gia trong Thánh Vịnh 144 ở Bài Đáp Ca hôm nay kêu lên:
"Lạy Chúa, Chúa mở rộng bàn tay ra, và thi ân cho chúng con được no nê" (câu
16), với tất cả ý thức sâu xa về một Vị Thiên Chúa luôn động lòng
thương tạo vật của mình, dân của mình, nơi con tim loài người của Người Con
là Đức Giêsu Kitô, rằng:
1) Chúa nhân ái và từ bi, chậm bất bình và giàu ân sủng. Chúa hảo tâm
với hết mọi loài, và từ bi với mọi công cuộc của Chúa.
2) Muôn loài để mắt cậy trông vào Chúa, và Ngài ban lương thực cho chúng
đúng theo giờ. Chúa mở rộng bàn tay ra, và thi ân cho mọi sinh vật được no
nê.
3) Chúa công minh trong mọi đường lối, và thánh thiện trong việc Chúa
làm. Chúa gần gũi kẻ kêu cầu Ngài, mọi kẻ kêu cầu Ngài cách thành tâm.
Thứ Hai
Phụng
Vụ Lời Chúa
Bài Ðọc I: (Năm
II) Gr
28, 1-17
"Hỡi Hanania, Chúa không hề sai
anh, anh đã làm cho dân tin tưởng sự giả dối".
Trích sách Tiên tri Giêrêmia.
Năm ấy, vào đầu triều đại Sêđêcia,
vua Giuđa, tháng năm, năm thứ tư, có tiên tri Hanania, con của Azur, quê
ở Gabaon, nói với Giêrêmia trong Ðền thờ Chúa, trước mặt các tư tế và
toàn dân rằng: "Chúa các đạo binh, Thiên Chúa Israel phán thế này: "Ta
đã bỏ ách của vua Babylon. Còn hai năm nữa thì tất cả những đồ dùng
trong Ðền thờ Chúa, mà Nabucôđônosor, vua Babylon, đã đoạt đem qua
Babylon, Ta sẽ đem về nơi này. Giêcônia, con Gioakim, vua Giuđa, cùng
tất cả những người Giuđa bị lưu đày đi Babylon, Ta cũng sẽ đem về nơi
này: vì Ta bỏ ách vua Babylon. Chúa phán như thế".
Bấy giờ tiên tri Giêrêmia trả lời
tiên tri Hanania trước mặt các tư tế và toàn dân đang đứng trong Ðền thờ
Chúa. Tiên tri Giêrêmia nói: "Ðược, Chúa cứ làm như vậy. Chúa cứ thực
hiện những lời anh đã nói tiên tri. Ngài cứ đem các đồ dùng trong Ðền
thờ Chúa và mọi người lưu đày từ Babylon về nơi này. Nhưng anh hãy nghe
lời tôi nói cho anh và toàn dân nghe: Các tiên tri trước anh và tôi, đã
nói tiên tri từ lâu, cho nhiều xứ và vương quốc vĩ đại biết có chiến
tranh, cơ cực và đói khát. Nhưng tiên tri nào nói tiên tri cho biết có
hoà bình, khi ứng nghiệm lời mình nói, thì mới được nhận là tiên tri
thật Chúa sai đến".
Bấy giờ tiên tri Hanania giật cái
ách nơi cổ của tiên tri Giêrêmia mà bẻ đi. Rồi Hanania nói trước mặt
toàn dân rằng: "Chúa phán thế này: Hai năm nữa, Ta sẽ bẻ ách của
Nabucôđô-nosor, vua Babylon, nơi cổ mọi dân tộc như thế đó". Và tiên tri
Giêrêmia bỏ đi. Nhưng sau khi tiên tri Hanania giật cái ách nơi cổ tiên
tri Giêrêmia mà bẻ đi, thì có lời Thiên Chúa phán cùng Giêrêmia rằng:
"Hãy đi nói với Hanania rằng: Chúa phán thế này: "Ngươi đã bẻ ách gỗ,
thì Ta sẽ lấy ách sắt thay vào". Vì Chúa các đạo binh, Thiên Chúa Israel
phán: "Ta đã đặt ách sắt vào cổ mọi dân tộc này, để chúng làm tôi
Nabucô-đônosor, vua Babylon. Chúng sẽ làm tôi vua ấy, và cả đến thú vật
ngoài đồng, Ta cũng nạp cho vua ấy".
Tiên tri Giêrêmia liền nói với
tiên tri Hanania rằng: "Hỡi Hanania, hãy nghe đây: Chúa không hề sai
anh. Anh đã làm cho dân này tin tưởng sự giả dối. Vì vậy, Chúa phán thế
này: 'Ðây Ta sẽ cất ngươi khỏi mặt đất: năm nay ngươi sẽ chết, vì ngươi
đã nói chống lại Chúa' ". Và tiên tri Hanania đã chết trong tháng bảy
năm ấy.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 118,
29. 43. 79. 80. 95. 102
Ðáp: Lạy
Chúa, xin dạy bảo con những thánh chỉ của Chúa (c. 68b).
Xướng: 1) Xin đưa con xa cách con
đường gian dối, và rộng tay ban luật pháp của Ngài cho con. - Ðáp.
2) Xin Chúa đừng rút lời chân lý
khỏi miệng con, vì con trông cậy vào sắc dụ của Ngài. - Ðáp.
3) Tâm hồn chúng như mỡ đặc, vô
cảm giác; phần con biết sướng vui do luật pháp của Ngài. - Ðáp.
4) Nguyện cho lòng con trọn vẹn
hướng về thánh chỉ, để con không bị xấu hổ thẹn thùng. - Ðáp.
5) Những tên ác nhân đợi chờ để
thủ tiêu con, nhưng con vẫn quan tâm đến lời Ngài nghiêm huấn. - Ðáp.
6) Con không bước trật đường thánh
dụ của Ngài, bởi vì chính Ngài dạy bảo con. - Ðáp.
Alleluia: Mt 4,
4b
Alleluia, alleluia! - Người ta
sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán
ra. - Alleluia.
Phúc Âm: Mt 14,
22-36
"Xin truyền cho con đi trên mặt
nước mà đến cùng Thầy".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo
Thánh Matthêu.
Khi dân chúng đã ăn no, lập tức
Chúa Giêsu giục môn đệ trở xuống thuyền mà qua bờ bên kia trước, trong
lúc Người giải tán dân chúng. Giải tán họ xong, Người lên núi cầu nguyện
một mình. Ðến chiều, Người vẫn ở đó một mình. Còn thuyền thì đã ra giữa
biển, bị sóng đánh chập chờn vì ngược gió.
Canh tư đêm tối, Người đi trên mặt
biển mà đến với các ông. Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hồn
mà nói rằng: "Ma kìa" và các ông sợ hãi kêu la lớn tiếng. Lập tức, Chúa
Giêsu nói với các ông rằng: "Hãy yên tâm. Thầy đây, đừng sợ". Phêrô thưa
lại rằng: "Lạy Thầy, nếu quả là Thầy, thì xin truyền cho con đi trên mặt
nước mà đến cùng Thầy". Chúa phán: "Hãy đến". Phêrô xuống khỏi thuyền
bước đi trên mặt nước mà đến cùng Chúa Giêsu. Khi thấy gió mạnh, ông sợ
hãi và sắp chìm xuống nên la lên rằng: "Lạy Thầy, xin cứu con". Lập tức,
Chúa Giêsu giơ tay nắm lấy ông mà nói: "Người hèn tin, tại sao lại nghi
ngờ?" Khi cả hai đã lên thuyền thì gió liền yên lặng. Những người ở
trong thuyền đến lạy Người mà rằng: "Thật, Thầy là Con Thiên Chúa!"
Khi đã sang qua biển hồ, các ngài
lên bộ và ghé vào Ghênêsarét. Nhận ra Ngài, dân địa phương liền loan tin
đi khắp cả vùng xung quanh, và người ta đem đến cho Ngài hết mọi kẻ ốm
đau. Họ nài xin Ngài cho họ rờ đến tua áo choàng của Ngài thôi, và ai đã
rờ đến thì đều được chữa lành.
Ðó là lời Chúa.

Suy Niệm Cảm Nghiệm
Bài Phúc Âm hôm nay, đáng lẽ là chính bài Phúc Âm của Chúa Nhật XVIII
Thường Niên Năm A, bài Phúc Âm về phép lạ bánh hóa ra nhiều lần thứ 1.
Bởi thế, bất cứ năm nào, như năm 2020 là năm Phụng Niên theo chu kỳ Năm
A, thì bài Phúc Âm sẽ là bài tiếp ngay sau Bài Phúc Âm Chúa Nhật XVIII
Năm A, nghĩa là về biến cố Chúa Giêsu "đi trên mặt biển mà đến với
các ông", và vì thế bài Phúc Âm này mới được mở đầu bằng câu chuyển
tiếp từ biến cố phép lạ bánh hóa ra nhiều và phép lạ dẹp yên bão tố như
sau: "Khi dân chúng đã ăn no, lập tức Chúa Giêsu giục môn đệ trở
xuống thuyền mà qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân
chúng".
Nguyên câu Phúc Âm đầu tiên này thôi, chúng ta đã thấy có một cái gì đó
là lạ nơi Chúa Giêsu rồi. Ở chỗ, thứ nhất, tại sao Người không chờ xuống
thuyền đi cùng các vị chứ? Thứ hai,l tại sao việc giải tán dân chúng mà
lại chỉ có một mình Người, một việc đáng lẽ các môn đệ phải làm thay
Người hay với Người cho nhanh, hoặc dân chúng sẽ bỏ đi nếu họ thấy thày
trò của Người từ giã họ mà đi?? Thứ ba, nếu các tông đồ sang bên bờ bên
kia trước thì Người sang với các vị sau đó bằng cách nào??? Với 3 vấn
nạn được đặt ra hợp tình hợp lý này, không biết có môn đệ nào nghĩ đến
hoặc thắc mắc hay chăng???? Chắc là không! Vì thế mới có chuyện kể!!
Chuyện các vị lại tiếp tục "bị/được" Thày của các vị huấn luyện về đức
tin!!!
Không phải hay sao, nếu trong biến cố bánh hóa ra nhiều, Chúa Giêsu muốn
lợi dụng hoàn cảnh của dân chúng huấn luyện đức tin cho các vị, bằng
cách bảo các vị phải lo cho dân ăn, chứ không thể bảo họ ra về bụng đói
thế nào, một việc mà Người đã biết được tự mình các vị bất khả, thì
trong phép lạ Người dẹp yên bão tố cho các vị trong đêm tối cô đơn lẻ
loi một mình trên biển hồ Galilêa ngay sau đó trong bài Phúc Âm hôm nay,
mà Người biết trước sẽ xẩy ra cho các vị, cũng thế, để cho các vị càng
tin vào Người hơn nữa: "Thật, Thầy là Con Thiên Chúa!" khi các
vị chứng kiện tận mắt thấy Thày của các vị, Đấng các vị đã mau mắn đáp
lại tiếng gọi của Người, bỏ mọi sự mà theo Người, tỏ ra uy quyền toàn
năng của Người.
Riêng trường hợp môn đệ Simon Phêrô, vì là vị lãnh đạo tông đồ đoàn sau
này theo ý của Người, mà Người còn thử thách ông hơn các tông đồ khác. Ở
chỗ, bvới bản chất vốn rất chân thành, mau mắn và trực giác,
khi vừa được nghe thấy tiếng của Thày "Hãy
yên tâm. Thầy đây, đừng sợ", từ cái bóng "ma" đang lướt
trên biển hồ tiến đến với con thuyền của các vị "đã ra giữa biển, bị
sóng đánh chập chờn vì ngược gió", thì hứng thú quá sức, muốn được
nên giống Thày mình hơn ai hết, một sáng kiến chỉ có ở nơi một mình
ngài, và chỉ đột xuất ngay lúc bấy giờ, liền xin với Thày rằng: "Lạy
Thầy, nếu quả là Thầy, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến
cùng Thầy".
Lời yêu cầu đột xuất này của người môn đệ Simon Phêrô bấy giờ, bề ngoài
có vẻ thử thách Chúa Giêsu, có vẻ không tin là Người, hay hồ nghi về
Người, nhưng lại không phải như thế, khi ngài, sau khi được Thày cho
phép, đúng hơn, thử thách lại: "Hãy đến", ngài đã làm thật.
Nghĩa là, ngài đã thực sự tin vào cái "con ma" ấy, bằng không,
làm sao ngài dám làm thật, khi "xuống khỏi thuyền bước đi trên
mặt nước mà đến cùng Chúa Giêsu". Để rồi, ngay trong cơn hứng khởi
thần linh ban đầu ấy, bản chất yếu đuối loài người của ngài liền xuất
hiện, ở chỗ, niềm tin của ngài đã bị lung lay, như bài Phúc Âm thuật
lại: "Khi thấy gió mạnh, ông sợ hãi và sắp chìm xuống nên la lên
rằng: 'Lạy Thầy, xin cứu con'".
Tại sao người môn đệ Simon Phêrô này lại thay đổi mau chóng như thế, lúc
thì tin tưởng, lúc lại ngờ vực, hay nói đúng hơn, lúc thì mạnh tin, lúc
thì yếu tin? Xin thưa, trước hết và trên hết, là vì Thày của ngài chưa
Vượt Qua, để ngài được "nhận lấy quyền lực từ trên cao" (Luca
24:49), như sau biến cố Thánh Thần Hiện Xuống. Sau nữa, ở nơi chính bản
thân của ngài: ngài chỉ tin khi mọi sự ngon lành, cho đến khi gặp gian
nan khốn khó, và bị chao đảo ngoài ý muốn. Ở chính biến cố "khi thấy
gió mạnh, ông sợ hãi" cho thấy rằng ngài chưa tới độ sống gắn bó
liên lỉ mật thiết với Thày, đến độ không gì tách ngài ra khỏi Người: nếu
ngài cứ tiếp tục nhắm vào Thày, thay vì nhìn vào gió, thì đâu có bị
hậu quả "sắp chìm xuống" như thế!
Biến cố hôm nay xẩy ra cho các tông đồ nói chung, cho môn đệ Simon Phêrô
nói riêng, còn tiếp tục tiếp diễn nữa. Điển hình là lần "được/bị" Chúa
Giêsu bất ngờ trắc nghiệm đức tin của các vị là: "Còn các con, các
con bảo Thày là ai?" (Mathêu 16:15), chính môn đệ Simon Phêrô, đại
diện cho các tông đồ khác, và với cảm nghiệm riêng của mình, đã mau mắc
đáp ngay, một cách rất chính xác rằng: "Thày là Đức Kitô, Con Thiên
Chúa hằng sống" (Mathêu 16:16), một âm vang trung thực từ cảm nhận
đức tin đầu tiên trong bài Phúc Âm hôm nay: "Thật, Thầy là Con Thiên
Chúa!" Thế nhưng, ngay sau đó, cũng chính vị trưởng tông đồ đoàn
Simon Phêrô, lại bị Thày quở trách thậm tệ vì có ý tưởng phản lại đức
tin vừa tuyên xưng (câu 23).
Đúng thế, chính vì các vị tông đồ sở dĩ được Chúa Giêsu tuyển chọn từ
thành phần các môn đệ là để các vị sau này làm chứng nhân tiên khởi cho
Người, và nhờ đó trở thành nền tảng của Giáo Hội được Người thiết lập
(xem Epheso 2:20), mà các vị cần phải được Chúa Giêsu huấn luyện kỹ
lưỡng, để các vị thật sự nhận biết Người chư chính Người tỏ mình ra cho
các vị, bằng không, các vị sẽ trở thành "phản kitô", rất nguy hiểm cho
phần rỗi của chung Giáo Hội "tông truyền". Các vị phải thật sự là ngôn
sứ của Thiên Chúa, như tiên tri Giêrêmia trong Bài Đọc 1 hôm nay, chứ
không phải là và không được là tiên tri Hanania tronbg cùng bài đọc này,
một tiên tri giả: "Chúa không hề sai anh. Anh đã làm cho dân này tin
tưởng sự giả dối".
Tuy nhiên,
với bản chất yếu đuối của mình, các vị tông đồ vẫn có thể, cho dù sau
biến cố Hiện Xuống, bất ngờ lộ ra tính chất trần gian của mình, phản lại
tinh thần Phúc Âm, phản lại Đấng các vị làm chứng. Chẳng hạn như trường
hợp của vị lãnh đạo tông đồ đoàn Phêrô, vị giáo hoàng tiên khởi, đại
diện Chúa Kitô trên trần gian, vị đã "bị/được" Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô
công khai sửa lưng vì đã có hành động giả hình, chiều theo dân Do Thái,
bởi sợ họ, như trong trường hợp được chính Thánh Phaolô cho biết trong
thư gửi giáo đoàn Galata sau đây:
"Nhưng khi ông Kê-pha đến An-ti-ô-khi-a,
tôi đã cự lại ông ngay trước mặt, vì ông đã làm điều đáng trách. Thật
vậy, ông thường dùng bữa với những người gốc dân ngoại trước khi có
những người của ông Gia-cô-bê đến; nhưng khi những người này đến, ông
lại tránh né và tự tách ra, vì sợ những người được cắt bì. Những
người Do-thái khác cũng theo ông mà giả hình giả bộ, khiến cả ông
Ba-na-ba cũng bị lôi cuốn mà giả hình như họ. Nhưng khi tôi thấy các ông
ấy không đi đúng theo chân lý của Tin Mừng, thì tôi đã nói với ông
Kê-pha trước mặt mọi người: "Nếu ông là người Do-thái mà còn sống như
người dân ngoại, chứ không như người Do-thái, thì làm sao ông lại ép
người dân ngoại phải xử sự như người Do-thái?" (11-14)
Do đó, với
Thánh Vịnh 118 ở Bài Đáp Ca hôm nay, những ai muốn theo chân Chúa Kitô,
muốn trung thực làm môn đệ của Người và trở thành chứng nhân cho Người,
hãy van xin: "Lạy
Chúa, xin dạy bảo con những thánh chỉ của Chúa" (Câu Đáp), kèm theo
những tâm nguyện như sau:
1) Xin đưa con xa cách con đường gian dối, và rộng tay ban luật pháp
của Ngài cho con.
2) Xin Chúa đừng rút lời chân lý khỏi miệng con, vì con trông cậy
vào sắc dụ của Ngài.
3) Tâm hồn chúng như mỡ đặc, vô cảm giác; phần con biết sướng vui do
luật pháp của Ngài.
4) Nguyện cho lòng con trọn vẹn hướng về thánh chỉ, để con không bị
xấu hổ thẹn thùng.
5) Những tên ác nhân đợi chờ để thủ tiêu con, nhưng con vẫn quan tâm
đến lời Ngài nghiêm huấn.
6) Con không bước trật đường thánh dụ của Ngài, bởi vì chính Ngài
dạy bảo con.
Chúa thích chơi trò ma quái
Bài Phúc Âm cho Thứ Ba
Tuần XVIII Thường Niên
hôm nay thuật
lại một biến
cố xẩy ra sau
phép lạ bánh hóa nhiều. Biến cố này xẩy
ra thứ tự 4 phần
như sau:
Phần nhất: "Khi
dân chúng đã ăn no, lập tức Chúa Giêsu giục môn đệ trở xuống thuyền
mà qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng. Giải
tán họ xong, Người lên núi cầu nguyện một mình. Đến chiều, Người vẫn
ở đó một mình. Còn thuyền thì đã ra giữa biển, bị sóng đánh chập
chờn vì ngược gió".
Ở đây
chúng ta thấy chính Chúa
Giêsu giải tán dân chúng, chứ Người không bảo các tông đồ làm
một việc xứng với thân phận và vai trò là môn đệ
của Người. Người đích
thân
làm
việc này có thể là vì "Người
lên núi cầu nguyện một mình". Bởi đó
Người đã "giục
môn đệ trở xuống thuyền mà qua bờ bên kia trước", con
thuyền mà Thày trò đã sử dụng để
tránh dân chúng tuốn đến trước đó (xem Marco 6:32). Và có thể là vì
một mục đích khác nữa, có lợi cho các tông đồ, nên cho mãi "đến
chiều, Người vẫn ở đó một mình. Còn thuyền thì đã ra giữa biển, bị
sóng đánh chập chờn vì ngược gió".
Phần hai: "Canh
tư đêm tối, Người đi trên mặt biển mà đến với các ông. Thấy Người đi
trên mặt biển, các ông hoảng hồn mà nói rằng: 'Ma kìa' và các ông sợ
hãi kêu la lớn tiếng. Lập tức, Chúa Giêsu nói với các ông rằng: 'Hãy
yên tâm. Thầy đây, đừng sợ'".
Phải, ở đây
chúng ta thấy rằng Chúa Giêsu cố ý để cho thuyền của các tông đồ "ra
giữa biển, bị sóng đánh chập chờn vì ngược gió" rồi
Người mới xuất hiện giữa đêm tối: "Canh
tư đêm tối, Người đi trên mặt biển mà đến với các ông", chứ
không xuất hiện với các vị khi
trời còn sáng và vào lúc
không có sóng gió gì, khiến
các ông bấy giờ không còn nhận ra Người, càng hoảng sợ hơn nữa: "mà
nói rằng: 'Ma kìa' và các ông sợ hãi kêu la lớn tiếng". Thiên
Chúa hay chơi trò ma quái này với thành phần thiểu số được
Ngài tuyển chọn, và Ngài thích tỏ
mình ra trong những cơn gian nan khốn khó của những ai cần tin vào
Ngài: "Hãy
yên tâm. Thầy đây, đừng sợ".
Phần
ba: "Phêrô
thưa lại rằng: 'Lạy Thầy, nếu quả là Thầy, thì xin truyền cho con đi
trên mặt nước mà đến cùng Thầy'. Chúa phán: 'Hãy đến'. Phêrô xuống
khỏi thuyền bước đi trên mặt nước mà đến cùng Chúa Giêsu. Khi thấy
gió mạnh, ông sợ hãi và sắp chìm xuống nên la lên rằng: 'Lạy Thầy,
xin cứu con'. Lập tức, Chúa Giêsu giơ tay nắm lấy ông mà nói: 'Người
hèn tin, tại sao lại nghi ngờ?' Khi cả hai đã lên thuyền thì gió
liền yên lặng. Những người ở trong thuyền đến lạy Người mà rằng:
'Thật, Thầy là Con Thiên Chúa!'".
Được trấn an và nhận ra quả thực là Thày
của mình chứ chẳng phải ma quái gì, Tông Đồ Phêrô chẳng những cảm
thấy hết sợ mà còn trở nên khoái chí đến độ đã xin với Người rằng:
"Lạy Thầy, nếu quả là Thầy, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước
mà đến cùng Thầy". Chúng
ta thấy Tông Đồ Phêrô không tự ý nhào ra khỏi thuyền mà đến với Thày
mà là xin lệnh của Thày trước. Và khi được Người cho phép "hãy đến"
ngài liền "xuống
khỏi thuyền bước đi trên mặt nước mà đến cùng Chúa Giêsu".
Về
sự kiện Chúa Giêsu đi trên mặt nước đến cùng các môn đệ này cũng
thế, người ta cũng tìm cách giải thích nghe có lý để gạt bỏ những gì
gọi là phép lạ của Chúa Giêsu đi. Chẳng hạn, họ giải thích rằng bấy
giờ là mùa đông nên nước bị đông cứng nên Chúa Giêsu đã bước đi trên
tảng băng chứ không phải trên nước. Đúng là một giải thích trẻ con,
chỉ đánh lừa được những ai không cẩn thận đọc Thánh Kinh.
Vậy thì chỉ có chỗ Tông Đồ Phêrô bị chìm xuống là chỗ duy nhất không
bị đông đá hay sao? Hay chỉ có chỗ nào Chúa Giêsu đi thì mới bị đóng
băng còn chỗ nào thuyền của các môn đệ chèo thì toàn là nước à? Thật
là một hiện tượng có vẻ ảo thuật hơn là thiên nhiên.
Chúng ta không biết được
từ thuyền đến chỗ Chúa Giêsu đang đi trên biển mà đến với thuyền
của các
tông đồ bao xa. Nhưng chắc cũng
không còn xa cho lắm, bởi trong đêm tối các tông đồ còn có thể nhìn
thấy được Người và còn có thể nghe được
tiếng của Người giữa sóng
gió ào ào. Vậy từ thuyền đến chỗ của Chúa Giêsu rất gần nên có thể
suy đoán rằng Tông Đồ Phêrô vừa mới ra khỏi thuyền được một chút
thì đã cảm thấy chới với: "Khi
thấy gió mạnh, ông sợ hãi và sắp chìm xuống nên la lên rằng: 'Lạy
Thầy, xin cứu con'".
Tất
nhiên Chúa Giêsu ở ngay đó không thể nào để cho vị tông đồ này chết
chìm: "Lập
tức, Chúa Giêsu giơ tay nắm lấy ông mà nói: 'Người hèn tin, tại sao
lại nghi ngờ?'". Đúng thế,
chỉ vì "nghi ngờ" mà Tông Đồ Phêrô mới bị chìm xuống, trái
lại, nếu sóng gió càng mạnh, càng cản trở vị tông đồ này đến cùng
Chúa Giêsu, mà ngài cứ tiếp tục thắng vượt tất cả, bằng một lòng tin
tưởng tuyệt đối vào Thày, Đấng đang ở ngay phía trước mặt ngài và là
chính mục tiêu tiến đến của ngài, thì chắc chắn ngài đã gặp được
Người trong chính sóng gió và giữa đêm tối.
Dầu sao Chúa Giêsu cũng đạt được
mục đích của Người là tỏ mình ra cho các tông đồ giữa cơn gian nan
khốn khó đầy hiểm nguy của các vị để các vị nhờ đó mà tin vào Người:
"Khi
cả hai đã lên thuyền thì gió liền yên lặng. Những người ở trong
thuyền đến lạy Người mà rằng: 'Thật, Thầy là Con Thiên Chúa!'".
"Khi
cả hai đã lên thuyền thì gió liền yên lặng" có
nghĩa là cuộc thử thách đức tin của các tông đồ được Chúa Giêsu sắp
xếp xẩy ra chỉ tới đó thôi, nghĩa là cho tới khi Người bước vào
trong thuyền của các vị, và cũng chính là lúc và là nơi các vị nhận
biết Người đúng như những gì Người mong muốn nơi các vị: "Những
người ở trong thuyền đến lạy Người mà rằng: 'Thật, Thầy là Con Thiên
Chúa!'"
Điều tích
cực cần phải áp dụng thực hành được bài Phúc Âm gợi lên cho chúng ta
hôm nay được rút từ trường hợp của tông đồ Phêrô, vị tông đồ một khi
hoảng sợ, ở chỗ bị chi phối bởi cuồng phong nên bị chìm xuống thế
nào, thì một khi Kitô hữu chúng ta không gắn mắt đức tin của chúng
ta vào Chúa, mà chỉ vào những sự kiện hay con người gây khốn cho
mình, chúng ta khó lòng, nếu không muốn nói là không thể nào không
tức giận, không trả đũa, bất an ..., nghĩa là chúng ta bị chìm xuống
dưới nước là hình ảnh bản tính tự nhiên của chúng ta, chứ không vượt
trên (như tông đồ Phêrô đi trên mặt nước) bản tính tự nhiên của
mình, cho tới khi chúng ta nhìn lên Chúa, sống đức tin, như tông đồ
Phêrô đã tuyên xưng qua lời kêu cứu của ngài: "Thày ơi, cứu con
với".
Điều tiêu cực cần phải tránh đó là đừng bao giờ để mắt của mình bị
quáng gà đến độ "nhìn cò ra quạ", nhìn Chúa lại tưởng ma. Tại sao?
Tại vì hoảng sợ! Tại vì bất an! Chính cái hoảng sợ và bất an làm cho
mắt con người bị mờ đi, khiến cho sự thật trước mắt bị nhạt nhòa, bị
sóng sánh, bị chao đảo đến độ bị biến dạng trước những con mắt không
còn làm chủ được mình. Như thế, chỉ còn một cách duy nhất để bị tình
trạng quáng gà đó là áp dụng đường lối tích cực trên đây, đó là cứ
nhìn thẳng vào đối tượng mình tin tưởng ngay từ ban đầu.
Thứ Ba
Phụng
Vụ Lời Chúa
Bài Ðọc I: (Năm
II) Gr
30, 1-2. 12-15. 18-22
"Vì tội lỗi ngươi quá nặng,
nên Ta đã làm cho ngươi những sự ấy. Nhưng Ta sẽ đem Giacóp về nhà
xếp".
Trích sách Tiên tri Giêrêmia.
Có lời Chúa phán cùng Giêrêmia
rằng: "Chúa là Thiên Chúa Israel phán thế này: Ngươi hãy chép vào
sách mọi lời Ta đã phán với ngươi".
Vì Thiên Chúa phán rằng: "Nơi
giập gãy của ngươi đã bất trị, thương tích ngươi làm độc quá đỗi.
Không ai đoái thương băng bó cho ngươi: không có thuốc hay chữa
ngươi bình phục. Mọi kẻ yêu ngươi đã bỏ quên ngươi, không tìm kiếm
ngươi nữa, vì Ta đã đánh ngươi bị thương như kẻ thù sửa phạt ngươi
nặng nề, vì sự gian ác của ngươi quá nhiều, tội lỗi của ngươi quá
nặng, nên Ta đã làm cho ngươi những sự ấy".
Chúa phán thế này: "Ðây Ta đem
những kẻ trong nhà xếp Giacóp bị bắt trở về gia cư họ, Ta sẽ xót
thương. Thành sẽ được xây lại trên nơi cao của nó, đền thờ sẽ được
trùng tu theo trật tự của nó. Thế là sẽ vang lên lời ca tụng và
tiếng reo mừng. Ta sẽ làm cho nó thêm nhiều, và nó sẽ không bị hạ
nhục. Con cái nó sẽ được như xưa; trước mặt Ta, cộng đồng nó sẽ đứng
vững. Ta sẽ hỏi thăm mọi người áp bức nó. Thủ lãnh nó sẽ bởi nó mà
ra; vua chúa nó sẽ từ trong nó mà lên. Ta sẽ cho nó triều yết và nó
sẽ đến gần Ta, vì thật ra có ai dám liều mạng đến gần Ta? - Chúa
phán như thế -. Bấy giờ các ngươi sẽ là dân Ta, và Ta sẽ là Thiên
Chúa các ngươi".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv
101, 16-18. 19-21. 29 và 22-23
Ðáp: Chúa
tái lập Sion, và xuất hiện trong vinh quang xán lạn (c. 17).
Xướng: 1) Lạy Chúa, muôn dân
sẽ kính tôn danh thánh Chúa, và mọi vua trên địa cầu sẽ quý trọng
vinh quang Ngài, khi Chúa sẽ tái lập Sion, Chúa xuất hiện trong vinh
quang xán lạn. Chúa sẽ đoái nghe lời nguyện kẻ túng nghèo, và không
chê lời họ kêu van. - Ðáp.
2) Những điều này được ghi lại
cho thế hệ mai sau, và dân tộc được tác tạo sẽ ca tụng Thiên Chúa.
Từ thánh điện cao sang Chúa đã đoái nhìn, từ trời cao Chúa đã nhìn
xuống trần thế, để nghe tiếng than khóc của tù nhân, để giải thoát
kẻ bị lên án tử. - Ðáp.
3) Con cháu của bầy tôi Chúa
sẽ được an cư, và miêu duệ chúng sẽ tồn tại trước thiên nhan, để
người ta truyền bá danh Chúa tại Sion, và lời khen ngợi Chúa ở
Giêrusalem, khi chư dân cùng nhau quy tụ, và các vua nhóm họp để
phụng thờ Chúa. - Ðáp.
Alleluia:
Tv 24, 4c và 5a
Alleluia, alleluia! - Lạy
Chúa, xin dạy bảo con lối bước của Chúa và xin hướng dẫn con trong
chân lý của Ngài. - Alleluia.
Phúc Âm: Mt
15, 1-2. 10-14
"Cây nào Cha Ta không trồng
thì sẽ bị nhổ đi".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo
Thánh Matthêu.
Khi ấy có những luật sĩ và
biệt phái từ Giêrusalem đến gặp Chúa Giêsu mà nói: "Sao môn đệ ông
không giữ tập tục của tiền nhân? Vì họ không rửa tay khi dùng bữa".
Và Người gọi dân chúng lại mà
bảo: "Các ngươi hãy nghe và hãy hiểu lấy: Không phải cái gì vào
trong miệng mà làm cho người ta ra dơ nhớp đâu, nhưng cái từ miệng
phát xuất ra cái đó mới làm cho người ta ra dơ nhớp".
Bấy giờ các môn đệ của Người
tiến lại thưa với Người rằng: "Thầy có biết các người biệt phái lấy
làm chướng tai khi nghe Thầy nói lời đó không?" Người đáp lại rằng:
"Tất cả cây nào Cha Ta trên trời đã không trồng, thì sẽ bị nhổ đi.
Các con hãy để mặc chúng: chúng là những người mù dẫn dắt những
người mù. Mù mà dẫn mù, cả hai sẽ lăn cù xuống hố".
Ðó là lời Chúa.

Suy Niệm Cảm Nghiệm:
Phụng vụ
chu kỳ năm A, năm nào cũng thế, vào Thứ Hai và Thứ Ba Tuần
XVIII, dù năm chẵn hay lẻ, cũng có bài Phúc Âm khác với chu kỳ
phụng vụ Năm B và C. Bởi vì, Bài Phúc Âm cho chu kỳ phụng vụ năm
B và C vào Thứ Hai lại chính là Bài Phúc Âm của Chúa Nhật hôm
trước, và Bài Phúc Âm Thứ Ba lại là Bài Phúc Âm của Thứ Hai hôm
qua. Đó là lý do thay đổi, tránh trùng hợp, nhưng vẫn hợp ý
nghĩa và liên hệ với phụng vụ lời Chúa của từng ngày, dù Bài Đọc
1 và Đáp Ca vẫn được giữ nguyên, không thay đổi như chính Bài
Phúc Âm.
Bài Phúc Âm thay đổi hôm nay, Thứ Ba Tuần XVIII Thường Niên cho
Chu Kỳ Phụng Vụ Năm A, về câu chuyện Chúa Giêsu muốn dạy cho dân
chúng biết sự thật, để họ khỏi bị lầm lạc bởi những bậc thày dạy
của họ, thành phần được Người vạch mặt họ ra cho riêng các môn
đệ của Người rằng:
"Chúng
là những người mù dẫn dắt những người mù. Mù mà dẫn mù, cả hai
sẽ lăn cù xuống hố",
sau khi các vị nói nhỏ với Thày của
mình, vì tưởng Người không biết rằng: "Thầy
có biết các người biệt phái lấy làm chướng tai khi nghe Thầy nói
lời đó không?"
Người biết chứ, và chính vì Người biết mà Người cố ý làm như vậy
cho họ được dịp nghĩ lại, bằng không, họ sẽ càng lầm lạc thêm
nếu họ cứng lòng và chủ quan cố chấp. Họ là thành phần "những
luật sĩ và biệt phái từ Giêrusalem đến", nghĩa là
thành phần từ chính gốc Giáo Đô Giêrusalem, như các vị được du
học từ các nước lấy bằng từ Giáo Đô Vatican bây giờ vậy - oai
lắm, thông giỏi lắm, nhưng vẫn là đồ dỏm trước mặt Đại Thượng Sư
Giêsu. Hành động Chúa Giêsu không âm thầm trả lời riêng cho họ
về vấn nạn của họ đặt ra cho Người:
"Sao môn đệ ông không giữ tập tục của tiền nhân? Vì họ không rửa
tay khi dùng bữa?", mà lại
"gọi
dân chúng lại mà bảo" để công khai dạy cho dân chúng
biết tất cả sự thật của vấn đề Người muốn cho cả dân chúng biết
nữa, để đề phòng những giảng dạy sai lạc của họ, như gián tiếp
sửa sai cho họ một cách công khai vậy!
Câu trả lời của Người chẳng những đụng đến giáo huấn và chủ
trương hết sức sai lạc vô cùng tai hại của họ, mà cả đến con
người thích hào nhoáng tiếng tăm danh giá bề ngoài, cùng với đời
sống toàn là giả hình của họ nữa:
"Các ngươi hãy nghe và hãy hiểu lấy: Không phải cái gì vào trong
miệng mà làm cho người ta ra dơ nhớp đâu, nhưng cái từ miệng
phát xuất ra cái đó mới làm cho người ta ra dơ nhớp".
Qua câu này, Người đồng thời cũng gián tiếp bênh vực
các môn đệ đơn sơ bình dân của Người, thành phần mà cũng
chính vì bản chất quê mùa chân thật kém hiểu biết ấy mới được
Người tuyển chọn làm môn đệ của Người, để 12 vị trong họ trở
thành thày dạy muôn dân, qua mặt cả thành phần luật sĩ và biệt
phái ấy.
Ở đây, Chúa Giêsu muốn cho cả thành phần bình dân lẫn thành phần
trí thức Do Thái giáo biết được đâu là nguồn gốc cái xấu, tức
cái xấu từ đâu mà ra, hay tội lỗi là ở chỗ nào? - Ở lòng người
và từ lòng người, chứ không phải ở ngoài con người và từ ngoài!
Đúng thế, nếu con người nói chung và Kitô hữu nói riêng có 3
thù, đó là ma quỉ, thế gian và xác thịt, thì ma quỉ chỉ liên
quan đến cám dỗ, và thế gian chỉ liên quan đến gương mù gương
xấu gây ra bởi xã hội loài người, nhưng chính bản thân con người
nếu không biết làm chủ và khổ chế xác thịt của mình thì mới sa
ngã phạm tội. Đó là lý do Chúa Giêsu đã phán:
"Nếu
mắt phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi;
vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân bị ném vào
hoả ngục. Nếu
tay phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi;
vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân phải sa hoả
ngục" (Mathêu 5:29-30).
Chúa Giêsu cũng biết rằng câu trả lời lập lững và bao quát của
Người, theo lý thuyết hơn là cụ thể thực hành ấy, Người mới rào
đón ngay từ đầu: "Các
ngươi hãy nghe và hãy hiểu lấy". Đồng thời Người
cũng biết rằng thành phần đặt vấn đề với Người thế nào cũng
hiểu, vì họ là thành phần trí thức, và đã xẩy ra đúng như vậy,
nên họ mới tỏ thái độ khó chịu "lấy
làm chướng tai". Thế
nhưng dù muốn hay chăng, đó
vẫn là một sự thật bất khả chối cãi. Người còn biết rằng thành
phần bình dân là đám đông nghe Người bấy giờ sẽ thắc mắc, không
biết Người muốn nói gì, tuy nhiên, đối với Người, thà họ dốt nát
mà sống chân thật ở tầm mức của họ cũng đẹp lòng Người rồi -
Người chỉ cần họ như thế thôi.
Riêng với các tông đồ thì khác, cho dù các vị cũng thuộc loại
bình dân, nhưng Người phải giải thích cho các vị nghe, để các vị
còn có đủ kiến thức mà truyền đạt chân lý của Người nữa, như
Người truyền dạy các vị và muốn các vị phải linh hướng đàn chiên
của các vị sau này nơi Giáo Hội Người thiết lập. Đó là lý do,
được chính các tông đồ thành thực hỏi về những gì các vị còn
thắc mắc chưa hiểu, Người đã dẫn giải thêm cho các vị, như sự
kiện xẩy ra ngay sau đó, những không được bao gồm trong Bài Phúc
Âm hôm nay:
"Ông
"Ông Phê-rô thưa với Người: 'Xin Thầy giải thích dụ ngôn cho
chúng con.' Đức
Giê-su đáp: 'Cả anh em nữa, bây giờ mà anh em vẫn còn ngu tối
sao? Anh
em không hiểu rằng bất cứ cái gì vào miệng thì xuống bụng, rồi
bị thải ra ngoài sao? Còn
những cái gì từ miệng xuất ra, là phát xuất tự lòng, chính những
cái ấy mới làm cho con người ra ô uế. Vì
tự lòng phát xuất những ý định gian tà, những tội giết người,
ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, làm chứng gian và vu khống. Đó
mới là những cái làm cho con người ra ô uế; còn ăn mà không rửa
tay thì không làm cho con người ra ô uế.'"
Việc Chúa Giêsu dằn mặt thành phần trí thức Do Thái giáo
trong Bài Phúc Âm hôm nay, không bao giờ ngụ ý xấu, muốn hạ nhục
họ, mà là muốn họ nhận biết bản thân mình mà sống xứng đáng với
Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ và ơn gọi giảng dạy của
họ. Tuy nhiên, hành động của Người, khách quan, tự nó
là những gì, trước mắt thế gian nói chung và nhất là người Việt
Nam nói riêng, là một hành động hạ nhục đối phương. Tuy nhiên,
theo nguyên tắc, thì Thiên Chúa có quyền làm bất cứ điều gì, dù
bất lợi cho đương sự, nhưng bao giờ Ngài cũng nhắm đến lợi ích
thiêng liêng bất diệt của họ mà thôi, còn con người là tạo vật
không có quyền sử dụng chiêu bài hay chiến thuật "phương tiện
biện minh mục đích" như Ngài.
Bài Đọc Thứ 1 hôm nay, qua miệng Tiên Tri Giêrêmia, đã cho thấy
đường lối của Thiên Chúa là như thế, biến dữ của con người, do
con người gây ra, thành lành cho con người:
"Thiên
Chúa phán rằng:
'Nơi
giập gãy của ngươi đã bất trị, thương tích ngươi làm độc quá
đỗi. Không ai đoái thương băng bó cho ngươi: không có thuốc hay
chữa ngươi bình phục. Mọi kẻ yêu ngươi đã bỏ quên ngươi, không
tìm kiếm ngươi nữa, vì Ta đã đánh ngươi bị thương như kẻ thù sửa
phạt ngươi nặng nề, vì sự gian ác của ngươi quá nhiều, tội lỗi
của ngươi quá nặng, nên Ta đã làm cho ngươi những sự ấy".
- Để làm gì? Xin đọc tiếp cho thấy rõ ý định vô cùng toàn thiện
đầy lòng thương xót của vị Thiên Chúa công minh:
"
Chúa phán thế này:
'Ðây Ta đem
những kẻ trong nhà xếp Giacóp bị bắt trở về gia cư họ, Ta sẽ xót
thương. Thành sẽ được xây lại trên nơi cao của nó, đền thờ sẽ được
trùng tu theo trật tự của nó. Thế là sẽ vang lên lời ca tụng và
tiếng reo mừng. Ta sẽ làm cho nó thêm nhiều, và nó sẽ không bị hạ
nhục. Con cái nó sẽ được như xưa; trước mặt Ta, cộng đồng nó sẽ đứng
vững. Ta sẽ hỏi thăm mọi người áp bức nó. Thủ lãnh nó sẽ bởi nó mà
ra; vua chúa nó sẽ từ trong nó mà lên. Ta sẽ cho nó triều yết và nó
sẽ đến gần Ta, vì thật ra có ai dám liều mạng đến gần Ta? - Chúa
phán như thế -. Bấy giờ các ngươi sẽ là dân Ta, và Ta sẽ là Thiên
Chúa các ngươi'".
Những việc Thiên Chúa đã làm cho dân Do Thái trong suốt dòng lịch sử
của họ, cũng như qua Chúa Giêsu Kitô, Người Con Nhập Thể của Ngài
trong "thời điểm viên trọn" (Galata 4:4)đều chỉ có một mục
đích lưỡng diện, đó là tỏ mình ra "để những ai tin vào Ngài
thì khỏi phải chết nhưng được sự sống đời đời"
(Gioan 3:16). Và đó là tất cả những gì chất chứa trong Bài Đáp Ca có
tính chất "công giáo" hôm nay, bao gồm tất cả mọi dân nước ngoài Do
Thái giáo, được bộc lộ bằng tất cả ý thức thần linh và tâm tình cảm
mến chục tụng danh Chúa:
1) Lạy Chúa, muôn dân
sẽ kính tôn danh thánh Chúa, và mọi vua trên địa cầu sẽ quý trọng
vinh quang Ngài, khi Chúa sẽ tái lập Sion, Chúa xuất hiện trong vinh
quang xán lạn. Chúa sẽ đoái nghe lời nguyện kẻ túng nghèo, và không
chê lời họ kêu van.
2) Những điều này được ghi lại
cho thế hệ mai sau, và dân tộc được tác tạo sẽ ca tụng Thiên Chúa.
Từ thánh điện cao sang Chúa đã đoái nhìn, từ trời cao Chúa đã nhìn
xuống trần thế, để nghe tiếng than khóc của tù nhân, để giải thoát
kẻ bị lên án tử.
3) Con cháu của bầy tôi Chúa
sẽ được an cư, và miêu duệ chúng sẽ tồn tại trước thiên nhan, để
người ta truyền bá danh Chúa tại Sion, và lời khen ngợi Chúa ở
Giêrusalem, khi chư dân cùng nhau quy tụ, và các vua nhóm họp để
phụng thờ Chúa.
Thứ Tư
Phụng
Vụ Lời Chúa
Bài Ðọc I: (Năm
II) Gr
31, 1-7
"Ta đã yêu ngươi bằng mối
tình muôn thuở".
Trích sách Tiên tri Giêrêmia.
Khi ấy, Chúa phán rằng: "Ta sẽ
là Thiên Chúa của mọi chi tộc Israel, và chúng sẽ là dân Ta".
Chúa phán thế này: "Dân thoát
khỏi tay gươm, đã được nghĩa trong rừng vắng: Israel sẽ đi vào nơi
an nghỉ của mình. Từ xa Chúa đã hiện ra với ta mà phán rằng: "Ta yêu
ngươi bằng mối tình muôn thuở, bởi đó Ta đã xót thương dắt ngươi
đến. Rồi Ta lại kiến thiết ngươi, hỡi trinh nữ Israel, ngươi sẽ được
tái thiết. Ngươi lại mang những trống cơm, sẽ bước đi với hội hát
vui mừng. Ngươi lại trồng nho trên các núi đồi Samaria; kẻ vun trồng
cứ vun trồng và sẽ không hái trái nho khi chưa đến mùa. Vì sẽ đến
ngày những người canh gác trên núi Ephraim sẽ kêu lên: "Hãy chỗi
dậy, chúng ta đi lên Sion, đến cùng Chúa là Thiên Chúa chúng ta".
Vì Chúa phán thế này: "Hỡi
Giacóp, hãy nhảy mừng, hãy hét to vào đầu dân ngoại; hãy nói cho
người ta nghe; hãy ca hát và nói lên rằng: 'Lạy Chúa, xin cứu dân
Chúa; những kẻ còn sót lại trong Israel'".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Gr
31, 10. 11-12ab. 13
Ðáp: Chúa
sẽ gìn giữ chúng ta như mục tử chăn dắt đoàn chiên mình (c. 10d).
Xướng: 1) Hỡi các dân tộc, hãy
nghe lời Chúa, hãy công bố lời Chúa trên các đảo xa xăm; hãy nói
rằng: Ðấng đã phân tán Israel, sẽ quy tụ nó lại, và sẽ gìn giữ nó
như mục tử chăn dắt đoàn chiên mình. - Ðáp.
2) Vì Chúa đã giải phóng
Giacóp, giờ đây với cánh tay mạnh mẽ hơn, Người cứu thoát nó. Chúng
sẽ đến và ca hát trên núi Sion, chúng sẽ đổ xô về phía hạnh phúc của
Người. - Ðáp.
3) Bấy giờ người trinh nữ sẽ
hân hoan nhảy mừng, các thanh niên và các cụ già cũng làm y như thế.
Ta sẽ biến đổi tang chế của chúng ra niềm hân hoan; sẽ an ủi chúng
và cho chúng hết đau khổ. - Ðáp.
Alleluia: 1
Sm 3, 9
Alleluia, alleluia! - Lạy
Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe; Chúa có lời
ban sự sống đời đời. - Alleluia.
Phúc Âm: Mt
15, 21-28
"Này bà, bà có lòng mạnh
tin".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo
Thánh Matthêu.
Khi ấy, ra khỏi đó, Chúa Giêsu
lui về miền Tyrô và Siđon, thì liền có một bà quê ở Canaan từ xứ ấy
đến mà kêu cùng Người rằng: "Lạy Ngài là con Vua Ðavít, xin thương
xót tôi: con gái tôi bị quỷ ám khốn cực lắm".
Nhưng Người không đáp lại một
lời nào. Các môn đệ đến gần Người mà rằng: "Xin Thầy thương để bà ấy
về đi, vì bà cứ theo chúng ta mà kêu mãi". Người trả lời: "Thầy chỉ
được sai đến cùng chiên lạc nhà Israel".
Nhưng bà kia đến lạy Người mà
nói: "Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi". Người đáp: "Không nên lấy bánh
của con cái mà vứt cho chó". Bà ấy đáp lại: "Vâng, lạy Ngài, vì chó
con cũng được ăn những mảnh vụn từ bàn của chủ rơi xuống".
Bấy giờ, Chúa Giêsu trả lời
cùng bà ấy rằng: "Này bà, bà có lòng mạnh tin. Bà muốn sao thì được
vậy". Và ngay lúc đó, con gái bà đã được lành.
Ðó là lời Chúa.

Suy Niệm Cảm Nghiệm
Ma Nữ Cao Thủ Đức Tin
Bài Phúc Âm hôm nay, Thứ
Tư trong Tuần XVIII Thường Niên, Thánh ký Mathêu thuật lại cho chúng
ta về việc Chúa Giêsu chữa cho con gái của người đàn bà xứ
Canaan được khỏi bị quỉ ám, một người đàn bà dân ngoại nhưng có
một đức tin đầy ma lực đến độ "muốn gì được
nấy".
Thế nhưng, để có
một đức tin "muốn gì được nấy" này, người đàn bà ngoại bang
Cannan này đã phải trải qua một một cơn thử thách phải nói là khủng
khiếp, một trận đấu sinh tử, trận đấu thập tử nhất sinh, liên
quan đến sắc tộc của bà cũng như đến chính phẩm giá của bà.
Cuộc thử thách đức
tin liên quan đến sắc tộc của người đàn bà Canaan: "Các
môn đệ đến gần Người mà rằng: 'Xin Thầy thương để bà ấy về đi, vì bà
cứ theo chúng ta mà kêu mãi'. Người trả lời: 'Thầy chỉ được sai đến
cùng chiên lạc nhà Israel'". Qua câu
trả lời cho các môn đệ này,
Chúa Giêsu như muốn
nói rằng chỉ có dân Do Thái của Người là nhất, còn các dân ngoại chỉ
là đồ thứ
yếu, không đáng
chú trọng cho bằng dân Do Thái.
Cuộc thử thách đức tin
liên quan đến phẩm giá làm người
của người đàn bà
Canaan: "Nhưng
bà kia đến lạy Người mà nói: 'Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi'. Người
đáp: 'Không nên lấy bánh của con cái mà vứt cho chó'". Đến đây,
bị chạm tự ái như thế, bị coi như loài chó như vậy, không biết có ai
còn nhẫn nại để tiếp tục với con người khinh bỉ mình và chửi mình
như thế nữa hay chăng, hay là điên tiết quại lại bằng câu hùng hổ
như: "Này, ông đừng có tưởng rằng ông ngon lắm, không đáp ứng những
gì tôi xin thì thôi, chứ đừng có mà khinh bỉ tôi như vậy. Tôi cóc
cần ông".
Thế nhưng, cho
dù người đàn
bà Canaan bị
một độc chưởng
vô cùng lợi hại
chỉ từ
chết tới bị thương như vậy mà bà chẳng những vẫn không hề hấn gì,
trái lại, bà còn tung lại một tuyệt chiêu
vô cùng ngoạn mục: "Vâng,
lạy Ngài, vì chó con cũng được ăn những mảnh vụn từ bàn của chủ rơi
xuống", một
tuyệt chiêu đã làm cho đối thủ vô địch của bà đành chào thua
bà lập tức: "Này
bà, bà có lòng mạnh tin. Bà muốn sao thì được vậy".
Điều duy nhất người đàn bà ngoại
bang Canaan này muốn đó là làm sao để người con gái của bà khỏi "bị
quỷ ám khốn cực lắm", đến độ,
bà cảm thấy cái khổ của chính con bà như
là của bà, nên bà đã xin Chúa Giêsu thương chính bản thân bà chứ
không phải là đứa con gái của bà: "Lạy
Ngài là con Vua Đavít, xin thương xót tôi". Để
rồi, nhờ đức
tin "muốn gì được nấy" của bà mà "ngay
lúc đó, con gái bà đã được lành".
Nếu so sánh với đức tin của các tông đồ trong Bài Phúc Âm hôm qua
thì quả thật nhân vật ma nữ cao thủ đức tin này đã hoàn toàn trổi
vượt, ở chỗ, cho dù Chúa có tiếp tục chơi trò ma quái với cả bà là
một kẻ thuộc dân ngoại chăng nữa, bà chẳng những đã không cảm thấy
bị Người nát đến hoảng sợ thế nào, trái lại, còn nhìn thẳng vào
Người, nên đã không bị chìm xuống như tông đồ Phêrô - Như thế phải
chăng ma nữ cao thủ đức tin này chẳng những đi trên mặt nước mà còn
bay trên mặt nước, bất chấp bão tố còn dữ dội kinh hoàng về tinh
thần hơn là thứ phong ba bão tố về thể lý thử thách các tông đồ
trong bài Phúc Âm hôm qua.
Trong Bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã nói một câu,
bề ngoài, có vẻ chỉ cần biết có dân Do Thái là dân đã được Thiên
Chúa tuyển chọn mà thôi, không cần biết đến dân ngoại là thứ dân xa
lạ tầm thường, không bằng dân của Chúa:
"Không nên lấy bánh của con cái mà vứt cho chó".
Quả thật, ở Bài Đọc 1 hôm nay, qua Tiên Tri Giêrêmia, Thiên Chúa đã
tỏ ra ưu ái dân Do Thái một cách hết sức lạ lùng và ưu đãi họ hơn ai
hết:
"Khi ấy, Chúa phán rằng: 'Ta sẽ
là Thiên Chúa của mọi chi tộc Israel, và chúng sẽ là dân Ta... Dân
thoát khỏi tay gươm, đã được nghĩa trong rừng vắng: Israel sẽ đi vào
nơi an nghỉ của mình. Từ xa Chúa đã hiện ra với ta mà phán rằng: Ta
yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, bởi đó Ta đã xót thương dắt ngươi
đến. Rồi Ta lại kiến thiết ngươi, hỡi trinh nữ Israel, ngươi sẽ được
tái thiết. Ngươi lại mang những trống cơm, sẽ bước đi với hội hát
vui mừng. Ngươi lại trồng nho trên các núi đồi Samaria; kẻ vun trồng
cứ vun trồng và sẽ không hái trái nho khi chưa đến mùa...'".
Tuy nhiên, theo dự án cứu độ thần linh, Thiên Chúa chọn dân Do Thái
là để tỏ mình ra cho họ, trong suốt giòng lịch sử cứu độ của họ, để
qua họ, Ngài tỏ mình ra cho toàn thể nhân loại nữa, nên ngay trong
giáo ước với tổ phụ Abraham của họ, đã có các dân nước được chung
hưởng ơn phúc với dân Do Thái rồi (xem Khởi Nguyên 12:1-3;
22:17-18). Nhất là "khi thời điểm viên trọn" (Galata 4:4), Thiên
Chúa đã tỏ mình ra trực tiếp nơi chính Con Một của Ngài là Chúa
Giêsu Kitô, tột đỉnh và là tất cả mạc khải thần linh của Ngài, Đấng
Thiên Sai của dân Do Thái, nhưng đồng thời cũng là Vị Cứu Thế của
toàn thể nhân loại, như ngay trong lời báo tin của Thiên Thần cho
các mục đồng Belem trong Đêm Lời Nhập Thể Giáng Sinh:
"Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại,
cũng là tin mừng cho toàn dân: Hôm
nay, một Đấng Cứu Thế đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít,
Người là Đức Kitô và là Chúa. Anh
em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh
bọc tã, nằm trong máng cỏ." (Luca 2:10-12).
"Lời đã hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14), mặc lấy bản tính
của chung loài người, chứ không phải của riêng dân Do Thái, nên
Người là "Đấng Cứu Thế" của toàn thể nhân loại, để ứng nghiệm lời
hứa cứu độ của Thiên Chúa nơi bản án nguyên tội (xem Khởi Nguyên
3:15). Tuy nhiên, dầu sao, bản tính loài người ấy lại mang giòng máu
Do Thái, có gia phả đàng hoàng, tính từ Tổ Phụ Abraham, bao gồm cả
Vua Đavít là giòng tộc của Người, theo Phúc Âm Thánh Mathêu (1:1-17)
là Phúc Âm viết cho dân Do Thái, nên Người là "Đức Kitô / Dấng Thiên
Sai" của dân Do Thái, nhưng cũng gia phả về Người, theo Phúc Âm của
Thánh Luca (3:23-38), một Phúc Âm được viết cho dân ngoại, lại tính
từ Người trở về tận nguồn gốc nguyên tổ loài người là Adong Evà.
Do đó, ở ngay trong Bài Đọc 1 hôm nay, một bài đọc vừa cho thấy
Thiên Chúa tỏ ra ưu ái và ưu đãi dân Do Thái xong, thì dân ngoại
được nhắc tới như sau: "Vì Chúa phán thế này: 'Hỡi
Giacóp, hãy nhảy mừng, hãy hét to vào đầu dân ngoại; hãy nói cho
người ta nghe; hãy ca hát và nói lên rằng: Lạy Chúa, xin cứu dân
Chúa; những kẻ còn sót lại trong Israel'". Để rồi, cũng từ Sách
Tiên Tri Giêrêmia này, như Bài Đọc 1 hôm nay cũng lấy từ đó, Bài Đáp
Ca đã bao gồm cả dân ngoại, như thể họ cần phải là chứng nhân cho
những gì Thiên Chúa thực hiện cho dân của Ngài, để tỏ mình ra, nơi
dân Do Thái, cho cả họ nữa, nhờ đó họ cũng có thể nhận biết Ngài mà
được thông phần lời hứa và giáo ước của Ngài với họ:
1) Hỡi các dân tộc, hãy
nghe lời Chúa, hãy công bố lời Chúa trên các đảo xa xăm; hãy nói
rằng: Ðấng đã phân tán Israel, sẽ quy tụ nó lại, và sẽ gìn giữ nó
như mục tử chăn dắt đoàn chiên mình.
2) Vì Chúa đã giải phóng
Giacóp, giờ đây với cánh tay mạnh mẽ hơn, Người cứu thoát nó. Chúng
sẽ đến và ca hát trên núi Sion, chúng sẽ đổ xô về phía hạnh phúc của
Người.
3) Bấy giờ người trinh nữ sẽ
hân hoan nhảy mừng, các thanh niên và các cụ già cũng làm y như thế.
Ta sẽ biến đổi tang chế của chúng ra niềm hân hoan; sẽ an ủi chúng
và cho chúng hết đau khổ.
Thứ Năm
Phụng
Vụ Lời Chúa
Bài Ðọc I: (Năm
II) Gr
31, 31-34
"Ta sẽ ký kết giao ước mới
và Ta sẽ không còn nhớ tội lỗi nữa".
Trích sách Tiên tri Giêrêmia.
Chúa phán: "Ðây tới ngày Ta ký
kết giao ước mới với nhà Israel và nhà Giuđa, giao ước này không
giống như giao ước Ta ký kết với tổ phụ chúng trong ngày Ta cầm tay
chúng dắt ra khỏi đất Ai-cập, giao ước ấy chính chúng đã phản bội,
mặc dầu Ta thống trị chúng". Chúa phán: "Ðây là giao ước Ta sẽ ký
kết với nhà Israel sau những ngày đó. Ta sẽ đặt lề luật của Ta trong
đáy lòng chúng, và sẽ ghi trong tâm hồn chúng; Ta sẽ là Chúa của
chúng, và chúng sẽ là dân của Ta". Chúa phán: "Người này sẽ không
còn phải dạy người nọ, anh sẽ không còn phải dạy em rằng: 'Ngươi hãy
nhìn biết Chúa', vì mọi người từ nhỏ chí lớn đều nhìn biết Ta, vì Ta
sẽ tha tội ác của chúng, và sẽ không còn nhớ đến tội lỗi của chúng".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 50,
12-13. 14-15. 18-19
Ðáp: Ôi
lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch (c. 12a).
Xướng: 1) Ôi lạy Chúa, xin tạo
cho con quả tim trong sạch, và canh tân tinh thần cương nghị trong
người con. Xin đừng loại con khỏi thiên nhan Chúa, chớ thu hồi Thánh
Thần Chúa ra khỏi con. - Ðáp.
2) Xin ban lại cho con niềm
vui ơn cứu độ, với tinh thần quảng đại, Chúa đỡ nâng con. Con sẽ dạy
kẻ bất nhân đường nẻo Chúa, và người tội lỗi sẽ trở về với Ngài. -
Ðáp.
3) Bởi vì Chúa chẳng ưa gì
sinh lễ; nếu con dâng lễ toàn thiêu, Chúa sẽ không ưng. Của lễ con
dâng, lạy Chúa, là tâm hồn tan nát; lạy Chúa, xin đừng chê tấm lòng
tan nát, khiêm cung. - Ðáp.
Alleluia: Tv
144, 13cd
Alleluia, alleluia! - Chúa
trung thành trong mọi lời Chúa phán, và thánh thiện trong mọi việc
Chúa làm. - Alleluia.
Phúc Âm: Mt
16, 13-23
"Con là Ðá, Thầy sẽ ban cho
con chìa khoá nước trời".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo
Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu đến địa hạt
thành Cêsarêa Philipphê, và hỏi các môn đệ rằng: "Người ta bảo Con
Người là ai?" Các ông thưa: "Người thì bảo là Gioan Tẩy Giả, kẻ thì
bảo là Êlia, kẻ khác lại bảo là Giêrêmia hay một tiên tri nào đó".
Chúa Giêsu nói với các ông: "Phần các con, các con bảo Thầy là ai?"
Simon Phêrô thưa rằng: "Thầy là Ðức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống".
Chúa Giêsu trả lời rằng: "Hỡi Simon con ông Giona, con có phúc, vì
chẳng phải xác thịt hay máu huyết mạc khải cho con, nhưng là Cha
Thầy, Ðấng ngự trên trời. Vậy Thầy bảo cho con biết: Con là Ðá, trên
đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và cửa địa ngục sẽ không
thắng được. Thầy sẽ trao cho con chìa khoá Nước trời. Sự gì con cầm
buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc; và sự gì con cởi mở dưới
đất, trên trời cũng cởi mở". Bấy giờ Người truyền cho các môn đệ
đừng nói với ai rằng Người là Ðức Kitô.
Kể từ đó, Chúa Giêsu bắt đầu
tỏ cho các môn đệ thấy: Người sẽ phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều
đau khổ bởi các kỳ lão, luật sĩ và thượng tế, phải bị giết, và ngày
thứ ba thì sống lại. Phêrô kéo Người lại mà can gián Người rằng:
"Lạy Thầy, xin Chúa giúp Thầy khỏi điều đó. Thầy chẳng phải như vậy
đâu". Nhưng Người quay lại bảo Phêrô rằng: "Hỡi Satan, hãy lui ra
đàng sau Thầy: con làm cho Thầy vấp phạm, vì con chẳng hiểu biết
những sự thuộc về Thiên Chúa, mà chỉ hiểu biết những sự thuộc về
loài người".
Ðó là lời Chúa.

Suy Niệm Cảm Nghiệm
Thâm Cung Bí Sử về Nhân Vật Giêsu
Nazarét
Bài
Phúc Âm hôm
nay, Thứ
Năm Tuần
XVIII Thường Niên, được Thánh ký Mathêu thuật lại về sự kiện
tông đồ đoàn, qua vị đại diện của mình là Tông Đồ Phêrô,
tuyên xưng thực tại thần linh chân thực về Chúa Kitô, một
Chúa Kitô sau đó chẳng những thiết lập Giáo Hội của Người
trên nền tảng đức tin của vị
tông đồ này, mà còn tỏ ra cho các tông đồ biết một bí mật
quân sự tối quan hệ về Người.
Tông Đồ Phêrô, tuyên xưng
thực tại thần linh chân thực về Chúa Kitô:
"Khi Đức Giê-su đến vùng
kế cận thành Caesarea Philippi, Người hỏi các môn đệ rằng:
'Người ta nói Con Người là ai?' Các ông thưa: 'Kẻ thì nói là
ông Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Êlia, có người lại cho
là ông Giêrêmia hay một trong các vị ngôn sứ'. Đức Giêsu lại
hỏi: 'Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?' Ông Simôn Phêrô
thưa: 'Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống'".
Chúa
Kitô đã thiết
lập Giáo Hội của Người trên nền
tảng đức tin của vị
tông đồ này:
"Đức Giêsu nói với ông:
'Này anh Simon con ông Giôna, anh thật là người có phúc, vì
không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha
của Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh
biết: anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy
sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không
thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới
đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như
vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo
cởi như vậy".
Chúa
Kitô tỏ ra cho các tông đồ biết một bí mật quân sự tối quan
hệ về Người:
"Từ lúc đó, Đức Giêsu Kitô bắt đầu tỏ cho các môn đệ
biết: Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do
các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết
chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại. Ông Phêrô liền kéo riêng
Người ra và bắt đầu trách Người: 'Xin Thiên Chúa thương đừng
để Thầy gặp phải chuyện ấy!' Nhưng Đức Giê-su quay lại bảo
ông Phê-rô: 'Satan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy,
vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa,
mà là của loài người'".
Qua bài
Phúc Âm hôm nay, chúng
ta có thể tự hỏi là tại sao Chúa Giêsu bỗng nhiên lại hỏi
các tông đồ về nhận định của dân chúng nói chung và của các
tông đồ nói riêng về Người, trong khi Người vẫn cố ý che dấu
căn tính của Người, như trong chính bài Phúc Âm hôm nay cho
thấy: "Người
cấm ngặt các môn đệ không được nói cho ai biết Người là Đấng
Kitô"?
Phải
chăng Người chỉ có ý
muốn trắc
nghiệm xem kiến
thức thần linh và cảm nghiệm thần linh về Người nơi các vị
như thế nào sau thời gian được gần gũi với Người hơn quần
chúng? Căn cứ vào nội dung và kết cấu của bài Phúc Âm thì
Chúa Kitô không phải chỉ muốn trắc nghiệm mức độ đức
tin của các
tông đồ, vì tự mình Người đã biết đức tin của các vị ra sao
rồi, chẳng cần phải hỏi, mà Người muốn tiết lộ một bí mật
hết sức phũ phàng về Người mà Người biết chắc chắn rằng các
tông đồ không thể nào chấp nhận được, dù các vị có tuyên
xưng hết sức chính xác về Người đi chăng nữa.
Thật thế, điều tối mật về
Người đó là Người chẳng những là "Đức Kitô, Con Thiên
Chúa hằng sống" mà còn là một Đức Kitô tử nạn và phục
sinh nữa, để chứng tỏ Người thực sự là "Đức
Kitô" (qua mầu nhiệm tử giá) và đồng
thời cũng chính là "Con Thiên Chúa hằng sống"
(qua mầu nhiệm phục sinh), chứ
không phải như lý lẽ tự nhiên của các tông đồ, tiêu biểu qua
tông đồ Phêrô, hiểu
theo kiểu trần gian, ở
chỗ đã là "Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" thì
Người không thể nào lại chết được.
Nếu chung các tông đồ và
riêng tông đồ Phêrô không chấp nhận sự thật này về "Đức
Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" thì các vị sẽ không thể
nào theo Người được. Đó là lý do các vị đã phản nộp Người,
như một tông đồ
Giuđa Íchca,
hay đã trắng
trợn chối bỏ Người, như một tông đồ Phêrô đầu đàn. Đó
cũng là lý do các vị ru rú lo âu sợ
hãi trong
căn thượng lầu khóa kín sau khi Thày của các vị chết đi.
Đó còn là lý do khi nhận
biết tất cả sự
thật về một
Chúa Kitô Phục Sinh,
tông đồ
Toma đã tuyên xưng: "Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa tôi"
(Gioan 20:28), chứ không tuyên xưng "Vâng, con tin Thày đã
chết nhưng đã sống
lại". Bởi
vì, chính vì Thày là Chúa và là Thiên Chúa mà Thày dù có
chết cũng sẽ sống lại, để làm Chúa của cả kẻ sống lẫn người
chết, để chứng tỏ Người là Vị Thiên Chúa hằng sống bất diệt.
Lời
tuyên xưng này của tông đồ Tôma như thể, chẳng những lập lại lời tuyên
xưng của tông đồ Phêrô: "Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa
hằng sống" theo nguyên tắc và thực tại thần linh của nó,
mà còn tiến thêm một bước nữa, liên quan đến chính cảm
nghiệm thần linh nơi bản thân chính kẻ tuyên xưng: "Thày là
Đức Kitô - là Chúa của con"; "Thày là Con Thiên
Chúa hằng sống là Thiên Chúa của con", chứ không
phải chỉ ở nơi Thày thôi, vì Thày muốn tỏ cho con biết Thày
là như thế - Vâng con tin như vậy!
Vâng, tự chính lời tuyên xưng của Thánh Phêrô, vị được Chúa
Kitô đích thân ngỏ ý muốn một đàng vừa thiết lập Giáo Hội
của Người, một đàng vừa chính thức bổ nhiệm vị lãnh đạo tông
đồ đoàn và toàn thể đàn chiên của Người, thay Người phục vụ
Giáo Hội này, cũng cho thấy ứng nghiệm những gì được tiên
báo trong Sách Tiên Tri Giêrêmia về Giáo Ước mới với chung
dân Israel, ở chỗ:
"Ta sẽ đặt lề luật của Ta trong đáy lòng chúng, và sẽ
ghi trong tâm hồn chúng; Ta sẽ là Chúa của chúng, và chúng
sẽ là dân của Ta". Chúa phán: "Người này sẽ không còn phải
dạy người nọ, anh sẽ không còn phải dạy em rằng: 'Ngươi hãy
nhìn biết Chúa', vì mọi người từ nhỏ chí lớn đều nhìn biết
Ta, vì Ta sẽ tha tội ác của chúng, và sẽ không còn nhớ đến
tội lỗi của chúng".
Đúng thế, trong trường hợp của Thánh Phêrô,
lời tuyên xưng chính xác của ngài, đúng như thực tại về Chúa
Kitô, không thể xẩy ra bởi chính ngài mà là bởi Thiên Chúa:
"anh thật là người có
phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy,
nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời".
Thánh Phêrô, như dân Do Thái, nhờ
"Ta sẽ đặt lề luật của Ta trong đáy lòng chúng, và sẽ ghi
trong tâm hồn chúng; Ta sẽ là Chúa của chúng, và chúng sẽ là
dân của Ta", mà đã nhận biết Thày của mình, như dân
Do Thái "mọi người từ nhỏ chí lớn đều nhìn biết Ta".
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, ngay sau khi tuyên xứng
chính xác thực tại thần linh về Thày của mình, một sự thật
mà dân thường không thể đạt tới, thậm chí cả các vị tông đồ
cũng thế, nếu không được soi sáng đặc biệt, nên chẳng lạ gì
sau đó, chính đương sự tuyên xưng đã bày tỏ những gì hoàn
toàn phản lại những gì mình tuyên xưng. Do đó, đức tin chân
thật ấy không phải chỉ ở mức độ niềm tin (belief) nơi trí
khôn, mà cần phải được biến thành lòng tin (trust) nơi bản
thân kẻ có đức tin nữa, để trong đời sống của mình, họ có
thể tỏ ra những tác động tín thác (entrust) xứng hợp với đức
tin chân chính ấy, như trường hợp của tông đồ Toma sau khi
Chúa Kitô sống lại hiện ra với các tông đồ lần thứ hai, cách
riêng cho ngài (xem Gioan 20:24-28). Đó là lý do Thánh Vịnh
50 trong Bài Đáp Ca hôm nay đã cần phải than lên rằng:
"Ôi lạy Chúa, xin tạo
cho con quả tim trong sạch" (câu đáp), kèm theo tâm
nguyện sau đây:
1) Ôi lạy Chúa, xin tạo cho
con quả tim trong sạch, và canh tân tinh thần cương nghị trong người
con. Xin đừng loại con khỏi thiên nhan Chúa, chớ thu hồi Thánh Thần Chúa
ra khỏi con. - Ðáp.
2) Xin ban lại cho con niềm vui ơn
cứu độ, với tinh thần quảng đại, Chúa đỡ nâng con. Con sẽ dạy kẻ bất
nhân đường nẻo Chúa, và người tội lỗi sẽ trở về với Ngài. - Ðáp.
3) Bởi vì Chúa chẳng ưa gì sinh
lễ; nếu con dâng lễ toàn thiêu, Chúa sẽ không ưng. Của lễ con dâng, lạy
Chúa, là tâm hồn tan nát; lạy Chúa, xin đừng chê tấm lòng tan nát, khiêm
cung. - Ðáp.
Ngày 6 tháng 8
CHÚA HIỂN DUNG
lễ kính

Phụng Vụ Giờ Kinh
Bốn mươi ngày trước lễ Suy Tôn Thánh Giá, lễ Hiển Dung nhắc cho các
tín hữu nhớ rằng Chúa Ki-tô đã muốn “chuẩn bị tâm hồn các môn đệ
khỏi vấp phạm vì khổ hình thập giá”. Nhưng đồng thời lễ này cũng
loan báo cho mọi tín hữu biết mình được nhận làm con cái Thiên Chúa,
nhờ Con Thiên Chúa là Đức Giê-su, và loan báo ánh sáng diệu kỳ một
ngày kia sẽ rạng ngời trên toàn thân thể nhiệm mầu, tức là Hội
Thánh.
Muôn lạy Đức Giê-su Cứu Chúa
Là Hào Quang phát tự Hào Quang,
Xin thương ghé mắt dịu dàng,
Nhậm lời cầu khẩn hát mừng thiết tha.
Dung nhan Chúa vượt xa chính ngọ,
Áo trắng như tuyết phủ non ngàn,
Hiển dung trên đỉnh thiên san
Để cho các vị chứng nhân ngắm nhìn.
Này ngôn sứ kề bên môn đệ,
Cựu tân hai thế hệ khác nhau,
Giờ đây ý hợp tâm đầu,
Tin Ngài Con Đấng Tối Cao giáng trần.
Lời Thánh Phụ vang ngân trong gió,
Gọi Ngài là Thánh Tử dấu yêu,
Chúng con xưng tụng hoà theo :
Ngài là Vua Cả thiên triều muôn năm.
Xưa đã mặc xác phàm yếu đuối,
Cứu loài người thoát khỏi hư vong,
Giờ xin biến đổi chúng con
Thành phần thân thể oai phong của Ngài.
Xin dâng Chúa đôi lời tán tụng,
Ôi Giê-su cao cả vinh quang,
Thánh Linh, Thánh Phụ chứng rằng :
Ngài là Thánh Tử Cha hằng yêu thương.
Đức Giê-su đã bày tỏ mầu nhiệm này cho các môn đệ trên núi
Ta-bo. Đang khi cùng đi đường, Người đã chuyện trò với các ông
về Nước Trời và về cuộc quang lâm của Người. Có lẽ các ông chưa
xác tín những điều Người tiên báo về Nước Trời, nên Người muốn
cho các ông thâm tín tận đáy lòng và từ những việc hiện tại, các
ông có thể tin vào những việc tương lai. Vì thế, trên núi Ta-bo,
Người đã cho các ông thấy một quang cảnh thần diệu như hình ảnh
báo trước về Nước Trời. Dường như Người muốn nói với các ông :
“Để anh em khỏi mất lòng tin trong khi còn phải chờ đợi, thì
ngay bây giờ, Thầy
bảo thật anh em : trong số người có mặt ở đây, có những kẻ sẽ
không phải nếm sự chết trước khi thấy Con Người đến hiển trị trong
vinh quang của Cha Người.”
Để chứng tỏ Đức Ki-tô muốn thế nào thì có quyền làm như thế, tác
giả sách Tin Mừng thêm : Sáu
ngày sau, Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là
em ông Gia-cô-bê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một
chỗ, tới một ngọn núi cao. Rồi Người biến đổi hình dạng trước
mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục
Người trở nên trắng tinh như ánh sáng. Và kìa các ông thấy ông
Mô-sê và ông Ê-li-a hiện ra đàm đạo với Người.
Đó là những điều kỳ diệu của ngày đại lễ hôm nay ; đó là mầu
nhiệm đem lại ơn cứu độ cho chúng ta, mầu nhiệm đang được thực
hiện trên núi vào chính lúc này. Quả thế, cả sự chết lẫn vinh
quang của Đức Ki-tô đang quy tụ chúng ta. Vậy chúng ta sẽ đi sâu
vào những mầu nhiệm thánh thiêng khôn tả này cùng với những
người Đức Ki-tô đã tuyển chọn trong số môn đệ được Thiên Chúa
dẫn lối soi đường. Để được như thế, chúng ta hãy lắng nghe tiếng
nói thánh thiêng của Thiên Chúa. Từ đỉnh núi cao, Người đang
khẩn thiết kêu mời chúng ta.
Tôi dám nói là chúng ta phải mau chân tìm đến đó như Đức Giê-su.
Giờ đây, trên trời, Người vẫn đưa đường dẫn lối cho chúng ta.
Cùng với Người, chúng ta sẽ rực sáng, và chỉ những ai có đức tin
mới nhận ra, vì một cách nào đó, khuôn mặt tâm linh của chúng ta
được đổi mới, được nên đồng hình đồng dạng với Người, và cũng
như chính Người, chúng ta không ngừng được biến đổi hình dạng,
được thông phần bản tính thần linh và sẵn sàng để được đưa về
trời.
Chúng ta hãy chạy đến đó, phấn khởi hân hoan ; hãy vào sâu trong
đám mây, như các ông Mô-sê và Ê-li-a hay các ông Gia-cô-bê và
Gio-an. Như ông Phê-rô, hãy say sưa chiêm ngắm cảnh tượng thần
thiêng, hãy để cho cuộc biến đổi hình dạng vinh quang của Chúa
biến đổi con người bạn, giúp bạn siêu thoát cõi đời và xa rời
trần thế. Hãy từ bỏ xác thịt, lìa xa thụ tạo và quay về với Tạo
Hoá, với Đấng mà trong phút xuất thần, ông Phê-rô đã thưa lên : Lạy
Ngài, chúng con ở đây, thật hay quá.
Hẳn rồi, lạy thánh Phê-rô, ở
đây với Đức Giê-su và ở đây mãi mãi thì thật
hay quá. Còn gì hạnh phúc hơn, còn gì cao cả và quý báu hơn
là được ở với Thiên Chúa, được nên đồng hình đồng dạng với Người
và được chan hoà ánh sáng ? Hẳn rồi, mỗi chúng ta khi có Thiên
Chúa ở trong mình và được biến đổi nên hình ảnh thần thiêng của
Người, thì phải vui mừng kêu lên : Ở
đây thật hay quá, vì ở đây, mọi sự đều sáng ngời rực rỡ ; ở
đây, có niềm vui và hạnh phúc ngọt ngào ; ở đây, lòng ta được
hoàn toàn bình an, thanh tĩnh và êm đềm ; ở đây, ta được nhìn
thấy Đức Ki-tô ; Người chọn chỗ này làm nơi cư ngụ cùng với Chúa
Cha. Vừa bước vào, Người đã nói : Hôm
nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này ; ở đây, có
Đức Ki-tô là có những kho tàng chất chứa phúc lộc đời đời ; ở
đây những hoa trái đầu mùa và những hình ảnh tiên báo đời sau
được mô tả như đang hiển hiện trong một tấm gương vậy.
Hôm nay Thiên Chúa muốn cho Đức Ki-tô tỏ vinh quang mình cho ba môn
đệ được thấy. Ta hãy tôn vinh Người và thiết tha cầu nguyện :
Xin cho đời chúng con bừng sáng huy hoàng
nhờ ánh vinh quang của Chúa.
Lạy Thiên Chúa là Cha nhân từ, Chúa đã cho ba môn đệ được nhìn ngắm
vinh quang của Thánh Tử Giê-su, và được nghe tiếng Chúa phán dạy
phải vâng nghe lời Người, - xin cho chúng con cũng biết vâng phục
Người luôn mãi.
Xin cho đời chúng con bừng sáng huy hoàng
nhờ ánh vinh quang của Chúa.
Chúa đã ban phúc lộc đầy dư cho những người Chúa chọn, - xin cho
chúng con biết tìm đến Đức Ki-tô là mạch suối trường sinh.
Xin cho đời chúng con bừng sáng huy hoàng
nhờ ánh vinh quang của Chúa.
Trong những giờ đen tối, xin cho chúng con được soi sáng nhờ ánh
vinh quang Chúa tỏ hiện nơi dung nhan Đức Ki-tô, - và cho chúng con
hằng tha thiết chiêm ngưỡng thánh nhan Người.
Xin cho đời chúng con bừng sáng huy hoàng
nhờ ánh vinh quang của Chúa.
Nhờ mầu nhiệm Đức Ki-tô hiển dung, Chúa kêu gọi chúng con đổi mới
cuộc đời, - xin cho mọi người trên thế giới được nhờ ánh sáng Tin
Mừng mà đạt tới phúc trường sinh.
Xin cho đời chúng con bừng sáng huy hoàng
nhờ ánh vinh quang của Chúa.
Vì yêu thương, Chúa đã cho chúng con được trở thành con cái Chúa, -
xin làm cho chúng con thật nên giống Thánh Tử Giê-su khi Người quang
lâm.
Xin cho đời chúng con bừng sáng huy hoàng
nhờ ánh vinh quang của Chúa.
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, khi Con Một Chúa biểu lộ dung
nhan vinh hiển Người, Chúa đã dùng hai chứng nhân Cựu Ước là ông
Mô-sê và ông Ê-li-a, để củng cố niềm tin của các Tông Đồ vào mầu
nhiệm cứu độ, và báo trước hồng ân lạ lùng Chúa sẽ ban là nhận chúng
con làm nghĩa tử. Xin cho chúng con nghe lời Con Một Chúa, để mai
sau được chung hưởng gia nghiệp với Người. Người là Thiên Chúa hằng
sống và hiển trị cùng Chúa, hợp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn
thuở muôn đời.
Phụng Vụ Lời Chúa
Bài Ðọc I: Ðn
7, 9-10. 13-14
"Áo Người trắng như tuyết".
Trích sách Tiên tri Ðaniel.
Tôi ngắm nhìn cho đến khi đặt
ngai toà xong, và một vị Bô Lão ngự trên ngai: áo Người trắng như
tuyết, tóc trên đầu Người như những ngọn lửa, các bánh xe như lửa
cháy. Một con sông lửa chảy lan tràn trước mặt Người. Hằng ngàn kẻ
phụng sự Người, và muôn vàn kẻ chầu chực Người. Người ngự toà xét
xử, và các quyển sách đều mở ra.
Trong một thị kiến ban đêm,
tôi đã ngắm nhìn, và đây tôi thấy như Con Người đến trong đám mây
trên trời. Ngài tiến đến vị Bô Lão, và người ta dẫn Ngài đến trước
mặt vị Bô Lão. Vị này ban cho Ngài quyền năng, vinh dự và vương
quốc: Tất cả các dân tộc, chi họ, và tiếng nói đều phụng sự Ngài:
quyền năng của Ngài là quyền năng vĩnh cửu, không khi nào bị cất
mất: vương quốc của Ngài không khi nào bị phá huỷ.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 96,
1-2. 5-6. 9
Ðáp: Chúa hiển
trị, Chúa là Ðấng tối cao trên toàn cõi đất (c. 1a và 9a).
Xướng: 1) Chúa hiển trị, địa
cầu hãy hân hoan; hải đảo muôn ngàn, hãy mừng vui. Mây khói và sương
mù bao toả chung quanh; công minh chính trực là nền kê ngai báu. -
Ðáp.
2) Núi non vỡ lở như mẩu sáp
ong trước thiên nhan, trước thiên nhan Chúa tể toàn cõi trái đất.
Trời xanh loan truyền sự công minh Chúa, và chư dân được thấy vinh
hiển của Người. - Ðáp.
3) Lạy Chúa, vì Ngài là Ðấng
tối cao trên toàn cõi đất, Ngài rất đỗi siêu phàm giữa muôn chúa tể.
- Ðáp.
Bài Ðọc II: 2
Pr 1, 16-19
"Chúng tôi đã nghe tiếng ấy
từ trời phán xuống".
Trích thư thứ hai của Thánh
Phêrô Tông đồ.
Anh em thân mến, chúng tôi
không theo những truyện bày đặt khôn khéo, để tỏ ra cho anh em biết
quyền năng và sự hiện diện của Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta; nhưng
chúng tôi đã được chứng kiến nhãn tiền sự uy nghi của Người. Người
đã được Chúa Cha ban cho vinh dự và vinh quang, khi có lời từ sự
vinh quang cao cả xuống phán về Người rằng: "Này là Con Ta yêu dấu,
Người đẹp lòng Ta, các ngươi hãy nghe lời Người". Chúng tôi đã nghe
tiếng ấy từ trời phán xuống, lúc chúng tôi ở với Người trên núi
thánh. Và chúng tôi có lời nói chắc chắn hơn nữa là lời nói tiên
tri: anh em nên nghe theo lời đó, nó như ngọn đèn sáng soi trong nơi
u tối, cho đến khi rạng đông và sao mai mọc lên trong lòng anh em.
Ðó là lời Chúa.
Alleluia: Mt
17, 5c
Alleluia, alleluia! - Này là
Con Ta yêu dấu rất đẹp lòng Ta, các ngươi hãy nghe lời Người. -
Alleluia.
Phúc Âm: Mc 9,
1-9
"Ðây là Con Ta yêu dấu".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo
Thánh Marcô.
Khi ấy, Chúa Giêsu đưa Phêrô,
Giacôbê, và Gioan đi riêng với Người lên núi cao, và Người biến hình
trước mặt các ông, và áo Người trở nên chói lọi trắng tinh như
tuyết, không thợ giặt nào trên trần gian có thể giặt trắng đến thế.
Rồi Êlia cùng Môsê hiện ra và đàm đạo với Chúa Giêsu.
Bấy giờ Phêrô lên tiếng thưa
Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm, chúng
con xin làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê, và một cho Êlia".
Phêrô không rõ mình nói gì, vì các ông đều hoảng sợ. Lúc đó một đám
mây bao phủ các Ngài, và từ đám mây có tiếng phán rằng: "Ðây là con
Ta yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Người". Bỗng nhìn chung quanh,
các ông không còn thấy ai khác, chỉ còn một mình Chúa Giêsu với các
ông.
Và trong lúc từ trên núi đi
xuống, Chúa Giêsu đã ra lệnh cho các ông đừng thuật lại cho ai những
điều vừa xem thấy, trước khi Con Người từ cõi chết sống lại. Các ông
tuân lời căn dặn đó, nhưng vẫn tự hỏi nhau: "Từ trong cõi chết sống
lại nghĩa là gì?"
Ðó là lời Chúa.
LỄ CHÚA KITÔ BIẾN HÌNH
VINH QUANG BA NGÔI NƠI VIỆC CHÚA KITÔ BIẾN HÌNH
(ĐTC Gioan Phaolô II: Bài Giáo Lý 8 ngày 26/4/2000 trong loạt
33 bài về Chúa Ba Ngôi cho Đại Năm Thánh 2000)
1- Trong
Tuần Bát Nhật Phục Sinh này, một tuần được coi như là một ngày trọng
đại duy nhất, phụng vụ không ngừng lập đi lập lại sứ điệp Phục Sinh:
“Chúa Giêsu thực sự đã sống lại rồi!”. Lời
loan báo này mở ra cho toàn thể nhân loại một chân trời mới. Tất
cả những gì được ám chỉ một cách mầu nhiệm nơi Cuộc Biến Hình trên
Núi Tabo đều trở thành hiện thực nơi Cuộc Phục Sinh. Lúc
biến hình, Chúa Giêsu tỏ cho các vị tông đồ Phêrô, Giacôbê và Gioan
thấy phép lạ hiển vinh cùng với ánh sáng được niêm ấn bằng tiếng của
Chúa Cha: “Đây là Người Con yêu dấu của Ta” (Mk 9:7).
Vào ngày
lễ Phục Sinh, những lời này hiện lên cho chúng ta thấy trọn vẹn thực
tại của chúng. Người
Con yêu dấu của Chúa Cha, tức Đức Kitô bị đóng đanh và tử nạn, đã
sống lại vì chúng ta. Trong sự tỏ rạng của
Người, tín hữu chúng ta thấy được ánh sáng, và, như phụng vụ của
Giáo Hội Đông Phương xướng lên, “được Thần Linh phục sinh, chúng ta
muôn đời chúc tụng Ba Ngôi Thiên Chúa đồng bản thể” (Kinh Tối
Trọng Thể Lễ Chúa Kitô Biến Hình). Với một tấm lòng tràn đầy
niềm vui Phục Sinh, hôm nay tinh thần chúng ta hãy leo lên
ngọn núi thánh nổi bật trên đồng bằng Galilêa để chiêm ngưỡng ở chóp
đỉnh của nó một biến cố xẩy ra hướng vọng tới biến cố Phục Sinh.
2- Chúa
Kitô là tâm điểm của Cuộc Biến Hình. Hai
chứng nhân của Cựu Ước hiện ra với Người là Moisen, vị trung gian
của lề luật, và Elia, vị tiên tri của Thiên Chúa hằng sống. Thần
tính của Chúa Kitô, được tiếng của Chúa Cha công bố, cũng tỏ hiện
bởi những biểu hiệu bằng hình ảnh theo kiểu
diễn tả của thánh ký Marcô. Thật vậy, có ánh sáng và mầu trắng tiêu
biểu cho vĩnh cửu và siêu việt tính: “Y phục của Người trở nên sáng
láng, trắng tinh đến nỗi không một thợ giặt tẩy nào trên trần gian
này có thể làm nổi” (Mk 9:3). Thế rồi có cả mây trời, dấu hiệu Thiên
Chúa hiện diện trong cuộc Xuất Ai Cập của dân Yến Duyên cũng là dấu
hiệu Ngài hiện diện nơi lều Giao Ước (x Ex 13:21-22, 14:19, 24, 40:
34, 38).
Vào Buổi
Sáng ngày lễ Biến Hình, phụng vụ Đông Phương cũng xướng lên rằng:
“Ôi Lời Thiên Chúa, sự rạng ngời tinh nguyên của ánh sáng Chúa Cha,
trong ánh sáng tỏa chiếu của Chúa trên Núi Tabo, hôm nay chúng con
đã được thấy ánh sáng là Chúa Cha và ánh sáng là Thần Linh, một ánh
sáng soi chiếu tất cả mọi tạo vật”.
3- Bản
văn phụng vụ này đề cao chiều kích Ba Ngôi nơi Cuộc Biến Hình trên
núi của Chúa Kitô. Thật vậy, Chúa Cha hiện diện rõ ràng nơi tiếng
nói phát ra. Truyền thống Kitô Giáo có một thoáng nhìn ngấm ngầm về
việc Thánh Linh hiện diện nơi biến cố biến hình song song với biến
cố Chúa Giêsu chịu Phép Rửa ở sông Dược Đăng, lúc mà Thần Linh lấy
hình bồ câu đậu xuống trên Người (Mk 1:10). Thật vậy, mệnh lệnh “Hãy
lắng nghe Người” (Mk 9:7) của Chúa Cha cho thấy Chúa Giêsu đầy Thánh
Linh để các lời của Người đều là “thần trí và là sự sống” (Jn 6:63,
x. 3:34-35).
Bởi vậy,
chúng ta có thể leo lên
ngọn núi này để trầm tư, chiêm ngưỡng và dìm mình vào mầu nhiệm ánh
sáng của Thiên Chúa. Tabo tiêu biểu
cho tất cả mọi ngọn núi dẫn chúng ta đến với Thiên Chúa, như các nhà
thần bí vẫn thích dùng hình ảnh so sánh này. Một
bản văn khác của Giáo Hội Đông Phương kêu gọi chúng ta thực hiện
cuộc tiến lên tới chóp đỉnh và tới ánh sáng như sau: “Hỡi các dân,
hãy đến mà theo tôi!
Chúng ta hãy leo lên ngọn núi thánh thiên đình; tâm linh của chúng
ta hãy dừng lại ở thành đô Thiên Chúa hằng sống và lấy tinh thần mà
chiêm ngưỡng thần tính của Chúa Cha và Thánh Thần được rạng ngời nơi
Người Con Duy Nhất” (troparion at the conclusion of the Canon
of St John Damascene).
4- Nơi
Cuộc Biến Hình, chúng ta chẳng những chiêm ngưỡng mầu nhiệm Thiên
Chúa, đi từ ánh sáng tới ánh sáng (x Ps 36:10), chúng ta còn được
mời gọi để lắng nghe lời thần linh nói với chúng ta nữa. Vượt trên
ngôn từ của Lề Luật hiện thân nơi Moisen cũng như ngôn từ của tiên
tri hiện thân nơi Êlia, tiếng nói của Chúa Cha có thể nghe thấy có
liên quan đến tiếng nói của Chúa Con, như Tôi vừa đề cập tới (x Mk
9:7). Khi dẫn giải về cảnh Biến
Hình, Bức Thư Thứ Hai của Thánh Phêrô nhấn mạnh đến tiếng nói thần
linh. Chúa Giêsu Kitô “đã nhận được vinh dự cùng
vinh quang từ Thiên Chúa Cha và có một tiếng nói đã phát ra với
Người từ vinh quang uy nghi cao cả: ‘Đây là Người Con yêu dấu của
Ta, Người mà Ta hài lòng’; chúng tôi đã nghe thấy tiếng nói ấy phát
ra từ trời, vì chúng tôi đã ở với Người trên núi thánh. Do đó chúng
tôi càng vững vàng hơn nữa về lời ngôn sứ. Anh em tỏ ra vững chắc
khi chú ý tới lời như là ngọn đèn sáng soi trong nơi tăm tối cho đến
ngày rạng đông và sao mai mọc lên trong tâm trí anh em” (2Pt 1:17-19).
Chúng ta
hãy chúc tụng Chúa Cha, Ngôi Lời và Thánh Linh.
5- Bởi
vậy, nhìn và nghe, chiêm ngưỡng và tuân phục là những đường lối dẫn
chúng ta lên núi thánh, nơi Ba Ngôi tỏ mình ra trong vinh quang của
Chúa Con. “Cuộc Biến Hình làm cho chúng ta nếm trước việc Chúa Kitô
đến trong vinh quang, khi Người ‘biến đổi thân xác thấp hèn của
chúng ta nên giống như thân xác vinh hiển của Người’ (Phil 3:21).
Thế nhưng, Cuộc Biến Hình đồng thời cũng nhắc nhớ là ‘chính nhờ trải
qua nhiều cuộc bách hại chúng ta mới được vào vương quốc của Thiên
Chúa’ (Acts 14:22)”
(Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, số 556).
Như linh
đạo của Giáo Hội Đông Phương nêu lên, phụng vụ về Cuộc Biến Hình cho
thấy một “bộ ba” nhân loại nơi ba vị tông đồ Phêrô, Giacôbê và
Gioan, những vị chiêm ngưỡng Ba Ngôi thần linh. Như ba người trẻ
trong lò lửa của Sách Tiên Tri Đaniên (3:51-90), phụng vụ “chúc tụng
Thiên Chúa là Cha và là Đấng Hóa Công, ngợi khen Ngôi Lời là Đấng đã
xuống giúp họ và biến lửa thành sương sa, cùng tôn vinh Thánh Linh
là Đấng ban sự sống cho tất cả mọi người đến muôn đời” (Kinh Ban Mai
Lễ Biến Hình).
Giờ đây
chúng ta hãy cầu nguyện cùng Chúa Kitô biến hình bằng những lời của Kinh
Nguyện Thánh Gioan Đamascênô: “Ôi Chúa Kitô, Chúa đã thu hút con
bằng lòng khao khát Chúa, và đã biến đổi con bằng tình yêu thần
linh. Xin Chúa hãy thiêu đốt tội lỗi của con bằng lửa thiêng của
Chúa và xin hãy đoái thương làm cho con tràn đầy nỗi dịu ngọt của
Chúa, để vui mừng hớn hở, con sẽ chúc tụng tất cả mọi biểu hiện của
Chúa”.
(Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch từ Tuần san
L’Osseervatore Romano, ấn bản Anh ngữ, 3/5/2000)
Một số hình ảnh về Núi Tabor trong chuyến Hành Hương Thánh Địa Tuần
Thánh Vượt Qua 2019 của Nhóm TĐCTT (Tông Đồ Chúa Tình Thương)



Ở dưới hầm (tầng dưới) nhà thờ (từ tầng trên có thể nhìn xuống) có một
bàn thờ và các mảnh tường của một nhà thờ từ thời Đế Quốc Byzantine,
và nền đá của cái hầm (crypt) này được tin là nơi Chúa Giêsu đứng khi
Người biến hình trên núi.


Cuối lòng nhà thờ hay ngay lối vào từ cuối nhà thờ này, một bên (phải)
là bàn thờ trên tường có hình tiên tri Elia và một bên (trái) có hình
Moisen
Thứ Sáu
Phụng
Vụ Lời Chúa
Bài Ðọc I: (Năm
II) Nk
1, 15; 2, 2; 3, 1-3. 6-7
"Khốn cho thành khát máu".
Trích sách Tiên tri Nakhum.
Kìa xem, trên núi có người đưa
tin mừng chạy đến. Hỡi Giuđa, hãy mừng các ngày lễ trọng của ngươi,
hãy thi hành lời ngươi khấn nguyện. Vì Bêlial từ nay sẽ không còn đi
qua đất ngươi: nó đã bị hoàn toàn tận diệt.
Vì Chúa sẽ trồng lại cây nho
Giacóp, cũng như cây nho Israel, bởi quân phá phách đã tàn phá chúng
và đã bẻ cành chúng.
Khốn cho thành khát máu, tràn
đầy gian dối, hung bạo, người ta không ngừng cướp phá ngươi. Hãy
nghe tiếng roi quất, tiếng bánh xe lăn, ngựa hí, xe phóng nhanh,
quân kỵ binh xông đến, gươm lấp lánh, giáo sáng ngời, nhiều người bị
giết, tàn phá nặng nề, xác chết vô vàn, ngã quỵ trên nhau.
Ta sẽ vứt đồ ô uế trên mình
ngươi, làm nhục ngươi, bêu xấu ngươi. Lúc bấy giờ, hễ ai thấy ngươi
cũng ngoảnh mặt mà nói: "Ninivê thật tiêu điều! Ai thương được
ngươi? Tìm đâu ra người an ủi ngươi".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Ðnl
32, 35cd-36ab. 39. 41
Ðáp: Ta
sẽ giết chết và sẽ làm cho sống lại (c. 39c).
Xướng: 1) Ngày huỷ diệt đã gần
rồi, và kỳ hẹn lại chóng đến. Chúa sẽ phán xét dân Người, và xót
thương kẻ làm tôi Chúa. - Ðáp.
2) Các ngươi hãy xem có một
mình Ta, và ngoài Ta, không có Chúa nào khác: Ta sẽ giết chết và sẽ
làm cho sống lại; Ta sẽ đánh đập và sẽ chữa lành. - Ðáp.
3) Nếu Ta mài sáng gươm Ta như
chớp, và nắm giữ phán quyết trong tay Ta, Ta sẽ trả oán những kẻ thù
nghịch, sẽ trả thù những kẻ ghen ghét Ta. - Ðáp.
Alleluia:
Tv 94, 8ab
Alleluia, alleluia! - Ước chi
hôm nay các bạn nghe tiếng Chúa, và đừng cứng lòng. - Alleluia.
Phúc Âm: Mt
16, 24-28
"Người ta sẽ lấy gì mà đổi
được sự sống mình".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo
Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng
các môn đệ rằng: "Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình đi, và
vác thập giá mình mà theo Thầy. Vì chưng, ai muốn cứu mạng sống mình
thì sẽ mất; còn ai đành mất mạng sống mình vì Ta, thì sẽ được sự
sống. Nếu ai được lợi cả thế gian mà thiệt hại sự sống mình, thì
được ích gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi được sự sống mình?
"Bởi vì Con Người sẽ đến trong
vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần của Người, và bấy
giờ, Người sẽ trả công cho mỗi người tuỳ theo việc họ làm. Thật,
Thầy bảo các con: trong những kẻ đang đứng đây, có người sẽ không
nếm sự chết trước khi xem thấy Con Người đến trong Nước Người".
Ðó là lời Chúa.

Suy Niệm Cảm Nghiệm
Cộng = Trừ và Trừ
= Cộng

Hôm
nay, Thứ Sáu Tuần XVIII Thường Niên, để tiếp tục tất cả sự thật
về mầu nhiệm Chúa Kitô trong bài Phúc Âm hôm qua, ở
chỗ: Nếu Ngưòi là "Đức
Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống",
thì Người đồng thời
cũng phải là
một Đức Kitô Vượt Qua, tử giá và phục sinh, nhờ đó Người mới
chứng thực Người
quả là
"Đức
Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống",
Chúa Kitô, trong bài
Phúc Âm hôm nay, đã thẳng thắn tuyên bố một hệ luận hay một lối
sống liên quan trực tiếp đến thân phận của những ai muốn theo Người là
một Đức Kitô Vượt Qua từ khổ giá đến phục sinh rằng: "Nếu
ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình đi, và vác thập giá mình mà theo
Thầy".
Sau đó,
Người cho các môn đệ của Người biết về lý do tại sao họ cần phải sống
như thế, cần phải bỏ mình và vác thập giá mà theo Người như vậy,
hay đúng hơn cần
phải bỏ mình và vác thập giá mới có thể theo Người, bằng không, họ không
thể nào theo Người được, thậm chí như Người phán trong Phúc Âm của Thánh
ký Luca: "Ai
không vác thập giá mình mà theo Thày không xứng đáng làm môn đệ của Thày" (14:27).
Lý do được Người nêu lên cho các môn đệ thấy đó là:
"Vì chưng, ai muốn
cứu sự sống
mình thì sẽ mất; còn ai đành mất sự sống
mình vì Ta, thì sẽ được sự sống. Nếu ai được lợi cả thế gian mà thiệt
hại sự sống mình, thì được ích gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi được
sự sống mình?"
Câu
tuyên bố này của Chúa Kitô có thể hiểu về trường hợp của các vị tử đạo
trong Giáo Hội từ trước tới nay trong lịch sử của Giáo Hội. Nguyên tắc
cứu thì mất bỏ thì còn có vẻ mâu thuẫn này cũng đúng trong cả trường hợp
bị rắn độc cắn nếu không chặt cánh tay hay chặt bàn
chân bị nó cắn chỉ vì tiếc rẻ hay
sợ đau cứ muốn giữ lấy chỗ bị cắn đó thì
nạn nhân sẽ mất mạng, ngược lại thì
còn mạng.
Đó là lý do trong bài giảng Phúc Đức Trọn
Lành trên núi của Phúc Âm Thánh ký Mathêu, Chúa Kitô cũng đã khuyên các
môn đệ của Người rằng nếu mắt của các
con hay tay của các con mà nên
cớ vấp phạm cho các con thì hãy móc nó đi, hãy chặt
nó đi, thà mất một mắt hay thiếu một tay mà vào Nước Trời còn hơn còn
nguyên toàn
thân lại bị
quẳng vào hỏa ngục (xem 5:29-30).
"Sự
sống mình"
mà Chúa bảo cần
phải mất đi để "được sự sống" đây
là gì, nếu không phải nếu "sự sống"
họ được đây là Chúa Kitô, Đấng đã tuyên bố mình là "sự sống" (Gioan
11:25,14:6), thì "sự sống mình" đây chính là bản thân con
người. Đó là lý do Người đã dứt khoát với những ai muốn theo Người "phải bỏ
chính bản thân mình đi
- must deny his very self".
Việc
"phải bỏ chính bản thân mình" của những ai muốn theo Chúa Kitô này
không phải là việc họ tự hủy diệt bản
thân họ, mà là một tiến trình biến đổi bản thân họ, biến đổi từ bản thân
vô cùng thấp hèn xấu xa tội lỗi của họ để trở nên một Chúa Kitô vô cùng
cao cả là chính sự sống thần linh của họ, nghĩa là họ đánh đổi bản thân
mình để lấy chính Chúa Kitô, như thể họ là người tim thấy kho tàng là
Chúa Kitô trong
thửa ruộng
thế gian thì đã
bán hết mọi sự mình có, bán chính bản thân mình đi, để
mua lấy thửa ruộng có kho tàng được
chôn giấu ấy
vậy (xem Mathêu 13:44).
Chúa
Kitô là "sự
sống" của
thành phần muốn theo Người và cho những ai từ bỏ chính bản thân
mình, đến độ không một sự gì trên thế gian này có thể so sánh được: có
Người là có tất cả, mất Người là mất tất cả. Đó là lý do Chúa Kitô đã
khẳng định với các môn đệ của Người trong bài Phúc Âm hôm nay rằng: "Nếu
ai được lợi cả thế gian mà thiệt hại sự sống mình, thì được ích gì? Hoặc
người ta sẽ lấy gì mà đổi được sự sống mình?".
Chưa hết, những ai dám hy sinh tất cả mọi sự
chẳng là gì trên trần gian tạm gửi mau qua chóng hết thật tầm
thường này, để theo
Người cho tới cùng, thì sau này sẽ được
phần thưởng xứng đáng bất diệt đời
sau nữa, như Người hứa với các vị ở cuối bài Phúc Âm hôm nay: "Con
Người sẽ đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần của
Người, và bấy giờ, Người sẽ trả công cho mỗi người tùy theo
việc họ làm".
Thế
nhưng, để có thể "bỏ chính bản thân mình" mà theo Chúa, con người
cần phải có đức tin, phải tin vào Đấng đã kêu gọi họ, và chính là Đấng họ
theo đuổi cho tới cùng, Đấng luôn tỏ mình ra cho họ, chẳng những
bằng điềm thiêng dấu lạ trong cuộc đời họ, mà nhất là bằng đau khổ thử
thách, để họ càng tin vào Người hơn, nhờ đó, họ có thể hiệp nhất nên
một với Người, là "sự sống" của họ mỗi
ngày một hơn.
Bài Đọc 1 hôm
nay, qua miệng Tiên Tri Nakhum, Vị "Chúa là Thiên Chúa ghen
tương và báo oán" (câu 2), theo chiều hướng
"ai muốn cứu sự sống
mình thì sẽ mất; còn ai đành mất sự sống
mình vì Ta, thì sẽ được sự sống" của Bài Phúc Âm hôm
nay đã phán với 2 thành phần, thành phần đã biết từ bỏ tà thần mà quay
về với Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của mình là "Giuđa", và thành
phần chỉ sống theo đam mê thế gian là "Ninive", như thế này:
"Ai đành mất sự sống
mình vì Ta, thì sẽ được sự sống":
"Kìa xem, trên núi có người đưa tin
mừng chạy đến. Hỡi Giuđa, hãy mừng các ngày lễ trọng của ngươi, hãy thi
hành lời ngươi khấn nguyện. Vì Bêlial từ nay sẽ không còn đi qua đất
ngươi: nó đã bị hoàn toàn tận diệt. Vì Chúa sẽ trồng lại cây nho
Giacóp, cũng như cây nho Israel, bởi quân phá phách đã tàn phá chúng và
đã bẻ cành chúng".
"Ai muốn cứu sự sống
mình thì sẽ mất":
"Khốn cho thành khát máu, tràn đầy
gian dối, hung bạo, người ta không ngừng cướp phá ngươi. Hãy nghe tiếng
roi quất, tiếng bánh xe lăn, ngựa hí, xe phóng nhanh, quân kỵ binh xông
đến, gươm lấp lánh, giáo sáng ngời, nhiều người bị giết, tàn phá nặng
nề, xác chết vô vàn, ngã quỵ trên nhau. Ta sẽ vứt đồ ô uế trên mình ngươi,
làm nhục ngươi, bêu xấu ngươi. Lúc bấy giờ, hễ ai thấy ngươi cũng ngoảnh
mặt mà nói: 'Ninivê thật tiêu điều! Ai thương được ngươi? Tìm đâu ra
người an ủi ngươi'".
Bài Đáp Ca hôm nay, được trích từ Sách Tiên Tri Đaniên, Thiên Chúa tỏ ra
Ngài mới là chủ tể mọi sự:
"Ta sẽ giết chết và sẽ làm cho sống lại" (Câu Đáp),
do đó, ai trung thành với Ngài thì sống, mà ai bỏ Ngài hay chống lại với
Ngài thì chết, dù tự Ngài không ra tay, vì đó là định luật sống chết bẩm
sinh nơi loài tạo vật "linh ư vạn vật" là con người, nhất là khi họ được
Ngài thực sự tỏ mình ra cho họ, qua giòng lịch sử cứu độ của dân Do
Thái, thành phần dân tộc được Ngài tuyển chọn, để sửa soạn cho công cuộc
cứu độ vào "lúc thời gian viên trọn" (Galata 4:4), nhờ đó Ngài
hiện thực hóa tất cả dự án cứu độ đầy thương xót của Ngài:
1) Ngày huỷ diệt đã gần
rồi, và kỳ hẹn lại chóng đến. Chúa sẽ phán xét dân Người, và xót thương
kẻ làm tôi Chúa.
2) Các ngươi hãy xem có một mình
Ta, và ngoài Ta, không có Chúa nào khác: Ta sẽ giết chết và sẽ làm cho
sống lại; Ta sẽ đánh đập và sẽ chữa lành.
3) Nếu Ta mài sáng gươm Ta như
chớp, và nắm giữ phán quyết trong tay Ta, Ta sẽ trả oán những kẻ thù
nghịch, sẽ trả thù những kẻ ghen ghét Ta.
Thứ Bảy
Phụng
Vụ Lời Chúa
Bài Ðọc I: (Năm
II) Kb
1, 12 - 2, 4
"Người công chính sống được nhờ
trung tín".
Trích sách Tiên tri Khabacúc.
Chớ thì ngàn xưa Chúa chẳng phải
là Thiên Chúa, Chúa của tôi, là Ðấng Thánh của tôi? Vậy là chúng tôi
không sao chết được. Lạy Chúa, Chúa đã đặt nó lên để xét xử, làm cho nó
vững mạnh để trừng phạt. Mắt Chúa tinh sạch, không thể nhìn sự dữ, không
thể xem sự gian ác. Tại sao Chúa lại nhìn những kẻ gian ác, và kẻ bất
lương nuốt người công chính hơn nó, sao Chúa vẫn làm thinh?
Chúa để loài người như cá biển,
như sâu bọ không có vua quan. Nó lấy lưỡi câu mà bắt hết, lấy chài mà
kéo mọi sự, lấy lưới mà thu lượm: bởi thế nó hớn hở vui mừng. Vì vậy, nó
cúng tế cho chài, nó dâng lễ vật cho lưới, vì bởi đấy nó được phần béo
tốt và món ăn ngon. Lẽ nào nó cứ thả lưới không ngừng và luôn luôn tàn
nhẫn sát hại các dân?
Tôi sẽ đứng ở vọng canh của tôi,
đứng yên nơi thành lũy của tôi, tôi chờ xem Chúa dạy tôi thế nào, và trả
lời ra sao cho điều tôi biện bạch? Chúa đáp lại tôi rằng: "Hãy chép điều
ngươi thấy, hãy khắc nó vào tấm bảng để đọc được dễ dàng. Bởi hình lạ
còn xa, nó sẽ xuất hiện trong thời sau hết và sẽ chẳng hư không. Nó kết
duyên với ngươi, hãy chờ đợi nó, vì nó sẽ đến không trì hoãn. Chắc chắn
nó sẽ đến, không sai. Người không có lòng ngay thì ngã gục, nhưng người
công chính sẽ sống nhờ trung tín".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 9,
8-9. 10-11. 12-13
Ðáp: Lạy
Chúa, Chúa không bỏ rơi kẻ kiếm tìm Chúa (c. 11b).
Xướng: 1) Chúa ngự trị tới muôn
đời, Người dựng vững ngai vàng ngõ hầu cai trị. Người công minh thống
trị địa cầu, Người chính trực xét xử chư dân. - Ðáp.
2) Chúa là chỗ dung thân cho người
bị ức, chỗ dung thân dành cho những lúc gian truân, để những ai nhìn
biết uy danh, cậy trông vào Chúa, vì lạy Chúa, Chúa không bỏ rơi kẻ kiếm
tìm Ngài. - Ðáp.
3) Hãy đàn ca Chúa, Người ngự ở
Sion; hãy loan truyền công cuộc Chúa khắp chư dân: vì Ðấng đòi nợ máu,
Người nhớ họ, Người không quên tiếng kêu của những kẻ cơ bần. - Ðáp.
Alleluia: Tv
129, 5
Alleluia, alleluia! - Con hy vọng
rất nhiều vào Chúa, linh hồn con trông cậy ở lời Chúa. - Alleluia.
Phúc Âm: Mt 17,
14-19
"Nếu các con có lòng tin, thì
chẳng có gì các con không làm được".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo
Thánh Matthêu.
Khi ấy, có một người đến gần, quỳ
gối trước mặt Chúa Giêsu mà nói rằng: "Lạy Ngài, xin thương xót con trai
tôi vì nó mắc chứng kinh phong và rất trầm trọng: nó thường ngã vào lửa
và lắm lúc nó ngã xuống nước. Tôi đã đem nó đến cùng môn đệ Ngài, nhưng
các ông không thể chữa nó được". Chúa Giêsu đáp: "Ôi thế hệ cứng lòng
tin và hư hỏng! Ta phải ở với các ngươi đến bao giờ? Ta còn phải chịu
đựng các ngươi đến bao giờ nữa? Hãy đem nó lại đây cho Ta". Chúa Giêsu
quát mắng quỷ và quỷ liền ra khỏi đứa bé. Và nó được lành ngay trong lúc
ấy. Bấy giờ các môn đệ đến hỏi riêng Chúa Giêsu rằng: "Tại sao chúng con
không thể trừ quỷ ấy được?" Chúa Giêsu bảo các ông rằng: "Vì các con yếu
lòng tin! Thầy bảo thật các con: Nếu các con có lòng tin lớn bằng hạt
cải, thì các con có khiến núi này rằng: 'Hãy rời khỏi đây mà sang nơi
kia', thì nó liền đi sang, và chẳng có gì các con không làm được".
Ðó là lời Chúa.


Suy Niệm Cảm Nghiệm
Hôm nay, bài Phúc Âm cho Thứ
Bảy Tuần XVIII Thường Niên không phải là bài tiếp ngay sau bài
Phúc Âm hôm qua, cuối đoạn 16 theo Phúc Âm Thánh Mathêu, mà
là bài Phúc Âm sang đoạn 17, từ
câu 14 đến 21, thay vì từ câu 1 đến câu 13. Bởi vì bài Phúc Âm từ câu
1 đến 13 mở đầu đoạn
17 là bài Phúc Âm về
biến cố Chúa Giêsu biến hình trên núi, một biến cố đã được Giáo Hội cử
hành hôm Thứ Năm vừa rồi
(là ngày
6/8 trong tháng như năm
2015).
Bài Phúc Âm được Giáo
Hội chọn đọc cho ngày cuối tuần XVIII Thường Niên hôm nay tường thuật về
sự việc Chúa Giêsu trừ quỉ cho đứa con trai của một người đến
xin Người, vì môn đệ
của Người đã không thể trừ được quỉ cho con của ông ta:
"Khi ấy, có một người đến gần, quỳ gối trước mặt Chúa Giêsu mà nói
rằng: 'Lạy Ngài, xin thương xót con trai tôi vì nó mắc chứng kinh phong
và rất trầm trọng: nó thường ngã vào lửa và lắm lúc nó ngã xuống nước.
Tôi đã đem nó đến cùng môn đệ Ngài, nhưng các ông không thể chữa nó
được'".
Chính
các môn đệ cũng thắc mắc là tại sao các
vị không
trừ được quỉ, và đã được
Chúa Giêsu trả lời cho các vị biết rằng: "Bấy
giờ các môn đệ đến hỏi riêng Chúa Giêsu rằng: 'Tại sao chúng con không
thể trừ quỷ ấy được?' Chúa Giêsu bảo các ông rằng: 'Vì các con yếu lòng
tin!'"
Đó là lý do sau khi nghe ông
bố của đứa con trai bị quỉ ám cho biết các môn đệ của Người không
trừ được quỉ ra khỏi con ông ta,
Chúa Giêsu đã không than
trách chung dân chúng
và riêng ông bố đang xin Người trừ quỉ cho con ông ta, cho
bằng chính các
môn đệ của Người, thành
phần đã được Người ban cho quyền trừ
quỉ từ khi Người sai các vị đi truyền giáo trước
kia (xem
Mathêu 10:1) mà quyền
trừ quỉ nơi các vị vẫn không có công hiệu gì nơi các vị trong trường hợp
này, chỉ vì các vị yếu lòng tin: "Ôi
thế hệ cứng lòng tin và hư hỏng! Ta phải ở với các ngươi đến bao giờ? Ta
còn phải chịu đựng các ngươi đến bao giờ nữa?"
Như
thế, căn cứ vào trường hợp trừ quỉ được bài Phúc Âm của Thánh ký Mathêu
thuật lại hôm nay thì không phải có quyền trừ quỉ mà trừ được quỉ đâu,
nếu chính tác nhân trừ quỉ yếu đức tin. Đúng thế, nếu "ai được sinh
bởi Thiên Chúa là kẻ chiến thắng thế gian và quyền
năng chiến
thắng thế gian là đức tin của chúng ta" (1Gioan 5:4) thì ai không
có đức tin hay yếu đức tin không thể nào chiến thắng thế gian vốn thuộc
quyền cai trị của ma quỉ sau nguyên tội.
Nếu "Con Thiên
Chúa tỏ mình ra là để hủy hoại các việc làm của ma quỉ" (1Gioan 3:8)
thì quả thực "Người chiến thắng thế gian là ai? Chính là người tin
rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa"(1Gioan 5:5). Đó là lý do, như bài
Phúc Âm hôm Thứ Năm tuần này cho thấy, ngay
sau khi vừa tuyên xưng thật chính xác "Thày
là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống"
(Mathêu 16:16), tông đồ Phêrô đã bị
Thày thậm tệ nguyền rủa là "đồ Satan"
(Mathêu 16:23), vì
ngài phán đoán theo thế gian hơn là theo Thiên Chúa, mà theo thế gian là
theo ma quỉ, vậy thì trừ quỉ làm sao được là đúng lắm vậy!?!
Trái lại, nếu các
tông đồ có đức tin mạnh mẽ thì các vị chẳng những trừ được quỉ mà còn
làm gì cũng được nữa, kiểu "muốn gì được nấy", (giống trường hợp
của người đàn bà Canaan trong bài Phúc Âm Thứ Tư tuần này), như lời Chúa
Giêsu khẳng định
kết bài Phúc Âm hôm nay: "Thầy
bảo thật các con: Nếu các con có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì các con
có khiến núi này rằng: 'Hãy rời khỏi đây mà sang nơi kia', thì nó liền
đi sang, và chẳng có gì các con không làm được".
"Nếu các con có
lòng tin lớn bằng hạt cải" đây
nghĩa là gì nếu không phải trong dụ ngôn về Nước Trời giống như hạt cải
(xem Mathêu 13:31-32) mà hạt cải nhỏ bé nhất trở thành cây lớn nhất ám
chỉ Chúa
Kitô nhập thể tử giá (hạt nhỏ
nhất) và phục sinh thăng thiên (cây
lớn nhất), thì "lòng
tin" của các môn đệ cần phải "lớn bằng hạt cải" đây có nghĩa
là "lòng
tin" của
các vị cần phải đạt tới tầm vóc Chúa Kitô, nghĩa là "lòng
tin" của
các vị cần phải làm sao hoàn toàn tin tưởng vào Chúa Kitô, đến độ Chúa
Kitô sống trong họ, biến họ trở thành chứng nhân trung thực và sống động
của Người, tác nhân để Người tỏ mình ra và làm mọi sự trong họ, nhờ họ
và qua họ.
Nếu "đức tin tỏ hiện
qua đức mến" (Galata 5:6) thì tình trạng của các tâm hồn tin vào
Chúa Kitô cũng được
hiệp nhất nên một với Chúa Kitô trong tình
yêu là thế, như trên vừa cảm nhận. Và đó là lý do Bài Đọc 1 hôm nay, qua
miệng Tiên Tri Habacúc, nhờ lòng tin tưởng vững vàng và bất khuất sự dữ,
đúng hơn bất chấp sự dữ xẩy ra cho mình, gây ra bởi kẻ ác, theo quan
phòng thần linh của Thiên Chúa, Đấng đã phán: "Người không có lòng
ngay thì ngã gục, nhưng người công chính sẽ sống nhờ trung tín", mà
thành phần sống công chính, bằng lòng tin tưởng của mình vào Ngài, mới
có thể nói rằng:
"Chớ thì ngàn xưa Chúa chẳng phải là Thiên Chúa, Chúa của tôi, là
Ðấng Thánh của tôi? Vậy là chúng tôi không sao chết được".
Đúng thế, lòng tin của thành phần sống công
chính bao giờ cũng tâm nguyện rằng
"Chúa
không bỏ rơi kẻ kiếm tìm Chúa", như được tỏ bày trong câu đáp của
Bài Đáp Ca hôm nay, được trích từ Thánh Vịnh 9, một tâm nguyện chất chứa
tất cả lòng tin tưởng vào Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của mình,
Đấng làm chủ tể muôn loài và mọi sự, chỉ thực hiện những gì tốt nhất cho
những ai tin vào Ngài (xem Roma 8:28):
1) Chúa ngự trị tới muôn
đời, Người dựng vững ngai vàng ngõ hầu cai trị. Người công minh thống
trị địa cầu, Người chính trực xét xử chư dân.
2) Chúa là chỗ dung thân cho người
bị ức, chỗ dung thân dành cho những lúc gian truân, để những ai nhìn
biết uy danh, cậy trông vào Chúa, vì lạy Chúa, Chúa không bỏ rơi kẻ kiếm
tìm Ngài.
3) Hãy đàn ca Chúa, Người ngự ở
Sion; hãy loan truyền công cuộc Chúa khắp chư dân: vì Ðấng đòi nợ máu,
Người nhớ họ, Người không quên tiếng kêu của những kẻ cơ bần.
Hạnh Thánh Trong Tuần
Thánh Eusebio Vercelli Giám Mục, và Thánh Phêrô Eymard, Linh mục
(2/8)
Thánh Eusêbiô sinh tại Sardinia trong một gia đình quí phái. Nhưng trổi
vượt sự sao sang giàu có trần thế. Ngài được vinh dự là con của một
người cha chịu chết vì đức tin dưới thời Diôclêtianô. Mẹ Ngài đã đưa hai
người con về sống tại Roma. Ngài được Đức giáo hoàng Eusêbiô rửa tội và
lấy chính tên mình đặt cho con trẻ.
Eusêbiô được nuôi dưỡng trong bầu khí đạo đức, Ngài theo học văn chương
và nghệ thuật. Gia nhập hàng giáo sĩ, Ngài được phong chức đọc sách.
Ngài được sai đi Vercelli và năm 345 được chọn làm giám mục tiên khởi
của giáo phận này. Xét rằng phương cách hữu hiệu nhất để thánh hóa các
linh hồn là phải có một hàng giáo sĩ được huấn luyện tử tế, Ngài thiết
lập một trường đào tạo linh mục. Cùng với nhóm môn sinh, Ngài sống đời
ẩn tu ngay giữa thành phố. Nhưng lời khuyên dạy đầy cảm kích đã làm cho
Vercellêsi thay đồi hẳn. Các tội nhân tìm về lãnh nhận các bí tích và
nhiệt thành phụng sự Chúa.
Chịu bách hại vì đạo, cuộc đời Eusêbiô đã đạt tới vinh quang cao cả. Khi
ấy bè rối Ariô bành trướng mạnh mẽ, với sự bảo trợ của hoàng đế
Constantino. Eusêbiô mãnh liệt chống lại và đức tin không thể lay chuyển
của Ngài mang lại niềm an ủi cho Đức giáo hoàng chỉ định dẫn dầu phái
đoàn các giám mục đến gặp hoàng đế để bênh vực đức tin. Đầy nhiệt tâm
Ngài thuyết phục được hoàng đế triệu tập một công đồng.
Năm sau công đồng khai diễn tại Milan. Tại công đồng, hoàng đế thúc bách
các giám mục phải để cho Eusêbiô tham dự. Nhưng những người theo bè rối
Ariô ngăn cản. Cuối cùng Ngài được tham dự. Thấy phần đông theo lạc
giáo, Ngài trình biểu thức đức tin của công đồng Nicea, đòi mọi người ký
nhận trước khi bàn đến điều gì khác nữa. Bọn lạc giáo tức giận. Ngược
lại, Ngài cương quyết không chịu ký vào văn bản lên án thánh Athanasiô,
vị giám mục chúng sợ nhất. Tức giận chúng vận động hoàng đế đẩy Ngài đi
Palestina.
Nơi lưu đầy, Eusêbiô chịu không biết bao nhiêu là điều cực khổ bởi cách
đối xử dã man của các địch thù, Ngài bị giam trong phòng tối, bị bỏ đói.
Khi biết rằng không thể bắt phục được con người sắt đá này, chúng còn
trói chân Ngài lại và lôi kéo Ngài qua các bậc thang nhiều lần. Theo lời
thánh Hiêrônimô kể lại, thánh nhân còn bị gởi đi Cappadocia và tới miền
thượng Thébaide bên Ai cập. Tại những nơi nầy thánh nhân còn chịu muôn
vàn cực hình cho đến khi hoàng đế Constantiô băng hà và được hồi hương.
Dầu vậy trên đường về theo lệnh Đức giáo hoàng, thánh Eusêbiô còn phải
ghé nhiều giáo đoàn để an ủi khích lệ các giáo hữu bị đau khổ bởi những
tàn phá của phái Ariô để lại, dàn xếp những tranh chấp nội bộ của một số
giáo đoàn.
Trở về Vercelli, thánh Eusêbiô được tiếp đón nồng nhiệt như một vị anh
hùng. Già cả và yếu sức, Ngài vẫn tận tụy phục vụ giáo phận cho đến khi
qua đời năm 371. Người ta tôn kính Ngài như vị thánh tử đạo, vì những
đau khổ mà Ngài đã chịu suốt những ngày lưu đày.
http://conggiao.info/thanh-eusebio-vercellesi-giam-muc-371-d-17540
ĐTC
Biển
Đức XVI - Bài
Giáo Lý 54 - Thánh giáo phụ Eusebius of Verceili
Thánh Phêrô Eymard, Linh mục

THÁNH TỔ PHỤ PHÊRÔ GIULIANÔ EMA - ĐẤNG SÁNG LẬP ...
Mười Điểm Đặc Biệt Trong Cuộc Đời Thánh Phêrô Giulianô ...
Ngày 4 tháng 8
Thánh Gio-an Ma-ri-a Vi-a-nê, linh mục
lễ nhớ bắt buộc
(1786 - 1859)

Thánh nhân sinh năm 1786 tại Ly-ông. Sau biết bao khó khăn gian khổ,
người làm linh mục và được giao phó nhiệm vụ làm cha sở họ Ác-xơ thuộc
giáo phận Ben-le. Người quả là vị mục tử gương mẫu : hoàn toàn lo việc
loan báo Lời Thiên Chúa, giải tội, cầu nguyện và hãm mình. Có nhiều lúc,
khuôn mặt người rạng rỡ khác thường, nhờ tình yêu bắt nguồn từ bí tích
Thánh Thể mà người đem hết lòng sốt sắng để vừa cử hành, vừa thờ phượng.
Người qua đời năm 1859.
Các con thân mến, kho tàng của người Ki-tô hữu không phải ở dưới
đất, nhưng ở trên trời. Thế thì lòng trí chúng ta phải hướng đến nơi
có kho tàng của chúng ta.
Con người có một bổn phận cao đẹp là cầu nguyện và yêu mến... Các
con cầu nguyện, các con yêu mến : đó là hạnh phúc của con người trên
trần gian.
Cầu nguyện không gì khác hơn là kết hợp với Thiên Chúa. Khi có tâm
hồn trong sạch và gắn bó với Thiên Chúa, ta thấy nơi mình một thứ
hương thơm dịu dàng ngây ngất, một luồng ánh sáng rực rỡ chói chang.
Trong mối kết hợp mật thiết này, Thiên Chúa và linh hồn tựa hai khối
sáp nóng chảy hoà vào nhau, không thể tách rời nhau nữa. Thiên Chúa
kết hợp với thụ tạo bé nhỏ của Người : đẹp đẽ biết bao ! Hạnh phúc
này, không sao hiểu thấu.
Xưa kia chúng ta chẳng xứng đáng cầu nguyện, nhưng Thiên Chúa đã
thương cho chúng ta được thưa chuyện với Người. Lời cầu nguyện của
chúng ta là làn hương thơm rất đẹp lòng Người.
Các con thân mến, trái tim các con nhỏ hẹp, nhưng lời cầu nguyện sẽ
khiến nó mở rộng và có sức yêu mến Thiên Chúa... Cầu nguyện là nếm
trước hạnh phúc trời cao, là làm cho phúc lộc thiên đàng tuôn đổ.
Không bao giờ cầu nguyện mà không thấy dịu êm. Cầu nguyện là mật
chảy vào hồn, biến tất cả nên êm ái ngọt ngào. Buồn phiền cực nhọc
sẽ biến tan khi cầu nguyện sốt sắng, tựa tuyết tan dưới ánh mặt
trời.
Cầu nguyện làm cho thời gian đi rất mau và đầy hứng thú, khiến ta
không cảm thấy lâu. Đúng vậy : hồi các cha sở vùng Bơ-rét-xơ bị bệnh
hầu hết, cha phải đi khắp vùng. Cha vừa đi vừa cầu nguyện với Thiên
Chúa nhân lành. Nói thật với các con là cha chẳng thấy lâu gì cả.
Cha biết có những người đắm chìm trong cầu nguyện như cá trong nước.
Họ thuộc trọn về Thiên Chúa nhân lành. Họ không bị chia trí. Ôi, cha
mến những tâm hồn quảng đại này quá ! Thánh Phan-xi-cô Át-xi-di và
thánh Co-lê-ta trông thấy Chúa và chuyện vãn với Người như chúng ta
vẫn trò chuyện với nhau. Còn chúng ta, biết bao lần chúng ta đến nhà
thờ mà chẳng biết mình đến để làm gì, cũng chẳng biết mình muốn xin
gì ! Thế mà khi đến nhà ai thì ta lại biết rõ mình đến để làm gì...
Có những người như muốn nói với Thiên Chúa nhân lành rằng : “Con đến
nói mấy câu cho xong chuyện với Chúa đây...” Cha thường nghĩ rằng :
Khi đến tôn thờ Chúa, chúng ta sẽ được mọi điều như sở nguyện, với
điều kiện là lời cầu xin của chúng ta đi đôi với một đức tin sống
động và một tấm lòng thật trong trắng.
Lời nguyện
Lạy Thiên Chúa toàn năng và nhân hậu, Chúa đã làm cho thánh linh mục
Gio-an Ma-ri-a nên một tấm gương tuyệt vời về lòng tận tuỵ hy sinh
của người mục tử. Vì lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp, xin cho
chúng con hằng noi theo lòng bác ái của người mà cố gắng đem nhiều
anh em về với Đức Ki-tô, để muôn đời cùng nhau hưởng nguồn vinh
phúc. Chúng con cầu xin
Ngày 04/08: Thánh Gioan Maria Vianney, linh mục, bổn mạng ...


Trong chuyến Hành Hương Thánh Mẫu - Thời Điểm Maria 2017,
phái đoàn TĐCTT chúng tôi đã ghé kính viếng di tích lịch sử của Thánh Gioan
Vianney sáng ngày 19/5, và thấy được cuộc đời khổ hạnh thánh đức của ngài ra
sao....



Nhà bếp của Cha Sở Họ Ars Gioan Vianney, Vị Thánh Khổ Hạnh chuyên hãm mình
ăn khoai cả đời



Thánh Gioan Vianney chẳng những ăn chay mà còn đánh tội nữa, để chẳng những
đền tội lỗi của mình mà còn đền tội cho những hối nhân đến xưng tội với ngài
nữa.

Bởi thế lũ ma quỉ rất căm tức thánh nhân vì ngài đã cướp lấy khỏi tay chúng
biết bao nhiêu là mồi ngon cho hỏa ngục, nên chúng đã quấy phá ngài nhất là
về đêm là lúc ngài cần nghỉ ngơi một chút để lấy sức làm mục vụ.




Ở nơi đây, dưới thánh tích của ngài là một chút chất ở bộ não, chúng tôi đã
khởi hứng hát bài Lúa Chín Đầy Đồng để xin ngài chuyển cầu cùng Chúa ban
thêm ơn gọi linh mục cho Giáo Hội

Tòa giải tội trước đây của Cha Sở Họ Ars, quan thày của các cha xứ. Không
ngờ một chủng sinh dốt nát như ngài, không đủ khả năng về kiến thức để làm
linh mục, mà Chúa lại chọn làm linh mục nhờ nhân đức của ngài

Gioan Maria Vianney, sinh ngày 8 tháng 5 năm năm 1786, tại Dardilly. Cha
mẹ Ngài là những nông dân trung kiên với đức tin. Suốt thời cách mạng
Pháp, họ thường bí mật tiếp rước các linh mục đến trú ngụ. Vì vậy Gioan
là một trẻ em có mặt trong các buổi lễ cử hành lén lút tại lẫm lúa và
được chứng kiến rất nhiều mẫu gương anh hùng với đức tin.
Năm lên 11, Gioan được cha Greboz cho xưng tội lần đầu. Tháng 5 năm
1798, Gioan được mẹ dẫn sang nhà bà dì ở Ecully để dọn mình rước lễ vỡ
lòng. Mùa xuân năm 1799, Gioan cùng với 15 em khác được rước lễ vỡ lòng
trong một thánh lễ được cử hành giữa đống rơm. Ngài rước lễ rất sốt sắng
và đã giữ cho đến chết tràng chuỗi Môi Côi kỷ niệm ngày hạnh phúc này.
Năm 1800, thanh bình trở lại với các tín hữu, khi Napoléon nhận biết
rằng không có tôn giáo thì không có một tổ chức nào có thể tồn tại vững
bền được. Từ nhỏ, Gioan đã muốn làm linh mục. Khi bày tỏ ý định tốt đẹp
này, Ngài đã 17 tuổi và mới chỉ qua bậc tiểu học. Mẹ Ngài tán thành chí
nguyện, nhưng cha Ngài với óc thực tế đã băn khoăn rất nhiều và không
chấp nhận. Mãi tới năm 1805, Gioan đến sống với cha Belley, ở họ đạo
Ecully. Theo học với các bạn tuổi còn nhỏ, mà trí khôn Ngài lại quá trì
trệ. Đã vậy vào năm 1890, Ngài lại còn phải nhập ngũ. Năm sau, Ngài may
mắn được trở về nhà.
Năm 1810, Gioan gia nhập tiểu chủng viện Verrières. Hai năm trôi qua,
Ngài là một chủng sinh học hành rất kém. Dầu vậy, Ngài cũng nhận vào đại
chủng viện. Tại đây chuyển ngữ là tiếng Latinh, mà Gioan lại quá dở về
môn này, khiến ban giám đốc khuyên thầy hồi tục. Không thất vọng, một
lần nữa cha Balley đảm nhận việc dạy dỗ người chủng sinh gương mẫu nhưng
chậm trí này. Sau khi hoàn tất chương trình học, ngày 13 tháng 8 năm
1815, Gioan Maria Vianney thụ phong linh mục tại nguyện đường đại chủng
viện Grênoble. Ngài được gọi lên chức linh mục chính vì đời sống đạo
đức.
Sau khi thụ phong, cha Gioan Maria Vianney được cử làm phó xứ Ecully.
Tháng 12 năm 1817, cha Balley qua đời, cha Vianney được cử về làm chánh
sở họ Ars. Khi bổ nhiệm, cha tổng đại diện nhắn nhủ : - “Đây là một họ
đạo nhỏ bé, nghèo nàn, thiếu vắng tình yêu Chúa. Cha hãy mang tình yêu
đến cho họ.”
Ngày 9 tháng 2 năm 1818, cha đến xứ lần đầu với hành lý khiêm tốn chất
trên một chiếc xe tay, gồm một chiếc giường cũ, một rương sách và ít đồ
vặt vãnh khác. Tới gần làng, Ngài dừng chân hỏi đường. Bọn trẻ chăn
chiên không hiểu tiếng nói khác với thổ ngữ chúng vẫn dùng nhưng cũng
đoán biết và chỉ lối cho cha. Khi biết được điạ sở, cha Gioan quì gối
cầu nguyện cho những người sẽ là đoàn chiên của mình. Tới nơi Ngài vào
thẳng nhà thờ và chìm trong kinh nguyện.
Nhà xứ Ars thật nghèo nàn với vài đồ vật thật sơ sài. Chính cha sở trẻ
đã coi đời sống cầu nguyện hãm mình là phương thế để thành công. Trong
khi mọi người còn triền miên giấc điệp, Ngài đã xách đèn từ nhà xứ sang
nhà thờ để cầu nguyện. Trước nhà tạm, nhiều lần Ngài rơi nước mắt ướt cả
sàn nhà, Ngài tha thiết cầu nguyện: - “Lạy Chúa, con xin lãnh chịu tất
cả, nhưng xin Chúa cải hóa họ đạo của con... Con bằng lòng chịu mọi đau
khổ như Chúa muốn, miễn sao họ biết hồi tâm hối cải.”
Chìm đắm trong kinh nguyện, cha Gioan không quan tâm tới nhu cầu thể xác
mà Ngài coi như cái thây ma. Ngủ đã ít, Ngài lại thường nằm trên sàn
nhà. Đồ đạc người ta dâng cúng, Ngài đem cho người nghèo... Vui cười,
Ngài nói: - “Tôi không hề mất áo choàng bao giờ.” Chuyện ăn uống Ngài
cũng chẳng quan tâm đến, tự mình nấu ăn, Ngài chỉ nấu một nồi khoai rồi
treo lên tường.
Khi đói Ngài ăn một hai củ và củ thứ ba là “để cho vui miệng”. Nồi khoai
thường để lâu cho đến nỗi những củ cuối cùng thường bị mốc meo. Ngài hãm
mình như vậy cho tới năm 1827, khi các chị dòng Chúa quan phòng nấu ăn
cho Ngài.
Hơn nữa, thánh nhân còn tự ý hãm mình. Mỗi đêm Ngài đều đánh tội trước
khi ngủ. Trên tường phòng Ngài còn loang lổ nhiều vết máu.
Với một đời sống cầu nguyện hy sinh như vậy, thánh nhân nỗ lực canh tân
họ đạo. Về xứ được ít lâu, Ngài sớm nhận ra được ba tệ đoan trong họ đạo
là sự lãnh đạm với việc đạo đức, thói quen làm việc xác ngày Chúa Nhật
và tật ham khiêu vũ.
Để chấn hưng lại tình trạng suy dồi kia, dĩ nhiên thánh nhân gia tăng
lời cầu nguyện và việc hãm mình. Trong hoạt động, Ngài đi thăm viếng các
gia đình. Sửa lại tình trạng thiếu hiểu biết về đạo, Ngài lo dạy giáo lý
cho trẻ em. Suốt 27 năm, cha thánh Gioan ngày nào cũng trung thành với
viêc dạy giáo lý. Đối với người lớn, cha dọn bài giảng rất kỹ lưỡng.
Ngồi trong phòng thánh cạnh nhà tạm, cha viết bài giảng. Đêm thứ bảy,
cha học và tập giảng cho hôm sau. Lời giảng của cha rất đơn sơ, nhưng
xoáy vào lòng người nghe.
Chẳng hạn Ngài nói: - “Không có gì vững bền cả. Đời sống sẽ qua đi...
danh giá cũng sụp đổ, của cải rồi sẽ tiêu tan, sức khỏe cũng bị tấn
công, chúng ta ra đi như làn gió.”
- “Càng cầu nguyện người ta càng ham thích, như một con cá trồi lên mặt
nước rồi chìm mình trở lại và luôn bơi đi mãi. Linh hồn đắm chìm trong
lời cầu nguyện sẽ mất hút trong sự êm dịu của cuộc đàm thoại với Chúa.”
Các câu chuyện nhỏ cha kể nhiều khi có giá trị như một bài giảng. Chẳng
hạn cha nói về một em nhỏ bị đau bệnh: - “Con đau đớn lắm không ?”
Cậu bé trả lời: - “Hôm qua, con không đau đớn gì và ngày mai con cũng
hết khổ”.
Cha hỏi lại: - “Vậy con muốn được lành bệnh không ?”
Cậu bé trả lời: - “Trước khi bệnh con hung dữ, khỏi bệnh con dám như vậy
lắm. Để như thế nầy là tốt hơn cả.”
Chống lại tật làm việc xác, cha nói: - “Ngày Chúa Nhật là của Chúa. Mà
anh em ăn trộm cũng chẳng lợi ích gì cho anh em. Tôi biết có hai phương
thế chắc chắn để nên nghèo khó là làm việc ngày Chúa Nhật và lấy của kẻ
khác.”
Để chống lại tật ham khiêu vũ, đã có lần cha đến giữa đám để giải tán.
Lần khác cha bỏ tiền trả cho nhạc công để anh rút lui. Tích cực hơn, cha
lập hội Mân Côi để tập họp các thiếu nữ vào việc thực hành đạo đức này.
Hơn nữa, trong họ đạo có bảy quán rượu, cha hết sức khuyên nhủ và cả
chúc dữ nữa để họ đổi nghề. Cuối cùng cả 7 quán đều đóng cửa.
Thấy trọng trách của một chủ chiên quá nặng nề. Đã bốn lần cha Gioan tìm
cách trốn khỏi họ đạo. Nhưng rồi cha đã bị phát giác, tiếng chuông reo
vang và người ta đổ xô ra đường để giữ cha lại. Nỗ lực của cha không dễ
dàng được tiếp nhận. Người ta tìm nhiều cách để vu khống cho cha nhiều
tội tày trời. Thành công của cha khiến cho nhiều người nghi ngờ và ghen
tị, đến nỗi Tòa Giám mục phải mở cuộc điều tra. Sau nữa chính quỉ dữ
cũng phải công khai phá cha dưới nhiều hình thức như xê dịch đồ đạc, la
lối om sòm, hiện hình kỳ quái... đến độ đốt cháy cả giường nằm.
Nhớ lại tất cả những gì đã trải qua, cha nói: - “Khi đến Ars, nếu biết
được tất cả những gì tôi phải chịu chắc tôi chết liền.”
Nhưng ơn thánh Chúa đã nâng đỡ Ngài. Mỗi ngày trong thánh lễ, Ngài được
thấy chính Chúa Giêsu. Dần dần họ Ars đã được biến đổi, hương thơm thánh
thiện còn bay lan rộng ra khỏi ngôi làng bé nhỏ và hẻo lánh này. Khách
thập phương từ khắp nơi đổ xô đến, để được chiêm ngưỡng một cha sở thánh
thiện, để được nghe lời Ngài, để xưng tội. Cha Gioan đã làm vui lòng mọi
người.
Suốt hai mươi năm trời, cha như chôn mình trong tòa giải tội, từ sau lễ
tới 11 giờ trưa, rồi từ 1 giờ chiều tới 8 giờ tối. Sau này, khi qua đời,
cha được chôn cất tại nhà nguyện Thánh Gioan tẩy giả, cạnh tòa giải tội
mà người ta gọi là phép lạ lớn nhất ở Ars.
Tận tụy với các linh hồn, cha Gioan cũng được ơn thấu tỏ lòng người.
Ngày kia có một du khách tới Ars để đi săn. Nhìn ông với con chó bên
cạnh, Ngài nói: - “Con chó của ông thật đẹp, nhưng linh hồn chẳng đẹp tí
nào.” Cúi mặt, người du khách liền vào toà xưng tội.
Một người đàn bà khác nghe cha nói: - “Ông ấy đã được rỗi. Giữa thành
cầu và giòng nước, ông đã kịp ăn năn tội...” Thế là cha đã biết nỗi lo
âu của bà, vì cái chết mới đây của chồng bà. Ngài đã mang lại cho bà
niềm an ủi khi cho biết rằng: - “Nhờ những bó hoa và vài lần cầu nguyện
với vợ mỗi tháng Đức Mẹ, mà người chồng xấu số kia đã được cứu rỗi.”
Đời sống của cha Gioan là một mẫu gương tận tụy vì Chúa và vì các linh
hồn, Ngài thường nói: - “Hạnh phúc cho một vị linh mục được hao mòn vì
Chúa và các linh hồn.”
Quả thực, cha Gioan đã hao mòn vì phụng sự. Ngày 2 tháng 8 năm 1859, cha
chịu các phép bí tích sau hết. Ngày 4 tháng 8 năm 1859 cha trút hơi thở
cuối cùng với sự mãn nguyện. – “Phải chết lành khi người ta sống trên
thánh giá.”
Ngày tháng 5 năm 1925, cha Gioan được tuyên hiển thánh. Và năm 1925,
Ngài được đặt làm bổn mạng các cha sở trên toàn thế giới.
(Lm. Giuse Đinh Tất Quý)
Hôm nay Giáo Hội mừng lễ thánh Gioan Maria Vianney. Đây là một vị đại
thánh của Giáo Hội.
Thánh Gioan Maria Vianney, sinh ngày 8 tháng 5 năm 1786 tại Lyon nước
Pháp và sau bao nhiêu khó khăn gian khổ, Gioan Maria Vianney được chịu
chức linh mục và được giao phó nhiệm vụ làm cha sở họ Ars, một giáo xứ
vừa nghèo vừa khô khan nguội lạnh. Cha Gioan Maria Vianney đã lãnh nhận
giáo xứ này với tinh thần vâng phục cao độ. Ngài quả là vị mục tử gương
mẫu. Cuộc đời của ngài là cuộc đời chỉ biết lo cho việc loan báo Lời
Thiên Chúa, giải tội, cầu nguyện và hãm mình. Có nhiều lúc, khuôn mặt
ngài rạng rỡ khác thường, nhờ tình yêu bắt nguồn từ bí tích Thánh Thể mà
ngài đem hết lòng sốt sắng để vừa cử hành, vừa thờ phượng.
Khi mới 8 tuổi ngài mới học đọc và biết viết. Vì nhà nghèo nên được cha
sở nuôi dạy, và sau đó đã đưa ngài vào chủng viện. Vào trong chủng viện
ngài không học được gì cả.
Ngày kia, một giáo sư thần học, thừa lệnh Đức Giám mục đến khảo sát
Vianney xem có đủ khả năng học vấn để tiến tới chức Linh mục không.
Nhưng Vianney không thể trả lời câu nào.
Nổi nóng, vị giáo sư đập bàn, nói: “Vianney,
anh dốt đặc như con lừa! Với một con lừa như anh, Giáo Hội hy vọng làm
nên trò trống gì!”
Vianney khiêm tốn bình tĩnh trả lời: “Thưa
thầy, ngày xưa Samson chỉ dùng một cái xương hàm con lừa mà đánh bại
3000 quân Philitinh. Vậy với cả một con lừa này, chẳng lẽ Thiên Chúa
không làm được việc gì sao ?”
Cuộc cách mạng 1789 bùng nổ khiến thầy Vianney phải bỏ dở việc học.
Nhưng sau đó thầy tìm hết cách để tự học dưới sự dìu dắt của cha xứ.
Nhưng khổ thay, học mấy cũng chẳng nhớ. May lúc ấy địa phận gặp phải
cảnh khan hiếm linh mục nên Vianney được bề trên gọi về để khảo hạch. Và
lẽ dĩ nhiên là lần nào Vianney cũng trượt.
Vianney không nản lòng, cứ tiếp tục học. Cuối cùng, bề trên thấy thầy
bền chí quá bèn gọi cha xứ đến để hỏi về thầy:
- Thầy có lòng đạo đức không ?
- Thưa có.
- Thầy có kính mến phép Thánh Thể ?
- Thưa có.
- Thầy có siêng năng lần hạt không ?
- Thưa có.
Cha chính quyết định: “Thôi,
cho thầy chịu chức vì thầy bền chí, chứ nếu cứ khảo hạch mãi thì không
bao giờ đỗ được”.
Như vậy thầy Gioan Maria Vianney được làm Linh mục là nhờ “phép chuẩn”.
Vì tuy học hành kém cỏi, đầu óc mù tịt, nhưng nhờ có lòng đạo đức và sự
bền chí mà ngài đã được thụ phong Linh mục. Nhưng khi ngài làm Linh mục
rồi, Chúa đã ban cho ngài rất nhiều ơn đặc biệt đề cứu các linh hồn, đến
nỗi một lần kia, quỷ Satan đã phải nói với ngài: “Nếu
trên thế giới có hai đứa như mày thì bọn tao đành phải thất nghiệp mất”.
Nhìn vào “cuốn tự điển cuộc sống” của thánh Vianney, người ta đọc thấy
toàn là những chữ: ăn
chay, hãm mình, đền tội, khổ hạnh... Nhìn vào gương
mặt của ngài, người ta cũng gặp thấy toàn là những nét: gian
truân, khắc khổ, lao nhọc, đau thương... Thế nhưng,
trong con người ấy lại chói ngời một quả tim luôn tươi vui, từ ái và yêu
thương đối với hết mọi người.
Hằng ngày, vào khoảng 12 giờ, cha Vianney rời nhà thờ và trở về nhà xứ
để ăn trưa. Đến một giờ, ngài lại vào toà giải tội và ngồi ở đó mãi cho
đến tối. Trong khoảng thời gian nghỉ ngơi vắn vòi ấy, cha Vianney phải
tranh thủ để làm nhiều bao công việc. Thường khi ăn cơm bao giờ ngài
cũng đứng, vì ngồi thì sợ sẽ kéo dài giờ ra. Vừa ăn xong, ngài vội đi
thăm các trẻ mồ côi, các em mẫu giáo... Ai cũng thấy ngài vui tươi âu
yếm và sung sướng giữa những tâm hồn đơn sơ ấy. Từ giã các em, ngài rảo
bước đến nhà các kẻ ốm liệt; gặp ai dọc đàng, ngài cũng ủi an thăm hỏi.
Các gia đình đều mong cha sở đến thăm, vì đối với họ, dường như nơi ngài
tàng ẩn một niềm vui không bao giờ cạn. Lúc trở lại nhà thờ ngài thường
trao đổi một vài lời vắn tắt, có lúc rất dí dỏm, hài hước với các khách
hành hương đang đứng trước sân nhà thờ chờ đến lượt vào toà xưng tội.
Lần nọ, cha Vianney gặp một bà trong xứ đến chào ngài. Biết rõ bà là
người thật lắm mồm lắm mép, ăn nói huyên thuyên suốt ngày, ngài liền
hỏi:
- Trong suốt năm, có tháng nào con nói ít hơn mọi tháng không ?
Bà ta bỡ ngỡ, ấp úng thưa:
- Thưa cha, con thì quen thói rồi, tháng nào cũng nói như nhau cả.
- Không, có một tháng con nói ít hơn, con biết tháng nào không ?
Bà ấy ngẩn ngơ:
- Tháng nào thưa cha ?
- Tháng Hai dương lịch, vì tháng đó chỉ có 28, 29 ngày thôi.
Ai nấy cười phá lên. Ngài vội vã bước vào toà giải tội.
Lần khác, cha Vianney thấy ở trước sân nhà thờ có một quầy hàng bán
chuỗi, tượng ảnh và có cả hình của ngài nữa. Ngài bèn dừng lại, cầm lấy
tấm hình của mình đưa lên cao cho mọi ngài xung quanh coi và nói:
- Thiên hạ dại dột thật. Cái hình nhăn nheo như con khỉ khô thế này mà
cũng phải mua mất một đồng quan!
Các người chung quanh được dịp cười bể bụng vui vẻ. Cha Vianney cũng
cười theo, trả tấm ảnh lại rồi bước vào nhà thờ.
Về sau, Vianney đã trở thành một vị thánh thời danh, thu hút nhiều tâm
hồn trở về với Chúa.
Đời sống thánh Gioan Maria Vianney quả là một tấm gương hy sinh vì Chúa
và các linh hồn, đúng như lời thánh nhân thường nói: “Hạnh
phúc cho một vị linh mục được chết kiệt sức vì phục vụ Chúa và các linh
hồn.” Hạnh
phúc ấy đã đến với thánh Gioan Maria Vianney vào ngày 2 tháng 8 năm
1859. Thánh nhân lãnh nhận Bí tích Xức dầu bệnh nhân và Bí tích Thánh
Thể, ngài cầu nguyện: “Lạy
Chúa, Chúa quảng đại quá khi con không đến với Chúa được, thì Chúa đến
với con”. Ngày
4 tháng 8 năm 1859, khi vị linh mục đọc kinh cầu nguyện cho người hấp
hối đến câu: “Xin các thiên thần Chúa đến rước linh hồn Gioan vào thành
thánh Giêrusalem”, thánh nhân trút hơi thở cuối cùng một cách êm ái.
Ngài hưởng thọ 73 tuổi; làm cha sở họ Arc được 41 năm.
Tin thánh Gioan Maria Vianney qua đời đã lôi kéo cả một biển người đổ xô
về giáo xứ Arc. Đoàn người đông đảo đã đi qua trước xác thánh nhân suốt
48 tiếng đồng hồ.
Đức Giám mục giáo phận đã đến chủ sự Thánh lễ an táng và giảng thuyết:
ngài nhấn mạnh rằng bao thế kỷ mới được thấy một cuộc đời linh mục như
Thánh Gioan Maria Vianney. Thánh nhân được an táng trong nhà nguyện
thánh Gioan Tẩy Giả, bên cạnh toà giải tội mà người ta đã gọi là “phép
lạ lớn nhất ở Arc”.
Từ ngày ấy, biết bao nhiêu Hồng Y, Giám mục, linh mục đã đến quỳ cầu
nguyện và đặt những cái hôn thành kính lên viên đá mộ thánh nhân. Ngày
31 tháng 5 năm 1925, thánh Gioan Maria Vianney được tuyên Hiển Thánh; và
năm 1929, thánh nhân được đặt làm thánh bổn mạng các linh mục chính xứ
trên toàn thế giới.
Lạy Thiên Chúa toàn năng và nhân hậu, Chúa đã làm cho thánh linh mục
Gioan Maria nên một tấm gương tuyệt vời về lòng tận tụy hy sinh của một
người mục tử. Vì lời thánh nhân chuyển cầu, xin cho chúng con hằng noi
theo lòng bác ái của ngài mà cố gắng đem nhiều anh em về với Đức Kitô để
muôn đời cùng nhau hưởng nguồn vinh phúc.
Các con thân mến, trái tim các con nhỏ hẹp, nhưng lời cầu nguyện sẽ
khiến nó mở rộng và có sức yêu mến Thiên Chúa... Cầu nguyện là nếm trước
hạnh phúc trời cao, là làm cho phúc lộc thiên đàng tuôn đổ. Không bao
giờ cầu nguyện mà không thấy dịu êm. Cầu nguyện là mật chảy vào hồn,
biến tất cả nên êm ái ngọt ngào. Buồn phiền cực nhọc sẽ biến tan khi cầu
nguyện sốt sắng, tựa tuyết tan dưới ánh mặt trời.
Cầu nguyện làm cho thời gian đi rất mau và đầy hứng thú, khiến ta không
cảm thấy lâu. Đúng vậy : hồi các cha sở vùng Bơ-rét-xơ bị bệnh hầu hết,
cha phải đi khắp vùng. Cha vừa đi vừa cầu nguyện với Thiên Chúa nhân
lành. Nói thật với các con là cha chẳng thấy lâu gì cả.
Cha biết có những người đắm chìm trong cầu nguyện như cá trong nước. Họ
thuộc trọn về Thiên Chúa nhân lành. Họ không bị chia trí. Ôi, cha mến
những tâm hồn quảng đại này quá ! Thánh Phan-xi-cô Át-xi-di và thánh
Co-lê-ta trông thấy Chúa và chuyện vãn với Người như chúng ta vẫn trò
chuyện với nhau. Còn chúng ta, biết bao lần chúng ta đến nhà thờ mà
chẳng biết mình đến để làm gì, cũng chẳng biết mình muốn xin gì ! Thế mà
khi đến nhà ai thì ta lại biết rõ mình đến để làm gì... Có những người
như muốn nói với Thiên Chúa nhân lành rằng : “Con đến nói mấy câu cho
xong chuyện với Chúa đây...” Cha thường nghĩ rằng : Khi đến tôn thờ
Chúa, chúng ta sẽ được mọi điều như sở nguyện, với điều kiện là lời cầu
xin của chúng ta đi đôi với một đức tin sống động và một tấm lòng thật
trong trắng. (Kinh Sách)
CUNG HIẾN ĐỀN THỜ ĐỨC BÀ CẢ
Ngày 5 tháng 8
I. ĐÔI DÒNG LỊCH SỬ
Hôm nay chúng ta cử hành thánh lễ cung hiến Cung
Hiến Đền Thờ Đức Bà Cả một
trong những đại thánh đường ở Rôma. Vương
cung Thánh đường này được xây dựng để dâng kính Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa.
Đây là Đền thờ kính Đức Mẹ đầu
tiên và lớn nhất được xây
cất ở Tây Phương. Đền thờ này cũng được coi là tột đỉnh lòng sùng kính của
Dân Chúa, đặc biệt là dân chúng thành Roma đối với Đức Maria. Lòng sùng kính
Đức Maria là một trong những đặc điểm lòng đạo đức của dân chúng Roma ngay
từ lúc khởi đầu Kitô giáo. Người ta vẫn thường gọi đây là “Hang đá Belem ở
Roma”. Năm 1853, tại Rôma người
ta đếm được có 1.421 những khánh nhỏ có để hình Đức Mẹ. Đến năm 1939 thì chỉ
còn lại 530 khánh nhỏ ở rải rác khắp nơi trong thành phố Roma.
Thánh đường Đức Maria được xây cất vào thế kỷ thứ 4 dưới thời đức giáo hoàng
Libêriô. Truyện kể rằng chính Đức Mẹ đã chọn nơi này để người ta xây ngôi
thánh đường tôn kính Mẹ. Mẹ đã thân hiện ra với đôi vợ chồng sở hữu mảnh đất
cũng như với Đức Giáo Hoàng, bảo họ rằng khoảng đất trên ngọn đồi được bao
phủ đầy tuyết kia chính là nơi Đức Mẹ đã chọn. Sáng hôm sau, nhằm ngày mùng
5 tháng Tám, một thời điểm rất nóng trong năm ở Rôma, có một lớp tuyết bao
phủ ngọn đồi Esquiline. Đôi vợ chồng đã xin dâng phần đất cũng như tiền bạc
cần thiết để xây ngôi thánh đường như là món quà dâng kính Đức Mẹ.
Thoạt tiên, ngôi thánh đường này mang tên là vương cung thánh đường Libêriô,
theo tên của đức giáo hoàng Libêriô. Nó cũng được gọi là thánh đường Đức Mẹ
Xuống Tuyết để nhắc nhớ sự kiện Đức Mẹ đã chỉ cho biết mảnh đất dành cho
việc xây cất. Sau đó, ngôi thánh đường được đức thánh cha Sixtô III cung
hiến cho Đức Maria sau khi Công đồng chung Êphêsô năm 431 tuyên bố tín điều
Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa. Ngôi thánh đường chính là một nhắc nhở tuyệt đẹp
về tình yêu và lòng tôn kính mà Giáo hội dành tặng cho Mẹ Thiên Chúa. Danh
xưng “CẢ” được
thêm vào danh hiệu “thánh đường Đức Bà” bởi vì đây là ngôi thánh đường đầu
tiên được xây cất ở Tây phương để tôn kính Đức Mẹ.
Bên trong thánh đường có máng cỏ Bêlem nơi Đức Maria đã đưa nôi Chúa Hài Nhi
Giêsu. Điều này biểu lộ lòng tôn kính ngày Chúa giáng sinh, với hình Chúa
Hài Nhi nhỏ bằng bạc đang nằm trong máng cỏ.
Giáo hội tôn kính Đức Maria Mẹ Thiên Chúa với những ngôi đền và thánh đường
rất đặc biệt để các Kitô hữu có thể đến viếng nhằm bày tỏ lòng yêu mến đối
với Đức Mẹ và cầu xin Người ban cho ơn lành. Hành hương đến một trong các
đền thờ hay thánh đường này chính là một cảm nghiệm đức tin thú
vị.(tinmung.net)
II. LÒNG SÙNG KÍNH ĐỐI VỚI ĐỨC MẸ
* Mẹ làm gương ẩn dật khiêm cung nhưng đồng thời Mẹ luôn luôn hiện diện phục
vụ; Mẹ không ra mặt, chúng lên tiếng, nhưng Mẹ hằng ở gần bên Chúa Giêsu:
sống trọn vẹn cho Chúa và Chúa trong con. (ĐHV 926)
* Chúa Giêsu đang tiếp tục sống và hành động trong Hội Thánh, vì thế
Mẹ Maria hiện diện trong Hội Thánh và trong con, Mẹ Hội Thánh và Mẹ con.
(ĐHV 927)
Mỗi vị thánh đều có những, nét đặc thù hoàn toàn khác biệt nhau, “mỗi thánh
mỗi thể” mà! Nhưng nếu ta nhìn kỹ, ta sẽ thấy tất cả các ngài cùng có một
điểm chung: “Vị thánh nào cũng yêu mến đức Mẹ”
* Thánh Gioan Tông đồ thì kể từ giây phút Chúa trối dưới chân Thánh Giá,
ngài đã đưa Đức Mẹ về nhà mình và sống thảo hiếu với Mẹ.
* Thánh Bênađô nổi tiếng về lòng sùng kính Mẹ Maria. Người ta nói cạnh ngài
đã đặt ra kinh “Hãy nhớ” (Lạy Thánh Nữ đồng trinh Maria...). Những câu cuối
cùng trong kinh “Lạy Nữ Vương” cũng do ngài thêm vào vì lòng quá mến yêu Đức
Mẹ: “Ôi khoan thay! nhân thay! dịu thay! Thánh Maria trọn đời đồng trinh!”
* Thánh Anphongsô đã nhiệt thành rao truyền lòng thành kính Đức Mẹ hằng cứu
giúp và soạn một tác phẩm gồm hai cuốn nhan đề là “Vinh quang của Đức Mẹ” để
cổ võ mọi người yêu mến Đức Mẹ.
* Thánh Đaminh lãnh nhận sứ mệnh phổ biến việc lần hạt Mân côi như là một
phương thế hiệu nghiệm để cứu rỗi bản thân và thế giới.
Ngoài ra còn không biết bao nhiêu là vị thánh đã chép sách, đã cổ võ lòng
sùng kính Đức Mẹ cách này hoặc cách khác; đã được Mẹ hiện ra; đã lập các
dòng tu nam nữ với tước hiệu của Mẹ...
Các Đức Giáo hoàng cũng luôn luôn nhắc nhở toàn thể Hội thánh phải yêu mến,
cậy trông và bắt chước gương Mẹ. Như Đức Piô V, Đức Grêgôriô XIII, Đức
Clêmentê XI, Đức Bênêđictô XIV, đức Lêô XIII đều xác nhận: nhờ ơn Đức Mẹ mà
Hội thánh thoát khỏi nhiều cơn gian nan nguy hiểm không thể tưởng tượng
được. Các ngài cũng thúc giục giáo dân lần hạt Mân côi, chạy đến cùng Mẹ
trong hết mọi dịp.
Gần ta hơn, Đức Piô IX đã công bố Tín điều ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM ngày 8-12-1854.
Đức Lêô XIII lập tháng Mân côi (tháng 10) trong toàn thể Hội thánh. Đức Piô
XI dạy xây một hang đá Lộ Đức trong vườn Vatican và mỗi chiều ngài đều xuống
dạo vườn đến trước hang kính viếng Đức Mẹ. Đức Piô XII thì do một sự quan
phòng đặc biệt đã thụ phong Giám mục vào chính ngày Đức Mẹ hiện ra mân đầu
tiên tại Fatima (13-5-1917). Ngài đã tuyên bố Tín điều ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN
TRỜI ngày 1-11-1950. Chính chiều hôm ấy, ngài được xem thấy phép lạ mặt trời
xoay vần ngay trên khung trời Vatican y hệt như ở Fatima. Ngài đã dâng loài
người cho Trái Tim Mẹ và công bố Năm Thánh kính Đức Mẹ (1945).
Đức Gioan XXIII thì có ra một Thông điệp về việc sùng kính Đức Mẹ
(29-9-1961). Ngài đã đi đến tận Loretto, nơi tục truyền có nhà của Đức Mẹ để
cầu nguyện và phó dâng Công đồng Vatican II Cho Đức Mẹ.
Đức Phaolô VI đã đích thân sang chủ tọa lễ kỷ niệm 50 năm Đức Mẹ hiện ra tại
Fatima (1917-1967), gặp chị Lucia. Ngài cũng đã ban hành một Tông huấn nói
về việc sùng kính đức Mẹ (Manalis cultu), đặc biệt nhấn mạnh về kinh Truyền
tin, chuỗi Mân Côi và Kinh Cầu Đức Mẹ.
Trong Hiến chế Tín lý về Hội Thánh, Đức Phaolô VI và cùng các nghị Phụ công
bố Đức Mẹ là “Mẹ Hội Thánh” vào ngày lễ Đức Mẹ dâng mình vào Đền thánh
21-11-1964. Ngài cũng đã chọn ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội (8-12-1965)
để bế mạc Công đồng Vatican II.
Đức Gioan Phaolô II là một “Tâm hồn Thánh Mẫu”.
Nhìn lên huy hiệu của ngài, ta thấy trên nền xanh, chỉ có một Thánh giá và
một chữ M(Maria) màu vàng núp ẩn dưới cánh thập tự thực là đơn sơ và giàu ý
nghĩa! Khẩu hiệu của ngài càng vắn tắt, thâm thúy và bộc lộ rõ ràng hơn nữa
tâm hồn Thánh Mẫu: “Totus Tuus”. một khẩu hiệu rất khó mà diễn tả hết mọi ý
nghĩa: “Tận hiến cho Mẹ, toàn thân thuộc về Mẹ, tất cả đều là của Mẹ...”
https://tgpsaigon.net/bai-viet/ngay-05-08-le-cung-hien-den-tho-duc-ba-cao-roma-33788
Sau đây là mấy tấm
hình lưu niệm ở Đền Thờ Đức Bà Cả chiều ngày 18/11/2021,
trong chuyến Hành Hương Đức Tin - Chứng Tích Phục Sinh 8-19/11/2022
của phái đoàn TĐCTT (Tông Đồ Chúa Tình Thương)

Truyền thuyết kể rằng đêm ngày mùng 4 tháng 8 năm 352, Đức Mẹ hiện ra với
ĐGH Liberio và nhà quyền quý Giovanni, và xin xây một đền thờ dâng kính Đức
Mẹ.
Khi ĐGH hỏi Mẹ muốn xây đền thờ ở đâu, thì Đức Mẹ trả lời: “Ngày mai, con
thấy tuyết rơi ở đâu, thì xây đền thờ ở đó”.
Sáng hôm sau mùng 5 tháng 8 tuyết rơi trên đồi Esquilino. Tháng 8 là mùa hè
trời Roma rất nóng, nhưng tuyết đã rơi trên đồi Esquilino, là một trong 7
trái đồi của Roma.
Vào năm 1377 khi từ Avignon
trở về Roma ĐGH Gregorio XI cho xây tháp chuông theo kiểu Roman. Tháp
cao 75 mét và là tháp chuông kiểu roman cuối cùng cao nhất Roma.
Giữa các thế kỷ XVI-XVII hai
Giáo Hoàng Sisto V và Phaolo V cho xây thêm hai nhà nguyện mang tên các vị
là nhà nguyện Sistina bên phải và nhà nguyện Paolina bên trái.
Vào thế kỷ XVII ĐGH Clemente X
cho xây thang cấp mặt sau đền thờ. Tiếp đến ĐGH Biển Đức XIV cho tu sửa lại
hết, và xây thêm mặt tiền như hiện nay.

Bên cạnh nhà nguyện Thánh Thể ở bên phải đền thờ từ cung thánh xuống là nhà
nguyện Thánh Mẫu,
trước nhà nguyện Thánh Thể, có tấm hình Đức
Trinh nữ là Phần rỗi của Dân thành Roma.

Nhà nguyện này là nơi ĐTC Phanxicô có thói quen hay tới để cầu nguyện cùng
Đức Mẹ mỗi khi có những biến động trong Giáo Hội hay trên thế giới (như đại
dịch năm 2020)
Nhất là vào trước và sau mỗi chuyến tông du của ngài, để dâng Mẹ trước khi
đi và cảm tạ Mẹ sau khi về, với một bó hoa kèm theo.

Phái đoàn TĐCTT đã hát bài cầu cho Đức Giáo Hoàng, như vẫn hát cầu như vậy
sau mỗi chuỗi Mân Côi và Chuỗi Thương Xót hằng ngày,
vì đây là Chuyến Hành Hương Đức Tin - Chứng Tích Phục Sinh liên quan đến
chung Giáo Hội và riêng vị Giáo Hoàng kế vị Thánh Phêrô đại diện Chúa Kitô
trên trần gian,
và lại còn hát ở một nơi vị giáo hoàng đương kim Phanxicô vẫn đến cầu cùng
với Đức Mẹ nữa. Thật là chính đáng.

Mộ của ĐTC Phanxicô từ Thứ Bảy 26/4/2025 ở trong Đền Thờ Đức Bà Cả, theo di
chúc của ngài,
nơi sát Nguyện đường Đức Mẹ có
tấm hình Đức Trinh nữ là Phần rỗi của Dân thành Roma,
và là nơi ngài vẫn tới trước và sau mỗi chuyến tông du để cầu nguyện và tạ
ơn Đức
Mẹ.
Thánh Systo II Giáo Hoàng và các bạn tử đạo; Thánh Catejano, linh
mục (7/8)
Thánh Systo II Giáo Hoàng và các bạn tử đạo
Thánh XISTÔ II Giáo Hoàng và Các Bạn Tử Đạo
Ngày 30 tháng 8 năm 257, Đức Xystô lên ngôi Giáo hoàng, kế vị Đức
Stephanô I giữa lúc Giáo hội đang chìm trong con người bách hại thời
Valerianô. Pontiô, một phó tế của Thánh Cyprianô gọi Ngài là "Linh mục
nhân hậu hòa nhã". Ngài đã tránh được một cuộc ly khai khi để cho các
Giáo hội địa phương tự do theo thói quen rửa tội lại cho các người theo
lạc giáo.
Một năm sau thánh Cyprianô loan tin: Đức giáo hoàng Xystô đã bị xử tử
đêm 6 tháng 8 cùng với 4 vị trợ tá (phó tế) của Ngài. Các Kitô hữu Roma
đã bị binh lính đột kích trong khi đang cử hành thánh lễ tại hang toại
đạo Callistô. Để khỏi bị bắt giam tất cả, Đức Xystô đã hiến mình chịu
chết. Ngài bị chặt đầu ngay tại ngai tòa giám mục cùng với 4 vị trong số
7 vị trợ tá (phó tế) của Ngài là Gianuariô. Mahnô, Vicentê và Stêphanô.
Hai vị khác là Fêlicissimô và Agapitô đã bị bắt và bị chặt đầu cùng ngày
tại hang toại đạo Praetextato.
Cái chết vì đoàn chiên trong những cảnh thương tâm như vậy đã khiến cho
Đức Xystô được dân chúng tôn kính rộng rãi. Ngài được mai táng trong hầm
mộ giáo hoàng tại chính nơi Ngài chịu chết. Tuy nhiên di hài của Ngài có
lẽ đã được Đức Lêô IV (847 - 855) dời về thánh đường Xystô vẫn còn được
tôn kính cho đến ngày nay.
http://conggiao.info/thanh-xisto-ii-giao-hoang-va-cac-ban-tu-dao-d-17667
Thánh Sixtô II và các bạn tử đạo
Thánh Sixtô II là công dân thành Athena, theo học và tốt nghiệp
trường đại học triết lý tại Hy Lạp, được bầu làm giáo hoàng ngày
31.8.257.
Trở ngại đầu tiên của Giáo Hoàng Sixtô II là phải bảo vệ đức tin
Công giáo trước những lầm lạc mà các bè phái lạc giáo, ly giáo gieo
rắc trong Giáo hội. Ngoài ra, ngài đã khôn ngoan dàn xếp một cách ổn
thỏa các ý kiến về phép Rửa Tội giữa các giám mục và giáo sĩ, nhờ
vậy toàn thể giáo sĩ và giáo dân cùng hiệp lực chung xây dựng Giáo
hội. Con thuyền Giáo hội còn bị phong ba bão táp trước sức tấn công
của vua Valêrianô, một bạo vương luôn muốn tróc nã và hành quyết các
tông đồ của Chúa, ngăn cấm không cho những người Kitô hữu tụ họp và
ra lệnh sát hại các giám mục, linh mục và phó tế.
Một lần kia, thánh Sixtô II cùng với bốn phó tế bị phát hiện khi
đang dâng thánh lễ tại hầm mộ của thánh Calistô. Ngài bị trảm quyết
cùng với các phó tế Janvier, Magne, Vicentê và Etienne vào ngày
6.8.258. Ngoài ra, thầy Félicissime và Agapit cũng đã bị bắt và bị
xử chém tại nghĩa trang Prétextat, trong khi đó, thầy Laurent bị
hành hình và chết vào bốn ngày sau.
Thánh Sixtô II được an táng ngay trong hầm mộ và trở thành vị Giáo
hoàng thứ hai được nhiều người sùng kính nhất sau thánh Phêrô.
http://www.cgvdt.vn/lich-cong-giao/thanh-sixto-ii-va-cac-ban-tu-dao_a7694
Thánh Catejano, linh mục

Vào năm 1523, Giáo Hội trong tình trạng tiêu điều. Ðời sống tâm linh cần
thiết của giáo dân không được chăm sóc bởi rất đông các mục tử thiếu học
thức và thiếu đạo đức, họ chỉ biết đồng tiền mà không hoạt động gì cả. Khi
các linh mục tốt lành và giáo dân chạy đến các đấng có quyền để xin giúp đỡ,
họ cũng chỉ gặp sự thờ ơ lãnh đạm của các vị chủ chiên.
Một người Công Giáo tốt lành phải phản ứng thế nào trước hoàn cảnh này? Tất
cả chúng ta đều biết Luther và một số người khác đã phản ứng bằng cách tách
rời khỏi Giáo Hội Công Giáo khi thỉnh cầu của họ không được lắng nghe.
Thánh Cajetan lại theo một phương cách khác. Cũng như Luther, khi lưu tâm
đến những gì họ được thấy trong đời sống Giáo Hội, ngài đến Rôma năm 1523 —
không phải để trình lên đức giáo hoàng hay đấng có quyền nhưng để gia nhập
Hội A¨i Hữu Tình Yêu Thiên Chúa, là một tổ chức nhỏ bé, bán chính thức, tận
tụy trong công việc bác ái. Họ chăm sóc người nghèo, người đau yếu, trẻ mồ
côi và các tù nhân. Dần dà họ gây được ảnh hưởng khắp nước Y¨.
Sau khi chịu chức linh mục, năm 1518 Cajetan trở về quê nhà ở Vicenza khi mẹ
ngài sắp từ trần. Ở đây, ngài gia nhập Hội Dòng Thánh Giêrôme. Sau khi mẹ
chết, ngài dùng tất cả tài sản để cứu giúp người đau yếu, đồng thời sáng lập
một hội dòng tương tự ở Venice, là nơi ngài cổ võ đời sống tâm linh và chăm
sóc người nghèo, người đau yếu không chỉ bằng lời nói mà còn bằng gương mẫu
anh hùng.
Năm 1523, ngài trở về Rôma, với sự tiếp tay của các bạn thân trong hàng giáo
phẩm, ngài quyết định thành lập một tu hội dựa trên đời sống của các tông
đồ, với hy vọng rằng đời sống của các thánh sẽ khích lệ họ và người khác cố
gắng sống một cuộc đời thánh thiện vì Ðức Giêsu Kitô. Ðể hoàn thành mục đích
này, họ nhắm đến đời sống luân lý, học hỏi Kinh Thánh, rao giảng và chăm sóc
mục vụ, giúp đỡ người bệnh tật, và các nền tảng vững chắc của đời sống mục
vụ. Tu hội mới này được gọi là Tu Sĩ Dòng Theatine.
Dĩ nhiên, các linh mục phóng túng và tham lam chẳng bao giờ đặt chân đến tu
hội, nhưng Cajetan vẫn kiên trì chịu đựng sự chống đối từ các giáo sĩ và
giáo dân không muốn cải tổ. Chính gương mẫu đời sống thánh thiện cũng như
lời rao giảng của ngài mà nhiều người đã hoán cải.
Kiệt quệ vì các khó khăn trong Giáo Hội và ở quê nhà, Cajetan lâm trọng
bệnh. Khi các y sĩ tìm cách khiêng ngài từ chiếc giường gỗ thô thiển lên
chiếc giường nệm êm ấm, Cajetan thều thào, “Chúa Cứu Thế chết trên thập giá.
Hãy để tôi được chết trên tấm gỗ này.” Ngài từ trần ngày 7 tháng Tám 1547.
Ngài được Ðức Giáo Hoàng Clêmentê phong thánh năm 1671.
Lời Trích
Có lần Thánh Cajetan nói với các anh em trong dòng, “Chúng ta cố gắng phục
vụ Thiên Chúa qua sự thờ phượng trong hội dòng này; nhưng trong bệnh viện,
chúng ta mới có thể nói là thực sự tìm thấy Ngài.”
https://dongten.net/2019/08/06/hanh-cac-thanh-07-08-thanh-cajetan/
https://giaophanvinhlong.net/thanh-cajetan-14801547.html
https://www.hddaminhthanhlinh.net/a7332/7-thang-tam-thanh-cajetan-1480-1547-
Thánh Cajêtan sinh tại Vicenza, nước Ý, vào năm 1480. Ngài là con trai của
một bá tước. Cajêtan tốt nghiệp trường đại học Pađua với văn bằng cử nhân
lưỡng luật, đạo và đời. Sau đó, Cajêtan phục vụ tại văn phòng của giáo triều
Rôma. Cajêtan thụ phong linh mục năm 1516. Rồi ngài trở về thành phố quê
hương Vicenza và làm việc mục vụ tại đây. Dù cho những bạn bè quý tộc của
Cajêtan ra sức phản đối và giận dữ, thánh nhân vẫn tham gia với nhóm người
khiêm tốn, chuyên phục vụ các bệnh nhân và những người nghèo khổ. Cajêtan đi
khắp thành phố tìm kiếm những người bất hạnh và chính ngài đã tự phục vụ họ.
Cajêtan vào bệnh viện săn sóc những người mang những chứng bệnh kinh tởm
nhất. Tại các thành phố khác, thánh Cajêtan cũng làm các việc từ thiện ấy.
Thánh nhân cũng thường khuyến khích mọi người hãy năng lãnh nhận bí tích
Thánh Thể. Ngài nói: “Tôi sẽ không bao giờ vui sướng cho tới khi nào được
thấy các Kitô hữu cùng nhau tiến lên lãnh nhận Bánh Ban Sự Sống với lòng hăm
hở vui mừng, chứ không lo buồn tủi hổ.”
Cùng với ba người đạo đức khác, thánh Cajêtan đã thiết lập một tu hội giáo
sĩ dòng, gọi là tu hội Các Anh Em Dòng Thêatin, chuyên đi thuyết giảng. Họ
khuyến khích việc năng xưng tội, lãnh nhận bí tích Thánh Thể, giúp bệnh nhân
và làm những công việc từ thiện khác.
Thánh Cajêtan qua đời lúc được 67 tuổi. Trong cơn bạo bệnh cuối cùng, thánh
nhân chỉ nằm trên những tấm ván thô cứng dù các bác sĩ khuyên ngài nên dùng
nệm êm. Nhưng Cajêtan nói: “Đấng Cứu Chuộc tôi đã chết trên cây thập giá.
Vậy ít ra, hãy để tôi được chết trên tấm gỗ này!” Cajêtan về trời ngày mùng
7 tháng Tám năm 1547 tại thành phố Napôli. Tới năm 1671, đức thánh cha
Clêmentê X tôn phong Cajêtan lên bậc hiển thánh.
Để noi gương vị
thánh này, chúng ta hãy đặt Chúa Giêsu Thánh Thể làm trung tâm đời sống của
chúng ta. Chúng ta cũng hãy nài xin thánh Cajêtan giúp chúng ta biết yêu mến
Chúa Giêsu Thánh Thể như ngài.
Biên dịch: Đa Minh M.
Nguyễn Phúc Lộc, CMC
http://mtgcaimon.net/mtgnews/index.php/suy-niem/hanh-cac-thanh/4555-thanh-cajetan.html
THÁNH DAMINH (8/8)
LẬP DÒNG ANH EM THUYẾT GIÁO

1. Vài dòng lịch sử
Thánh Đaminh sinh tại Castile nước Tây ban nha, năm 1170.
Ngay từ lúc còn nhỏ, thánh nhân đã mến mộ sự học hành, cầu nguyện, hãm mình,
sống khắc khổ và yêu thương người nghèo. Mỗi ngày đều có giờ nhất định để
cầu nguyện và ngài ăn chay hãm mình luôn. Ngày kia có người đến xin Ngài
giúp đỡ để chuộc lại đứa em bị bắt, ngài không còn tiền cho người ấy, vì đã
bố thí hết, nên nói:
- Tôi không còn tiền, nhưng này chị hãy dẫn tôi nộp cho người ta, để chuộc
em chị về.
Người này không thể chấp nhận được đề nghị đó, nhưng lòng hết sức cảm phục
sự hy sinh cao độ của Ngài.
Vì muốn dâng mình giúp việc Chúa, nên thánh nhân được gọi đến thụ giáo với
một Linh Mục ở Gumiel d‘Izan. Năm 14 tuổi, Ngài gia nhập Đại chủng viện tại
Palencia. Sau khi hoàn tất việc học, Ngài được Đức Cha Diégo de Azsvedo
truyền chức Linh Mục. Và vì thấy ngài thông minh nhân đức, nên Đức Giám Mục
Martin de Bazan đặt ngài làm Kinh sĩ ở Osma.
Lúc Đức Cha sang Pháp lo việc mục vụ, thánh nhân được đi theo. Trong thời
gian ở đây, ngài thấy tận mắt những khó khăn do bè rối Albigeois gây ra cho
Hội Thánh. Họ chủ trương tất cả những gì thuộc về vật chất đều xấu xa: muốn
hoàn thiện phải tận diệt vật chất, sống hoàn toàn khắc khổ. Ngài quyết định
đem hết khả năng chống lại chủ trương sai lạc của họ. Nhưng nhận thấy một
mình không thể đương đầu với sức bành trướng quá mạnh của họ nên ngài kêu
gọi nhiều nhà truyền giáo nhiệt thành cộng tác. Đó là những người sau này sẽ
trở nên tu sĩ hội dòng Ngài sáng lập, gọi là “Dòng Anh Em Thuyết Giáo”.
Một cộng tác viên của ngài kể lại:
“Đaminh có một đời sống luân lý, một lòng sốt sắng kính mến Chúa mãnh liệt,
đến nỗi hiển nhiên ai cũng thấy ngài là tác phẩm của sự cao trọng và ơn
thánh. Ngài có một tâm hồn bình thản đến nỗi chỉ rộn lên khi phải trắc ẩn và
thương xót. Và vì tâm hồn hân hoan thì làm cho bộ mặt rạng rỡ, nên ngài cũng
để lộ sự bình thản của tâm hồn ngài ra trên nét mặt hiền từ và vui tươi của
Ngài.
“Đâu đâu ngài cũng tỏ ra một con người của Tin Mừng, cả trong lời nói lẫn
hành động”
“Ngài năng dâng lên Chúa lời cầu xin đặc biệt này là cho ngài được lòng bác
ái chân thật, có khả năng săn sóc và đem lại phần rỗi cho người ta. Ngài
nghĩ mình sẽ thật là chi thể của Chúa, nên tiên vàn mình đem hết sức lực
mình ra cứu rỗi các linh hồn, giống như Chúa Giêsu, Đấng Cứu Chuộc mọi
người, đã tận hiến mình để cứu chuộc chúng ta. Và chính để làm công việc ấy
mà theo ý Chúa an bài sâu xa, Ngài đã lập ra “Dòng Anh Em Thuyết Giáo”
Suốt sáu năm trời, thánh nhân dâng lời cầu nguyện, sự hy sinh kèm theo lời
rao giảng kêu gọi mọi người trở về với đức tin chân chính, nhưng kết quả
không được bao nhiêu. Ngài buồn sầu than thở với Mẹ Maria và được Mẹ dạy bảo
hãy rao giảng và cổ động mọi người lần chuỗi Môi khôi, để nhờ đó Mẹ cầu cùng
Chúa cho những người lầm lạc trở về với Hội thánh. Vâng lời Đức Mẹ, ngài đem
hết khả năng truyền bá chuỗi Môi khôi, giải thích các mầu nhiệm thánh, kêu
gọi mọi người thực hành việc đạo đức này. Kết quả thật là lùng! Không bao
lâu, những người tội lỗi và kẻ lầm lạc ăn năn trở về với Chúa. Thánh nhân
hết sức vui mừng, tạ ơn Chúa và tri ơn Đức Mẹ.
Năm 1215, thánh nhân đến Roma, xin Đức Honoriô III châu phê luật dòng vào
ngày 22/10/1216. Từ đó dòng phát triển mạnh mẽ và có mặt trên khắp thế giới
.
Thánh nhân qua đời tại Bologna ngày 6 tháng 8 năm 1221. Năm 1231 Đức Thánh
Cha Gregoriô thứ IX đã tôn phong ngài lên bậc hiển thánh.
2. Lời trăn trối cuối cùng
“Anh em thân mến. Đây là những gì Cha thánh để lại cho anh em để anh em giữ
lấy như là con có quyền thừa kế:
Anh em hãy sống bác ái
Hãy giữ lòng khiêm tốn
Hãy tự nguyện giữ đức thanh bần – khó nghèo.”
Đây không phải là những gì rút ra từ sách vở, mà là kết tinh của cả một cuộc
sống mà chính Ngài đã nỗ lực thực hiện trong suốt một cuộc đời 51 năm – hơn
một nửa thế kỷ.
3/2/2010 - Bài 104 về Thánh Đaminh