GIÁO HỘI HOA KỲ
GIẢI QUYẾT NẠN TÌNH DỤC LINH MỤC

  

(Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, tổng hợp và tuyển dịch từ Màn Điện Toán VIS, Zenit và CNN)
 

“Trong lúc này đây, là linh mục, mỗi người chúng ta cũng cảm thấy bị chi phối sâu xa bởi những tội lỗi của một số trong anh em chúng ta đã bội phản lại với ơn Thánh Chức, khi dìm mình vào trong cả những hình thức trầm trọng nhất của mầu nhiệm tội lỗi 'mysterium iniquitatis’ đang tung hoành trên thế giới"


ĐTC gửi Bức Thư Thứ Năm Tuần Thánh (
21/3) hằng năm cho Hàng Giáo Sĩ
 

Theo lệ hằng năm, từ 1979, tức ngay sau năm lên làm Giáo Hoàng, ĐTC đã có lệ gửi Hàng Giáo Sĩ một Bức Thư cho Ngày Thứ Năm Tuần Thánh. Trong Bức Thư cho Ngày Thứ Năm Tuần Thánh Năm 2002 được ĐTC ký ngày Chúa Nhật Thứ Năm Mùa Chay 17/3 và viết bằng một số ngôn ngữ khác nhau này, ĐTC chẳng những tiếp tục đề tài của Bức Thư Thứ Năm Tuần Thánh 2001 về Bí Tích Hòa Giải là chính, mà còn đến cả hai vấn đề khác nữa, đó là vấn đề hòa bình thế giới, và vấn đề gương mù của các linh mục. Sau đây là một số trích dẫn từ bản văn kiện 19 trang này.


“Năm nay Tôi muốn nói với anh em về một khía cạnh thuộc sứ vụ của chúng ta, một khía cạnh Tôi đã xin anh em chú trọng cũng vào dịp này năm ngoái. Tôi tin rằng nó sẽ gợi ý suy niệm hơn nữa. Tôi muốn nói đến sứ vụ Chúa Kitô đã trao cho chúng ta với vai trò đại diện của Người, không phải chỉ ở nơi Hy Tế Thánh Thể, mà còn ở cả Bí Tích Hòa Giải nữa”.


“Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo nhắc nhở chúng ta rằng: ‘Thánh Thể không thể nào hiệp nhất chúng ta nên một với Chúa Kitô mà không đồng thời thanh tẩy chúng ta khỏi những tội lỗi đã phạm và gìn giữ chúng ta khỏi những tội lỗi sau này’ (số 1393). … ‘Thánh Thể không phải là để thứ tha các tội trọng. Đó là việc riêng của Bí Tích Hòa Giải… ai biết được mình đã phạm một trọng tội thì phải lãnh nhận Bí Tích Hòa Giải trước khi lên hiệp lễ’ (số 1385)”.


“Tôi cảm thấy rất cần phải thúc giục anh em, như Tôi đã làm hồi năm ngoái, là anh em hãy tự mình tái nhận thức, cũng như giúp cho những người khác cũng tái nhận thức lại vẻ đẹp của Bí Tích Hòa Giải. Trong những thập niên gần đây, và vì một số lý do khác nhau, bí tích này đã bị khủng hoảng làm sao ấy. …. (Ngày nay), cần phải có những liên lạc riêng tư, một điều đang càng ngày càng trở nên họa hiếm trong chiều tốc ào ạt của xã hội kỹ thuật ngày nay, song cũng chính vì lý do này mà việc liên lạc riêng tư lại càng cảm thấy cần phải có không thể thiếu. Chắc chắn là có thể thực hiện nhu cầu này bằng nhiều cách khác nhau. Thế nhưng, làm sao chúng ta lại có thể không nhìn nhận rằng - miễn là đừng lẫn lộn bí tích này với bất cứ hình thức trị liệu về tâm lý nào khác - Bí Tích Hòa Giải có thể đáp ứng nhu cầu liên lạc tư riêng này một cách hết sức dồi dào hay sao? Bí tích này thực hiện được điều ấy, bằng việc làm cho hối nhân giao tiếp với trái tim xót thương của Thiên Chúa, qua dung nhan thân tình của một người anh em”.


“Tôi muốn lập lại rằng, hình thức bình thường của việc ban phát bí tích này là ở chỗ cử hành riêng tư, chỉ trong ‘những trường hợp hết sức cần thiết’ mới được phép sử dụng hình thức giải tội và xá tội chung mà thôi. Những điều kiện cần phải có cho hình thức xá tội này đã quá rõ ràng rồi; nhưng có lẽ chúng ta cần phải nhớ rằng, để việc xá tội thành hiệu, tín hữu phải có chủ ý xưng thú lại các tội trọng của mình một cách tư tiêng sau đó nữa (xem Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo số 1483)”.


“Bị bủa vây bởi nhiều cảnh trạng mục vụ khác nhau, đôi khi chúng ta cảm thấy chán nản và mất hứng, vì rất nhiều Kitô hữu không chú trọng bao nhiêu tới đời sống bí tích, dù họ có đến với các bí tích, họ cũng thường làm một cách hời hợt vậy thôi. … Vị giải tội không được bỏ qua phương tiện gặp gỡ bí tích này để làm cho hối nhân hiểu được một phần nào về đường lối Thiên Chúa đầy tình thương muốn dùng để đến với họ, giang tay ra cho họ, không phải để giáng phạt mà là để cứu vớt.

 

“Thừa tác vụ ngồi tòa giải tội … là một thừa tác vụ bao giờ cũng bị kẹp bởi hai thái cực đối chọi nhau, đó là nghiêm ngặt và dễ dãi. … Chúng ta phải luôn luôn cẩn thận giữ mức độ thăng bằng xứng hợp để tránh rơi vào một trong hai thái cực này. Tỏ ra nghiêm ngặt thì làm cho họ rút mình lại và đẩy họ ra xa. Tỏ ra dễ dãi lại làm cho họ tưởng thật và bị lầm lạc.


“Bởi thế các vị giải tội cũng cần phải được huấn luyện một cách thích hợp để cử hành Bí Tích này. … Chúng ta cũng phải làm hết sức để cập nhật hóa việc huấn luyện cả về thần học nữa, nhất là về những vấn đề liên quan đến luân lý đạo đức. Đối diện với những vấn đề luân lý đạo đức phức tạp hiện nay, có thể xẩy ra trường hợp tín hữu ra khỏi tòa giải tội vẫn còn bị lẫn lộn sao đó, nhất là khi họ thấy rằng các vị giải tội không đồng nhất với nhau về phán đoán của các vị”.

 

“Quí Linh Mục thân mến! Anh em hãy biết rằng Tôi đặc biệt gần gũi với anh em khi anh em qui tụ lại với các Vị Giám Mục của anh em vào Ngày Thứ Năm Tuần Thánh năm 2002. Theo chiếu hướng ‘bắt đầu lại từ Chúa Kitô’, tất cả chúng ta đều cảm thấy một thời điểm mới nơi Giáo Hội vào lúc bình minh của một tân thiên niên kỷ đây. Tất cả chúng ta phải hy vọng rằng thời điểm này đây phải đi liền với một kỷ nguyên mới của tình huynh đệ cũng như của hòa bình cho toàn thể nhân loại. Cho dù chúng ta có thấy cảnh máu đổ nhiều hơn. Chúng ta lại chứng kiến thấy chiến tranh xẩy ra. Chúng ta cảm thấy buồn chán bởi thảm trạng chia rẽ và hận thù tàn phá những mối liên hệ giữa các dân tộc với nhau.


“Trong lúc này đây, là linh mục, mỗi người chúng ta cũng cảm thấy bị tác dụng sâu xa bởi những tội lỗi của một số trong anh em chúng ta đã bội phản lại với ơn Thánh Chức, khi dìm mình vào trong cả những hình thức trầm trọng nhất của mầu nhiệm tội lỗi 'mysterium iniquitatis’ đang tung hoành trên thế giới. Việc xẩy ra gương xấu nặng nề đã gây ra hậu quả là một bóng tối đen ngờ vực phủ chụp lên tất cả những vị linh mục tốt lành khác, những vị thi hành thừa tác vụ của mình một cách chân thành và liêm chính, một cách thường xả kỷ anh hùng. Trong lúc Giáo Hội tỏ thái độ quan tâm đến các nạn nhân, và cố gắng đáp ứng mỗi một trường hợp đau lòng này theo sự thật và công lý, tất cả chúng ta – ý thức nỗi yếu hèn của nhân loại, nhưng tin tưởng vào quyền năng chữa lành của ân sủng thần linh – được kêu gọi để ôm lấy mầu nhiệm Thập Giá ‘mysterim Crusis’, cũng như để quyết tâm trọn vẹn hơn nữa trong việc nên thánh. Chúng ta phải nài xin Thiên Chúa, trong Sự Quan Phòng của Ngài, hãy tác động để làm bùng lên lại những ước muốn thiết tha này trong việc hiến thân trọn vẹn cho Chúa Kitô, những ước muốn chính nền tảng của thứa tác vụ linh mục này”.


“Chúng ta biết rằng con tim nhân loại luôn chiều theo sự dữ, và con người có thể chiếu tỏa an bình và yêu thương cho những người chung quanh mình, chỉ khi nào họ gặp gỡ Chúa Kitô và để cho mình ‘được chiếm đọat’ bởi Người”.


“Là những thừa tác viên Thánh Thể và Hòa Giải theo bí tích, chúng ta đặc biệt có nhiệm vụ truyền đạt hy vọng, thiện hảo và bình an cho thế giới”.


 

"Trong bầu không khí phơi bầy tình dục và buông tuồng tình dục hiện lên trên thế giới này, một số linh mục, cũng là những con người của thứ văn hóa ấy, đã gây ra một tội phạm trầm trọng về việc lạm dụng tình dục".

 

(Phản Ứng của Thánh Bộ Giáo Sĩ về vụ linh mục vừa gây ra gương mù ở Hoa Kỳ)


ĐHY Darío Castrillĩn Hoyos, Tổng Trưởng Thánh Bộ Giáo Sĩ, trong buổi phổ biến Bức Thư Thứ Năm Tuần Thánh 2002 gửi Hàng Giáo Sĩ của ĐTC Gioan Phaolô II, đã được các phóng viên đặt ra một số câu hỏi liên quan đến vấn đề gương mù linh mục, một vấn đề lớn chuyện đối với ngành truyền thông trong mấy tuần vừa qua. Sau đây là những lời của ĐHY, nói lên cho thấy phản ứng chính thức của Giáo Hội về vấn đề này:


Đối với những vấn đề về việc lạm dụng tình dục, cũng như đối với những trường hợp về liên hệ tình dục với trẻ em, tôi chỉ xin có một câu trả lời.


Trong bầu không khí phơi bầy tình dục và buông tuồng tình dục hiện lên trên thế giới này, một số linh mục, cũng là những con người của thứ văn hóa ấy, đã gây ra một tội phạm trầm trọng về việc lạm dụng tình dục.


Tôi muốn nêu lên hai nhận xét:


1.- Chúng ta chưa có những bản thống kê chi tiết để so sánh liên quan đến các chức nghệ khác, như bác sĩ, tâm thần gia, tâm lý gia, giáo sư, lực sĩ, phóng viên, chính trị gia, cũng như đến các hạng người bình thường khác, như cha mẹ và họ hàng thân thuộc. Trong số những bản nghiên cứu, chúng ta biết có một bản được phổ biến trong cuốn sách của giáo sư Philip Jenkins ở Đại Học Tiểu Bang Pennsylvania, cho thấy 3% giáo sĩ Hoa Kỳ có xu hướng về việc lạm dụng trẻ em, và 0.3% của thành phần này là pedophiles.


2.- Từ lúc vấn đề tình dục về phương diện luân lý của Kitô giáo, cũng như vấn đề đạo đức luân lý về tình dục của dân sự, khắp thế giới trải qua một cuộc thả lỏng đáng kể, thì ngược đời thay song cũng may mắn thay, một cảm quan loại trừ cùng với tính cách tế nhị đã xuất hiện không ít ở những quốc gia, liên quan đến vấn đề liên hệ tình dục với trẻ em, một vấn đề mà hễ gây ra những tác hại về tội ác và kinh tế, thì cần phải đền bù lại những thiệt hại.


Thái độ của Giáo Hội Công Giáo như thế nào?


Giáo Hội luôn luôn bảo vệ nền luân lý chung cũng như công ích, và đã từng can thiệp để bảo vệ tính cách thánh thiện của đời sống linh mục, bằng cách thiết lập những biện pháp chế tài đối với các tội phạm này, theo hình phạt được Giáo Luật qui định.


Giáo Hội không bao giờ bỏ qua vấn đề lạm dụng tình dục cả, nhất là vấn đề lại do các vị thừa tác viên thánh vi phạm, chẳng những với tín hữu nói chung mà nhất là với trẻ em, thành phần cần phải được ưu tiên giáo dục về đức tin cũng như về nội dung luân lý Kitô giáo…


Trong Bộ Giáo Luật 1917, Khoản 2359, tiết 2, đã viết: ‘Nếu họ công nhận là mình đã phạm đến điều răn thứ sáu thuộc Thập Giới với trẻ em dưới 16 tuổi… họ sẽ bị treo chén, mất quyền hành chức, trong trường hợp họ đang nắm giữ vai trò nào, hưởng bổng lộc nào, có phẩm tước nào hay giữ thừa tác vụ nào thì đều bị rút lại, đối với những trường hợp trầm trọng hơn, họ sẽ bị cách chức” (“Si delictum admiserint contra sextum decalogi praeceptum cum minoribus infra aetatem sexdecim annorum… suspendantur, infames declarentur, quolibet officio, beneficio, dignitate, munere, si quod habeant, priventur, et in casibus gravioribus deponantur”).


Trong Bộ Giáo Luật Tu Chính 1983, liên quan đến vần đề của chúng ta ở đây, có Khoản 1395, tiết 2, và trong Bộ Giáo Luật Giáo Hội Đông Phương năm 1990, có Khoản 1435, tiết 1. Tiết 2 Khoản 1395 viết là ‘Vị giáo sĩ phạm bất cứ điều gì đến giới răn thứ sáu thuộc Thập Giới, nếu hành động vi phạm này bằng sức lực hay bằng dọa nạt, một cách công khai hay với trẻ em dưới 16 tuổi, đều phải chịu những hình phạt chính đáng, chưa kể đến việc loại trừ khỏi bậc giáo sĩ trong trường hợp cần thiết’.


Gần đây hơn nữa, ĐTC Gioan Phaolô II đã tỏ cho thấy tính cách trầm trọng của hành động này, khi kêu gọi các vị giám mục và linh mục hãy khôn khéo trung thành trong việc quyết tâm sống gương mẫu về luân lý, lời kêu gọi Ngài đã ngỏ cùng các vị giám mục Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, cũng là lời Ngài đã viết trong tông huấn ‘Giáo Hội Tại Đại Dương Châu’: ‘Ở một số chỗ thuộc Đại Dương Châu, việc lạm dụng tình dục nơi những vị linh mục và tu sĩ đã gây nên đau thương cả thể và thiệt hại về tinh thần cho các nạn nhân. Họ cũng gây thiệt hại nặng nề cho sinh hoạt của Giáo Hội, và trở thành một trở ngại cho việc loan báo Phúc Âm. Các Nghị Phụ của Thượng Hội Giám Mục Đại Dương Châu đã lên án tất cả mọi hình thức lạm dụng tình dục, cũng như tất cả mọi hình thức lạm dụng quyền bính, kể cả trong Giáo Hội cũng như ngoài xã hội nói chung. Việc lạm dụng tình dục trong Giáo Hội là một việc hoàn toàn phản lại với giáo huấn và chứng từ của Chúa Giêsu Kitô. Các Vị Nghị Phụ đã nói lên những lời tạ lỗi vô điều kiện với các nạn nhân, về nỗi đau thương và việc bất hạnh đã xẩy ra cho họ. Giáo Hội Tại Đại Dương Châu đang tìm các phương thức xứng hợp để đáp lại những than phiền ở lãnh vực này, và dứt khoát nhất định chăm sóc một cách thương cảm và hiệu lực cho các nạn nhân, gia đình của họ, toàn thể cộng đồng, và những phạm nhân” (đoạn 49).


Thế rồi, vào ngày 30/4/2001, ĐTC đã ban hành tông thư “Sacrementorum sanctitatis tutela”, trong đó có “Normae de gravioribus deliclis Congregationi pro Doctrina Fidei reservatis”, giành thẩm quyền cho Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin, về một loạt những vi phạm trầm trọng đến tính cách thánh hảo của các bí tích, cũng như đến sứ vụ giáo dục giới trẻ xứng hợp với các vị thừa tác viên thánh, nhất là vấn đề lạm dụng tình dục trẻ em.


Khi lãnh nhận trách nhiệm đặc biệt này, Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin đã gửi một bức thư thích đáng đến các vị giám mục khắp thế giới, đặc biệt hỗ trợ các vị bằng trách nhiệm của thánh bộ bấy giờ trong việc đương đầu với những sự kiện trầm trọng như thế, một là để tránh trường hợp vô ý cách nào, hai là để cho việc thông đạt và điều hành giữa các Giáo Hội địa phương với trung tâm quản trị của Giáo Hội hoàn vũ được tốt đẹp hơn, nhờ đó các Giáo Hội địa phương mới có cùng một thái độ đồng nhất, trong khi vẫn tôn trọng tính cách đa dạng về hoàn cảnh và con người.


Theo những qui luật cũ, người ta có thể nói đến việc lạm dụng tình dục trẻ em khi một giáo sĩ tỏ ra hành vi tội lỗi có tính chất này với trẻ em dưới 16 tuổi. Giờ đây giới hạn về tuổi đã được tăng lên tới 18. Thêm vào đó, việc qui định loại tội phạm này đã được kéo dài lên tới 10 năm, và nó đã được ấn định để trở thành hiệu lực khi nạn nhân lên 18 tuổi, bất kể tuổi tác khi họ bị lạm dụng.


Qui luật này cũng bao hàm cả cái chúng ta gọi là yếu tố bảo toàn nữa. Mục đích của nó là để loại trừ đi những nguy hiểm đang thịnh hành nơi một nền văn hóa nghi ngại. Bởi thế, nó mới thực hiện một tiến trình bình thường một cách đích thực trong việc phân tích những sự kiện, cùng với những chứng minh tội phạm trước tòa. Dĩ nhiên, nó cũng chú trọng đến tính cách nhanh chóng của tiến trình này nữa. Ngoài ra, nó còn đặt nặng đến những vụ điều tra trước, để có thể đi đến những thẩm xét thận trọng trong việc ngăn cản con người bị tình nghi khỏi đi đến chỗ gây ra thêm những thiệt hại nữa.


Những thẩm xét và tiến trình này phải làm sao bảo đảm được việc bảo trì sự thánh thiện của Giáo Hội, công ích cũng như quyền lợi của các nạn nhân cũng như phạm nhân.


Các thứ luật lệ của Giáo Hội thì nghiêm cẩn và nghiêm ngặt, được phác họa theo chiều hướng tông truyền, để hành sử những vấn đề nội bộ một cách riêng tư, một việc làm không có nghĩa là một người tự nhẩy qua hàng rào qui chế dân sự đang có hiệu lực ở những xứ sở khác nhau nơi lãnh vực cộng đồng ngoại tại, bao giờ cũng được miễn trừ nơi trường hợp có ấn tín bí tích, hay nơi trường hợp kín đáo dính dáng đến việc thi hành thừa tác vụ giáo phẩm cũng như đến thiện ích chung về mục vụ.

 

 

1 2 3 4 5 6