ĐỨC THÁNH CHA BIỂN ĐỨC XVI - NHỮNG BÀI GIẢNG 2007

 

“Mẹ đă thông phần vào sự vụ của Người v́ chúng ta và cho phần  rỗi của tất cả mọi người” 31/12

"Thiên  Đ́nh và Trần Gian đă gặp gỡ nhau nơi hang lừa Bêlem" 24/12

"Chỉ có một cách duy nhất khiến cho những tặng ân và khả năng tư riêng của chúng ta sinh hoa kết trái cùng với sự sang giầu chúng ta có được đó là mang chúng chia sẻ với anh chị em của chúng ta, chứng tỏ ḿnh là những người quản lư tốt lành đối với những ǵ Thiên Chúa đă trao phó cho chúng ta" 1/10

“’Người nữ mặc áo mặt trời’ là điềm lạ vĩ đại cho cuộc chiến thắng của t́nh yêu, cho cuộc chiến thắng của sự thiện, cho cuộc chiến thắng của Thiên Chúa” 15/8

"Trách nhiệm Chúa Giêsu trao cho Thánh Phêrô được bắt nguồn nơi mối liên hệ riêng tư mà Chúa Giêsu của lịch sử có được với Simon viên đánh cá" 29/6

"Thánh Phaolô biết ngài 'được kêu gọi để trở thành một vị tông đồ'” 28/6

"Đời sống của Thánh Phanxicô hoán cải là ǵ nếu không phải là một tác động mến yêu cao cả?"

Lễ Ḿnh Máu Thánh Chúa Thứ Năm 7/6

"Thánh Âu Quốc Tinh gắn mắt ḿnh vào mầu nhiệm này và trong đó ngài đă t́m thấy Chân Lư mà ngài rất thiết tha kiếm t́m" 22/4

CN II Phục Sinh Kính Ḷng Thương Xót Chúa - tạ ơn về biến cố sinh nhật thượng thọ bát tuần 15/4

“Trong cuộc phục sinh của Chúa Giêsu, t́nh yêu đă tỏ ra mạnh hơn sự chết, mạnh hơn sự dữ. T́nh yêu làm cho Chúa Kitô đi xuống, và t́nh yêu cũng là quyền năng làm cho Người đi lên”. 7/4

"Ở tâm điểm của Cuộc Vượt Qua mới của Chúa Kitô, chúng ta thấy có cây thập giá" 5/4

“Chúng ta cần quyết định bước tới với Chúa Giêsu như Người Con Hoang Đàng đă làm, khi hắn trở về cả bên trong lẫn bên ngoài với cha của hắn” 18/3

“Nếu Kitô hữu không biết nhau một cách hỗ tương, th́ việc tiến bộ trên con đường tiến đến mối hiệp thông là những ǵ không tưởng” 25/1

Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa 7/1

Lễ Hiển Linh 6/1

“Chúng ta hăy bắt đầu một tân niên bằng việc nh́n lên Mẹ Maria” 1/1

 

 

 

 

 

“Mẹ đă thông phần vào sự vụ của Người v́ chúng ta và cho phần  rỗi của tất cả mọi người”

 

ĐTC Biển Đức XVI: Bài Giảng cho Giờ Kinh Tối tất niên 31/12/2007 ở Đền Thờ Thánh Phêrô áp Lễ Mẹ Thiên Chúa

 

Anh Chị Em thân mến,

 

Vào lúc kết thúc năm này đây chúng ta qui tụ lại ở Đền Thờ Vatican để cử hành Giờ Kinh Tối Trọng Kính Đức Maria Rất Thánh Mẹ Thiên C húa. Phụng vụ làm cho lễ Thánh Mẫu quan trọng này trùng với việc kết thúc và mở đầu cho một năm dương lịch. Bởi thế, bài thánh ca tạ ơn cho năm 2007 là năm đang đi đến lúc kết thúc cũng như cho năm 2008 là năm chúng ta đă thoáng thấy đă được gắn liền với việc chiêm ngắm mầu nhiệm của vai tṛ làm mẹ thần linh này. Thời gian đang qua đi và việc qua đi không luyến tiếc này của nó thúc nay chúng ta hăy hướng mắt của ḿnh với ḷng sâu xa biết ơn Đấng hằng hữu, biết ơn vị Chúa của thời gian. Chúng ta hăy cùng nhau cảm tạ ơn Người, anh chị em thân mến, nhan danh toàn thể cộng đồng giáo phận Rôma. Tôi gửi lời chào đến  từng anh chị em…………

 

Nơi Bài Đọc ngắn được trích từ Thư gửi Giáo Đoàn Galata chúng ta vừa nghe, nói về việc con người được Thiên Chúa giải phóng bằng mầu nhiệm Nhập Thể, Thánh Phaolô đă rất kín đáo đề cập tới Vị mà nhờ đó Con Thiên Chúa vào trần gian, ở chỗ “đến khi thời gian được nên trọn, Thiên Chúa đă sai Con  của Ngài, được hạ sinh bởi một người nữ” (Gal 4:4). Giáo Hội chiêm ngắm nơi “người nữ” này những tính chất của Đức Maria Nazarét, một người nữ đặc biệt v́ Mẹ được kêu gọi để thi hành một sứ vụ làm cho Mẹ liên kết rất chặt chẽ với Chúa Kitô: Thật vậy, nó là một mối liên hệ hoàn toàn đặc biệt, v́ Mẹ Maria là Mẹ của Đấng Cứu Thế.

 

Tuy nhiên, hiển nhiên là chúng ta có thể và cần phải khẳng định rằng Mẹ là Mẹ của chúng ta, bởi v́, bằng việc sống mối liên hệ mẫu thân với Người Con này, Mẹ đă thông phần vào sự vụ của Người v́ chúng tacho phần  rỗi của tất cả mọi người. Trong việc chiêm ngắm Mẹ, Giáo Hội thể hiện những tính chất riêng của Mẹ, đó là những tính chất như Mẹ Maria sống đức tin và đức mến; Mẹ Maria cũng là một tạo vật được cứu độ bởi một Đấng Cứu Thế duy nhất một; Mẹ Maria hợp tác vào việc mở màn cho công cuộc cứu độ toàn thể nhân loại. Nhờ đó Mẹ Maria tạo nên cho Giáo Hội h́nh ảnh chân thực nhất về Mẹ, ở chỗ, Mẹ là vị mà Cộng Đồng Giáo Hội cần phải tiếp tục khám phá ra cái ư nghĩa thực sự về ơn gọi của ḿnh và mầu nhiệm của ḿnh.

 

Sứ điệp ngắn ngủi nhưng sâu đậm này của Thánh Phaolô, khi cho thấy sự kiện Người Con này mặc lấy bản tính nhân loại, tiếp tục mở ra cái viễn ảnh về một thứ đổi thay sâu xa nơi thân phận thực sự của con người. Qua sứ điệp này, Thánh Phaolô nói rằng “Thiên Chúa đă sai Con của Ngài…. Đến để cứu chuộc những ai ở dưới lề luật, nhờ đó, chúng ta được thừa nhận làm con cái” (Gal 4:4-5). Lời Nhập Thể biến đổi đời sống của con người từ bên  trong, khi chia sẻ với chúng ta việc Người làm Con của Chúa Cha. Người đă trở nên như chúng ta để chúng ta trở nên như Người, trở nên con cái nơi Người Con, nhờ đó trở nên thành phần thoát khỏi luật của tội lỗi. Đó không phải là lư do chính yếu để chúng ta dâng lời cảm tạ lên  Thiên Chúa hay sao? Một lời tri ân cảm tạ chỉ có thể càng trở nên thôi thúc hơn vào lúc kết thúc một năm này, khi nghĩ tới nhiều ơn huệ và việc Ngài liên lỉ hỗ trợ chúng ta cảm nghiệm thấy trong 12 tháng qua. Đó là lư do tại sao hết mọi cộng đồng Kitô hữu cùng nhau qui tụ lại tối hôm nay để hát lên bài Te Deum, một bài thánh ca chúc khen cảm tạ theo truyền thống dâng lên Ba Ngôi Chí Thánh. Đó là những ǵ chúng ta cũng sẽ thực hiện vào cuối cuộc gặp gỡ phụng vụ của chúng ta nay trước Thánh Thể Cực Thánh.

 

Khi chúng ta hát lên chúng ta sẽ nguyện cầu rằng: "Te ergo, quỉsumus, tuis famulis subveni, quos pretioso sanguine redemisti:  Vậy hăy đến, lạy Chúa để cứu giúp dân của Chúa bằng giá máu của Chúa”. Đây là lời nguyện cầu của chúng ta tối hôm nay: Lạy Chúa, xin hăy đoái thương đến cứu giúp những cư dân thuộc Thành Phố của chúng con là nơi, giống như ở các chỗ khác, đời sống của dân chúng và của các gia đ́nh đang hết sức thiếu thốn và nghèo khổ, khiến họ không tin tưởng hướng về tương lai. Nhiều người, đặc biệt là giới trẻ, bị thu hút bởi cái hào hứng sai lầm, đúng hơn, bởi việc tục hóa thân thể và tầm thường hóa tính dục; bởi thế mới khó ḷng liệt kê lắm thứ thách đố dính liền với chủ nghĩa hưởng thụ và khuynh hướng tục hóa khiến những người tín hữu và thành phần thiện tâm cảm thấy bối rối. Tóm lại, ở Rôma, người ta cũng có thể nhận thấy rằng t́nh trạng hụt hẫng niềm hy vọng và ḷng tin tưởng nơi đời sống là những ǵ tạo nên sự dữ “lu mờ” nơi xă hội Tây Phương tân tiến.

 

Thế nhưng, nếu những khiếm khuyết hiển nhiên th́ cũng không thiếu ánh sáng và những lư do hy vọng để nài xin những ân phước thần  linh đặc biệt. Chính v́ chiều hướng ấy mà khi hát Kinh Te Deum chúng ta nguyện cầu rằng: "Salvum fac populum tuum, Domine, et benedic hereditati tuỉ – Xin hăy cứu độ dân của Ngài, lạy Chúa, và hăy chúc phúc cho gia sản của Ngài”. Ôi Chúa, xin hăy nh́n đến và bảo vệ cộng đồng giáo phận này cách đặc biệt, một giáo phận dấn thân đi tiên phong giáo dục trong việc đáp ứng mănh liệt hơn bao giờ hết với “t́nh trạng khẩn cấp của việc giáo dục” cao cả đă được tôi nói tới vào ngày 11/6 vừa rồi khi tôi gặp các tham dự viên trong hội nghị giáo phận, hay nói cách khác, với t́nh trạng khó khăn gia tăng trong việc truyền đạt những giá trị căn bản về sự sống cũng như việc làm liêm khiết cho các thế hệ mới (cf. Address to the Diocese of Rome Convention, 11 June 2007; L'Osservatore Romano English edition, 20 June, p. 3). Chúng ta hăy tin tưởng b́nh tâm và nhẫn nại đối diện với t́nh trạng khẩn cấp này, trước hết, trong môi trường gia đ́nh. Ngoài ra, cũng an ủi khi nhận thấy rằng công việc được thực hiện trong những năm gần đây của các giáo xứ, các phong trào và các hiệp hội chăm sóc mục vụ cho gia đ́nh là những ǵ đang tiếp tục phát triển và sinh hoa kết quả.

 

Lạy Chúa, xin cũng hăy bảo vệ những hoạt động truyền giáo liên quan tới thế giới tuổi trẻ: họ đang gia tăng và hiện nay có một số lớn giới trẻ đang lănh trách nhiệm và hân hoan dấn thân loan báo cùng làm chứng cho Phúc Âm. Theo chiều hướng ấy, chúng ta làm sao lại không dâng lời tạ ơn Thiên Chúa về việc mục vụ quí báu được cống hiến cho thế giới bởi các đại học đường Rôma? Thật là thích đáng khi bắt đầu một điều ǵ đó tương tự ở các học đường, cho dù có nhiều khó khăn.

 

Lạy Chúa, chúc tụng Chúa về nhiều con người trẻ và thành nhân trong những thập niên gần đây đă chịu chức linh mục cho Giáo Phận Rôma. Hiện nay có 28 phó tế đang chờ được thụ phong linh mục, theo dự định vào tháng 4 tới. Bởi thế, tuổi đời trung b́nh của hàng giáo sĩ được trẻ trung hóa hơn và cũng có thể đáp ứng với t́nh trạng gia tăng các nhu cầu phục vụ, như việc đi giúp các giáo phận khác. Đặc biệt là ở các ngoại ô, nhu cầu đối với những thứ phức tạp về tân giáo xứ đang gia tăng và có 8 giáo xứ đang được xây dựng, sau khi chính tôi cách đây không lâu đă hân hoan thánh hiến giáo xứ mới được hoàn tất gần đây nhất là Giáo Xứ Santa Maria del Rosario ai Martiri Portuensi. Thật là vui thích khi có thể cảm được cách cụ thể niềm vui và ḷng biết ơn của những dân cư lân cận khi họ tiến vào một ngôi nhà thờ mới của họ lần đầu tiên .   

 

"In te, Domine, speravi: non confundar in ỉternum – Lạy Chúa, xin tỏ cho chúng con thấy t́nh yêu và ḷng xót thương của Chúa; v́ chúng con tin tưởng nơi Chúa”. Bài thánh ca uy nghi Te Deum chấm dứt bằng tiếng kêu của đức tin, của ḷng tin tưởng hoàn toàn nơi Thiên Chúa, bằng việc long trọng tuyên xưng niềm hy vọng của ḿnh. Chúa Kitô là niềm hy vọng “đáng tin” và chính v́ đề tài này tôi đă cống hiến bức Thông Điệp mới đây mang tựa đề Spe Salvi.  Thế nhưng, niềm hy vọng của chúng ta bao giờ thực sự cũng là niềm hy vọng cho những người khác, và chỉ có thế nó mới là niềm hy vọng thực sự đối với mỗi một người trong chúng ta (cf. khoản 48). Anh chị em thân mến của Giáo Hội Rôma, chúng ta hăy xin Chúa làm cho mỗi một người chúng ta trở thành men hy vọng thực sự trong các môi trường khác nhau của chúng ta, nhờ đó nó có thể xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn cho toàn thể thành phố này. Đó là lời chúc của tôi cho hết mọi người vào ngày áp một Tân Niên, một lời chúc tôi xin kư thác cho việc chuyển cầu từ mẫu của Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa và là Ngôi Sao của Niềm Hy Vọng. Amen!              

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh

 

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2007/documents/hf_ben-xvi_hom_20071231_te-deum_en.html

 

 

TOP

 

"Thiên  Đ́nh và Trần Gian đă gặp gỡ nhau nơi hang lừa Bêlem"

 

ĐTC Biển Đức XVI: Bài Giảng Lễ Đêm Giáng Sinh 2007

 

Anh Chị Em thân mến,

 

“Thời điểm sinh nở của Maria đă đến. Người đă hạ sinh con trai đầu ḷng, bọc Ngài trong khăn và đặt trong máng cỏ, v́ không có chỗ cho các vị trú ngụ” (Lk 2:6f). Những lời này làm cho ḷng chúng ta cảm động mỗi lần chúng ta nghe thấy. Đó là thời điểm thiên thần đă báo trước ở Nazarét rằng: “Trinh Nữ sẽ sinh một người con trai, và Trinh Nữ sẽ đặt tên cho Ngài là Giêsu. Người sẽ nên cao trọng và được gọi là Con Đấng Tối Cao” (Lk 1:31). Đó là thời điểm Yến Duyên đă từng đợi trông qua bao thế kỷ, qua nhiều giây phút tối tăm – thời điểm mà toàn thể nhân loại cũng trông đợi một cách nào đó dù chưa được rơ ràng, đó là lúc Thiên Chúa muốn tỏ ra chăm sóc chúng ta, lúc Ngài bước ra ngoài mật thất của Ngài, lúc thế giới sẽ được cứu độ và Thiên Chúa sẽ canh tân tất cả mọi sự. Chúng ta có thể nghĩ tới một thứ sửa soạn nội tâm, một thứ yêu thương giúp cho Mẹ Maria tiến đến với giờ phút ấy. Câu nói vắn vỏi: “Người đă bọc Ngài trong khăn” giúp chúng ta có thể thoáng thấy được một điều ǵ đó hân hoan thánh thiện và ḷng nhiệt thành âm thầm  cho việc sửa soạn ấy. Các thứ khăn tă đă sẵn sàng, nhờ đó Con Trẻ được nghênh đón cách xứng đáng. Tuy nhiên vẫn chẳng có nơi trọ. Một cách nào đó nhân loại đợi trông Thiên Chúa, đợi trông Đấng đến gần với ḿnh. Thế nhưng, khi thời điểm ấy tới th́ lại chẳng có chỗ cho Ngài. Con người quá bận tâm tới bản thân ḿnh, họ rất cần đến tất cả mọi nơi và mọi lúc cho những ǵ của riêng ḿnh, chẳng c̣n ǵ cho kẻ khác – cho tha nhân, cho người nghèo, cho Thiên Chúa. Và con người càng trở nên giầu có họ càng  lấp đầy bản thân họ hết mọi khoảng trống, càng không c̣n chỗ cho kẻ khác nữa.

 

Thánh Gioan, trong Phúc Âm của ḿnh, đă đi sâu vào cốt lơi của vấn đề này, khi đào sâu hơn tŕnh thuật của Thánh Luca về t́nh trạng xẩy ra ở Bêlem: “Ngài đă đến với nhà của ḿnh, mà dân riêng của Ngài không tiếp nhận Ngài” (Jn 1:11). Những lời này, trước hết và trên hết, ám chỉ tới Bêlem, ở chỗ, Con Vua Đavít tới với thành đô của ḿnh, thế nhưng lại phải hạ sinh ra ở trong một hang lừa, v́ không có chỗ trọ cho Ngài. Rồi những lời ấy cũng ám chỉ đến cả dân Yên Duyên nữa, ở chỗ Đấng được sai tới với dân của ḿnh, song họ lại không muốn Ngài. Thực ra, những lời này ám chỉ tới toàn thể nhân loại nữa, ở chỗ, Ngài là Đấng mà thế giới được tạo dựng nhờ Ngài, Lời Tạo Dựng nguyên thủy, tiến vào thế gian, song Ngài đă không được lắng nghe, Ngài đă không được tiếp nhận. Những lời ấy tựu kỳ chung ám chỉ tới cả chúng ta, tới mỗi một người cũng như tới xă hội nói chung. Chúng ta có giờ cho tha nhân của chúng ta là những người đang cần đến một lời nói của chúng ta, của tôi, hay cần đến ḷng cảm mến của tôi hay chăng? Cho những người khổ đau đang cần đến sự trợ giúp hay chăng? Cho những người trốn lánh hay tị nạn đang t́m nơi nương náu hay chăng? Chúng ta có thời gian và không gian cho Thiên Chúa hay chăng? Ngài có thể tiến vào ḷng của chúng ta hay chăng? Ngài có t́m thấy chỗ trong chúng ta chăng, hay chúng ta đă chiếm hết những chỗ thuận lợi cho bản thân ḿnh nơi ư nghĩ của chúng ta, nơi hành động của chúng ta, nơi cuộc đời của chúng ta?

 

Tạ ơn Chúa, chi tiết tiêu cực này không phải là chi tiết duy nhất, không phải là chi tiết cuối cùng chúng ta thấy trong Phúc Âm. Chỉ ở nơi Thánh Luca thôi, chúng ta gặp thấy t́nh yêu thương từ mẫu của Mẹ Maria và ḷng trung thành của Thánh Giuse, việc tỉnh táo của thành phần mục đồng và niềm hân hoan lớn lao của họ, chỉ ở nơi Thánh Mathêu chúng ta gặp thấy việc viếng thăm của những con người khôn ngoan, từ xa đến, bởi vậy mà cả Thánh Gioan nữa cũng nói với chúng ta rằng: “Tất cả những ai tiếp nhận Ngài th́ Ngài ban cho họ quyền trở nên con cái của Thiên Chúa” (Jn 1:12). Đang có những con người chấp nhận Ngài, mà bắt đầu từ hang lừa ấy, từ bên ngoài ấy, đang âm thầm mọc lên một ngôi nhà mới, một thành đô mới, một thế giới mới. Sứ điệp Giáng Sinh làm cho chúng ta nhận thấy tối tăm của một thế giới khép kín, nhờ đó cho thấy rơ ràng một thực tại chúng ta đang chứng kiến  hằng ngày. Tuy nhiên, sứ điệp này cũng nói với chúng ta rằng Thiên Chúa không để cho Ngài bị đóng khung kín mít đâu. Ngài t́m kiếm một nơi chốn, cho dù là tiến vào qua một hang lừa; có những con người thấy được ánh sáng của Ngài và làm cho ánh sáng này lan tỏa ra. Qua lời lẽ của Phúc Âm, thiên  thần cũng nói với chúng ta nữa, và nơi phụng vụ thánh, ánh sáng của Đấng Cứu Chuộc chiếu vào cuộc đời của chúng ta. Chúng ta là thành phần mục đồng hay “những con người khôn ngoan” – th́ ánh sáng này cùng với ư nghĩa của nó cũng kêu gọi chúng ta hăy lên đường, hăy bỏ cái khung đời hạn hẹp của những thứ ước vọng và lợi lộc của chúng ta, hăy tiến ra nghênh đón Chúa mà tôn thờ Ngài. Chúng ta tôn thờ Ngài bằng việc hướng thế giới về chân lư, về thiện hảo, về Chúa Kitô, về việc phục vụ những ai đang bị bỏ rơi quên lăng và là thành phần Ngài đang ở trong họ đợi chờ chúng ta.

 

Ở một số cảnh Giáng Sinh thuộc thời hậu Trung Cổ và tiền tân tiến th́ hang lừa được vẽ như là một cung điện đổ nát. Vẫn c̣n có thể thấy được cái vinh sang trước kia của nó, thế nhưng giờ đây nó đă trở thành một thứ tàn rụi, thành những bức tường đă đổ xuống – thật vậy, nó đă trở thành một hang lừa. Cho dù không có cơ sở về lịch sử, việc dẫn giải bóng gió này dù sao cũng diễn tả một cái ǵ đó chân thực được tàng ẩn nơi mầu nhiệm Giáng Sinh. Ngai ṭa Đavit, một ngai ṭa đă được hứa hẹn là muôn đời tồn tại, đă trở thành rỗng không. Những kẻ khác đang cai trị Thánh Địa. Thánh Giuse, ḍng dơi Đavít, chỉ là một con người nhà quê tầm thường; cung điện ấy thực sự đă trở thành một túp lều. Chính Đavít đă bắt đầu cuộc đời như một mục đồng. Khi Samuel t́m thấy ngài để xức dầu cho ngài th́ quả thực là không thể và đần độn khi nghĩ rằng một thằng con trai chăn chiên như thế lại có thể trở nên một con người chất chứa lời hứa hẹn của Yến Duyên. Nơi hang lừa Bêlem là thành phố mà tất cả mọi sự đă được bắt đầu, vương quốc Đavít đă được tái diễn  cách mới mẻ – nơi Con Trẻ được bọc trong khăn nằm trong máng cỏ. Ngai ṭa mới mà Đavít ấy đă lôi kéo thế giới với Ngài đó là Thập Giá. Ngai ṭa mới này – tức Thập Giá – tương xứng với một khởi điểm mới nơi hang lừa. Thế nhưng nó thực sự cho thấy cách thức làm thế nào để thiết lập một cung điện Đavít, một vương quốc đích thật. Cái cung điện mới này rất khác với n hững ǵ con người tưởng tưởng về cung điện và vương quyền cần phải có. Nó là một cộng đồng của những ai để cho ḿnh cuốn hút theo t́nh yêu Chúa Kitô nhờ đó trở nên một thân thể với Ngài, thành một tân nhân loại. Quyền năng xuất phát từ Thập Giá, quyền năng của sự thiện hiến  thân – đó là vương quốc thực sự ấy vậy. Hang lừa trở thành một cung điện – và bắt đầu từ khởi điểm này, Chúa Giêsu đă thiết lập một đại cộng đồng mới là cộng đồng được lời của các vị thiên thần hát lên khi Ngài sinh ra là: “Vinh danh Thiên Chúa trên  trời, b́nh an dưới thế cho người Chúa thương” – những người đặt ư muốn của ḿnh nơi Ngài, nhờ đó trở thành những con người của Thiên Chúa, những con người mới, một thế giới mới.

 

Thánh Gregory thành Nyssa, trong các bài giảng về Giáng Sinh của ḿnh, đă khai triển cùng một nhăn quan được bắt đầu từ sứ điệp Giáng Sinh nơi Phúc Âm của Thánh Gioan: “Ngài đă cắm lều ở giữa chúng ta” (Jn 1:14). Thánh Gregory áp dụng câu Phúc Âm này về cái lều thân thể của chúng ta, một cái lều đă trở nên tàn tạ và yếu nhược, đầy những đớn đau và khổ đau. Và ngài cũng áp dụng câu này cho toàn thể vũ trụ nữa, một vũ trụ bị tan hoang và biến dạng bởi tội lỗi. Ngài sẽ nói ǵ nếu ngài thấy được t́nh trạng thế giới ngày nay, một thế giới đang bị lạm dụng về năng lượng cùng với việc khai thác vị kỷ và bất cần của nó. Thánh Anselm thành Canterbury, hầu như đă thấy trước, có lần đă diễn tả một viễn ảnh về những ǵ chúng ta đang chứng kiến ngày nay về một thế giới bị ô nhiễm nguy hiểm đến tương lai: “Hết mọi sự như thể đă chết và mất đi phẩm giá của ḿnh, những ǵ được dựng nên để phục vụ cho những ai ngợi khen Thiên Chúa. Những yếu tố của thế giới này đă bị áp bức, chúng đă bị mất đi ánh quang của ḿnh bởi việc lạm dụng của những ai bắt chúng làm tôi cho những thứ ngẫu tượng của họ, những thứ ngẫu tượng không phải v́ thế mà chúng đă được dựng nên” PL 158, 955f). Bởi vậy, theo nhăn quan của Thánh Gregory th́ hang lừa nơi sứ điệp Giáng Sinh là tiêu biểu cho một thế giới bệnh hoạn. Những ǵ Chúa Kitô tái thiết không phải là một cung điện b́nh thường. Ngài đă đến  để phục hồi lại vẻ đẹp và phẩm vị cho tạo vật, cho vũ trụ này: đó là những ǵ đă bắt đầu từ Giáng Sinh và làm cho các vị thiên  thần hân hoan. Trái Đất này được phục hồi lại trật tự tốt đẹp của nó bởi sự kiện là nó được giúp qui hướng về Thiên Chúa, nó chiếm được ánh sáng thực sự cách mới mẻ, và trong t́nh trạng ḥa hợp giữa ư muốn con người và ư muốn thần linh, trong mối hiệp nhất giữa trời cao và vực thẳm, nó lấy lại được vẻ đẹp và phẩm vị của ḿnh. Như thế, Giáng Sinh là một lễ tạo vật được phục hồi. Theo chiều hướng ấy, các vị Giáo Phụ đă dẫn giải bài ca của các thiên thần vào đêm thánh ấy ở chỗ cho nó là một bày tỏ niềm hân hoan về sự kiện trời cao và vực thẳm, Thiên Đ́nh và Trần Gian, một lần nữa được tái hợp; con người lại được hiệp nhất với Thiên Chúa. Theo các vị Giáo Phụ th́, chi tiết về bái ca của các vị thiên  thần đó là vấn đề giờ đây cả thiên thần lẫn loài người có thể cùng nhau ca hát, nhờ đó, vẻ đẹp của vũ trụ này được thể hiện nơi vẻ đẹp của bài ca chúc tụng ngợi khen . Bài ca phụng vụ – cũng vẫn theo các vị Giáo Phụ – chiếm được phẩm chất đặc thù của ḿnh nhờ sự kiện là nó được cùng hát lên bởi những c a đoàn thiên  quốc . Chính việc gặp gỡ Chúa Giêsu Kitô là những ǵ làm cho chúng ta có thể nghe được bài ca ấy của các thiên thần, nhờ đó tạo nên một thứ âm nhạc thật sự sẽ trở thành im hơi lặng tiếng nếu chúng ta không c̣n có thể chung tiếng hát với nhau và nghe nhau mà hát.

 

Thiên  Đ́nh và Trần Gian đă gặp gỡ nhau nơi hang lừa Bêlem. Thiên Đ́nh đă hạ giáng xuống Trần Gian. Đó là lư do từ hang lừa này một ánh sáng đă chiếu soi qua tất cả mọi thời đại; v́ lư do ấy mà niềm vui đă được bừng lên ở đó. Ở vào cuối việc suy niệm về Giáng Sinh của chúng ta đây, tôi muốn trích lại một đoạn độc đáo của Thánh Âu Quốc Tinh. Khi dẫn giải lời nguyện trong Kinh Chúa Dạy: “Lạy Cha chúng con là Đấng ở trên  trời”, ngài đă đặt vấn đề rằng: Trời đây nghĩa là ǵ? Và Trời ở đâu? Thế rồi câu trả lời ngỡ ngàng đă được nêu lên  như sau: “… Đấng ở trên Trời – tức là ở nơi các thánh nhân và nơi thành phần công chính. Phải, các tầng trời là những cơ thể cao vời nhất trong vũ trụ này, thế nhưng chúng vẫn là những cơ thể, không thể hiện hữu trừ khi được giành chỗ cho. Tuy nhiên, nếu chúng ta tin rằng Thiên Chúa ở trên các tầng trời, nghĩa là ở những nơi cao nhất trên thế giới này, th́ các con chim may mắn hơn chúng ta, v́ chúng được sống gần Thiên Chúa hơn. Thế mà, vấn đề lại không được viết rằng: ‘Chúa gần gũi những ai ở trên những cao vời hay trên các núi non’, mà viết rằng ‘Chúa gần gũi tấm ḷng tan nát’ (Ps 34:18 [33:19]), một diễn tả ám chỉ đến ḷng khiêm hạ. Như tội nhân được gọi là ‘Đất’ thế nào th́ ngược lại kẻ công chính cũng có thể được gọi là ‘Trời’ như vậy” (Sermo in monte II 5, 17). Trời không thuộc về địa dư của không gian mà là địa dư của cơi ḷng. Và cơi ḷng của Thiên Chúa, trong Đêm Thánh này, đă cúi xuống hang lừa: ḷng khiêm hạ của Thiên Chúa là Trời. Và nếu chúng ta tiến đến với ḷng khiêm hạ này th́ chúng ta sẽ chạm tới Trời. Bấy giờ, Đất cũng được trở nên  mới mẻ nữa. Với ḷng khiêm nhượng của các mục đồng, chúng ta hăy lên đường, trong Đêm Thánh  này, đến với Con Trẻ nằm trong máng cỏ! Chúng ta hăy chạm tới ḷng khiêm nhượng của Thiên Chúa, đến  cơi ḷng của Thiên Chúa! Đề rồi niềm vui của Ngài sẽ tác động chúng ta và sẽ làm cho thế giới này trở nên rạng ngời hơn. Amen. 

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 24/12/2007

 

 

TOP

 

 

"Chỉ có một cách duy nhất khiến cho những tặng ân và khả năng tư riêng của chúng ta sinh hoa kết trái cùng với sự sang giầu chúng ta có được đó là mang chúng chia sẻ với anh chị em của chúng ta, chứng tỏ ḿnh là những người quản lư tốt lành đối với những ǵ Thiên Chúa đă trao phó cho chúng ta"

 

ĐTC Biển Đức XVI: Bài Giảng Chúa Nhật XXVI Thường Niên 1/10/2007 ở quảng trường Vương Cung Thánh Đường San Clement trong chuyến viếng thăm mục vụ Giáo Phận Velletri-Segni

An h chị em thân mến!

Tôi hết sức hân hoan trở lại giữa anh chị em để chủ tế việc long trọng cử hành Thánh Thể để đáp lời mời nhiều lần của anh chị em. Tôi hoan hỉ trở lại để gặp gỡ cộng đồng giáo phận của anh chị em, một cộng đồng giáo phận mà qua nhiều năm cũng là của tôi cách đặc biệt, và là một cộng đồng giáo phận rất thân thương với tôi hôm nay đây, tôi hết sức thân ái gửi đến anh chị em lời chào của tôi. … (hai đoạn chào hỏi ngắn gọn các vị chức sắc đạo đời)

Tôi cũng gửi lời chào tới tất cả những ai đến đây từ các nơi khác, nhất là từ Đức quốc, để hiệp nhất với chúng ta trong ngày cử hành này. Những mối liên hệ thân hữu nối kết xứ sở của tôi với của anh chị em: Trụ cột bằng đồng này xuất phát từ Markl am Inn, đă được trao tặng cho tôi vào Tháng 9 năm ngoái để kính nhớ chuyến tông du đến Đức quốc của tôi, là một chứng từ của mối liên hệ thân  hữu ấy, và tôi muốn nó ở lại nơi đây, như một dấu hiệu cho thấy hơn nữa ḷng quí mến và thiện ư của tôi.

Tôi biết anh chị em đă sửa soạn cho chuyến viếng thăm của tôi ở nơi đây hôm nay bằng một cuộc hành tŕnh thiêng liêng sâu xa, tâm niệm theo một câu ư nghĩa trong Thư Thứ Nhất của Thánh Gioan: “Nên  chúng tôi nhận biết và tin tưởng vào t́nh yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta” (4:16). “Thiên Chúa là t́nh yêu – Deus Caritas Est”: Bức thông điệp đầu tiên của tôi được mở đầu bằng những lời ấy, những lời liên quan tới cốt lơi của đức tin chúng ta – h́nh ảnh Kitô Giáo về Thiên Chúa và h́nh ảnh từ đó phản ánh về con người và về cuộc hành tŕnh của họ.

Tôi vui mừng nơi sự kiện là anh chị em đă chọn làm hướng dẫn viên cho cuộc hành tŕnh thiêng liêng và mục vụ của anh chị em lời diễn tả này: “Chúng ta đă nhận biết t́nh yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta và chúng ta tin tưởng”. Phụng vụ hôm nay không thể nào lại không chú trọng tới sự thật thiết yếu này, tới t́nh yêu của Thiên  Chúa, một t́nh yêu có thể in ấn nơi cuộc hiện hữu của nhân loại một chiều hướng và giá trị hoàn toàn mới mẻ. T́nh yêu là yếu tính của Kitô Giáo, một yếu tính mang lại cho tín hữu và cộng đồng Kitô Giáo một thứ men hy vọng và an b́nh trong mọi t́nh huống, nhất là việc chú trọng tới những nhu cầu của thành phần  nghèo khổ và thiếu thốn. T́nh yêu làm cho Giáo Hội hiện hữu sống động.

Trong mấy Chúa Nhật vừa qua,  Thánh Luca, vị tác giả Phúc Âm đặc biệt hơn các vị tác giả phúc âm khác chú ư tới việc cho thấy t́nh yêu Chúa Giêsu đối với người nghèo, đă cống hiến  những ư nghĩ khác nhau để suy niệm về những hiểm nguy của ḷng quá dính bén với tiền bạc, tới những sản vật thể lư cũng như tới tất cả những ǵ làm cản trở chúng ta trong việc ưu ái hoàn trọn ơn gọi yêu mến Thiên Chúa và anh chị em của chúng ta. Hôm nay cũng thế, qua một dụ ngôn làm cho chúng ta phải suy nghĩ v́ dụ ngôn này nói về một người quản lư bất lương cuối cùng muốn được chúc tụng (x. Lk 16:1-13), và v́ những ǵ được Chúa nêu lên là một giáo huấn  bổ ích. Như vẫn  thường làm, Người rút tỉa ra từ những biến cố đang xẩy ra: Người nói về một người quản lư sắp sửa bị loại v́ vấn đề điều hành bất lương của hắn đối với công việc của chủ hắn, và để bảo đảm cho tương lai của ḿnh, hắn đă ranh mănh điều đ́nh với các con nợ của ḿnh. Hắn bất lương thế nhưng lại tinh khôn: Phúc Âm không nêu hắn lên như là một thứ mô phạm để bắt chước cái bất lương của hắn, nhưng như một thí dụ để bắt chước cái cẩn trọng khéo léo của hắn. Thật vậy, bài dụ ngôn ngắn này đă kết thúc bằng những lời sau đây: “Ông chủ đă khen người quản lư bất chính v́ hắn đă hành động một cách khôn lanh”.

Chúa Giêsu muốn nói ǵ với chúng ta đây? Vị Thánh kư đă tiếp tục kể sau dụ ngôn về người quản lư bất trung với một loại ngắn ngủi những lời nói và trách cứ về mối liên hệ chúng ta cần phải có đối với tiền bạc cũng như đối với các sản vật trên thế gian này. Những câu nói ngắn gọn ấy kêu gọi chúng ta hăy thực hiện một quyết định dứt khoát, một dấn thân liên lỉ nội tâm. Đời sống thực sự bao giờ cũng là một cuộc chọn lựa, giữa chân thành và bất lương, giữa trung thành và bất trung, giữa cái tôi và vị tha, giữa thiện và ác. Câu kết luận về việc chọn lựa nơi bài Phúc Âm  là những ǵ thấm thía và quyết liệt: “Không đầy tớ nào có thể làm tôi hai chủ; v́ một là hắn ghét chủ này mà mến chủ kia, hai là hắn sùng chủ này mà khinh chủ nọ. Các con không thể làm tôi Thiên Chúa và mammon - tiền bạc được” (Lk 16:13).

Mammon theo nguyên ngữ Phoenician gợi lên cho thấy một t́nh trạng an toàn về kinh tế và thành đạt về thương trường; chúng ta có thể nói rằng nơi giầu sang có một thứ ngẫu tượng khiến con người hy sinh hết mọi sự để chiếm đạt thành công tư riêng. Bởi thế, cần phải có một quyết định trọng yếu – đó là việc chọn lựa giữa lư lẽ của lợi lộc như là qui tắc tối hậu của hành động chúng ta làm với lư lẽ của việc chia sẻ và đoàn kết. Cái lư lẽ của lợi lộc, nếu thắng thế, nó sẽ gia tăng chẳng những t́nh trạng bất tương xứng giữa nghèo và giầu, mà c̣n gia tăng cả việc khai thác tàn hại trái đất này nữa.

Trái lại, một khi lư lẽ của việc chia sẻ và đoàn kết chủ trị th́ mới có thể hoàn chỉnh tác hành và hướngtác hành tới việc phát triển tương xứng cho công ích của tất cả mọi người. Tận kỳ trung th́ nó là một quyết định giữa cái tôi và yêu thương, giữa công lư và bất chính, và là một quyết chọn tối hậu giữa Thiên Chúa và Satan. Nếu việc yêu mến Chúa Kitô và anh chị em của chúng ta không phải là một cái ǵ đó hời hợt và nông nổi, mà là một mục tiêu thật sự và tối hậu của đời sống chúng ta, chúng ta cần phải biết thực hiện những sự chọn lựa sâu xa, biết hướng tới chỗ từ bỏ hoàn toàn, thậm chí tới chỗ tử đạo nếu cần. Ngày nay, cũng như hôm qua, đời sống Kitô hữu đ̣i phải can đảm trong việc sống ngược đời, trong việc yêu thương như Chúa Giêsu đă thương yêu, Đấng cuối cùng đă tự hiến ḿnh trên thập tự giá.  

Bởi thế, chúng ta, bằng việc diễn giải lời của Thánh Âu Quốc Tinh, có thể nói rằng nhờ những sự dồi dào của trái đất này chúng ta cần phải chiếm được những ǵ là chân thật và vĩnh hằng: Thật sự nếu có người sẵn sàng làm bất cứ điều ǵ bất chính để bảo đảm cho cái phúc hạnh về vật chất, là những ǵ không bảo đảm, th́ Kitô hữu chúng ta lại càng phải cố gắng cống hiến cho niềm hạnh phúc trường sinh của chúng ta bằng những sản vật của thế gian này hơn thế nữa (cf. "Discourses" 359:10). Bởi vậy, chỉ có một cách duy nhất khiến cho những tặng ân và khả năng tư riêng của chúng ta sinh hoa kết trái cùng với sự sang giầu chúng ta có được đó là mang chúng chia sẻ với anh chị em của chúng ta, chứng tỏ ḿnh là những người quản lư tốt lành đối với những ǵ Thiên Chúa đă trao phó cho chúng ta. Chúa Giêsu nói: “Ai trung tín trong những điều nhỏ th́ cũng tín trung trong điều lớn; và ai bất trung trong điều nhỏ th́ cũng bất trung trong điều lớn” (Lk 16:10-11).

Tiên tri Amos nói về việc chọn lựa trọng yếu này cần phải có hằng ngày trong bài đọc thứ nhất hôm nay. Bằng những lời lẽ mạnh mẽ, ngài đă đả phá một lối sống thông thường của những ai để ḿnh cuốn  hút vào việc t́m kiếm lợi lộc vị kỷ bằng mọi cách và biến nó thành một thứ khát vọng chiếm hữu, một thứ khinh thường người nghèo và khai thác người nghèo cho lợi lộc riêng tư của họ (4:5). Kitô hữu cần phải cương quyết loại trừ tất cả những điều ấy, trái lại, mở ḷng ḿnh ra trước những cảm thức quảng đại thực sự. Một sự quảng đại mà, như Thánh Phaolô nói với chúng ta trong bài đọc hai hôm nay, được thể hiện nơi một t́nh yêu thương chân thành đối với tất cả mọi người và được bộc lộ trước hết bằng lời cầu nguyện. Cử chỉ cao cả của đức bác ái đó là cầu nguyện cho người khác.

Vị Tông Đồ này trước hết mời gọi chúng ta hăy cầu nguyện cho những ai thi hành trách nhiệm nơi cộng đồng dân sự, v́ – ngài giải thích – với những quyết định của họ, nếu họ hướng chiều về công ích th́ mang lại những thành quả tích cực, bảo đảm an b́nh và “một đời sống b́nh lặng trong đạo hạnh và phẩm vị” cho tất cả mọi người (1Tim 2:2). Việc cầu nguyện của chúng ta thực sự đáng giá là một việc nâng đỡ về thiêng liêng trong vấn đề xây dựng một cộng đồng giáo hội trung thành với Chúa Kitô cũng như với việc xây dựng một xă hội chân chính và vững vàng hơn.

Anh chị em thân mến, chúng ta hăy cầu nguyện một cách đặc biệt, để cộng đồng giáo phận  của anh chị em, một cộng đồng đang trải qua một loại những biến đổi, gây ra bởi việc di chuyển của nhiều gia đ́nh trẻ ra khỏi Rôma, bởi t́nh trạng phát triển về kỹ nghệ dịch vụ cũng như bởi t́nh h́nh có nhiều người di dân tới các trung tâm thành phố, có thể thực hiện được những hoạt động mục vụ mỗi ngày một qui củ hơn và tham gia hơn, theo những ấn định được vị giám mục của anh chị em cống hiến có tính cách tinh tế đặc biệt về mục vụ.

Để đạt được điều ấy, lá thư mục vụ của ngài hôm Tháng 12 năm ngoái đă trở thành những ǵ rất thích thuận cho việc mời gọi hăy chú trọng tới và kiên tŕ lắng nghe Lời Chúa, lắng nghe những giáo huấn của Công Đồng Chung Vaticanô II cũng như huấn quyền của Giáo Hội.

Chúng ta đặt vào bàn tay của Đức Mẹ Ban Ơn, Vị có h́nh ảnh được lưu giữ và tôn kính nơi vương cung thánh đường tuyệt vời của anh chị em đây, tất cả mọi ư chỉ và dự án mục vụ của anh chị em. Chớ ǵ việc bảo hộ từ mẫu của Mẹ Maria đồng hành với cuộc hành tŕnh của tất cả mọi anh chị em nơi đây cũng như những người không thể tham dự vào cuộc cử hành Thánh Thể hôm nay. Đặc biệt xin Vị Trinh Nữ Thánh hăy trông đến những người đau yếu, già nua tuổi tác, trẻ em và bất cứ ai cảm thấy lẻ loi hay bị bỏ rơi hoặc đang đặc biệt thiếu thốn. Xin Mẹ Maria giải thoát chúng con khỏi ḷng tham lam giầu sang phú quí, và xin làm cho chúng con có thể tôn vinh Thiên Chúa bằng đời sống của chúng con bằng đôi tay thong dong và tinh tuyền (x Lời Cầu Dâng Lễ). Amen!

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 25/9/2007

 

 TOP

 

 

“’Người nữ mặc áo mặt trời’ là điềm lạ vĩ đại cho cuộc chiến thắng của t́nh yêu, cho cuộc chiến thắng của sự thiện, cho cuộc chiến thắng của Thiên Chúa”

 

ĐTC Biển Đức XVI: Bài Giảng Lễ Mẹ Mông Triệu Thứ Tư 15/8/2007 ở Giáo Xứ Thánh Thomas Villanova, Castel Gandolfo

 

Anh Chị Em thân mến,

 

Trong đại tác phẩm Về Thành Đô của Thiên Chúa- De Civitate Dei, Thánh Âu Quốc Tinh có chỗ đă nói rằng toàn thể lịch sử nhân loại, lịch sử thế giới, là một cuộc đối chọi giữa hai thứ t́nh yêu: t́nh yêu Thiên Chúa đến độ đánh mất bản thân ḿnh, hoàn toàn hiến thân ḿnh, và t́nh yêu bản thân cho đến độ coi thường Thiên Chúa, ghét bỏ người khác. Lời giải thích tương tự về lịch sử như là một cuộc đối chọi giữa hai thứ t́nh yêu, giữa yêu thương và vị kỷ, cũng hiện lên ở bài đọc trích từ Sách Khải Huyền chúng ta vừa nghe.

 

Ở đây, hai thứ t́nh yêu này hiện lên nơi hai h́nh ảnh cả thể. Trước hết là có một con khổng long đỏ dũng mănh tỏ ra quyền năng hung hăn và lũng đoạn, không ân huệ, chẳng yêu thương, hoàn toàn vị kỷ, dữ dằn và bạo động.

 

Vào thời điểm của Thánh Gioan viết cuốn Sách Khải Huyền th́ con rồng này đối với ngài tiêu biểu cho quyền lực của các vị Hoàng Đề Rôma chống lại Kitô Giáo, từ Nero tới Domitian. Quyền lực này dường như vô hạn; quân quốc, quyền lực chính trị và tuyên truyền của Hoàng Đố Rôma là những ǵ mà đức tin, Giáo Hội, dường như là một người đàn bà yếu đuối không thể tự vệ để sống c̣n chứ chưa nói tới việc chiến thắng.

 

Ai có thể đứng lên chống lại quyền lực toàn năng dường như có thể chiếm đoạt được hết mọi sự ấy? Thế nhưng, chúng ta biết rằng cuối cùng chính người đàn bà yếu đuối bất lực ấy lại là kẻ chiến thắng chứ không phải thần tôi hay hận thù; t́nh yêu Thiên Chúa đă chiến thắng và Đế Quốc Rôma đă hướng về đức tin Kitô Giáo.

 

Những lời của Thánh Kinh bao giờ cũng là những ǵ vượt trên giai đoạn này của lịch sử. Bởi thế, con rồng này chẳng những cho thấy quyền lực chống lại Kitô Giáo của thành phần bách hại Giáo Hội bấy giờ, mà c̣n cho thấy những chế độ độc tài chống lại Kitô Giáo thuộc tất cả mọi giai đoạn lịch sử nữa.

 

Chúng ta thấy quyền lực này, quyền lực của con rồng đỏ, một lần nữa xuất hiện nơi các chế độ độc tài hạng nặng của thế kỷ vừa qua: chế độ độc tài Nazi và chế độ độc tài Stalin đă độc trị tất cả mọi quyền lực, thấm nhập hết mọi hang cùng ngơ hẻm, dù là đáy tận của hang cùng ngỏ hẻm. Dường như về lâu về dài đức tin không thể nào tồn tại được trước con rồng quá hung tợn đến nỗi không thể nào không chờ để nuốt đi vị Thiên Chúa đă trở thành một Con Trẻ, cũng như người đàn bà. Thế nhưng, cả trong trường hợp này nữa, cuối cùng t́nh yêu đă mạnh hơn  thù ghét.

 

Cả cho đến ngày hôm nay nữa, con rồng này vẫn hiện hữu bằng những đường lối mới mẻ và khác lạ. Nó hiện diện nơi h́nh thức của những ư hệ duy vật nói với chúng ta rằng thật là ngu xuẩn khi nghĩ về Thiên Chúa; thật là ngu đần khi giữ các giới luật của Thiên Chúa: chúng là những thứ thừa thăi của một thời đă qua. Đời sống chỉ đáng sống v́ nó. Hăy chiếm lấy hết mọi sự chúng ta có thể chiếm được trong giây phút ngắn ngủi của đời sống. Chủ nghĩa hưởng thụ, vị kỷ và vui chơi mới là những ǵ đáng giá. Đó là đời sống. Đó là cách chúng ta cần phải sống. Và một lần nữa nó dường như là những ǵ ngu dại, bất khả, khi chống lại với năo trạng chủ chốt này cùng với tất cả phương tiện truyền thông và quyền lực tuyên truyền của nó. Cả cho đến ngày hôm nay nữa, dường như không thể nào nghĩ tưởng được về một Vị Thiên Chúa đă dựng nên con người và đă đích thân trở thành một Con Trẻ và là Đấng  thực sự cai trị thế giới.

 

Thậm chí cho tới nay, con rồng này vẫn dường như bất khả bại, song ngày nay cũng rất thực là Thiên Chúa mạnh hơn con rồng, là chính t́nh yêu mới chiến thắng chứ không phải vị kỷ.

 

Bởi vậy, sau khi đă xem  xét một số h́nh thức lịch sử khác nhau về con rồng, giờ đây chúng ta hăy nh́n đến một h́nh ảnh khác, đó là người nữ mặc áo mặt trời, chân đạp mặt trăng, đầu đội triều thiên 12 tinh tú. Đây cũng là một h́nh ảnh đa phương.

 

Chắc chắn ư nghĩa thứ nhất của nó đó là Đức Mẹ, là Mẹ Maria, mặc mặt trời là Thiên Chúa, một cách trọn vẹn; Mẹ Maria hoàn toàn sống trong Thiên Chúa, được bao bọc và thẩm thấu bởi ánh sáng của Thiên Chúa. Đội triều thiên 12 tinh tú là 12 chi tộc Yến Duyên, là toàn thể Dân Chúa, là toàn thể Cuộc Hiệp Thông Thánh Nhân; và chân đạp mặt trăng là h́nh ảnh của sự chết và tử tính.

 

Mẹ Maria đă xa rời sự chết; Mẹ hoàn toàn mắc lấy sự sống, Mẹ được hưởng vinh quang Thiên Chúa cả xác lẫn hồn, nhờ đó, được ở trong vinh quang sau khi chế ngự sự chết, Mẹ nói với chúng ta rằng: Hăy yên tâm, cuối cùng t́nh yêu sẽ thắng!

 

Ư nghĩa đời sống của Mẹ là ở chỗ Mẹ là người tỳ nữ của Thiên Chúa, cuộc sống của Mẹ từng là một cuộc hiến thân cho Thiên Chúa cũng như cho tha nhân của Mẹ. Và cuộc sống phục vụ ấy giờ đây đă đạt được sự sống thực sự. Chớ ǵ cả các con nữa hăy tin tưởng và can trường sống như thế, đương đầu với tất cả mọi thứ đe dọa của con rồng.

 

Đó là ư nghĩa đầu tiên về người đàn bà mà Mẹ Maria là tiêu biểu. “Người nữ mặc áo mặt trời” là điềm lạ vĩ đại cho cuộc chiến thắng của t́nh yêu, cho cuộc chiến thắng của sự thiện, cho cuộc chiến thắng của Thiên Chúa; một điềm lạ vĩ đại của niềm ủi an.

 

Tuy nhiên, người đàn bà này chịu khổ, đă phải thoát thân, người đàn bà quằn quại sinh con, cũng là Giáo Hội, Giáo Hội lữ hành của mọi thời đại. Qua mọi thế hệ, Giáo Hội đă hạ sinh Chúa Kitô cách mới mẻ, mang Người đến cho thế giới một cách hết sức đau thương, hết sức khổ ải. Bị bách hại qua mọi thời đại, hầu như thể, bị con rồng săn đuổi, Giáo Hội đă phải chạy đi sống trong nơi hoang địa.

 

Tuy nhiên, trong mọi thời đại, Giáo Hội, Dân Thiên Chúa, cũng sống bởi ánh sáng của Thiên Chúa và như Phúc Âm nói được dưỡng nuôi bởi Thiên Chúa, dinh dưỡng ḿnh bằng Bánh Thánh Thể. Bởi vậy, trong tất cả mọi cuộc thử thách ở các trường hợp khác nhau của Giáo Hội qua các thời đại ở những phần đất khác nhau trên thế giới, Giáo Hội vẫn đang chiến thắng bằng khổ đau. Và Giáo Hội là sự hiện diện, là bảo đảm của t́nh yêu Thiên Chúa trước tất cả mọi ư hệ thù hằn và vị kỷ.

 

Dĩ nhiên là chúng ta thấy cả ngày nay nữa, con rồng này muốn nuốt đi vị Thiên Chúa ḥa thân thành một Con Trẻ. Đừng sợ vị Thiên Chúa có vẻ mỏng ḍn này; cuộc chiến này đă giành được phần thắng. Cả cho đến ngày hôm nay nữa, vị Thiên Chúa yếu đuối này là Đấng dũng mănh: Ngài thực sự quyền năng.

Bởi vậy, Lễ Mông Triệu là một lời mời gọi hăy tin tưởng vào Thiên Chúa và cũng mời gọi bắt chước Mẹ Maria nơi những ǵ chính Mẹ đă nói: Này tôi là nữ tỳ Chúa; xin sử dụng tôi tùy theo ư Chúa.

 

Bài học là ở chỗ này, đó là người ta cần phải hành tŕnh theo đường lối riêng của ḿnh; con người cần phải trao ban sự sống chứ không chiếm lấy nó. Và chính nhờ đó mà con người hành tŕnh trên con đường yêu thương là cuộc hành tŕnh đánh mất bản thân ḿnh, song việc mất mát bản thân ấy thực sự là con đường duy nhất để t́m thấy được chính ḿnh, t́m thấy được sự sống thật.

 

Chúng ta hăy nh́n lên Mẹ Maria, được mộng triệu về Trời. Chúng ta hăy hứng khởi cử hành lễ vui mừng này bằng đức tin là Thiên Chúa đang chiến thắng. Đức tin, một đức tin có vẻ yếu đuối, là quyền năng thực sự của thế giới này. T́nh yêu mạnh hơn thù hận.

 

Cùng với bà Isave chúng ta hăy nói rằng: Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ. Chúng ta hăy cầu nguyện cùng với toàn thể Giáo Hội rằng: Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử. Amen.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2007/documents/hf_ben-xvi_hom_20070815_castel-gandolfo_en.html

 

 TOP

 

"Trách nhiệm Chúa Giêsu trao cho Thánh Phêrô được bắt nguồn nơi mối liên hệ riêng tư mà Chúa Giêsu của lịch sử có được với Simon viên đánh cá"

 

ĐTC Biển Đức XVI – Bài Giảng cho Thánh Lễ Trọng Thánh Phêrô và Phaolô 29/6/2007 tại Đền Thờ Thánh Phêrô

 

Anh Chị Em thân mến,

 

Chiều hôm qua, tôi đă đến Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoại Thành, nơi tôi đă cử hành Giờ Kinh Tối đầu cho Lễ Trọng Thánh Phêrô và Phaolô hôm nay. Ngoài ra, tại mộ của Vị Tông Đồ Dân Ngoại, tôi đă đến kính viếng để tưởng nhớ đến ngài, và đă thông báo Năm Thánh Phaolô, nhân dịp hai ngàn năm sinh nhật của ngài, sẽ được cử hành từ 28/6/2008 tới 29/6/2009.

 

Sáng nay, theo truyền thống, chúng ta qui tụ chung quang ngôi mộ của Thánh Phêrô…. (ĐTC ngỏ lời chào 2 đoạn ngắn tới một số vị đặc biệt trong dịp này).

 

Lễ hôm nay cống hiến cho tôi cơ hội để một lần nữa suy niệm về lần tuyên xưng của Thánh Phêrô, một giây phút quyết liệt nơi cuộc hành tŕnh của thành phần môn đệ ở với Chúa Giêsu. Bộ Phúc Âm Nhất Lăm thuật lại rằng việc tuyên xưng này xẩy ra ở địa hạt Caesarea Philippi (cf. Mt 16: 13-20; Mk 8: 27-30; Lk 9: 18-22).

 

Về phần ḿnh, Thánh Kư Gioan thuật lại cho chúng ta thấy một lần tuyên xưng quan trọng khác của Thánh Phêrô, sau phép lạ hóa bánh ra nhiều và Bài Giảng của Chúa Giêsu ở Hội Đường Capernaum (cf. Jn 6: 66-70). Thánh Mathêu, trong đoạn vừa được công bố, thuật lại việc Chúa Giêsu ghép biệt hiệu Cephas là “Đá” cho Simon. Chúa Giêsu nói rằng Người muốn xây dựng Giáo Hội của Người “trên đá này”, và theo đó, đă trao cho Phêrô quyền tháo cởi (cf. Mt 16: 17-19). Từ những tŕnh thuật này chúng ta rơ ràng thấy được rằng việc tuyên xưng của Thánh Phêrô bất khả tách biệt khỏi trách nhiệm mục vụ của ngài đối với đàn chiên của Chúa Kitô được kư thác cho ngài.

 

Theo tất cả các vị thánh kư th́ việc tuyên xưng của Simon xẩy ra vào lúc quan trọng trong đời sống của Chúa Giêsu, khi mà, sau khi giảng dạy ở Galilêa, Người cương quyết khởi hành lên Gia Liêm để hoàn tất sứ vụ cứu độ của Người bằng cái chết trên Thập Giá và Cuộc Phục Sinh của Người.

 

Các môn đệ đều được tham dự vào quyết định này: Chúa Giêsu đă mời gọi các vị hăy thực hiện một sự chọn lựa làm cho các vị khác biệt hẳn với quần chúng để trở thành một cộng đồng của những ai tin tưởng vào Người, trở thành “gia đ́nh” của Người, thành khởi điểm cho Giáo Hội.

 

Thật vậy, có hai cách “thấy” và “biết” Chúa Giêsu: cách thứ nhất – cách của đám đông – th́ nông nổi hơn; c̣n cách kia – cách của các vị môn đệ – th́ thấu nhập và đích đáng hơn. Bằng câu hỏi lưỡng diện của ḿnh “Dân chúng nói ǵ?” và các con nói Thày là ai?”, Chúa Giêsu đă mời gọi các vị môn đệ này hăy ư thức về quan điểm khác biệt ấy.

 

Dân chúng nghĩ rằng Chúa Giêsu là một vị tiên tri. Điều ấy không có ǵ là sai trái, nhưng vẫn chưa đầy đủ; vẫn chưa thích đáng. Thật vậy, nó là một vấn đề cần phải đào sâu, vấn đề nhận biết cái đặc thù về con người của Chúa Giêsu Nazarét cũng như cái mới mẻ của Người.

 

Điều ấy vẫn c̣n như thế ở ngày hôm nay đây: nhiều người đến gần Chúa Giêsu, có thể nói là, từ bên ngoài. Các vị đại học giả công nhận tầm vóc thiêng liêng và luân lư của Người, cũng như ảnh hưởng của Người nơi lịch sử nhân loại, so sánh với Phật Tổ, với Khổng Tử, với Socrates cũng như với các nhân vật khôn ngoan quan trọng khác trong lịch sử.

 

Tuy nhiên, họ không thể nhận ra cái đặc thù chuyên biệt của Người. Chúng ta nghĩ tới điều Chúa Giêsu nói với tông đồ Philip ở Bữa Tiệc Ly, đó là: “Philip ơi, Thày hằng ở cùng các con bấy lâu mà các con chưa biết Thày hay sao?” (Jn 14:9).

 

Chúa Giêsu cũng thường được coi như là một trong những vị đại sáng lập tôn giáo, nhờ đó mọi người mới có được một điều ǵ đó để xác tín. Cả ngày nay nữa, “dân chúng” có những ư nghĩ khác nhau về Chúa Giêsu, như họ xưa kia. Và như Người đă làm bấy giờ, Chúa Giêsu cũng lập lại câu hỏi này với chúng ta là thành phần môn đệ của Người ngày nay: “C̣n chúng con cho rằng Thày là ai?”

 

Chúng ta chấp nhận câu trả lời của Thánh Phêrô. Theo Phúc Âm Thánh Marcô th́ ngài thưa rằng: “Thày là Đức Kitô” (8:29); nơi Thánh Lucia th́ câu khẳng định là: “Đức Kitô của Thiên Chúa” (9:20); nơi Thánh Mathêu th́ câu đáp: “Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (16:16); sau hết nơi Thánh Gioan: “Thày là Đấng Thánh của Thiên Chúa”. Đó là tất cả những câu trả lời đúng cho cả chúng ta nữa.

 

Chúng ta hăy đặc biệt suy niệm đoạn văn của Thánh Mathêu được trích đọc cho phụng vụ hôm nay.

 

Theo một số chuyên gia th́ công thức này xuất hiện ở đó bao hàm cái bối cảnh hậu Phục Sinh và thậm chí có thể liên quan tới việc Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra riêng với Thánh Phêrô, một cuộc hiện ra tương tự như Thánh Phaolô đă trải qua trên đường đi Damascus.

 

Thật vậy, trách nhiệm Chúa Giêsu trao cho Thánh Phêrô được bắt nguồn nơi mối liên hệ riêng tư mà Chúa Giêsu của lịch sử có được với Simon viên đánh cá, từ lần Người gặp gỡ anh ta lần đầu tiên khi Người phán cùng a nh rằng: “Ngươi là Simon… Ngươi sẽ được gọi là Cephas (tức là Phêrô)” (Jn 1:42). Thánh kư Gioan nhấn mạnh nó, vị cũng là một tay đánh cá và là một đồng nghiệp, cùng với người anh em Giacôbê, với hai anh em Simon và Anrê. Chúa Giêsu là Đấng đă gọi Saulê sau khi Phục Sinh cũng là Giêsu – vẫn c̣n trong gịng lịch sử – sau phép rửa của Người ở sông Dược Đăng đă tiến đến với 4 tay đánh cá bấy giờ đang là môn đệ của Thánh Gioan tẩy Giả (x Jn 1:35-42).

 

Người đă t́m kiếm họ trên bờ Hồ Galilêa và đă gọi họ theo Người, trở nên “những tay đánh cá người” (x Mk 1:16-20). Đoàn Người kư thác cho Thánh Phêrô một công việc đặc biệt, như thế, nh́n nhận nơi ngài một tặng ân đức tin đặc biệt được Cha trên trời ban cho. Dĩ nhiên, tất cả những điều ấy đều được sáng tỏ bởi cảm nghiệm Vượt Qua, song bao giờ cũng vẫn mạnh mẽ bắt nguồn từ những biến cố lịch sử trước Phục Sinh.

 

Vai tṛ sánh vai giữa Thánh Phêrô và Phaolô không thể làm suy giảm tầm quan trọng của cuộc hành tŕnh lịch sử của Simon với Thày và Chúa, Đấng từ ban đầu đă gán cho ngài đặc tính của “tảng đá” là nơi trên đó Người có ư xây dựng cộng đồng mới của Người là Giáo Hội.

 

Ở các Phúc Âm Nhất Lăm th́ việc tuyên xưng của Thánh Phêrô bao giờ cũng được kèm theo bằng lời loan báo của Chúa Giêsu về Cuộc Khổ Nạn sắp xẩy ra của Người. Thánh Phêrô đă phản ứng trước lời loan báo này, v́ ngài chưa có thể hiểu nổi. Tuy nhiên, đó là một yếu tố quan trọng được Chúa Giêsu nhấn mạnh. Thật vậy, các danh xưng Thánh Phêrô qui cho Người – Thày là “Đức Kitô”, “Đức Kitô của Thiên Chúa”, “Con Thiên Chúa hằng sống” – chỉ có thể hiểu được một cách thích đáng theo chiều hướng mầu nhiệm tử nạn và Phục Sinh của Người.

 

Và ngược lại cũng đúng nữa, ở chỗ, biến cố Thập Giá cho thấy cái ư nghĩa trọn vẹn của ḿnh chỉ khi nào “con người” chịu đau khổ và chết đi trên Thập Giá này mới “thực sự là Con Thiên Chúa”, như những lời của vị bách quan thốt ra khi ông đứng trước Chúa Kitô Tử Giá (x Mk 15:39). Những đoạn này rơ ràng cho thấy rằng tính chất nguyên tuyền của đức tin Kitô Giáo xuất phát từ lời tuyên xưng của Thánh Phêrô, lời tuyên xưng được sáng soi bởi giáo huấn của Chúa Giêsu trên “đường” tới vinh quang của Người, tức là, trên con đường hoàn toàn đặc thù của Người, là Đấng Thiên Sai và là Con Thiên Chúa.

 

Chính “con đường” hẹp này, một “cách thức” kinh hoàng đối với thành phần môn đệ ở hết mọi thời đại, thành phần không thể không nghĩ theo chiều hướng con người hơn là Thiên Chúa (x Mt 16:23).

 

Cả ngày nay nữa, như vào thời của Chúa Giêsu, không đủ để có được một lời tuyên xưng đức tin thích đáng: vấn đề ở đây là bao giờ cũng cần phải học biết thêm từ Chúa Kitô đường lối thực sự Người là Đấng Cứu Thế và là con đường chúng ta cần phải tiến bước theo Người. Thật vậy, chúng ta cần phải nhận thấy rằng ngay cả đối với thành phần tín hữu th́ Thập Giá bao giờ cũng là những ǵ khó chấp nhận.

 

Bản năng thúc đẩy con người tránh né nó và tên cám dỗ dẫn con người đến chỗ tin rằng khôn ngoan là ở chỗ quan tâm tới việc cứu lấy ḿnh hơn là đánh mất sự sống của ḿnh bằng việc trung thành với t́nh yêu, trung thành với Con Thiên Chúa làm  người. Các con nói Thày là ai? Điều ǵ được thành phần Chúa Giêsu nói với cảm thấy khó chấp nhận? Những ǵ vẫn khó khăn đối với nhiều người th́ cũng khó trong thời đại của chúng ta hay sao?

 

Thật là khó chấp nhận khi Người cho Người chẳng những là một trong những vị tiên tri mà c̣n là Con Thiên Chúa, và Người đă tự nhận cho ḿnh quyền bính riêng của Thiên Chúa nữa.

 

Lắng nghe Người giảng dạy, nh́n thấy  Người chữa bệnh nhân, truyền bá phúc âm hóa cho thành phần thấp hèn và  nghèo khó, cùng hóa giải tội nhân, từ từ các môn đệ nhận ra rằng Người là Đấng Thiên Sai đúng nghĩa nhất của từ ngữ, tức là một con người chẳng những được Thiên Chúa sai mà là chính Thiên Chúa làm người.

 

Hiển nhiên là tất cả những điều ấy đều vượt trên họ, nó vượt quá khả năng hiểu biết của họ. Họ có thể bày tỏ đức tin của họ bằng những danh hiệu theo truyền thống Do Thái Giáo là “Thiên Sai”, “Con Thiên Chúa”, “Chúa”. Tuy nhiên, để thực sự gắn liền với thực tại này, th́ những danh hiệu ấy cần phải được tái nhận thức một cách nào đó nơi sự thật sâu xa nhất của chúng: Chính Chúa Giêsu đă mạc khải ư nghĩa đích thực của chúng bằng đời sống của Người, bao giờ cũng ngỡ ngàng, thậm chí được coi là ngược ngạo với những quan niệm thông thường.

 

Và chính đức tin của thành phần môn đệ cần phải được thích ứng một cách tiến bộ. Nó trở thành như là một cuộc hành tŕnh được bắt đầu nơi cảm nghiệm về một Đức Giêsu lịch sử, t́m thấy n ền tảng của ḿnh nơi Mầu Nhiệm Vượt Qua, song tới lúc ấy cần phải tiến triển hơn nữa nhờ hoạt động của Chúa Thánh Thần.

 

Đó cũng là đức tin của Giáo Hội trong gịng lịch sử, đó cũng là đức tin của Kitô hữu chúng ta ngày nay. Được vững chắc dựa vào “tảng đá” Phêrô, nó là một cuộc hành tŕnh hướng tới tầm vóc viên trọn của sự thật mà Tay Đánh Cá Galilêa đă hăng hái tuyên xưng niềm xác tín: “Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16:16).

 

Nơi lời tuyên xưng đức tin của Thánh Phêrô, anh chị em thân mến, chúng ta có thể cảm thấy rằng tất cả chúng ta đều là một, cho dù những chia rẽ đă làm tổn thương đến mối hiệp nhất của Giáo Hội qua các thế kỷ và hậu quả của nó vẫn c̣n tác dụng.

 

Hôm nay, nhân danh hai Thánh Phêrô và Phaolô, chúng ta hăy lập lại, cùng với những người Anh  Em của chúng ta đến từ Constantinople – những vị một lần nữa tôi xin cám ơn về sự hiện diện trong cuộc cử hành này – việc chúng ta dấn thân chấp nhận cho đến cùng ước vọng của Chúa Kitô, Đấng muốn chúng ta hoàn toàn hiệp nhất. Với những v́ Tổng Giám Mục đồng tế, chúng ta hăy chấp nhận tặng ân và trách nhiệm của mối hiệp thông giữa Ṭa Thánh Phêrô và Các Giáo Hội Chủ Yếu được kư thác cho các ngài chăm sóc mục vụ.

 

Xin Thánh Mẫu của Thiên Chúa luôn dẫn dắt chúng ta và hỗ trợ chúng ta bằng lời chuyển cầu của Mẹ: chớ ǵ đức tin không hề xoay chuyển của Mẹ, một đức tin đă bảo tŕ đức tin của Thánh Phêrô và của các vị Tông Đồ khác, tiếp tục nâng đỡ đức tin của các thế hệ Kitô hữu, đức tin của riêng chúng ta: Nữ Vương Các Thánh Tông Đồ, cầu cho chúng con! Amen.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2007/documents/hf_ben-xvi_hom_20070629_pallio_en.html

 

 TOP

 

"Thánh Phaolô biết ngài 'được kêu gọi để trở thành một vị tông đồ'”

 

ĐTC Bin Đức XVI – Bài Ging cho Giờ Kinh Tối Thứ Năm 28/6/2007 ti Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoại Thành

 

Quí Hồng Y,

Quí Huynh khả kính trong Hàng Giáo Phẩm và trong hàng Linh Mc,

Anh Chị Em thân mến,

 

Ở Giờ Kinh Tối đầu cho Lễ Trọng Kính Thánh Phêrô và Phaolô này, chúng ta hăy tri ân tưởng nhớ tới hai vị Tông Đồ đă đổ máu ḿnh ra, với máu ca rt nhiu chng nhân Phúc Âm khác, đă làm cho Giáo Hi Rôma sinh hoa kết trái.

 

(ĐTC ngỏ lời chào các thành phn đặc bit ở 4 đoạn ngắn)

 

Đền thờ này, một đền thờ đă tng long trng tổ chức nhng biến cố đại kết quan trng, nhc nhở chúng ta về việc quan trng biết bao cùng nhau cu nguyn để nài xin ơn hip nht, mt mi hip nht đă được Thánh Phêrô và Phaolô hiến đời sng ca ḿnh cho đến độ hy sinh tận tuyt bng máu đào ca ḿnh.

 

Truyền thng rt xa xưa từ thời các vị tông đồ đă cho rng cuc gp gỡ cuối cùng ca các vị trước cuc tử đạo ca hai vị thực sự xẩy ra không xa nơi chn này: hai vị được cho rng đă ôm ly nhau và chúc lành cho nhau. Ở cửa chính ca Đền Thờ này, các vị có một bc ha chung, vi nhng cnh ca cả hai cuộc tử đạo.

 

Như thế, từ ban đầu, truyn thng Kitô Giáo đă coi Thánh Phêrô và Phaolô bt khả tách biệt, cho dù m i vị có một sứ vụ khác nhau cần phi hoàn thành.

 

Thánh Phêrô đă tuyên xưng đức tin ca ḿnh vào Chúa Kitô trước; Thánh Phaolô được ban cho khả năng để đào sâu nhng sự phong phú của đức tin y. Thánh Phêrô đă thành lp cng đồng tiên khi ca thành phn Kitô hu xut thân từ Dân Tuyển Chn; Thánh Phaolô trở thành Vị Tông Đồ Dân Ngoại. Vi nhng đoàn sng khác nhau, các vị đều hot động cho cùng mt lư tưởng, đó là xây dng Giáo Hi ca Chúa Kitô. 

 

Trong Phần Các Bài Đọc, phụng vụ cống hiến cho việc suy niệm của chúng ta bản văn nổi tiếng của Thánh Âu Quốc Tinh: “Một ngày duy nhất được chỉ định để cử hành việc tử đạo của hai Vị Tông Đồ. Thế nhưng, hai vị này là một. Mặc dù cuộc tử đạo của hai vị xẩy ra vào những ngày khác nhau, các vị cũng là một. Thánh Phêrô trước, Thán h Phaolô sau. Chúng ta cử hành ngày lễ này là ngày được trở nên linh thánh đối với chúng ta nhờ máu của những vị Tông Đố ấy” (Sermon 295, 7, 8).

 

Và Thánh lêô Cả đă nhận định như sau: “Về các công lênh và nhân đức của các vị, những ǵ vượt lên trên tất cả khả năng nói năng, chúng ta không được tách biệt chúng, v́ các vị được chọn như nhau, khó nhọc như nhau, chết đi như nhau” (In natali apostol., 69, 7).

 

Ở Rôma, từ những thế kỷ đầu tiên, mối liên hệ nối kết Thánh Phêrô và Phaolô lại trong sứ vụ của các vị đă có một ư nghĩa rất đặc biệt. Như Romulus và Remus, hai người anh  em thần thoại này được cho là hạ sinh ra Thánh Phố đây thế nào, th́ Thánh Phêrô và Phaolô cũng được coi là những vị thành lập nên Giáo Hội ở Rôma như thế.

 

Nói về Thành Phố này liên quan tới đề tài ấy, Thánh Lêô Cả đă nói: “Các vị này là những Người Cha thánh thiện và là những mục tử thực sự của anh chị em, những vị đă cống hiến cho anh chị em những khai báo anh chị em được kể vào số những vương quốc thiên đ́nh, và đă xây dựng anh chị em dưới sự che chở bao bọc tốt đẹp hơn và hạnh phúc hơn các vị, những vị có ḷng nhiệt thành là nền tảng đầu tiên cho những bức tường thành của anh chị em” (Sermon 82, 7).

 

Tuy nhiên, về lănh vực nhân loại, các vị có khác nhau, và cho dù có những căng thẳng nơi mối liên hệ của các vị, Thánh Phêrô và Phaolô vẫn là những sáng lập viên của Thánh Phố mới mẻ này, một biểu hiệu cho một đường lối mới mẻ và chân thực trong việc làm huynh đệ, một đường lối khả dĩ nhờ Phúc Âm Chúa Giêsu Kitô.

 

V́ thế, có thể nói rằng Giáo Hội ở Rôma đang cử hành ngày sinh nhật của ḿnh hôm nay đây, v́ chính hai vị Tông Đồ này đă đặt nền tảng cho nó vậy.

 

Hơn thế nữa, Rôma trong thời đại của chúng ta nhận thấy một cách ư thức hơn cả sứ vụ của ḿnh lẫn sự cao cả của ḿnh. Thánh Gioan Chrysostom đă viết: “Tầng trời không quá sáng ngời khi mặt trời tỏa ánh quang của nó, cho bằng Thành Phố Rôma khi tỏa hai ánh sáng này (Thánh Phêrô và Phaolô) tới tất cả mọi phần đất trên thế giới… Bởi vậy, tôi ca ngợi Thành Phố này… v́ những cột trụ này của Giáo Hội” (Homily on St Paul's Epistle to the Romans, 32, 24).

 

Chúng ta sẽ tưởng niệm đặc biệt Thánh Phêrô ngày mai, cử hành Hy Tế Thần Linh ở Đền Thờ Vatican, đền thờ được xây ở địa điểm ngài tử đạo. Tối nay, chúng ta hướng về Thánh Phaolô, vị có hài cốt được ǵn giữ hết sức cung kính ở Đền Thờ này.

 

Ở đầu Bức Thư gửi Giáo Đoàn Rôma, như chúng ta vừa nghe, Thánh Phaolô đă chào cộng đồng Rôma, tự giới thiệu ḿnh là “một người tôi tớ của Chúa Giêsu Kitô, được kêu gọi trở thành một vị tông đồ” (1:1). Thánh Phaolô sử dụng từ ngữ “tôi tớ”, theo Tiếng Hy Lạp là doulos, để ám chỉ một mối liên hệ hoàn toàn trọn vẹn thuộc về Chúa Giêsu; ngoài ra, nó là từ ngữ được dịch từ tiếng ‘ebed’ của Do Thái, nhờ đó ám chỉ những người tôi tớ cao cả đă được Thiên Chúa chọn lựa và kêu gọi tới một sứ vụ quan trọng và đặc biệt.

 

Thánh Phaolô biết ngài “được kêu gọi để trở thành một vị tông đồ”, tức là, ngài đă không cho ḿnh là một ứng viên, cũng không phải là một bổ nhiệm của loài người, mà hoàn toàn do lời kêu gọi và việc tuyển chọn thần linh.

 

Vị Tông Đồ cho Chư Dân này lập lại mấy lần ở các Bức Thư của ḿnh rằng trọn cuộc sống của ngài là hoa trái của ân  sủng nhân hậu nhưng không của Thiên Chúa (cf. I Cor 15: 9-10; II Cor 4: 1; Gal 1: 15). Ngài được tuyển chọn để loan báo “Phúc Âm của Thiên Chúa” (Rm 1:1), để gieo văi tin mừng về Ân Huệ thần linh là việc ḥa giải trong Chúa Kitô giữa con người với Thiên Chúa, với chính họ và với kẻ khác.

 

Căn cứ vào các Bức Thư của ngài, chúng ta biết rằng Thánh Phaolô không phải là một tay thuyết giảng giỏi giang; trái lại, ngài đă giống như Moisen và Giêrêmia thiếu khả năng ăn nói. Thành phần thù địch của ngài đă nói về ngài rằng: “Sự hiện diện về thể lư của ngài th́ yếu đuối, và khả năng nói năng của ngài chẳng có ǵ đáng kể” (II Cor 10: 10).

 

Những thành quả tông đồ phi thường mà ngài đă có thể chiếm được, bởi thế, không thể qui về những pháp thuật ngôn từ nẩy lửa hay biện giải và truyền giáo tài ba.

 

Sự thành đạt nơi việc tông đồ của ngài trước hết lệ thuộc vào việc ngài dấn thân loan báo Phúc Âm hoàn toàn v́ Chúa Kitô; một sự dấn thân không sợ hiểm nghèo, khó khăn hay bạch hại.  

 

Ngài đă viết cho Kitô hữu Rôma rằng: “Dù chết hay sống, dù là các thiên thần hay các thế lực, dù là hiện tại hay tương lai, dù là các quyền năng, dù đỉnh cao hay vực thẳm, dù bất cứ sự ǵ khác nơi tất cả tạo vật, sẽ không thể nào phân rẽ tôi khỏi t́nh yêu của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta” (8:38-39).

 

Từ điều này chúng ta có thể rút tỉa được một bài học đặc biệt quan trọng đối với hết mọi Kitô hữu. Hoạt động của Giáo Hội chỉ khả tín và hiệu nghiệm chỉ khi nào những ai thuộc về Giáo Hội sẵn sàng đích thân trả giá cho ḷng trung thành của ḿnh với Chúa Kitô trong mọi hoàn cảnh. Khi sự sẵn sàng này bị hụt hẫng th́ lư lẽ chủ yếu về sự thật là những ǵ chính Giáo Hội phải tùy thuộc cũng bị thiếu vắng.

 

Anh chị em thân mến, như trong thời sơ khai, cả ngày nay nữa, Chúa Kitô cần đến những tông đồ sẵn sàng hy sinh bản thân ḿnh. Người cần những chứng nhân và tử đạo như Thánh Phaolô. Thánh Phaolô, một tên bách hại Kitô hữu trước đó, khi bị ngă xuống đất trước ánh sáng thần linh chói ḷa trên đường đi Damascus, đă không ngần ngại đứng sang bên của Đấng Tử Giá và theo Người cách dứt khoát. Ngài đă sống và làm việc cho Chúa Kitô, v́ Người ngài đă chịu khổ và đă chết đi. Ngày nay gương sáng của ngài hợp thời biết bao!

 

Chính v́ lư do này tôi hân hoan chính thức tuyên bố rằng chúng ta sẽ giành một Năm Mừng đặc biệt Thánh Tông Đồ Phaolô, từ ngày 28/6/2008 tới 29/6/2009, nhân dịp hai ngàn năm sinh nhật của ngài, ngày sinh nhật được các sử gia cho rằng ở vào giữa khoảng năm 7 và 10 sau Chúa Giáng Sinh.

 

Sẽ có thể cử hành “Năm Thánh Phaolô” này một cách đặc biệt ở Rôma là nơi quan tài bằng đá, một quan tài, theo ư kiến nhất trí của các chuyên gia và truyền thống không thể chối căi, giữ hài tích của Tông Đồ Phaolô, đă được bảo tŕ ở bên dưới Bàn Thờ Giáo Tông nơi Đền Thờ này qua 20 thế kỷ.

 

Như thế sẽ có thể thực hiện một loạt những biến cố về phụng vụ, về văn hóa và đại kết ở Đền Thờ Giáo Tông này cũng như tại Đan Viện B iển Đức sát cạnh, cùng với những hoạt động khác nhau về mục vụ và xă hội, tất cả đều theo chiều hướng linh đạo của Thánh Phaolô.

 

Ngoài ra, phải đặc biệt chú trọng tới những cuộc hành hương thống hối được tổ chức tới viếng mộ vị Tông Đồ này để t́m thấy nơi ấy ích lợi thiêng liêng. Cũng phải cổ vơ phát động những hội nghị học hỏi và những ấn hành đặc biệt để phổ biến rộng răi hơn bao giờ hết kho tàng mênh mông chất chứa nơi giáo huấn này, một gia sản thật sự của nhân lolại được Chúa Kitô cứu chuộc.

 

Ngoài ra, ở các nơi trên thế giới, những sáng kiến tương tự sẽ được áp dụng ở các giáo phận, các đền thánh và những nơi thờ phượng, bởi thành phần Tu Sĩ và những tổ chức giáo dục cũng như những trung tâm trợ giúp xă hội mang tên Thánh Phaolô hay được ảnh hưởng bởi ngài và giáo huấn của ngài.

 

Sau hếtm cần phải chú ư tới một khía cạnh đặc biệt trong thời gian cử hành những thời điểm khác nhau của việc mừng kỷ niệm 2000 năm Thánh Phaolô: tôi muốn nói tới chiều kích đại kết. Vị Tông Đồ Chư Dân này, vị đặc biệt đă dấn thân mang Tin Mừng cho tất cả mọi dân tộc, đă không ngừng  hoạt động cho mối hiệp nhất và ḥa hợp giữa tất cả mọi Kitô hữu.

 

Xin ngài thương hướng dẫn và bảo vệ chúng ta trong việc cử hành hai ngàn năm này, giúp chúng ta tiến bộ trong việc khiêm tốn và chân thành t́m kiếm mối hiệp nhất trọn vẹn của tất cả mọi phần tử thuộc Nhiệm Thể của Chúa Kitô. Amen.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2007/documents/hf_ben-xvi_hom_20070628_vespri_en.html

 

  TOP

 

"Đời sống của Thánh Phanxicô hoán cải là ǵ nếu không phải là một tác động mến yêu cao cả?"

 

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI:

Bài Giảng cho Thánh Lễ Chúa Nhật 17/6/2007 ở Quảng Trường Đền Thờ Thánh Phanxicô Assisi

 

Anh Chị Em thân mến,

 

Chúa đang nói ǵ với chúng ta hôm nay đây khi chúng ta cử hành Thánh Thể ở một khung cảnh gợi nhớ của quảng trường này, nơi qui tụ 8 thế kỷ thánh đức, tôn sùng, nghệ thuật và văn hóa được gắn liền với tên tuổi của Thánh Phanxicô Assisi?

 

Hôm nay, hết mọi sự ở nơi đây đều nói về việc hoán cải… (tiến theo ĐTC ngỏ lời chào hỏi 3 đoạn ngắn gọn)

 

Nói về việc hoán cải có nghĩa là đi vào tâm điểm của sứ điệp Kitô Giáo, song đồng thời cũng tiến vào cội nguồn của việc nhân loại hiện hữu nữa. Lời Chúa vừa được công bố đă soi sáng cho chúng ta bằng việc nêu lên trước mắt chúng ta 3 h́nh ảnh hoán cải.

 

H́nh ảnh thứ nhất là Đavít. Đoạn sách liên quan đến ngài, được trích từ Sách Samuel Quyển 2, cho chúng ta thấy một trong những cuộc hoán cải thảm thiết nhất c ủa Cựu Ước. Một bản án gay gắt nằm ở ngay tâm điểm của cuộc đối thoại này, trong đó, Lời Chúa, được thốt lên từ miệng Tiên Tri Nathan, cho thấy một ông vua đă đạt đến tột đỉnh may lành về chính trị nhưng cũng đă sa ngă xuống tới độ thấp hèn nhất về đời sống luân lư của ông.

 

Để nắm được cái căng thẳng khốc liệt của cuộc đối thoại này, cần phải nhớ tới chân trời lịch sử và thần học của nó. Chân trời này được phác họa bởi biến cố yêu thương khi Thiên Chúa tuyển chọn Yến Duyên làm Dân của Ngài, bằng cách thiết lập với họ một Giao Ước và bảo đảm với họ được hưởng một mảnh đất và sự tự do. 

 

Đavít có liên hệ tới lịch sử về mối quan tâm liên tục của Thiên Chúa đối với Dân của Ngài. Ông đă được tuyển chọn trong một giai đoạn khó khăn và được đặ bên cạnh Vua Saolê, rồi trở thành vị thừa kế của vua. Ư định của Thiên Chúa cũng quan tâm tới gịng dơi có liên hệ với dự án thiên sai của ông, một dự án được hoàn toàn nên trọn nơi Chúa Kitô là “Con vua Đavít”.

 

Như thế h́nh ảnh về Đavít là một h́nh ảnh có tầm vóc quan trọng cả về lịch sử lẫn tôn giáo. Việc ngài sa ngă một cách đê hèn thậm chí tương phản một cách nghiệt ngă với h́nh ảnh ấy. Bị đam mê mù quáng trước Bethsheba, ngài đă giật lấy nàng từ tay chồng của bà, một trong những chiến binh trung thành nhất của ngài, đoạn đang tâm truyền sát hại ông. Đây là một điều làm cho con người cảm thấy rùng ḿnh: làm thế nào mà một con người được Thiên Chúa tuyển chọn lại sa ngă quá sâu nặng như thế chứ?

 

Con người thực sự vừa cao cả vừa yếu hèn: họ cao cả v́ họ mang nơi bản thân ḿnh h́nh ảnh Thiên Chúa và là đối tượng của t́nh yêu Thiên Chúa; họ yếu hèn v́ họ có thể lạm dụng tự do của ḿnh vốn là một đại đặc ân họ được ban cho, để đi đến chỗ ngang nhiên chống lại Đấng Hóa Công.

 

Bản án của Thiên Chúa giáng xuống trên Đavít, được Nathan tuyên bố, đă làm sáng tỏ những tầng lớp sâu thẳm của lương tâm là nơi quân quốc, quyền lực và dư luận chẳng có nghĩa ǵ, mà là nơi chỉ có một ḿnh con người với chính Thiên Chúa mà thôi.

 

Vua là con người ấy” là những lời đă đóng đinh Đavít về những trách nhiệm của ngài. Hết sức xúc động trước những lời này, vị vua này thành tâm thống hối và van xin ơn tha thứ. Đó là đường lối hoán cải.

 

Hôm nay, chính Thánh Phanxicô mời gọi chúng ta hăy thực hiện cuộc hành tŕnh này cùng với Đavít. Từ những ǵ được các tác giả kể về vị Thánh này vào những năm tháng trẻ trung của ngài th́ không có ǵ khiến chúng ta nghĩ về những hành động trầm trọng như của vị Vua Yến Duyên xưa vấp phạm cả. Tuy nhiên, trong tập Chúc Thư được ngài gom góp trong những tháng cuối đời của ḿnh, chính Thánh Phanxicô đă coi 25 năm đầu tiên của đời sống ngài như là một thời gian ngài “đă sống trong tội lỗi” (cf. Testament 1).

 

Căn cứ vào những bộc lộ cá biệt của tội lỗi, ngài đă cho tội lỗi như là việc chăm lo cả đời sống của ḿnh cho bản thân ḿnh, bằng việc theo đuổi những mơ tưởng viễn vông vinh quang trần thế.

 

Trong lúc ngài là “vua của các loài hoang thú” nơi thành phần trẻ trung ở Assisi (cf. 2 Cel I, 3, 7), không phải là ngài không có tính cách quảng đại bột phát đâu. Thế nhưng, điều này vẫn c̣n xa vời với t́nh yêu Kitô Giáo là thứ t́nh yêu trao ban cho người khác cách dứt khoát không ngại ngần.

 

Như chính ngài đă nhắc lại là ngài đă cảm thấy xót xa khi thấy những người cùi hủi. Tội lỗi đă ngăn cản ngài thắng vượt cái ghê tởm về thể lư của ngài để nh́n thấy họ như là rất nhiều người anh chị em cần được yêu thương. Việc hoán cải đă dẫn ngài đến chỗ tỏ cho họ thấy t́nh thương và đồng thời ngài cũng chiếm được t́nh thương nữa.

 

Việc phục vụ những người cùi hủi, thậm chí cho đến độ hôn họ, không phải chỉ là một cử chỉ nhân ái, một việc hoán cải “có tính cách xă hội”, có thể nói như thế, mà là một cảm nghiệm thực sự có tính cách đạo nghĩa được khơi động bởi ân sủng và t́nh yêu Thiên Chúa: ngài nói “Chính Chúa đă dẫn tôi đến giữa họ” (Test. 2). Chính vào lúc bấy giờ mà những ǵ có vẻ tởm gớm đă được biến thành “ngọt ngào nơi linh hồn và thân xác (của ngài)” (Test. 3).

 

Phải, anh chị em thân mến, việc hoán cải về với yêu thương nghĩa là vượt từ cái ghê tởm tới “cái ngọt ngào”, từ sầu thương tới niềm vui chân thực. Con người thực sự là ḿnh và hoàn toàn viên trọn bản thân ḿnh cho đến độ họ sống với Thiên Chúa và bởi Thiên Chúa, khi họ nhận biết Ngài và yêu mến Ngài nơi anh chị em ḿnh.

 

Một khía cạnh khác trong cuộc hành tŕnh hoán cải xuất phát từ đoạn Thư gửi Giáo Đoàn Galata. Nó cho chúng ta thấy một nhân vật hoán cải cả thể nữa là Tông Đồ Phaolô. Vấn đề bàn căi đang xẩy ra trong cộng đồng c̣n sơ khai này là bối cảnh trực tiếp của những lời ngài nói: trong cuộc tranh căi này, nhiều Kitô hữu xuất thân từ Do Thái Giáo có khuynh hướng liên kết ơn cứu độ với việc làm trọn những đ̣i hỏi của Lề Luật cũ, như thế là làm cho tính cách mới mẻ của Chúa Kitô và tính cách đại đồng nơi sứ điệp của Người trở thành vô bổ.

 

Thánh Phaolô đă tỏ ra là một chứng nhân và là một quán quân về ân sủng. Trên đường đến Damasco, dung nhan rạng ngời và giọng nói mạnh mẽ của Chúa Kitô đă quật ngài ngă xuống khỏi ḷng nhiệt thành hung dữ của một kẻ bách hại như ngài, và đă thắp lên trong ngài một n hiệt t́nh mới của Đấng Tử Giá, Đấng ḥa giải nơi Thánh Giá của ḿnh những ai gần cũng như xa (x Eph 2:11-22).

 

Thánh Phaolô đă nhận ra rằng nơi Chúa Kitô toàn thể lề luật được nên trọn và những ai gắn bó với Chúa Kitô th́ liên kết với Người và làm trọn lề luật. Việc mang Chúa Kitô, và với Chúa Kitô mang vị Thiên Chúa duy nhất đến cho tất cả mọi dân tộc đă trở thành sứ vụ của ngài. Chúa Kitô “là ḥa b́nh của chúng ta, Đấng đă làm cho cả hai chúng ta thành một, và đă phá hủy bức tường hận thù chia rẽ” (Eph 2:14).

 

Đồng thời, việc tuyên xưng rất cá nhân của Thánh Phaolô cũng thể hiện yếu tính chung của đời sống Kitô Giáo nữa: “Sự sống giờ đây tôi đang sống trong xác thịt là tôi sống theo niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đă yêu thương tôi và hiến ḿnh cho tôi” (Gal 2:20b). Và làm sao người ta có thể đáp lại th́ yêu thương này nếu không ôm lấy Chúa Kitô Tử Giá cho đến độ sống chính sự sống của Người? “Tôi đă bị đóng đanh với Chúa Kitô; không phải là tôi sống nữa, mà là Chúa Kitô sống trong tôi” (Gal 2:20a).

 

Khi nói về việc tử giá với Chúa Kitô, Thánh Phaolô chẳng những cố ư nói tới việc ngài tái sinh nơi Phép Rửa, mà c̣n tới cả cuộc đời phụng sự Chúa Kitô của ngài nữa. Sự nối kết với cuộc đời tông đồ của ngài rơ ràng được bộc lộ nơi những lời sau cùng của ngài về việc ngài bênh vực quyền tự do của Kitô hữu nơi cuối Bức Thư gửi Giáo Đoàn Galata: “Bởi thế, đừng có ai gây phiền toái cho tôi; v́ tôi mang trên thân xác của tôi những dấu tích của Chúa Giêsu” (6:17).

 

Đó là lần đầu tiên trong lịch sử Kitô Giáo xuất hiện những lời “các dấu tích của Chúa Giêsu” (stigmata). Trong việc tranh luận về cách thức đúng đắn trong việc thấy và sống Phúc Âm, th́ cuối cùng vấn đề không phải là những thứ lập luận định đoạt cho tư tưởng của chúng ta: chính thực tại của đời sống mới là cái quyết định, đó là mối hiệp thông sống động và chịu đựng với Chúa Giêsu, chẳng những nơi tư tưởng hay lời nói mà c̣n nơi cả thẳm cung nơi cuộc đời của chúng ta, bao gồm cả thể xác, cả xác thịt nữa.

 

Những bầm dập Vị Tông Đồ này phải chịu trong lịch sử khổ nạn lâu dài của ngài là chứng từ cho việc hiện diện của Thập Giá Chúa Giêsu nơi thân xác của Thánh Phaolô; chúng là những dấu tích của Người. Bởi thế, người ta có thể nói rằng không phải là việc cắt b́ cứu độ: những dấu tích ấy là thành quả của Phép Rửa, là biểu hiện  của việc ngài chết với Chúa Giêsu, từ ngày này sang ngày khác, là dấu hiệu chắc chắn ngài trở thành một tạo vật mới (x Gal 6:15).

 

Hơn nữa, khi sử dụng chữ “các dấu tích”, Thánh Phaolô cố ư nói tới việc thực hành xa xưa của đóng nhăn thà nh phần nô lệ theo những dấu hiệu của chủ họ. Bởi vậy, người tôi tớ được “đánh dấu” như là tài sản của chủ nhân và ở dưới quyền bảo vệ của ông. Dấu hiệu Thập Giá, được in ấn nơi da thịt của Thánh Phaolô qua một cuộc khổ đau dai dẳng, đă là niềm hănh diện của ngài. Nó hợp pháp hóa ngài như là một người tôi tớ đích thực của Chúa Giêsu, được t́nh yêu của Chúa bảo vệ.

 

Các bạn thân mến, hôm nay đây Thánh Phanxicô Assisi làm sống lại tất cả những lời lẽ này của Thánh Phaolô, cùng với quyền năng chứng từ của ngài. Từ khi những gương mặt của các kẻ cùi hủi, được yêu thương bởi t́nh yêu Thiên Chúa, làm cho ngài hiểu được một cách nào đó mầu nhiệm Kenosis (x Phil 2:7) – mầu nhiệm Thiên Chúa hạ ḿnh xuống nơi xác thịt của Con Người -, từ lúc tiếng của Cây Thập Giá ở San Damiano gợi lên trong ḷng ngài chương tŕnh cho cuộc đời của ngài, “Phanxicô, hăy đi sửa chữa nhà của Ta” (2 Cel I, 6, 10), th́ cuộc hành tŕnh của ngài chính là hằng ngày cố gắng mặc lấy Chúa Kitô.

 

Ngài đă phải ḷng Chúa Kitô. Những thương tích của Đấng Tử Giá đă thương con tim của ngài trước khi để lại dấu tích nơi thân thể của ngài ở Mount La Verna. Ngài thực sự có thể nói với Thánh Phaolô rằng: “Không phải là tôi sống, nhưng là Chúa Kitô sống trong tôi”.

 

Như thế là chúng ta tiến tới tâm điểm phúc âm của Lời Chúa hôm nay. Chính Chúa Giêsu, trong đoạn Phúc Âm Thánh Luca vừa được công bố, đă giải thích cho chúng ta về đường lối hoán cải đích thực, chỉ cho chúng ta một mô phạm là người đàn bà tội lỗi được t́nh yêu cứu vớt. Cần phải nhận thấy rằng người phụ nữ này đă rất táo bạo.

 

Cách thức được chị ta sử dụng để đến trước Chúa Giêsu, bằng việc rửa chân cho Người bằng nước mắt và lau khô bằng tóc của ḿnh, hơn chân và xức dầu thơm, là cách thức được thực hiện làm bàng hoàng những ai nh́n thành phần ở t́nh trạng của chị bằng con mắt nghiêm khắc của một vị thẩm phán.

 

Đàng khác, cái gây xúc động ở đây là tính cách em dịu Chúa Giêsu tỏ ra với chị phụ nữ này, một con người bị rất nhiều người khai thác và lên án. Nơi Chúa Giêsu, cuối cùng chị đă t́m thấy được một đôi mắt tinh tuyền, một con tim có thể yêu thương mà không biết khai thác. Nơi ánh mắt và con tim của Chúa Giêsu, chị đă nhận được mạc khải của vị Thiên Chúa là T́nh Yêu!

 

Để khỏi hiểu lầm, cần phải lưu ư là t́nh thương của Chúa Giêsu không được thể hiện bằng việc đóng ngoặc lề luật luân lư. Đối với Chúa Giêsu, tốt là tốt và xấu là xấu. T́nh thương không làm thay đổi những ư nghĩa của tội lỗi nhưng thiêu hủy nó trong ngọn lửa yêu thương. 

 

Hiệu quả thanh tẩy và chữa lành này đạt được nếu nơi con người có một t́nh yêu tươn g ứng bao gồm việc nh́n nhận lề luật Thiên Chúa, chân thành hối cải và quyết chí bắt đầu lại một cuộc sống mới.

 

Người phụ nữ trong Phúc Âm đă được thứ tha nhiều v́ chị đă yêu nhiều. Nơi Chúa Giêsu, Thiên Chúa đă đến để ban tặng t́nh yêu cho chúng ta và muốn t́nh yêu đáp trả của chúng ta.

 

Anh chị em thân mến, đời sống của Thánh Phanxicô hoán cải là ǵ nếu không phải là một tác động mến yêu cao cả? Điều này được tỏ hiện nơi những lời nguyện cầu sốt sắng của ngài, phong phú tính cách chiêm niệm và chúc tụng, nơi việc ngài âu yếm  ôm lấy Con Trẻ Thần Linh ở Greccio, nơi việc ngài chiêm niệm về Cuộc Khổ Nạn ở La Verna, nơi việc ngài sống “theo h́nh thức của Phúc Âm Thánh” (2 Test. 14), nơi việc ngài chọn nghèo khổ và việc ngài t́m cầu Chúa Kitô nơi gương mặt của thành phần nghèo khổ.

 

Đó là việc ngài hoán cải về với Chúa Kitô, cho tới độ ngài đă được “biến đổi” trong Người, hoàn toàn trở nên h́nh ảnh của Người; và điều này cho thấy lối sống mẫu mực của ngài đă làm cho ngài trở thành rất tân tiến trước mắt chúng ta, ngay cả so sánh với những vấn đề trọng đại trong thời đại của chúng ta đây, như vấn đề t́m kiếm ḥa b́nh, vấn đề bảo toàn thiên nhiên, vấn đề cổ vơ đối thoại giữa tất cả mọi dân tộc. Thánh Phanxicô quả thực là một bậc thày trong những vấn đề này. Tuy nhiên, ngài được như vậy là nhờ bắt đầu từ Chúa Kitô.

 

Thật vậy, Chúa Kitô là “ḥa b́nh của chúng ta” (x Eph 2:14). Chúa Kitô là chính nguyên lư của vũ trụ, v́ nhờ Người mà tất cả mọi sự được tạo thành (x Jn 1:3). Chúa Kitô là sự thật thần linh, là “Logos - Lời” hằng hữu, nơi Người, trong thời gian, “dia-logos – đối thoại” có được một nền tảng tối hậu. Thánh Phanxicô thật sự hiện thực chân lư “Kitô học” này, một chân lư là nguồn gốc của việc con n gười hiện hữu, của vũ trụ và lịch sử.

 

Tôi không thể quên được trong bối cảnh hôm nay sáng kiến của Đức Gioan Phaolô II, vị Tiền Nhiệm đáng kính nhớ của tôi, vị mà vào năm 1986 đă muốn qui tụ lại nơi đây một Cuộc Gặp Gỡ Nguyện Cầu cho Ḥa B́nh bao gồm các vị đại diện các giáo phái Kitô Giáo cũng như các tôn giáo khác nhau trên thế giới.

 

Sáng kiến này là một trực giác thức thời và là một thời điểm ân sủng, như tôi đă nói tới mấy tháng trước đây trong Bức Thư gửi cho vị Giám Mục của Tỉnh này nhân dịp 20 năm của biến cố ấy. Việc quyết định chọn cử hành cuộc gặp gỡ này ở Assisi thực ra đă được tác động bởi chứng từ của Thánh Phanxicô là một con người của ḥa b́nh, vị mà rất nhiều người, kể cả từ các chủ trương văn hóa và tôn giáo khác, cũng ngưỡng mộ.

 

Đồng thời, chiều hướng về “Poverello” của sáng kiến này cũng đă là một bảo đảm cho tính chất chân thực của Kitô Giáo, v́ đời sống và sứ điệp của ngài rất ư là tỏ tường, căn cứ vào việc Chúa Kitô loại trừ bất cứ khuynh hướng nào dửng dưng về tôn giáo không muốn có liên hệ ǵ tới vấn đề đối thoại liên tôn chân chính.

 

“Tinh thần Assisi”, một tinh thần đă tiếp tục lan truyền khắp thế giới từ biến cố này, chống lại tinh thần bạo động và lạm dụng tôn giáo như b́nh phong cho việc bạo động. Assisi nói với chúng ta rằng sự trung thành với niềm xác tín tôn giáo của ḿnh, nhất là trung thành với Chúa Kitô Tử Giá và Phục Sinh, không được thể hiện ở việc bạo động và bất khoan dung, mà là nơi việc chân thành tôn trọng kẻ khác, nơi việc đối thoại, nơi việc truyền đạt những lời kêu gọi tự do và lư lẽ cũng như nơi việc dấn thân cho ḥa b́nh và ḥa giải.

 

Việc thiếu dung ḥa giữa sự chấp nhận, đối thoại và tôn trọng đối với tất cả mọi người, với niềm tin tưởng vững vàng mà hết mọi Kitô hữu, như vị Thánh của Thành Assis này, buộc phải duy tŕ, trong vấn đề loan truyền Chúa Kitô là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống của con người (x Jn 14:6), Đấng Cứu Độ duy nhất của Thế Giới, th́ chẳng phải là thái độ truyền bá phúc âm hóa hay thái độ của Thánh Phanxicô.

 

Chớ ǵ Thánh Phanxicô Assisi xin ơn hoán cải đích thực và trọn vẹn đối với t́nh yêu của Chúa Kitô cho Giáo Hội riêng này, cho c hư Giáo Hội ở Umbria, cho toàn thể Giáo Hội ở Ư quốc nhận ngài làm Quan Thày cùng với Thánh Catarina Sienna, cũng như cho nhiều dân tộc trên thế giới hướng về ngài.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2007/documents/hf_ben-xvi_hom_20070617_assisi_en.html

 

 

TOP

 

 

 "Thánh Âu Quốc Tinh gắn mắt ḿnh vào mầu nhiệm này và trong đó ngài đă t́m thấy Chân Lư mà ngài rất thiết tha kiếm t́m"

 

ĐTC Biển Đức XVI: Bài Giảng cho Giờ Kinh Tối về Thánh Âu Quốc Tinh tại Đền Thờ Thánh Pietro ở Ciel d’Oro, Pavia, Chúa Nhật III Phục Sinh, 22/4/2007

 

Sau khi rời đại học này, ngài đến đền thờ San Pietro ở Ciel d’Oro để nguyện kinh Tối. Trước khi tiến vào đền thờ, ngài đă dừng chân ở ngoài hàng hiên của nữ tu viện thánh Âu Quốc Tinh để làm phép viên đá đầu tiên cho trung tâm văn hóa mới của ḍng Âu Quốc Tinh là trung tâm được hội ḍng này có ư dâng kính ngài.

 

Vào bên trong đền thờ, ngài dâng hương cái lư đựng hài cốt của Thánh Âu Quốc Tinh, và sau lời chào mừng của ĐGM Giovanni Giudici giáo phận Pavia và Cha Robert Francis Prevost, bề trên tổng quyền của ḍng này, ngài đă   giảng như sau:

 

Anh Chị Em thân mến,

 

Với biến cố cuối cùng này, việc tôi Viếng Thăm Pavia mặc một h́nh thức hành hương. Đó là một h́nh thức tôi đă nghĩ đến nó từ ban đầu, khi muốn đến đây để ton kính di hài của Thánh Âu Quốc Tinh, để bày tỏ niềm kính tôn của toàn thể Giáo Hội Công Giáo đối với một trong những “vị giáo phụ” vĩ đại nhất của ḿnh, cũng như ḷng sùng một cá nhân của tôi cùng với ḷng biết ơn đối với vị đă đóng một vai tṛ quan trọng trong đời sống của tôi là một thần học gia và là một vị Mục Tử, nhưng tôi có thể nói thậm chí c̣n hơn thế nữa là một con người và là vị linh mục.

 

Tôi xin thân ái lập lại lời chào của tôi đối với Đức Giám Mục Giovanni Giudici và tôi đặc biệt gửi lời chào đến Cha Robert Francis Prevost, Bề Trên Tổng Quyền Ḍng Thánh Âu Quốc Tinh, đến Cha Giám Tỉnh và toàn thể cộng đồng Âu Quốc Tinh. Tôi hân hoan chào tất cả anh chị em, các vị linh mục, tu sĩ nam nữ, thành phần giáo dân sống đời tận hiến và chủng sinh.

 

Đấng quan pḥng đă định liệu cho cuộc hành tŕnh của tôi mang tính chất của một Cuộc Viếng Thăm Mục Vụ thực sự và thích đáng, và v́ thế, trong việc dừng chân nguyện cầu ở ngôi mộ của vị Tiến Sĩ về ân sủngDoctor gratiae đây, tôi muốn nói lên một sứ điệp quan trọng cho sự tiến bộ của Giáo Hội. Sứ điệp này đến với chúng ta từ việc gặp gỡ Lời Chúa và từ kinh nghiệm bản thân về vị đại Giám Mục thành Hippo. 

 

Chúng ta đă nghe thấy Bài Đọc thánh kinh ngắn cho Giờ Kinh Tối chính ngày Chúa Nhật Thứ Ba Mùa Phục Sinh (Heb 10:12-14). Bức Thư gửi giáo đoàn Do Thái này đă đặt chúng ta trước Chúa Kitô, vị Thượng Tế hằng hữu, được nâng lên tới vinh hiển của Cha sau khi Người hiến thân ḿnh như một hy tế trọn hảo duy nhất của Tân Ước nhờ đó công cuộc Cứu Chuộc đă được nên trọn.

 

Thánh Âu Quốc Tinh gắn mắt ḿnh vào mầu nhiệm này và trong đó ngài đă t́m thấy Chân Lư mà ngài rất thiết tha kiếm t́m. Chúa Giêsu Kitô, Lời nhập thể Hy Tế và Phục Sinh, là Dung Nhan của vị Thiên Chúa Yêu Thương đối với tất cả mọi người khi họ hành tŕnh tiến  qua thời gian về cơi vĩnh hằng.

 

Tông Đồ Gioan đă viết trong một đoạn có thể được coi là tương đương với đoạn vừa được loan báo trong Bức Thư gửi giáo đoàn Do Thái: “T́nh yêu là ở chỗ này, đó là không phải chúng ta yêu Thiên Chúa trước mà là Ngài đă yêu thương chúng ta trước và sai Con Ngài đến để đền bù tội lỗi của chúng ta” (1Jn 4:10). Đó là tâm điểm của Phúc Âm, là cốt lơi của Kitô Giáo. Ánh sáng của t́nh yêu này đă mở mắt của Thánh Âu Quốc Tinh ra và đă đưa ngài đến chỗ hội ngộ ‘vẻ đẹp luôn cổ và tân’ mà nhờ đó tâm can con người mới t́m thấy b́nh an.

 

Anh chị em thân mến, ở đây, trước mộ của Thánh Âu Quốc Tinh, một lần nữa, tôi thực sự muốn kư thác cho Giáo Hội và cho Thế Giới bức Thông Điệp đầu tiên  của tôi, một thông điệp thực sự chất chứa sứ điệp chính yếu này của Phúc Âm: sứ điệp ‘Thiên Chúa là t́nh yêu’ (x 1Jn 4:8,16). Thông Điệp này, đặc biệt là Phần 1, là một thông điệp nặng nợ tư tưởng của Thánh Âu Quốc Tinh là vị đă phải ḷng T́nh Yêu Thiên Chúa và ca ngợi t́nh yêu ấy, suy tư về nó, giảng dạy về nó trong tất cả mọi bản văn của ḿnh và nhất là đă làm chứng về nó nơi thừa tác mục vụ của ḿnh.

 

Sau giáo huấn của Công Đồng Chung Vaticanô II cũng như của các vị tiền nhiệm khá kính của tôi, là Gioan XXIII, Phaolô VI, Gioan Phaolô I và Gioan Phaolô II, tôi xác tín rằng nhân loại hiện đại cần đến sứ điệp thiết yếu này, được nhập thể  nơi Chúa Giêsu Kitô: Thiên Chúa là t́nh yêu. Từ đó mà hết mọi sự cần phải được bắt đầu và từ đó hết mọi sự cần phải theo đuổi, tất cả mọi hoạt động mục vụ cũng như tất cả mọi luận án thần học. 

 

Như Thánh Phaolô đă nói, “nếu tôi … không có t́nh yêu th́ chẳng có ǵ cả” (x 1Cor 13:3). Tất cả mọi đoàn sủng đều mất đi ư nghĩa và giá trị nếu thiếu yêu thương, trái lại, nhờ đó mà tất cả đều ganh đua xây dựng Nhiệm Thể của Chúa Kitô.

 

Bởi thế đó là sứ điệp mà cho tới ngày nay Thánh Âu Quốc Tinh vẫn c̣n lập lại cho toàn thể Giáo Hội, và đặc biệt là cho Cộng Đồng giáo phận này là nơi sùng mộ bảo tŕ di tích của ngài. T́nh yêu là tâm điểm của đời sống Giáo Hội và hoạt động mục vụ của Giáo Hội. Chúng ta đă nghe nó sáng nay trong cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và Simon  Phêrô: “Con có yêu mến Thày hay chăng?... Hăy chăn chiên của Thày” (x Jn 21:5-17).

 

“Chớ ǵ vai tṛ làm phần tử với Giáo Hội của anh chị em và việc tông đồ của anh chị em luôn là những ǵ nổi bật cho thấy không bị vướng mắc  bất cứ một thứ tư lợi và dứt khoát gắn bó với t́nh yêu Chúa Kitô.

 

Chỉ có những ai cảm nghiệm riêng tư về t́nh yêu của Chúa mới có thể thực hiện công việc hướng dẫn và d́u dắt kẻ khác trên con đường theo Chúa Kitô mà thôi. Tại học đường của Thánh Âu Quốc Tinh, tôi lập lại sự thật này cùng anh chị em với tư cách là vị Giám Mục Rôma, trong khi đó, với tư cách là Kitô hữu, tôi cùng với anh chị em đón nhận nó bằng một niềm vui hơn bao giờ hết.

 

Vấn đề theo Chúa Kitô trước hết là vấn đề yêu mến. Anh chị em thân mến, vấn đề làm phần tử trong Giáo Hội và việc tông đồ của anh chị em bao giờ cũng phải chiếu tỏa ra không dính bén ǵ với bất cứ tư ích này cũng như bằng việc dứt khoát gắn bó với t́nh yêu của Chúa Kitô.  

 

Giới trẻ đặc biệt cần lănh nhận việc loan truyền tự do và niềm vui này, mà cái bí mật của nó là sống trong Chúa Kitô. Người là đáp ứng chân thực nhất cho các niềm mong đợi của tâm can họ, thành phần đang trăn trở bởi nhiều vấn đề mà họ ấp ủ trong ḷng.

 

Chỉ ở nơi Người, Lời Cha phán cùng chúng ta, mới có sự ḥa hợp giữa chân lư và t́nh yêu là những ǵ chất chứa ư nghĩa trọn vẹn của đời sống. Thánh Âu Quốc Tinh đă sống nơi con người đầu tiên và đă khám phá ra chúng những vấn nạn được con người ấp ủ trong tâm can, và vận dụng khả năng của ḿnh trong việc hướng ḿnh về sự vô cùng của Thiên Chúa.

 

Theo chân Thánh Âu Quốc Tinh, cả anh chị em nữa cũng phải là một Giáo Hội thẳng thắn loan truyền ‘tin mừng’ về Chúa Kitô, loan truyền ư định của Người về đời sống, loan truyền sứ điệp ḥa giải và thứ tha của Người.

 

Tôi đă thấy rằng mục đích mục vụ trước hết của anh em là dẫn dân chúng tới chỗ trưởng thành về Kitô Giáo. Tôi cám ơn về điều ưu tiên được giành cho vấn đề đào luyện cá nhân này, v́ Giáo Hội không phải chỉ là một tổ chức thuần túy của những biến cố theo nhóm, hay ngược lại, cũng không phải là tổng hợp các cá nhân sống đạo giáo tư riêng. Giáo Hội là một cộng đồng con người tin tưởng vào Vị Thiên Chúa của Chúa Giêsu Kitô và dấn thân sống trên  thế giới huấn lệnh yêu thương được Người để lại cho chúng ta.

 

Như thế, Giáo Hội là một cộng đồng, nơi con người được dạy dỗ yêu thương, và vấn đề giáo dục này xẩy ra qua các biến cố trong đời sống. Đó là những ǵ xẩy ra cho Thánh Phêrô, cho Thánh Âu Quốc Tinh cũng như cho tất cả các thánh. Cho cả chúng ta nữa. 

 

Vấn đề trưởng thành cá nhân, được làm dậy lên bởi đức ái của giáo hội, cũng làm cho nó có thể gia tăng về nhận thức cộng đồng, tức là về khả năng đọc và giải thích lúc hiện tại theo ánh sáng Phúc Âm, để đáp ứng tiếng gọi của Chúa. Tôi khuyến khích anh chị em hăy tiến bộ nơi chứng từ cá nhân và cộng đồng của anh chị em đối với t́nh yêu chủ động.

 

Việc phục vụ của đức ái, một đức ai anh chị em có lư để quan niệm bao giờ cũng liên kết với việc loan truyền Lời Chúa và việc cử hành các Bí Tích, kêu gọi anh chị em và đồng thời thúc đẩy anh chị em hăy chú tâm tới các nhu cầu về vật chất và thiêng liêng của anh chị em ḿnh.

 

Tôi khuyến khích anh chị em hăy theo đuổi ‘một mức độ cao’ cuộc sống Kitô hữu là cuộc sống coi đức bác ái như mối giây toàn thiện, và là một đời sống cũng cần phải được chuyển dịch thành một lối sống luân lư được Phúc Âm tác động, một lối sống không thể tránh được việc bơi ngược gịng với những tiêu chuẩn của thế gian, song bao giờ cũng là chứng từ cách khiêm tốn, tôn trọng và thân ái.

 

Anh chị em thân mến, đối với tôi đó là một quà tặng, thực sự là một quà tặng, để chia sẻ với anh chị em vào lúc này đây tại mộ của Thánh Âu Quốc Tinh. Sự hiện diện của anh chị em đă làm cho cuộc hành hương của tôi có một ư nghĩa cụ thể hơn về Giáo Hội. Chúng ta hăy bắt đầu từ đây, mang trong tâm can ḿnh niềm vui được làm môn đệ của T́nh Yêu.

 

Chớ ǵ Trinh Nữ Maria, Vị tôi xin phó thác cho việc chở che của Mẹ từng người trong anh chị em và những người thân yêu của anh chị em, luôn hỗ trợ chúng ta, và tôi hết sức ưu ái ban Phép Lành Ṭa Thánh cho tất cả anh chị em.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2007/documents/hf_ben-xvi_hom_20070422_vespri-pavia_en.html

 

 

TOP

 

Lễ Ḿnh Máu Thánh Chúa Thứ Năm 7/6/2007

 

Vào lúc 7 giờ tối Thứ Năm 7/6/2007, Lễ Trọng Kính Ḿnh Máu Thánh Chúa Kitô, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đă cử hành Thánh Lễ ở quảng trường Đền Thờ Thánh Gioan Lateranô, sau đó ngài chủ sự cuộc kiệu Thánh Thể đến Đền Thờ Đức Bà Cả.

 

Anh Chị Em thân mến,

 

Chúng ta vừa xướng lên bài Ca Tiếp Liên: “Dogma datur christianis, / quod in carnem transit panis, / et vinum in sanguinem – Đây là sự thật mỗi Kitô hữu học biết, đó là Người biến bánh thành thịt của Người, rượu thành máu châu báu của Người”.

 

Hôm nay chúng ta hết sức hân hoan tái xác nhận niềm tin của chúng ta nơi Thánh Thể, một Mầu Nhiệm làm nên tâm điểm của Giáo Hội. Trong Tông Huấn mới đây Hậu Thượng Nghị Giám Mục Sacramentum Caritatis, tôi đă nhắc lại rằng Mầu Nhiệm Thánh Thể “là tặng ân Chúa Giêsu Kitô trao ban bản thân của Người, nhờ đó tỏ cho chúng ta thấy t́nh yêu vô cùng của Thiên Chúa đối với hết mọi con người nam nữ” (số 1).

 

Bởi thế, Corpus Christi là một lễ đặc thù và tạo nên một cuộc hội ngộ quan trọng giữa đức tin và sự chúc tụng đối với hết mọi cộng đồng Kitô hữu.  Lễ này đă được bắt nguồn trong một bối cảnh lịch sử và văn hóa đặc biệt. Lễ này hiện hữu với một mục đích chính yếu là để công khai tái xác nhận niềm tin của Dân Chúa vào Chúa Giêsu Kitô,  Đấng sống động và thực sự hiện diện nơi Bí Tích Thánh Thể. Đây là một lễ được thiết lập để công khai tôn thờ, ca ngợi và tạ ơn Chúa, Đấng tiếp tục “yêu thương chúng ta ‘cho đến cùng’, thậm chí cho đến độ hiến ḿnh máu của Người cho chúng ta” (Sacramentum Caritatis, n. 1).

 

Việc cử hành Thánh Thể tối hôm nay đưa chúng ta trở về với bầu không khí của ngày Thứ Năm Tuần  Thánh, ngày mà ở trên Căn Thượng Lầu, vào buối tối áp cuộc Khổ Nạn của ḿnh, Chúa Kitô đă thiết lập Bí Tích Thánh Thể Rất Thánh.

 

 “Lễ Ḿnh Máu Thánh Chúa Kitô là âm vang của mầu nhiệm Thứ Năm Tuần Thánh, hầu như là một tác động tuân  theo lời mời gọi của Chúa Giêsu trong việc ‘loan báo trên mái nhà’ những ǵ Người đă chia sẻ trong nơi kín đáo. Các Vị Tông Đồ đă lănh nhận tặng ân Thánh Thể từ Chúa trong mối thân t́nh của Bữa Tiệc Ly, thế nhưng, tặng ân này là để giành cho mọi người, cho toàn thế giới. Đó là lư do tại sao Thánh Thể cần phải được công khai loan báo và hiện lộ, để mọi người có dịp gặp gỡ ‘Chúa Giêsu đi ngang qua’, như đă xẩy ra ở các con đường xứ Galilêa, Samaria và Giuđêa; nhờ đó, mỗi người, khi lănh nhận, th́ được chữa lành và canh tân bởi quyền năng của t́nh Người yêu thương. Các bạn thân mến, đó là di sản vĩnh tồn và sống động được Chúa Giêsu để lại cho chúng ta trong Bí Tích Ḿnh Máu Thánh của Người. Đó là một gia sản cần phải luôn được nghĩ lại và tái diễn để, như Đức Giáo Hoàng Phaolô VI khả kính đă nói: “tính cách hiệu nghiệm vô tận (của tặng ân này) được thấm đậm vào hết mọi ngày trong cuộc sống hữu hạn của chúng ta” (cf. Insegnamenti, 25 May 1967, p. 779).

 

Cũng trong Tông Huấn Hậu Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới này, khi dẫn giải về lời than lên của vị linh mục sau khi truyền phép: “Chúng ta hăy loan truyền mầu nhiệm đức tin!”, tôi đă nhận định rằng qua những lời này, vị linh mục “loan báo mầu nhiệm đang được cử hành và bày tỏ sự ngỡ ngàng của ḿnh trước việc biến đổi thực sự bánh và rượu thành ḿnh và máu của Chúa Giêsu, một thực tại vượt trên tất cả những ǵ con người hiểu được” (số 6).

 

Chính v́ đó là một mầu nhiệm vượt trên tầm hiểu biết của chúng ta, mà chúng ta không cần phải lấy làm lạ lùng khi thấy ngày nay nhiều người cảm thấy khó chấp nhận sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong Thánh Thể. Không thể nào không xẩy ra như thế. Đó là những ǵ đă từng xẩy ra từ ngày ở trong hội đường Capernaum Chúa Giêsu công khai tuyên bố rằng Người đă đến để ban cho chúng ta máu thịt của Người làm của ăn của uống (x Jn 6:26-58).

 

Điều này đă trở thành những ǵ dường như “khó nghe”, làm cho nhiều môn đệ của Người rút lui khi nghe thấy thế. Bấy giờ, cũng như hiện nay, Thánh Thể vẫn là ‘một dấu hiệu xung khắc’, và Thánh Thể không thể nào khác đi được, v́ Vị Thiên Chúa hóa thành nhục thể và hy hiến Bản Thân Minh cho thế gian được sự sống đă khiến cho sự khôn ngoan của loài người bị khủng hoảng.

 

Tuy nhiên, bằng ḷng tin tưởng khiêm tốn, Giáo Hội đang sống đức tin  của Thánh Phêrô và của các vị Tông Đồ khác để cùng với các vị loan báo, và chúng ta tuyên xưng rằng: “Lạy Thày, chúng con c̣n biết theo ai? Chúa có những lời sự sống đời đời” (Jn 6:68). Cả chúng ta nữa, tối hôm nay chún g ta hăy lập lại việc tuyên xưng niềm tin của ḿnh nơi Chúa Kitô, Đấng đang sống động và hiện  diện  nơi Thánh Thể. Phải “đây là sự thật mỗi Kitô hữu học biết, đó là Người biến bánh thành thịt của Người, rượu thành máu châu báu của Người”.

 

Ở tột đỉnh của bài Ca Tiếp Liên này, chúng ta xướng lên rằng: "Ecce panis angelorum, / factus cibus viatorum: / vere panis filiorum" – Này là bánh của thiên thần được ban cho thành phần lữ hành đang phấn đấu; ḱa bánh từ trời của thành phần con cái”. Và nhờ ơn Chúa, chúng ta là thành phần con cái.

 

Thánh Thể là thứ dưỡng thực giành cho những ai lănh nhận Phép Rửa đă được giải phóng khỏi t́nh trạng làm tôi và trở thành con cái; Thánh Thể là lương thực bảo tŕ họ trong cuộc hành tŕnh dài xuất hành qua sa mạc của cuộc sống c on người.

 

Như manna đối với dân Yến Duyên, đối với hết mọi thế hệ Kitô hữu, Thánh Thể là lương thực bất khả thiếu để bảo tŕ họ khi họ vượt qua sa mạc của thế gian này, một thế gian bị cằn cỗi bởi những thể chế ư hệ và kinh tế không cổ vơ sự sống mà là chà đạp nó. Đó là một thế giới bị thống trị bởi lư lẽ của quyền lực và sở hữu hơn là bởi lư lẽ của phục vụ và yêu thương; một thế giới thường bị khống chế bởi nền văn hóa bạo động và chết chóc.

 

Thế nhưng, Chúa Giêsu đă đến gặp chúng ta và bảo đảm với chúng ta rằng: Chính Người là ‘bánh sự sống’ (Jn 6:35,48). Người đă lập lại điều này với chúng ta qua những lời của Câu Xướng Phúc Âm: “Tôi là bánh sự sống từ Trời, ai ăn bánh này th́ sẽ sống muôn đời” (x Jn 6:51). 

 

Trong đoạn Phúc Âm chúng ta vừa công bố, Thánh Luca, khi kể lại phép lạ hóa nhiều của 5 ổ bánh và 2 con cá được Chúa Giêsu dùng để nuôi đám đông “trong một nơi hoang vắng”, đă kết bằng những lời này: “Tất cả đều được ăn no nê” (x Lk 9:11-17).

 

Tôi muốn nhấn mạnh trước hết đến chi tiết “tất cả” này. Thật vậy, Chúa muốn hết mọi người được nuôi dưỡng bởi Thánh Thể, v́ Thánh Thể là để cho hết mọi người.

 

Nếu mối liên hệ chặt chẽ giữa Bữa Tiệc Ly và mầu nhiệm tử nạn của Chúa Giêsu trên cây Thập Giá được nhấn mạnh đến vào Hôm Thứ Năm Tuần Thánh th́ hôm nay, Lễ Corpus Christi, qua việc rước kiệu và đồng ḷng tôn thờ Thánh Thể, cũng chú ư tới sự kiện là Chúa Kitô đă tự hiến ḿnh cho toàn thể nhân loại. Việc Người băng ngang qua các nhà cửa và dọc theo các đường phố của thành phố chúng ta đây, đối với những ai đang sống ở đó, là một cống hiến của niềm vui, của sự sống đời đời, của b́nh an và yêu thương. 

 

Trong đoạn Phúc Âm này, yếu tố thứ hai khiến người ta chú ư đó là việc Chúa làm phép lạ chất chứa lời mời gọi rơ ràng ngỏ cùng mỗi người hăy thực hiện việc góp phần của riêng ḿnh. Năm con cá và hai ổ bánh tiêu biểu cho việc góp phần của chúng ta, ít ỏi nhưng cần thiết, được Người sử dụng để biến thành một tặng ân  yêu thương cho mọi người.

 

Tôi đă viết trong Tông Huấn được đề cập tới trên đây rằng: “Chúa Kitô ngày nay tiếp tục kêu gọi các môn đệ của ḿnh hăy đích thân tham gia” (số 88).

 

Bởi thế Thánh Thể là tiếng gọi thánh hóa và hiến  ḿnh cho người khác, v́ ‘mỗi người chúng ta thực sự được kêu gọi, cùng với Chúa Giêsu, trở nên tấm bánh được bẻ ra cho thế gian được sự sống’” (cùng nguồn vừa dẫn).

 

Đấng Cứu Thế của chúng ta đă ngỏ lời mời gọi đặc biệt cùng chúng ta, hỡi anh chị em ở Rôma thân mến, hăy qui tụ lại bên Thánh Thể ở quảng trường lịch sử này.

 

(ĐTC ngỏ lời chào mọi thành phần tín hữu tham dự)

 

Cuối cuộc cử hành Thánh Thể này chúng ta sẽ cùng nhau đi kiệu như thể mang Chúa Giêsu cách tượng trưng dọc theo các đường phố và qua những khu lân cận thành Rôma. Nhờ đó chúng ta có thể nói làm cho Người ch́m ngập vào đời sống hằng ngày của chúng ta, để Người có thể bước đi ở những nơi chúng ta tiến bước và sống ở những nơi chúng ta sống.

 

Thật vậy, chúng ta biết rằng, như Tông Đồ Phaolô đă nhắc nhở chúng ta trong thư gửi Côrintô, nơi mọi việc cử hành Thánh Thể, cũng như ở buổi Thánh Thể tối hôm nay, chúng ta “loan truyền việc Chúa chịu chết cho tới khi Người lại đến” (x 1Cor 11:26). Chúng ta đang bước đi trên những con đường thế gian, biết rằng Người ở gần bên chúng ta, hy vọng một ngày kia chúng ta thấy Người giáp diện trong cuộc hội ngộ tối hậu.

 

Trong khi chờ đợi, chúng ta hăy lắng nghe tiếng của Người lập lại, như chúng ta đọc thấy trong Sách Khải Huyền, “Này, Ta đang đứng ngoài cửa mà gơ; ai nghe thấy tiếng của Ta mà mở cửa th́ Ta sẽ đến với họ mà ăn uống với họ, để họ được ở với Ta” (3:20).

 

Lễ Corpus Christi muốn làm cho việc gơ cửa này của Chúa được nghe thấy, bất chấp cái cứng ḷng của việc nghe ngóng của nội tâm chúng ta. Chúa Giêsu gơ cửa ḷng của chúng ta và xin được vào chẳng những một khoảng ngày sống mà c̣n măi măi. Chúng ta hăy hân hoan nghênh đón Người, đồng thanh dâng lên Người lời cầu khấn của Phụng Vụ:

 

“Hỡi Mục Tử Nhân Lành là chính bánh ăn xin hăy săn sóc chúng con, / Ôi Giêsu, v́ yêu thương xin hăy làm bạn với chúng con … / Chúa là Đấng làm được và biết hết mọi sự, / Đấng ở trên trái đất này là lương thực tặng ban, / xin ban cho chúng con, mặc dù thấp hèn nhất, được cùng với các thánh nhân, ở nơi Chúa thiết đăi bữa tiệc thiên đ́nh / cho thành phần được thừa hưởng và thực khách”.

 

Amen!

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh

 

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2007/documents/hf_ben-xvi_hom_20070607_corpus-christi_en.html

 

TOP

 

Chúa Nhật II Phục Sinh 15/4/2007, Kính Ḷng Thương Xót Chúa - tạ ơn về biến cố sinh nhật thượng thọ bát tuần

 

Anh Chị Em thân mến,

 

Theo một truyền thống cổ xưa th́ Chúa Nhật này được gọi là ‘in Albis’. Vào ngày này, thành phần tân ṭng trong Lễ Vọng Phục Sinh vẫn mặc áo trắng, biểu hiệu cho ánh sáng Chúa ban cho họ nơi Phép Rửa. Sau đó họ sẽ cởi áo ấy ra nhưng sẽ đưa vào đời sống hằng ngày của họ ánh quang mới được truyền đạt cho họ.

 

Họ cần phải thận trọng giữ cho ngọn lửa chân thiện này cháy sáng được Chúa thắp lên trong họ, để mang đến cho thế giới này một tia sáng của ánh quang và thiện hảo của Thiên Chúa.

 

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă muốn ngày Chúa Nhật này được mừng như là ngày Lễ Kính Ḷng Thương Xót Chúa: nhờ chữ ‘t́nh thương’, ngài đă tóm gọn và dẫn giải một cách mới mẻ cho thời đại của chúng ta tất cả mầu nhiệm Cứu Chuộc. Ngài đă sống dưới hai chế độ độc tài, và qua việc ngài giao tiếp với cảnh nghèo khổ, thiếu thốn và bạo lực, ngài đă sâu xa cảm nghiệm thấy quyền lực tối tăm đe dọa thế giới của thời đại chúng ta.

 

Thế nhưng ngài đồng thời cũng cảm nghiệm mạnh mẽ về sự hiện diện của Thiên Chúa là Đấng chống lại tất cả mọi quyền lực này bằng quyền năng của Ngài, một quyền năng hoàn toàn khác hẳn và thần  linh: một quyền năng của ḷng xót thương. Chính t́nh thương đă kết thúc sự dữ. Bản tính đặc biệt của Thiên Chúa – sự thánh thiện của Ngài, quyền lực của chân lư và của t́nh yêu - được thể hiện nơi t́nh thương ấy.

 

Cách đây 2 năm, sau Kinh Tối mở màn cho Thánh Lễ này, Đức Gioan Phaolô II đă kết liễu cuộc đời trần thế của ngài. Chết đi, ngài đă đi vào ánh sáng của Ḷng Thương Xót Chúa, từ đó, vượt ra ngoài cơi chết và bắt đầu từ Thiên Chúa, giờ đây ngài nói với chúng ta một cách mới mẻ.

 

Ngài nói với chúng ta rằng hăy tin tưởng vào Ḷng Thương Xót Chúa! Hăy trở nên những con người nam nữ của t́nh Chúa xót thương mỗi ngày. T́nh thương là tấm áo ánh sáng Chúa ban cho chúng ta nơi Phép Rửa. Chúng ta không được để cho ánh sáng này tắt lịm đi; trái lại, nó cần phải gia tăng trong chúng ta hằng ngày, nhờ đó mang đến cho thế giới tin mừng của Thiên Chúa.

 

Trong những ngày được đặc biệt chiếu tỏa bởi ánh sáng của ḷng thương xót Chúa đây có một sự trùng hợp xẩy ra một cách ư nghĩa đối với tôi, ở chỗ tôi có thể nh́n lại 80 năm qua của cuộc đời.

 

(3 đoạn tiếp theo ngài dùng để chào mừng và cám ơn các vị chức sắc trong Giáo Hội, thành phần giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân, cũng như các nhân vật chính trị và ngoại giao đoàn, với các vị đại diện đại kết thuộc Chính Thống Giáo).

 

Chúng ta qui tụ lại đây để suy tư về việc hoàn trọn một thời đoạn dài đời sống của tôi. Dĩ nhiên là tự phụng vụ không được sử dụng để nói về ḿnh, về bản thân tôi; tuy nhiên, cuộc đời của mỗi người có thể giúo vào việc loan truyền ḷng thương xót Chúa.

 

Bài Thánh Vịnh 66[65]:16 nói rằng: ‘Hăy đến mà nghe, hỡi tất cả các người kính sợ Thiên Chúa, và tôi sẽ nói về những ǵ Ngài đă làm cho tôi’. Tôi đă luôn coi là một đại hồng ân của Ḷng Thương Xót Chúa có thể nói là cùng một ngày được sinh vào trần gian và được tái sinh nơi dấu hiệu mở màn cho Lễ Phục Sinh. Bởi thế tôi đă được sinh ra như là một phần tử của gia đ́nh tôi và của đại gia đ́nh Thiên Chúa cùng một ngày.

 

Phải, tôi cảm tạ Chúa v́ tôi đă có thể hiểu cảm nghiệm được ‘gia đ́nh’ nghĩa là ǵ; tôi đă có thể cảm nghiệm được ‘vai tṛ làm cha’ nghĩa là ǵ, nhờ đó những lời về Thiên Chúa là Cha đă trở nên khả thấu trong tôi; theo cảm nghiệm của loài người, tôi cảm thấy được Người Cha cao cả từ ái ở trên Trời này.

 

Chúng ta có trách nhiệm đối với Ngài, đồng thời Ngài ban cho chúng ta ḷng tin tưởng để t́nh thương và ḷng lành, được Ngài sử dụng để thậm chí chấp nhận cả nỗi yếu hèn của chúng ta và nâng đỡ chúng ta, luôn chiếu tỏa nơi đức công minh của Ngài, cũng như để chúng ta dần dần có thể biết tiến bước một cách chính trực.

 

Tôi tạ ơn Chúa v́ cho tôi có thể cảm nghiệm được sâu xa ư nghĩa của sự tốt lành từ mẫu, một sự tốt lành từng rộng mở đối với bất cứ ai t́m kiếm nơi nương náu và chính nhờ đó cống hiến tự do cho tôi.

 

Tôi tạ ơn Thiên Chúa cho tôi một người chị và một người anh, những người anh chị gần gũi giúp đỡ tôi một cách trung thành suốt cuộc sống của tôi. Tôi cám ơn Chúa về những đồng đội mà tôi đă gặp gỡ trên đường đời cũng như về những vị cố vấn và bạn hữu ngài đă gửi đến cho tôi.

 

Tôi đặc biệt nhớ ơn Ngài, v́ ngày từ ngày đầu tiên trong cuộc đời, tôi đă có thể gia nhập và phát triển trong một đại cộng đồng tín hữu, là nơi những chướng ngại giữa sự sống và sự chết, giữa Trời và đất, đang vụt mở. Tôi tạ ơn v́ có thể học biết được nhiều điều, kín múc được từ m ột sự khôn ngoan của cộng đồng này chẳng những bao gồm các kinh nghiệm phàm nhân từ thời xa xưa: một thứ khôn ngoan của cộng đồng chẳng những là khôn ngoan nhân trần; qua đó chính khôn ngoan của Thiên Chúa – khôn ngoan hằng hữu – vươn tới chúng ta.

Trong Bài Đọc Thứ Nhất cho Chúa Nhật này, chúng ta được cho biết là vào lúc b́nh minh của Giáo Hội mới sinh, dân  chúng thường mang thành phần bệnh nhân đến  nơi công cộng để khi Thánh Phêrô đi ngang qua th́ bóng của ngài phủ xuống trên họ: họ cho rằng có một quyền lực chữa lành xuất phát từ bóng h́nh ấy. Thật vậy, bóng h́nh này được tỏa ra nhờ ánh sáng của Chúa Kitô, bởi đó, tự ḿnh, nó vẫn là một cái ǵ đó thuộc quyền năng của sự thiện hảo thần linh.

Ngay từ đầu, qua cộng đồng của Giáo Hội Công Giáo, bóng h́nh của Thánh Phêrô đă bao phủ lấy cuộc sống của tôi và tôi đă học được rằng đó là một bóng h́nh tốt lành – một bóng h́nh chữa lành thực sự là v́ nó xuất phát từ chính Chúa Kitô.

Phêrô là một con người với tất cả những yếu đuối phàm nhân, thế nhưng, trước hết ngài là một con người thiết tha tin tưởng nơi Chúa Kitô, đầy ḷng mến yêu Người. Chính nhờ niềm tin tưởng và ḷng yêu mến này của ngài mà quyền lực chữa lành của Chúa Kitô và quyền lực liên kết của ngài đă vươn tới nhân loại, cho dù nó có bị pha trộn với tất cả những thiếu sót của Thánh Phêrô. Chúng ta hăy t́m kiếm bóng h́nh của Thánh Phêrô ngày nay để đừng trong ánh sáng của Chúa Kitô!

Hạ sinh và tái sinh, một gia đ́nh trần gian và đại gia đ́nh Thiên Chúa: đó là đại hồng ân từ muôn vàn t́nh thương của Thiên Chúa, một nền tảng nâng đỡ chúng ta. Khi tôi tiếp tục cuộc hành tŕnh đời sống của ḿnh, tôi đă gặp được một tặng ân mới gay go, đó là ơn  gọi thừa tác vụ linh mục.

Vào Lễ Thánh Phêrô và Phaolô năm 1951, lúc tôi đối diện với công việc này, khi chúng tôi nằm phục trên nền Vương Cung Thánh Đường Freising – chúng tôi có trên 40 đồng bạn – và trên chúng tôi là tất cả những vị thánh được kêu cầu, tôi đă cảm thấy bối rối trước nhận thức về t́nh trạng nghèo hèn nơi cuộc sống của tôi.

Phải, thật là an ủi khi kêu cầu các vị thánh của Thiên Chúa, của kẻ sống lẫn người chết, bảo vệ chở che. Tôi biết rằng tôi sẽ không bị bỏ mặc. Và tin tưởng biết bao những lời của Chúa Giêsu mà chúng tôi sau đó nghe thấy qua môi miệng của vị Giám Mục trong lễ Truyền Chức đă tác động chúng tôi! ‘Thày không c̣n gọi các con là tôi tớ nữa mà là bạn hữu của Thày…’ Tôi đă cảm nghiệm sâu xa lời ấy: Người là Chúa không phải chỉ là Chúa mà c̣n là một người bạn. Người đă đặt tay của Người trên tôi và sẽ không buông tôi ra.

Những lời ấy được nói lên trong bối cảnh của việc trao ban năng quyền thi hành Bí Tích Ḥa Giải, nhờ đó, n hân Danh Chúa Kitô, để thứ tha tội lỗi. Chúng tôi đă nghe thấy cũng điều ấy trong bài Phúc Âm hôm nay: Chúa đă thở hơi trên các vị môn đệ. Người ban cho các vị Thần Linh của Người – Thánh Linh: ‘Nếu các con tha tội cho ai th́ tội lỗi được thứ tha…’

Thần Linh của Chúa Giêsu Kitô là quyền năng tha thứ. Ngài là quyền năng của Ḷng Thương Xót Chúa. Ngài làm khả dĩ việc hoàn toàn bắt đầu lại – hoàn toàn mới lại. Mối thân hữu của Chúa Giêsu Kitô là mối thân hữu của Đấng làm cho thành phần tha thứ chúng ta, của Đấng cũng thứ tha cho chúng ta, không ngừng vươn lên từ nỗi yếu hèn của chúng ta và chính v́ thế giáo dục chúng ta, làm thấm nhập vào chúng ta một ư thức về nhiệm vụ yêu thương sâu xa, về nhiệm vụ đáp lại ḷng tin tưởng của Người bằng sự trung thành của chúng ta. 

Trong đoạn Phúc Âm hôm nay chúng ta cũng đă nghe câu truyện về việc gặp gỡ giữa Tông Đồ Tôma với Chúa Kitô Phục Sinh: Vị Tông Đồ này được phép chạm tới các thương tích của Người, nhờ đó nhận ra Người – bên trên và ở trên căn tính loài người của Giêsu Nazarét, Thánh Tôma đă nh́n nhận cái căn tính chân thực và sâu xa của  Người: ‘Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa tôi!’ (Jn 20:28).

Chúa Kitô đă mang các thương tích của Người vào cơi vĩnh hằng. Người là một Vị Thiên Chúa bị thương tích; Người đă để cho Người bị đả thương v́ Người yêu thương chúng ta. Đối với chúng ta th́ các vết thương của Người là một dấu hiệu cho thấy rằng Người hiểu biết và để cho Người bị đả thương v́ yêu thương chúng ta.

Những vết thương ấy của Người: chúng rơ ràng biết bao đối với chún g ta trong lịch sử của thời đại chún g ta! Thật vậy, qua gịng thời gian Người vẫn để cho Người bị thương tích v́ chúng ta. Vững vàng biết bao t́nh thương của Người, an ủi biết bao các thương tích của Người đối với chúng ta! Và chắc chắn biết bao những thương tích ấy cho chúng ta thấy được căn tính của Người: “Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa tôi!” Đối với chúng ta những thương tích ấy là một phận sự ra sao, một phận sự để cho chúng ta cũng bị thươn g tích v́ Người!

T́nh thương của Thiên Chúa đang hỗ trợ chúng ta hằng ngày. Để có thể nhận thấy t́nh thương của Người, chỉ cần một tấm ḷng tỉnh táo. Chúng ta quá thiên về việc chú ư tới cái nỗ lực hằng ngày hằng áp đặt trên chúng ta là thành phần con cháu Adong.

Tuy nhiên, nếu chúng ta mở ḷng ḿnh ra, cũng như d́m ḿnh vào tâm can th́ chúng ta mới có thể liên lỉ thấy được Thiên Chúa tốt lành dường nào đối với chúng ta; Người nghĩ về chúng ta như thế nào từng chút một, nhờ đó giúp chúng ta đạt được những cái quan trọng.

Khi gia tăng trách nhiệm nặng nề, Chúa cũng ban ơn trợ giúp mới cho đời sống của tôi. Tôi vẫn hân hoan lấy làm biết ơn khi thấy đông đảo những người nâng đỡ nguyện cầu cho tôi; tôi thấy rằng họ giúp tôi thi hành thừa tác vụ của tôi bằng đức tin và t́nh yêu của họ; tôi thấy rằng họ là ân xá cho những thiếu sót của tôi và cũng nhận thấy nơi bóng h́nh của Thánh Phêrô ánh sáng ơn ích của Chúa Giêsu Kitô.

Bởi thế, vào lúc này đây, tôi hết ḷng cám ơn Chúa và tất cả anh chị em. Tôi muốn kết thúc Bài Giảng này bằng một kinh nguyện của vị thánh Giáo Hoàng, Thánh Lêô Cả, một kinh nguyện đúng 30 năm trước đây tôi đă viết trên những tấm thiệp kỷ niệm ngày thụ phong của tôi:

“Hăy cầu cùng vị Thiên Chúa nhân lành của chúng ta để Ngài tỏ ra thật nhân lành trong việc củng cố niềm tin, tăng bội đức ái và gia tăng b́nh an cho ngày sống của chúng ta. Chớ ǵ Ngài làm cho tôi, người tôi tớ hèn mọn của Ngài, xứng hợp với công việc của Ngài và hữu ích cho việc xây dựng anh chị em, và giúp tôi thi hành việc phục vụ này, để việc dấn thân của tôi tăng triển theo thời gian được ban cho tôi. Amen”.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2007/documents/hf_ben-xvi_hom_20070415_80-genetliaco_en.html

 

 

TOP

 

 

“Trong cuộc phục sinh của Chúa Giêsu, t́nh yêu đă tỏ ra mạnh hơn sự chết, mạnh hơn sự dữ. T́nh yêu làm cho Chúa Kitô đi xuống, và t́nh yêu cũng là quyền năng làm cho Người đi lên”.

 

ĐTC Biển Đức XVI: Bài Giảng Lễ Vọng Phục Sinh 7/4/2007 tại Đền Thờ Thánh Phêrô

 

Anh Chị Em  thân mến!

 

Từ thời cổ xưa, phụng vụ ngày Lễ Phục Sinh đă được bắt đầu bằng những lời này: Resurrexi et adhuc tecum sum – Con đă sống lại và vẫn ở với Cha; tay của Cha đă chạm đến Con. Phụng vụ thấy rằng đó là những lời đầu tiên do Người Con nói cùng Cha sau cuộc phục sinh của Người, sau khi Người từ đêm tối của sự chết trở về với thế giới của kẻ sống. Tay của Cha ở trên Người cho dù vào đêm ấy, nhờ đó Người đă sống lại.

 

Những lời này được trích từ Thánh Vịnh 138 là nơi những lời ấy mang một ư nghĩa khác. Bài Thánh Vịnh này là một bài ca ngỡ ngàng trước  sự toàn năng và toàn hữu của Thiên Chúa, một bài thánh ca tin tưởng vào Vị Thiên Chúa không bao giờ để cho chúng ta buông khỏi bàn tay của Ngài. Mà tay của Ngài là bàn tay tốt lành. Thánh Vịnh Gia tự ḿnh mường tượng thấy cuộc hành tŕnh tiến tới những nơi xa thẳm nhất của vũ trụ càn khôn – và những ǵ xẩy ra cho ông? ‘Nếu tôi lên trời th́ Ngài ở đó! Nếu tôi xuống âm phủ th́ Ngài cũng có đó! Nếu tôi cất cánh bay đến ở những hải đảo xa xăm nhất th́ cho dù là ở đó bàn tay của Ngài cũng vẫn dẫn dắt tôi, và tay Ngài sẽ ǵn giữ tôi. Nếu tôi nói rằng chung quanh tôi chỉ có tối tăm… th́ cho dù tăm tối cũng không tối tăm trước nhan Ngài…; v́ tối tăm là ánh sáng đối với Ngài’ (Ps 138[139]:8-12).

 

Vào ngày Lễ Phục Sinh, Giáo Hội nói với chúng ta rằng Chúa Giêsu Kitô đă thực hiện cuộc hành tŕnh này cho tới tận cùng vũ trụ v́ chúng ta. Trong Thư gửi cho Giáo Đoàn Êphêsô, chúng ta đọc thấy rằng Người đă xuống sâu trong ḷng đất, và Đấng đă xuống này cũng là Đấng đă lên trên các tầng trời, để Người có thể hoàn thành tất cả mọi sự (x 4:9ff). Bởi thế, nhăn quan của bài Thánh Vịnh này đă trở thành thực tại. Trong cái bóng tối bất khả thấu của sự chết Chúa Kitô đă xuất hiện như ánh sáng – đêm đă trở thành rạng rỡ như ban ngày và tối tăm trở nên như ánh sáng. Bởi vậy mà Giáo Hội mới có lư để coi những lời tạ ơn và tin tưởng này như là những lời được Chúa Kitô Phục Sinh thưa cùng Cha của Người: ‘Vâng, Con đă hành tŕnh cho tới tận  cùng trái đất, cho tới vực thẳm của sự chết, và đă mang đến  cho họ ánh sáng; giờ đây Con đă sống lại và Con vĩnh viễn được bàn tay Cha ǵn giữ’ Thế nhưng, những lời này của Chúa Kitô Phục Sinh thưa cùng Cha cũng đă trở thành những lời Chúa Kitô muốn nói với chúng ta: ‘Thày đă sống lại và giờ đây Thày vẫn ở với các con’, Người đang nói với từng người chúng ta. Bàn  tay của Thày ǵn giữ các con. Bất cứ các con sa ngă ở chỗ nào th́ các con cũng vẫn luôn rơi vào bàn tay của Thày. Tôi hiện diện thậm chí ở ngay cả ngưỡng cửa sự chết. Nơi nào không có ai hộ tống con xa hơn nữa, và ở đâu con chẳng mang lại ǵ, th́ ngay ở đó Thày đang đợi chờ con, và v́ con mà Thày biến tối tăm thành ánh sáng’.

 

Những lời này của bài Thánh Vịnh ấy, đọc như là một cuộc đối thoại giữa Chúa Kitô Phục Sinh và chính chúng ta, cũng giải thích cho thấy những ǵ xẩy ra nơi Phép Rửa. Phép Rửa không phải chỉ là một bể nước , một cuộc thanh tẩy. Nó không phải chỉ là trở thành phần tử của một cộng đồng. Nó là một cuộc tái sinh. Một khởi điểm mới trong cuộc đời. Đoạn Thư gửi Giáo Đoàn Rôma chúng ta vừa đọc nói bằng những lời đầy huyền nhiệm rằng nơi Phép Rửa chúng ta đă được ‘tháp nhập’ vào Chúa Kitô nhờ nên giống như cái chết của Người. Nơi Phép Rửa, chúng ta hiến ḿnh cho Chúa Kitô – Người đă liên kết chúng ta với Người, để chúng ta không c̣n sống cho chính ḿnh mà là sống nhờ Người, với Người và trong Người; để chún g ta sống với Người và nhờ đó cho kẻ khác. Nơi Phép Rửa, chúng ta kkư thác bản thân ḿnh, chúng ta phó mặc sự sống của chúng ta trong tay Người, và do đó chúng ta có thêånói như Thánh Phaolô là ‘không phải tôi là người sống nữa mà là Chúa Kitô sống trong tôi’. Nếu chúng ta hiến thân ḿnh như thế, nếu chúng ta thực sự chấp nhận chết đi cho chính ḿnh, th́ có nghĩa là biên giới giữa sự chết và sự sống tuyệt đối biến mất. Thánh Phaolô đă nói rất rơ ràng với chúng ta về điều này trong Thư gửi Giáo Đoàn Philiphê rằng: ‘Đối với tôi sống là Chúa Kitô. Để được ở với Người b ằng cách chết đi là một thắng lợi. Thế nhưng, nếu tôi vẫn c̣n sống trong cuộc đời này th́ tôi vẫn c̣n lao nhọc một cách tốt đẹp. Và tôi bị dồn ép giữa hai điều. Một là ra đi – bằng việc bị xử quyết – và một đàng được ở với Đức Kitô; đằng nào tốt hơn. Thế nhưng ở lại trên trần gian này th́ cần thiết cho anh em hơn’ (cf 1:21ff). Về cả hai mặt của biên giới sự chết, Thánh Phaolô ở với Chúa Kitô – không c̣n một sự khác biệt thực sự nào hết. Phải, thật thế: ‘Đằng sau và đằng trước Ngài vây lấy tôi, bàn tay của Ngài chạm đến tôi’ (Ps 138[139]:5). Thánh Phaolô đă viết cho Tín Hữu Rôma rằng: ‘Không ai… sống cho chính ḿnh và không ai chết cho chính ḿnh… Dù chúng ta sống hay dù chúng ta chết, chúng ta đều thuộc về Chúa’ (Rm 14:7ff).

 

Quí ứng sinh lănh nhận Phép Rửa thân mến, đây là những ǵ mới mẻ về Phép Rửa: đời sống của chúng ta giờ đây thuộc về Chúa Kitô và chúng ta không c̣n sống cho chính ḿnh nữa. Bởi thế chúng ta sẽ không bao giờ bị cô độc, ngay cả trong sự chết, thế nhưng luôn ở với Đấng hằng sống đến muôn đời. Nơi Phép Rửa, cùng với Chúa Kitô, chúng ta đă làm cho cuộc hành tŕnh vũ trụ này tiến tới tận đáy vực của chết chóc. Ở bên cạnh Người, đúng hơn được t́nh yêu Người lôi kéo, chúng ta được thoát khỏi sợ hăi. Ngài đang bao bọc chúng ta và chở chúng ta đến bất cứ nơi nào chúng ta tới – Người là chính Sự Sống.

 

Một lần nữa chúng ta hăy trở về với đêm Thứ Bảy Tuần Thánh. Trong Kinh Tin Kính chúng ta đọc về cuộc hành tŕnh của Chúa Kitô là Người ‘đă xuống ngục tổ tông’. Những ǵ đă xẩy ra vào lúc ấy? V́ chúng ta không biết ǵ về thế giới xủa kẻ chết, chúng ta chỉ có thể tưởng tượng việc Người vinh thắng sự chết bằng sự giúp đỡ của các h́nh ảnh là những ǵ vẫn rất ư là thiếu hụt. Tuy nhiên , dù có thiếu hụt đi nữa, chúng vẫn có thể giúp chúng ta hiểu được một điều ǵ đó về mầu nhiệm này. Phụng vụ áp dụng cho việc Chúa Giêsu đi xuống bóng đêm của sự chết những lời này của bài Thánh Vịnh 23[24]: ‘Ôi các cổng, hăy ngẩng đầu lên; Ôi cửa ngàn xưa hăy nâng ḿnh lên nữa!’ Các cổng của sự chết đă đóng lại, không ai có thể từ đó trở lại được nữa. Không có ch́a khóa nào cho các cửa sát ấy. Thế nhưng Chúa Kitô lại có ch́a khóa. Thánh Giá của Người mở rộng cánh cửa sự chết, những cửa kiên cố. Chúng không c̣n bị cửa đóng then gài nữa. Thán h Giá của Người, t́nh yêu trọn vẹn của Người, là ch́a khóa mở chúng. T́nh yêu của Đấng mặc dù là Thiên Chúa cũng đă hóa thân làm người để chết đi – t́nh yêu ấy c ó quyền  lực để mở các cửa ấy ra. T́nh yêu này mạnh hơn sự chết. Những h́nh ảnh Phục Sinh của Giáo Hội Đông Phương cho thấy Chúa Kitô đă làm thế nào để tiến vào thế giới của kẻ chết. Người đă mặc ánh sáng, v́ Thiên Chúa là ánh sáng. ‘Đêm sáng như ban ngày, tối tăm như ánh sáng’ (x Ps 138[139]:12). Khi tiến vào thế giới của kẻ chết, Chúa Giêsu mang các  dấu thánh, những dấu hiệu khổ nạn của Người: các vết thương của Người, nỗi khổ đau của Người, đă trở nên quyền uy mănh lực: chúng là t́nh yêu chế ngự sự chết. Người đă gặp Adong cùng với tất cả mọi con người n am nữ đang đợi chờ trong đêm tối chết chóc. Khi chúng ta nh́n vào họ, chúng ta có thể nghe thấy âm vang của lời tiên tri Giona cầu nguyện rằng: ‘Từ ḷng âm phủ tôi kêu lên, và Chúa đă nghe tiếng tôi’ (Jon 2:2). Trong việc  nhập thể, Con Thiên Chúa trở nên  một với loài người – với Adong. Thế nhưng, chỉ vào lúc bấy giờ, lúc Người làm trọn tác động cao cả yêu thương bằng việc xuống với đêm tối tử vong, mà Người đă đưa cuộc hành tŕnh nhập thể đến chỗ hoàn thành. Bằng việc tử nạn của ḿnh, giờ đây Người siết lấy bàn tay của Adong, của hết mọi người nam nữ đang đợi chờ Người để mang họ tới với ánh sáng.

 

Thế nhưng, chúng ta có thể hỏi rằng: đâu là ư nghĩa của tất cả những h́nh ảnh này? Đâu là những ǵ mới mẻ nơi những ǵ đă xẩy ra cho Chúa Kitô? Linh hồn con người được dựn g nên bất tử – th́ đâu là chính những ǵ mới mẻ do Chúa Kitô mang đến? Linh hồn thực sự là bất tử, v́ con người đặc biệt ở trong kư ức và t́nh yêu thương của Thiên Chúa, cho dù cả sau khi sa ngă. Thế nhưng các quyền năng riêng của họ vẫn không đủ để nâng họ lên tới Thiên Chúa. Chúng ta thiếu những cánh cần thiết để đưa chúng ta tới những chóp đỉnh ấy. Tuy nhiên, cũng không có ǵ khác có thể thỏa đáng con người một cách vĩnh hằng ngoại trừ được ở với Thiên Chúa. Một cơi vĩnh hằng mà lại thiếu cuộc hiệp nhất với Thiên Chúa ấy sẽ là một trừng phạt. Con người không thể đạt được những tuyệt đỉnh ấy tự ḿnh, tuy nhiên họ khát khao chúng. ‘Từ đáy ḷng tôi kêu lên Chúa…’ Chỉ có duy một ḿnh Chúa Kitô Phục Sinh mới có thể mang lại cho chúng ta mối hiệp nhất trọn vẹn với Thiên Chúa, tới nơi mà khả năng riêng của chúng ta không thể mang chúng ta tới n ổi. Thực sự là Chúa Kitô đă vác con chiên lạc trên vai ḿnh mà mang nó về. Gắn bó với Thân Thể của Người chúng ta có sự sống, và hiệp thông với Thân Thể của Người chúng ta tiến tới chính cơi ḷng của Thiên Chúa, sự chết có bị chế ngự như thế, chúng ta mới được giải phóng và đời sống của chúng ta mới có hy vọng.

 

Đó là niềm vui của Lễ Vọng Phục Sinh: ở chỗ chúng ta được giải phóng. Trong cuộc phục sinh của Chúa Giêsu, t́nh yêu đă tỏ ra mạnh hơn sự chết, mạnh hơn sự dữ. T́nh yêu làm cho Chúa Kitô đi xuống, và t́nh yêu cũng là quyền năng làm cho Người đi lên. Quyền năng Người mang chúng ta đến với Người. Hiệp nhất với t́nh yêu của Người, được mang trên những cánh yêu thương, như những con người của yêu thương, chúng ta hăy cùng Người đi xuống bóng tối của thế giới, biết rằng nhờ đó chúng ta cũng sẽ được đi lên với Người. Bởi vậy, vào đêm này, chúng ta hăy nguyện cầu: Lạy Chúa, xin tỏ cho chúng con thấy rằng t́nh yêu mạnh hơn hận thù, t́nh yêu mạnh hơn chết chóc. Xin Chúa hăy xuống tới bóng tối và vực thẳm của thời đại tân tiến của chúng con đây, và hăy nắm lấy tay của những ai đang đợi chờ Chúa. Xin hăy mang họ về với ánh sáng! Trong những đêm đen của riêng con, xin hăy ở với con để mang con lên! Xin hăy giúp con, giúp tất cả chúng con, để cùng với Chúa chúng con xuống với tối tăm của tất cả những ai vẫn đang đợi chờ Chúa,  thành phần kêu lên Chúa từ vực sâu! Xin hăy giúp chúng con  mang lại cho họ án h sáng! Xin hăy giúp chúng con thưa ‘vâng’ với t́nh yêu, một t́nh yêu làm cho chúng con xuống với Chúa,  và nhờ thế cũng lên với Chúa. Amen!

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2007/documents/hf_ben-xvi_hom_20070407_veglia-pasquale_en.html 

 

 

TOP

 

 

"Ở tâm điểm của Cuộc Vượt Qua mới của Chúa Kitô, chúng ta thấy có cây thập giá"

 

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI: Bài Giảng cho Lễ Tiệc Ly Thứ Năm Tuần Thánh 5/4/2007 ở Đền Thờ Thánh Gioan Lateranô

 

Anh chị em thân mến,

 

Trong bài đọc trích Sách Xuất Hành chúng ta vừa nghe, việc cử hành Lễ Vượt Qua của dân Yến Duyên được diễn tả như là những ǵ ấn định theo luật Moisen. Từ ban đầu có thể là một ngày lễ mùa xuân được thành phần du mục cử hành. Tuy nhiên, đối với dân Yến Duyên th́ lễ này được biến thành một lễ của sự tưởng niệm, của ḷng biết ơn và đồng thời của niềm hy vọng.

 

Ở tâm điểm của bữa tối Vượt Qua, theo luật phụng vụ đặc biệt qui định, là con chiên, một biểu hiệu cho cuộc giải phóng khỏi t́nh trạng làm tôi ở Ai Cập. Bởi vậy mà ‘Haggadah’ vượt qua là một yếu tố trọn vẹn của bữa chiên: Tức là việc tưởng nhớ tŕnh thuật về sự kiện là chính Thiên Chúa đă giải phóng dân Yến Duyên ‘bằng bàn tay giang thẳng’.

 

Ngài, Vị Thiên Chúa mầu nhiệm và ẩn thân, đă từng mạnh hơn cả pharaoh cùng với toàn thể quyền lực ông có được trong tay. Dân Yến Duyên không quên rằng Thiên Chúa đă đích thân nhúng tay vào lịch sử của dân Ngài, và lịch sử này đă được liên tục dựa vào cuộc hiệp thông với Thiên Chúa. Dân Yến Duyên không lăng quên Thiên Chúa.

 

Những lời của việc tưởng niệm này được tràn đầy những lời chúc tụng và tạ ơn lấy từ các bài Thánh Vịnh. Việc tạ ơn và chúc tụng Thiên Chúa đă tiến tới tột đỉnh của nó ở chỗ ‘berakha’, theo tiếng Hy Lạp được gọi là ‘eulogia’ hay ‘eucaristia’: Việc chúc tụng Chúa trở thành một phúc lành cho những ai chúc tụng. Của dâng cho Thiên Chúa trở thành những ǵ chúc phúc cho con người.

 

Tất cả những điều ấy đă dựng nên một cây cầu nối quá khứ với hiện tại và hướng về tương lai. Việc giải phóng dân Yến Duyên chưa xẩy ra. Quốc gia này vẫn c̣n chịu khổ đau như là một đám dân nhỏ bé giữa những căng thẳng của các đại quyền lực. Việc tưởng nhớ tri ân về hành động của Thiên Chúa trong quá khứ đă trở thành cùng một lúc vừa là một lời van nài vừa là một nguồn hy vọng: Hăy sinh hoa kết trái những ǵ anh em đă bắt đầu! Hăy ban cho chúng tôi sự tự do vĩnh viễn!

 

Bữa tối này, với đầy những ư nghĩa của nó, được Chúa Giêsu cử hành cùng với các môn đệ của Người vào thời điểm áp cuộc khổ nạn của Người. Chú ư tới bối cảnh này, chúng ta mới hiểu được Lễ Phục Sinh mới mà Người đă ban cho chúng ta nơi Thánh Thể.

 

Nơi những tŕnh thuật của các Thánh Kư, có một mâu thuẫn rơ ràng giữa một bên là Phúc Âm Thánh Gioan, với những ǵ bên kia Phúc Âm của Thánh Mathêi, Marcô và Luca cho chúng ta biết. Theo Thánh Gioan th́ Chúa Giêsu đă chết trên thánh giá chính vào lúc mà ở trong đền thờ, các con chiên Vượt Qua được sát tế. Cái chết của Người và hy tế các con chiên xẩy ra cùng một lúc.

 

Điều này có nghĩa là Người đă chết vào áp Lễ Vượt Qua, và bởi thế, Người không thể đích thân cử hành bữa vượt qua; ít ra th́ đó cũng là những ǵ dường như thế.

 

Ngược lại, theo các Thánh Kư Nhất Lăm th́ bữa cuối cùng của Chúa Giêsu là bữa vượt qua theo h́nh thức truyền thống của nó. Người đă cống hiến cái mới mẻ cho tặng ân ḿnh máu của Người. Cái mâu thuẫn này, cho tới ít năm trước đây, dường như không thể nào giải quyết nổi.

 

Đa số các nhà dẫn giải thánh kinh nghĩ rằng Thánh Gioan không muốn thông đạt cho chúng ta biết ngày tháng lịch sử thực sự của việc Chúa Giêsu tử nạn, nhưng ngài đă chọn một ngày tiêu biểu để làm cho sự thật sâu xa hơn này thành hiển nhiên hơn, ở chỗ, Chúa Giêsu là con chiên mới và thực sự đă đổ máu ra v́ tất cả chúng ta.

 

Việc khám phá ra những bản Qumran đă dẫn chúng ta đến một giải quyết khả dĩ tin được là rất có thể, trong khi không được mọi người chấp nhận. Giờ đây chúng ta có thể nói rằng những ǵ Thánh Gioan muốn nói đến th́ đúng theo lịch sử. Chúa Giêsu đă thực sự đổ máu ḿnh ra vào ngày áp Lễ Vượt Qua, thời điểm hy tế của các con chiên. 

 

Tuy nhiên, Người đă cử hành Lễ Vượt Qua với các môn đệ của Người có lẽ theo lịch của Qumran, tức là, ít là một ngày sớm hơn – Người đă cử hành không có chiên, như cộng đồng Qumran là thành phần không công nhận Đền Thờ của Hêrod và chờ đợi một đền thờ mới.

 

Bởi thế, Chúa Giêsu đă cử hành Lễ Vượt Qua không chiên, không, không phải là không chiên: Thay v́ chiên Người đă hiến chính ḿnh, thân thể của Người và máu của Người. Nhờ đó, Người đă thấy trước cái chết của Người gắn liền với lời loan báo của Người là: ‘Không ai có thể lấy được mạng sống của Tôi, song Tôi tự bỏ nó đi’ (Jn 10:18). Lúc Người cống hiến ḿnh máu Người cho các môn đệ là Người thực sự hoàn trọn lời ấy. Chính Người đă cống hiến sự sống của Người. Chỉ có thế Lễ Vượt Qua cũ mới chiếm được ư nghĩa đích thực của nó.

 

Thánh Gioan Chrysostom, trong bài giáo lư về Thánh Thể, có lần viết rằng: M oisen ơi ông đang muốn nói ǵ đây? Máu của một con chiên thanh tẩy con người ư? Máu ấy có thể cứu con người khỏi chết sao? Làm sao máu của một con vật có thể thanh tẩy nổi con người chứ? Làm sao nó có thể cứu được nhân loại, có quyền chống lại tử thần chứ?

 

Thật vậy, Thánh Chrysostom tiếp tục, con chiên này chỉ có thể là một biểu hiệu, v́ thế, là biểu hiệu của ḷng mong đợi và của một niềm hy vọng nơi một ai đó có thể làm được tất cả những ǵ một con vật không thể làm.

 

Chúa Giêsu đă cử hành Lễ Vượt Qua không chiên và không đền thờ, tuy nhiên, Người vẫn không thiếu chiên và đền thờ. Chính bản thân Người là con chiên được đợi trông, là con chiên đích thực, con chiên được Tiền Hô Gioan Tẩy Giả nói trước vào đầu thừa tác vụ công khai của Chúa Giêsu: ‘Này là Con Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian’ (Jn 1:29).

 

Người cũng là đền thờ thật, đền thờ sống động, đền thờ nơi Thiên Chúa sống động, nơi chúng ta có thể t́m thấy Thiên Chúa và tôn thờ Ngài. Máu của Người, t́nh yêu của Đấng cũng là Con Thiên Chúa và là người thật, một người trong chúng ta, máu này có quyền năng cứu độ. T́nh yêu của Người, một t́nh yêu khiến Người tự nguyện ban ḿnh cho chúng ta, là những ǵ có thể cứu chúng ta. Hành động gợi nhớ, ở một ư nghĩa thiếu hụt, về việc hy sinh của con chiên vô tội và vô t́ tích, đă t́m thấy giải đáp nơi Đấng trở nên cho chúng ta vừa là con chiên vừa là đền thờ.

 

Như thế, ở tâm điểm của Cuộc Vượt Qua mới của Chúa Kitô, chúng ta thấy có cây thập giá. Tặng ân mới này của Người xuất phát từ đó. Và v́ thế, nó mới luôn ở nơi Thánh Thể là những ǵ nhờ đó chúng ta cử hành với các vị tông đồ qua các thời đại Lễ Vượt Qua mới. 

 

Từ thập giá của Chúa Kitô xuất phát tặng ân này. ‘Không ai cất nó khỏi Tôi được; Tôi tự ư bỏ nó đi’. Giờ đây, Người cống hiến sự sống ấy cho chúng ta. Cái ‘Haggadah’ vượt qua, tức việc tưởng nhớ đến tác động cứu độ của Thiên Chúa, trở thành một thứ tưởng nhớ đến thập giá và cuộc phục sinh của Chúa Kitô, một tưởng nhớ không chỉ gợi lại quá khứ, mà c̣n thu hút chúng ta tới sự hiện diện của t́nh yêu Chúa Kitô. Nhờ đó, cái ‘b erakha’, lời nguyện chúc tụng và tạ ơn của dân Yến Duyên, trở thành việc cử hành Thánh Thể của chúng ta, một việc nhờ đó Chúa Kitô chúc lành cho những tặng ân của chúng ta là bánh và rượu hiến dâng cho chính Người.

 

Chúng ta hăy xin Chúa giúp chúng ta hiểu sâu sa hơn mầu nhiệm tuyệt diệu này, và yêu mến nó mỗi ngày một hơn. Để rồi trong mầu nhiệm ấy chúng ta mến yêu Người hơn nữa. Chúng ta hăy xin  Người thu hút chúng ta hơn nữa đến với Người nơi việc Hiệp Lễ. Chúng ta hăy xin Người giúp chúng ta đừng sống cho bản thân ḿnh, mà là hiến sự sống của chúng ta cho Người, nhờ thế, làm việc với Người, hầu tất cả mọi người gặp được sự sống, một sự sống đích thực chí xuất phát từ Người là đường, là sự thật và là sự sống. Amen.



Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 6/4/2007

 

 

TOP

 

 

“Chúng ta cần quyết định bước tới với Chúa Giêsu như Người Con Hoang Đàng đă làm, khi hắn trở về cả bên trong lẫn bên ngoài với cha của hắn”.

 

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI: Bài Giảng Chúa Nhật IV Mùa Chay 18/3/2007 tại Nguyện Đường Cha Thương Xót ở Nhà Tù Thiếu Niên Casal Del Marmo ở Rôma

 

Anh Chị Em thân mến,

Các em Trai Gái thân mến,

 

Tôi mong muốn đến đây để thăm viếng anh chị em, và thời điểm quan trọng nhất của cuộc chúng ta gặp gỡ là Thánh Lễ, nơi tặng ân yêu thương của Thiên Chúa được tái diễn, một t́nh yêu làm cho chúng ta cảm thấy ủi an và ban cho chúng ta an b́nh, nhất là trong những lúc khó khăn của cuộc sống.

 

Trong bầu không khí nguyện cầu này, tôi muốn gửi lời chào tới từng người trong anh chị em: tới Ông Clemente Mastella, Bộ Trưởng Công Lư, vị tôi xin đặc biệt ‘cám ơn’; tới Bà Meĺta Cavallo, Thủ Trưởng Công Lư Đặc Trách Thiếu Niên, tới các vị Thẩm Quyền khác là những vị đă lên tiếng nói, tới những vị có trách nhiệm, tới những hành sự viên, các thày cô và nhân viên của trại cải huấn thiếu niên này, tới các t́nh nguyện viên, tới họ hàng thân thuộc của anh chị em và tới hết mọi người hiện diện nơi đây.

 

Tôi gửi lời chào ĐHY Tổng Đại Diện và Đức Giám Mục phụ tá Benedetto Tùzia. Tôi đặc biệt chào các Đức Ông Giorgio Caniato, Tổng Thanh Tra Viên của Văn Pḥng Tuyên Úy Các Nhà Tù, và vị Tuyên  Úy của anh chị em, người tôi cám ơn về những bày tỏ cảm mến của anh chị em mở đầu Thánh Lễ.

 

Trong việc cử hành Thánh Thể, chính Chúa Kitô hiện diện giữa chúng ta; thật vậy, c̣n hơn thế nữa: Người đến soi sáng chúng ta bằng giáo huấn của Người – nơi Phụng Vụ Lời Chúa – và nuôi dưỡng chúng ta bằng Ḿnh Máu của Người – nơi Phụng Vụ Thánh Thể và nơi việc Hiệp Lễ.

 

Như thế là Người đến để dạy chúng ta yêu thương, làm cho chúng ta có khả năng yêu thương nhờ đó có khả năng sống động. Thế nhưng, có lẽ anh chị em sẽ nói rằng yêu thương một cách nghiêm chỉnh và sống đàng hoàng th́ khó khăn biết bao! Đâu là cái bí mật của yêu thương, bí mật của đời sống? Chúng ta hăy trở về với Phúc Âm (liên quan tới Người Con Hoàng Đàng).

 

Trong  bài Phúc Âm này có 3 nhân vật, đó là người cha và hai đứa con trai. Thế nhưng những người này lại tiêu biểu cho hai dự án sống đời khác nhau. Cả hai người con trai đều sống an b́nh, họ là những nông gia khá sung túc nên họ có đủ sống, bằng việc thu lợi ở những nông sản của ḿnh, và đời sống có vẻ tốt đẹp.

 

Tuy nhiên, từ từ người con thứ thấy rằng cuộc sống ấy trở thành nhạt nhẽo chán ngấy, không có ǵ là thoải mái: ‘Tất cả cuộc đời không thể nào như thế được’, anh ta nghĩ rằng: chỗi dạy mỗi ngày, cứ cho là 6 giờ sáng đi, đoạn theo truyền thống Do Thái, cần phải cầu nguyện, đọc Thánh Kinh, rồi đi làm  việc và cuối ngày lại nguyện cầu.

 

Bởi vậy mà ngày ngày anh ta nghĩ rằng: ‘Nhưng không, đời sống c̣n một cái ǵ nữa. Tôi phải t́m một cuộc đời khác để được hoàn toàn tự do, có thể làm những ǵ tôi thích; một cuộc sống không bị ràng buộc kỷ cương, không có những qui tắc luật lệ của Thiên Chúa, không bị cha ra lệnh truyền  khiến; tôi muốn độc lập và có một cuộc đời đầy những duyên dáng của nó cho bản thân ḿnh. C̣n hiện giờ th́ chẳng có ǵ khác ngoài công việc…’

 

Thế là anh ta quyết định đ̣i lấy tất cả phần gia sản của ḿnh v à bỏ đi. Cha anh ta tỏ ra rất tôn trọng và quảng đại, và đă tôn trọng quyền tự do của con ḿnh: chính nó mới là người t́m lấy dự án sống cho nó. Rồi hắn ra đi, như Phúc Âm kể, đến một miền xa. Đó là một khoảng cách xa về địa lư v́ hắn muốn thực hiện một cuộc đổi thay, thế nhưng cũng là khoảng cách xa xôi nội tâm nữa, v́ hắn muốn một cuộc đời hoàn toàn khác hẳn.

 

Bởi vậy mà ư nghĩa của hắn là tự do, làm những ǵ tôi muốn làm, bỏ qua những lề luật của vị Thiên Chúa xa vời, không bị giam nhốt bởi kỷ cương gia đ́nh, song làm những ǵ đẹp đẽ, những ǵ tôi thích, chiếm hữu tất cả những ǵ là mỹ miều và trọn vẹn của đời sống.

 

Chúng ta có thể tưởng tượng là có lẽ trong ṿng ít tháng, mới đầu th́ mọi sự đều suông sẻ: hắn đă cảm thấy đẹp đẽ khi cuối cùng chiếm được cuộc đời, hắn cảm thấy hạnh phúc.

 

Tuy nhiên, dần dần hắn cảm thấy ở đó cũng buồn chán nữa; cả ở đó nữa mọi sự cũng luôn măi thế thôi. Và cuối cùng hắn cảm thấy một thứ trống rỗng thậm chí c̣n buồn khổ hơn nữa: cái cảm giác đó vẫn không phải là cuộc sống đă trở nên day dứt hơn; thật vậy, tự động chọn lấy tất cả những điều này, đời sống lại càng trôi dạt xa hơn nữa. Tất cả mọi sự đều trở nên rỗng tuyếch: t́nh trạng nô lệ trong việc làm cùng những điều giống nhau lại tái diễn. Cuối cùng th́ tiền bạc chẳng c̣n và con người trẻ ấy thấy rằng mức sống của ḿnh c̣n tệ hơn cả mức sống của loài heo nữa.

 

Bấy giờ hắn mới bắt đầu phản tỉnh và ngẫm nghĩ rằng đâu mới thật sự là con đường sống: một là thứ tự do được cho rằng làm những ǵ tôi muốn, sống động, sống đời chỉ cho tôi thôi, hay là, trái lại, một cuộc đời sống cho kẻ khác, góp phần vào việc xây dựng thế giới, vào việc phát triển cộng đồng nhân loại…

 

Bởi vậy mà hắn đă bắt đầu một cuộc hành tŕnh mới, một cuộc hành tŕnh nội tâm. Thằng nhỏ suy nghĩ và cân  nhắc tất cả những khía cạnh mới này của vấn đề và bắt đầu thấy rằng hắn c̣n được tự do hơn là ở nhà, v́ hắn cũng là một điền chủ góp phần xây dựng nhà ḿnh và xă hội trong mối hiệp thông với Đấng Hóa Công, biết được mục đích của đời sống ḿnh và thấy được dự án Thiên Chúa giành cho hắn.

 

Trong cuộc hành tŕnh nội tâm ấy, trong cuộc phát triển của một dự định sống mới đồng thời sống cuộc hành tŕnh ngoại tại ấy, người con thứ cảm thấy phấn khởi trở về, bắt đầu lại cuộc sống của ḿnh, v́ bấy giờ hắn đă hiểu được rằng hắn đă lấm đường lỡ bước. Tôi phái bắt đầu lại bằng một quan niệm khác, hắn tự nhủ; tôi phải bắt đầu lại.

 

Và hắn đă trở về nhà của cha là người đă để hắn tự do cho hắn có cơ hội sâu xa hiểu được đời sống là ǵ và những ǵ không phải là đời sống. Người cha đă ôm lấy hắn bằng tất cả ḷng yêu thương của ông, đă mở tiệc linh đ́nh và cuộc đời lại bắt đầu từ cuộc mừng rỡ này.

 

Người con ấy đă nhận thức rằng chính công việc, ḷng khiêm nhượng và vấn đề kỷ cương hằng ngày mới là những ǵ tạo nên những ǵ vui mừng thực sự và tự do đích thật. Vậy là hắn đă trở về, đă trưởng thành và được thanh tẩy nội tâm: hắn đă hiểu được đầu là cuộc sống.

 

Dĩ nhiên, trong tương lai, cuộc đời của hắn cũng chẳng dễ dàng ǵ, các chước cám dỗ sẽ trở lại, thế nhưng từ đó hắn đă hoàn toàn nhận thức được rằng cuộc sống thiếu vắng Thiên Chúa không xong; nó thiếu những ǵ là chín h yếu, nó thiếu mất ánh sáng, nó thiếu mất lư do, nó thiếu mất cảm quan quan trọng về việc làm người. Hắn đă hiểu rằng chúng ta chỉ có thể nhận biết Thiên Chúa dựa trên Lời của Người.

 

Kitô hữu chúng ta có thể thêm rằng chúng ta biết được Thiên Chúa là Đấng nào từ Chúa Giêsu, nơi Người dung nhan của Thiên Chúa được thực sự tỏ ra cho chúng ta. Con người trẻ này đă hiểu được rằng các Giới Luật của Thiên Chúa không phải là những cản trở đối với tự do và đối với một cuộc đời tuyệt vời, mà là những dấu đường cho cuộc hành tŕnh t́m kiếm sự sống.

 

Anh ta cũng nhận thức được rằng vấn đề dấn thân làm việc và giữ kỷ cương, không phải cho bản thân mà là cho kẻ khác, là những ǵ làm cho đời sống vươn dài trải rộng. Và chính v́ nỗ lực dấn thân này qua việc làm đă làm cho đời sống vững chắc, v́ người ta cuối cùng cảm thấy vui thỏa được góp phần vào t́nh trạng phát triển của thế giới này, làm cho nó được tự do hơn và tuyệt vời hơn.

 

Tới đây tôi không muốn nói tới người con trai khác c̣n ở lại nhà, thế nhưng, qua phản ứng ghen tương của hắn, chúng ta thấy rằng trong ḷng ḿnh hắn cũng đă mơ màng rằng có lẽ tốt hơn  là hắn được hoàn toàn tự do. Trong tâm can của ḿnh, cả hắn nữa cũng đă ‘trở về’ và hiểu được một lần nữa cuộc sống là ǵ, hiểu được rằng thực sự là chỉ có thể sống với Thiên Chúa, với Lời của Ngài, trong mối hiệp thông của gia đ́nh ḿnh, của công việc làm; trong mối hiệp thông của đại Gia Đ́nh Thiên Chúa.

 

Giờ đây tôi không muốn đi sâu vào những chi tiết: mỗi người chún g ta hăy áp dụng bài Phúc Âm này cho ḿnh tùy theo cách thức riêng. Trường hợp của chúng ta khác nhau và mỗi người đều có một thế giới riêng của ḿnh. Tuy nhiên, sự kiện vẫn là ở chỗ, tất cả chúng ta đều di động và tất cả chúng ta đều tiến bước theo cuộc hành tŕnh nội tâm vào thẳm cung của Phúc Âm.

 

Chỉ c̣n một ít nhận định là bài Phúc  Âm này giúp chúng ta hiểu được Thiên Chúa thực sự là Đấng nào. Ngài là Người Cha Nhân Hậu, Đấng nơi Chúa Giêsu đă yêu thương chúng ta khôn lường.

 

Các thứ lỗi lầm chúng ta vấp phạm, cho dù có trầm trọng đi nữa, cũng không làm mai một đi t́nh yêu thương của Ngài. Nơi Bí Tích Giải Tội, chúng ta bao giờ cũng bắt đầu lại cuộc đời. Ngài đón nhận chúng ta, Ngài phục hồi phẩm giá làm con cái Ngài cho chúng ta.

 

Bởi thế chúng ta hăy tái nhận thức bí tích thứ tha là bí tích mang lại niềm vui nẩy nở trong một tâm hồn được tái sinh vào sự sống chân thực.

 

Ngoài ra, bài dụ ngôn này c̣n giúp chúng ta hiểu được con người là ai: họ không phải là một thứ ‘du mục’, một hữu thể cô lập chỉ sống cho bản thân  ḿnh và cần phải sống cho một ḿnh họ.

 

Trái lại, chúng ta sống với người khác, chúng ta đă được dựng nên cùng với những người khác và chỉ sống với người khác, bằng việc hiến thân cho người khác, chúng ta mới t́m thấy sự sống thôi.

 

Con người là một tạo vật được Thiên Chúa in ấn h́nh ảnh của Ngài, một tạo vật được thu hút tới chân trời Ân Sủng của Ngài, thế nhưng họ cũng là một tạo vật mỏng ḍn yếu kém trước sự dữ mà lại có thể hành thiện. Và sau cùng, con người là một ngôi vị tự do.

 

Chúng ta cần phải hiểu được tự do là ǵ và đâu chỉ là tự do hời hợt bên ngoài.

 

Tự do, chúng ta có thể nói rằng, là một cái đ̣n bẩy giúp chúng ta lặn vào đại dương bao la của sự thiện hảo thần linh, thế nhưng nó cũng có thể trở thành một mặt phẳng chênh vênh làm chúng ta trơn tuột vào vực thẳm tội lỗi và sự dữ, bởi đó cũng làm mất đi cả tự do và phẩm vị của chúng ta nữa. 

 

Các bạn thân mến, chúng ta đang ở trong Mùa Chay, giai đoạn 40 ngày trước Phục Sinh. Trong Mùa Chay này, Giáo Hội giúp chúng ta thực hiện cuộc hành tŕnh nội tâm này và mời gọi chúng ta hăy hoán cải, một cuộc hoán cải bao giờ cũng, ngay cả trước khi trở thành một nỗ lực đổi thay hành vi cử chỉ của chúng ta, là một cơ hội quyết định đứng lên bắt đầu lại, từ bỏ tội lỗi và quyết tâm trở về với Thiên Chúa.

 

Chúng ta hăy – theo huấn dụ của Mùa Chay – cùng nhau thực hiện cuộc hành tŕnh giải phóng nội tâm n ày.

 

Mỗi một lần, chẳng hạn hôm nay đây, chúng ta tham dự vào Thánh Thể là nguồn mạch và là học đường của yêu thương, chúng ta tiến đến chỗ có thể sống t́nh yêu thương này, loan báo nó và làm chứng cho nó trong cuộc đời của chúng ta.

 

Tuy nhiên, chúng ta cần quyết định bước tới với Chúa Giêsu như Người Con Hoang Đàng đă làm, khi hắn trở về cả bên trong lẫn bên ngoài với cha của hắn.

 

Đồng thời chúng ta cần phải từ bỏ thái độ vị kỷ của người con lớn, con người tự phụ, mau mắn lên án kẻ khác và khép ḷng ḿnh lại trước sự thông cảm, chấp nhận và thứ tha cho người em của ḿnh, và là con người đă quên  rằng cả hắn nữa cũng cần phải được thứ tha.

 

Xin Trinh Nữ Maria và Thánh Giuse, Vị Thánh Quan Thày của tôi có lễ kính vào ngày mai, xin cho chúng ta tặng ân này; giờ đây tôi đặc biệt xin Ngài cho mỗi một người trong anh chị em và cho những người thân yêu của anh chị em.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2007/documents/hf_ben-xvi_hom_20070318_istituto-penitenziario_en.html

 

TOP

 

 

“Nếu Kitô hữu không biết nhau một cách hỗ tương, th́ việc tiến bộ trên con đường tiến đến mối hiệp thông là những ǵ không tưởng”.

 

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI: Bài Giảng cho Giờ Kinh Tối Đại Kết Lễ Thánh Phaolô Trở Lại ở Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoại Thành

 

Anh Chị Em thân mến,

 

Trong “Tuần Lễ Cầu Nguyện” sẽ được kết thúc vào buổi tối hôm nay đây, Các Giáo Hội và các Cộng Đồng Giáo Hội khắp thế giới gia tăng lời khẩn nài chung xin Chúa cho mối hiệp nhất Kitô Giáo. Cùng nhau chúng ta hăy suy niệm về những lời của Phúc Âm Thánh Marcô vừa được công bố, đó là “Người thậm chí c̣n làm cho kẻ điếc nghe thấy và người câm nói được” (7:37), một đề tài thánh kinh được các Cộng Đồng Kitô Hữu ở Nam Phi đề nghị.

 

Những t́nh h́nh liên quan tới chủ nghĩa chủng tộc, tới t́nh trạng bần cùng, tới t́nh trạng xung khắc, tới việc khai thác, tới bệnh tật và nỗi khổ đau họ gặp phải v́ không thể bày tỏ những nhu cầu của họ, là những ǵ đă gợi lên nơi họ một nhu cầu khẩn trương trong việc nghe lời Chúa cũng như trong việc can đảm lên tiếng nói.

 

Phải chăng bị điếc và bị câm, tức là không thể nghe thấy hay không thể nói được, một dấu hiệu thiếu thông đạt và là một triệu chứng chia rẽ? Việc chia rẽ và thiếu khả năng thông đạt, một hậu quả c ủa tội lỗi, là những ǵ ngược lại với dự án của Thiên Chúa. Năm nay Phi Châu đă cống hiến cho chúng ta một đề tài để suy tư có tính cách rất hệ trọng về tôn giáo và chính trị, v́ khả năng ‘nói’ và ‘nghe’ là một điều kiện thiết yếu cho việc xây dựng nền văn minh yêu thương.

 

Những lời ‘Người thậm chí làm cho người điếc nghe thấy và người câm nói được’ là tin mừng loan báo việc trị đến của Vương Quốc Thiên Chúa và việc chữa lành khả năng không thể thông đạt cũng như chữa lành t́nh trạng chia rẽ. Sứ điệp này được tái khám phá ra nơi tất cả mọi giáo huấn và hoạt động của Chúa Giêsu. Bất cứ Người đi đâu, hoặc băng qua các làng mạc, phố xá hay miền quê, dân chúng đều ‘đặt người bệnh ở những nơi họp chợ, và t́m cách chạm đến gấu áo của Người, nhiều người chạm tới đều đă được khỏi’ (Mk 6:56).

 

Việc chữa lành người câm điếc mà chúng ta đă suy niệm trong những ngày này xẩy ra khi Chúa Giêsu, rời miền Tyre, đang trên đường đến Biển Galilêa qua một miền được gọi là ‘Thập Thành – Decapolis’, một địa hạt đa chủng tộc và đa tôn giáo (x Mk 7:31), một trường hợp tiêu biểu thậm chí cho cả thời điểm của chúng ta đây.

 

Cũng như ở các nơi khác, cả trong miền Thập Thành này, họ cũng đưa đến cho Chúa Giêsu một người bệnh, một con người điếc và không nói được, xin Người hăy đặt tay trên anh ta v́ họ coi Người là một con người của Thiên Chúa.

 

Chúa Giêsu đă đem người ấy ra khỏi đám đông và thực hiện những cử chỉ hàm ư cứu độ, đó là việc Người đặt những ngón tay của Người vào đôi tai của anh ta, và bôi nước bọt của Người vào lưỡi người bệnh, đoạn ngước lên Trời mà phán: ‘Hăy mở ra!’. Người đă phán như thế bằng tiếng Aramaic (Ephphatha), theo như ngôn ngữ của dân chúng bấy giờ cũng như của chính người câm điếc. Vị Thánh Kư đă dịch chữ này sang tiếng Hy Lạp là (dianoichtheti). Đôi tai của người điếc liền mở ra, lưỡi của anh ta trơn tru và anh ta ‘nói năng một cách b́nh thường’ (orthos).

 

Chúa Giêsu yêu cầu họ đừng nói năng ǵ về phép lạ ấy. Thế nhưng Người càng khuyên cấm th́ ‘họ lại càng hào hứng loan truyền phép lạ này’ (Mk 7:36). Lời nhận định đầy lạ lùng của những ai ở đó bấy giờ đă gợi lại lời rao giảng của tiên  tri Isaia liên quan tới Đấng Thiên Sai đến: ‘Người thậm chí làm cho kẻ điếc nghe thấy và người câm nói được’ (Mk 7:37).

 

Bài học thứ nhất chúng ta rút tỉa được từ đoạn thánh kinh này, đoạn thánh kinh cũng được nhắc lại ở lễ nghi Phép Rửa, ở chỗ lắng nghe là một vấn đề ưu tiên theo quan điểm Kitô Giáo.

 

Đó là lư do Chúa Giêsu đă minh nhiên nói rằng: ‘Phúc cho …. những ai nghe lời Thiên Chúa mà tuân giữ’ (Lk 11:38). Thật vậy, Người đă phán cùng Matta lo âu về nhiều thứ rằng ‘chỉ có một điều cần duy nhất’ (Lk 10:42). Và theo đó th́ vấn đề ‘một điều duy nhất’ hiển nhiên ở đây việc lắng nghe tuân giữ Lời Chúa. Bởi thế, việc lắng nghe Lời Chúa là vấn đề ưu tiên cho vấn đề dấn thân đại kết của chúng ta. Thật vậy, không phải chúng ta là kẻ tác hành hay thiết lập mối hiệp nhất của Giáo Hội. Giáo Hội không làm nên ḿnh hay sống bởi ḿnh, mà là bởi Lời sáng tạo xuất phát từ cửa miệng Thiên Chúa.

 

Khi cùng nhau lắng nghe lời Chúa, thực hành việc đọc Thánh Kinh lectio divina, tức là đọc với lời nguyện cầu, chúng ta hăy làm sao cho ḿnh cảm thấy ngỡ ngàng trước cái mới mẻ của Lời Chúa là những ǵ không bao giờ cằn cỗi già đời và không bao giờ tiêu hao cạn kiệt; hăy thắng vượt t́nh trạng điếc lác của chúng ta trước những lời không hợp với các thành kiến và ư nghĩ của chúng ta; hăy lắng nghe cũng như hăy học hỏi, trong mối hiệp thông với các tín hữu thuộc tất cả mọi thời đại; tất cả những điều ấy làm nên một đường lối cần phải trải qua để đạt tới mối hiệp nhất trong một đức tin như là tác động đáp ứng việc lắng nghe Lời Chúa.

 

Bất cứ ai lắng nghe Lời Chúa đều có thể và cần phải nói năng và truyền đạt Lời Chúa cho người khác, cho những ai chưa bao giờ nghe thấy Lời Chúa, hay những ai đă lăng quên Lời Chúa và chôn vùi Lời Chúa vào những thứ rắc rối gai góc và lừa đảo của thế giới này (x Mt 13:22).

 

Chúng ta cần phải tự hỏi ḿnh rằng: phải chăng Kitô hữu chúng ta có lẽ đă trở nên quá thinh lặng? Phải chăng có lẽ chúng ta đă thiếu can đảm để lên tiếng và làm chứng như những ai đă chứng kiến thấy việc chữa lành cho người câm điếc ở Miền Thập Thành? Phải chăng thế giới của chúng ta cần đến chứng từ này; nhất là thế giới đang chờ đợi một chứng từ chung của thành phần Kitô hữu chúng ta.

 

Bởi thế, việc lắng nghe Vị Thiên Chúa là Đấng đang nói cũng bao hàm cả việc lắng nghe nhau, việc đối thoại giữa Chư Giáo Hội và Các Cộng Đồng Giáo Hội. Việc đối thoại chân t́nh và trung thành là một thứ phương tiện tiêu biểu và bất khả thiếu trong việc t́m cầu hiệp nhất.

 

Sắc Lệnh về Đại Kết của Công Đồng Chung Vaticanô II đă nhấn mạnh rằng nếu Kitô hữu không biết nhau một cách hỗ tương, th́ việc tiến bộ trên con đường tiến đến mối hiệp thông là những ǵ không tưởng. Thật vậy, chúng ta lắng nghe và thông đạt bằng việc đối thoại; chúng ta đối chất nhau, và với ơn Chúa, có thể tiến đến chỗ qui hợp nơi Lời của Người, khi chấp nhận những đ̣i hỏi áp dụng cho tất cả mọi người theo Lời Người.

 

Các Nghị Phụ Công Đồng không phải chỉ muốn việc lắng nghe và đối thoại là những ǵ hữu dụng cho nguyên việc tiến bộ về đại kết, các vị c̣n thêm một khía cạnh liên quan tới chính Giáo Hội Công Giáo nữa, đó là, như bản văn viết: ‘Nhờ cuộc đối thoại như thế mà t́nh trạng của Giáo Hội Công Giáo thực sự ra sao lại càng hiện lên rơ ràng hơn’ (Unitatis Redintegratio, khoản 9).

 

Không thể nào thiếu được vấn đề là ‘giáo huấn cần phải được rơ ràng tŕnh bày một cách trọn vẹn’ đối với một cuộc đối thoại chất vấn, bàn luận và thắng vượt những phân rẽ vẫn c̣n tồn tại nơi Kitô hữu, thế nhưng, dĩ nhiên là ‘cách thức và trật tự để bày tỏ niềm tin Công Giáo không được trở thành những ǵ gây trở ngại cho việc đối thoại với anh em của chún g ta’ (I bid, khoản 11).

 

Cần phải nói một cách đúng đắn (orthos) và một cách có thể lĩnh hội. Cuộc đối thoại đại kết này bao gồm việc sửa lỗi huynh đệ theo phúc âm và dẫn đến một thứ phong phú thiêng liêng hỗ tương trong việc chia sẻ những cảm nghiệm đích thực về đức tin và đời sống Kitô hữu.

 

Để thực hiện điều ấy, chúng ta cần phải không ngừng nài xin ơn trợ giúp của Thiên Chúa và ơn soi sáng của Thánh Thần. Đó là những ǵ Kitô hữu trên toàn thế giới đă thực hiện trong ‘Tuần Lễ’ đặc biệt này, hay những ǵ họ sẽ làm trong Tuần Chín trước Lễ Hiện Xuống, cũng như vào mọi trường hợp thích đáng, bằng việc dâng lên lời nguyện cầu tin tưởng của ḿnh xin cho tất cả mọi người môn đệ của Chúa Kitô được nên một, và, xin cho họ, khi lắng nghe Lời Chúa, có thể cống hiến một chứng từ chung cho con người nam nữ của thời đại chúng ta.

 

Trong bầu không khí thiết tha hiệp thông này, tôi xin gửi lời chào thân ái của tôi tới tất cả những ai tham dự: tới ĐHY coi sóc Đền Thờ này và tới ĐHY Chủ Tịch Hội Đồng Ṭa Thánh Đặc Trách Cổ Vơ Mối Hiệp N hất Kitô Giáo, cũng như tới các vị Hồng Y khác, tới Quí Huynh khả kính trong hàng Giáo Phẩm cùng hàng linh mục, tới các đan sĩ Biển Đức, tới các Tu Sĩ nam nữ, tới những người giáo dân đại diện cho cả cộng đồng giáo phận Rôma.

 

Tôi đặc biệt chào những người anh em  thuộc các Giáo Hội khác và các Cộng Đồng Giáo Hội tham dự vào việc cử hành này, nhờ đocùng nhau lập lại truyền thống quan trọng của việc bế mạc ‘Tuần Lễ Nguyện Cầu’ vào ngày chúng ta tưởng nhớ tới cuộc hoán cải nổi bật của Thánh Phaolô trên đường đi Damasco.

 

Tôi hân hoan cho biết là ngôi mộ của Vị Tông Đồ Dân Ngoại, nơi chúng ta đang ở hôm nay đây, mới được trải qua một cuộc điều tra và nghiên cứu, theo như những ǵ đă được quyết định trong việc làm cho ngôi mộ này hiện lộ cho thành phần hành hương thấy ở bên dưới bàn thờ chính bằng việc thích ứng hợp thời. Tôi bày tỏ việc chúc mừng của tôi về sáng kiến quan trọng này.

 

Tôi xin kư thác cho việc chuyển cầu của Thánh Phaolô, vị không ngừng xây dựng mối hiệp nhất của Giáo Hội, các hoa trái của những ǵ lắng nghe cũng như của chứng từ chung chúng ta đă từng có thểm nghiệm cảm thấy nơi nhiều cuộc họp mặt và đối thoại huynh đệ xẩy ra trong năm 2006, cả với Chư Giáo Hội Đông Phương cũng như với Chư Giáo Hội cùng Các Cộng Đồng Giáo Hội ở Tây phương.

 

Nơi những biến cố ấy, chúng ta có thể thấy được niềm vui của t́nh huynh đệ, cùng với nỗi hối hận về những thứ căng thẳng đang kéo dài, khi làm sinh động niềm hy vọng được Chúa khơi lên trong chún g ta.

 

Chúng ta hăy cám ơn tất cả những ai đă giúp vào việc gia tăng việc đối thoại đại kết bằng lời nguyện cầu, bằng việc hiến dâng nỗi khổ đau của họ, và bằng hoạt động liên lỉ của họ. Trên hết là Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta là Đấng chúng ta cần phải dâng lên những lời tạ ơn nồng thắm về hết mọi sự.

 

Chớ ǵ Trinh Nữ Maria xin cho chúng ta đạt được sớm bao nhiêu có thể niềm mong ước thiết tha nơi  Người Con thần linh của Mẹ: ‘cho họ tất cả được nên một… để thế gian tin tưởng’ (Jn 17:21).

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2007/documents/hf_ben-xvi_hom_20070125_conversion-st-paul_en.html

 

TOP

 

 

“Chúng ta hăy bắt đầu một tân niên bằng việc nh́n lên Mẹ Maria”

 

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI – Bài Giảng Đầu Năm, Lễ Mẹ Thiên Chúa và Ngày Ḥa B́nh Thế Giới Thứ Hai 1/1/2007

 

Anh Chị Em thân mến,

 

Như trong một bức vi thạch ghép, phụng vụ hôm nay chiêm ngưỡng những b iến cố và những trường hợp cứu độ khác nhau, thế nhưng đặc biệt chú trọng tới Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa. Tám ngày sau cuộc hạ sinh của Chúa Giêsu, chúng ta tưởng niệm đến Người Mẹ này, Theotokos, vị đă hạ sinh Con Trẻ muôn đời là Vua Trời đất (xem Ca Nhập Lễ; Sedulius).

 

Phụng vụ hôm nay suy niệm về Lời đă làm người và lập lại rằng Người đă được hạ sinh bởi một Vị Trinh Nữ. Phụng vụ hôm nay được phản ảnh nơi việc cắt b́ của Chúa Giêsu như một thứ nghi thức gia nhập cộng đồng, và chiêm ngưỡng Thiên Chúa, Đấng qua Mẹ Maria, đă ban Người Con Duy Nhất của ḿnh để dẫn dắt ‘dân mới’ ấy. Phụng vụ đă nhắc lại danh xưng được đặt cho Đấng Thiên Sai và nghe thấy danh xưng này được vang lên một cách dịu dàng bởi Mẹ của Người. Danh xưng ấy gợi lên sự b́nh an cho thế giới, một thứ b́nh an của Chúa Kitô, và điều gợi lên này được thực hiện qua Mẹ Maria là Môi Giới và là Cộng Tác Viên của Chúa Kitô (cf. "Lumen Gentium," nn. 60-61).

 

Chúng ta bắt đầu một tân niên dương lịch là một khoảng thời gian thêm nữa được Đấng Quan Pḥng thần linh cống hiến cho chúng ta liên quan tới ơn cứu độ do Chúa Kitô khai mở. Thế nhưng không phải là Lời hằng hữu đă đi vào thời gian thực sự là qua Mẹ Maria hay sao? Ở Bài Đọc Thứ Hai chúng ta vừa nghe, Thánh Tông Đồ Phaolô đă nhắc lại điều này khi nói rằng Chúa Giêsu được hạ sinh ‘bởi một người nữ’ (Gal 4:4).

 

Ở phụng vụ hôm nay, nổi bật là h́nh ảnh Mẹ Maria, Người Mẹ thực của Chúa Giêsu, Vị Thiên Chúa làm người. Bởi vậy mà Lễ Trọng hôm nay không phải là để cử hành một ư tưởng trừu tượng mà là một mầu nhiệm và một biến cố lịch sử, đó là Chúa Giêsu Kitô, một Ngôi Vị thần linh, được hạsinh bởi Trinh Nữ Maria, vị là Mẹ của Người theo đúng nghĩa nhất.

 

Ngoài vai tṛ làm mẹ, hôm nay nữa cũng đề cao tới đức trinh nguyên của Mẹ Maria. Đây là hai đặc ân bao giờ cũng được loan báo chung với nhau, bất khả phân ly, v́ chúng bổ khuyến và định phẩm cho nhau. Mẹ Maria là Mẹ nhưng lại là một Người Mẹ Đồng Trinh; Mẹ Maria là một Trinh Nữ, nhưng là một Trinh Nữ Thân Mẫu. Nếu gạt đi một trong hai khía cạnh này th́ mầu nhiệm Mẹ Maria như được các Phúc Âm cho chúng ta thấy về Mẹ không thể nào được hiểu một cách chính xác.

 

Là Mẹ của Chúa Kitô, Mẹ Maria cũng là Mẹ của Giáo Hội, một tước hiệu đă được vị Tiền Nhiểm khả kính của tôi là Đầy Tớ Chúa Phaolô VI công bố ngày 21/11/2964 tại Công Đồng Chung Vaticanô II. Sau hết, Mẹ Maria là Người Mẹ Thiêng Liêng của toàn thể nhân loại, v́ Chúa Giêsu trên câp thập giá đă đổ máu ra cho tất cả chúng ta và từ Cây Thập Giá này Người đă kư thác tất cả chúng ta cho việc chăm sóc từ mẫu của Mẹ.

 

Bởi thế, chúng ta hăy bắt đầu tân niên này bằng việc nh́n lên Mẹ Maria là vị chúng ta đă lănh nhận từ bàn tay của Thiên Chúa như là một ‘khả năng’ quí hóa để làm cho sinh hoa kết trái, một cơ hội thuận lợi để góp phần vào việc làm cho Vương Quốc của Thiên Chúa trị đến.

 

Trong bầu khí nguyện cầu và tri ân Thiên Chúa về tặng ân này của một tân niên, tôi hân hoan trân trọng nghĩ tới chư Tôn Vị Lănh Sự thuộc Phái Đoàn Ngoại Giao làm việc với Ṭa Thánh muốn tham dự vào việc long trọng Cử Hành hôm nay.

 

Tôi thân ái chào ĐHY Tarcisio Bertone, vị Quốc Vụ Khanh của tôi. Tôi chào ĐHY Renato Raffaele Martino cùng các phần tử thuộc Hội Đồng Ṭa Thánh Về Công Lư Và Ḥa B́nh và tôi muốn bày tỏ cùng họ ḷng biết ơn sâu xa của tôi đối với viếc họ hằng ngày dấn thân cổ vơ cho những thứ giá trị rất quan thiết cho đời sống xă hội.

 

Về Ngày Thế Giới Ḥa B́nh hôm nay đây, theo thường lệ, tôi đă gửi Sứ Điệp đến các Vị Thủ Tướng và Lănh Đạo Chư Quốc, cũng như đến tất cả mọi con người nam nữ thiện tâm. Đề tài của sứ điệo này cho năm nay là Con Người – Trọng Tâm của Ḥa B́nh.

Tôi hết sức tin tưởng rằng ‘việc tôn trọng con  người là những ǵ cổ vơ ḥa b́nh, và trong việc xây dựng ḥa b́nh th́ cần phải đặt nền tảng cho một nền nhân bản nguyên vẹn chân thực’ (Message for World Peace Day, 1 January 2007, n. 1).

 

Việc dấn thân này đặc biệt là trách vụ của hết mọi Kitô hữu, thành phần được kêu gọi ‘dấn thân không ngừng cho việc đi làm ḥa b́nh và hăng say bênh vực phẩm giá của con người cùng với các quyền lợi bất khả chuyển nhượng của họ’ (cùng nguồn, 6). Chính v́ họ được dựng nên theo h́nh ảnh Thiên Chúa và tương tự như Ngài (x Gen 1:27), mà hết mọi cá nhân  bất phân  biệt chủng tộc, văn hóa hay tôn giáo, là một con người được mặc cùng một phẩm vị Thiên Chúa ban. Đó là lư do họ cần phải được tôn trọng, không thể nại bất cứ lư do nào để độc đoán sử dụng họ như là một thứ đồ vật.

 

Lại càng cần phải cùng nhau hoạt động cho ḥa b́nh khi có những thứ đe dọa ḥa b́nh vẫn tiếp tục xẩy ra một cách bất hạnh, có những trường hợp bất công và bạo lực liên tục diễn ra ở các miền đất khác nhau trên thế giới, và có các cuộc xung đột vơ trang tiếp tục xẩy ra lại thường bị đa số công luận coi nhe, cũng như có cơ nguy khủng bố đang bao phủ cảnh thanh thản của các dân nước. Như tôi đă nhắc nhở trong sứ điệp ḥa b́nh th́ đây vừa là ‘tặng ân vừa là tác vụ’ (đoạn 3): một tặng ân cần cầu xin để có và là một tác vụ cần phải được thi hành một cách can đảm không thôi.

 

Tŕnh thuật chúng ta vừa nghe phác tả cảnh tượng các mục đồng Bêlem, những người, sau khi nghe lời loan báo của Thiên Thần, đă đến hang đá để tôn thờ Con Trẻ (x Lk 2:16). Chẳng lẽ chúng ta không nh́n lại một lần nữa t́nh h́nh thể thảm đang hằn vết chính Mảnh Đất Chúa Giêsu sinh ra? Làm sao chúng ta lại không khẩn xin Thiên Chúa bằng những lời nguyện cầu liên lỉ cho ngày ḥa b́nh chóng xẩy ra bao nhiêu có thể cả ở vùng đó nữa, một ngày mà cuộc xung đột hiện nay đă kéo dài quá lâu được giải quyết?

 

Nếu muốn chấp nhận một thỏa ước ḥa b́nh th́ cần phải căn cứ vào việc tôn trọng phẩm giá và các thứ quyền lợi của hết mọi người. Tôi muốn bày tỏ cùng những vị đại diện chư quố cđang hiện diện nơi đây niềm hy vọng là Cộng Đồng Quốc Tế sẽ tập trung lực lượng của ḿnh để xây dựng một thế giới v́ Danh Chúa, một thế giới mà hết mọi người đều biết tôn trọng nhân quyền. Để điều này có thể xẩy ra, người ta cần phải nh́n nhận rằng các quyền lợi ấy không phải chỉ được căn cứ vào những ư thỏa ước của con người mà ‘vào chính bản tính của con người cùng với phẩm giá bất khả chuyển nhượng của họ như là một con người được Thiên Chúa dựng nên’ (cùng nguồn, đoạn 13).

 

Thật thế, nếu những yếu tố cấu tạo nên phẩm vị của con người được lọt vào ṿng tư duy khả hoán của con người th́ thậm chí ngay cả những thứ quyền  lợi của con người được long trọng công bố đi nữa cũng sẽ đi đến chỗ suy yếu và được giải thích lung tung. ‘Bởi thế, các cơ quan quốc tế không được lạc hướng khỏi nền tảng tự nhiên này nơi các thứ quyền lợi của con người. Điều này sẽ giúp cho họ có thể tránh đi được cái nguy cơ, bất hạnh thay vẫn hằng diễn ra, chiều theo một thứ dẫn giải thuần thực chứng về các thứ quyền lợi ấy’ (cùng nguồn).

 

‘Chúa chúc phúc cho các người và ǵn giữ các người…. Xin Ngài ngước mặt nh́n đến các người và ban cho các người được b́nh an’ (Num 6:24,26). Đó là c ông thức Chúc Phúc  chúng ta đă nghe thấy ở Bài Đọc Thứ Nhất, trích từ Sách dân Số. Danh Chúa được lập lại 3 lần. Điều này gợi lên cho người ta ư nghĩ về một thứ gia tăng và quyền năng của Phúc Lành được kết thúc bằng lời ‘b́nh an’.

 

Từ ngữ Thánh Kinh shalom, được chúng ta chuyêå dịch thầh ‘ḥa b́nh’, là những ǵ bao hàm một thứ chất chồng những ǵ là tốt lành bao gồm cả ‘ơn cứu độ’ của Chúa Kitô, Đấng Thiên Sai được các Tiên  Tri loan báo. Bởi thế, Kitô hữu chúng ta nh́n nhận Người như là Hoàng Tử Ḥa B́nh. Người đă trở thành một con người và đă giáng sinh trong một hang động ở Bêlem để mang b́nh an đến cho người thiện  tâm, cho tất cả những ai đón nhận Người bằng niềm tin tưởng và ḷng mến yêu.

 

Thế nên, b́nh an thực sự là tặng ân và là tác vụ của Lễ Giáng Sinh: một tặng ân cần phải được chấp nhận bằng tấm ḷng khiêm cung dễ dậy và bằng một niềm tin tưởng liên lỉ nguyện cầu, một tác vụ trong việc làm cho hết mọi người thành tâm thiện chí trở thành một ‘đường lối ḥa b́nh’.

 

Chúng ta hăy xin Mẹ Maria là Mẹ Thiên Chúa giúp chúng ta biết đón nhận Con của Mẹ, và b́nh an thực sự nơi Người. Chúng ta hăy xin Mẹ hăy giúp chúng ta có một cái nh́n thấu suốt để chúng ta có thể  nhận ra trên  khuôn mặt của hết mọi người Dung Nhan của Chúa Kitô, tâm điểm của ḥa b́nh!


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Ṭa Thánh Vatican

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2007/documents/hf_ben-xvi_hom_20070101_world-day-peace_en.html

TOP